1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây

196 728 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được những mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ: - Xác lập cơ sở lý luận về QHBVMT làng nghề; - Đánh giá hiện trạng môi trường và ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất của các làng n

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Các chữ viết tắt iv

Mục lục v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vẽ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2

4 Cơ sở tài liệu, phương pháp và các bước nghiên cứu 2

5 Những đóng góp mới của luận án 6

6 Các luận điểm bảo vệ 7

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

8 Cấu trúc luận án 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 9

1.1 Khái quát về làng nghề 9

1.1.1 Vài nét về lịch sử phát triển và vai trò của làng nghề 9

1.1.2 Khái niệm và tiêu chí nhận dạng làng nghề 10

1.1.3 Những nghiên cứu về làng nghề 11

1.1.4 Đặc điểm làng nghề Hà Tây 16

1.2 Cơ sở lý luận 18

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu quy hoạch bảo vệ môi trường 18

1.2.2 Mối quan hệ giữa các loại hình quy hoạch với quy hoạch bảo vệ môi trường 25

1.2.3 Phát triển bền vững làng nghề 29

1.2.4 Phát triển cộng đồng 31

1.2.5 Biến đổi môi trường 32

1.3 Quan điểm và tiếp cận nghiên cứu 33

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 33

1.3.2 Tiếp cận nghiên cứu 36

Kết luận Chương 1 38

Chương 2 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 39

2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 39

Trang 2

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên 39

2.1.2 Truyền thống làng nghề 40

2.1.3 Hiện trạng kinh tế - xã hội 43

2.1.4 Hiện trạng công tác quản lý đất đai và biến động sử dụng đất 46

2.2 Quá trình sản xuất thủ công nghiệp và các nguồn gây ô nhiễm 50

2.2.1 Sản xuất gia công kim loại làng nghề Phùng Xá 50

2.2.2 Sản xuất sơn mài làng nghề Duyên Thái 56

2.3 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn mài đến môi trường tự nhiên 60

2.3.1 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn mài đến môi trường khí 60

2.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn mài đến môi trường nước 65

2.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn mài đến môi trường đất 73

2.4 Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động gia công kim loại và sơn mài đến môi trường kinh tế - xã hội 77

2.5 Phân loại hiện trạng chất lượng môi trường làng nghề Phùng Xá và Duyên Thái 81

2.5.1 Cơ sở và nguyên tắc phân loại 81

2.5.2 Chỉ số chất lượng môi trường 82

Kết luận Chương 2 89

Chương 3 XU THẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG VÀ QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 90

3.1 Dự báo xu thế phát triển kinh tế xã hội và diễn biến môi trường 90

3.1.1 Xu thế phát triển kinh tế xã hội 90

3.1.2 Dự báo diễn biến môi trường 93

3.2 Quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề 100

3.2.1 Các hướng chính trong QHBVMT làng nghề 101

3.2.2 Tiếp cận QHBVMT làng nghề Phùng Xá và Duyên Thái 102

3.2.3 Mục đích và cơ sở QHBVMT làng nghề Phùng Xá và Duyên Thái 103 3.2.4 Quy hoạch điểm công nghiệp Phùng Xá và Duyên Thái 105

3.2.5 Quy hoạch hệ thống công nghệ xử lý chất thải làng nghề 110

3.2.6 Quy hoạch phân tán tại làng nghề 119

3.2.7 Quy hoạch đơn vị ở bền vững 124

3.2.8 Thuyết phục các cơ sở sản xuất di chuyển vào điểm công nghiệp bằng phương pháp chi phí lợi ích 129

3.3 Các giải pháp quản lý môi trường tại làng nghề hỗ trợ quy hoạch 134

3.3.1 Giáo dục môi trường 134

3.3.2 Quản lý môi trường 134

3.4 Xây dựng quy trình mẫu cho QHBVMT tại các làng nghề Hà Tây 135

Kết luận Chương 3 138

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142

Trang 3

PHẦN PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Phân loại làng nghề theo sản phẩm của Hà Tây 17 Bảng 2.1 Dự báo quy mô phát triển sản xuất giai đoạn 2010 - 2020 44 Bảng 2.2 Tỷ lệ lao động và doanh thu của Phùng Xá và Duyên Thái năm 2006 44 Bảng 2.3 Định mức tiêu thụ nguyên nhiên liệu trong sản xuất tái chế kim loại 52 Bảng 2.4 Định mức tiêu thụ nước 53 Bảng 2.5 Lượng hoá chất dùng cho một lò mạ 53 Bảng 2.6 Kiểm toán vật chất cho các công đoạn chính của quá trình tái chế

sắt thép phế liệu 54 Bảng 2.7 Kiểm toán vật chất của quá trình xử lý kim loại mầu 55 Bảng 2.8 Vị trí và tọa độ các điểm quan trắc 55 Bảng 2.9 Ước tính lượng bụi và khí độc do sản xuất thủ công nghiệp phát tán vào môi trường năm 2006 60 Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả khảo sát bụi và khí độc tháng 12/2006 61 Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả khảo sát bụi và khí độc tháng 7/2007 62 Bảng 2.12 Tổng hợp kết quả khảo sát tiếng ồn tháng 12/2006 và tháng 7/2007 62 Bảng 2.13 Tổng hợp số liệu phân tích mẫu không khí và tiếng ồn năm 1997-2006 64 Bảng 2.14 Mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt 66 Bảng 2.15 Tải lượng chất bẩn sinh hoạt tạo ra ngày/đêm 66 Bảng 2.16 Số liệu tổng hợp phân tích mẫu nước từ năm 1997 - 2006 68 Bảng 2.17 Tổng hợp kết quả đo chất lượng nước mặt tháng 12/2006

tại các điểm quan trắc 69 Bảng 2.18 Tổng hợp kết quả đo chất lượng nước ngầm tháng 12/2006

tại các điểm quan trắc 70 Bảng 2.19 Tổng hợp kết quả đo chất lượng nước mặt tháng 7/2007

tại các điểm quan trắc 71 Bảng 2.20 Tổng hợp kết quả đo chất lượng nước ngầm tháng 7/2007

tại các điểm quan trắc 72 Bảng 2.21 Số liệu tổng hợp phân tích mẫu đất từ năm 1997 - 2006 73 Bảng 2.22 Tổng hợp kết quả phân tích mẫu đất tháng 12 /2006

tại các điểm quan trắc 75 Bảng 2.23 Tổng hợp kết quả phân tích mẫu đất tháng 7/ 2007

Trang 4

Bảng 2.24 Tổng hợp số liệu điều tra xã hội học xã Phùng Xá năm 2006 77

Bảng 2.25 Tổng hợp số liệu điều tra xã hội học xã Duyên Thái năm 2006 78

Bảng 2.26 Tình hình bệnh tật năm 2006 80

Bảng 2.27 Chỉ tiêu phân loại chất lượng môi trường

Bảng 2.28 Kết quả tính toán EQI tại Phùng Xá và Duyên Thái

Bảng 3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế từ 2010 - 2020 91

Bảng 3.2 Dự báo cơ cấu kinh tế của xã Phùng Xá và Duyên Thái 91

Bảng 3.3 Dự báo số lượt xe ôtô, xe máy của xã Phùng Xá và Duyên Thái 95

Bảng 3.4 Dự báo tải lượng ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông 95

Bảng 3.5 Dự báo tải lượng thủ công nghiệp gây ô nhiễm không khí khu vực

nghiên cứu đến năm 2020 (nếu không xử lý) 96

Bảng 3.6 Dự báo tải lượng bụi và khí thải tại khu vực nghiên cứu khi có biện

pháp xử lý và không xử lý đến năm 2020 96

Bảng 3.7 Dự báo nhu cầu và khả năng cung cấp nước của xã Phùng Xá và Duyên Thái đến năm 2020 97

Bảng 3.8 Dự báo khối lượng nước thải ở Phùng Xá và Duyên Thái đến năm 2020 98 Bảng 3.9 Dự báo tải lượng ô nhiễm nước Phùng Xá đến năm 2020 98

Bảng 3.10 Dự báo tải lượng ô nhiễm nước Duyên Thái đến năm 2020 99

Bảng 3.11 Dự báo chất thải rắn ở Phùng Xá và Duyên Thái đến năm 2020 99

Bảng 3.12 Dự báo tỷ lệ thu gom chất thải rắn đến năm 2020 100

Bảng 3.13 Hệ số sử dụng đất trong quy hoạch 106

Bảng 3.14 Đặc điểm làng nghề, tiêu chí chọn vào điểm quy hoạch tập trung 109

Bảng 3.15 Bảng kê lợi ích-chi phí đầu tư của cơ sở sản xuất cũ và cơ sở sản xuất mới 132

Bảng 3.16 Tính toán giá trị hiện ròng với r1 = 1% năm 132

Bảng 3.17 Tính toán giá trị hiện ròng với r2 = 9% năm 132

Bảng 3.18 Tổng hợp kết quả tính toán lợi ích - chi phí 133

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1 Mô hình các bước nghiên cứu của luận án 8

Hình 1.1 Thoả thuận trong thực hiện QHBVMT làng nghề 36

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí xã Phùng Xá trong huyện Thạch Thất 41

Hình 2.2 Sơ đồ vị trí xã Duyên Thái trong huyện Thường Tín 42

Hình 2.3 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Phùng Xá năm 2005 48

Hình 2.4 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Duyên Thái năm 2005 49

Hình 2.5 Sơ đồ công nghệ tái chế kim loại rút gọn 50

Hình 2.6 Sơ đồ công nghệ tái chế và gia công sắt thép kèm dòng thải 51

Hình 2.7 Quy trình sản xuất sơn mài 58

Hình 2.8 Quy trình sản xuất sơn mài kèm dòng thải 59

Hình 2.9 Sơ đồ vị trí các điểm quan trắc môi trường xã Phùng Xá

Hình 2.10 Sơ đồ vị trí các điểm quan trắc môi trường xã Duyên Thái

Hình 2.11 Bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường xã Phùng Xá (mùa mưa) 85

Hình 2.12 Bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường xã Phùng Xá (mùa khô) 86

Hình 2.13 Bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường xã Duyên Thái (mùa mưa) 87

Hình 2.14 Bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường xã Duyên Thái (mùa khô) 88

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu diễn biến môi trường 93

Hình 3.2 Hệ thống xử lý khí thải 111

Hình 3.3 Hệ thống xử lý nước thải bể mạ 112

Hình 3.4 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải quá trình cán 113

Hình 3.5 Quy trình phun sơn gia nhiệt 114

Hình 3.6 Sơ đồ nguyên tắc làm việc của hệ thống xử lý bụi sơn và hơi dung môi 116 Hình 3.7 Sơ đồ phương án công nghệ xử lý nước thải sản xuất 118

Hình 3.8 Hệ thống thu gom, vận chuyển và lưu chứa chất thải rắn 119

Hình 3.9 Quy trình sản xuất sạch hơn 121

Hình 3.10 Tháp xử lý bụi và khí thải 122

Hình 3.11 Thiết bị hút nóng 122

Hình 3.12 Mặt cắt ngang buồng phun sơn có kính chắn 123

Hình 3.13 Mô hình xử lý nước thải tại cơ sở sản xuất sơn mài nhỏ 124

Hình 3.14 Mô hình về diện tích, ranh giới và dân số của đơn vị ở bền vững 125

Hình 3.15 Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở xã Duyên Thái 126

Hình 3.16 Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở xã Phùng Xá 127

Hình 3.17 Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở - hộ gia đình xã Duyên Thái 128

Hình 3.18 Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở - hộ gia đình xã Phùng Xá theo chiều đứng 128

Hình 3.19 Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở - hộ gia đình xã Phùng Xá theo chiều ngang 128

Hình 3.20 Biểu đồ đường cong lợi ích - chi phí của cơ sở sản xuất cũ và cơ sở sản xuất mới 133

Hình 3.21 Quy trình QHBVMT làng nghề 136

Hình 3.22 Bản đồ QHBVMT xã Phùng Xá 140

Hình 3.23 Bản đồ QHBVMT xã Duyên Thái 141

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hiện nay ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề đang là vấn đề được chú trọng Tại hầu hết các làng nghề, quá trình sản xuất diễn ra tự phát, thiết bị thủ công, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, hệ thống cấp thoát nước và mạng lưới giao thông xuống cấp là tình trạng khá phổ biến Ý thức BVMT của người dân và các doanh nghiệp còn hạn chế

Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới (WB) [16, 17, 45, 80] “Làng nghề là

các làng nông thôn hiện đang tồn tại hoạt động các nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp có ít nhất 30% số lao động tham gia, nhưng đóng góp trên 50% tổng giá trị sản xuất vào thu nhập chung của làng” Đến cuối năm 2008 nước ta có trên 1.450

làng nghề, trong đó gần 1000 làng nghề ở miền Bắc, chiếm xấp xỉ 70% cả nước [25, 41,130]

Hà Tây phát triển mạnh nghề thủ công với 116 làng nghề truyền thống, gồm các lĩnh vực cơ khí, dệt nhuộm, chế biến nông sản, thực phẩm… [12,13, 19, 108,

109, 114] Hoạt động kinh tế của các làng nghề ở Hà Tây đã có những đóng góp không nhỏ vào thành tựu phát triển kinh tế [29, 33, 37] Tuy nhiên cùng với tình trạng chung ở nhiều vùng lãnh thổ, Hà Tây cũng đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt

là các vấn đề về suy thoái tài nguyên, môi trường [42, 43] Báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm [99,101] cho thấy vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề hiện nay đang ở mức báo động Lý do cơ bản nhất là hoạt động sản xuất theo quy

mô hộ gia đình, vấn đề quy hoạch phát triển chung mà cụ thể là quy hoạch bảo vệ môi trường (QHBVMT) với xử lý nước thải, khí thải, thu gom rác thải chưa được quan tâm đúng mức và hậu quả là kìm hãm sự phát triển của địa phương

Trên cơ sở đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến kinh tế, xã hội, môi trường, cần thiết phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện chất lượng môi trường, phát triển bền vững (PTBV) các làng nghề Giải pháp đó chính là

QHBVMT và cũng là hướng nghiên cứu chính của đề tài “Nghiên cứu xác lập cơ

Trang 7

sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)”

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của luận án là: xác lập căn cứ khoa học cho QHBVMT và đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường một số làng nghề ở Hà Tây

Để thực hiện được những mục tiêu trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Xác lập cơ sở lý luận về QHBVMT làng nghề;

- Đánh giá hiện trạng môi trường và ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề đến môi trường;

- Dự báo xu thế phát triển KT - XH và diễn biến môi trường khu vực nghiên cứu;

- Đề xuất phương án QHBVMT và các giải pháp thực hiện

3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào lãnh thổ làng nghề gia công kim loại

Phùng Xá, huyện Thạch Thất và làng nghề sơn mài Duyên Thái, huyện Thường Tín Đây là 2 làng nghề thuộc hai nhóm ngành khá đặc trưng của Hà Tây, đó là thủ công

mỹ nghệ và tái chế phế liệu Về mặt phát triển 2 làng nghề này nằm trong nhóm 20 làng nghề có doanh thu cao nhất của Hà Tây trong vòng 3 năm từ 2005 - 2007

Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo xu thế phát

triển làng nghề khu vực lựa chọn và ảnh hưởng môi trường đến năm 2020 Cơ sở khoa học về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT trong công tác quy hoạch

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2005 đến tháng 2/2009

4 CƠ SỞ TÀI LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU

Cơ sở tài liệu: Luận án đã sử dụng dữ liệu tại các đề tài - dự án mà tác giả

trực tiếp tham gia: Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp xử lý môi trường một số làng

nghề thủ công mỹ nghệ tỉnh Hà Tây (2003-2005); Ô nhiễm môi trường sông Nhuệ, sông Đáy, nguyên nhân, thực trạng và giải pháp (2005-2007); Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xử lý khí thải tại các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tỉnh Hà Tây (2007-2009)…, của Trung tâm Công nghệ Môi trường - Viện Vật lý

Trang 8

Bổ sung vào hệ thống dữ liệu nghiên cứu làng nghề là các chương trình: An

toàn và vệ sinh lao động tại các làng nghề thủ công vùng đồng bằng sông Hồng, thực trạng và giải pháp (2004-2006); Môi trường lao động - bệnh nghề nghiệp và biện pháp phòng tránh tại các làng nghề truyền thống tỉnh Hà Tây (2006-2008); Nghiên cứu điều kiện làm việc trong các cơ sở sản xuất làng nghề và đề xuất biện pháp cho PTBV, do Viện Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động chủ trì mà tác giả là

thành viên

Loại “dữ liệu” về các ngành nghề truyền thống, đặc thù sản phẩm, cơ cấu tổ chức sản xuất, công nghệ, dân trí, xã hội, môi trường… được thu nhận qua quá trình phỏng vấn, điều tra Kết hợp với những đợt thực địa kéo dài, liên tục trong những năm 2006, 2007, 2008: (1) điều tra, thu thập các dữ liệu về tình hình phát triển, phân bố địa lý, đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các quy hoạch về phát triển làng nghề và xã hội, tình hình ô nhiễm môi trường khí, nước, đất… (2) đo đạc, lấy mẫu và phân tích gần 100 mẫu môi trường ở Phùng Xá và Duyên Thái để đánh giá tác động môi trường, kiểm chứng và dự báo diễn biến môi trường khu vực

Trên 10 bài báo, công trình khoa học của tác giả được công bố những năm

2004 - 2009, là những nghiên cứu tập trung vào các vấn đề: ô nhiễm môi trường làng nghề, làng nghề và sức khỏe người lao động, công nghệ xử lý chất thải, QHBVMT, kiểm toán môi trường được đưa vào sử dụng trong Luận án

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận khoa học để QHBVMT cho

các làng nghề là hồi cứu qua các tài liệu - số liệu, đánh giá hiện trạng và dự báo chất lượng môi trường trên cơ sở định hướng phát triển KT-XH làng nghề

Nghiên cứu quá khứ: Hồi cứu các tài liệu nghiên cứu về các làng nghề trong

vòng 10 năm, lưu ý những làng nghề tương thích với làng nghề ở Hà Tây [25, 26, 28]: Quá trình phát triển làng nghề; Diện tích đất sử dụng cho làng nghề và mối tương quan với sản xuất nông nghiệp; Mức độ ô nhiễm môi trường; Sức khỏe cộng đồng

Nghiên cứu hiện tại: Sử dụng kỹ thuật điều tra cắt ngang, tức là đo đạc khảo sát

hiện trạng một số làng nghề Hà Tây có tham khảo số liệu của làng nghề khác [28, 48]

Trang 9

Nghiên cứu tương lai (dự báo): Nghiên cứu dự báo là nghiên cứu sự biến

đổi môi trường của làng nghề trong tương lai, trong đó có dự báo tới diện tích đất sử dụng, loại - số lượng nguồn thải và tác động của chúng tới môi trường Khi đánh giá tác động và dự báo diễn biến môi trường, xem xét đến quan hệ 2 chiều giữa các hoạt động KT-XH tác động lên môi trường hiện trạng chất lượng môi trường và các chính sách quy định của nhà nước đối với công tác BVMT [11]

Sau đây là các kỹ thuật sử dụng trong quá trình thực hiện Luận án:

Khảo sát thực địa: Từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 6 năm 2009, đã tiến

hành nhiều đợt khảo sát các làng nghề và khu vực lân cận Nội dung công việc: Thu thập các tài liệu, số liệu, liên quan đến KT-XH, môi trường của đơn vị xã nghiên cứu; Lấy mẫu môi trường và quan trắc đo đạc một số chỉ tiêu môi trường nước, không khí, tiếng ồn, đất theo tuyến; Điều tra xã hội học, thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn tiếp cận với người dân địa phương

Phương pháp bản đồ: Sử dụng bản đồ hành chính, bản đồ địa hình, bản đồ

hiện trạng sử dụng đất kết hợp với kết quả thực địa, thành lập bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường, bản đồ QHBVMT với phần mềm MapInfo và Microstation

Phương pháp toán học: Một số công thức toán học được sử dụng để tính

toán tài nguyên và môi trường như: tải lượng ô nhiễm nước, không khí, chất thải rắn, chỉ số chất lượng nước, chất lượng môi trường Phương pháp toán thống kê được sử dụng trong quá trình xử lý số liệu thu được từ các nguồn khác nhau

Phương pháp hồi cứu quá khứ - dự báo tương lai: là phương pháp hồi cứu

các số liệu của hệ thống monitoring môi trường để dự báo trạng thái môi trường trong tương lai Sự dự báo này được xét theo một số kịch bản giả thiết có mức gia tăng áp lực KT - XH - môi trường như các năm trước đây và kịch bản giả thiết có mức tăng áp lực môi trường KT - XH - môi trường tối đa hay tối thiểu (Chương 3)

Dự báo nguồn thải theo “Hệ số phát thải”: Hệ số ô nhiễm trong Luận án

được xây dựng từ quá trình thống kê khối lượng chất thải từ những nguồn thải tương tự đã và đang hoạt động ở một nơi nào đó tính trên một đơn vị sản xuất để cho ra một đơn vị hệ số sử dụng được cho các tính toán, dự báo (có tính đến yếu tố

Trang 10

thời gian như là một đơn vị thứ nguyên của hệ số, như kg/ha/ngày, kg/người/ngày ) Phương pháp này được áp dụng trong chương 3, dựa vào hệ số phát thải do Viện Kinh tế và Thương mại Công nghiệp Hàn Quốc (KIET) nghiên cứu và thiết lập tại Việt Nam thông qua chương trình “Dự báo phát triển và quản lý môi trường ở Việt Nam" [128] kết hợp, bổ sung và hiệu chỉnh với hệ số phát thải của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (USEPA) [170, 178, 179], khối lượng các chất ô nhiễm được đưa ra trong chương 3 Phương

pháp này được tiến hành theo 4 bước: Bước 1: Nghiên cứu, phân tích các dự án quy

hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH để xác định các áp lực môi trường đến năm 2010

và 2020; Bước 2: Nghiên cứu, phân tích, xác định hiệu quả giảm thiểu và hạn chế các áp lực môi trường của các dự án đáp ứng; Bước 3: Áp dụng “hệ số phát thải” để

dự báo các nguồn thải ô nhiễm môi trường đến năm 2010 và 2020; Bước 4: So sánh

nguồn thải ô nhiễm dự báo tương lai với nguồn thải hiện nay để dự đoán mức độ ô

nhiễm môi trường tương lai

Phương pháp phân tích các thành phần môi trường: Phương pháp phân tích

được tiến hành thông qua 03 quá trình là: lấy mẫu, phân tích tại hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm Các phương pháp lấy mẫu được tiến hành theo TCVN

1995, TCVN 2005, QCVN 2008 và ISO thí nghiệm

 Phân tích định lượng hàm lượng các khí SO2, NO2 bằng thiết bị đo nhanh hiệu Kitagawa Precision Gas Detector Tubes của Nhận Bản

 Xác định độ ồn bằng máy đo mức ồn đương lượng Laeq (dBA) của Nhật Bản

 Xác định hàm lượng bụi lơ lửng bằng phương pháp đo nhanh thông qua sự đánh giá của máy Digital Dust Indicator hãng SIBATA Nhật Bản

 Xác độ độ pH bằng máy pH meter; Xác định BOD5 theo nguyên tắc đo DO trực tiếp bằng máy đo DO hiệu YSI 5000; Xác định COD bằng phương pháp Kali Bicromat

 Phân tích định lượng Phốt pho tổng số bằng phương pháp so màu với thuốc thử axit Ascorbic ở bước sóng 880nm

 Phân tích định lượng Nitrat bằng phương pháp so màu với thuốc thử Griss ở bước sóng 520nm

Trang 11

 Phân tích định lượng hàm lượng sắt bằng phương pháp so màu với thuốc thử phenaltrolin ở bước sóng 540nm

O- Phân tích định lượng đồng bằng phương pháp so màu với thuốc thử Đietylithiocacbamat (DDC) ở bước sóng 430nm

 Phân tích định lượng Chì bằng phương pháp so màu với thuốc thử Diphenythicacbazon ở bước sóng 520nm

 Phân tích định lượng kẽm bằng phương pháp so màu với thuốc thử Diphenythicacbazon ở bước sóng 530nm

 Xác định chỉ tiêu Coliform tổng số bằng phương pháp lên men nhiều ống, kết quả kiểm nghiệm được tính bằng chỉ số MPN (Most Proble Number) dựa trên sự phân bố ngẫu nhiên

Các mẫu đất, nước, không khí được đưa về phân tích tại Trung tâm Công nghệ Môi trường - Viện Vật lý thuộc Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam

Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê: Mục đích của phương pháp này

là: (i) Hệ thống hoá các tài liệu, số liệu rời rạc sẵn có theo định hướng nghiên cứu (ii) Phân tích, đánh giá những tài liệu số liệu sẵn có, chọn lọc những số liệu những nhận xét phù hợp nhất về điều kiện tự nhiên, KT- XH và môi trường khu vực nghiên cứu Khi tổng hợp phân tích trên 30 tài liệu, số liệu sẵn có, việc xử lý số liệu

là cần thiết Trong xử lý ngoài việc đánh giá đơn thuần đòi hỏi phải có sự bổ sung (thông qua khảo sát thực địa với số liệu cập nhật), hiệu chỉnh lại (thông qua tính toán lại, so sánh với thực tế và lý thuyết) các số liệu đã có

Các bước nghiên cứu của Luận án:

- Bước 1: Khảo sát, đánh giá, phân tích các điều kiện tự nhiên, KT - XH, trực trạng hoạt động sản xuất và những hệ quả về ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng ở các làng nghề, phân loại hiện trạng chất lượng môi trường

- Bước 2: Dự báo sự phát triển làng nghề và mức độ ô nhiễm môi trường; Đề xuất phương án QHBVMT; Kiến nghị các giải pháp thực hiện

Các bước nghiên cứu của luận án được thể hiện qua hình 1

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Trang 12

- Xác lập được cơ sở khoa học do việc QHBVMT làng nghề gia công kim loại Phùng Xá và sơn mài Duyên Thái

- Mô hình QHBVMT làng nghề được đề xuất là một giải pháp mang tính tổng hợp

để giải quyết những vấn đề về phát triển kinh tế và BVMT Đây là đóng góp có

ý nghĩa vào sự phát triển hướng nghiên cứu (phương pháp luận, nội dung, quy trình) QHBVMT còn rất mới ở Việt Nam

- Phát triển hướng tiếp cận địa lý định lượng qua công cụ kinh tế để so sánh hai hình thức: sản xuất phân tán tại hộ gia đình và sản xuất tập trung tại khu công nghiệp

6 CÁC LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ

- Luận điểm 1: Hoạt động sản xuất phân tán, công nghệ thủ công lạc hậu, quản lý

thiếu chặt chẽ, không xử lý chất thải trong suốt quá trình phát triển sản xuất là những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng ở làng nghề tái chế kim loại Phùng Xá và làng nghề sơn mài Duyên Thái

- Luận điểm 2: QHBVMT làng nghề với hai loại hình: quy hoạch điểm công

nghiệp và quy hoạch phân tán được nghiên cứu điển hình ở Phùng Xá và Duyên Thái, là công cụ hữu hiệu góp phần đẩy mạnh sản xuất và BVMT làng nghề

7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

- Lý luận về quy trình, nội dung QHBVMT làng nghề có thể được vận dụng như một giải pháp quan trọng đảm bảo phát triển kinh tế có gắn với khống chế ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường làng nghề

- Phương pháp phân tích chi phí lợi ích có thể được vận dụng trong nghiên cứu khía cạnh kinh tế và môi trường làng nghề

- Kết quả phân tích hiện trạng và QHBVMT ở Phùng Xá và Duyên Thái là tài liệu hữu ích đối với công tác quản lý môi trường và PTBV ở khu vực nghiên cứu

8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Luận án bao gồm: Phần mở đầu (trang 1 - 7); chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu môi trường làng nghề (trang 9 - 34); chương 2: Hoạt động sản xuất và ảnh

Trang 13

hưởng của nó đến môi trường làng nghề (trang 36 - 91); chương 3: Xu thế phát triển kinh tế - xã hội, diễn biến môi trường và QHBVMT làng nghề (trang 92 - 142); Kết luận và kiến nghị (trang 145 - 149)

Luận án tham khảo 180 tài liệu, trong đó có 48 tài liệu tiếng Anh, có 47 bảng biểu và 39 hình minh họa

Điều kiện địa lý và hiện trạng sản xuất của làng nghề

Điều kiện tự nhiên

và kinh tế xã hội

Hoạt động sản xuất và các tác động đến môi trường

Điều kiện

tự nhiên

Điều kiện kinh tế xã hội

Quy trình sản xuất

Tác nhân ảnh hưởng đến môi trường

Phân tích đánh giá tác động của hoạt động sản xuất tiểu thủ

công nghiệp tới môi trường làng nghề

Phân tích, đánh giá tác động

đến môi trường tự nhiên

Phân tích, đánh giá tác động tới môi trường kinh tế xã hội

Phân loại chất lượng môi trường làng nghề

Dự báo diễn biến chất lượng môi trường làng nghề

Dự báo diễn biến chất lượng môi

trường tự nhiên Dự báo xu thế phát triển KT- XH

Xác định mục tiêu, nhiệm vụ QHBVMT làng nghề

Trang 14

CHƯƠNG1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ

1.1.1 Vài nét về lịch sử phát triển và vai trò của làng nghề

Làng nghề nông thôn đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển Việt Nam Có thể chia lịch sử phát triển làng nghề thành các giai đoạn sau [4, 5, 14,

đáp ứng nhu cầu nhỏ và thấp của đại đa số người tiêu dùng

- Giai đoạn 1986 - 1992, giai đoạn đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường Giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô sản xuất được mở rộng, đầu tư về vốn, kỹ thuật được tăng cường

Các giải pháp hỗ trợ quy hoạch bảo vệ môi trường làng

nghề: công nghệ, quản lý, kinh tế

Hình 1 Mô hình các bước nghiên cứu của luận án

Trang 15

- Giai đoạn từ năm 1993 đến nay, giai đoạn mở cửa, hội nhập sau khi thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ không còn, sản xuất ở các làng nghề lâm vào tình trạng khủng khoảng Tuy nhiên, một hướng đi mới dần được xác lập do tìm kiếm được thị trường khu vực châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, là những thị trường tương đối lớn cho các hàng thủ công mỹ nghệ

Từ năm 1993 trở lại đây đã có khá nhiều nghề và làng nghề truyền thống được phục hồi và phát triển, nhiều làng nghề mới xuất hiện Tuy nhiên, ở một số địa phương vì nhiều lý do nghề thủ công phát triển chậm Ví dụ, nghề thủ công ở Thừa Thiên Huế, trước đây đã từng có thời kỳ phát triển rất mạnh như nghề đúc kim loại, nghề gốm, nghề kim hoàn trong các năm gần đây những nghề này phát triển rất chậm, phân tán, có nghề lâm vào tình trạng bế tắc, có nghề không còn tồn tại

Hiện nay, với tiêu chí đã đề ra, cả nước có khoảng 1.450 làng nghề [101, 130], thu hút hơn 10 triệu lao động [75], chiếm 29% lực lượng lao động ở nông thôn Nhiều tỉnh có số lượng làng nghề cao như ở Hà Tây (cũ) (282), Thái Bình (187), Bắc Ninh (59), Hải Dương (65), Hưng Yên (48) [130] với hàng trăm nghề khác nhau, phương thức sản xuất cũng khác nhau, làng nghề đã tạo ra lượng sản phẩm khá đa dạng đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu

1.1.2 Khái niệm và tiêu chí nhận dạng làng nghề

a Khái niệm làng nghề: là các làng có ngành nghề TTCN, phi nông nghiệp chiếm

ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông [25, 131, 132]

Làng nghề truyền thống: là làng nghề đã hình thành từ lâu đời, sản phẩm có nét riêng, đặc thù có giá trị văn hóa - lịch sử của địa phương được nhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề cha truyền con nối hoặc dòng tộc [4, 25, 33, 131]

Trang 16

- Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề thủ công xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và trải qua bao thăng trầm vẫn tồn tại cho đến ngày nay

- Làng nghề mới: Là làng có nghề mới xuất hiện và phát triển trong khoảng vài chục năm trở lại đây nhưng có ưu thế so với nghề nông

- Tên làng nghề: nếu là làng nghề truyền thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt tên làng nghề Nếu làng nghề có nhiều nghề phát triển, sản phẩm nào nổi tiếng thì lấy nghề đó đặt tên cho làng nghề

1.1.3 Những nghiên cứu về làng nghề

Những nghiên cứu ngoài nước: Làng nghề, tồn tại ở nhiều nước trên thế giới:

Đức, Thụy Điển, Hy Lạp đặc biệt là một số nước Châu Á: Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Philipin, Ấn Độ như là nét văn hóa và bản sắc riêng của từng quốc gia

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, đã có công trình nghiên cứu liên quan đến

lĩnh vực “làng nghề” Tiêu biểu như Bành Tử với “Nhà máy làng xã” (1922), N.H Noace với “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa nghề thủ công” (1828)

Những năm giữa của thế kỷ XX, nhiều quan điểm, hướng phát triển ngành nghề thủ công được nghiên cứu, tìm tòi, tiêu biểu có Marshall, Alfred “Vai trò của

kinh tế nông thôn” (1940); Jople “Kinh tế học truyền thống” (1954), R.Dorfman

trong “Kinh tế học môi trường” (1956) đó là phát triển đi đôi với bảo tồn và bảo vệ

Cũng vào thời điểm đó một tổ chức về nghề thủ công trên thế giới được

thành lập có tên gọi là World Crafts Council International (WCCI - 1964) bởi

Trang 17

Aileen Osborn Vanderbilt Webb, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống [49, 140, 143] Hội nghị đầu tiên của WCCI với sự tham gia của hơn 50 nước tại Columbia University (New York), tập trung chủ yếu ở các vấn đề xuất nhập khẩu, giao thương, du lịch vấn đề môi trường được đưa ra ở hai hình thức: kêu gọi và khuyến cáo Trong hội nghị lần thứ hai của WCCI (1972) tổ chức tại Nhật Bản, vấn đề tổ chức sản xuất và BVMT tại các làng nghề thủ công truyền thống được đề cập nhiều hơn và trở thành một trong những chủ đề “nóng” của Hội nghị [49, 146,159, 169] Lúc này các tham luận của

Srimati Kamaladevi và Margaret Patch đã nhấn mạnh cần “sắp xếp bộ máy công

quyền” chuyên biệt đối với các nước có số lượng nghề thủ công lớn như Thái Lan,

Việt Nam

Để tổ chức sản xuất ngành nghề thủ công, các chuyên gia của Triều Tiên

(1970) đã sử dụng mô hình sản xuất dạng “Hợp tác xã”, có những chi phí thường

xuyên và cố định cho phòng ngừa ô nhiễm [140, 168,171] Cũng trong thời điểm

những năm 70, Nauy đã bắt đầu quan tâm tới việc làm sao quản lý tốt “sản xuất

nông thôn” hay “mô hình sản xuất thu nhỏ” [136,168] Đáng chú ý nhất vào năm

1979, ông Hiramatsu, Thống đốc quận Oita, Nhật Bản đã nghiên cứu và đưa ra lý

thuyết “Một làng một sản phẩm” (được gọi tắt là OVOP) [ 49, 140] Mục tiêu của

mô hình OVOP là tìm ra những sản phẩm độc đáo, đặc trưng nhất của mỗi làng, sau

đó liên kết, xây dựng lại để giới thiệu bán trên toàn quốc và thế giới

Cho đến thập kỳ 80 của thế kỷ XX có một số ấn phẩm liên quan đến vấn đề

BVMT làng nghề như Fisher “Kinh tế tài nguyên môi trường” (1981) và “Kinh tế

làng nghề truyền thống” (1984); D.V Foune “Tổ chức đơn vị không gian làng xã”

(1984) Các tác phẩm này tập trung phân tích những ảnh hưởng của phát triển kinh

tế đối với môi trường, lý thuyết sử dụng hợp lý tài nguyên, mô hình tổ chức sản xuất hộ gia đình, mô hình sản xuất tập trung đơn giản [138, 139,143]

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây khi mà nét văn hóa truyền thống của từng quốc gia được đề cập đến nhiều hơn, những công trình nghiên cứu về làng nghề trên thế giới thực sự được thăng hoa Làng nghề lúc này được xem xét dưới

Trang 18

mọi khía cạnh: kinh tế, xã hội học, môi trường, tổ chức sản xuất, quy hoạch phát triển , tất cả các nghiên cứu này đều hướng tới 03 mục đích: Giữ gìn bản sắc văn

hóa của từng đơn vị làng nghề; Phát triển kinh tế; BVMT làng nghề

Bước vào thế kỷ XXI, hầu hết ở tất cả các quốc gia có “Làng nghề” đều nhận thức rõ ràng hơn về sự suy thoái môi trường và khái niệm PTBV được đưa vào thực

hiện PTBV là “sự phát triển thỏa mãn các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại

đến khả năng của thế hệ tương lai và các nhu cầu của tương lai” [31, 38, 134, 135,

157, 158] PTBV trở thành mục tiêu chi phối của tất cả các chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề

Kinh nghiệm phát triển và BVMT làng nghề truyền thống ở một số nước Châu Á:

Trung Quốc: là nước có nhiều làng nghề truyền thống, từ xa xưa đã nổi

tiếng với các sản phẩm của dệt, gốm, mỹ nghệ Trong những năm qua, Trung

Quốc đã thực hiện chủ trương “ly điền bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành”, nghĩa là “rời ruộng không rời làng, vào nhà máy không vào thành phố” nên đã thu

hút được hơn 100 triệu lao động nông nghiệp chuyển sang công nghiệp - TTCN và dịch vụ tại làng xã (gọi là Xí nghiệp Hương trấn) [49] Phát triển nghề truyền thống song song với BVMT được Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm, nhiều giải pháp, chính sách được ban hành và thực hiện thành công

Nhật Bản: Đến nay, Nhật Bản có 687 nghề thủ công truyền thống, người

Nhật coi đây là một kho tàng quý báu của dân tộc Có những nghề tồn tại đến nay như một di sản văn hóa, như nghề dệt vải tơ chuối (tiếng Nhật gọi là Bashofu) của vùng Okinawa, từ thế kỷ XIII Chính phủ Nhật Bản rất chủ trọng tới việc khôi phục

và phát triển nghề thủ công truyền thống và BVMT Một loạt những quy định của

pháp luật gọi tắt là “Luật nghề truyền thống” [49]:

Thứ nhất, Chính phủ chủ trương hỗ trợ về mặt tài chính giúp cho làng nghề truyền thống phát triển sản xuất kinh doanh và giữ gìn môi trường sống Thứ hai trên cơ sở “Luật nghề truyền thống” chính sách trợ giúp theo kế hoạch khôi phục,

phát triển và BVMT được ban hành Theo chính sách này, các tổ chức của những người sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống (như các liên hiệp HTX, các tổ

Trang 19

chức công thương) phải lập kế hoạch hay dự án về khôi phục, phát triển và BVMT đối với các làng nghề thủ công truyền thống

Ấn Độ có nhiều nghề truyền thống và làng nghề lâu đời Chỉ tính đến những

năm 2003, lực lượng thủ công của Ấn Độ hoạt động trong các làng nghề là 7 - 8

triệu thợ chuyên nghiệp và hàng chục triệu thợ phụ Thứ nhất, nhà nước hỗ trợ về

tài chính: thông qua chiến lược phát triển nông thôn tổng hợp, thúc đẩy ngành nghề thủ công nghiệp để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập Chỉ trong vòng 5 năm gần

đây, Chính phủ cho 15 triệu người nghèo vay 38 tỷ Rupi Thứ hai, tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực Thứ ba, đầu tư cơ sở hạ tầng: tạo môi trường

thuận lợi cho tổ chức sản xuất góp phần xóa đói giảm nghèo

Kinh nghiệm của các nước ASEAN: Hầu hết các nước ASEAN đều có một

nét chung là có nhiều nghề thủ công nghiệp truyền thống [77,172, 173]:

Lào là nước có khá nhiều nghề thủ công truyền thống Nhưng cùng như Việt Nam sự phát triển nghề mang tính tự phát do vậy nhiều nghề bị mai một và mất dần

đi Những năm gần đây, các nghề truyền thống như dệt vải, thêu, đan, chạm trổ, gốm đã được khôi phục Lào có hẳn một bộ quản lý ngành tiểu thủ công nghiệp,

đó là Bộ Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp

Tại Thái Lan, Chính phủ nước này ban hành các chính sách và biện pháp cụ

thể nhằm bảo hộ sản xuất hàng thủ công và BVMT Chính sách “Một triệu Bạt cho

một làng” và “Mỗi làng có một sản phẩm - One Tambon One Product ” và “Làm sạch môi trường làng nghề” đã tạo việc làm, tăng thu nhập cho 8 triệu người nghèo

ở vùng nông thôn

Trong các nước Châu Á, Indonexia là nước có số lượng làng nghề không lớn, tuy nhiên chính phủ cũng có những chương trình cụ thể để duy trì, phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà không làm suy thoái môi trường sống:

Những nghiên cứu trong nước: Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu dựa

vào nông nghiệp, ở nông thôn lấy “làng” làm đơn vị cơ sở Làng xã Việt Nam liên kết với nhau một cách chặt chẽ, tạo thành một kết cấu vững chắc trước những biến động của tự nhiên và xã hội Làng xã chính là nơi diễn ra mọi hoạt động sản xuất,

Trang 20

dịch vụ, sinh hoạt và văn hoá ở nông thôn: “Làng vốn là một đơn vị tụ cư, đơn vị

kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng” [25,159]

Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cũng lấy địa bàn làng xã để nghiên cứu và

đê ra những chính sách đô hộ Cuối thế kỳ XIX đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều công trình chuyên khảo về làng xã nông thôn của các nhà nghiên cứu người Pháp cũng như người Việt [4, 5, 7, 131, 132, 137,143, 146] Hầu hết các nghiên cứu về nông thôn - làng xã mới chỉ đề cấp tới các khía cạnh xã hội học, kinh tế, sử học và tâm lý

Các làng nghề phía Bắc được hình thành từ khá sớm, cách đây 4-5 thế kỷ Đầu thế kỷ XX, khi nghiên cứu về làng nghề ở Việt Nam, nhà xã hội học Pierre Gourou (Pháp) đã liệt kê có khoảng 108 làng nghề ở vùng châu thổ Sông Hồng, sử dụng 450.000 lao động, khoảng 8% số dân cư ở độ tuổi trưởng thành [146]

Làng nghề tập trung ở nhiều nơi: ven sông Hồng; Hà Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình ; ở miền Trung và miền Nam số làng nghề không nhiều như miền Bắc [15] Trong số những làng đã được phát hiện, có mức độ chuyên môn hoá cao, khoảng 40% dân số ở tuổi lao động đã chuyển hẳn sang sản xuất phi nông nghiệp hoặc bán nông nghiệp

Làng nghề truyền thống ở Hà Tây (Hà Đông và Sơn Tây cũ) với nghề dệt lụa

tơ tằm Thế kỷ 18, Lê Quý Đôn (1726 - 1783) [4, 5, 125] từ chỗ xem xét một số đặc

điểm địa lý “Huyện phủ Quốc Oai” đã nhắc tới làng Ỷ La, Trang Thụy và Đại

Phùng có nghề dệt lụa, lĩnh; các làng La Khê, Vạn Phúc, Vân Nội, Bằng Sở, đã có nghề dệt tơ lụa nổi tiếng

Từ những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX khi nền kinh tế thị trường thực sự phát huy tác dụng của nó: các làng nghề truyền thống hưng thịnh, các làng nghề mới được hình thành Lúc này các nhà khoa học, xã hội học, các tổ chức trong nước, ngoài nước, phi chính phủ, đã tập trung nghiên cứu về làng nghề:

- Nghiên cứu về mặt xã hội học, con người, về quá trình sản xuất và phát triển của các làng nghề được đề cập đến ở tính kế thừa, cha truyền con nối [4, 5, 7]

Trang 21

- Hiện trạng sản xuất với những dây chuyền công nghệ đơn giản, hầu hết các công đoạn được thực hiện theo phương thức thủ công, được đề cập đến ở các nghiên cứu về làng nghề Bát Tràng, gốm Hương Canh, nhựa Minh Khai [8, 10, 18, 29,

33, 47, 57, 68, 70, 107, 129, 149]

- Dự báo xu hướng phát triển và mức độ ô nhiễm do hoạt động làng nghề là việc làm cần thiết cho việc hoạch định các chính sách hợp lý đảm bảo cho sự PTBVcủa các làng nghề Việt Nam [39, 119,121,122,123,124,149]

- Quy hoạch định hướng phát triển các làng nghề truyền thống có tính đến vấn đề

sử dụng tài nguyên, BVMT chưa được các nghiên cứu thực sự chú trọng QHBVMT làng nghề hiện nay đang được lồng ghép trong QHTT của các tỉnh, vùng [13, 14, 15, 28, 34, 50, 51, 56, 61, 63, 66, 105, 106], mang tính định hướng chưa chi tiết đến từng hộ sản xuất trong làng nghề

Trong vòng 5 năm trở lại đây các nghiên cứu, dự án triển khai về làng nghề

Hà Tây và vùng phụ cận càng nhiều hơn [19, 29, 33, 37, 42, 57, 68, 101, 102, 108] Các số liệu cụ thể về môi trường khí, nước ở được đo đạc phân tích qua các nghiên cứu của Công ty Tư vấn Đại học Xây dựng, Trung tâm Môi trường đô thị và khu công nghiệp - Trường Đại học Xây dựng, Trung tâm Công nghệ Môi trường - Viện Hóa Công nghiệp; Viện Môi trường - Trường Đại học Bách Khoa, Viện Bảo hộ Lao động - Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, Khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiện - Đại học Quốc gia Hà Nội,

Bộ Khoa học và Công nghệ Môi trường [8, 15, 16, 17, 29, 30, 31, 44], số liệu về định hướng quy hoạch xử lý nước thải và rác thải của Nguyễn Việt Anh, Trần Đức

Hạ, Trần Hiếu Nhuệ [1, 2, 42, 70, 71]

Nhiều công trình nghiên cứu, triển khai đã đề cập đến hiện trạng sản xuất, hiện trạng môi trường, quy hoạch khu vực làng nghề Hà Tây có gắn với định hướng

PTBV của vùng: Dự án “áp dụng các giải pháp công nghệ và quản lý đối với một số

cơ sở sản xuất TTCN nhằm cải thiện môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy”, do Cục

Môi trường thực hiện năm 2000 - 2003; đề tài “khảo sát đánh giá tình trạng ô

nhiễm môi trường một số làng nghề thuộc các tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên”

Trang 22

do Viện KHCNMT, Đại học Bách khoa thực hiện năm 2001, Dự án “Khảo sát ô

nhiễm môi trường nước do các hoạt động sản xuất tại một số làng nghề điển hình tỉnh Hà Tây” do Trần Đức Hạ và Nguyễn Quốc Hoà thực hiện

Hầu hết các dự án, báo cáo này chưa xác định được đầy đủ nguồn ô nhiễm từ sản xuất TTCN Tải lượng ô nhiễm và chỉ số chất lượng nước, khối lượng chất thải rắn, chưa được xác định và dự báo cụ thể Các biện pháp khắc phục và giảm thiểu mới dừng lại ở tính toán lý thuyết chưa có tính thuyết phục Nghiên cứu của luận án góp phần chi tiết và cụ thể hoá các nội dung này

1.1.4 Đặc điểm làng nghề Hà Tây

Trải qua nhiều thập kỷ, hệ thống làng nghề ở Hà Tây được hình thành và phân bố tập trung hai bên tả hữu ngạn sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ Giang Theo điều tra của Tổng cục Thống kê [129, 130] và qua khảo sát thực tế ở cơ sở cho biết toàn tỉnh có 324 xã, phường, thị trấn thì có 174 xã có nghề sản xuất TTCN Số liệu thống kê năm 2008 tổng số làng nghề của là 282 làng, trong đó có 120 làng nghề đã được UBND tỉnh quyết định cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề [114] Số làng nghề được phân bố tại 13/14 huyện, thị xã của Hà Tây Những huyện

có nhiều làng nghề là Thường tín 26 làng, Phú Xuyên 24 làng, Thanh Oai 20 làng, Quốc Oai 13 làng, Hoài Đức 10 làng, Chương Mỹ 9 làng, còn lại các huyện, thị khác có từ 2 đến 7 làng

Trong số 282 làng nghề thì có 162 làng nghề làm các sản phẩm từ tre và song mây thủ công mỹ nghệ và sản xuất đồ gỗ phân chia làm 03 cụm chính: Cụm làng nghề lớn nhất ở khu vực phía Tây của Hà Tây, trong khu vực của huyện Phú Xuyên chiếm tới gần một nửa các làng nghề ở Hà Tây; Cụm làng nghề thứ 2 ở Chương Mỹ trên quốc lộ 6 gần tỉnh Hoà Bình, nơi có 6 làng nghề làm các sản phẩm tre nứa, song mây; Cụm làng nghề thứ 3 gồm một số làng nghề nằm ở phía Bắc của tỉnh gần đường 32 thuộc huyện Hoài Đức làm miến khô và tinh bột

Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các làng nghề khoảng 160.000 người [109] trong đó số lao động chuyên TTCN khoảng 16%, lao động kiêm TTCN khoảng 58%, lao động dịch vụ khoảng 5%, lao động thuần nông khoảng 21%

Trang 23

Qua tài liệu nghiên cứu [108, 109, 114] cho thấy: giá trị sản lượng sản xuất của

Hà Tây là: công nghiệp, TTCN cao nhất chiếm 60,48%, nông nghiệp 24,68%, dịch vụ 11,82% Khảo sát ở Hà Tây, doanh thu năm 2008 có 7 làng nghề đạt giá trị sản lượng trên 30 tỷ đồng, 18 làng nghề đạt giá trị từ 20-30 tỷ, số còn lại đạt dưới 20 tỷ đồng/năm

Thu nhập bình quân 1 lao động ở các xã nghề và làng nghề là 3,120 triệu đồng, trong đó thu nhập từ Công nghiệp, TTCN là 4,992 đồng, dịch vụ 2,920 triệu đồng, nông nghiệp 1,5 triệu đồng (số liệu thống kê năm 2008) [109]

Bảng 1.1 Phân loại làng nghề theo sản phẩm của Hà Tây

2 Chế biến nông sản, thực phẩm, dược liệu 36 12,8

(Nguồn: Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Hà Tây, 2008)

Nhìn chung các làng nghề ở Hà Tây đã đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông thôn Có nhiều làng nghề ở Hà Tây sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ, chế biến lương thực thực phẩm đã có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu Mặt khác nhiều làng nghề khác sản xuất các mặt hàng truyền thống và các mặt hàng thông dụng cho tiêu thụ nội địa lại đang gặp nhiều khó khăn 1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu quy hoạch bảo vệ môi trường

a Tình hình nghiên cứu quy hoạch môi trường trên thế giới

Thuật ngữ Environmental planning (QHMT) ra đời vào đầu những năm 70

và phổ biến rộng rãi vào những năm 90 của thế kỉ XX Đây có thể xem như một

ngành khoa học mới và hiện nay còn nhiều quan điểm về tên gọi cũng như nội dung quy hoạch

Trang 24

Theo Susan Buckingham - Hatfield và Bob Evans (1962), thuật ngữ QHMT

(environmental planning) có thể được hiểu rất rộng là quá trình hình thành, đánh

giá và thực hiện chính sách môi trường

John M.Edington và M Anh Edington (1977) đã xuất bản cuốn sách “Sinh

thái học và QHMT” phân tích rõ những vấn đề sinh thái trong QHMT sử dụng đất

nông thôn, phát triển đô thị, công nghiệp Sau đó Walter E Westman (1985) cũng nhấn mạnh về ảnh hưởng sinh thái và mối quan hệ khăng khít giữa sinh thái với

đánh giá tác động môi trường trong cuốn Sinh thái, Đánh giá tác động môi trường

và QHMT

Baldwin (1984) chỉ ra rằng QHMT là “việc khởi thảo và điều hành các hoạt

động nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu thập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp với các hoạt động của con người sao cho các quá trình tự nhiên, sinh thái và xã hội tổn thất một cách ít nhất”

Ortolano (1984) quan niệm: “QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn

dư và kỹ thuật đánh giá tác động môi trường”

Trong một bài viết ''Triển vọng của Địa học môi trường ở Trung Quốc'', tác

giả Chen Jingsheng (1986) đã nêu lên các tiến bộ của địa học môi trường ở Trung Quốc, điều tra tổng hợp chất lượng môi trường, nghiên cứu phân vùng môi trường

và QHMT

Ở Anh đáng chú ý có công trình ''QHMT cho phát triển vùng'' của Anne R

Beer (1990) trong đó đã trình bày mối quan hệ giữa QHMT và quy hoạch vùng

Báo cáo môi trường số 3 của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) (1991) [133, 134, 141] đã điểm lại một số QHMT tại khu vực châu Á: Dự án lưu vực hồ Laguna và vùng Palawan (Philipine); Dự án lưu vực sông Hàn (Hàn Quốc); Dự án vùng Segara Anakan (Indonexia); Dự án thung lũng Klang (Malaixia)… Theo ADB, trong quy hoạch nhằm phát triển vùng, các thông số môi trường cần được đưa vào quy hoạch ngay từ đầu và sản phẩm cuối cùng là phát triển KT - XH vùng với những cân nhắc cần thiết tới nhu cầu PTBV bằng cách nhất thể hóa với quản lý tài nguyên và môi trường

Trang 25

Cuốn “QHMT cho các cộng đồng nhỏ” của Hãng Bảo vệ Môi trường Mỹ

(1994) đã hướng dẫn QHMT cần tôn trọng quyền của nhân dân, của cộng đồng, nhu cầu của cộng đồng, giải quyết các nhu cầu đó cho cộng đồng

Từ điển Môi trường và Phát triển bền vững, Alan Gilpin (1996) cho rằng

QHMT là sự xác định các mục tiêu mong muốn về KT - XH đối với môi trường tự

nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó Những

vấn đề trong QHMT thành phố và quy hoạch vùng bao gồm: sử dụng đất, giao thông vận tải, lao động, sức khỏe, các trung tâm, thị xã mới, dân số, chính sách của Nhà nước về định cư, các vấn đề nhà ở, công nghiệp, phát triển đô thị, chính sách môi trường đối với quốc gia, vùng và đô thị, các vấn đề ô nhiễm và đánh giá tác động môi trường

Toner (1996) cho rằng QHMT là việc ứng dụng các kiến thức về khoa học tự

nhiên và sức khỏe trong các quyết định sử dụng đất

Malone - Lee Lai Choo (1997) cho rằng để giải quyết những xung đột về môi

trường và phát triển cần phải xây dựng hệ thống quy hoạch trên cơ sở những vấn

đề môi trường

Các tác giả khác như Anne Bee (1990), Walter E.Wesmant (1985), Richard

L Meier (1990) phân tích sâu mối quan hệ giữa quy hoạch môi trường với đánh giá

tác động môi trường và các yếu tố sinh thái

b Tình hình nghiên cứu QHMT và QHBVMT ở Việt Nam

Tại Việt Nam, trong Luật Bảo vệ Môi trường (2005) không đưa ra khái

niệm và phân biệt giữa QHBVMT và QHMT Tuy nhiên trong điều 3, chương I và

điều 50 chương VI của Luật sử dụng thuật ngữ “QHBVMT” để chỉ ra các hành động quy hoạch hướng tới mục tiêu BVMT cho các vùng đô thị và nông thôn

Trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam, QHBVMT được quan niệm

"là những quy định về mục tiêu và biện pháp bảo vệ môi trường trong thời gian nhất định nhằm duy trì cân bằng sinh thái và đồng thời vẫn đảm bảo mục tiêu phát triển Mục tiêu của công tác QHBVMT nhằm xác định các hành động về môi trường mang tính hệ thống, đồng bộ và được xếp thứ tự ưu tiên; huy động mọi nguồn lực

Trang 26

cần thiết và bố trí để bảo đảm thực hiện tốt các hành động về môi trường đã định ra nhằm sử dụng hợp lí nhất các nguồn tài nguyên, phòng chống ô nhiễm môi trường, tránh gây nguy hại đến chất lượng môi trường hoặc khôi phục những môi trường đã

bị suy thoái, phục vụ cho sự nghiệp PTBV KT - XH của đất nước” QHBVMT bao

gồm 9 nội dung: (1) xây dựng phương hướng, chiến lược về môi trường và PTBV để

đưa vào quy hoạch phát triển KT - XH nhằm thực hiện sự phát triển hài hoà giữa kinh tế và môi trường; (2) điều tra cơ bản các yếu tố về môi trường như đất, nước, không khí, rừng, biển và các khía cạnh văn hoá có liên quan, ; (3) điều tra tình hình ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu đông dân cư quan trọng, vùng biển đang khai thác dầu khí, ; (4) các dự án bảo tồn, khôi phục các hệ sinh thái có tầm quan trọng cho PTBV KT- XH và duy trì tính đa dạng sinh học; (5) đánh giá hiện trường môi trường; (6) thanh tra môi trường; (7) xây dựng tiềm lực môi trường ở các bộ, ngành và địa phương; (8) các biện pháp sử dụng hợp

lí tài nguyên thiên nhiên, môi trường; (9) hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường" (Nguồn: Từ điển Bách khoa Việt Nam online, 2008)

Như vậy, cho đến nay ở Việt Nam “environmental planning” vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau và cùng song song tồn tại các thuật ngữ:

QHMT, hoạch định môi trường và QHBVMT Tuy nhiên, cho dù được hiểu theo cách nào đi nữa thì mục đích của “environmental planning” cũng là tích hợp môi trường vào trong các quy hoạch theo hướng phát triển bền vững

Bên cạnh tác giả Vũ Quyết Thắng, Nguyễn Thế Thôn, Trịnh Thị Thanh, Nguyễn Ngọc Sinh [82, 86, 88, 106] sử dụng QHMT, thì các tác giả khác: Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải, Hoàng Danh Sơn, Đặng Trung Thuận, Nguyễn Cao Lãnh [50, 51, 66, 95, 110] sử dụng QHBVMT trong các nghiên cứu và tài liệu công bố:

Theo Nguyễn Thế Thôn (1998) “QHMT là xác định chức năng môi trường

cho các phạm vi lãnh thổ khác nhau, hài hòa với sự phát triển kinh tế, nhằm làm cho môi trường không bị suy thoái, ô nhiễm và ngày càng cải thiện”;

Trang 27

Theo Nguyễn Cao Huần (2002) “QHBVMT là một vấn đề quan trọng đối với

phát triển bền vững, là một phần của chiến lược phát triển KT - XH QHBVMT nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển vùng lãnh thổ”

Theo Nguyễn Ngọc Sinh và cộng tác viên trong “Chương trình định hướng

quy hoạch môi trường Bắc Trung Bộ” (1997); “Quy hoạch môi trường ngành trong quy hoạch phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng” (1998) đã trình bày những ý

tưởng khái quát của QHMT, đó là xác định những vấn đề môi trường để đề xuất

phương hướng, mục tiêu chiến lược và các chương trình môi trường trong khu vực

Ví dụ như Đồng bằng sông Hồng, được phân thành hai tiểu vùng và đề xuất các chính sách - chương trình riêng cho mỗi tiểu vùng

Tiếp đó là các nhóm tác giả như Trịnh Thị Thanh và cộng tác viên, “Phương

pháp luận và thử nghiệm áp dụng sơ bộ QHMT Đồng bằng sông

Hồng"(1999-2000); tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA, 1999, Nghiên cứu quy hoạch quản

lý môi trường vịnh Hạ Long và thành phố Hà Nội); hay Nguyễn Cao Huần và nnk

với “ QHBVMT thị xã Uông Bí đến năm 2010 và 2020” (2004-2005) và “Nghiên

cứu tổ chức lãnh thổ tỉnh miền núi biên giới phía bắc phục vụ phát triển kinh tế xã hội thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đến năm 2020” (2003-2005)

Trong giai đoạn chuyển giao giữa hai thế kỷ, kinh tế Việt Nam thực sự có những bước tăng trưởng vượt bậc thì cũng là lúc vấn đề về môi trường trở nên bức xúc Lúc này các cơ quan chức năng mới bắt đầu có cách nhìn nhận đúng đắn về tầm chiến lược cũng như vai trò của QHBVMT trong công tác quy hoạch

QHBVMT được xác định nhiệm vụ “cân bằng các hoạt động của con người” [82,

95, 96, 97, 147, 150, 152, 162], nhiệm vụ này được thể hiện rất rõ ở các QHBVMT khu vực Hạ Long, Quảng Ninh, Uông Bí, Hải Phòng của các tác giả và tập thể tác giả: Đặng Trung Thuận, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải, Phạm Ngọc Đăng, Nguyễn Quỳnh Hương, Trần Đông Phong [50, 51, 52, 82, 83] đã thống nhất được các QHBVMT trong các kế hoạch quản lý và phát triển kinh tế xã hội tại mỗi vùng

và khu vực thực hiện quy hoạch Hiện nay đã có một số quy hoạch bảo vệ môi

Trang 28

trường ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, vùng Hạ Long, Quảng Ninh (1999, 2001),

thành phố Vinh (2002) và một số đề tài: nghiên cứu về phương pháp luận

QHBVMT(1998), nghiên cứu xây dựng QHBVMT vùng đồng bằng sông Cửu Long

(1999), QHBVMT vùng Đông Nam Bộ (2000-2003), QHBVMT thị xã Bắc Ninh (2002), QHBVMT ở Hải Dương và một số công trình khác

