đánh giá nguồn nước được thường xuyên sử dụng tại một địa điểm cụ thể (trường đại học kinh tế quốc dân) bao gồm nước sử dụng tại các khu vệ sinh trên giảng đường, nước khu vực kí túc xá mà sinh viên sinh hoạt hằng ngày, nước mà nhân viên trung tâm dịch vụ và hỗ trợ đào tạo sử dụng để bán hàng cho sinh viên, nấu cơm, nấu tiệc. Sạch như thế nào, bẩn như thế nào, tình trạng ra sao. Giải pháp cho vấn đề là gì. Sinh viên nên có những biện pháp gì để cải thiện tình trạng nước mà mình đag sử dụng
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN
Đề tài: Khảo sát đánh giá các nguồn nước thải trong
trường Đại học Kinh tế Quốc dân và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu, xử lý
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân (ĐH KTQD) là một trong những trường đạihọc đứng đầu cả nước tuy nhiên vấn đề môi trường của trường còn nhiều điềuđáng e ngại Bên cạnh những điểm mạnh như tương đối nhiều cây xanh, nhiều cây
cổ thụ, hoa, khuôn viên rộng và khá đẹp, khu giảng đường rộng và mát thì vẫn còntồn tại những điểm yếu Chúng tôi xây dựng đề tài này nhằm khảo sát đánh giá cácnguồn nước thải trong khu vực trường Đại học Kinh tế Quốc dân từ đó đề xuất cácgiải pháp giảm thiểu, xử lý nguồn nước thải trên
Trong khu vực trường Đại học Kinh tế Quốc dân, ngoài lượng nước thải từhoạt động thi công xây dựng thì chủ yếu là nước thải từ hoạt động sinh hoạt vànước thải tự nhiên Lượng nước thải này là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu cho môitrường xung quanh Nếu thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý thì sẽ ảnhhưởng rất lớn đối với sức khỏe con người xung quanh khu vực và phần nào làmsuy thoái môi trường chung, nhất là khi lượng người qua lại nơi đây là rất lớn.Hiện tượng sử dụng lãng phí nguồn nước khiến nhà trường phải chịu thêm gánhnặng chi phí, cả về kinh tế và môi trường cũng cần được đưa ra xem xét
Hơn nữa, hiện nay việc phát thải trong các nhà vệ sinh cũng như các khu vựckhác trong trường thường gây mất mỹ quan và gây cảm giác khó chịu ảnh hưởngđến hoạt động của sinh viên cũng như giảng viên trong trường, khiến bộ mặt củatrường bị ảnh hưởng xấu Từ đó, chúng ta cần tìm ra những giải pháp cấp thiết đểkhắc phục được những vướng mắc trên phù hợp với quy hoạch phát triển củatrường cũng như định hướng phát triển chung về bảo vệ môi trường của thành phố
3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Đối tượng nghiên cứu là các nguồn phát sinh nước thải, hoạt động quản lí xử línước thải ở trường đại học Kinh Tế Quốc Dân Cụ thể là các nguồn phát sinh nướcthải ở các khu vực sau: khu vực giảng đường ( các giảng đường C, B, B2, D, D2,nhà văn hóa, căng tin giảng đường), khu vực kí túc xá (các nhà 11, 1, 2, 3, 4, căngtin kí túc xá), khu vực thi công.
4 Đối tượng điều tra
- Sinh viên trường đại học KTQD
- Nhân viên lao công tại trường
- Người dân sống xung quanh trường
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra thực địa : Thu thập số liệu thông qua việc quan sát trựctiếp các nguồn phát sinh nước thải, kết hợp phỏng vấn sinh viên và nhân viên laocông và người dân xung quanh trường bằng cách viết phiếu điều tra và gửi bảnghỏi online
Phương pháp chuyên gia : hỏi và tham khảo ý kiến của thầy hướng dẫn
Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích, xử lí, tổng hợp số liêu thông tin vàđưa ra kết luận, từ thực trạng các nguồn phát sinh nước thải đã điều tra được đốichiếu so sánh với tình trạng xử lí các nguồn phát sinh chất thải hiện có của trường
6 Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài gồm 3 phần:
Chương 1 Cơ sở lý luận về nước thải
Chương 2 Thực trạng nguồn nước thải trong trường Đại học Kinh tế Quốc dânChương 3 Một số giải pháp giảm thiểu, xử lý nguồn nước thải trong trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân
Trang 5I) Cơ sở lý luận về nước thải
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nước thải là nước
đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ
và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó
Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng.Theo cách phân chia này, ta có:
Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt từ cáckhu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ
1.2 Cơ sở pháp luật về ô nhiễm nước và xử lý ô nhiễm nước
Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể và liên tục để kiểmsoát ô nhiễm, hiện trạng môi trường ở Việt Nam vẫn tiếp tục suy thoái, đặc biệt lànguồn nước Từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản phápluật nhằm củng cố việc kiểm soát ô nhiễm nước Cụ thể như
Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005
Luật Tài nguyên nước năm 2012
Nghị định 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò,khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả thải vào nguồn nước
Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 qui định về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước,
Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đốivới nước thải (sau đây gọi tắt là Nghị định 67)
Trang 6Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng (sau đây gọi tắt là Quyết định 64)…
Trong số các văn bản pháp luật này, Nghị định 67 và Quyết định 64 đóng vaitrò quan trọng nhất về kiểm soát ô nhiễm nước
1.3 Vấn đề nước thải ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trongviệc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ônhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khánhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nướctrong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làngnghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn ở các thành phốlớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước dokhông có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất côngnghiệp là rất nặng Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-)vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn chophép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư Mức độ
ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung làrất lớn
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệthống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương).Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnhviện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng chất thải rắnlớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra
ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thànhphố lớn là rất nặng Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lêntới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lýnước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lýnước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang
xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoàtan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quyđịnh cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sởsản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời Không chỉ ở Hà Nội, thành phố HồChí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải
Trang 7Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơitiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng(SS), BOD, COD, ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêuchuẩn cho phép
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiệnnay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầngcòn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nênthấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặthữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MPN/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MPN/100ML ở các kênh tưới tiêu Trong sản xuất nông nghiệp, do lạmdụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ônhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môitrường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môitrường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệmôi trường Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cánhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ;chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp,hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triểnbền vững của đất nước Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước cònthiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho côngtác quản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơquan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy địnhtrách nhiệm rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệtài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp
lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nêntình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước
Sự nhiễm bẩn nguồn nước có thể xảy ra theo hai cách: nhiễm bẩn tự nhiên vànhiễm bẩn nhân tạo
Trang 8Nhiễm bẩn tự nhiên do nước mưa chảy tràn trên bề mặt đất mang theo chất bẩn và
vi khuẩn vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước tiếp nhận
Nhiễm bẩn nhân tạo chủ yếu do xả các loại nước thải vào nguồn tiếp nhận
Nước thải gây nhiều ảnh hưởng đối với nguồn nước tiếp nhận như:
Xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước hoặc có cặn lắng Chúng tạo nên lớpmàng dầu, mỡ nổi trên mặt nước và lắng cặn xuống đáy Chúng làm cho nước cómùi vị đặc trưng và làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước Với hàm lượng dầu0.2-0.4 mg/l sẽ làm cho nước có mùi dầu Khử mùi dầu là một việc khó khăn.Tôm, cá sống trong nước bị nhiễm bẩn do các sản phẩm dầu mỡ có tốc độ sinhtrưởng kém, thậm chí không sinh trưởng được và thịt có mùi dầu
Nước bị thay đổi tính chất lý học Nguồn nước tiếp nhận nước thải sẽ bị đục, cómàu, có mùi do các chất thải đưa vào hoặc do sự phát triển của rong, rêu, tảo, sinhvật phù du tạo nên
Thay đổi tính chất hóa học: Tính chất hóa học của nguồn nước tiếp nhận sẽ bị thayđổi phụ thuộc vào loại nước thải đổ ra Hiện tượng này tạo ra là do nước thải mangtính axit hoặc kiềm hoặc chứa các loại hóa chất làm thay đổi thành phần và hàmlượng các chất có sẵn trong thủy vực
Nguồn nước xuật hiện hoặc làm tăng các loại vi khuẩn gây bệnh Nước thải kéotheo nhiều loại vi khuẩn gây bệnh vào nguồn nước tiếp nhận làm suy giảm chấtlượng nước
Như vậy, nước thải nếu bị lưu đọng hoặc không được xử lý đạt yêu cầu sẽ gây ônhiễm môi trường, gián tiếp gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, đặc biệt hậu quảkéo theo gây tác động xấu đến các loài sinh vật và con người
II) Thực trạng các nguồn nước thải trong trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Nhóm đã tiến hành thu thập thông tin theo các khu vực:
Giảng Đường: nhóm lấy ý kiến đánh giá của… sinh viên và … cô lao công
Ký Túc Xá: nhóm lấy ý kiến đánh giá của …sinh viên nội trú trong kí túc xá.Canteen, nhà ăn: nhóm lấy ý kiến đánh giá của … nhân viên làm việc
Khu vực xây dựng: lấy ý kiến đánh giá của …công nhân công trường
2.1.1 Kết quả khảo sát khu vực giảng đường
a, Tần suất sử dụng nhà vệ sinh của sinh viên
Trang 9Hầu hết sinh viên ít khi sử dụng nhà vệ sinh trong trường, số lượng này chiếmtới 51%, 30% sinh viên sử dụng thỉnh thoảng, 13% sinh viên sử dụng khoảng 1lần/ngày và con số với sinh viên sử dụng thường xuyên chỉ là 6% Với trung bìnhmột buổi học là 4 tiết với K52 và K53, 3 tiết với K54 và 55, con số này cho thấysinh viên thường không có thói quen sử dụng nhà vệ sinh trong các giảng đường.
Cơ sở vật chất chung của trường chưa cao, đồng nghĩa với việc các nhà vệ sinhchưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị Hầu hết các nhà vệ sinh đều sử dụnghình thức dội nước bằng ca, gáo; chất lượng nước không đảm bảo; có mùi khóchịu cũng là những lý do khiến các sinh viên không thích sử dụng các nhà vệ sinhtrong các giảng đường Lượng nước thải trung bình mỗi lần đi vệ sinh khoảng 1.25lít Một ngày 1 sinh viên trung bình sử dụng trung bình 0.34 lần, với số lượng sinhviên tính riêng hệ chính quy (khoảng 20000sinh viên) chưa kể tại chức và liênthông, lượng nước thải trung bình một ngày từ các nhà vệ sinh xấp xỉ 8500lít/ngày tương đương 85 m3/ngày (2550m3/tháng) Một lượng nước thải không nhỏvới các thành phần chủ yếu là các chất hữu cơ, vi khuẩn, ni tơ, phốt pho …
51.00%
30.00%
13.00%
6.00%
Biểu đồ tần suất sử dụng nhà vệ sinh
của sinh viên
Ít sử dụng2-3 lần 1 tuần
1 lần / ngàythường xuyên
b, Chất lượng nước trong các nhà vệ sinh trong trường
Số liệu điều tra cho thấy 41,66% sinh viên cho rằng nước trong các nhà vệ sinhbẩn Nước sử dụng sau khi đi vệ sinh và rửa tay thường xuyên có màu đen và đượcchứa trong những bể nước rêu bám xung quanh và có mùi tanh
Trang 10c, Điều kiện nhà vệ sinh.
Đánh giá chung cho rằng nhà vệ sinh trong trường là tương đối bẩn và hôi.62% sinh viên cho rằng các nhà vệ sinh bẩn và rất bẩn Chỉ có 11% cho rằng cácnhà vệ sinh sạch, chủ yếu là những sinh viên sử dụng nhà vệ sinh thuộc giảngđường D2, tuy nhiên, nhà vệ sinh ở giảng đường này thỉnh thoảng trong tình trạng
“hỏng” Rất nhiều ý kiến cho rằng nước trong nhà vệ sinh hay bị tràn ra nền nhàlàm cho nền nhà ẩm ướt và bẩn đặc biệt là trong những ngày mưa
Trang 11d, Việc sử dụng nước dọn nhà vệ sinh của lao công
Trung bình, lao công dọn nhà vệ sinh một ngày 1 lần, riêng giảng đường D2dọn trung bình 2 lần Qua đó cũng có thể thấy lý do nhà vệ sinh của khu giảngđường D2 sạch sẽ hơn các khu giảng đường khác 100% lao công sử dụng nướcthoải mái khi dọn nhà vệ sinh mà không cần tiết kiệm 80% lao công cho rằngnước trong nhà vệ sinh bình thường, chỉ có 20% cho rằng nước trong nhà vệ sinhbẩn, tanh và nhiều cặn, có lao công còn cho rằng nước sạch đến mức có thể rửarau trong nhà vệ sinh Tất cả các lao công đều sử dụng các chất tẩy rửa manh khidọn nhà vệ sinh mà không hề quan tâm sự độc hại cũng như khả năng gây ô nhiễmnước mạnh của các chất tẩy rửa
e, Tiểu kết
Lượng nước được sử dụng ở khu vực này không nhiều, do nước chỉ sử dụngcho khu vệ sinh, để dọn dẹp, lau chùi Tuy nhiên chất lượng nước ở các khu nhàchưa cao Phần lớn nước có màu đen, xanh đen, có mùi tanh khó chịu Nước thảichủ yếu từ các nhà vệ sinh do chất thải vệ sinh và hoạt động tẩy rửa của lao công.2.1.2 Kết quả khảo sát khu vực kí túc xá (KTX)
a, Lượng nước sử dụng
Lượng nước trung bình sinh viên sử dụng trong 1 tháng là 14,08 m3 /tháng/phòng Trung bình mỗi phòng có 9 người Như vậy, lượng nước thải sinh hoạt củasinh viên nội trú là 1.57 m3/người/tháng Tổng số sinh viên nội trú bao gồm cả du
Trang 12học sinh và khách khoảng 3250 người Như vây, một tháng, lượng nước thải sinhhoạt của sinh viên lên tới 5102,5 m3
b, Ý thức tiết kiệm nước của sinh viên
Chỉ có 4% sinh viên có ý thức tiết kiệm nước trong khi 96% sinh viên sử dụngnước thoải mái và không có ý thức tiết kiệm Nguyên nhân do hầu hết sinh viênchưa ý thức được tầm quan trọng của nước và việc tiết kiệm nước Ở kí túc xá, doquy định cắt nước và cấp nước của ban quản lý nên khi được cấp nước, sinh viên
“tranh thủ” dùng triệt để Hơn nữa, do tiền nước kí túc đã được bao phí trọn góitrong tiền phòng nên sinh viên không cần lo về chi phí sử dụng nước