ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Giang Văn Trọng CƠ SỞ KHOA HỌC CHO TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN HUYỆN SÓC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Giang Văn Trọng
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Năm 2012
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Trương Quang Hải
Năm 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 6
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 6
1.2 Cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên 15
1.2.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 15
1.2.2 Các lý thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế 18
1.2.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ có thể vận dụng vào huyện Sóc Sơn 21
1.2.4 Mối quan hệ giữa tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên 24
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 27
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ 27
2.1.1 Các nhân tố tự nhiên 27
a) Vị trí địa lý và vị thế kinh tế của Sóc Sơn 27
b) Địa chất 32
c) Địa hình 34
c) Khí hậu-thuỷ văn 40
d) Thổ nhưỡng 43
e) Thảm thực vật 46
2.1.2 Các nhân tố kinh tế xã hội 48
a) Dân cư và nguồn lao động 48
b) Kinh tế 50
c) Cơ sở hạ tầng 55
d) Văn hoá, y tế, giáo dục 58
Trang 4ii
2.1.3 Đánh giá tổng hợp thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức (SWOT) của huyện
Sóc Sơn: 62
2.2 Hiện trạng tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên thiên nhiên huyện Sóc Sơn 64
2.2.1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế 64
2.2.2 Hiện trạng tổ chức lãnh thổ theo định hướng phát triển của huyện 67
2.2.3 Đóng góp của các hình thức tổ chức lãnh thổ vào phát triển kinh tế: 68
2.2.4 Tổ chức lãnh thổ nông thôn và đô thị: 76
2.3 Hiện trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên huyện Sóc Sơn 80
2.3.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất 80
2.3.2 Hiện trạng sử dụng tài nguyên nước 83
2.3.3 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học 85
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN HUYỆN SÓC SƠN 88
3.1 Phân vùng chức năng lãnh thổ 88
3.1.1 Các tiêu chí phân vùng chức năng 88
3.1.2 Phân vùng chức năng 91
3.2 Định hướng tổ chức không gian 94
3.2.1 Định hướng chung 94
3.2.2 Định hướng theo ngành 108
a) Ngành công nghiệp 108
b) Ngành dịch vụ 110
c) Ngành nông nghiệp 113
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng kết xu hướng định vị trên thế giới 8
Bảng 2.1: Sóc Sơn trong khu vực Hà Nội 29
Bảng 2.2: Vai trò của Sóc Sơn trong thành phố Hà Nội 30
Bảng 2.3: Các sông chảy qua huyện Sóc Sơn 41
Bảng 2.4: Tổng hợp các chỉ số kinh tế xã hội 48
Bảng 2.5: Giá trị sản xuất ngành nông-lâm-ngư nghiệp, 2006-2011 51
Bảng 2.6: Chỉ số phát triển các ngành công nghiệp 52
Bảng 2.7: Doanh thu sản xuất công nghiệp 53
Bảng 2.8: Số lượng, chiều dài của các tuyến giao thông chính 55
Bảng 2.9: Phân tích SWOT hệ thống giao thông 56
Bảng 2.10: Tổng hợp một số chỉ tiêu văn hóa, y tế, giáo dục 60
Bảng 2.11: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của Sóc Sơn 64
Bảng 2.12: Biến đổi tỷ lệ lao động trong các ngành kinh tế 66
Bảng 2.13: Các ngành kinh tế phân theo tiểu vùng 67
Bảng 2.14: Giá trị sản xuất công nghiệp tạo ra theo lao động 71
Bảng2.15: Tính chỉ số chuyên môn hóa ngành công nghiệp của huyện Sóc Sơn 72
Bảng 2.16: Số trang trại phân theo tiểu vùng 73
Bảng 2.17: Một số chỉ tiêu chủ yếu về trang trại 73
Bảng 2.18: So sánh giữa Thành thị / Nông thôn 76
Bảng 2.19: Hiện trạng sử dụng đất huyện Sóc Sơn giai đoạn 2008-2011 80
Bảng 3.1: Các chỉ số đưa vào mô hình phân tích hồi quy và phân tích nhóm 89
Bảng 3.2: Các chức năng đề xuất trong từng tiểu vùng 92
Bảng 3.3: Phân tích các quy hoạch gần đây của huyện Sóc Sơn 96
Trang 6iv
Bảng 3.4: Đánh giá các kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra 97
Bảng 3.5: Phân tích SWOT cho ngành công nghiệp của huyện 108
Bảng 3.6: mục tiêu, chiến lược và hành động đề xuất cho ngành công nghiệp 109
Bảng 3.7: Phân tích SWOT ngành dịch vụ 110
Bảng 3.8: Mục tiêu, chiến lược và hành động đề xuất ngành dịch vụ 111
Bảng 3.9: Phân tích SWOT ngành nông nghiệp huyện 113
Bảng 3.10: Mục tiêu, chiến lược và hành động đề xuất phát triển nông nghiệp 113
Bảng 3.11: Kiến nghị các dự án phát triển 115
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ hành chính huyện Sóc Sơn 28
Hình 2.2: Sơ đồ Sóc Sơn trong vùng Thủ đô 31
Hình 2.3 Bản đồ địa mạo huyện Sóc Sơn 36
Hình 2.4 Bản đồ thổ nhưỡng huyện Sóc Sơn 44
Hình 2.5: Bản đồ Thảm thực vật huyện Sóc Sơn 47
Hình 2.6: Cơ sở hạ tầng huyện Sóc Sơn 59
Hình 2.7: Biểu đồ Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất huyện Sóc Sơn 65
Hình 2.8 Bản đồ các tiểu vùng theo định hướng phát triển KTXH của huyện 69
Hình 2.9: Biến đổi dân số khu vực nông thôn và thành thị 2000-2011 77
Hình 2.10: Bản đồ phân tích khả năng phát triển, mở rộng xây dựng 78
Hình 2.11: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất huyện Sóc Sơn 82
Hình 3.1: Kết quả phân tích nhóm 90
Hình 3.2 Bản đồ phân vùng phát triển kinh tế xã hội huyện Sóc Sơn 92
Hình 3.3: Bản đồ định hướng phát triển kinh tế xã hội huyện Sóc Sơn 107
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới hiện nay có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, ở các nước công nghiệp phát triển đã và đang đối mặt với nguy cơ suy thoái kinh tế, tình trạng cạn kiện tài nguyên gia tăng cộng thêm với biến đổi khí hậu thách thức sự phát triển bền vững toàn cầu, tạo nên sức ép đến các quốc gia phải thay đổi chính sách nông nghiệp chú trọng tới vấn đề an ninh lương thực
Sóc Sơn là huyện có diện tích đất nông nghiệp lớn thứ hai của Hà Nội, kể từ lần quy hoạch gần đây năm 2007 đến nay, trên địa bàn đã có nhiều thay đổi quan trọng Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Sóc Sơn được xác định là một trong năm đô thị vệ tinh, nhiều dự án mới như đường cao tốc Hà Nội- Thái Nguyên, Hà Nội – Lào Cai, đường 5 kéo dài, sân bay quốc tế Nội Bài mở rộng, sự mở rộng của vùng Thủ Đô1, UNESCO công nhận du lịch đền Sóc là Di sản Văn hóa Thế giới, chính sách của thành phố Hà Nội về sử dụng rừng phòng hộ Sóc Sơn, các quy hoạch ngành và liên ngành như Y tế, giáo dục… đã làm xáo trộn đến hoạt động kinh tế ở nơi đây Những thay đổi này đã tác động đến sự phân dị trong nội vùng và phá vỡ tính liên kết ngoại vùng trước đây, làm xuất hiện những mâu thuẫn cản trở phát triển bền vững của huyện Thực tế, Sóc Sơn đang tồn tại mất cân bằng trong phát triển, thứ nhất khoảng cách phát triển giữa Sóc Sơn với khu vực khác của Hà Nội, ngay trong bản thân huyện sự chênh lệch giàu nghèo vẫn còn cao Thứ hai, sự phát triển công nghiệp và dịch vụ đang làm giảm mạnh diện tích đất nông nghiệp gây ra lo ngại tới an ninh lương thực
Xét về vị trí, Sóc Sơn được coi là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội, là cầu nối, là mắt xích giúp Hà Nội phát triển lan tỏa ra các khu vực lân cận, đảm nhận trách nhiệm của thủ đô với sự phát triển của đất nước Để thực sự trở thành động lực phát triển của Vùng Thủ đô và phụ cận, Hà Nội cần phải quan tâm đến mắt xích này để
1 Vùng Thủ đô hiện có Hà Nội và 9 tỉnh lân cận theo quyết định 1758/QĐ – TTg, Mở rộng thêm 3 tỉnh là Phú
Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang so với Quyết định số 490/2008/QĐ-TTg.