Đối với QHBVMT làng nghề, nội dung vẫn bao hàm đầy đủ các tính chất của một QHBVMT, tuy nhiên đây là một loại hình quy hoạch chỉ tồn tại ở một số nước có nghề thủ công truyền thống, quy mô thực hiện nhỏ và đòi hỏi sự chi tiết, bắt đầu được đề cập đến từ những năm đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên những quy hoạch

này mang nặng tính "kiến trúc làng nghề" [9, 15, 34, 54, 66] hay tổ chức "quy

hoạch xử lý các hợp phần môi trường làng nghề" hay "quy hoạch định hướng phát triển bền vững làng nghề" [102, 106, 108]

Mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về QHMT - QHBVMT ở Việt

Nam và trên thế giới nhưng cơ bản vẫn có nhiều điểm chung Đây cũng là quan điểm của tác giả luận án và được vận dụng trong QHBVMT một số làng nghề

ở Hà Tây:

- Trong quy hoạch phát triển KT - XH phải xem xét các yếu tố tài nguyên và môi

trường, các mục tiêu phát triển phải gắn với mục tiêu BVMT

- QHBVMT là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển KT - XH được

xây dựng theo hướng PTBV QHBVMT không thể tách rời quy hoạch phát triển kinh tế

- QHBVMT là dạng quy hoạch mang tính liên ngành

- QHBVMT phải tôn trọng các quyền và giải quyết nhu cầu của cộng đồng địa

phương

1.2.2 Mối quan hệ giữa các loại hình quy hoạch với quy hoạch bảo vệ môi trường

a Quy hoạch phát triển tài nguyên và BVMT: Việc sử dụng tài nguyên như là

những nguyên liệu, yếu tố đầu vào không thể thiếu cho các hoạt động sản xuất và đời sống của con người [112, 145, 142] Tạo lập những môi trường thuận lợi,

Trang 29

những điều kiện thích hợp cho các hoạt động sản xuất và đời sống cũng đã được thực hiện từ lâu trong quá trình phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên, cho đến gần đây, cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, tác động của các hoạt động sản xuất và đời sống của con người lên thiên nhiên ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng Nhiều vấn đề tài nguyên môi trường nảy sinh, buộc con người phải chú ý nhiều, đầy

đủ và toàn diện hơn Do đó, cần có quy hoạch phân bố sử dụng và phát triển tài nguyên môi trường để đảm bảo mục tiêu chung của toàn bộ quy hoạch phát triển KT-XH trên cơ sở đạt được hiệu quả cao trên cả 3 lĩnh vực: KT - XH - sinh thái Quy hoạch phát triển tài nguyên và BVMT là giải pháp cơ bản để đáp ứng đòi hỏi trên của thực tiễn

b QHTT và QHBVMT: Quy hoạch là một công cụ để quản lý sự phát triển thông

qua QH phát triển ngành, QHTT phát triển KT-XH vùng lãnh thổ [153, 155, 160, 163] Trong quá trình xây dựng và thực hiện QHTT, các nhà hoạch định chính sách cần nhận thức được rằng môi trường và sự đa dạng tài nguyên thiên nhiên của nó là nền tảng của sự PTBV Bản thân nội hàm làng nghề đã bao gồm hai lĩnh vực hoạt động kinh tế là sản xuất công nghiệp, TTCN gắn với kinh tế nông thôn Do vậy việc QHBVMT làng nghề phải thực hiện sao cho đảm bảo cả hai yếu tố này

Quy hoạch PTBV các làng nghề truyền thống có tính đến vấn đề sử dụng tài nguyên, BVMT tạo điều kiện cho sử dụng nguồn nhân công dồi dào, tận dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ và áp dụng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm

c Quy hoạch vùng và QHBVMT: Thế kỷ XXI, khoa học kỹ thuật trở thành lực

lượng sản xuất, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển KT - XH của nhiều quốc gia

Kinh tế tri thức ngày càng giữ vai trò to lớn đối với nhân loại "Liên kết, khu vực

hoá, toàn cầu hoá" [148, 151, 167] và sự tăng cường các quan hệ liên vùng đã trở

thành xu thế của thời đại, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực Trong tình trạng đó, thiết kế kiến trúc, quy hoạch đô thị không còn đảm nhiệm được vai trò điều tiết vĩ mô của quy hoạch vùng Bởi vậy, quy hoạch vùng đã được lồng ghép cả QHBVMT và QHBVMT lúc này được xem là một hợp phần quan trọng của quy hoạch vùng Nội dung chính bao gồm [154, 163, 164, 165, 174]: Bố trí, sắp xếp hợp

Trang 30

lý các hoạt động của con người phù hợp với đường lối, chính sách quốc gia; Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; Phân bố và tổ chức tối ưu các hoạt động theo lãnh thổ với tầm nhìn hướng về tương lai; BVMT, phòng chống các thảm hoạ thiên nhiên; Đảm bảo an ninh, quốc phòng

QHBVMT cụ thể đối với từng đơn vị nghiên cứu, từng hợp phần vùng nhằm phát huy tính chiến lược và đa ngành, tiến tới xoá bỏ sự gắn kết có tính hình thức và lỏng lẻo giữa quy hoạch tổng thể KT-XH, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng, trên cơ sở đó tăng cường tính toàn diện và tính khoa học của quy hoạch chiến lược phát triển vùng, hướng tới mục tiêu tạo lập môi trường sống bền vững

d Quy hoạch sử dụng đất và QHBVMT: Bản chất của quy hoạch đất đai là việc

phân bổ sử dụng đất sao cho hợp lý với từng điều kiện kinh tế, xã hội, quản lý của từng địa phương [126, 127, 133, 145, 175] Việc bố trí không gian phụ thuộc nhiều vào việc phân chia hành chính giúp cho việc quản lý được dễ dàng, nhưng lại ít được tính đến các nhân tố như môi trường sống, thổ nhưỡng Hiện nay sử dụng đất phải bảo tồn được hệ thống tự nhiên đã là chiến lược của toàn thế giới cũng như của Việt Nam là mục tiêu quan trọng trong công tác BVMT Khu vực nào khuyến khích phát triển, khu vực nào hạn chế khai thác sử dụng là việc làm mang tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất Giảm thiểu dần việc sử dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp, giảm thuốc trừ sâu diệt cỏ, để khôi phục hệ sinh thái tự nhiên đem lại môi trường sống trong lành, giảm thiểu tối đa sự ô nhiễm đó là bước QHBVMT tiếp theo theo của quy hoạch sử dụng đất

e Quy hoạch sinh thái và QHBVMT: Theo quan điểm sinh thái học thì “môi trường khu vực là một hay nhiều tập hợp của các hệ sinh thái, có quan hệ mật thiết với nhau” [6, 72, 74, 154, 173] Để có một môi trường khu vực bền vững, mọi quy

hoạch phải đảm bảo hai điều kiện: (1) Tính đa dạng của hệ sinh thái trong khu vực, tối thiểu phải đạt được một tỷ lệ thích hợp (2) Cần có những hệ sinh thái trẻ phối hợp với hệ sinh thái trưởng thành

Ý nghĩa thực tiễn của quy hoạch sinh thái trong quy hoạch không gian môi trường là việc đề xuất các phương án tổ chức và sắp xếp các kiểu hệ sinh thái Việc

Trang 31

tổ chức sắp xếp này đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc về mức độ phù hợp sinh thái cao nhất, cũng như việc sắp xếp các khu vực sử dụng đất phải tương thích với các mục tiêu môi trường (như: bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các hệ sinh thái quan trọng, quản lý tốt vùng nhạy cảm môi trường, phòng chống ô nhiễm và tai biến môi trường) phải luôn đặt lên hàng đầu và được quan tâm trong suốt quá trình quy hoạch KT - XH - xây dựng cũng như quy hoạch vùng

Như vậy, sử dụng phương pháp phân vùng (quy hoạch vùng), tổ chức hệ sinh thái phù hợp (quy hoạch sinh thái) theo định hướng phát triển KT - XH của địa phương và khu vực (quy hoạch phát triển KT - XH) trên một đơn vị lãnh thổ nhất định (quy hoạch sử dụng đất), phù hợp với tổng thể phát triển vùng, quốc gia (quy hoạc tổng thể) là mục đích trọng tâm của QHBVMT

g Các quy hoạch ngành và QHBVMT

- Quy hoạch phát triển sản xuất [35, 58, 59, 60]: là tổ chức trong không gian quy hoạch các hệ thống sản xuất Cơ cấu sản xuất bao gồm các ngành sản xuất công nghiệp và nông, lâm, ngư nghiệp, trong đó các ngành sản xuất công nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế, bởi vì nông, lâm, ngư nghiệp muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao phải dựa trên cơ sở các công nghiệp chế biến sản phẩm và các công nghiệp hỗ trợ sản xuất khác Ngày nay việc lựa chọn cơ cấu sản xuất hợp lý phải dựa trên cơ sở so sánh giữa hiệu quả mà hệ thống kinh tế đem lại với những tổn thất tài nguyên và môi trường sẽ gây ra

- Quy hoạch phát triển dân cư và lao động [60, 62, 65, 78, 79, 178]: là thiết lập các điểm dân cư của một đơn vị lãnh thổ trên cơ sở có phân công liên kết chức năng và hài hòa cân đối trong mỗi điểm và giữa các điểm Nếu quy hoạch phát triển dân cư

và lao động mang ý nghĩa chính sách, thì QHBVMT là chiến lược đi trước để thực hiện mục đích nói trên

- Quy hoạch phát triển nông nghiệp [30, 111, 127, 175]: là tổ chức sắp xếp phân bố hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp Xây dựng, thiết lập các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, tạo ra vùng chuyên canh, thâm canh, sản xuất hàng hoá chất lượng cao; Tổ chức và khuyến khích phát triển dịch vụ nông nghiệp, trong đó chú

Trang 32

trọng dịch vụ khoa học kỹ thuật nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm an toàn Đối với các nước nông nghiệp chiếm 80% dân số như Việt Nam, thì quy hoạch nông nghiệp

là một quy hoạch thành phần quan trọng nhất trong QHTT, QHBVMT của vùng

- Quy hoạch Phát triển công nghiệp [69, 75, 77]: là tổ chức không gian phát triển công nghiệp, tổ chức cơ cấu công nghiệp theo ngành, sản phẩm, vùng và thành phần kinh tế Hiện nay quy hoạch phát triển công nghiệp còn phải đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, xác định những ngành, sản phẩm mũi nhọn để đầu

tư Ưu tiên các dự án lớn, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, đóng góp nhiều cho ngân sách, sử dụng nguyên liệu và lao động tại chỗ, ít tác động xấu đến môi trường Hiện nay trong quy hoạch phát triển công nghiệp một yếu tố không thể thiếu là tổ chức không gian BVMT hỗ trợ nhằm tạo tiền đề cho việc phát triển công nghiệp mang tính ổn định và bền vững

- Quy hoạch phòng ngừa ô nhiễm môi trường [69, 90, 91, 100]: phòng ngừa ô nhiễm môi trường là một phạm trù rộng, nó liên quan với nhiều lĩnh vực từ pháp luật, chiến lược, công cụ chính sách đến các giải pháp cụ thể của quy hoạch không gian Nguyên tắc chung của quy hoạch phòng ngừa ô nhiễm là quy hoạch tạo tiền đề cho quản lý chất lượng môi trường: (1) quy hoạch quản lý chất lượng nước (2) quy hoạch quản lý chất lượng không khí (3) quy hoạch quản lý chất thải rắn (4) các mục tiêu về mặt KT - XH và cũng chính là một nội dung của QHBVMT

Như vậy, QHBVMT có thể tiến hành độc lập hoặc song song với các hợp phần quy hoạch khác, nhưng dù ở hình thức nào thì QHBVMT vẫn phải gắn kết chặt chẽ với QHTT phát triển KT - XH của địa phương, vùng lãnh thổ được tiến hành quy hoạch

