Quy trình các bước nghiên cứu Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên Phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội trạng kinh tế - xã hội Biến động sử dụng đấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC HÌNH VẼ 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 7
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 8
3.1 Quan điểm nghiên cứu 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 11
4.1 Phạm vi không gian nghiên cứu 11
4.2 Phạm vi nội dung nghiên cứu 11
5 Quy trình các bước nghiên cứu 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI 13
1.1 Các vấn đề cơ bản về quy hoạch và phát triển nông thôn 13
1.1.1 Các vấn đề cơ bản về phát triển nông thôn 13
1.1.2 Các vấn đề cơ bản về quy hoạch phát triển nông thôn 19
1.1.3 Một số vấn đề về nông thôn mới 21
1.2 Vai trò của phát triển nông thôn đối với nền kinh tế 26
1.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 28
1.3.1 Nhật Bản: “Mỗi làng một loại đặc sản” 28
1.3.2 Thái Lan: “Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước” 29
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ TRƯỜNG THỌ PHỤC VỤ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI 36
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 36
2.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.2 Địa chất - địa hình 36
Trang 42.1.3 Khí hậu - thủy văn 36
2.1.4 Thổ nhưỡng 39
2.1.5 Thực vật 39
2.1.6 Tài nguyên khoáng sản 40
2.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội 40
2.2.1 Dân số - lao động 40
2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã Trường Thọ 40
2.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng 42
2.3 Hiện trạng sử dụng đất 45
CHƯƠNG 3 XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI XÃ TRƯỜNG THỌ 50
3.1 Quan điểm nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học 50
3.2 Xác lập cơ sở khoa học phục vụ xây dựng nông thôn mới xã Trường Thọ 50
3.2.1 Phân tích, đánh giá biến động các loại đất thời kỳ 2003 - 2010 50
3.2.2 Đánh giá hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa ở xã Trường Thọ 60
3.2.3 Đánh giá mức độ đạt chuẩn tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
KẾT LUẬN 91
KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Sơ đồ phát triển bền vững (UNESCO) 10
Hình 2 Quy trình các bước nghiên cứu 12
Hình 3 Thay đổi tiếp cận về phát triển nông thôn 18
Hình 1.1 Đóng góp nông nghiệp GDP của một số nước châu Á 27
Hình 1.2 Lao động sản xuất nông nghiệp một số nước châu Á 27
Hình 2.1 Vị trí địa lý xã Trường Thọ, huyện An Lão 37
Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu diện tích đất năm 2010 46
Hình 3.1 Quy trình thành lập bản đồ biến động sử dụng đất 52
Hình 3.2 Thuật toán Union dùng để chồng xếp các lớp bản đồ trong ArcGIS và áp dụng để xác định vùng biến động 53
Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Trường Thọ năm 2003 54
Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Trường Thọ năm 2010 55
Hình 3.5 Thuật toán Disolve trong ArcGIS 56
Hình 3.6 Biến động diện tích một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp xã Trường Thọ 58
Hình 3.7 Bản đồ biến động sử dụng đất xã Trường Thọ giai đoạn 2003-2010 59
Hình 3.8 Sơ đồ giải thửa xứ đồng đầm cửa, thôn Ngọc Chử, xã Trường Thọ (trước dồn điền đổi thửa) 76
Hình 3.9 Sơ đồ giải thửa xứ đồng đầm cửa, thôn Ngọc Chử, xã Trường Thọ (sau dồn điền đổi thửa) 77
Hình 3.10 Mô hình dồn điền đổi thửa tự nguyện 79
Hình 3.11 Ma trận SWOT đánh giá cho tiêu chí Quy hoạch 80
Hình 3.1.2 Ma trận đánh giá SWOT cho nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng 81
Hình 3.1.3 Ma trận SWOT cho nhóm tiêu chí văn hóa - môi trường 86
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Chiến lược phát triển nông thôn tổng hợp 15
Bảng 1.2 Các loại hình chiến lược phát triển nông thôn 17
Bảng 1.3 Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới 23
Bảng 2.1 Chỉ số đa dạng cây trồng trong hệ thống nông nghiệp xã Trường Thọ năm 2010 42
Bảng 2.2 Thống kê các tiêu chí thực hiện trong hệ thống nông nghiệp trên địa bàn xã Trường Thọ năm 2011 42
Bảng 2.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Trường Thọ năm 2011 44
Bảng 2.4 Hiện trạng sử dụng đất xã Trường Thọ năm 2010 45
Bảng 2.5 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 47
Bảng 2.6 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 49
Bảng 3.1 Các lớp thông tin trong CSDL 51
Bảng 3.2 Biến động diện tích các loại hình sử dụng đất 57
Bảng 3.3 Các loại chủ sở hữu ruộng đất ở Việt Nam (1930-1931) 60
Bảng 3.4 Bình quân thửa/hộ nông dân ở các vùng trên cả nước 65
Bảng 3.5 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH 66
Bảng 3.6 Kết quả dồn điền đổi thửa ở một số địa phương trong cả nước 67
Bảng 3.7 Đánh giá mức độ manh mún đất đai của xã Trường Thọ 73
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả dồn điền, đổi thửa xã Trường Thọ (tính đến năm 2010) 74
Bảng 3.9 Kết quả dồn điền đổi thửa huyện An Lão (tính đến năm 2010) 74
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá nhóm tiêu chí Quy hoạch và cơ sở hạ tầng xã Trường Thọ 82
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá nhóm tiêu chí kinh tế - xã hội và văn hóa - môi trường xã Trường Thọ 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Nghiờn cứu xỏc lập cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch nụng thụn mới là một việc làm hết sức cần thiết bởi lẽ phỏt triển nụng thụn toàn diện đang là vấn đề cấp bỏch hiện nay trờn phạm vi cả nước Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng đó chỉ rừ định hướng phỏt triển nụng nghiệp, nụng thụn trong giai đoạn tới là “tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nụng nghiệp và kinh tế nụng thụn theo hướng cụng nghiệp húa, hiện đại húa, gắn phỏt triển kinh tế với xõy dựng nụng thụn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nụng thụn với thành thị, giữa cỏc cựng miền, gúp phần giữ vững ổn định chớnh trị xó hội, phỏt triển kinh tế đi đụi với bảo vệ an ninh quốc phũng Hơn nữa cỏc văn bản hướng dẫn của cỏc Bộ, ngành
về triển khai thực hiện chương trỡnh xõy dựng nụng thụn mới chưa cú sự thống nhất với nhau, chưa kịp thời nờn việc thực hiện cũn chậm
Hải Phũng là thành phố cảng biển, đụ thị loại 1 cấp quốc gia, thành phố
cú 15 đơn vị hành chớnh trực thuộc trong đú cú 8 huyện, với 143 xó chiếm 82% diện tớch toàn thành phố; dõn số khu vực nụng thụn chiếm 55,2% số dõn toàn thành phố, số người trong độ tuổi lao động chiếm 60,4% Với đặc điểm nờu trờn, việc nghiờn cứu để xỏc lập cơ sở khoa học cho việc quy hoạch nụng thụn mới phải đi trước, để từ đú cỏc ngành, cấp mới triển khai đồng bộ, hiệu quả
Xã Tr-ờng Thọ nằm ở phía Bắc huyện An Lão, cách trung tâm thị trấn An Lão khoảng 3 km về phía Đông Nam, là xã có khá nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội, giao thông thủy bộ t-ơng đối thuận lợi, lực l-ợng lao động trẻ dồi dào, cơ sở hạ tầng ngày một khang trang
Quy hoạch xõy dựng xó Tr-ờng Thọ nhằm đỏnh giỏ rừ cỏc điều kiện tự nhiờn, kinh tế xó hội để đưa ra định hướng phỏt triển về khụng gian, mạng lưới dõn cư, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xó hội nhằm khai thỏc tiềm năng vốn cú của địa phương, từ đú cú thể chủ động kiểm tra quản lý xõy dựng, đất đai của địa phương, đảm bảo kế hoạch phỏt triển kinh tế xó hội đề ra
Xuất phỏt từ lý do trờn, đề tài nghiờn cứu được lựa chọn với tiờu đề: “Nghiờn cứu xỏc lập cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch nụng thụn mới xó Trường Thọ, huyện An Lóo, thành phố Hải phũng”
2 Mục tiờu và nhiệm vụ nghiờn cứu
2.1 Mục tiờu nghiờn cứu
Nghiờn cứu xỏc lập luận cứ khoa học nhằm xõy dựng và hoàn thiện cỏc tiờu chớ về nụng thụn mới xó Trường Thọ, huyện An Lóo, Thành phố Hải Phũng
Trang 82.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Định hướng phát triển mạng lưới điểm dân cư và kết quả hạ tầng xã hội, hạ tầng
kỹ thuật cũng như các công trình sản xuất, phục vụ sản xuất phù hợp với các yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Làm cơ sở pháp lý cho việc phát triển các điểm dân cư và hệ thống kết cấu hạ tầng; cho việc hướng dẫn, quản lý đất đai và đầu tư xây dựng theo quy hoạch trên địa bàn xã
- Đánh giá biến động sử dụng đất xã Trường Thọ giai đoạn 2003-2010
- Đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa xã Trường Thọ
- Đánh giá và so sánh thực trạng phát triển xã Trường Thọ theo Bộ tiêu chí Quốc
gia về nông thôn mới
3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
3.1 Quan điểm nghiên cứu
thống như một hệ thống xã hội - môi trường (socio-environmental system) - những
hệ thống phức tạp, tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và có thể thực hiện những hoạt động không thể dự báo trước (Clayton và Radcliffe, 1996), có khả năng tự điều chỉnh và có thứ bậc, bao gồm nhiều hệ thống nhỏ khác nhau (Jennings và Reganold, 1991; Norton và Ulanowicz, 1992; Warren và Cheney, 1993; Muster et al, 1994) Các nhà quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ quan niệm hệ thống là một thể thống nhất và khách quan của mọi chủ thể tồn tại và phát triển trên trái đất Do đó, mọi hoạt động của hệ thống phải luôn thể hiện ở trạng thái cân bằng và phải được điều chỉnh kịp thời khi chịu tác động, đó là tiêu chuẩn của phát triển bền vững Vì vậy, trong tổ chức lãnh thổ phải luôn ưu tiên vấn đề công bằng giữa các vùng, các khu vực bởi vì hệ thống đó chỉ cân bằng và tự điều chỉnh trong một ngưỡng cho phép, nếu vượt quá ngưỡng đó, hệ thống sẽ tan vỡ
3.1.2 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp xuất phát từ quan điểm hệ thống, nhấn mạnh mối quan
hệ thống nhất và biện chứng giữa các yếu tố hệ thống trong một tổng thể hoàn chỉnh
mà mỗi yếu tố (hệ thống này) là một mắt xích trong một mạng lưới liên hệ với các
Trang 9yếu tố và hệ thống khác Do đó, quan điểm tổng hợp đòi hỏi cần phải hiểu rõ, hiểu đúng các yếu tố cấu thành hệ thống và mối liên hệ giữa chúng trước khi quyết định tác động vào một yếu tố Bởi lẽ chỉ cần một tác động nhỏ vào một yếu tố thôi thì cũng có thể làm biến đổi toàn bộ hệ thống, phá vỡ trạng thái cân bằng và ổn định của hệ thống, dẫn đến những hậu quả khó lường
mô hình hiện trạng nông nghiệp cây trồng - vật nuôi trong quá trình sử dụng đất đai là không thể thiếu được Nói cách khác, nghiên cứu quá khứ và hiện tại của các mô hình sản xuất cũng là cơ sở khoa học vững chắc cho việc đánh giá tài nguyên và định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, đồng thời trên cơ sở của lịch sử đó có thể đưa ra những dự báo về kinh tế, sinh thái và môi trường một cách hữu hiệu
3.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Tháng 6 năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển họp
tại Rio de Janeiro đã đưa ra Bản tuyên ngôn “Về Môi trường và Phát triển” và
“Chương trình nghị sự 21” (Agenda 21-Action Plan for Sustainable Development
for the 21st Century) thống nhất định nghĩa về PTBV: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không làm tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai” và PTBV phải là mục
tiêu của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI Tiếp đến, vào năm 2002, Liên Hiệp Quốc lại tổ chức một hội nghị khác tại Johannesburg, Nam Phi với sự tham gia của 196
quốc gia “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững” Hội nghị
Johannesburg đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Agenda 21 và đã đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ mới PTBV đã trở thành tuyên ngôn và chiến lược hành động chung của nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 10Ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm PTBV là nó không chỉ đề cập đến các vấn đề hiện tại mà còn đòi hỏi phải quan tâm đến sự phát triển của các thế hệ tương lai: Sự công bằng giữa các thế hệ Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học còn cho rằng PTBV còn mang tính đạo đức, ý nghĩa nhân văn cao cả của con người trong quá trình phát triển Cơ sở của PTBV là:
- Giảm đến mức thấp nhất sự khánh kiệt tài nguyên, đảm bảo sử dụng lâu dài tài nguyên không tái tạo (khoáng sản,…)
- Bảo tồn tính đa dạng sinh học, đảm bảo tài nguyên tái tạo được (sinh vật,…) có khả năng phục hồi
Hình 1 Sơ đồ phát triển bền vững (UNESCO)
Mục tiêu cuối cùng của PTBV là thoả mãn yêu cầu căn bản của con người, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu HST, bảo đảm tương lai ổn định PTBV thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia, giữa hiện tại với tương lai PTBV có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ Muốn PTBV phải lồng ghép được 3 thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT Đây là nguyên lý chung để hướng sự PTBV
của các lĩnh vực trong nền kinh tế
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp điều tra thực địa
Phương pháp điều tra thực địa có ý nghĩa quyết định đối với quá trình nghiên cứu của đề tài, do địa bàn và nội dung nghiên cứu gắn liền với một địa phương cấp huyện Vì vậy, khối lượng số liệu, tài liệu là rất lớn và đòi hỏi mức độ chi tiết cao
Trang 11Mặt khác, đề tài nghiên cứu quá trình biến đổi nông thôn trong một khoảng thời
gian dài vì vậy cần đến các số liệu thống kê nhiều năm liền
- Nghiên cứu, khảo sát các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất trong khu vực nghiên cứu
- Kiểm chứng kết quả phân loại tư liệu viễn thám và so sánh với bản đồ hiện trạng
sử dụng đất tại các thời điểm nghiên cứu cụ thể
3.2.2 Phương pháp thống kê
Như đã nêu ở các phần trên, đề tài nghiên cứu đòi hỏi hệ thống số liệu, tài liệu rất lớn và kéo dài qua nhiều năm Vì vậy, phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài gồm những nội dung cụ thể như sau:
- Thống kê qua tài liệu, báo cáo được lưu trữ tại UBND huyện An Lão
- Thống kê qua các số liệu khảo sát, đo đạc ngoài thực địa
- Thống kê qua đo đạc, tính toán trên bản đồ
3.2.4 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)
Với sự trợ giúp của các phần mền chuyên dụng ArcGIS, Mapinfo cùng với
cơ sở dữ liệu là các bản đồ sử dụng đất khu vực nghiên cứu Dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2003, dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2010 Với các thao tác kỹ thuật với các phần mềm và những dữ liệu trên cho phép biên tập nội dung hiện trạng
sử dụng đất các năm 2003 và 2010, sau đó tiến hành chồng ghép và thành lập bản
đồ biến động sử đất giai đoan 2003 - 2010 Mặt khác, phương pháp này cũng được
sử dụng để thành lập, biên tập một số bản đồ như bản đồ hành chính, bản đồ giải thửa của xã Trường Thọ
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi không gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ xã Trường Thọ, huyện An Lão,
Thành phố Hải Phòng
4.2 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới là một quá trình mang tính tổng hợp cao vói sự tham gia của nhiều chuyên ngành khác nhau nhằm xây dựng và hoàn thiện các yếu tố theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Vì vậy, trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý đất đai, nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào một số vấn đề chính như sau: 1) đánh giá hiệu quả của các ngành kinh tế chủ đạo của xã Trường Thọ; 2) đánh giá mức độ manh mún đất đai và hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa; 3) Đánh giá và so sánh một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới xã Trường Thọ;
Trang 125 Quy trình các bước nghiên cứu
Quy hoạch nông thôn mới là một quá trình mang tính tổng hợp cao, đòi hỏi kiến thức chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau Chính vì vậy, các nội dung nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu đã được giới hạn ở phần 1, quy trình các bước nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Hình 2 Quy trình các bước nghiên cứu
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên
Phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội
trạng kinh
tế - xã hội
Biến động
sử dụng đất giai đoạn 2003-
2010
Hiệu quả dồn điền đổi thửa
Đề xuất một số giải pháp phục
vụ quy hoạch sử dụng đất
So sánh một số chỉ tiêu xây dựng nông thôn quốc gia
Tiềm năng phát triển của xã Trường Thọ
Đề xuất một số giải pháp phục vụ xây dựng nông thôn mới
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ
SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI
1.1 Các vấn đề cơ bản về quy hoạch và phát triển nông thôn
1.1.1 Các vấn đề cơ bản về phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn luôn là trọng tâm trong công cuộc xoá đói giảm nghèo Phát triển nông thôn là vấn đề phức tạp và rộng lớn, nó liên quan đến nhiều ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn Mục đích của phát triển nông thôn là phát triển đời sống con người với đầy đủ các phạm trù của
nó Phát triển nông thôn toàn diện phải đề cập đến tất cả các mặt kinh tế, văn hoá,
xã hội, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng Sự phát triển của mỗi vùng, mỗi địa phương nằm trong tổng thể phát triển chung của các vùng và của cả nước
a) Khái niệm chung về nông thôn: Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng
đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Trong đó có hàng loạt các yếu
tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh tế -
xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị
Trong khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư: 1) sử dụng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt thành thị và nông thôn; 2) sử dụng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp cận thị trường để phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ chế kinh tế của mỗi nước); 3) vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm nông nghiệp là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của vùng)
Qua một số ý kiến trên, nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng mặt của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau:
“Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn,
có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”
Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên cứu
để có khái niệm chính xác và hoàn chỉnh hơn
Trang 14b) Khỏi niệm phỏt triển nụng thụn
- Khỏi niệm phỏt triển: Sự phỏt triển bao hàm nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp tuy
nhiờn ta cú thể đi đến một định nghĩa tổng quỏt Phỏt triển là một quỏ trỡnh thay đổi liờn tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phõn phối cụng bằng những thành quả tăng trưởng trong xó hội (Raanan Weitz, 1995)
Mục tiờu chung của phỏt triển là nõng cao cỏc quyền lợi về kinh tế, chớnh trị, văn hoỏ, xó hội và quyền tự do cụng dõn của mọi người dõn, khụng phõn biệt nam,
nữ, cỏc dõn tộc, cỏc tụn giỏo, cỏc chủng tộc, cỏc quốc gia Mục tiờu này khụng thay đổi nhiều kể từ đầu những năm 1950 khi mà đa số cỏc nước đang phỏt triển thoỏt khỏi chủ nghĩa thực dõn
Nếu những thành quả tăng trưởng trong xó hội khụng được phõn phối cụng bằng, hệ thống giỏ trị của con người khụng được đảm bảo thỡ sẽ dẫn đến những xung đột, những cuộc đấu tranh cú thể xảy ra làm ngưng trệ sự phỏt triển hoặc đẩy lựi sự phỏt triển (Raanan Weitz, 1 995)
- Khỏi niệm phỏt triển nụng thụn:
Phát triển nông thôn có vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với những n-ớc đang phát triển và nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Khái niệm phát triển
nông thôn đ-ợc Ngân hàng thế giới đề xuất nh- sau: “phát triển nông thôn là một chiến l-ợc đ-ợc thiết kế nhằm cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội cho ng-ời dân ở những vùng nông thôn nghèo Nó đòi hỏi phải mở rộng những lợi ích của sự phát triển đến những vùng nghèo nhất đặc biệt cho những ai tìm kiếm kế sinh nhai tại vùng nông thôn, bao gồm những nông dân buôn bán nhỏ, ng-ời thuê m-ớn đất và nông dân không có đất ” (Ngân hàng thế giới, 1975)
Phỏt triển nụng thụn là một khỏi niệm được ỏp dụng rộng rói trong nhiều lĩnh vực, nú liờn quan tới sự phỏt triển của tất cả cỏc ngành kinh tế, xó hội nhằm đảm bảo mục tiờu cuối cựng là nõng cao chất lượng cuộc sống cho người dõn Phỏt triển nụng thụn được coi như là một chiến lược, một chớnh sỏch của quốc gia, vựng lónh thổ Khỏi niệm “Phỏt triển tổng hợp nụng thụn” (Integrated rural development) xuất hiện từ những năm 1970, cú ý nghĩa rất quan trọng đối với cỏc nước đang phỏt triển Phỏt triển tổng hợp nụng thụn bao gồm cỏc vấn đề liờn quan như sau:
(1) Cải thiện điều kiện sống của cư dõn địa phương
(2) Đem lại những vựng nụng thụn cú nhiều lợi ớch và ớt bị thiệt hại đến tài sản và tài nguyờn thiờn nhiờn
(3) Đảm bảo những dự ỏn, chương trỡnh phỏt triển sẽ được cộng đồng ủng
hộ
(4) Đảm bảo tớnh độc lập của địa phương trong quỏ trỡnh phỏt triển
Trang 15Có thể dễ dàng nhận thấy một trong những mục tiêu hàng đầu của phát triển tổng hợp nông thôn là nâng cao mức sống của người dân địa phương bằng việc gia tăng sản lượng nông nghiệp và các ngành kinh tế khác có liên quan đến các dạng tài nguyên thiên nhiên cũng như những thế mạnh về xã hội của địa phương
Khái niệm phát triển tổng hợp nông đang thôn được áp dụng rộng rãi đặc biệt
là ở các nước đang phát triển, trong đó điển hình như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Tuy nhiên, khái niệm này được hiểu và áp dụng theo những cách thức khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế ở các quốc gia Nhưng tóm lại, phát triển tổng hợp nông thôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của các
nước đang phát triển
- Chu trình phát triển nông thôn
Chiến lược phát triển nông thôn là một phần quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn Chiến lược phát triển nông thôn thường là những chiến lược mang tính lâu dài, với những mục tiêu phát triển lớn và tổng hợp nhằm nâng cao trình độ phát triển của đất nước hoặc khu vực Chiến lược cũng mang tính tổng hợp và có phạm vi ảnh hưởng lên tất cả các ngành kinh tế, xã hội, công nghệ, luật pháp có liên quan đến mục tiêu phát triển nông thôn
Chiến lược phát triển nông thôn bao gồm các hợp phần như sau : (1) Chính sách quản lý đất đai; (2) chính sách về công nghệ; (3) chính sách về việc làm; (4) chính sách phát triển giáo dục và nghiên cứu khoa học; (5) chính sách về việc tổ chức nông thôn; (6) chính sách về giá cả; (7) kết hợp với công việc của nền kinh tế (David A.M Lea and D.P Chaudhri, 1983)
Chiến lược phát triển nông thôn do các cơ quan chuyên ngành của chính phủ thành lập, trong chiến lược thường đề cập tới các nguyên tắc phát triển cũng như mục đích và đối tượng chịu ảnh hưởng hoặc đối tượng thực thi nhiệm vụ của chiến lược (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Chiến lược phát triển nông thôn tổng hợp
Đối tượng Mục tiêu và nguyên tắc phát triển
Nhóm mục tiêu Nông dân không có hoặc thiếu đất canh tác, thợ thủ công, phụ
nữ,…chiếm số đông so với dân số trong vùng
Công nghệ Phát triển nền kinh tế phù hợp với điều kiện của đất nước
Đầu tư Sự đầu tư chính trong vùng nông thôn nhằm tạo ra sự cân bằng giữa
vùng nông thôn và đô thị
Trung tâm dịch vụ Đẩy mạnh kinh tế ở các đô thị nhỏ và các trung tâm dịch vụ ở nông
thôn, gia tăng sản phẩm và thu nhập cho dân trong vùng, trung tâm dịch vụ nông nghiệp
Trang 16Thị trường Nhấn mạnh tầm quan trong của việc sản xuất hàng hóa trong nước và
tạo dựng hệ thống trao đổi tốt hơn
Quy hoạch không gian Có đuợc vị trí cho việc đầu tư và các chương trình hành động
Nông nghiệp Tự đáp ứng việc cung cấp thức ăn và cải thiện chất dinh dưỡng thông
qua việc lựa chọn sự đổi mới
Thủy lợi Khuyến khích phát triển thủy lợi nhỏ trong quản lý đất đai
Sức khoẻ cộng đồng Nhấn mạnh phương pháp vệ sinh môi trường, thuốc ngăn ngừa bệnh,
cơ sở hạ tầng y tế, kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc trẻ em
Cung cấp nước sạch Các vùng nông thôn đều được sử dụng nước sạch
Giáo dục Các chương trình dành cho người dân ở các độ tuổi và có cơ sở hạ
tầng thư viện, đào tạo và giáo dục không chính quy
Giao thông Mạng lưới giao thông nông thôn nhằm tặng cường mối liên hệ giữa
các thị trường và sự liên kết giữa các đô thị cấp thấp với cấp cao hơn Công nghiệp nông
thôn
Lao động tập trung và cơ sở sản xuất quy mô nhỏ dựa váo nguồn nguyên liệu của địa phương tiến tới phục vụ nhu cầu địa phương
Thông tin liên lạc Giáo dục người dân ở nông thôn để thay thế chủ nghĩa truyền thống
bằng báo chí, đài, rạp chiếu phim… và các phương tiện truyền thông khác
Cung cấp Điện Nâng cao cơ sở hạ tầng của các vùng nông thôn nhằm mục đích sử
dụng cho sản xuất và sinh hoạt
Tín dụng Cải tổ lại ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng
Giá cả và các chính
sách tài chính
Tạo ra thặng dư cho các địa phương và tái đầu tư
Kế hoạch và bổ sung Phi tâp trung hóa các quyền lực về kinh tế - xã hội và sự tham gia của
người dân trong các chương trình phát triển và các trung tâm nghiên cứu ở địa phương
Nhà ở nông thôn Quản lý môi trường và vệ sinh môi trường nông thôn
Nguån: R B Singh, 1986
Như vậy, chiến lược phát triển nông thôn có thể coi là khung luật pháp cho các chính sách phát triển của thể theo ngành (sectoral) hoặc theo vùng (regional) Chiến lược phát triển nông thôn thường mang tầm vĩ mô và do chính phủ soạn thảo
Bên cạnh đó, chiến lược phát triển nông thôn cũng khác nhau phụ thuộc vào thể chế chính trị hoặc mô hình phát triển mà các quốc gia đang theo đuổi Bảng 1.2 thể hiện sự khác biện về chiến lược phát triển giữa các quốc gia theo các mô hình phát triển khác nhau
Trang 17Bảng 1.2 Các loại hình chiến lược phát triển nông thôn
Mô hình cải cách Mô hình kinh tế
thị trường
Mô hình công nghệ
Mô hình XHCN
Kích cỡ nông trại Nhỏ Thường rộng Phụ thuộc chính
sách
Lớn
Sở hữu đất đai Chủ/ nông dân Tư nhân và
thương mại
Tư nhân Toàn dân
Công nghệ Chuyên môn hóa cao Phụ thuộc vào thị
trường
Phụ thuộc vào chính sách
Tập thể quyết định
Các hợp phần phi
nông nghiệp
Cao / nhỏ do chính sách quyết định
tập thể quyết định
Cách thức nghề
nghiệp
Không trả lượng cho lao động gia đình
Lương theo công lao động
Lương theo công lao động
Chia xẻ lợi ích
Giá cả Do chính sách xác định Do thị trường xác
định
Do chính sách xác định để giữ lợi ích cao
Do chính quyền quy định
Cung cấp vật tư
nông nghiệp
Xác định chính sách Địa phương / đô thị
hợp tác xã
Hợp tác xã
Tổ chức nông thôn Do xã hội xác định với
sự giúp đỡ của Nhà nước
Do thị trường quy định
Do chính sách quy định
Do xã hội quy định
Punjab thuộc ấn
Độ, Hàn Quốc
Trung Quốc, Một số vùng của Tanzania
Nguån: David A.M Lea and D.P Chaudhri, 1983
Có thể thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các mô hình mà tác giả đề cập, khác biệt cả về mối quan hệ sản xuất cũng như đối tượng sản xuất
Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập tới các mô hình trong giai đoạn trước 1990, qua
đó không thể hiện được những ví dụ mới Ví dụ điển hình như Việt Nam đã dần dần chuyển từ mô hình hợp tác hóa (Collectivist) sang mô hình kinh tế thị trường tự do cạnh tranh (free market) từ giữa những năm 1980, qua đó hầu hết các mối quan hệ
Trang 18trên đã thay đổi Những thông tin cụ thể về chiến lược phát triển nông thôn của Việt Nam sẽ được đề cập ở các phần sau
- Những thay đổi trong tiếp cận phát triển nông thôn:
Vào những năm 50 của thế kỷ 20, mô hình phát triển các trang trại nhỏ chiếm ưu thế Những chương trình phát triển nông thôn trong giai đoạn này thường áp dụng các chiến lược phát triển cộng đồng, phát triển nông thôn tổng hợp, phát triển chú trọng đến các nhu cầu cơ bản của con người, phát triển có sự tham gia của người dân Có thể diễn tả phát triển nông thôn chịu ảnh hưởng lớn theo hai thế lực quan trọng là vai trò của Chính phủ và Thị trường, nói cách khác là theo các mục tiêu hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Trong từng giai đoạn khác nhau, các chiến lược phát triển nông thôn đã chú trọng đến mục tiêu hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội,
và Nhà nước hay thị trường sẽ đóng vai trò chủ chốt trong mỗi định hướng
Hình 3 Thay đổi tiếp cận về phát triển nông thôn
Những năm 1960, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển nông thôn, can thiệp mạnh vào thị trường nông thôn, đầu tư theo quy mô lớn vào kết cấu hạ tầng, công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ mới Chính trong thời điểm này cuộc cách mạng Xanh đã ra đời Nhờ có các giống cây lương thực cao sản sử dụng nhiều vật tư nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp tăng mạnh, giúp nhiều nước đang phát triển giải quyết được nạn đói Tuy nhiên, hố sâu ngăn cách giàu nghèo vẫn còn lớn, chênh lệch mức sống nông thôn và thành thị có
ThÞ tr-êng
Trang 19Trong giai đoạn này, Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng, can thiệp mạnh vào thị trường thông qua các chính sách giá, trợ cấp
Những năm 1980, nhiều nước đã tiến hành điều chỉnh cơ cấu, tự do hoá thị trường, giảm vai trò của Nhà nước, ngân sách hỗ trợ giảm
Những năm 1990, vấn đề xoá đói giảm nghèo và thu nhập ổn định trở thành các vấn đề thời sự nên các chính sách có phần cân bằng hơn, giữa các mục tiêu xã hội và kinh tế, giữa vai trò của Nhà nước và thị trường
1.1.2 Các vấn đề cơ bản về quy hoạch phát triển nông thôn
a) Quy hoạch lãnh thổ
- Khái quát chung về quy hoạch: Quy hoạch thực chất là quy hoạch vùng: Là sự sắp
xếp vùng không gian lãnh thổ theo một trật tự dựa trên các yếu tố tự nhiên và kinh
tế - xã hội, nhằm phát huy tối đa các ưu thế sẵn có của khu vực đồng thời tìm ra
hướng phát triển tốt nhất cho khu vực
“Quy hoạch vùng cho ra sự biểu diễn mang thuộc tính địa lý các chính sách của xã hội về kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái Trong cùng lúc nó vừa là một nguyên tắc khoa học vừa là chính sách và kỹ thuật cai trị được phát triển như một học thuật liên ngành và lối tiếp cận toàn diện hướng tới một sự phát triển vùng cân bằng và sự tổ chức không gian vật lý theo một chiến lược tổng thể” (Hiến chương
Torremolinos,1983) [wikipedia]
“Quy hoạch là một quá trình lý thuyết về tư tưởng có quan hệ với từng sự vật, sự việc được hình thành và thể hiện qua một quá trình hành động thực tế Quá trình này giúp nhà quy hoạch tính toán và đề xuất những hoạt động cụ thể để đạt
được mục tiêu”
Vì vậy “Quy hoạch phát triển nông thôn là quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng hợp nhiều nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường liên quan đến vấn đề phát triển con người trong các cộng đồng nông
thôn theo các tiêu chẩn của phát triển bền vững”
Quy hoạch phát triển nông thôn được coi là quy hoạch tổng thể trên vùng không gian sống của mọi sinh vật bao gồm loài người, động vật, thực vật Mục tiêu của quy hoạch là đáp ứng sự tăng trưởng liên tục mức sống của con người và phát triển bền vững Do đó đi đôi với việc phát triển kinh tế, văn hoá xã hội là vấn đề bảo
vệ môi trường, bảo vệ sựđa dạng sinh học, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ và tái tạo tài nguyên để phục vụ cho lợi ích lâu dài của các thế hệ mai sau
Về khái niệm quy hoạch phát triển nông thôn có thể tiếp cận theo hai góc độ Đứng trên góc độ phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch phát triển nông thôn là sự phân bố các nguồn lực tài nguyên, đất đai, lao động, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, sự
Trang 20bố trí cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trên lãnh thổ nông thôn một cách hợp lý đểđạt hiệu quả cao
Đứng trên góc độ kế hoạch hoá, quy hoạch phát triển nông thôn là một khâu trong quy trình kế hoạch hoá nông thôn bắt đầu lừ chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn, đến quy hoạch phát triển nông thôn rồi cụ thể hoá bằng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên địa bàn nông thôn
Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng về tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt Mục tiêu không thể hình thành
do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể hình thành chóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một quá trình tìm tòi, cân nhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến toàn diện Mục tiêu phải có tính khả thi Nếu quy hoạch không hướng về tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém, một bức tranh không có lợi ích Quy hoạch phát triển nhằm đạt được mục tiêu cải thiện đời sống cho phần lớn người dân nông thôn Nó gây ít tổn thất hơn so với lợi ích mà nó đem lại
Trình tự lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ
- Bước 1: Đánh giá tác động (hay chi phối) của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và tác động của khu vực đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội lãnh thổ quy hoạch Đánh giá và dự báo các yếu tố và nguồn lực phát triển
- Bước 2: Xác định vai trò của lãnh thổ quy hoạch đối với cả nước và đối với lãnh thổ lớn hơn mà nó nằm trong đó
- Bước 3: Xác định mục tiêu, các phương án phát triển và tổ chức kinh tế - xã hội theo lãnh thổ (như nội dung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ
đã nêu ở mục 2, 3, 4 của phần II) Đồng thời luận chứng của giải pháp chủ yếu và điều kiện đảm bảo thực hiện quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội lãnh thổ theo các phương án đã được lựa chọn
b) Quy hoạch phát triển nông thôn
- Khái niệm quy hoạch phát triển nông thôn: quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng
hợp nhiều nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường liên quan đến vấn đềphát triển con người trong các cộng đồng nông thôn theo các tiêu chuẩn của phát triển bền vững
Quy hoạch phát triển nông thôn có ý nghĩa hết sức quan trọng để phát triển kinh tế- xã hội của đất nước cũng như từng vùng, địa phương và của các đơn vị kinh
tế cơ sở Có thể xét về ý nghĩa của quy hoạch phát triển nông thôn trên hai mặt: 1) Quy hoạch phát triển nông thôn là căn cứ không thể thiếu được để quy hoạch các
Trang 21vùng, các ngành, các đơn vị kinh tế cơ sở, để tổ chức phân bốvà sử dụng mọi nguồn lực tự nhiên, kinh tế- xã hội ở nông thôn; 2) Quy hoạch phát triển nông thôn là căn cứquan trọng của các khoa học phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, là chỗ dựa để thực hiện việc quản lý nhà nước trên địa bàn nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, hạn chếtình trạng tự phát không theo quy hoạch,tránh gây nên những hậu quả, lãng phí sức người, sức của
1.1.3 Một số vấn đề về nông thôn mới
a) Khái niệm và bản chất của nông thôn mới
- Khái niệm
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã
ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí
- Bản chất: Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
- Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu ở đây là
nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, phú nông, nhóm thợ thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, v.v
- Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất nông
nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất đặc trưng với
lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá
Trang 22trị, chuẩn mực cho hành vi, đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế, ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở,
Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông thôn Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống
xã hội nông thôn
b) Một số đặc điểm quá trình nông thôn mới
- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả
nước được định trước
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí
điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải ai
làm hộ, người nông dân tự xây dựng
- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc
gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn
c) Các chỉ số và tiêu chí về nông thôn mới
Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới được Chính phủ ban hành ngày 16/4/2009 theo Quyết định số 491/QĐ-TTg có nội dung cụ thể như sau:
Trang 23Bảng 1.3 Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới
- Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
2
Hạ tầng kinh
tế - xã hội
Giao thông
- Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp
kỹ thuật của Bộ GTVT: (đường huyện đến xã, liên xã, đường từ xã xuống thôn phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đường ôtô cấp VI với các chỉ số) Tốc độ thiết kế: (30km/h đối với vùng đồng bằng; 20km/h đối với vùng miền núi) Chiều rộng phần xe chạy giành cho
xe cơ giới :(≥ 3,5m/làn xe) Chiều rộng lề và lề gia cố: (Đối với khu vực đồng bằng :
≥1,5m; Đối với khu vực miền núi: ≥ 1,25m) Chiều rộng mặt cắt ngang đường: (Đối với khu vực đồng bằng : ≥ 6,5 m; Đối với khu vực miền núi: ≥ 6,0 m)
- Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT (chỉ số về chiều rộng mặt đường: ≥ 3,0m)
- Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
- Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện (Mặt đường được áp dụng các hình thức kết cấu mặt đường bê tông xi măng hoặc đá dăm, hoặc lát gạch, cát sỏi trộn xi măng, hoặc gạch vỡ, xỉ lò cao)
3
Thủy lợi
- Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh với các chỉ số như sau: (có trang thiết bị vệ sinh và mạng lưới đường ống cấp thoát nước: ≥ 80 lít/người/ngày; có đường ống dẫn đến và vòi nước gia đình: ≥ 60 lít/người/ngày; sử dụng vòi nước công cộng: ≥ 40 lít/người/ngày)
Trang 24- Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa
4
Điện
- Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn
5 Trường học - Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt
chuẩn quốc gia
6 Cơ sở vật chất văn hóa - Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL
- Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL
12 Cơ cấu lao động - Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
13 Hình thức tổ chức sản xuất - Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả
14
Giáo dục
- Phổ biến giáo dục trung học (phổ cập giáo dục hết cấp 3)
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo (các trường nghề và các trường trung cấp)
Trang 25Văn hóa - xã
hội - môi
trường
- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
16 Văn hóa - Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ
VH-TT-DL
17
Môi trường
- Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia
- Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường
- Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi
trường xanh, sạch, đẹp
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"
- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
giữ vững
- An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
Nguồn: Quyết định số 491/QĐ-TTg, 2009
Trang 261.2 Vai trò của phát triển nông thôn đối với nền kinh tế
Phát triển nông thôn luôn là trọng tâm trong công cuộc xoá đói giảm nghèo Chính vì vậy thúc đẩy phát triển nông thôn có vai trò quan trọng ở mỗi một quốc gia riêng:
- Nhân khẩu: Xét về số liệu tuyệt đối, dân số nông thôn tiếp tục tăng nhưng xét về
tỷ lệ tương đối, dân cư sống tại nông thôn giảm dần Ước tính đến năm 2020, ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ sinh đẻ thấp cộng với dòng dân di cư ra thành phố
sẽ làm cho dân số sống tại khu vực nông thôn ổn định dần trong khi đó, tốc độ tăng dân số tại thành thị sẽ cao hơn Xu hướng trên có ảnh hưởng khác nhau đến đời sống của khu vực nông thôn Một mặt, tỷ lệ sinh đẻ giảm, đời sống có xu hướng khá lên khiến đầu tư và tiêu dùng tăng ở nông thôn Mặt khác, dòng dân cư đổ về thành phố đa số đều là những người trẻ sẽ rút đi lực lượng lao động năng suất cao của khu vực nông thôn Ngoài ra, sự hoành hành của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS có thể sẽ làm cho lực lượng lao động ở nông thôn có xu hướng gồm toàn những người lao động già hoặc quá trẻ hoặc ốm yếu Theo kết quả điều tra tại 16 quốc gia, chủ yếu ở châu Phi, hơn 1/10 số thanh thiếu niên bị mắc bệnh HIV và gây hậu quả nghiêm trọng đối với cộng đồng: bệnh tật, tử vong, giảm nguồn nhân lực, tăng sự lệ thuộc, làm giảm số trẻ em được cắp sách đến trường và tạo ra các khía cạnh xã hội khác
- Thúc đẩy phát triển kết cấu cơ sở hạ tầng: Trong những năm qua, mặc dù tỷ lệ
nghèo đói ở nông thôn còn ở mức cao, chất lượng nguồn nhân lực - biểu hiện thông qua các chỉ số tỷ lệ tử vong, sức khoẻ, điều kiện vệ sinh đã tăng lên đáng kể Mối liên hệ giữa khu vực nông thôn với cả nước về giao thông, điện và điện thoại - đang dần được cải thiện, mặc dù chủ yếu là được trợ cấp Tiêu thụ điện ở các nước đang phát triển trong những năm 70 và năm 1999 đã tăng gấp 4 lần, qui mô đường dây điện thoại tăng gấp 7 lần
- Đa dạng hoá thu nhập: Thu nhập trong những ngành sản xuất phi nông nghiệp là
yếu tố chính làm tăng thu nhập khu vực nông thôn Những kết quả điều tra mới đây cho thấy, thu nhập ở các ngành sản xuất phi nông nghiệp chiếm 40-45% mức thu nhập bình quân hộ gia đình ở vùng cận sa mạc Sahara, và 30-40% ở châu á Phần lớn thu nhập phi nông nghiệp được tạo ra nhờ thu hẹp tỷ trọng lực lượng lao động sống tại khu vực nông thôn chứ không phải của những người di cư ra thành phố gửi
về
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp: Trong giai đoạn 1970-90, ở các nước đang phát
triển, lao động nông nghiệp trong nền kinh tế giảm từ 66% xuống khoảng 47% lực lượng lao động, giảm đáng kể so với mức năm 70 Trong thập kỷ 90, nông nghiệp đóng góp vào GDP chưa đầy 12% và kim ngạch xuất khẩu là 2% Sản lượng ngũ
Trang 27cốc tăng nhưng giá lại có xu hướng giảm Thay đổi cơ cấu mặt hàng nông sản tiếp tục phản ánh quá trình phát triển công nghệ mạnh mẽ và toàn cầu hoá thương mại Ngày càng có nhiều nông dân thất nghiệp hoặc thiếu việc làm và đất đai được sử dụng vào sản xuất còn ít Hệ thống tiếp thị ngày càng phát triển, công nghiệp chế biến nông sản phát triển mạnh
Đóng góp của nông nghiệp trong GDP một số nước châu Á:
Hình 1.1 Đóng góp nông nghiệp GDP của một số nước châu Á
(Nguồn: FAO 2002)
Nhìn chung đóng góp của nông nghiệp trong GDP của các nước châu á liên tục tăng của năm sau so với năm trước, tăng nhanh đặc biệt là Malaixia
Lao động trong sản xuất nông nghiệp một số nước châu Á
Hình 1.2 Lao động sản xuất nông nghiệp một số nước châu Á
(Nguồn: FAO 2002)
Cơ cấu lao động hoạt động trong nông nghiệp ở các nước châu á cũng có xu hướng tăng đặc biệt là ở Ấn Độ, Trung Quốc, Philippn
Trang 28- Phát triển nông thôn ở Việt Nam: Đối với đất nước ta hiện nay nông nghiệp vẫn
đang đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Địa bàn nông thôn càng trở nên đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vai trò, vị trí của nông thôn trong sự nghiệp phát triển thể hiện ở các mặt sau:
Nông thôn, nông nghiệp sản xuất ra những nông sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người mà không một ngành sản xuất nào có thể thay thế được Ngoài ra nông thôn còn sản xuất ra những nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ví dụ, ở tỉnh Thái Nguyên nhiều năm nông thôn, nông nghiệp sản xuất ra khoảng 40% thu nhập quốc dân và trên 40% giá trị xuất khẩu tạo nên nguồn tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trên địa bàn nông thôn có trên 70% lao động xã hội, đó là nguồn cung cấp lao động cho các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ Số lao động đó nếu được nâng cao trình độ, được trang bị công cụ thích hợp sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động đáng kể, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý trong phân công lao động xã hội
Nông thôn là nơi sinh sống của trên 80% dân số cả nước, đó là thị trường tiêu thụ rộng lớn, nếu được mở rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển
Địa bàn nông thôn nước ta có 54 dân tộc khác nhau, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều thành phần, mỗi biến động tích cực hay tiêu cực đều có tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị; xã hội, an ninh quốc phòng Sựổn định tình hình nông thôn sẽ góp phần quan trọng để đảm bảo tình hình ổn định của đất nước
Nông thôn chứa đại đa số tài nguyên đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, đến việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, đảm bảo cho việc phát triển lâu dài và bền vững của đất nước
1.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
1.3.1 Nhật Bản: “Mỗi làng một loại đặc sản”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào
“Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên
Trang 29đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”.
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình
1.3.2 Thái Lan: “Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước”
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn
có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến
Trang 30nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng
nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường
xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư,
thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó
có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công
Trang 31nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.4 Các chính sách phát triển nông thôn ở Việt Nam
Phát triển nông thôn luôn luôn được xác định là một trong những mục tiêu hàng đầu của Việt Nam Ngay từ khi giành được độc lập vào năm 1945, Chính phủ
đã thực hiện hàng loạt chính sách nhằm phục hồi nền nông nghiệp đã bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân Bên cạnh đó, Chính phủ bắt đầu tiến hành chương trình cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của thực dân Pháp, quan lại phong kiến và địa chủ trong sản xuất nông nghiệp và chia ruộng đất cho dân nghèo Mặt khác, Chính phủ cũng đã bắt đầu việc xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình của Liên xô Đến những năm
1960, hầu hết các địa phương ở miền bắc đã thiết lập hợp tác xã nông nghiệp Giai đoạn tiếp theo từ những năm 1970 đến 1980 là thời kỳ kinh tế đất nước đi vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên nhân như: cơ chế quản lý không còn phù hợp với hoàn cảnh mới (đất nước đã hoàn toàn giải phóng); lạm phát gia tăng, tình hình chính trị chưa thật ổn định (đặc biệt là các tỉnh phía nam)
Quá trình phi tập trung hóa ở Việt Nam gắn liền với việc thực hiện từng bước chính sách đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào tháng 12 năm 1986 tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI Trên thực tế, quá trình phi tập trung hóa
đã bắt đầu thực hiện từ đầu những năm 80, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Quá trình phát triển nông thôn của Việt Nam trong giai đoạn đổi mới có thể được đánh dấu bằng các chính sách phát triển điển hình như sau:
Khoán 100
Trong một thời gian dài từ 1954 đến năm 1975, Việt Nam bị chia cắt thành 2 miền với thể chế chính trị khác nhau: Miền Bắc do Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Việt Nam lãnh đạo, trong khi đó miền nam nằm dưới sự quản lý của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam Ở miền bắc, nền kinh tế được định hướng theo con đường XHCN, với đặc trưng cơ bản là nền kinh tế tập trung theo kế hoạch, chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước Trong nông nghiệp, tồn tại hình thức HTX theo mô hình của Liên
Xô Sau khi đất nước thống nhất vào tháng 4 năm 1975, Việt Nam tiếp tục đi theo
Trang 32con đường XHCN trên toàn bộ đất nước thống nhất Giai đoạn 1975 – 1986, nền kinh tế vẫn theo mô hình của giai đoạn trước Tuy nhiên, đến đầu những năm 80, trong sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện hình thức quản lý mới, lúc mới hình thành mang tính chất tự phát tại một số địa phương như Phú Thọ, Thái Nguyên, Hải Phòng Sau một thời gian ngắn phát huy hiệu quả, ngày 13/1/1981 Ban Bí thư
Trung ương Đảng ban hành chỉ thị số 100 - CT/TW về việc: “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “Khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”
Chính sách này thường được biết đến dưới tên gọi: “Chính sách khoán sản
phẩm” hay là “Khoán 100” Mục tiêu chính của chính sách khoán sản phẩm là:
“Bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái sản xuất, kích thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai và các cơ sở vật chất – kỹ thuật….củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn; không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên”
Nhằm mục đích đó, các nguyên tắc chính cần phải được đảm bảo như sau: (i) HTX nông nghiệp quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất; (ii) HTX tổ chức tốt việc quản lý và điều hành lao động; (iii) HTX phải có quy hoạch và kế hoạch phù hợp với quy vùng sản xuất và kế hoạch sản xuất của huyện, có quy trình sản xuất và định mức kinh tế - kỹ thuật ngày càng tiến bộ; (iv) HTX phải nắm được sản phẩm để đảm bảo việc phân phối sản phẩm kết hợp được đúng đắn và hài hòa
ba lợi ích (lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của xã viên); (v) phát huy quyền tự chủ của HTX và quyền làm chủ tập thể của xã viên
Một điều dễ dàng nhận thấy là vai trò của HTX nông nghiệp là rất quan trọng trong quá trình sản xuất ở giai đoạn này HTX có vai trò quản lý, điều hành mọi hoạt động sản xuất trong địa phương (quy mô cấp xã, thôn) cũng như chịu trách nhiệm trong việc phân phối sản phẩm cho xã viên Trước khi thực hiện chính sách khoán sản phẩm, tất cả đất đai canh tác, công cụ sản xuất đều do HTX quản lý, xã viên được sắp xếp lao động theo sự chỉ đạo của HTX và được tính công điểm Quá trình phân phối sản phẩm dựa vào khối lượng công việc do xã viên đảm nhận Tuy nhiên hình thức này đã được thay thế bằng hình thức khoán sản phẩm cho nhóm và người lao động Như vậy, khoán sản phẩm là một hình thức quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm gắn với trách nhiệm và quyền lợi của người lao động với sản phẩm cuối cùng một cách trực tiếp Nó phát huy được mạnh mẽ tính tích cực, tự giác của xã viên, lôi cuốn mọi người tăng công sức, chủ động tận dụng đất đai, tiết kiệm chi phí sản xuất
Chính sách khoán sản phẩm có tác dụng thay đổi phần nào quan hệ sản xuất
đã tồn tại lâu dài trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Chính sách này góp phần
Trang 33thúc đẩy quá trình sản xuất vốn đã bị đình trệ trong một thời gian dài do áp dụng mô hình quản lý sản xuất theo HTX nông nghiệp kiểu cũ
Chính sách “Đổi mới” năm 1986
Chính sách đổi mới kinh tế được đề cập tới vào năm 1986 trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 Mục tiêu chính của chính sách này là: (i) thay thế nền kinh tế tập trung bằng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; (ii) thiết lập một xã hội dân chủ trong đó nhà nước thuộc về nhân dân, được bầu cử do nhân dân và hoạt động vì nhân dân; (iii) thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, khuyến khích liên doanh, liên kết với nước ngoài với tiêu chí mong muốn làm bạn
bè với tất cả các nước vì quyền lợi chung cho sự phát triển (Hà Huy Thành, 2004)
Chính sách “Đổi mới” đã thực sự mở ra một hướng phát triển mới cho Việt Nam, tạo tiền đề cho đất nước hội nhập với sự phát triển chung của thế giới Kể từ thời điểm này, quá trrình phi tập trung hóa của Việt Nam chính thức được xác định với hàng loạt các chính sách, chương trình phát triển
Khoán 10
Nghị quyết số 10 - NQ/TW của Bộ chính trị, Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 5/4/1988 về việc “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Nghị quyết này thường được biết tới dưới tên gọi “Khoán 10” Đây là một chính sách quan trọng, thể hiện những đổi mới sâu sắc trong chính sách kinh tế đối với nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Nội dung chính của chính sách này bao gồm: (i) thực hiện chế độ tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp; chuyển hoạt động của các tổ chức này sang chế độ hạch toán; (ii) chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp; (iii) nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể, tư nhân trong quá trình phát triển; tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế này phát triển trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp,…(iv) phát triển các hình thức liên doanh, liên kết giữa các thành phần kinh tế
Chính sách Khoán 10 là một bước thay đổi vượt bậc trong tư duy và cách thức quản lý của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương Sự thay đổi này chấm dứt cung cách quản lý kinh tế theo kiểu quan liêu, bao cấp của nền kinh tế tập trung từ năm 1954 Nó đánh dấu cho sự xuất hiện của một phương thức quản lý mới đã và đang phát huy hiệu quả tại Việt Nam
Luật đất đai năm 1993 và 2003
Luật đất đai của Viêt Nam có hiệu lực từ năm 1993 đã làm thay đổi cơ bản các hoạt động sản xuất nông nghiệp Điểm quan trọng của luật đất đai là Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20
Trang 34năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được Nhà nước giao đất đó để tiếp tục sử dụng
Bên cạnh đó, luật dất đai đã xác định 5 quyền cơ bản của cá nhân sử dụng đất gồm có: Trao đổi, chuyển nhượng thừa kế, cho thuê, người dân có toàn quyền đầu tư và
sử dụng đất đai để đạt được hiệu quản cao nhất
Chiến lược xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 2001 – 2010
là đưa Việt Nam vượt qua tình trạng chậm phát triển, cải thiện đời sống văn hóa, vật chất và tinh thần của người dân, cuộc sống tôn giáo và văn hoá và vị trí xây dựng của việc đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại về cơ sở hạ tầng, kinh tế, phòng thủ, an ninh, tiềm năng, thành lập tổ chức kinh tế thị trường theo định hướng XHCN để đưa vị trí của Việt Nam đến với lĩnh vực hoạt động quốc tế
- Các chương trình quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội
Trong giai đoạn từ sau đổi mới đến nay, Chính phủ đã cụ thể hóa chiến lược phát triển nông thôn bằng hàng loạt các chương trình và dự án quốc gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau với mục tiêu chủ yếu là nâng cao mức sống của người dân và phát triển đồng đều các vùng trong cả nước dựa vào thế mạnh riêng của từng địa phương Một số chương trình và dự án về phát triển nông thôn chủ yếu như sau:
+ Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc năm 1993: Chương trình này còn có
tên gọi khác là Chương trình 327 - căn cứ theo quyết định số 327 của Chính phủ Mục tiêu của chương trình này là phủ xanh đất trống và đồi núi trọc chủ yếu ở các tỉnh miền núi - nơi mà diện tích rừng ngày càng suy giảm, dẫn đến mất cân bằng sinh thái và hàng loạt thiên tai xảy ra Mặt khác, chương trình cũng tạo điều kiện giải quyết công việc cho người dân địa phương (thường có mức sống thấp), qua đó góp phần bảo vệ diện tích rừng vốn có và nâng cao diện tích rừng trồng mới
+ Dự án Quốc gia trồng 5 triệu ha rừng: Mục tiêu chính của dự án là mở rộng
diện tích rừng trên toàn quốc thêm 5 triệu ha bằng cách trồng mới, khoanh nuôi và bảo vệ rừng nhằm tăng diện tích che phủ, nâng cao chất lượng môi trường sinh thái, tạo thêm công việc cho dân cư để xóa đói giảm nghèo và tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ
+ Chương trình khai thác, sử dụng đất, nguồn nước bờ biển miền Duyên hải và mặt nước ở đồng bằng năm 1996: Chương trình này nhằm đẩy mạnh phong trào khai
hoang lấn biển và nâng cao chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng (xây dựng đường giao thông, hệ thống thủy lợi, cung cấp nước sạch, trường học, cơ sở y tế,…)
Trang 35+ Chương trình xây dựng nông nghiệp và tái xây dựng: Mục tiêu của chương trình
này là giảm thiểu nạn du canh du cư và ổn định đời sống của đồng bào dân tộc thiểu
số Chương trình này được tiến hành từ những năm 1960 và hiện nay vẫn tiếp tục diễn ra ở một số địa phương thông qua các dự án cụ thể
+ Chương trình quốc gia về việc làm năm 1992 và giai đoạn 1988 - 2000: Chương
trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nông thôn nói riêng và của toàn quốc nói chung Chương trình này được tiến hành thành nhiều giai đoạn và bắt đầu từ năm 1993 Mục tiêu của chương trình là: (i) đa dạng hóa ngành nghề (trước đây, hầu hết lao động đều phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước; hình thức tư nhân, liên doanh, hợp tác rất ít); chương trình này khuyến khích sự phát triển của các loại hình hợp tác trong hầu hết các ngành sản xuất Đây là một bước tiến lớn trong quá trình phát triển (ii) Huy động mọi nguồn vốn đầu tư khác nhau để đẩy mạnh sản xuất, tạo thêm công việc cho nhân dân
Đến giai đoạn 1998-2000, chương trình được xây dựng lại với mục tiêu (i) tạo ra khoảng 1,3 đến 1,4 triệu việc làm hàng năm; (ii) giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp ở các đô thị xuống còn 5% và nâng cao tỷ lệ thời gian lao động nông nghiệp lên 75% vào năm 2000
+ Chương trình đánh bắt xa bờ: Mục tiêu của chương trình này là nhằm cho các hộ
gia đình vay vốn để có điều kiện sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, góp phần nâng cao năng lực đánh bắt xa bờ của hộ gia đình
+ Chương trình quốc gia về việc phát triển kinh tế - xã hội ở các xã nghèo: Chương
trình giành một phần kinh phí để đầu tư (chủ yếu là cơ sở hạ tầng) cho các xã đặc biệt khó khăn (thường nằm ở các vùng sâu, vùng xa), góp phần cải thiện đời sống của nhân dân
Tóm lại, các chương trình, dự án quốc gia trên các lĩnh vực khác nhau là những giải pháp của Chính phủ nhằm mục đích phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, giảm bớt sự bất bình đẳng của dân cư giữa các vùng, giữa nông thôn và đô thị; xóa đói giảm nghèo, nâng cao diện tích che phủ rừng,…Những chương trình này là kết quả thực thi các chính sách, chiến lược phát triển vĩ mô của đất nước Nó thể hiện những nỗ lực của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của đất nước
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ TRƯỜNG THỌ PHỤC VỤ QUY
HOẠCH NÔNG THÔN MỚI 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Trường Thọ là xã nông nghiệp thuần túy của huyện An Lão, cách trung tâm huyện lỵ 3km về phía Tây Bắc
Ranh giới hành chính của xã được xác định như sau:
- Phía Bắc qua sông Lạch Tray tiếp giáp với huyện An Dương
- Phía Đông giáp xã Trường Thành, xã An Tiến
- Phía Tây giáp xã Bát Trang, huyện Kim Thành – tỉnh Hải Dương
- Phía Nam giáp xã Quang Hưng, xã Quang Trung thị trấn An Lão, xã Quốc Tuấn
Xã Trường Thọ có 2 tuyến đường liên huyện dài 2,3 km, đây là đường giao thông huyết mạch nối Trường Thọ với các địa phương khác (hình 2.1)
2.1.2 Địa chất - địa hình
Là khu vực nằm trong vùng Đồng bằng Bắc bộ Tuy nhiên địa hình nhìn chung không bằng phẳng cao ở phía tây bắc và thấp dần về phía đông nam bị chia cắt bởi một số sông lạch, đồi núi tập trung chủ yếu ở phía tây bắc (như núi Voi, núi Đẩu, núi Phớn….), với nhiều điểm cao trên 100m và trong đó có Núi Voi Địa hình
ở xã Trường Thọ rất phức tạp Độ cao thấp biến đổi từ 0.3m đến 0.7m, phần lớn ở
độ cao từ 0.7m đến 1.2m so với mực nước biển
Trường Thọ có địa hình bằng phẳng, là xã đồng bằng của huyện An Lão, có
độ cao từ 2 – 4 m so với mực nước biển Dạng địa hình thấp trũng gồm các khu vực ruộng trũng và các ao hồ xen kẽ có độ cao <1,00 m so với mặt nước biển, nên thường bị ngập nước phân bố nhiều nhất ở xã Chiến Thắng, Bát Tràng, Tân Dân, Trường Thọ , ít nhất Quốc Tuấn và Thị trấn An Lão
2.1.3 Khí hậu - thủy văn
a) Khí hậu
Xã Trường Thọ là xã nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,80
C tháng nóng nhất là tháng 6 tháng 7 có nhiệt độ trung bình là 28,40C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, tháng 2, nhiệt độ trung bình là 15,50
C, thấp nhất là 100C
Trang 37Hình 2.1 Vị trí địa lý xã Trường Thọ, huyện An Lão
Trang 38+ Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 và mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Chênh lệch nhiệt độ hai mùa rõ rệt 110
C -120C + Độ ẩm không khí: độ ẩm trung bình cả năm là 85% Độ ẩm không khí chịu ảnh hưởng theo mùa, gió và thuỷ triều vùng ven biển Độ ẩm trung bình lúc 13h là 90%,
độ ẩm thấp nhất là tháng 1 là 73%, cao nhất là tháng 4 : 91% độ ẩm thấp nhất tuyệt đối: 56%
+ Lượng bốc hơi hàng năm bình quân 700ml, trong tháng khô hanh chế độ nước mất cân bằng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên sẩy ra khô hạn, thiếu nước + Lượng mưa bình quân cả năm là 1.740 mm (số đo trung bình từ 1965 - 1995) Lượng mưa trung bình hằng năm là: 1.820 mm
+ Mùa mưa (tháng 5 - tháng 10) lượng mưa chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm tập trung vào các tháng 6, tháng 7, tháng 8 Lượng mưa trung bình /tháng thời gian này
là trên 400mm, cao nhất 683,3 mm(1995) Mùa khô (tháng 10 đến tháng 3 năm sau), đầu mùa khô thường hanh, cuối mùa ẩm ướt và có mưa phùn từ tháng 2 - tháng 4
+ Lượng mưa trung bình thấp nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2, số đo trung bình là 20 mm
+ Tổng số ngày nắng 150 - 160 ngày/năm, tháng 5 và tháng 7 có giờ nắng cao nhất
là 188 giờ/tháng
+ Xã Trường Thọ chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính:
Gió mùa Đông Bắc vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) tốc độ gió trung bình là 2,2 m/s
Gió Đông Nam vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, vận tốc gió trung bình 2,5 m/s Mùa mưa luôn biến động do ảnh hưởng của bão, lũ, dòng triều Gió mang nhiều hơi nước Tốc độ trung bình trong năm từ 1,7 - 4 m/s cực đại đạt 20 - 25 m/s vào mùa mưa bão
+ Bão lũ thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9, bình quân 3 - 5 trận/năm Bão kèm theo mưa lớn, gió mạnh, gió giật gây lụt lội Nước dâng cao nhất là khi triều cường Huyện An Lão rất nhạy cảm với bão lụt do bao bọc trực tiếp bởi hệ thống Sông Thái Bình (Văn Úc, Lạch Tray, Đa Độ) và chịu ảnh hưởng của thuỷ triều
b) Thuỷ văn
Xã Trường Thọ được bao bọc bởi sông Đa Độ ở phía Nam, và sông Lạch Tray bao bọc ở phía Bắc Hệ thống sông ngòi của xã đều thuộc hệ thống sông Thái Bình Là nguồn nước chính cung cấp chủ yếu cho toàn bộ diện tích đất canh tác Sự bồi đắp của 2 con sông này tạo cho xã có vùng đất bồi khá rộng ở phía Bắc
Trang 39- Nguồn nước mặt:
+ Lượng nước trong hệ thống sông ngòi xã Trường Thọ được cung cấp bởi 2 con sông chính và các ao, hồ nên khả năng giữ nước vào mùa khô tương đối tốt Tuy nhiên về mùa mưa lưu lượng nước các sông rất lớn, ở các sông lớn dòng chảy chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều, nên một lượng nước lớn không thoát kịp thường gây lên tình trạng úng ngập cục bộ trên diện tích lớn đất nông nghiệp Ngoài các con sông lớn tự nhiên bao quanh, huyện còn một hệ thống kênh mương dày đặc, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu, giao thông đường thuỷ, cung cấp phù sa cho đồng ruộng
- Nguồn nước ngầm:
Theo tài liệu nghiên cứu về trữ lượng và chất lượng nguồn nước ngầm trên địa bàn của xã chủ yếu là nước giếng Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tích trữ nước vào màu khô Hiện nay nhân dân trong xã vẫn sử dụng mạch nước ngầm mạch nóng ở độ sâu 4m-16m phục vụ cho sinh hoạt, lưu lượng nước 0,7- 0,8 lít/s Nguồn nước ngầm của xã có độ khoáng cao và chua, do vậy phải qua bể lọc mới sử dụng được
2.1.4 Thổ nhưỡng
Xã Trường Thọ là khu vực nằm trong đồng bằng thuộc huyện An Lão Do được bao bọc bởi 2 con sông Đa Độ và Lạch Tray nên được sự bồi đắp phù sa liên tục của 2 con sông này, do vậy diện tích đất chua, mặn chiếm tỉ lệ nhỏ trong đất nông nghiệp
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb), có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng dinh dưỡng khá cao, được sử dụng cho trồng rau, màu cho năng suất cao, phân bố ở hầu hết trên địa bàn xã
+ Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm (P), trên địa hình vàn, vàn cao Đất có thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng dinh dưỡng khá Đây là loại đất tốt được canh tác nhiều vụ trong năm trồng lúa rau, màu cho năng suất cao
+ Đất phù xa có tầng loang lổ đỏ vàng, phân bố ở hầu hết các xã trên địa hình cao vàn Thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ, hàm lượng dinh dưỡng khá Đất này
có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, có khả năng trồng cây ăn quả (cây vải) cho giá trị kinh tế cao, tập trung lớn ở một số xã : Bát Trang, Trường Thọ
2.1.5 Thực vật
Các loại cây chủ yếu là các loại cây nông nghiệp (lúa và các loại cây hoa màu) và một số loại cây công nghiệp ngắn ngày (Lạc, Đậu tương) Trong đó chủ yếu là các loại cây lương thực như (Lúa, Ngô, Khoai, Sắn) được trồng nhiều nhất, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của người dân trên địa bàn khu vực là chính
Trang 402.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản của huyện An Lão nói chung và xã Trường Thọ nói riêng không
có nhiều ngoài đá vôi và đất sét phong hóa, sét trầm tích (khoảng 4,1 triệu m3) có thể phát triển làm vật liệu xây dựng ở quy mô vừa và nhỏ
Tóm lại, đặc điểm điều kiện tự nhiên của xã Trường Thọ, huyện An Lão tạo
ra những thuận lợi và khó khăn cho quá trình phát triển nông thôn, cụ thể như sau:
+ Địa phương chịu ảnh hưởng của bão (trung bình 3-5 trận/năm)
+ Khu vực ngoài đê chịu ảnh hưởng của nước lợ và triều cường
2.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội
107 em Đây có thể coi là nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã trong thời gian tới (đặc biệt là nguồn lao động có trình độ cao)
- Hiện trạng dân số - lao động trên địa bàn xã Trường Thọ:
+ Dân số trong độ tuổi lao động cao, lao động nông nghiệp là chủ yếu, tuy nhiên
đến nay dân số phi nông nghiệp tăng đáng kể
+ Lao động có trình độ văn hoá, trình độ nghề nghiệp thấp
+ Mức thu nhập bình quân theo đầu người là 10 triệu đồng/người trong năm 2011
2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã Trường Thọ
a) Cơ cấu các ngành kinh tế