Trang 9tạo nên sự liên kết vững chắc trong liên kết vùng Thực tế trên đòi hỏi bức thiết phải
bố trí, sắp xếp lại các đối tượng phát triển trên lãnh thổ, tuy nhiên thế và lực của Sóc Sơn đã thay đổi đáng kể so với những lần tổ chức trước nên việc xác lập lại cơ
sở khoa học cần phải đi trước một bước Vì vậy học viên chọn đề tài: ―Cơ sở khoa học cho tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện Sóc Sơn, Hà Nội‖
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu của đề tài
Áp dụng những kinh nghiệm tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế, sử dụng hợp
lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện địa lý, môi trường cho định hướng tổ chức lãnh thổ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
Nhằm đạt được mục tiêu trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLT, SDHL tài nguyên thiên nhiên
- Điều tra khảo sát thực địa, thu thập số liệu về các hợp phần tự nhiên, kinh tế-xã hội, hiện trạng sử dụng tài nguyên, phân tích các quy hoạch tổng thể, chi tiết liên quan đến khu vực
- Phân tích hiện trạng TCLT và sử dụng TNTN huyện Sóc Sơn
- Bài học kinh nghiệm từ hiện trạng TCLT và sử dụng TNTN huyện Sóc Sơn
- Phân vùng phát triển và định hướng tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện Sóc Sơn
Trang 103
nội dung lớn của địa lý học, vì vậy trong luận văn, học viên chỉ đề cập đến một số vấn đề của tổ chức lãnh thổ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng một số lý luận liên quan đến chuyên ngành địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội
4 Quan điểm và Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống: Quan điểm này được vận dụng khi nghiên cứu tổ chức lãnh thổ huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Khu vực huyện Sóc Sơn được coi là một
hệ thống tự nhiên, tạo thành từ nhiều yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật,…), và một hệ thống kinh tế xã hội (dân cư, lao động, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), có ranh giới xác định, ở đó có sự tương tác giữa các hợp phần
tự nhiên cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội Bởi vậy, khi nghiên cứu cần phải đặt nó trong hệ thống và mối quan hệ qua lại mật thiết giữa các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực nhân văn trong tổng thể với lãnh thổ xung quanh
- Quan điểm tổng hợp: Vận dụng quan điểm tổng hợp trong việc nghiên cứu
tổ chức lãnh thổ, cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện, tổng hợp tất cả các yếu tố cũng như các mối quan hệ tương tác giữa các hợp phần trong tổng thể đó, phân tích tổng hợp các nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các đối tượng tổ chức lãnh thổ cũng như tác động tổng hợp của tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, môi trường
- Quan điểm lãnh thổ: Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại và phát triển trong một không gian nhất định Các sự vật hiện tượng địa lý cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên này Ở đó có sự phân hóa và thống nhất nội tại nhưng đồng thời lại có mối quan hệ lãnh thổ với các vùng xung quanh cả về đặc điểm địa lí tự nhiên và kinh tế -xã hội Trong nghiên cứu địa lý, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng đều phải gắn với một không gian lãnh thổ nhất định Mỗi đối tượng tổ chức lãnh thổ đều được phát sinh, hình thành, phát triển trên một vùng cụ thể
- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Địa lý học đã vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các nhân tố điều kiện địa lí tự
Trang 11nhiên và kinh tế- xã hội Sử dụng hợp lý tài nguyên không phải chỉ khai thác, tận dụng triệt để các nguồn tài nguyên trên lãnh thổ phục vụ phát triển kinh tế mà còn phải đảm bảo sự cân bằng về sinh thái và bền vững về môi trường Nếu tác động con người dưới mức cho phép thì đó là động lực tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ địa sinh thái theo chiều hướng ổn định trong trạng thái cân bằng và phát triển của toàn hệ thống Nhưng nếu tác động quá mức cho phép sẽ làm cho hệ địa sinh thái bị đảo lộn
và phát triển theo chiều hướng xấu, gây mất cân bằng sinh thái và gây nhiều hậu quả
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực địa: Đây là phương pháp truyền thống, rất quan trọng với tất cả các ngành nghiên cứu thiên nhiên, nhất là đối với địa lí tự nhiên tổng hợp Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đến khảo sát theo tuyến và theo điểm, tìm hiểu, chụp ảnh những đối tượng và địa điểm cần thiết Quá trình khảo sát chủ yếu nghiên cứu các đặc điểm địa lí tự nhiên, sự phân hoá không gian lãnh thổ, đặc điểm kinh tế xã hội, khu công nghiệp, khu du lịch, tuyến giao thông,… Kết hợp với các phương pháp khác, so sánh đối chiếu với kết quả nghiên cứu trong phòng để nắm vững đặc trưng cơ bản của lãnh thổ nghiên cứu
- Phương pháp so sánh vùng: Phương pháp so sánh vùng là một trong những phương pháp nghiên cứu địa lý quan trọng trong phân tích vùng, vì đặc trưng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng phần lớn đều là tương đối, thông qua so sánh mới có thể phân biệt sự khác nhau giữa các vùng Trong phân tích vùng, thường nói tới phát triển và lạc hậu, tập trung và tản mạn, tất cả đều là so sánh Nếu không tiến hành so sánh để tham khảo, thì rất khó đưa ra kết luận một vùng là lạc hậu hay phát triển [12, 13, 14] Nhưng, trước khi so sánh vùng, phải chú
ý đến tính có thể so sánh giữa các vùng, bao gồm: tính có thể so sánh về phạm vi vùng, chỉ tiêu thống kê, giá trị tiền tệ, cơ cấu hoặc trình độ của chúng Nếu như điều kiện so sánh không thống nhất, sẽ không thể đưa ra kết luận đúng Trong công tác thực tế, nhất thiết phải chú ý đến sự sai khác do thay đổi về phân vùng hành chính, thay đổi các chỉ tiêu thống kê, biến đổi về tỷ giá tiền tệ và ngoại hối, giá cả giữa các vùng đều có thể tạo thành tính không thống nhất của chỉ tiêu
Trang 125
- Phương pháp thống kê toán học: Các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên
và kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn là những thông tin dữ liệu đầu vào về khu vực nghiên cứu Nguồn dữ liệu được thống kê bao gồm: Thống kê qua tài liệu, báo cáo và sổ sách lưu trữ; Thống kê qua các số liệu khảo sát, đo đạc ngoài thực địa; Thống kê qua đo đạc, tính toán trên bản đồ; Thống kê qua các bảng điều tra nông
hộ với hệ thống chỉ tiêu đã định; Thực tế cho thấy rằng đây là phương pháp không thể thiếu được, vì các số liệu thu thập theo phương pháp này có tính đồng bộ cao và giảm bớt thời gian đi thực địa [14]
Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý: Để xác lập sự đồng nhất hay phân dị lãnh thổ của các nhân tố sinh thái và các yếu tố kinh tế xã hội cũng như việc thể hiện chúng thì không còn cách nào khác là phải sử dụng bản đồ Bản đồ được coi là ―ngôn ngữ của địa lý học‖, vì chúng có khả năng thể hiện rõ nhất, trực quan nhất các đặc trưng không gian của các đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, phương pháp bản đồ còn là phương pháp duy nhất thể hiện sự phân bố không gian các phương án quy hoạch và tổ chức lãnh thổ, đồng thời giúp cho các nhà quản lý đưa
ra những quyết định về tổ chức sử dụng lãnh thổ một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều so với việc đọc các bảng thống kê dài [12,14]
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Chương 2: Đánh giá hiện trạng tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên
Chương 3: Định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên huyện sóc sơn
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ:
* Trên thế giới
- Các lý thuyết kinh điển về định vị:
+ Lý thuyết về sử dụng đất (Von Thünen/ Alonso), lý thuyết định vị công nghiệp (Weber/ Smith/ Isard/ Moses), lý thuyết điểm trung tâm (Christaller/ Lösch),
Lý thuyết cạnh tranh không gian (Hotelling) Lý thuyết về chi phí thấp nhất (Weber, 1929) (least cost theory) [49] liên quan đến phí vận chuyển, phí lao động và phí do nền kinh tế tập trung Sự tập trung kinh tế dẫn đến chi phí cao đối với người lao động và tác động đến nền kinh tế Weber kết luận, phí giao thông là yếu tố chính quyết định đến vị trí sản xuất, vị trí tốt nhất là nơi có chi phí vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm với giá thấp nhất Ý tưởng đơn giản này trở thành lý thuyết nền tảng của định vị hiện đại Phát triển lý thuyết của Weber, Isard, Walter 1956 phát triển lên một lĩnh vực được biết đến như khoa học vùng, một nhánh của khoa học xã hội [61], nghiên cứu tác động của không gian đối với việc ra quyết định kinh tế Khung phương pháp phân tích vùng và liên vùng sau đó vào năm 1960 và 1998 với những mô hình phân tích chi phí so sánh, phân tích input-output… đã trở thành những tiêu chuẩn trong quy hoạch vùng [56, 57]
Lý thuyết về vị trí phụ thuộc (Hotelling, 1931) [48] cho rằng, khi có yếu tố cạnh tranh, yếu tố về vị trí phụ thuộc sẽ xuất hiện, lý thuyết quan tâm đến phân tích doanh thu hơn là phân tích chi phí của weber, phân tích khoảng cách người tiêu dùng đến nơi bán sản phẩm hoặc chi phí phân phối sản phẩm đến người mua, Harold Hotelling cho rằng khi thị trường không co giãn xuất hiện nhiều nhà phân phối Thị trường trở nên nhạy cảm về giá cả và lượng khách hàng, nhà phân phối phải tìm kiếm lượng khách hàng đối đa bằng cách phân bố lại thị trường Ông kết luận, khi có sự cạnh tranh trong thị trường không co giãn, trường hợp hàng hóa
Trang 14Các nghiên cứu định vị gắn với yếu tố đô thị có dung lượng nhiều hơn cả và được chia ra theo nhiều hướng Đầu tiên là nghiên cứu cấu trúc không gian đô thị của Alfred Marshall (1890), William Alonso, 1964 (dựa trên mô hình của Thünen) [59] đề cập đến giá thuê đất, thành phố đơn tâm và đa tâm Hướng tiếp theo nghiên cứu chiều thứ 3 của lý thuyết định vị đô thị: chiều cao của các tòa nhà2 Georg Kohl (1850), Alfred Marshall (1890) sau này là Jean Gottmann (1966), Irving Hoch (1968) [58] đã phân tích chiều cao tối ưu của các toàn nhà và vấn đề sử dụng khoảng không của các thành phố Đề cập đến vấn đề thuế đất, nhưng David Ricardo (1820), Henry George (1879) lại đưa ra khái niệm về thuế dựa trên độ màu mỡ của đất và giá trị đất đai; 2 ông đã đưa ra một hệ thống các thuế phải đóng dựa trên quan điểm này Tiếp tục các vấn đề về đô thị là các nghiên cứu về chức năng đô thị Colin Clark (1951, 1967) là người đầu tiên khám phá phát hiện mật độ dân số có xu hướng giảm dần so với khoảng cách từ thành phố trung tâm Sau đó Newling (1969, 1971) đã áp dụng thông số được phát triển bởi Muth (1969) chỉ ra mối tương quan mạnh giữa mật độ với tỷ lệ tăng trưởng, ông đã xác định mức mật độ tiêu chuẩn cho thành phố để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, qua đó ông đề xuất đưa mật đô dân số vào trong tính toán quy hoạch thành phố Cuối cùng, bàn về vấn đề ngoại ô và ranh giới của đô thị là những đóng góp của C.Harris & E.L.Ullman (1945), Rodney Erickson (1986), Garreau (1991), Giuliano & Small (1991) về vùng ven đô, những khu dân cư cao cấp ở ngoại ô; R.L.Morrill (1966), M.Batty & P.Longley (1994)
2Có nhiều tác giả đồng nhất khái niệm tổ chức không gian với tổ chức lãnh thổ, tuy nhiên khái niệm không gian rộng hơn nhiều, bao gồm cả vùng dưới lòng đất, bề mặt đất, vùng trời so với tổ chức lãnh thổ theo chiều ngang
Trang 15[59] nghiên cứu ranh giới đô thị tiếp cận chiều fractal (Fractal dimension) và rìa đô thị (Urban fringe)
Các nghiên cứu về không gian và thời gian đã đưa lý thuyết định vị trở thành công cụ ra quyết định Howard Stafford (1969/74) và Krumme (1981) đã đặt ra câu hỏi các đối tượng tổ chức lãnh thổ nên định vị bây giờ hay về sau, từ đó các ông đưa ra và phát triển lý thuyết trì hoãn (Procrastination) Nói đến định vị, không ít suy nghĩ đề cập ngay đến không gian, đây thực sự là một sự thiếu sót lớn Thời gian trong lý thuyết định vị đề cập đến các khía cạnh: giá trị thời gian trong lưu thông, quỹ thời gian, sự hội tụ không gian và thời gian (Time-Space Convergence)… do D.G.Janelle (1968), Abler (1971), Forer (1974), Gary Becker (1965), Hägerstrand (1970)… đề xuất
Về tiếp cận cấu trúc thu hút một số lượng lớn các nghiên cứu trên nhiều khía cạnh Nghiên cứu mối quan hệ liên vùng, mạng lưới hợp tác và các khối liên minh chiến lược có Duncan (1972), F.E.Emery & E.L.Trist (1965), Fleming & Krumme
Bảng 1.1: Tổng kết xu hướng định vị trên thế giới
Nhân tố 3 (Tertiary factors) Chi phí vận tải với chi phí
sản xuất, giá nhân công
Sự gần gũi thị trường
Sự gần gũi đến nguồn cung/
nhà cung cấp dịch vụ Những nhân tố tích tụ khác
Chính sách chính phủ Khía cạnh môi trường, tri thức của lực lượng lao động, định vị kinh doanh bền vững, chất lượng cuộc sống, môi trường đầu tư Tân cổ điển (chi phí thấp
nhất)
Lý thuyết định vị
Tập trung vùng
Lý thuyết cực tăng trưởng/
Lý thuyết nhân quả tích lũy3Quần cư đô thị (Urban agglomeration)
Lý thuyết cơ quan và cư xử (Behavioural and institutional theories)
Khuyết tán không gian (Spatial diffusion)
Nguồn: [57]
3Mô hình nhân quả tích luỹ (Cumulative causation model): Một phương pháp phân tích tăng trưởng kinh tế khu vực do G.MYRDAL đưa ra Mô hình này cho rằng các lực lượng thị trường có khuynh hướng làm tăng bất bình đẳng về kinh tế giữa các khu vực của một nền kinh tế Nó cũng cho rằng nếu một khu vực có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn các khu vực khác
sẽ khiến cho các yếu tố sản xuất trong khu vực tăng tưởng chậm chảy sang khu vực tăng trưởng nhanh
Trang 169
(1968), B.Kogut (1988), Rowena Ahern (1993) Nghiên cứu về cấu trúc không gian
tổ chức có đề cập đến vị trí đặt trụ sở cơ quan điều hành, văn phòng (Johnston & Rimmer), Hymer (1972), Allan Pred (1977) [57]
Định vị có xu hướng chuyển từ chuyển từ các nhân tố cứng như chi phí vận chuyển, chi phí lao động… sang các nhân tố mềm hơn như chính sách, môi trường, chất lượng cuộc sống… Thực tế trên thế giới giai đoạn gần đây, cá doanh nghiệp chọn lựa vị trí do ưu đãi lớn về thuế thu nhập doanh nghiệp, phí môi trường và một thị trường lao động, tiêu thụ tiềm năng tại các nước đang phát triển Các nước đang phát triển tận dụng cơ hội thu hút FDI bằng cách cải thiện môi trường đầu tư, đưa ra chính sách ưu đãi về thuế giá trị gia tăng, phí môi trường đối với doanh nghiệp nước ngoài4
Pha 1: Ban đầu lý thuyết định vị được phát triển bởi Weber (1929) sau đó là Edgar Hoover (1937), Melvin Greenhut (1956) và Walter Isard (1956), tập trung chính vào các mô hình toán học về sự tối ưu hóa trong định vị liên quan đến chi phí vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm Những công ty có xu hướng định vị gần nguồn nguyên liệu khi khối lượng của nguyên liệu lớn hơn rất nhiều so với khối lượng của sản phẩm và ngược lại Tuy nhiên, một vấn đề xảy ra đối với lý thuyết của trường phái Weber, Marshall (1961) đã chỉ ra rằng có nhiều lợi ích khi các công
ty tập trung gần gũi với nhau, thay vì phân tán như trước kia Lúc này định vị có thể phân bố tập trung về phía nguồn cung hoặc nguồn cầu (pha 2) [51]
* Ở Việt Nam
Xuất hiện từ những năm 1960, tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi lịch sử, cùng với đòi hỏi khách quan từ nhu cầu phát triển kinh tế đất nước, cho đến nay có thể tạm phân ra thành các thời kỳ sau [14, 30, 31]:
Trước năm 1975: công tác tổ chức lãnh thổ diễn ra chủ yếu ở miền Bắc, tập trung vào quy hoạch các vùng để thành lập các nông, lâm trường quốc doanh, các khu kinh tế mới phát triển nông lâm nghiệp, khai hoang và phân bố lại dân cư nông
4 Việt Nam là quốc gia có nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư FDI, Thời gian gần đây, dư luận đang đặt ra nhiều
nghi vấn chuyển giá, chốn thuế, đối với một số doanh nghiệp lớn của nước ngoài như Coca Cola, Pepsi, Metro… Thực tế định vi ở các quốc gia khác sẽ mang lại nhiều lợi ích thuế, chính sách, lao động, thị
trường… cho các công ty Một câu hỏi định vị quan trọng một lần nữa được đặt ra ―Nội lực hay ngoại lưc?‖
Trang 17thôn [13, 14] Tiếp đó là tiến hành quy hoạch các tiểu vùng, các vùng kinh tế mới ở trung du miền núi một số huyện và thị xã Giai đoạn này nước ta không triển khai phân vùng, quy hoạch cấp tỉnh và các ngành Trước đòi hỏi phát triển nông nghiệp
và năng lượng, Uỷ ban sông Hồng đã đưa ra một quy hoạch sử dụng và quản lý nguồn nước trên một vùng lãnh thổ rộng lớn mà sau đó nhiều công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, phát triển nông nghiệp đã được xây dựng Các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, văn hoá xã hội cũng đã quy hoạch xây dựng một số công trình cụ thể Giai đoạn 1975-1986: Nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác quy hoạch và tổ chức lãnh thổ vì vậy đã thành lập Uỷ ban phân vùng quy hoạch, tiến hành phân vùng kinh tế và cao hơn nữa là nghiên cứu thành lập Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất giai đoạn 1986-2000 [31] Về nông lâm nghiệp, nước ta được chia thành 7 vùng Ngành công nghiệp và các lĩnh vực khác chưa được đề cập một cách tổng thể, nhưng các cụm công nghiệp, dịch vụ cũng đã được luận chứng Đồng thời, nước ta được chia thành 4 vùng lớn, các vùng, tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, các ngành đều được nghiên cúu quy hoạch Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử thời kỳ này, nước ta đang bị bao vây, cấm vận, nền kinh tế chỉ huy, chưa có được chiến lược phát triển quốc gia làm căn cứ, điều tra cơ bản chưa đầy đủ, Vì vậy các quy hoạch vùng và ngành chưa thực sự đi vào thực tế
Từ năm 1986 đến này: Giai đoạn đổi mới, đất nươc chúng ta có sự chuyển biến kinh tế nhanh chóng, công tác quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ cũng đạt được nhiều thành tựu Hiện nay hầu hết các tỉnh, thành phố đều có quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành Năm 1996, trong đề tài độc lập và trọng điểm cấp nhà
nước do GS Lê Bá Thảo làm chủ nhiệm thực hiện công trình ―cơ sở khoa học của tổ
chức lãnh thổ Việt Nam từ nay đến năm 2020‖ [31] đã đề xuất sơ đồ khối tổ chức
lãnh thổ Việt Nam, định vị được các đối tượng ưu tiên đầu tư theo giai đoạn có tính đến hiệu quả kinh tế và tác động đến môi trường, chú trọng đến tổ chức không gian công nghiệp, tổ chức đô thị và tuyến giao thông, xác định các ―nút‖ trọng yếu cần tác động trước mắt tạo động lực nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Hiện nay, nước ta có 4 vùng kinh tế trọng điểm, hình thành nhiều tuyến hành lang với các nước Đông Nam Á và Trung Quốc Tuy nhiên chúng ta đang gặp phải vấn đề về chênh lêch giàu, nghèo, khu vực miền Trung ít được quan tâm đến
Trang 1811
Ngoài ra còn có nhiều công trình, đề tài, luận án về tổ chức lãnh thổ ở cấp phạm vi (tỉnh, vùng) Trong các sách giáo trình, tham khảo đáng chú ý là tác phẩm
"Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý" của Lê Bá Thảo (1998) [30]; "Địa lý kinh
tế Việt Nam" của Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị Minh Đức; "Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam" của Lê Văn Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú và Nguyễn Minh Tuệ (2001); "Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội" của Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Văn Phú (2001) ; ―Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Học hỏi và sáng tạo‖ của Ngô Doãn Vịnh (2003) [44] Các công trình trên đã đóng góp về mặt lý thuyết nội dung, phương pháp, quan điểm và nguyên tắc tổ chức lãnh thổ
Bên cạnh đó, một số đề tài cấp nhà nước về tổ chức lãnh thổ lại mang một ý nghĩa thực tiễn to lớn Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm" do Lê Bá Thảo làm chủ nhiệm (Đề tài độc lập cấp Nhà nước, 1994); "Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung" do Lưu Đức Hồng làm chủ nhiệm; "Xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm ở Việt Nam" của Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Văn Phú (1998)
Sau cùng, các luận án đóng góp kinh nghiệm thực tiễn tổ chức lãnh thổ, đặc biệt trên phạm vi lãnh thổ cấp tỉnh và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp,
du lịch: Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng của Nguyễn Thanh Sơn, 1996; Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng, Trương Phước Minh, 2003; Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La , 2010; Tổ chức lãnh thổ du lịch Hoà Bình trên quan điểm phát triển bền vững, Phạm Lê Thảo, 2006; Tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bình Định, Hoàng Quý Châu, 2011 [2]; Tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Nghệ An, Lương Thị Thành Vinh, 2011; Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị Trang Thanh, 2012 [28] Các tác giả đều nhất trí tầm quan trọng của tổ chức lãnh thổ, đề xuất được những nội dung của tổ chức lãnh thổ, tuy nhiên chưa có sự thống nhất về khái niệm, nội dung, phương pháp tổ chức lãnh thổ và cũng từ sự không thống nhất đó dẫn đến những nhận định đôi khi đồng nhất quy hoạch tổng thể một vùng, một tỉnh là tổ chức lãnh thổ
Trang 19Các nghiên cứu về lãnh thổ huyện Sóc Sơn
Các công trình nghiên cứu về nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội: Nghiên cứu địa chất-địa mạo và tài nguyên trong lòng đất: Nguyễn Văn Hoành và nnk (1978) Báo cáo địa chất tờ Hà Nội tỷ lệ 1/200.000; Ngô Quang Toàn và nnk (1994) thành lập bản đồ địa chất và khoáng sản nhóm tờ Hà Nội mở rộng, tỷ lệ 1/50.000 Đào Đình Bắc (2010), thành lập bản đồ địa mạo cho cả thành phố Hà Nội Vũ Văn Phái (ch.b.), 2011 [19] trong cuốn sách Hà Nội - địa chất, địa mạo và tài nguyên liên quan cũng đã phản ánh đầy đủ về địa chất, địa mạo và khoáng sản Hà Nội, Xác lập tài nguyên địa hình và định hướng sử dụng hợp lý, trong đó có một phần về Sóc Sơn Có ít nghiên cứu về khoáng sản Sóc Sơn, nghiên cứu Kaolin của Lưu Đức Hải (2002) là nghiên cứu khá đầy đủ, bước đầu lượng giá và tính toán các thiệt hại tài nguyên và môi trường của hoạt động khai thác và chế biến kaolin; Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm giảm thiểu thiệt hại tài nguyên và môi trường phát
sinh trong quá trình khai thác và chế biến kaolin tại huyện Sóc Sơn Hà Nội Đánh
giá tiềm năng khoáng sản đất sét đồi trong vùng Sóc Sơn để sản xuất gạch nung‖,
KS Trịnh Thị Hòa nêu sơ lược tình hình địa chất và khoáng sản sét vùng Sóc Sơn,
dự báo tiềm năng đất sét đồi vùng Sóc Sơn phục vụ lâu dài cho công nghiệp vật liệu xây dựng của thành phố Hà Nội
Thổ nhưỡng và tài nguyên đất: Các nghiên cứu tập trung vào đất bạc màu và ứng dụng canh tác cây ngắn ngày (Phạm Văn My, 1995), Xây dựng hệ thống canh tác phù hợp (Đoàn Văn Điếm, LAPTSKH Nông nghiệp), Đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững ở huyện Sóc Sơn –Hà Nội (Hoàng Minh Ngọc, Luận văn thạc sỹ, 2004), Nghiên cứu đặc điểm khí hậu thành phố Hà Nội (Nguyễn Trọng Hiệu và nnk, 1998) Nghiên cứu nước dưới đất thành phố Hà Nội khỏi bị cạn kiệt và ô nhiễm (Đoàn Văn Cánh và nnk, 1997), Đa dạng sinh học
và tài nguyên sinh vật có Đặng Huy Huỳnh
Các công trình đánh giá tổng hợp như Atlas Thăng Long – Hà Nội (Trương Quang Hải (ch.b.), 2010) [9] Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội (Viện Việt Nam học và khoa học phát triển, 2012) Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong định hướng phát triển không gian thủ đô Hà Nội (Đỗ Xuân Sâm
Trang 20Do quá trình sản xuất của Sóc Sơn, nông nghiệp vẫn là ngành phát triển kinh
tế chính của huyện, do vậy có nhiều nghiên cứu về cây trồng, vật nuôi, ứng dụng khoa học công nghệ như: Thực trạng và một số giải pháp khuyến nông nhằm phát triển sản xuất cây ăn quả ở Sóc Sơn Hà Nội (luận văn); Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ở ngoại thành Hà Nội (LAPTSKH Nông nghiệp, Bùi Thị Xô, 1994); Hiệu quả kinh tế các loại hình trang trại huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội; Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở huyện Sóc Sơn Hà Nội; Ứng dụng khoa học công nghệ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Sóc Sơn (2005); Hỏi - đáp công tác bảo vệ và phát triển rừng huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Sóc Sơn là địa bàn có địa hình phức tạp, vẫn còn một số xã khó khăn, các nghiên cứu hướng vào phân tích Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo ở một số xã đặc biệt khó khăn huyện Sóc Sơn Thành phố Hà nội; hoặc cũng có nghiên cứu sử dụng hàm hồi quy để tìm ra nguyên nhân của đói nghèo ở khu vực này, qua đó đề xuất giải pháp hợp lý
Vấn đề môi trường đặc biệt nổi cộm thời gian 10 năm trở lại đây Có nhiều nghiên cứu tập trung các vấn đề môi trường của bãi rác thải Nam Sơn: Dự án xây dựng bãi rác thải Nam Sơn - Sóc Sơn; Đánh giá hiệu quả đầu tư, kinh tế - xã hội của
dự án xây dựng bãi rác thải Nam Sơn – Sóc Sơn; Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Sóc Sơn - Hà Nội; Bộ NN & PTNN, 2004 Nghiên cứu, xác định tồn tại, nguồn gốc, quy luật phân
Trang 21bố của Asen trong đất và trong nước ở thành phố Hà Nội Đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa ảnh hưởng của Asen đến sức khoẻ của nhân dân Hà Nội
Về công tác Quy hoạch: Từ năm 1979 đến nay, Sóc Sơn là một phần của Hà Nội, các quy hoạch của Hà Nội đã có nhiều lần thay đổi và đều tác động đến huyện Quy hoạch Hà Nội trước 1979: phát triển đa cực và Vĩnh Yên nối 2 cực bằng hệ thống giao thông cao tốc; Phương án sau 1979: phát triển độc cực tập trung tại khu vực phía Nam sông Hồng là chủ yếu; Quy hoạch Hà Nội năm 1981: (kết hợp với các chuyên gia Liên Xô thuộc Viện Quy hoạch Leningrad (1961)) Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội đến năm 2000 (Phê duyệt tại quyết định số 100TTg ngày 24/4/1981); Quy hoạch Hà Nội năm 1996: Quy hoạch điều chỉnh tổng mặt bằng của Thủ đô đến năm 2010 (Quyết định số 132 TTg ngày 18/4/1992) Ngày 20/6/1998, bằng quyết định số 108/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung thành phố Hà Nội đến 2020 Đây là bản Quy hoạch tổng thể của Hà Nội được coi là sử dụng hiệu quả nhất từ trước tới nay, được sử dụng làm cơ sở chỉ đạo thực hiện các quy hoạch chi tiết, triển khai các dự án đầu tư phát triển đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội Gần đây nhất là quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội đến năm 2030 định hướng đến 2050 theo quyết định QĐ 1878/QĐ-TTg Riêng huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến nay đã có các quy hoạch năm 2000, 2007,
và 2012 [5]
Qua tổng quan tài liệu cho thấy, tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam phát triển theo
xu hướng ứng dụng nhiều hơn là lý thuyết, ít có công trình đưa ra lý thuyết mới Việc áp dụng toán học trong tổ chức lãnh thổ còn ít do đó định hướng phân bổ các nguồn lực có nhược điểm còn cảm tính Lý thuyết kinh tế tập trung vào kinh tế-xã hội hơn là kinh tế vĩ mô và vi mô Tổ chức lãnh thổ biển và đảo gần đây mới được
quan tâm nhưng còn ít Và rất ít công trình nghiên cứu tổ chức lãnh thổ cấp huyện
Khu vực Sóc Sơn được chọn là địa bàn nghiên cứu tổ chức lãnh thổ và sử dụng hợp
lý tài nguyên sẽ gặp khó khăn về nguồn tài liệu Thật vậy, Sóc Sơn là huyện so với mức trung bình chung của Hà Nội ít được quan tâm Các công trình nghiên cứu kể trên hầu hết đều gắn với cả khu vực Hà Nội, do đó chưa đề cập sâu đến thực tế của
Trang 221.2.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ trên thế giới rất khác nhau về tên gọi, tuy nhiên những nội dung chính và cơ bản nhất thì gần như nhau Ỏ Pháp dùng Tổ chức lãnh thổ (Organisation du teritoire) song song với đó là kế hoạch thực hiện (Plan) Ở các nước châu Âu chỉ dùng duy nhất một thuật ngữ Planning (kế hoạch hóa)5
Ở Liên
Xô (cũ) sử dụng thuật ngữ phân bố lực lượng sản xuất (hay tổ chức lãnh thổ) và vẫn
có kế hoạch hóa lãnh thổ Ở Việt Nam hiện nay vẫn dùng cả quy hoạch và kế hoạch nhưng nội dung không chi tiết như thời bao cấp kế hoạch hóa tập trung Tổ chức lãnh thổ là từ chung nghiên cứu về lãnh thổ, sắp xếp, bố trí lãnh thổ nhưng cũng có
kế hoạch thực hiện
Ở Việt Nam, Ngô Doãn Vịnh (2003) [44] cho rằng: ―TCLT là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối liên hệ đa ngành, lĩnh vực và đa ngành lãnh thổ trong một vùng cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó‖ Định nghĩa chỉ ra tổ chức lãnh thổ cơ bản là một khoa học liên ngành, mục tiêu hướng đến sử dụng hợp lý các tiềm năng Tuy nhiên định nghĩa trên chưa đưa ra được chủ thể của tổ chức lãnh thổ là con người, chưa cho thấy được tính liên vùng trong tổ chức lãnh thổ, chưa đề cập đến vấn đề môi trường
Trong luận án của mình, Ngô Thúy Quỳnh (2010) [25] đã kế thừa nội dung quan trọng trong định nghĩa của Ngô Doãn Vịnh, đồng thời bổ sung thêm một số hạn chế trước đó: ―Tổ chức lãnh thổ kinh tế là việc ―phân bố‖ và ―phối hợp‖ các hoạt động kinh tế (hoặc các đối tượng kinh tế) và gắn liền với chúng là con người trong một lãnh thổ xác định, trên cơ sở sử dụng hợp lý các tiềm năng và lợi thế so
5
Theo PGS.TS Nguyễn Hiền, Planning phải dịch là kế hoạch hóa, nhưng Trung Quốc dịch là Quy hoạch, Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi cách dịch này nên đến nay quy hoạch ở Việt Nam tương ứng với Planning ở các nước châu Âu.
Trang 23sánh của lãnh thổ ấy có tính tới mối quan hệ tương tác với lãnh thổ khác để đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao và góp phần nâng cao mức sống dân cư, bảo đảm sự phát triển bền vững của lãnh thổ cũng như góp phần phát triển bền vững của lãnh thổ xung quanh‖
Cùng quan điểm với 2 tác giả trên, nhưng Đặng Văn Phan [20, 21, 22] định nghĩa tổ chức lãnh thổ lại đề cập đến hình thái kinh tế xã hội, tức là phụ thuộc vào thể chế của một quốc gia, vì thế nên có sự khác biệt trong tổ chức lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, giữa Việt Nam với thế giới: ―Tổ chức lãnh thổ được hiểu như toàn bộ quá trình hay hành động của con người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên, có tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng Các hành động này được thực hiện phù hợp với các mục tiêu của xã hội trên cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái Kinh tế xã hội tương ứng‖
Nhìn rộng ra trên thế giới, ở Liên Xô (cũ) những năm 1960 thuật ngữ này được đề cập đến Các nhà khoa học Liên Xô cho rằng, phân bố lực lượng sản xuất được thực hiện trên lãnh thổ cụ thể ở những cấp độ khác nhau; phổ biến là trên các vùng kinh tế cơ bản (mà ở Việt Nam là những vùng kinh tế - xã hội hay những vùng lớn) và những vùng kinh tế hành chính tỉnh Phân bố lực lượng sản xuất được xem như việc tổ chức sự phối hợp giữa các ngành sản xuất, các quá trình và các cơ sở sản xuất trong một phạm vi lãnh thổ nhất định Nền tảng lý luận của phân bố lực lượng sản xuất là quan điểm và lý thuyết về chu trình sản xuất- năng lượng của N.N Kolôxốpsxky và thể tổng hợp lãnh thổ sản xuất
Ở các nước phương tây, tổ chức không gian được xem như một trong những hành động hướng tới sự công bằng về mặt không gian, tối ưu hóa các mối quan hệ hữu cơ giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với nhau và giữa các cực với không gian còn lại, nhằm làm cho toàn bộ lãnh thổ phát triển trong thế bền vững; tạo ra được sự ổn định cần thiết để thiết lập tiền đề cho tăng trưởng, cho phát triển; trong
đó có cả việc tạo ra nhiều việc làm, góp phần bảo đảm quan hệ cung - cầu hàng hóa
và dịch vụ cho bản than lãnh thổ cũng như cho cả các vùng khác
Trang 2417
Qua lý luận cho thấy, dù sử dụng khái niệm tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian thì nội hàm chủ yếu cũng là sắp xếp các đối tượng/ hoạt động của con người trong một vùng lãnh thổ hay một không gian xác định Trong luận văn, học viên chỉ xác lập cơ sở khoa học cho tổ chức lãnh thổ, chưa tổng hợp lý luận đến điểm đưa ra định nghĩa mới về tổ chức lãnh thổ so với các học giả trên Tuy nhiên, qua tìm hiểu, học viên đưa ra một vài suy nghĩ tổ chức lãnh thổ đối quy mô cấp huyện Huyện Sóc Sơn là một trong năm đô thị vệ tinh của Hà Nội, tức là một cực tăng trưởng so với cực phát triển là trung tâm Hà Nội Sự phát triển kinh tế của Sóc Sơn phải gắn chặt với sự phát triển kinh tế của Hà Nội, được coi như là một cầu nối liên kết Hà Nội với các tỉnh phía Bắc của Vùng Hà Nội Để làm được điều này phải
có sự phân tích những phân dị địa lý 6 nhằm xác định các cấu trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ), các mối quan hệ lãnh thổ, sự tác động qua lại với các cấu trúc không gian thành phần để nhận dạng một không gian tổng quát mà ta gọi là không gian chiến lược Khác với cấp tỉnh và cấp vùng, thường phải đề cập đến trung tâm thương mại tầm cỡ, hành lang phát triển, chùm đô thị, thì ở cấp huyện cần nhấn mạnh đến yếu tố lao động, việc làm, sự phân bố các hoạt động sản xuất, chợ đầu mối, cấu trúc mạng lưới đường… các phân tích luôn luôn phải gắn kết trong tổng thể vùng lớn hơn Đặc biệt, đối với Sóc Sơn, thiết nghĩ là một đô thị vệ tinh thì cần phải có một ngành chuyên môn hóa nổi trội so với khu vực Hà Nội
Ngày nay lý thuyết tổ chức phát triển đến khả năng thích ứng với những thay
đổi có diễn biến nhanh và bất ngờ, thực tế đòi hỏi tổ chức lãnh thổ trong tương lai phải tạo ra một cơ chế ―mềm dẻo‖, bởi vì tính linh động của thị trường, sự suy thoái kinh tế và những bất trắc về tai biến thiên nhiên, đòi hỏi tổ chức lãnh thổ phải bắt kịp được với những vận động đó Đồng thời, tổ chức lãnh thổ từ trước tới nay
thường trả lời các câu hỏi ―What, Where, Who, Why‖ mà When (thời gian) thường
ít được quan tâm, yếu tố này đặc biệt quan trọng ngày nay, khi mà nguồn tài nguyên
thiên nhiên ngày càng khan hiếm, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết trả lời câu hỏi định vị ―hôm nay hay ngày mai?‖
6
Chữ dùng trong: Đặng Văn Phan, Vũ Như Vân (2002), Tạp chí Khoa học xã hội, số 6
Trang 251.2.2 Các lý thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Nhóm các lý thuyết cổ điển: Lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh hưởng của thành phố; Lý thuyết định vị công nghiệp của A.Weber, W.Christaller và Francois Perroux Do đây là những lý thuyết kinh điển
và được nhắc đến trong rất nhiều trong những công trình nghiên cứu Do vậy, mặc
dù luận văn có sử dụng đến những lý thuyết này nhưng không nhắc lại nội dung
- Quy luật thứ nhất của Tobler về địa lý học
Tobler cho rằng: ―mọi thứ đều có quan hệ với nhau, nhưng những thứ ở gần nhau có quan hệ mật thiết hơn ở xa‖7
Quy luật này dựa trên mô hình trọng lực gravity và nó cũng liên quan đến luật cầu, tức là mối liên quan giữa vị trí tỷ lệ nghịch với chi phí đi lại Quy luật cũng liên quan tới sự phụ thuộc không gian (Spatial dependence), ứng dụng trong phân tích không gian (spatial analysis) Ví dụ các tuyến phố, dải đường, vỉa hè, đèn đường phân bố cùng nhau, tạo nên một dạng tô-pô có mối quan hệ tồn tại
- Lý thuyết Cluster8
Đối với Việt Nam, đây là vấn đề mới, chưa được ứng dụng trong thực tiễn nhưng là hình thưc TCLT kinh tế rất có triển vọng trong tương lai Ở Việt Nam, Cluster chưa được nhiều người quan tâm và khái niệm cluster còn chưa được sự thống nhất Nhìn chung, các học giả quan tâm đến vấn đề này đều có chung quan niệm cho đó là ―cụm‖ hoặc ―cụm công nghiệp‖ Hoặc quan niệm đó là ―cụm tương
hỗ phát triển‖ Theo quan niệm của các học giả phương tây, cụm tương hỗ phát triển
là sự tập trung những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực khác nhau gắn với các nhà cung ứng (tư vấn, đào tạo, cung cấp điện nước, thông tin, ngân hàng và dịch vụ khác) trong mối quan hệ tương hỗ cùng phát triển, cùng chia sẻ lợi ích kinh tế có được nhờ sự liên kết cần thiết Tại một khu vực địa lý nhất định (nhưng chỉ ước lệ chứ không có ranh giới xác định) có nhiều doanh nghiệp liên kết với nhau, hỗ trợ nhau,
Trang 26* Điều kiện hình thành
(1) Một không gian địa lý có quy mô đủ lớn; (2) Có một hoặc một số doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh chủ yếu của khu vực lãnh thổ, một số doanh nghiệp công nghiệp bổ trợ, dịch vụ và cơ sở nghiên cứu và triển khai (R&D); (3) Các doanh nghiệp tự nguyện liên kết với nhau thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các thỏa thuận liên kết và trên cơ sở đó cùng thu được lợi ích kinh tế, cùng có được sự cạnh tranh cần thiết (4) Chính quền địa phương khuyến khích chủ trương liên kết thành cụm vào tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp thực thi nguyện vọng của mình
- Lý thuyết về địa - kinh tế mới của Paul Krugman 9
Lý thuyết tân cổ điển trước đó đã lý giải rằng hiện tượng các nước trao đổi hàng hóa với nhau tạo ra do sự khác biệt giữa những lợi thế cạnh tranh tương đối của các nước này Trường phái này có hai nhánh chính Ricardo cho rằng sự khác biệt tạo ra do khác biệt trình độ công nghệ Nước có công nghệ tốt có lợi thế so sánh khi sản xuất được xe hơi, chẳng hạn, thì sản xuất ra xe hơi, nước không có lợi thế so sánh trong công nghệ so với nông nghiệp chẳng hạn thì tập trung vào nông nghiệp,
ví dụ trồng chuối; nước này tập trung sản xuất và xuất khẩu xe hơi còn nước kia tập trung trồng trọt và xuất khẩu chuối, hai nước trao đổi thương mại cho nhau và phúc lợi xã hội tính theo tổng lượng sản phẩm tạo ra tăng lên Nhánh thứ hai do
9 Lý thuyết của ông đã giải thích được sự trao đổi hàng hóa giữa các nước có cùng lợi thế cạnh tranh với nhau mà mô hình kinh tế học tân cổ điển không giải thích được Tháng 5 năm 2009, ông có đến thuyết trình tại Việt Nam Luận văn đã tổng hợp các ý kiến trao đổi của ông và các học giả về định vị dịch vụ.
Trang 27Heckscher và Ohlin đề xướng Hai ông là giáo sư trường kinh tế Stockholm và
Ohlin được để cử giải Nobel kinh tế năm 1977 Mô hình Heckscher-Ohlin cho rằng
ưu thế cạnh tranh tạo ra do sự dư thừa những nhân tố dành cho sản xuất dẫn đến
sự hình thành việc trao đổi thương mại giữa hai nước Nước có nhiều lao động thì
tập trung sản xuất những sản phẩm tận dụng được ưu thế lao động giá rẻ còn nước
có ưu thế về vốn thì tập trung sản xuất những sản phẩm đòi hỏi phải đầu tư vốn nhiều, hai nước này trao đổi những sản phẩm cho nhau
Tuy nhiên, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, và nhất là từ thập niên 1980 trở
đi, giữa các nước công nghiệp phát triển, bắt đầu hình thành nên một hình thức trao đổi mậu dịch mới Các nước có những đặc tính kinh tế gần giống nhau trao đổi cùng một sản phẩm với nhau và với thể lượng ngày càng tăng Ví dụ như Đức với Pháp, Canada với Hoa Kỳ, Thụy Điển với Đức…; Thụy Điển xuất khẩu xe hơi sang Đức đồng thời nhập khẩu xe hơi từ Đức, Đức xuất khẩu hóa chất sang Pháp và nhập khẩu hóa chất từ Pháp….Các mô hình trao đổi kinh tế tân cổ điển không giải thích được nữa
Đóng góp của ông trong lĩnh vực kinh tế địa lý (với bài báo năm 1991), hiện nay được dùng làm mô hình chính để giải thích sự phân bố của các hoạt động kinh
tế, trong đó yếu tố chi phí vận chuyển và kinh tế dựa theo số nhiều (economies of scale) đóng vai trò quan trọng Ở đây, kinh tế số nhiều (economies of scale) có hai loại Một là nội kinh tế số nhiều (internal economies of scale), nghĩa là bằng việc tái
tổ chức doanh nghiệp, tăng số lượng sản phẩm,… sẽ giúp giảm giá cả, chất lượng tăng, tăng sức cạnh tranh Hai là ngoại kinh tế số nhiều (external economies of scale) đề cập đến hiện tượng một sự phát triển trong lĩnh vực tác động đến doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp phát triển; lấy ví dụ máy hơi nước sau khi áp dụng vào ngành công nghiệp may mặc ở Anh giúp cho các công ty ứng dụng kỹ thuật này gia tăng chất lượng sản phẩm và giảm giá thành Việc tận dụng được ngoại kinh tế số nhiều chủ yếu do việc các công ty tập trung gần nhau và kiến thức từ đó lan tỏa ra các công ty lân cận
Krugman toán hóa các mô hình và giải thích rằng điều này có được do thị trường thích các sản phẩm đa dạng và các nhà sản xuất có được lợi nhuận dựa vào kinh tế số nhiều Ví dụ người dân Thụy Điển không những chỉ thích xe hơi Volvo
Trang 2821
mà còn thích xe hơi Mercedes, Audi… nên các nhà buôn xe hơi nhập xe hơi Đức
về, trong khi người dân Đức nhiều người lại thích xe Volvo của Thụy Điển nên họ
nhập ngược trở lại Kinh tế số nhiều giải thích rằng thay vì mở các nhà máy ở khắp
nơi trên thế giới việc tập trung ở một vài nơi để sản xuất và chuyên chở đi xuất khẩu sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn Quan trọng nhất của kinh tế dòng chính là
toán hóa được các mô hình Điều này Paul Krugman làm được nhờ những đóng góp của Dixit và Stiglitz về lĩnh vực cạnh tranh độc quyền trước đó không lâu vào năm
1977 với bài báo ―Monopolistic competition, and the optimum product diversity‖ trên tạp chí The American Economic Review
1.2.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ có thể vận dụng vào huyện Sóc Sơn
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua chúng ta thấy ở Việt Nam có một số hình thức tổ chức kinh tế có tương ứng với quy mô cấp huyện như sau:
TCLT công nghiệp
TCLT công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội
theo lãnh thổ Hiện nay, khái niệm này được hiểu là: “Hệ thống các mối liên kết
không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở sử dụng hợp lí nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường‖
* Khu công nghiệp tập trung
Tại Nghị định của Chính phủ số 36/CP ngày 24/4/1997 đã xác định khu công nghiệp tập trung là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập
Thực tế cho thấy, ngoài khu công nghiệp tập trung trên lãnh thổ nhiều tỉnh còn tồn tại các cụm công nghiệp và các điểm công nghiệp (nơi phân bố tập trung một số xí nghiệp công nghiệp tạo khu nhân cho sự phát triển ở các khu vực nông thông)
Trang 29* Khu công nghệ cao
Tại Nghị định của Chính phủ số 36/CP ngày 24/04/1997 đã chỉ ra rằng khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kĩ thuật cao và các đơn
vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan; có ranh giới xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Có thể nói rằng, khu công nghệ cao là trường hợp đặc biệt của khu công nghiệp tập trung Hiện nay, Việt Nam đang triển khai xây dựng 2 khu công nghệ cao Một khu công nghệ cao ở Linh Trung TP Hồ Chí Minh; một khu công nghệ cao ở Hòa Lạc Hai khu công nghệ cao này tuy chưa phát huy tác dụng như mong muốn nhưng chúng đều là loại hình có triển vọng nếu chúng ta tổ chức tốt
* Điểm công nghiệp
Một lãnh thổ không lớn có ranh giới ước lệ và cũng được xác định bởi 1 văn bản pháp lý, có quy mô nhỏ hơn cụm công nghiệp, được bố trí tập trung một số ít cơ
sở công nghiệp Điểm công nghiệp thường gắn với địa bàn xã hoặc liên xã
TCLT nông nghiệp
Cùng với ngành công nghiệp, TCLT nông nghiệp với tư cách là việc tổ chức ngành sản xuất vật chất, ngành kinh tế then chốt đang được quan tâm nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội
TCLT nông nghiệp được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các qui trình kỹ thuật mới nhất, chuyên môn hoá, tập trung hoá, liên hợp hoá và hợp tác hoá sản
Trang 3023
xuất cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện
tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất
Trên lãnh thổ Việt Nam hiện đang có hai hình thức tương đối phổ biến đối với TCLT nông nghiệp đó là khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên môn hóa cây trồng gắn với công nghiệp chế biến được gọi là tổ hợp nông - công ngiệp
* Khu nông nghiệp công nghệ cao
Loại hình khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam chưa phát triển mạnh nhưng đang có xu hướng gia tăng và nhất là ở ven các thành phố lớn Khu nông nghiệp công nghệ cao phải là một lãnh thổ xác định, không quá lớn về diện tích nhưng canh tác hiện đại với công nghệ cao và do đó nó cho năng suất cao, cùng với các sản phẩm cho chất lượng cao, có sức cạnh tranh lớn, đem lại hiệu quả cao Hiện nay, ở Hà Nội cũng như thành phố Hồ Chí Minh đang hình thành và phát triển hai khu nông nghiệp công nghệ cao với quy mô khoảng 100ha/khu
* Tổ hợp nông công nghiệp (vùng trồng cây chuyên môn hóa gắn với công nghiệp chế biến)
Bên cạnh hình thức hiện đại như trên, ở Việt Nam hiện nay còn hình thành nhiều khu vực cây công nghiệp tập trung gắn với công nghiệp chế biến thành một thực thể giống như kiểu các tổ hợp nông - công nghiệp của Liên Xô vào những năm
80 trước đây Hình thức này tiêu biểu như đối với cây mía, chè, cà phê, cao su, điều Tại các vùng trồng cây tập trung người ta ứng dụng công nghệ cao và kĩ thuật canh tác tiên tiến, đồng thời gắn với các nhà máy chế biến có công nghệ hiện đại Tạo ra các sản phẩm hàng hóa chất lượng cao đem lại giá trị lớn
Đối với lâm nghiệp cũng có hình thức TCLT rất hiệu quả Giống như hình thức tổ hợp nông - công nghiệp, ở nước ta tồn tại hình thức TCLT tổ hợp lâm - công nghiệp (gắn vùng rừng nguyên liệu với xí nghiệp chế biến) hình thức này đem lại nhiều giá trị trên/1ha đất nông nghiệp làm cho lâm nghiệp trở thành sản xuất hàng hóa Tiêu biểu như hình thức tổ hợp lâm - công nghiệp chế tạo giấy, hay tổ hợp lâm
- công nghiệp chế tạo gỗ
Trang 31TCLT dịch vụ
TCLT ngành dịch vụ, là một lĩnh vực phong phú và đa dạng
Đối với hoạt động dịch vụ thương mại hệ thống tổ chức mạng lưới bán buôn, bán lẻ, mạng lưới chợ; thị trường buôn bán xuất, nhập khẩu là những biểu hiện cụ thể của ngành
Đối với lĩnh vực giao thông vận tải thì vấn đề TCLT được thể hiện cụ thể qua mạng lưới và các đầu mối giao thông Ở nước ta hiện nay, đã hình thành 2 đầu mối giao thông quan trọng là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hai đầu mối giao thông này đã có vai trò quan trọng sự nghiệp CNH - HĐH của nước ta trong những năm qua
Đối với ngành du lịch, TCLT biểu hiện tương đối rõ nét thông qua các hình thức tổ chức từ thấp đến cao là điểm du lịch - trung tâm du lịch - tiểu vùng du lịch -
á vùng du lịch và vùng du lịch Hiện nay, ở nước ta đã hình thành 3 vùng du lịch đó là: vùng du lịch Bắc Bộ, vùng du lịch Bắc Trung Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ
và Nam Bộ Các trung tâm du lịch lớn nhất của nước ta gồm có Hà Nội (phía Bắc), thành phố Hồ Chí Minh (phía Nam) và Huế - Đà Nẵng (ở miền Trung)
1.2.4 Mối quan hệ giữa tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Sử dụng hợp lý tài nguyên là mục tiêu hướng đến của tổ chức lãnh thổ, và tổ chức lãnh thổ chỉ là một trong nhiều công cụ đạt được mục tiêu ấy Do vậy, nội hàm của sử dụng hợp lý tài nguyên rộng hơn nhiều so với tổ chức lãnh thổ Sử dụng hợp
lý tài nguyên là sử dụng tài nguyên sao cho đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất mà không phát sinh mâu thuẫn lợi ích sử dụng và không phương hại tới hệ thống tài nguyên và môi trường (Nguyễn Hữu Cử, 2000, 2003, 2006) Các tiêu chí
để xem xét việc sử dụng hợp lý TNTN gồm: Sử dụng tài nguyên phải đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất; Không phát sinh mâu thuẫn lợi ích sử dụng; Không phương hại tài nguyên và môi trường
Tổ chức lãnh thổ phải gắn kết với tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất bởi
vì các đối tượng tổ chức đều phân bố trên mặt đất, thực tế Von Thunen và Alonso
Trang 32Trên thực tế để tổ chức lãnh thổ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, trong luận án của Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012) đã cho rằng phải xác lập một khung lãnh thổ Lãnh thổ ở đây được xem là một hệ thống tự nhiên, kinh tế - xã hội, có ranh giới xác định, hữu hạn về phạm vi, là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư có những hành vi tác động vào tự nhiên, trực tiếp tổ chức kinh tế - xã hội cho phù hợp với đường lối chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Khung lãnh thổ bao gồm những không gian đô thị và các vùng ngoại vi (nông thôn hoặc ven đô); các điểm du lịch quan trọng Các thành phố, thị xã, thị trấn, các điểm đặc biệt là các nút, các cực, các dải có quan hệ với nhau theo các tuyến, trục đường giao thông Khung lãnh thổ này được thừa kế từ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Đối tượng để tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh bao gồm các tiểu vùng lãnh thổ được bố trí phát triển sản xuất phù hợp với khung lãnh thổ đã được phân tích ở trên
Kết hợp giữa tổ chức lãnh thổ với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên cần phải quan tâm tới các nội dung sau [14]:
(1) Xem xét vị trí địa lý kinh tế trong mối quan hệ liên vùng: Phân tích, đánh giá vị trí, vai trò của lãnh thổ về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng trong một giai đoạn nhất định và dự báo vị trí vai trò của nó cho thời kỳ tới Đánh giá vị trí của lãnh thổ trong mối quan hệ với các lãnh thổ khác, với cả nước và với các quốc gia
Trang 33khác về giao thông, giao lưu kinh tế và văn hoá Lợi thế về vị trí này đã mang lại lợi ích gì cho phát triển kinh tế, xã hội của lãnh thổ Những lợi thế về vị trí địa lý của lãnh thổ đã được phát huy, những mặt chưa được phát huy Dự báo khả năng phát huy lợi thế về vị trí địa lý vào mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của lãnh thổ trong những năm tới
(2) Phân tích, đánh giá các đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Tập trung đánh giá vào các loại tiềm năng sau: Các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp như đất đai, rừng, trữ lượng thuỷ sản, khí hậu, môi trường Các yếu tố đó đã tác động thế nào đến tình hình phát triển, phân bố ngành nông, lâm, ngư nghiệp; thực trạng khai thác và sử dụng các dạng tài nguyên đó thời gian vừa qua và dự báo khả năng khai thác các yếu tố đó vào mục tiêu phát triển nông - lâm - ngư nghiệp thời gian tới
(3) Vấn đề môi trường và dự báo tác động môi trường trong thời kỳ dự kiến kiến thiết lãnh thổ kinh tế - xã hội, bao gồm nghiên cứu hiện trạng môi trường, xây dựng hồ sơ môi trường; dự báo tác động hai chiều môi trường đến tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội
Như vậy, tổ chức lãnh thổ xác lập nên bộ khung lãnh thổ, trên đó con người
tổ chức tối ưu hoạt động sản xuất của mình, hướng tới mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Ngược lại, để phục vụ cho công tác tổ chức lãnh thổ cần phải
có các đánh giá tài nguyên thiên nhiên như phân tích vị trí, vị thế kinh tế, đánh giá tổng hợp tài nguyên đất, nước đưa ra được hiện trạng, những khó khăn, thách thức khi đưa tài nguyên vào khai thác, sử dụng để đạt mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả
Trang 34a) Vị trí địa lý và vị thế kinh tế của Sóc Sơn
*) Vị trí địa lý: Huyện Sóc Sơn nằm ở cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô và cách
trung tâm thành phố Hà Nội 35km, có trung tâm là Thị trấn Sóc Sơn
Sóc Sơn giáp huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên về phía bắc, huyện Yên Phong thuộc tỉnh Bắc Ninh và huyện Hiệp Hòa thuộc tỉnh Bắc Giang về phía đông và đông bắc, về phía tây bắc giáp thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc và phía nam giáp các huyện Mê Linh và Đông Anh của Hà Nội
*) Vị thế kinh tế
Phân tích vị thế kinh tế qua mô hình tương tác Gravity:
Sự tương tác giữa trung tâm và ngoại vi thực chất là các dòng trao đổi hàng hóa, lao động, thông tin… Theo quy luật địa lý thứ nhất của tobler, mọi thứ đều có quan hệ với nhau nhưng những thứ ở gần nhau sẽ có quan hệ chặt hơn so với ở xa Quy luật này cũng dựa trên mô hình trọng lực của Newton, một lần nữa khẳng định vai trò của giá trị khoảng cách khi tính toán sự tương tác cũng như mức độ hấp dẫn giữa các khu vực với nhau Tuy nhiên, giá trị gravity được xây dựng chỉ với 2 yếu
tố là khoảng cách và dân số là chưa đủ, do vậy kết quả đưa ra chỉ mang tính đánh giá sơ bộ Theo đó sự tương tác giữa ngoại vi và trung tâm của Hà Nội có đặc điểm sau: ở vành đai thứ nhất, huyện Từ Liêm có sự tương tác chặt với khu vực trung tâm, tiếp đến là Hoài Đức, Gia Lâm, Thanh Trì Những huyện ở vành đai xa có Gravity thấp như Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa… Huyện Sóc Sơn có giá trị gravity trung bình (bảng 2.1)
Trang 35Hình 2.1: Sơ đồ hành chính huyện Sóc Sơn
Trang 3629
Bảng 2.1: Sóc Sơn trong khu vực Hà Nội 11
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Niên giám thống kê Hà Nội
Vai trò, vị thế của Sóc Sơn trong trong khu vực Hà Nội thể hiện chi tiết hơn qua số liệu về kinh tế, xã hội, diện tích, hành chính…
10 Có khá nhiều cách tính gravity trong bài toán tương tác không gian, luận văn sử dụng cách tính gravity (G)
= (dân số huyện i) x (dân số 10 quận nội thành)/(bình phương khoảng cách từ huyện tới trung tâm, điểm
trung tâm lấy UBND quận Hoàn Kiếm Chi tiết cách tính xem thêm tại phụ lục 4
11 Với tổng dân số của 10 quận nội thành là: 2.502.400 người (năm 2010)
dân số
Khoảng cách tới trung tâm
Trang 37Bảng 2.2: Vai trò của Sóc Sơn trong thành phố Hà Nội
Vai trò của Sóc Sơn trong thành phố Hà Nội
- Diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp và phi nông nghiệp đứng thứ 2, sau Ba
Vì, diện tích đất chưa sử dụng đứng thứ 3 sau Thanh Oai và Mỹ Đức
- Số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước đứng thứ 15, nhưng số lao động trong các cơ sở này đứng thứ 24, có giá trị sản xuất đứng thứ 18
- Số cơ sở kinh doanh thương nghiệp, dịch vụ cá thể đứng thứ 13, số lao động đứng thứ 17
- Sóc Sơn có diện tích đất lâm nghiệp đứng thứ 2 sau Ba Vì, đất nuôi trồng thủy sản chiếm diện tích nhỏ
- Sóc Sơn có diện tích trồng cây hàng năm lớn nhất, diện tích trồng lúa đứng thứ 2 sau Ứng Hòa, Diện tích trồng cây lâu năm đứng thứ 3 sau Ba Vì và Chương Mỹ
- Tuy nhiên sản lượng cây lương thực có hạt bình quân đầu người lại đứng thứ 11, chỉ bằng 0,39 lần so với Ứng Hòa
- Số trang trại thấp, đứng thứ 13, không có trang trại trồng cây hàng năm
- Diện tích trồng ngô đứng thứ 2, sản lượng đứng thứ 4, Ba Vì có năng suất trồng ngô cao hơn nhiều so với Sóc Sơn
- Số lượng gia súc như bò, lợn, trâu đều đứng thứ 2, sau Ba Vì
Nguồn: Xử lý từ Niên giám thống kê Hà Nội 2010
Vị thế có được liên quan đến tuyến lực:
Sóc Sơn có những lợi thế về vị trí địa lý nằm trên trục hành lang kinh tế xuyên Á Côn Minh - Hà Nội - Quảng Ninh, nằm trong vùng tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và vùng cảnh quan núi Sóc; kề cận Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài, kết nối thuận lợi với các tuyến đường quốc lộ 18, đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, đường vành đai 4, đường Hà Nội - Lào Cai, Đô thị vệ tinh Sóc Sơn Đây cũng là địa bàn còn nhiều quỹ đất để xây dựng phát triển, cảnh quan tự nhiên phong phú với những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể đa dạng, là những tiền đề quan trọng để Huyện Sóc Sơn phát triển lên một tầm cao mới, phù hợp với định hướng phát triển của Thủ đô Hà Nội
Trang 3831
Hình 2.2: Sơ đồ Sóc Sơn trong vùng Thủ đô
Như vậy, Sau hơn 30 năm sáp nhập vào Thủ đô, Sóc Sơn giờ đây giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của thủ đô và vùng Hà Nội [46]:
Chia sẻ chức năng vùng: Sóc Sơn thuộc cửa ngõ phía Bắc Thủ đô Hà Nội Vị
trí của Sóc Sơn có ti ềm năng để phát triển các chức năng về nhà ở , đào ta ̣o, công nghiệp, dịch vụ du lịch thương mại nghỉ dưỡng cấp vùng và thành phố
Năng suất: Đây là vùng trồng rau sa ̣ch cung cấp cho Thành phố và vùng phu ̣
câ ̣n
Môi trường tự nhiên: Khu vực này có môi trường rừng và không gian xanh
tốt do nằm ở phía Đông nam núi Tam Đảo, cách núi Sóc và núi Đôi 4-8km Sông Hồng có tác động không đáng kể đến đô thị Sóc Sơn do nằm cách Sóc Sơn 19km Sông Cà Lồ chảy qua đô thị Sóc Sơn theo hướng Tây - Đông - Nam
Môi trường xã hội: Sóc Sơn có Quốc lộ 3 hướng Hà Nội-Thái Nguyên và ga
Đa Phúc Sóc Sơn là một điểm giao thông và công nghiệp quan trọng do có sân bay
Trang 39Nội Bài và KCN ở phía tây nam (Nội Bài và Mai Đình) Ngoài ra còn có đền Sóc, chùa Non Nước và Học Viện Phật giáo trong phạm vi 8km quanh Sóc Sơn
b) Địa chất
Về địa chất: Cấu tạo địa chất của huyện mang đặc trưng chủ yếu thuộc hệ
Trias Thống thượng, bậc Carmi, tầng Mẫu đơn bao gồm các nham thạch chính là:
Sa thạch, Diệp thạch sét và hệ Jura gồm Cuội kết Vùng đất này cũng được tạo nên là địa chất phù sa cổ thuộc kỷ Đệ tứ có tuổi hình thành trẻ nhất [27]
Hệ tầng Khôn Làng (T2 a kl): phân bố thành dải ở Vệ Linh, núi Dõm, núi
Cửa Rừng, núi Chân Chim, núi Hàm Lợn, núi Đôi nằm phía Bắc huyện Sóc Sơn với thành phần trầm tích đặc trưng là cuội kết, cát sạn kết tuf, bột kết, sét kết và ít
đá phun trào axit Chiều dày 450-600m
Hệ tầng Nà Khuất (T2 nk): các đá của hệ tầng phân bố ở các dải núi phía Bắc
và Tây Bắc huyện Sóc Sơn Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là bột kết, sét kết có xen kẹp đá vôi sét, cát kết và bột kết ở phần dưới, chuyển lên trên là cát kết phân lớp vừa đến dày và các lớp mỏng sét kết Tổng chiều dày của hệ tầng khoảng 450-500m
Hệ tầng Hà Cối (J1-2 hc): thường lộ ra không liên tục với diện lộ nhỏ hẹp ở
vùng đồi thấp phía Tây các xã Tân Dân, Hiền Lương (Sóc Sơn) Trầm tích của hệ tầng gồm: sỏi sạn kết, cát kết, bột kết và sét kết, xen kẽ nhau dạng nhịp, mỗi nhịp dày 1 m Bề dày của hệ tầng dày 120m
Hệ tầng Tam Lung (J3-K1 tl): Lộ ra với những diện tích nhỏ hẹp gần 1km2 ở vùng Nam Cường, Hiền Lương (Sóc Sơn) Thành phần gồm đá phun trào ryodacit, ryolit porphyr màu xám, thường bị phân phiến
Trầm tích sông (aQ13b vp): lộ ra dưới dạng bề mặt đồng bằng aluvi cổ Đặc
điểm nổi bật của trầm tích này là bề mặt bị phong hoá mạnh nên trầm tích thường
có màu thứ sinh loang lổ vàng, đỏ nâu, đốm trắng Cấu tạo nên trầm tích này phần dưới là cát lẫn sạn, sỏi, cuội nhỏ thạch anh, silic, bột sét màu xám, xám vàng, xám sáng
Trang 4033
Tài nguyên khoáng sản:
Cát vàng: phân bố rộng ở thung lũng sông Cà Lồ và sông Công Cát vàng là
thành phần trầm tích sông của các hệ tầng Vĩnh Phúc (a Q1
3b vp1) và Thái Bình (a
Q23 tb2) với TNDB rất lớn đạt tới 51,76 triệu m3, (sông Cà Lồ: 27,5 triệu m3, sông Công: 24,26 triệu m3)
Đá ong: phân bố rộng rãĩ ở vùng gò đồi thấp hiện đang có một điểm mỏ tại
Núi Dõm Các mỏ đá ong được hình thành do phong hoá từ đá trầm tích của hệ tầng Khôn Làng, hoặc do lắng đọng tích tụ các sản phẩm eluvi, deluvi Diện phân bố đá ong thường đạt vài km2 Lớp đá ong thường dày 2-6m, lộ ngay trên mặt địa hình hoặc nằm ngay dưới lớp phủ thổ nhưỡng nên điều kiện khai thác rất dễ dàng Đá ong trong vùng đã được nhân dân khai thác từ lâu, tuy nhiên mức độ điều tra còn hạn chế Hiện tại chưa có kết quả nghiên cứu tính chất cơ lý của đá ong, song nhân dân đã khai thác để xây dựng nhà, làm vật liệu rải đường rất tốt
Đá xây dựng: có nguồn gốc phun trào phân bố rộng rãi ở vùng đồi núi huyện
Sóc Sơn Hiện đã đăng ký mỏ đá xây dựng Minh Phú (Sóc Sơn), chủ yếu khai thác thủ công phục vụ cho công trình xây dựng, với tài nguyên dự báo 8 triệu m3 Đá có
độ bền cơ học tốt, được dùng để xây móng nhà, kè cống, đổ bê tông, rải đường…Tuy nhiên tiềm năng của đá xây dựng trong khu vực còn lớn hơn nhiều, song chưa được đánh giá
Sét chịu lửa (sét khó chảy): đã ghi nhận được 2 điểm là sét Nội Bài và Vệ
Linh phân bố trong hệ tầng Vĩnh Phúc Diện phân bố sét có chiều dài 500m, rộng 300-350m, dày 2,2m Nhiệt độ chịu lửa 1400o đến 1470oC Mặc dù chưa được thăm
dò, nhưng các mỏ sét đã được Xí nghiệp Sứ Bát Tràng và Sóc Sơn khai thác từ năm
1986 đến nay để sản xuất bao nung TNDB ước tính khoảng 0,5 triệu tấn
Đối với khoáng chất công nghiệp: Kaolin và sét - kaolin đối với sản xuất
gốm sứ: phân bố khá tập trung Trong những năm tới thành phố Hà Nội tiếp tục duy trì và phát triển các cơ sở sản xuất đã có (gạch ốp lát, gạch granit, sứ vệ sinh, sứ dân dụng và mỹ nghệ) Để phục vụ cho nhu cầu phát triển ngành công nghiệp gốm sứ của thủ đô, thành phố chủ trương tiến hành thăm dò và khai thác qui mô công