1.2.3 Phát triển bền vững làng nghề

Kết quả khảo sát, nghiên cứu, điều tra hiện trạng KT - XH và môi trường làng nghề Việt Nam [12, 16, 24, 25, 29, 33, 53, 55, 57, 93, 109] cho thấy còn nhiều trở ngại, khó khăn đối với việc PTBV làng nghề

Các tồn tại về công nghệ, trang thiết bị, chất lượng sản phẩm [93,120, 121] :

Phần lớn các làng nghề đều áp dụng các công nghệ truyền thống và chủ yếu là sử

Trang 33

dụng lao động thủ công được truyền lại từ đời này qua đời khác Hiệu suất sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, trung bình khoảng 60% (50% đối với ngành nghề chế biến nông sản thực phẩm, 60% đối với ngành nghề tái chế chất thải, 80% đối với ngành dệt nhuộm và may mặc, 85% đối với ngành thủ công mỹ nghệ xuất khẩu)

Các tồn tại về KT - XH, lao động, tài chính [129, 130]: Thực tế cho thấy,

phần lớn các hoạt động kinh tế làng nghề nói chung và sản xuất nghề nói riêng được

tổ chức bởi các hộ gia đình Mặc dù ở nhiều xã nghề, làng nghề đã xuất hiện các cơ sở/doanh nghiệp/công ty sản xuất dưới nhiều hình thức, song hộ gia đình vẫn là hình thức kinh doanh chủ yếu, có nơi chiếm tới 85 - 90% số đơn vị kinh doanh

Tồn tại về cơ chế chính sách trong quản lý môi trường làng nghề: Năm

1994 mặc dù Luật Bảo vệ Môi trường đã được Nhà nước ban hành (sửa đổi năm 2005), tiếp sau đó là một loạt các văn bản pháp quy, chính sách hướng dẫn thi hành luật Tuy nhiên, kết quả rà soát lại các văn bản chính sách liên quan tới phát triển ngành nghề và BVMT (tính đến tháng 6/2008) đối với các làng nghề ở tầm vĩ mô là

Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/11/2000 (Điều

2: Chủ trương phát triển ngành nghề nông thôn) Điều này có nghĩa là các chính sách, quy định vĩ mô hiện hành của Nhà nước thì hoặc là không hoặc là chỉ gián tiếp liên quan đến môi trường làng nghề Do đó khi áp dụng Luật Bảo vệ Môi trường (2005) vào quản lý môi trường làng nghề còn nhiều bất cập sau:

- Trong Điều 55 của Luật Bảo vệ Môi trường, chưa có điều luật nào cụ thể hoá vai

trò, trách nhiệm của cá nhân, tập thể trong công tác BVMT làng nghề

- Các quy định, văn bản, chính sách còn chồng chéo nhau, không phân biệt được

cụ thể chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, cá nhân liên quan đến làng nghề

- Còn thiếu các văn bản dưới Luật hướng dẫn chi tiết việc thực thi Luật Bảo vệ Môi trường vào làng nghề, gây lúng túng cho đơn vị, cá nhân khi thi hành Luật

- Sự kết hợp giữa các bộ phận quản lý môi trường và các đơn vị, các cá nhân khác chưa linh hoạt, kịp thời

Việc thực thi một số chính sách mới ban hành gần đây như thu phí bảo vệ

môi trường đối với nước thải (Nghị định số 67/2003/NĐ-CP), về xử lý triệt để các

Trang 34

cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Quyết định số 64/CP) còn chậm chạp

ngay cả khi đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp ở các tỉnh và thành phố lớn nên

có thể nói là rất khó khăn đối với các cơ sở sản xuất tại làng nghề

Những vấn đề tồn tại có liên quan đến công tác quản lý môi trường làng nghề:

Trình độ dân trí và tính cộng đồng của làng nghề còn nhiều hạn chế; Khả năng tổ chức sản xuất, quản lý lao động của các chủ hộ còn yếu; Kinh phí cho các hoạt động BVMT ở các địa phương còn thiếu; Tinh thần trách nhiệm của các cán bộ quản lý cấp xã, thôn đối với công tác BVMT chưa cao; Công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về môi trường tại các làng nghề chưa cụ thể; Việc quản lý và xử phạt hành chính các vi phạm môi trường còn chưa được quan tâm

Từ những phân tích về khó khăn trong sản xuất và phát triển làng nghề, cần thiết phải có một cách nhìn mới và tổ chức quy hoạch làng nghề theo hướng PTBV

- PTBV là quan điểm chung đối với mọi sự phát triển [178], trong đó có làng nghề PTBV đã được khẳng định trong chủ trương đường lối phát triển trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Yêu cầu PTBV cũng đã được khẳng định

trong Quyết định số 132 của Thủ tướng Chính phủ trong đó BVMT là một nội

dung được nhấn mạnh trong chủ trương phát triển ngành nghề nông thôn

- PTBV làng nghề là phát triển sản xuất, kinh doanh nghề ở địa phương có gắn với các biện pháp cải thiện và BVMT, đảm bảo sự phát triển mang tính ổn định, lâu dài và bền vững

- BVMT làng nghề là trách nhiệm chung của chính quyền các cấp, địa phương của cộng đồng sản xuất, kinh doanh và của cộng đồng dân cư làng nghề

1.2.4 Phát triển cộng đồng

Theo Muray Gross, khái niệm về phát triển cộng đồng được hiểu: Là một tiến

trình nhờ đó cộng đồng nhận diện được các nhu cầu và mục tiêu của mình, xếp đặt các nhu cầu hoặc mục tiêu này, phát triển niềm tin tưởng và ý muốn hoạt động để đáp ứng các nhu cầu hoặc mục tiêu đó, tìm các nguồn lực bên trong và bên ngoài cộng đồng để đối phó với các nhu cầu và mục tiêu này [168, 173]

Trang 35

Khái niệm về phát triển cộng đồng của Trường Công tác Xã hội và Phát triển

Cộng đồng, Philipin hay Singapo: là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng

đồng được tăng cường sức mạnh bởi các kiến thức và kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hoá chúng, huy động tài nguyên để giải quyết chúng và hành động chung [172, 174, 176, 177]

Khái niệm về phát triển cộng đồng, theo Liên Hợp Quốc được hiểu là: Những

tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hoá của các cộng đồng và giúp các cộng này hội nhập, đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia [177, 178]

Khái niệm về phát triển cộng đồng hiện nay có rất nhiều cách hiểu và những khái niệm khác nhau Dựa trên bản chất của khái niệm phát triển cộng đồng cho thấy các hoạt động chính khi thực thi sẽ bao gồm: Cộng đồng xác định các vấn đề cần giải quyết; Chọn lựa các vấn đề ưu tiên bằng cách phân tích định lượng và đính tính; Xây dựng các chương trình hành động trên cơ sở phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài; Triển khai, bao gồm cả điều chỉnh các chương trình hành động

Với những khái niệm về phát triển cộng đồng như trên, tác giả luận án quan niệm về tiến trình phát triển cộng đồng làng nghề một cách toàn diện, đầy đủ cả về kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng và vấn đề BVMT nhằm đạt tới một quá trình PTBV của

cả một xã hội Do đó, phát triển cộng đồng trong luận án này được hiểu: Là tổng thể

những quá trình làm cho cộng đồng biến dạng và có thể dẫn tới những thay đổi về chất Những biến dạng và đổi thay về chất nào cũng phải đảm bảo những yêu cầu phát triển chung của xã hội, tức là phải đảm bảo sự bền vững của cộng đồng, sự công bằng xã hội cho các nhóm xã hội, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội

1.2.5 Biến đổi môi trường

Khái niệm về biến đổi môi trường được sử dụng trong luận án: Chất phát thải

ra môi trường là các chất thải sau sản xuất hay tiêu dùng của hoạt động kinh tế hay cộng đồng được đưa vào môi trường, khi vượt quá khả năng hấp thụ chúng sẽ làm thay đổi chất lượng môi trường

Trang 36

Quá trình biến đổi của môi trường thường được cụ thể hoá ở các loại hình như [11, 22]: Ô nhiễm môi trường: Là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, phạm vi tiêu chuẩn môi trường; Suy thoái môi trường: Là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho con người và thiên nhiên; Sự cố môi trường: Là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên gây suy thoái môi trường nghiêm trọng 1.3 QUAN ĐIỂM VÀ TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu

a Quan điểm hệ thống [161, 166]: Các làng nghề ở Hà Tây và vùng phụ cận được

xem như một hệ thống tự nhiên - KT - XH hoàn chỉnh và mở Hệ thống này có mối quan hệ khăng khít với các hệ thống tự nhiên - KT - XH khác trong và ngoài tỉnh

Hà Tây (cũ) thông qua hệ thống trao đổi vật chất và năng lượng

Ngay trong vùng nghiên cứu cũng có nhiều tiểu vùng, khu vực với các chức năng kinh tế - môi trường khác nhau như: cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm, không gian sinh sống của cộng đồng dân cư, nơi chứa thải Do mối quan hệ, tác động qua lại giữa các hợp phần này là rất phức tạp và khó có điều kiện để xác định chính xác ảnh hưởng của từng hoạt động phát triển đối với từng yếu tố môi trường

cụ thể Để hạn chế những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, nhận dạng những vấn đề về QHBVMT liên quan đến làng nghề (Chương 2), hay trong quá trình dự báo diễn biến KT-XH và môi trường (Chương 3), khu vực nghiên cứu được phân thành các đơn vị lãnh thổ nhỏ hơn như tiểu vùng và khu vực

Trong nghiên cứu, các thông tin, số liệu, tài liệu được thu thập, tổng hợp và

xử lý theo hệ thống xác định: điều kiện tự nhiên, KT-XH, tài nguyên và môi trường, khu vực địa lý, không gian, khoảng thời gian Phân tích hệ thống cũng được áp dụng trong quá trình đề xuất, xây dựng các phương án quy hoạch, các biện pháp quản lý môi trường (Chương 3) Để cải thiện chất lượng môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế các làng nghề truyền thống cần phải thực hiện đồng bộ và hệ thống các giải pháp quản lý, công nghệ từ đơn giản đến phức tạp từ chi phí thấp đến chi phí cao

Trang 37

b Quan điểm phát triển bền vững: Năm 1987, trong báo cáo của Hội đồng Thế giới

về Môi trường và Phát triển, khái niệm PTBV được sử dụng chính thức và được

định nghĩa: "PTBV là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại,

nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau" [77, 160,

161]

Chiến lược BVMT môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến

năm 2020 [13] cũng nhấn mạnh quan điểm: “Chiến lược BVMT là bộ phận cấu

thành không thể tách rời của Chiến lược phát triển KT - XH, là cơ sở quan trọng để PTBV đất nước” Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất về Môi trường và Phát triển

được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) Hội nghị khuyến nghị từng nước căn cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21

ở cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương Mười năm sau, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) đã khẳng định lại các nguyên tắc PTBV

Tại các hội nghị nói trên, Chính phủ Việt Nam đã cử các đoàn đại biểu cấp cao tham gia và cam kết sẽ xây dựng và thực hiện Chương trình PTBV ở Việt Nam PTBV đã trở thành quan điểm của Đảng, đường lối chính sách của Nhà nước và

được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là: "Phát

triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT" và "phát triển KT - XH gắn chặt với bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên" Để thực hiện mục tiêu PTBV như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc

đã đề ra, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác đã được ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998, Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 15/11/2004 của

Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước: "BVMT là một nội dung cơ bản trong đường lối, chủ trương và kế

Trang 38

hoạch phát triển KT-XH của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm PTBV, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"

Những năm gần đây, các ngành nghề thủ công, du lịch, chế biến nông sản thực phẩm ở các làng nghề Hà Tây đã có những bước tăng trưởng đáng kể Trong quá trình phát triển đó các làng nghề đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường bị ô nhiễm Mâu thuẫn nổi bật nhất là cán cân giữa phát triển kinh tế và BVMT; mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất; mâu thuẫn giữa đô thị hoá nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hoá của các làng nghề truyền thống Những mâu thuẫn đó đã phần nào hạn chế sự phát triển của các ngành với nhau và giữa các ngành trong việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, lãnh thổ và BVMT Để đảm bảo sự PTBV, kết hợp một cách hài hoà giữa phát triển KT - XH và cải thiện chất lượng môi trường; để dung hoà những mâu thuẫn trong quá trình phát triển cần có những giải pháp tổng hợp mang tính liên ngành và hoà nhập chính sách, chiến lược phát triển ngành, khu vực với bền vững môi trường

c Quan điểm lãnh thổ: Mọi loại hình quy hoạch đều gắn liền với tổ chức không

gian trên một đơn vị lãnh thổ Trong đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường, dự báo xu thế phát triển KT - XH, diễn biến môi trường không thể tách rời yếu tố lãnh thổ Chất lượng môi trường ở mỗi một khu vực có đặc điểm tự nhiên, KT - XH khác nhau sẽ có một hệ quả khác nhau Xem xét những đặc trưng và xu hướng phát triển chung của khu vực cho phép đưa ra kết luận phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

Đối với hai làng nghề Phùng Xá và Duyên Thái được lựa chọn nghiên cứu, phân bố ở hai hướng Tây Bắc và Đông Nam của vùng Hà Nội kết hợp với một số làng nghề lận cận: Chàng Sơn (đồ mộc), Bình Phú (mây tre đan) của huyện Thạch Thất và Nhị Khê (tiện gỗ), Quất Động (thêu), Quán Gánh (bánh dày), Thụy ứng (xương, sừng mỹ nghệ), Hiền Giang (điêu khắc), Vạn Điểm (đồ gỗ cao cấp) của Thường Tín phân bố dọc theo hai con sông Nhuệ và sông Đáy đã và đang tạo nên những vùng kinh tế phát triển và vùng ô nhiễm môi trường

d Quan điểm đa thời gian

Trang 39

Trong quá trình nghiên cứu làng nghề, tác giả đã thu thập và xây dựng chuỗi

số liệu thống kê về KT - XH và chất lượng môi trường trong vòng 10 năm từ 1997 -

2006 và xây dựng số liệu thực địa trong vòng 03 năm từ 2006 - 2008 để làm cơ sở đánh giá về tác động của hoạt động sản xuất thủ công nghiệp đến môi trường làng nghề, là bước nghiên cứu quan trọng của quá trình thực hiện QHBVMT

1.3.2 Tiếp cận nghiên cứu

QHBVMT có ba nội dung cơ bản: (1) Dự báo về mặt phát triển (dự báo tăng trưởng, phát triển KT - XH, dự báo phát triển các ngành, lĩnh vực, ) (2) Dự báo diễn biến môi trường (3) Thiết lập phương án QHBVMT

Từ nhiệm vụ trên, trong QHBVMT được tiếp cận theo hình 1.1

Hình 1.1 Thoả thuận trong thực hiện QHBVMT làng nghề

a Tiếp cận địa lý

Bản chất của tiếp cận địa lý: Nghiên cứu các đối tượng tự nhiên và KT - XH

có thể theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, một trong các tiếp cận mang tính tổng hợp và đặc thù theo không gian là tiếp cận địa lý

Dự án liên huyện, xã

Dự án huyện, xã

QHBVMT làng nghề

Đề nghị

thoả thuận Quyết định

Cộng đồng

Lợi ích toàn cục

Lợi ích cục bộ

Trang 40

- Tính không gian: là đặc điểm quan trọng nhất khi nghiên cứu sự phân bố không

gian của bất kì một hiện tượng, một quá trình tự nhiên hay xã hội Đây là sự khác biệt cơ bản của tiếp cận địa lý đối với tiếp cận khác

- Tính tổng hợp và quan hệ tương hỗ: Khi khai thác các điều kiện tự nhiên và xã

hội phục vụ QHBVMT cần xem xét nhiều yếu tố và các mối quan hệ giữa chúng Điều này sẽ cho kết quả nghiên cứu gần với thực tế khách quan và hạn chế được các sai lệch có thể xảy ra

- Tính biến đổi theo thời gian của các quá trình, hiện tượng tự nhiên và xã hội

trong nghiên cứu địa lý thường được chú ý vì nó có ý nghĩa thực tiễn lớn khi dự báo

và đề xuất các biện pháp khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, BVMT Trong địa lý, tính biến đổi theo mùa thường được quan tâm nhiều do tính mùa của các điều kiện

tự nhiên có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người

- Tính cụ thể: Mỗi một khu vực cụ thể có đặc thù riêng nên biểu hiện tính không

gian, tính tổng hợp và quan hệ tương tác, tính biến đổi theo thời gian của các điều kiện không giống nhau và ngay cả trong một lãnh thổ cũng có sự khác biệt

- Bản đồ: là ngôn ngữ chung của các khoa học địa lý Tất cả các nghiên cứu địa lý

đều bắt đầu từ bản đồ (dạng tài liệu đầu vào) và kết thúc nghiên cứu phải được thể hiện trên bản đồ (dạng sản phẩm đầu ra)

Mỗi một nội dung nêu trên của tiếp cận địa lý cần có một tập hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp, thí dụ để nghiên cứu tính không gian lãnh thổ cần sử dụng các phương pháp chính như bản đồ, hệ thống thông tin địa lý, giải đoán ảnh viễn thám, còn tính biến đổi theo thời gian dùng phương pháp biểu đồ, đồ thị

b Tiếp cận kinh tế sinh thái

Mục tiêu chung của các quốc gia, các dân tộc là đẩy mạnh phát triển KT -

XH Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người bằng phát triển lực lượng sản xuất quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá Môi trường với chức năng cung cấp tài nguyên, chứa đựng và hoá giải các chất thải, là địa bàn và đối tượng của phát triển PTBV là sự phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả

Ngày đăng: 20/03/2015, 13:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Việt Anh (2008), Lựa chọn giái pháp thoát nước và xử lý nước thải chi phí thấp, bền vững, Hội thảo Môi trường sức khỏe - Hiệu quả năng lượng trong xây dựng - biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn giái pháp thoát nước và xử lý nước thải chi phí thấp, bền vững
Tác giả: Nguyễn Việt Anh
Năm: 2008
2. Nguyễn Việt Anh và nnk (2008), Bể tự hoại cải tiến kết hợp với bãi lọc ngầm trồng cây - giải pháp xử lý nước thải phân tán phù hợp với điều kiện Việt Nam, Hội thảo Môi trường sức khỏe - Hiệu quả năng lượng trong xây dựng - biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bể tự hoại cải tiến kết hợp với bãi lọc ngầm trồng cây - giải pháp xử lý nước thải phân tán phù hợp với điều kiện Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Việt Anh và nnk
Năm: 2008
3. Phạm Thị Việt Anh (2006), Kiểm toán môi trường, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán môi trường
Tác giả: Phạm Thị Việt Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
4. Toàn Ánh (1992), Làng xóm Việt Nam (nếp cũ), Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam (nếp cũ)
Tác giả: Toàn Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
5. Phí Văn Ba (1991), Gia đình nông dân đồng bằng Bắc Bộ, năng lực thích ứng với điều kiện kinh tế mới, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình nông dân đồng bằng Bắc Bộ, năng lực thích ứng với điều kiện kinh tế mới
Tác giả: Phí Văn Ba
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1991
6. Ban Khoa giáo Trung ương, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2003), Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
7. Nguyễn Quang Bảo (1998), Quan hệ giữa bảo vệ môi trường với các hoạt động sản xuất kinh doanh, Tuyển tập các báo cáo khoa học tại hội nghị môi trường toàn quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa bảo vệ môi trường với các hoạt động sản xuất kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Quang Bảo
Năm: 1998
8. Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài NCKH B2003-34-45 (2003 - 2004), Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp thoát nước và xử lý nước thải phù hợp trong điều kiện Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp thoát nước và xử lý nước thải phù hợp trong điều kiện Việt Nam
9. Bộ Xây dựng (2005), Định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển nhà ở đến năm 2020
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây dựng
Năm: 2005
10. Bộ Kế hoạch và Đầu tư & Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) (1997), Năng lực thế kỷ 21 của Việt Nam, Báo cáo dự án “Tăng cường năng lực quốc gia nhằm hoà nhập môi trường vào các quyết định đầu tư”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực thế kỷ 21 của Việt Nam", Báo cáo dự án “Tăng cường năng lực quốc gia nhằm hoà nhập môi trường vào các quyết định đầu tư
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư & Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
Năm: 1997
11. Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường - Cục Môi Trường (1995), Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường - tập I, II, Nhà xuất bản Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường - tập I, II
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường - Cục Môi Trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Quốc gia
Năm: 1995
12. Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường (2006), Hiện trạng môi trường Việt Nam 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường Việt Nam 2005
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường
Năm: 2006
13. Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường (2001), Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001 - 2010, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia 2001 - 2010
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ & Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2001
14. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA (2000), Dự án nghiên cứu hỗn hợp Việt Nam - Nhật Bản, Hội thảo về công nghiệp nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án nghiên cứu hỗn hợp Việt Nam - Nhật Bản, Hội thảo về công nghiệp nông thôn
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA
Năm: 2000
15. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và JICA (2003), Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và JICA
Năm: 2003
16. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1999), Ngành nghề nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành nghề nông thôn Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản, JICA (2002), Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản, JICA
Năm: 2002
18. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
19. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Báo cáo kết quả dự án Điều tra đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp và các làng nghề tại lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy thuộc địa phận tỉnh Hà Tây và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả dự án Điều tra đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp và các làng nghề tại lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy thuộc địa phận tỉnh Hà Tây và đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2003
20. Bộ Xây dựng (2008), Tuyển tập tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam, tập II, Tiêu chuẩn thiết kế, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam, tập II, Tiêu chuẩn thiết kế
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Nhà xuất bản Xây dựng
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Thoả thuận trong thực hiện QHBVMT làng nghề - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 1.1. Thoả thuận trong thực hiện QHBVMT làng nghề (Trang 39)
Hình 2.5. Sơ đồ công nghệ tái chế kim loại rút gọn - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 2.5. Sơ đồ công nghệ tái chế kim loại rút gọn (Trang 55)
Bảng 2.4. Định mức tiêu thụ nước [33] - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Bảng 2.4. Định mức tiêu thụ nước [33] (Trang 58)
Bảng 3.3. Dự báo số lƣợt xe ôtô, xe máy của xã Phùng Xá và Duyên Thái - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Bảng 3.3. Dự báo số lƣợt xe ôtô, xe máy của xã Phùng Xá và Duyên Thái (Trang 105)
Bảng 3.4. Dự báo tải lƣợng ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Bảng 3.4. Dự báo tải lƣợng ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông (Trang 106)
Bảng 3.12. Dự báo tỷ lệ thu gom chất thải rắn đến năm 2020 (đơn vị: %) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Bảng 3.12. Dự báo tỷ lệ thu gom chất thải rắn đến năm 2020 (đơn vị: %) (Trang 110)
Hình 3.7. Sơ đồ phương án công nghệ xử lý nước thải sản xuất - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.7. Sơ đồ phương án công nghệ xử lý nước thải sản xuất (Trang 131)
Hình 3.8. Hệ thống thu gom, vận chuyển và lưu chứa chất thải rắn - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.8. Hệ thống thu gom, vận chuyển và lưu chứa chất thải rắn (Trang 132)
Hình 3.9. Quy trình sản xuất sạch hơn [57] - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.9. Quy trình sản xuất sạch hơn [57] (Trang 134)
Hình 3.10. Tháp xử lý bụi và khí thải [33];       Hình 3.11. Thiết bị hút nóng [53] - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.10. Tháp xử lý bụi và khí thải [33]; Hình 3.11. Thiết bị hút nóng [53] (Trang 135)
Hình 3.13. Mô hình xử lý nước thải tại cơ sở sản xuất sơn mài nhỏ - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.13. Mô hình xử lý nước thải tại cơ sở sản xuất sơn mài nhỏ (Trang 137)
Hình 3.16. Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở xã Phùng Xá - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.16. Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở xã Phùng Xá (Trang 140)
Hình 3.17. Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở - hộ gia đình xã Duyên Thái - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.17. Sơ đồ cấu trúc đơn vị ở - hộ gia đình xã Duyên Thái (Trang 141)
Hình 3.20. Biểu đồ đường cong lợi ích - chi phí  của cơ sở sản xuất cũ và cơ sở - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.20. Biểu đồ đường cong lợi ích - chi phí của cơ sở sản xuất cũ và cơ sở (Trang 147)
Hình 3.6. Sơ đồ và nguyên tắc làm việc của hệ thống xử lý bụi sơn và hơi dung môi - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây
Hình 3.6. Sơ đồ và nguyên tắc làm việc của hệ thống xử lý bụi sơn và hơi dung môi (Trang 188)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm