Trước đây, khi còn trong chế độ bao cấp, ngành giáo dục nước ta chủ yếu chịu sự quản lý và đầu tư của nhà nước, từ sau Đại hội VIII Đảng và Nhà nước khuyến khích mở cửa trong đầu tư giáo dục, xã hội hóa giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư của ngành, giảm gánh nặng đầu tư cho nhà nước, nâng cao hiệu quả trong đầu tư
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào Thế kỷ 21 ngành Giáo dục Việt Nam đã trải qua hơn 15 năm đổimới và thu được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hóa cáchình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường, trình độ dân trí đượcnâng cao, chất lượng giáo dục có những chuyển biến bước đầu Đảng và nhà nước
ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là nền tảng, nguồnnhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàndân, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình
độ được học tập thường xuyên, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sựnghiệp giáo dục.Trước đây, khi còn trong chế độ bao cấp, ngành giáo dục nước tachủ yếu chịu sự quản lý và đầu tư của nhà nước, từ sau Đại hội VIII Đảng và Nhànước khuyến khích mở cửa trong đầu tư giáo dục, xã hội hóa giáo dục nhằm đápứng yêu cầu đầu tư của ngành, giảm gánh nặng đầu tư cho nhà nước, nâng cao hiệuquả trong đầu tư Để đánh giá được tầm quan trọng và hiệu quả của vốn ngân sáchnhà nước đầu tư phát triển ngành giáo dục trong thời gian qua, và vai trò của vốnngân sách nhà nước cho giáo dục trong thời gian tới, đề tài được nghiên cứu trong
chuyên đề tốt nghiệp đó là: “Đầu tư phát triển giáo dục đào tạo bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: Thực trạng và giải pháp” Nội dung chính của đề tài bao
gồm 3 phần chính:
Chương 1: Giáo dục đào tạo và đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo Nội dung chính của chương nhằm tìm
hiểu những vấn đề chung nhất về đầu tư phát triển ngành giáo dục, vai trò của đầu
tư phát triển ngành giáo dục, vị trí nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư pháttriển ngành giáo dục
Chương 2:Thực trạng đáu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 Nội dung chính của chương
Trang 2xây dựng hình ảnh tổng quan về hiên trạng ngành giáo dục Việt Nam qua đó đánhgiá tình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục từ nguồn vốn ngân sách nhà nước từnăm 2001 đến nay.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu
tư phát triển ngành giáo dục đào tạo bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 Nội dung chính của chương đề cập đến chiến lược đầu tư phát
triển ngành giáo dục đến năm 2020 của Đảng và nhà nước, trên cơ sở đó cùng vớitình hình đầu tư phát triển ngành giáo dục đã đề cập đến ở chương 2, xây dựng nênmột số giải pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển ngànhgiáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trong thời gian tới
Trang 3CHƯƠNG I GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN BẰNG NGUỒN VỐN NSNN CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1 Vai trò và hệ thống giáo dục đào tạo trong nền KTQD
1.1.1 Vai trò của giáo dục và đào tạo trong nền KTQD
Giáo dục được xem là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đếnquyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế- xã hội, đồng thời cótác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia Nghịquyết trung ương 4 khoá VII nêu rõ: “cùng với khoa học công nghệ, GD-ĐT là quốcsách hàng đầu “ và báo cáo Chính trị của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại Đạihội lần thứ IX Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định : “Phát triển giáo dục - đào tạo
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH, là điềukiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Giáo dục đào tạo có 3 chức năng chính:
- Chức năng kinh tế: Thứ nhất, giáo dục là con đường cơ bản nhất để tích luỹ
vốn nhân lực - nhân tố quyết định tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Đào tạo nên một lớp người mới có năng lực cần thiết để đáp ứng đòihỏi của nền sản xuất cụ thể Đối với sự phát triển nền kinh tế thì đây là lực lượngquan trọng vào bậc nhất Thứ hai, giáo dục có vai trò quyết định đến phát triển vàlàm chủ KHCN hiện đại – nhân tố bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế cao và bềnvững Giáo dục đào tạo có chức năng truyền bá kiến thức khoa học cho nhữngngười có năng lực học tập và vận dụng vào thực tế Không những đào tạo được độingũ cán bộ khoa học mà còn sản sinh ra kiến thức khoa học thông qua hệ thốngNghiên cứu khoa học của các trường Đại học Thứ ba, giáo dục góp phần quantrọng thúc đẩy việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền KTQD phù hợp với xuhướng phát triển của mọi thời đại
- Chức năng chính trị- xã hội: Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, từ
khi xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì giáo dục đào tạo luôn là công cụ quan trọngcủa Nhà nước Xét về bản chất, giáo dục đào tạo thực sự gắn bó với xu hướng chính
Trang 4trị tiến bộ Nền giáo dục nước ta hiện nay là nền giáo dục được ra đời và phát triểnnhờ một thể chế chính trị cách mạng tiến bộ Mục tiêu xã hội chủ nghĩa và độc lậpđược quán triệt một cách sâu rộng trong toàn bộ hệ thống giáo dục giáo dục ViệtNam.
- Chức năng tư tưởng văn hoá: Giáo dục đào tạo không chỉ tạo ra
con người phát triển về trí tuệ, kỹ năng lao động mà còn đảm bảo cho việc hìnhthành một hệ tư tưởng, hình thành một nếp sống mới trên nền tảng của một nềnvăn hóa mới, nhân sinh quan mới
1.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm Giáo chính quy và Giáodục thường xuyên
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
Giáo dục mầm non có nhà trẻ mẫu giáo
Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Giáo dục dạy nghề có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ Cao đẳng, trình độ Đạihọc, trình độ Thạc sỹ, trình độ Tiến sỹ
Gắn với hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, khối giáo dục bao gồm giáodục mầm non và giáo dục phổ thông; khối đào tạo bao gồm giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục đại học
Trang 5Sơ đồ 1.1: Hệ thống giáo dục ở Việt Nam
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THCS
TIỂU HỌC
MẪU GIÁO
NHÀ TRẺ
Trang 6Bảng 1.1 Bảng hệ thống bằng cấp ở Việt Nam
khung củaquá trìnhGD-ĐT
Tuổichuẩn vàolớp đầu
Điều kiện học lực
để được vào lớpđầu
III GD chuyên nghiệp
- Đào tạo nghề sao tiểu học
- Đào tạo nghề sau trung
học cơ sở
- Trung học chuyên nghiệp
- Trung học nghề
Dưới 1 năm1-2 năm3-4 năm3-4 năm
Bằng trung học chuyên nghiệp
Bằng trung học nghề
IV Bậc giáo dục đại học
trung học chuyên nghiệp hoặc trung học nghề
Bằng cao đẳng
trung học chuyên nghiệp hoặc trung học nghề
Hoàn thành giai đoạn 1:Chứng chỉ đại học đại cương
Hoàn thành giai đoạn 2:Bằng cử nhân
Trang 71.2 Vai trò của NSNN đối với giáo dục đào tạo
1.2.1 Khái niệm và bản chất của NSNN
1.2.1.1 Khái niệm
NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền với sựxuất hiện, tồn tại của Nhà nước phát triển đến một trình độ nhất định Sự xuất hiệncủa Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những nguồn lực tài chính để đáp ứngchi tiêu nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhànước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thựchiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” ( Theo Luật NSNN )
Các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác:
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các doanh nghiệp+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với hộ gia đình
+ Quan hệ kinh tế với cá nhân trong và ngoài nước gắn liềnvới quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách
-Về tính chất: NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà nước, làmức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là khoản cấp phát của Nhànước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó cũng là đóng góp theonghĩa vụ hay tự nguyện của mỗi thành viên trong xã hội cho Nhà nước và Nhànước cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành viên trong xã hội
1.2.2 Đặc điểm và vị trí của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục
Trang 81.2.2.1 Đặc điểm của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục
Ngành giáo dục là một ngành mang tính chất khá đặc thù, không giống nhưcác ngành đầu tư vào phát triển sản xuất khác Việc bỏ vốn đầu tư vào Giáo dục đàotạo, không thể đo đếm hiệu quả bằng các chỉ tiêu kinh tế như doanh thu, lợi nhuận;hiệu quả của hoạt động đầu tư phải sau một thời gian dài mới thấy được hiệu quả.Chính vì vậy, đặc điểm đầu tiên của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tưphát triển ngành giáo dục đó là thành quả của hoạt động đầu tư phát triển không thểlượng hóa bằng các con số về lợi nhuận một cách cụ thể, mà chỉ được nhận thấy quacác chỉ tiêu về số trường lớp được xây dựng mới, tỷ lệ trẻ lên lớp, số học sinh giỏitrong năm học, số giải đạt được trong các kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc và quốc tế,
tỷ lệ gia tăng về quy mô học sinh, sinh viên hàng năm…
1.2.2.2 Vị ví của nguồn vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư phát triển ngành giáo dục
Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu của ngành giáo dục Nhànước ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các ngành khác Trong vănkiện Đại hội X của Đảng đã tiếp tục khẳng định trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụchiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; trong thời gian từ nay đếnnăm 2015 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
1.2.3 Vai trò của NSNN với giáo dục đào tạo
Trong số các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục đào tạo thì đầu tư từngân sách Nhà nước là tất yếu đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chấtlượng và hiệu quả giao dục Sở dĩ NSNN đong vai trò chỉ đạo là vì:
- Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm một tỷtrọng lớn Mà trong tài chính Nhà nước bao gồm NSNN và tín dụng Nhà nước thìNSNN có tỷ trọng lớn nhất Trong các nhu cầu tiêu dùng xã hội mà NSNN đảmbảo thì theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước thì nhu cầu cho giáo dụcđào tạo đứng hàng đầu
Trang 9- Thứ hai, đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, huy động các nguồn
vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo vì giáo dục là hàng hoá công cộng, tạo rangoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực
- Thứ ba, NSNN đầu tư cho giáo dục đào tạo sẽ đảm bảo từng bước ổn định
đời sống của cán bộ công nhân viên làm trong ngành giáo dục NSNN ngoài chitrả tiền lương chính cho đội ngũ giáo viên giảng dạy còn dành một phần để ưu đãiriêng cho nghành giáo dục như phụ cấp giảng dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấptrách nhiệm , phụ cấp dạy thêm giờ,…
- Thứ tư, NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo dục toàn nghành Thông
qua định mức chi ngân sách giáo dục đào tạo hàng năm đã góp phần định hướngsắp xếp cơ cấu các cấp học, mạng lưới trường Tập trung NSNN cho nhữngchương trình mục tiêu quốc gia như chốn mù chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng hệthống trường dân tộc nội trú, khuyến khích phát triển giáo dục ở vùng núi và dântộc ít người, tăng cường cơ sở vật chất cá trường học,…
- Thứ năm, đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng xã hội
trong giáo dục Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trườngkhông có sự đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khả năng chi trả cáckhoản chi phí giáo dục sẽ không có cơ hội được học tập, tiếp thu kiến thức, từ đómất công bằng xã hội trong giáo dục
- Thứ sáu, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục nhằm để khắc phục khiếm
khuyết của thị trường vốn Trên thực tế, thị trường vốn cho việc đầu tư vào giáodục là không hoàn hảo Vì hầu như không có cơ sở nào cho việc xác định khảnăng chắc chắn để hoàn trả lại các khoản vay cho việc học tập của các cá nhân saukhi đã kết thúc khoá học Do vậy, các chủ thể cho vay không dễ dàng chấp nhận
bỏ vốn để đầu tư vào giáo dục Để khắc phục khiếm khuyết này cần thiết phải có
sự can thiệp và đầu tư của Nhà nước cho giáo dục
Nhìn chung trên thực tế tại Việt Nam hiện nay nguồn lực tài chính để pháttriển giáo dục chủ yếu từ nguồn NSNN NSNN đóng vai trò quan trọng, là yếu tốchính quyết định tới sự nghiệp giáo dục đào tạo
Trang 101.3 Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo
1.3.1 Khái niệm đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo
Đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn NSNN là hoạt động sửdụng các nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng sửa chữanhà cửa kiến trúc hạ tầng mua sắm trang thiết bị, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực,thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằmduy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở hạ tầng của ngành Giáo dục đang tồn tại vàtạo và nâng cao chất lượng đào tạo của ngành giáo dục
1.3.2 Vai trò đầu tư phát triển giáo dục đào tạo
a) Góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình hoàn thiện hạ tầng xã hội, hạ tầngsản xuất, thượng tầng kiến trúc của đất nước, một cách hoàn chỉnh và phục vụ tốtnhất cho đời sống của con người Mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa là xâydựng nước ta thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấukinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, đời sống tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giầu,nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Như vậy, công nghiệp hóa không phải là chỉphát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch
vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phonglao động, kỹ năng sản xuất Để làm được điều này, cần phải có đội ngũ nguồn nhânlực được qua đào tạo tỷ mỉ bài bản, trau chuốt từ đạo đức đến những kỹ năng nghềnghiệp
b) Góp phần phát triển và nâng cao trình độ công nghệ của đất nước
Công nghệ kỹ thuật được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh mẽđến tăng trưởng trong điều kiện kinh tế hiện đại Nguồn nhân lực đóng vai trò rấtquan trọng trong quá trình phát triển của công nghệ kỹ thuật, nguồn nhân lực đượcđào tạo, trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết để tiếp cận với công nghệ hiện đại củathế giới và có điều chỉnh phù hợp với nền sản xuất trong nước, tạo điều kiện nângcao và phát triển nền công nghệ trong nước Hệ thống giáo dục đồng bộ, hoàn thiện
sẽ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 11c) Góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Mục tiêu của giáo dục là tạo ra con người có đạo đức, tri thức và kỹ năng;đào tạo là là hình thức dậy dỗ nhằm tạo ra con người thành thạo kỹ năng nghềnghiệp Giáo dục cũng đồng thời cung cấp kỹ năng để con người xây dựng cuộcsống hạnh phúc, văn minh, nhưng vẫn giữ gìn được văn hóa truyền thống của dântộc Nền giáo dục nước ta cũng đang tìm ra những biện pháp để đạt được nhữngmục tiêu trên góp phần định hướng cho lớp trẻ có được những nhận thức đúng đắn,hiểu biết về những nét văn hóa mạng tính truyền thống của dân tộc, để tự bản thân
có được nhận thức và hình thành những lối sống hiện đại nhưng vẫn duy trì đượcnét văn hóa của người Việt Nam Việc giáo dục cho từng cá nhân trong xã hội cóđược nhận thức, lối sống tốt là điều kiện để Việt Nam có thể “hòa nhập nhưngkhông hòa tan”
d) Góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực là một trong những tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp.Đây là một loại tài sản vô hình, không thể xác định được đặc điểm vật chất củachính nó nhưng lại có giá trị lớn và có khả năng sinh ra lợi nhuận Nó là thước đohiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trướcmắt và trong tương lai Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là tài sản mà còn lànguồn vốn của doanh nghiệp Vốn trí tuệ tiềm ẩn trong mỗi con người, sau khi đượcđào tạo qua trường lớp thì những kỹ năng kiến thức của con người sẽ càng ngàycàng hoàn thiện hơn Nếu như hệ thống giáo dục ngay từ khi còn là học sinh phổthông biết được vai trò cũng như tầm quan trọng của vốn trí tuệ nhằm định hướngcho học sinh phát huy khả năng tư duy, sáng tạo, năng lực tiềm ẩn trong chính bảnthân mình, trở thành một đội ngũ nhân lực là tài sản cũng là nguồn vốn quý giá nhấtcủa doanh nghiệp
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển ngành giáo dục bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
1.4.1 Cơ chế chính sách và trình độ quản lý
Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chịu sự quản lý chặt chẽ củaNhà nước, tuy nhiên không phải khi Nhà nước quản lý ở tất cả mọi mặt thì nguồnvốn đó sẽ phát huy tác dụng một cách tốt nhất Vì vậy, để đảm bảo cho nguồn vốnđầu tư được bố trí hợp lý cần phải tăng cường chất lượng của công tác lập kế hoạch,
Trang 12tiến hành dự báo thường xuyên và tăng cường cung cấp thông tin về lượng vốn cầnthiết cho đầu tư phát triển.
1.4.2 Đăc trưng của ngành giáo dục trong thời kỳ mới
Với quan điểm chỉ đạo “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục
là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xãhội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, vì vậy nhà nước giành sự quan tâm rấtlớn trong phát triển ngành giáo dục Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học côngnghệ, sự phát triển năng động của nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóadang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nênhiện thực hơn và nhanh hơn Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sựphát triển kinh tế - xã hội Giáo dục là nêng tảng của sự phát triển khoa học – côngnghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai tròchủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiện và năng lực củacác thế hệ hiện nay và mai sau Đây là đòi hỏi khách quan cần có sự quan tâm vàđầu tư phát triển ngành Giáo dục
Nguồn vốn giành cho đầu tư giáo dục cũng có những chuyển biến về cơ cấu,hiện nay phần lớn nguồn vốn đầu tư cho giáo dục là từ ngân sách nhà nước, nhưngtrước những thay đổi của bối cảnh quốc tế, cơ cấu nguồn vốn thay đổi theo hướnggiảm tỷ trọng nguồn vốn ngân sách nhà nước, gia tăng tỷ trọng nguồn vốn của các
cá nhân tổ chức trong nước và ngoài nước, giảm gánh nặng của nhà nước và tăngchất lượng đào tạo, đổi mới hệ thống cơ sở vật chất
1.4.3 Các nhân tố về kinh tế xã hội
Do đặc điểm kết cấu của cơ sở hạ tầng giáo dục của Việt Nam, các trườngđại học phân bố không đồng đều, thường tập trung ở các thành phố lớn, vì vậy mànguồn vốn giành cho đầu tư phát triển ngành giáo dục đạo tạo cũng có sự phẩn bổkhông đồng đều giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước Nguồn vốn ngân sách hàngnăm giành cho các ngành tăng giảm phụ thuộc rất nhiều vào tổng thu ngân sách nhànước hàng năm Nếu tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm lớn thì phần ngân sáchgiành để đầu tư phát triển cho ngành Giáo dục nói riêng và các ngành khác nóichung sẽ có xu hướng tăng lên Các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm: thu từkinh tế Nhà nước, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu thuế công,
Trang 13thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước, thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao, thu phí, lệ phí,…các khoản thu này chịu ảnh hưởng rất nhiều của các nhân tốkinh tế như: tăng trưởng kinh tế hàng năm, lạm phát, điều kiện kinh tế thế giới…
1.4.4 Một số nhân tố khác
Quan điểm phát triển của nhà nước, đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp
đến các định hướng phát triển của các ngành nói chung và của ngành giáo dục nóiriêng Quan điểm phát triển của nhà nước sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu, định hướngphát triển, cơ cấu nguồn vốn đầu tư Theo từng thời kỳ, Nhà nước có quản điểmphát triển khác nhau phù hợp với điều kiện khách quan và sự phát triển của đấtnước Hiện nay, với quan điểm xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc,khoa học, hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đặc điểm đầu tư vào ngành giáo dục, đầu tư phát triển giáo dục đào tạo
không giống với đầu tư phát triển các ngành sản xuất Hiệu quả của quá trình đầu tưchỉ có thể thấy được sau một quá trình rất dài Có thể thấy, việc bỏ ra chi phí để đàotạo một con người bắt đầu tư khi cho trẻ đi học mẫu giáo rồi trải qua các bậc họctiểu học, trung học, đại học; sau các bậc học này mới có thể thấy người công dân đócống hiến được những gì cho xã hội; và những cống hiến này cũng rất khó để lượnghóa được thành các con số doanh thu, lợi nhuận, NPV…để đánh giá xem dự án đầu
tư đó có hiệu quả hay không hiệu quả Vì đặc trưng này nên rất ít các tổ chức, cánhân muốn tham gia vào đầu tư phát triển, nguồn vốn chủ yếu cho phát triển củangành hiện nay chủ yếu là nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn đi vay viện trợnước ngoài
1.5 Nội dung đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tạo 1.5.1 Giáo dục và đào tạo
Hệ thống giáo dục của Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đadạng hóa được hình thành với đầy đủ các cấp học từ giáo dục mầm non, giáo dụctrung học, giáo dục thường xuyên, giáo dục đại học và cao đẳng, giáo dục chuyênnghiệp Với những đặc thù của từng bậc học, nhà nước cũng đã có những phươnghướng, nội dung cụ thể để đầu tư hoàn thiện các cấp học, cụ thể:
Đối với giáo dục mầm non, nhà nước đã có những quy định chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non làm căn cứ để các giáo viên và các cơ sở giáo dục thực
Trang 14hiện, ban hành chiến lược đầu tư đổi mới trong giáo dục mầm non, ban hành chínhsách mới về giáo dục mầm non như quy hoạch đất đai, hỗ trợ giáo viên ngoài cônglập, mua sắm trang thiết bị, đồ chơi; xây dựng trường chuẩn quốc gia, bồi dưỡngchuyên môn chi đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Đối với giáo dục tiểu học, nhà nước không trực tiếp quản lý mà đã tăng
cường giao quyền chủ động cho các địa phương, các nhà trường, và các giáo viêntrong việc xây dựng các kế hoạch dạy học, thực hiện chương trình, sách giáo khoa,soạn giáo án và chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy và học tập Các địaphương đã tiếp tục chỉ đạo đầu tư đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng có hiệuquả thiết bị dạy học mua sắm hoặc tự làm, đã có những buổi phụ đạo cho học sinhyếu kém từng tuần, từng tháng, từng học kỳ Số học sinh học 2 buổi một ngày có xuhướng tăng, kết quả của học sinh học 2 buổi / ngày cao hơn hắn những học sinh chỉhọc 1 buổi / ngày Với sự đầu tư đổi mới cơ sở vật chất, xây dựng biên soạn mơisách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dậy, chất lượng dạy học ở tiểu họctương đối ổn định và ngày càng vững chắc
Đối với giáo dục trung học (THCS & THPT), các sở GD & ĐT đã chú ý
chỉ đạo áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin,
sử dụng các phần mềm tiện ích vào dạy học, đổi mới hình thức thức kiểm tra, đánhgiá học sinh theo hướng đòi hỏi hiểu bài, biết vận dụng kiến thức, hạn chế chỉ họcthuộc lòng, xét cho lên lớp đúng tiêu chuẩn
Đối với giáo dục thường xuyên (GDTX), trong những năm vừa qua các địa
phương đã chú trọng việc quản lý và cấp phát chứng chỉ ngoại ngữ, tin học; đầu tưthiết bị dạy học tối thiểu, tăng cường cơ sở vật chất, trang bị thêm phòng học máy vitính cho các trung tâm GDTX; các trung tâm giáo dục thường xuyên là nơi có giáoviên giảng dậy không ổn định, hầu hết là các giáo viên từ các trường THPT trongđịa phương, vì vậy cần có những chính sách để thu hút các giáo viên dậy ở cáctrung tâm GDTX Sau một thời gian thực hiên đề án “xây dựng xã hội học tập”, một
số mục tiêu trong đề án đã được thực hiện và đem lại hiệu quả rõ rệt như: phát triển,
mở rộng hệ thống GDTX, trung tâm GDTX và trung tâm học tập cộng đồng; đadạng hóa nội dung, chương trình giáo dục ngày cang đáp ứng được nhu cầu học tậpcủa nhiều đối tượng trong xã hội thiết thực phục vụ sự phát triển kinh tế trong cáclĩnh vực nông nghiệp, y tế, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, truyền thông và dịch vụ
Trang 15 Đối với giáo dục cao đẳng, đại học: nhằm đáp ứng được yêu cầu của xã hội
và nhu cầu của người học, nhà nước tăng cường đầu tư phát triển cho đào tạo đạihọc, cao đẳng; xây dựng thêm các trường mới, mở rộng quy mô giảng dậy, xâydựng và cải tạo thêm các công trình phục trợ như: nhà tập thể thao, xây dựng và cảitạo mới thư viện, xây dựng thêm các khu ký túc xá đáp ứng nhu cầu về chỗ ở chosinh viên Đối với đào tạo sau đại học, nhằm nâng cao trình độ của cán bộ giảngviên trong các trường ĐH, CĐ và TCCN Với mục tiêu phân đấu đào tạo 20.000tiến sĩ vào năm 2020 nhiều cơ sở đào tạo tiến sĩ thạch sĩ đã tích cực đầu tư trangthiết bị, tăng cường đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị để mở thêm chuyênngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ
Đối với giáo dục chuyên nghiệp (GDCN), đây là bậc đào tạo được giành
nguồn lực đầu tư ít hơn so với các bậc học khác, vốn đầu tư chủ yếu được dùng đầu
tư nâng cao chất lượng giảng dậy, tăng cường cơ sở vật chất Trong bậc đào tạo nàythời lượng đào tạo thực hành chiếm từ 50 đến 75 % tổng thời lượng của toàn bộchương trình, chính vì vậy trong thời gian qua, nhiều trường TCCN thuộc các ngành
kỹ thuật đã mời doanh nghiệp tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến về chươngtrình đào tạo
1.5.2 Đầu tư giáo dục và đào tạo theo thành phần
Vốn ngân sách nhà nước giành cho Giáo dục và Đào tạo hàng năm được chiatheo nhiệm vụ cụ thể: Chi đầu tư xây dựng cơ bản, Chi thường xuyên, Chi cho cácchương trình mục tiêu quốc gia, và hợp tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật nướcngoài Trong đó:
Chi đầu tư xây dựng cơ bản thường chiếm khoảng 23,8 % trong tổng vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước hàng năm, được sử dụng để đầu tư xây dựng mới nhưTrung tâm đào tạo Trường Đại học Kinh tế quốc dân, trường Đại học Tây Bắc,trung tâm giáo dục quốc phòng…, dự án môi trường, dự án công cộng, dự án thểdục thể thao, các dự án theo mục tiêu
Chi thường xuyên là phần chi lớn nhất trong tổng vốn đầu tư ngân sách nhà
nước giành cho Giáo dục và Đào tạo, thường chiếm trên 50% Bao gồm: chi thườngxuyên cho sự nghiệp giáo dục, được chi cho các bậc học giáo dục mầm on, trunghọc, đào tạo đại học, cao đẳng, sau đại học, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, cácnhiệm vụ toàn ngành và chỉ đạo chuyên môn toàn ngành: Tổ chức kỳ thi Olympic
Trang 16Vật lý quốc tế, các nhiệm vụ thi cử (hỗ trợ thi THPT, học sinh giỏi quốc gia, cải tiếnthi tuyển sinh ĐH, CĐ và kiểm định chất lượng giáo dục các bậc học, thi học sinhgiỏi quốc tế), chi vốn đối ứng các dự án vay nợ, viện trợ…; chi sự nghiệp nghiêncứu khoa học; chi sự nghiệp đảm bảo xã hội; chi sự nghiệp kinh tế: chi điều tra cơbản, thực hiện điều tra cơ bản, quy hoạch ở các lĩnh vực cấp thiết của lĩnh vực cấpthiết của ngành nhằn phục vụ, chỉ dạo, quản lý và xậy dựng chính sách, chi thựchiện các chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, án toàn lao đông, chi xúc tiếnhợp tác giáo dục, nghiên cứu các chính sách đầu tư nước ngoài và mô hình đầu tưnước ngoài tại Việt Nam; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường; chi quản lý hànhchính…
Chi chương trình mục tiêu quốc gia, phần chi này thường chiếm khoảng
5,83% trong tổng ngân sách nhà nước giành cho giáo dục và đào tạo Bao gồm: Chichương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo: Đổi mới chương trình, nộidung sách giáo khoa và tài liệu giảng dậy (hoàn thiện sách giáo khoa, sách giáoviên, tài liệu dậy học tự chọn…), đào tạo cán bộ tin học, đưa tin học vào nhà trường(tăng cường năng lực đào tạo cán bộ tin học, đào tạo giáo viên, mua sắm thiết bị,phần mềm, tài liệu tham khả cho dạy tin học một số khoa công nghệ thông tin củacác trường đại học, cao đẳng nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình phát triển nguồnnhân lực về công nghệ thông tin…), đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán
bộ quản lý giáo dục, hỗ trợ giáo dục miêng núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng cónhiều khó khăn, tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học (cải tạo, sửa chữa,xây dựng, tăng cường trang thiểt bị - đầu tư theo chiều sâu), chi cho một số chươngtrình mục tiêu quốc gia khác (chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, dự ánphòng chống ma túy trong trường học, chương trình phòng chống tội phạm…)
Chi chương trình hợp tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật nước ngoài
chiếm khoảng 10 % tổng ngân sách nhà nước giành cho giáo dục Đây là khoản chimới phát sinh trong những năm gần đây bao gồm chi đào tạo cho lưu học sinh nướcngoài, chi quản lý trong nước, đào tạo phối hợp, bồi dưỡng ngoại ngữ…
Trang 17CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN BẰNG NGUỒN VỐN NSNN CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2006-2010
2.1 Tổng quan tình hình phát triển giáo dục từ năm 2006 đến năm 2010
2.1.1 Hiện trạng hệ thống giáo dục tại Việt Nam
2.1.1.1 Những thành tựu
Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế- xã hội, giáo dục đào tạoViệt Nam thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt: Nângcao dân trí, mở rộng quy mô, tăng cường cơ sở vật chất nhà trường, xây dựng độingũ cán bộ giáo viên,…Về cơ bản xoá được xã trắng về giáo dục mầm non, hoànthành và tiếp tục củng cố vững chắc kết quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểuhọc, đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở theochuẩn quốc gia, một số tỉnh thành phố đã bắt đầu thực hiện phổ cập giáo dục trunghọc phổ thông Giáo dục vùng sâu vùng xa có tiến bộ rõ rệt, mạng lưới giáo dụcđược mở rộng, con em các dân tộc về cơ bản được học tập ngay tại thôn bản Chấtlượng giáo dục đã được nâng cao
Thứ nhất về mạng lưới giáo dục: Đã xây dựng được hệ thống giáo dụcthống nhất, khá hoàn chỉnh, phủ kín tới các xã, phường, thị trấn trong cả nước baogồm đủ các bậc học từ mầm non đến sau đại học, đa dạng về các loại hình trườnglớp (công lập, bán công, dân lập, tư thục ) và về phương thức giáo dục ( chính quy
và không chính quy) Năm học 2009-2010, cả nước đã có khoảng 25 triệu ngườichiếm tỷ trọng 27,19% dân số theo học trong 40.695 trường và cơ sở giáo dục
Trang 18Bảng 2.1: Số lượng trường học từ mầm non đến đại học giai đoạn
(Nguồn: Thống kê giáo dục và đào tạo, Bộ giáo dục và đào tạo.)
Năm học 2009-2010, số lượng trường học mầm non, phổ thông đều tăng sovới năm học trước Theo số liệu thống kê, cả nước có 40.917 trường học mầm non
và phổ thông (tăng 538 so với năm học 2008-2009 và tăng 1.628 trường so với nămhọc 2006-2007) TCCN có 289 trường Năm 2009 một số Bộ, nghành và địaphương đã hoàn chỉnh mạng lưới trường TCCN trên từng vùng, miền cụ thể theohướng đa dạng hoá các lạo hình, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội củangành, địa phương
Mạng lưới các trường đại học và cao đẳng tiếp tục được củng cố mở rộngtheo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Năm học 2009-2010, cảnước đã có 220 trường cao đẳng (tăng 8 trường so với năm học 2008-2009 và tăng
32 trường, tức tăng 17.5% so với năm 2006-2007) và 190 trường đại học (tăng 9trường so với năm 2008-2009 và tăng 51 trường, tức 36.7% so với năm 2006-2007 )
- Thứ hai, Quy mô học sinh: Đến năm 2009-2010, tổng số học sinh, sinh viêntrong cả nước là 21.574.172 trong đó, số trẻ em mầm non là 3.147.252 triệu em Sốhọc sinh tiểu học là 7.041.312 triệu em, giảm 280.427 học sinh so với năm học
Trang 192008-2009 Số học sinh tiểu học giảm là do trong nhiều năm qua, nước ta đã thựchiện tốt công tác DS& KHHGĐ, dẫn đến dân số trong độ tuổi tiểu học giảm xuốngđáng kể và công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được đẩy mạnh trong cảnước Số học sinh trung học cơ sở là: 6.218.457, giảm 240.061 học sinh so với nămhọc 2008-2009 do số học sinh lớp 5 giảm trong những năm qua và công tác phổ cậpTHCS được đẩy mạnh, giảm được số học sinh lưu ban và bỏ học Số học sinhTHPT là 3.111.280 tăng 134.408 học sinh so với năm trước Số học sinh TCCN là515.670 tăng 11.418 so với năm trước Tổng quy mô đại học, cao đẳng là 1.796.201sinh viên, đạt 211,3 sinh viên trên 1 vạn dân Như vậy so với năm học 2006-2007thì số học sinh THPT, số sinh viên cao đẳng và đại học năm học 2009-2010 tăngkhá nhanh Chứng tỏ chất lượng giáo dục và trình độ học vấn của người dân đã cónhiều chuyển biến đáng kể.
Bảng 2.2: Quy mô học sinh, sinh viên từ năm 2006-2010
( Nguồn: Thống kê giáo dục đào tạo, Bộ giáo dục đào tạo)
- Thứ ba, Đội ngũ cán bộ giáo viên: Đến năm 2009-2010, cả nước có1.046.297 giáo viên, giảng viên, trong đó: 144.480 Giáo viên mầm non; 355.243Giáo viên tiểu học, 317.252 giáo viên THCS, 146.375 giáo viên THPT, 18.002 giáoviên TCCN và 65.115 giảng viên đại học cao đẳng Tỷ lệ cháu/ cô ở nhà trẻ là12,44 và mẫu giáo là 21,6; Tỷ lệ giáo viên/ lớp tính chung trên cả nước, ở bậc tiểu
Trang 20học là 1,28; THCS là 1,9 và THPT là 1,87 ( Trong năm học trước năm học
+ Giáo dục phổ thông : Tỷ lệ nhập học, tỷ lệ học sinh khá giỏi và học sinhtốt nghiệp ở các cấp ngày càng tăng Tỷ lệ học sinh yếu kém, bỏ học, lưu ban ngàycàng giảm Năm học 2007-2008 tỷ lệ nhập học đúng tuổi: tiểu học là 98,1%,THCS là 80,6%, THPT là 38,6% Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học là 3,64% ở cấptiểu học, 6,56% ở cấp THCS và 8,45% ở THPT
+ Giáo dục dạy nghề: Tỷ lệ tốt nghiệp năm học 2009-2010 là 163.529 giảm16.870 tương ứng 10,31% so với năm học 2008-2009
Trang 21+ Đào tạo đại học và sau đại học: Số sinh viên tốt nghiệp các trường caođẳng và đại học tăng lên đáng kể trong thời gian qua Năm học 2006-2007 có80.197 sinh viên tốt nghiệp cao đẳng và 153.303 sinh viên tốt nghiệp đại học Vàđến năm học 2009-20010 có 83.064 sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, 163.736 sinhviên tốt nghiệp đại học Qua khảo sát ở nhiều doanh nghiệp, và cơ quan nhìnchung đại bộ phận cán bộ thuộc các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước đều có trình
độ từ cao đẳng trở lên và được đánh giá có trình độ chuyên môn và tinh thần tráchnhiệm thuộc lọai khá và tốt
2.1.1.2 Những yếu kém
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhìn chung, ngành giáo dục nước tacòn yếu về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu , hiệu quả giáo dục chưa cao, giáo dụcchưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đào tạo chưa gắn với sử dụng, đội ngũ giáo viêncòn yếu, cơ sở vật chất còn thiếu, chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục vàcông tác quản lý chậm đổi mới, một số hiện tượng tiêu cực, thiếu kỷ cương chậmđược khắc phục
Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp, một mặt chưa tiếp cận được vớitrình độ tiến tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng được vớicác ngành nghề trong xã hội Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về tư duysáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp, các kỹ năng mềmnhư: tinh thần hợp tác, khả năng giao tiếp, khả năng làm việc nhóm, khả năng tự tổchức công việc… còn hạn chế
Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp sovới số lượng học sinh nhập học đầu năm còn thấp, nhất là ở vùng núi, vùng sâu,vùng xa Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp; còn nhiều học sinh sinh viên saukhi tốt nghiệp chưa có việc làm Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùngmiền đã được khắc phục nhưng vẫn bị mất cân đối bên cạnh đó, công tác chỉ đạocũng như tâm lý xã hội vẫn còn nặng nề về đào tạo đại học, chưa chú trọng đúngmức đến đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề ở trình độ cao Việc tăng quy môđào tạo trong những năm gần đây chủ yếu vẫn diễn ra ở bậc đại học, tỷ lệ học sinh,sinh viên cao đẳng kỹ thuật công nghệ và trung học chuyên nghiệp và học nghề cònthấp và tăng chậm Công tác dự báo, quy hoạch định hướng ngành nghề đào tạochưa tốt, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về ngành nghề của xã hội Cơ sở giáo
Trang 22dục, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp tập trung quá nhiều vào cácthành phố lớn, khu công nghiệp lớn Giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc thiểu số còn rất khó khắn Chưa chú trọng đúng mức đến các hình thức giáodục không chính quy bên ngoài nhà trường, đặc biệt là các hình thức giáo dục giànhcho người đang lao động.
Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưađáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo nâng cao hiệuquả và chất lượng giáo dục Đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học ít cóđiều kiện thường xuyên tiếp cận, cập nhật tri thức và thành tựu khoa học công nghệmới của thế giới Cơ sở vật chất của nhiều nhà trường còn thiếu thốn, chưa giảiquyết triệt để tình trạng các lớp học 3 ca, vẫn còn những lớp học tranh tre nứa lá ởcác vùng sâu, vùng xa; thư viện, trang thiết bị phục vụ giảng dậy và học tập còn rấtthiếu thốn và lạc hậu
Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiệnđại hóa Chương trình giáo dục còn mang nặng tính lý thuyết, nặng về thi cử, chưathực sự chú trọng đến tính sáng tạo, phát triển năng lực thực hành và hướng nghiệp,chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cũng nhưnhu cầu của người học, chưa gắn bó hiệu quả với nghiên cứu khoa học – công nghệtriển khai ứng dụng Giáo dục trí lực chưa kết hợp hữu cơ với giáo dục phẩm chấtđạo đức, nhân cách công dân, trách nhiệm với xã hội, ý thức tự tôn dân tộc…cáchình thức thi cử còn lạc hâu, cách tuyển sinh đại học còn nặng nề và tốn kém
Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả Một số hiện tượng tiêu cực,thiếu kỷ cương trong giáo dục đào tạo chưa được ngăn chặn kịp thời Các hiệntượng thương mại hóa giáo dục như mua bằng, bán điểm, tuyển sinh vượt chỉ tiêu,thu chi sai nguyên tắc làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường, của các giáo viên.Hiện tượng gian lận trong kiểm tra, thi cử của học sinh, sinh viên ảnh hưởng xấuđến nhân cách và thái độ lao động của người học sau này Nhìn chung, chất lượng
và hiệu quả nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài còn thấp, chưađáp ứng được nhu cầu của đất nước trong giai đoạn phát triển mới
2.1.2 Tình hình vốn đầu tư vào giáo dục và đào tạo từ năm 2006 đến năm 2010
Trang 23Như chúng ta đã biết, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Vì lẽ đóviệc thực hiện vốn đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đạt kết quả sẽ góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Bảng 2.4: Tình hình thực hiện vốn đâu tư phát triển giáo dục và đào tạo giai
180.40010.34
217.60020.62
258.70018.89
324.00025.24
2 VĐT cho GD-ĐT
- Tốc độ tăng
25.882-
34.08831.7
37.55210.2
54.22344.4
68.96827.2
3 Tỷ trọng VĐT
(Nguồn: Bộ Giáo dục- Đào tạo)
Qua bảng tổng kết tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển giáo dục và đàotạo trên ta thấy rằng trong giai đoạn 2006-2010 thì tổng vốn đầu tư toàn xã hội tănglên đáng kể Cùng với sự gia tăng đó, vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo cũngkhông ngừng tăng lên
Nhiều tỉnh thành có điều kiện kinh tế khó khăn nhưng những hoạt động đầu
tư cho giáo dục đào tạo của địa phương luôn được đặt lên hàng đầu Ở phạm vi giađình cũng vậy, có rất nhiều gia đình nông dân thu nhập không cao hoặc các gia đìnhcông chức bình thường không dư dật về kinh tế nhưng vẫn cố gắng đầu tư cho con,cháu học hành Nhiều dòng họ lập quỹ khuyến học, trợ giúp và khen thưởng con emkhi đạt được thành tích cao trong học tập Đối với Đảng và Nhà nước luôn giànhmột lượng vốn khoảng 20% vốn ngân sách nhà nước hàng năm để đầu tư phát triểnngành giáo dục Nhưng với 20% vốn ngân sách hàng năm không đủ để đáp ứng nhucầu đầu tư phát triển của ngành giáo dục Ngoài vốn ngân sách, nhà nước luôn đổimới cơ chế chính sách cho phù hợp với điều kiện mới nhằm thu hút các nguồn vốnkhác giành cho đầu tư phát triển ngành giáo dục như vốn ODA, FDI, nguồn vốn cho
Trang 24vay từ ngân hàng thế giới WB,…Đặc biệt là nguồn vốn ODA đóng góp phần lớnvào việc đáp ứng nhu cầu đầu tư của ngành giáo dục Thống kê cho thấy nguồn vốnODA chiếm 5% tổng vốn ngân sách nhà nước giành cho giáo dục, với tỷ lệ trênnguồn vốn này hàng năm đã đóng góp một phần đáng kể vào cải thiện chất lượnggiáo dục, có thể thấy ngân sách nhà nước giành cho bậc cao đẳng đại học chiếm 9
% tổng ngân sách nhà nước giành cho giáo dục, nếu không có sự đóng góp củanguồn vốn này thì nguồn vốn ngân sách nhà nước không đủ đáp ứng yêu cầu đổimới giáo dục ở bậc học được coi là tạo ra nguồn lực phát triển đát nước Để duy trìđược những nguồn vốn này chúng ta cần phải sử dụng thật sự có hiệu quả, hiệu quảcảu việc thực hiện các dự án giáo dục vốn vay ODA không chỉ nhìn nhận ở góc độgiải ngân, mà quan trọng nhất là học sinh được nhận được gì từ những cơ sở vậtchất do đầu tư xây dựng mang lại
2.2 Thực trạng đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN cho giáo dục và đào tọa tại Việt Nam
2.2.1 Tổng vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Tổng chi NSNN giành cho giáo dục đào tạo ngày càng có xu hướng tăngnăm 2010 lượng vốn này ước khoảng 82.004 tỷ đồng đạt 21% tổng chi NSNN
Trang 25Bảng 2.5: NSNN chi cho ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2006 – 2010 Đơn vị : Tỷ đồng
GDP 974.456 1.143.752 1.485.955 1.658.481 1.951.200Tổng chi NSNN 308.058 399.402 494.600 584.695 582.200Chi NSNN cho GD-ĐT 25.882 34.088 37.552 54.223 68.968
Ngân sách của nhà nước giành cho ngành giáo dục ngày càng tăng, năm
2007 so với năm 2006 là 17.61 % và các năm tiếp theo là 18.17 %; 22.91 % đếnnăm 2010 là 24% và con số này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai Tuy nhiên, so vớinhu cầu phát triển chung của ngành và các địa phương thì lượng vốn này mới chỉđáp ứng được một phần, chủ yếu là thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, trọng tâmcủa ngành: chương trình đổi mới sách giáo khoa, chương trình kiên cố hóa trường,lớp học, tăng cường cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục đào tạo, tạo điều kiện choviệc mở rộng quy mô, góp phần trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng giáo dục đàotạo Theo cơ chế phân cấp ngân sách của từng địa phương, vẫn còn một số Sở GD-
ĐT không được thông báo vốn đầu tư XDCB của ngành trên địa bàn, điều này ảnhhưởng trực tiếp đến việc tham gia quản lý, điều hành và đánh giá thực hiện vốn đầu
tư hàng năm, cũng như việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch tăng cường cơ sở vậtchất cho toàn ngành
2.2.2 Đầu tư cho giáo dục và đào tạo theo cấp học, bậc học
Đứng dưới góc độ xem xét này, ta sẽ xem xét cụ thể tình hình sử dụng vốnNSNN đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo phân theo các cấp học, bậc học
Trang 26Bảng 2.6: Vốn NSNN đầu tư phát triển GD-ĐT theo cấp học, bậc học
3.920,151,5
4.393,612,1
6.452,546,9
8.55232,5
25.906,4-
3 VĐT cho GDPT
-Tốc độ tăng
20.964,4-
27.270,430,1
30.041,610,2
43.161,543,6
54.484,726,2
175.922,6-
4 VĐT cho THCN
-Tốc độ tăng
310,6-
443,142,7
450,61,7
704,956,4
1.034,546,8
2.943,7-
5 VĐT cho CĐ-ĐH
-Tốc độ tăng
2.018,8-
2.454,421,6
2.666,28,6
3.904,146,4
4896,825,4
15.940,3-
(Nguồn: Vụ Tổng hợp KTQD, Bộ KH-ĐT)
Qua bảng trên ta thấy, mặc dù tốc độ tăng về vốn NSNN đầu tư cho GD-ĐTkhông đồng đều nhau theo các năm nhưng một xu hướng tích cực đó là khôngngừng tăng từ năm này qua năm khác Cấp học nào, bậc học nào cũng có sự giatăng về vốn đầu tư Trong đó vốn đầu tư phát triển cho giáo dục phổ thông là lớnnhất, còn vốn đầu tư phát triển cho trung học chuyên nghiệp là ít nhất Cụ thê:
Trang 27Bảng 2.7: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo theo cấp học,
(Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ KH-ĐT)
Nhìn vào bảng tổng kết trên ta thấy rằng tỷ trọng vốn đầu tư phát triển giáodục và đào tạo ở cấp phổ thông chiếm vị trí rất cao, trung bình gần 80% tổng vốnđầu tư phát triển giáo dục và đào tạo Còn vốn đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo
ở bậc trung học chuyên nghiệp chiếm vị trí thấp nhất, trung bình khoảng 1,3% trongtổng vốn đầu tư phát triển Điều này cũng cho ta thấy rằng cơ cấu vốn đầu tư chocác cấp học , bậc học phần nào cũng tương xứng với quy mô của từng cấp học vàbậc học đó trong hệ thống giáo dục quốc dân
Với sự đầu tư trên trong những năm học qua các ngành trong hệ thống giáodục quốc dân đã đạt được nhũng thành công nhất định Quy mô và chất lượng củađội ngũ giáo viên và học sinh tăng lên không ngừng trong những năm qua, bên cạnh
đó cơ sở vật chất hạ tầng cũng được cải thiện Cụ thể:
Giáo dục mầm non: Từ sau khi có quyết định 161/ 2002/ QĐ – TTg của Thủ
tướng Chính phủ, giáo dục mầm non đã có bước phát triển, cơ bản đã giải quyếtđược khó khăn cho các xã trắng về giáo dục mầm non, mạng lưới và loại hìnhtrường, nhất là mầm non dân lập và tư thục được mở rộng, số trẻ huy động đếntrường, lớp mầm non ngày càng gia tăng, nhất là mẫu giáo 5 tuổi Trong năm học
2008 – 2009 chỉ còn 13 xã trắng về giáo dục mầm non tập trung ở các tỉnh miền núikhó khăn như Hà Giang, Lai Châu, Bình Định… trong năm học này có 514.200cháu nhà trẻ, tăng 24,3 % so với năm học 2007 – 2008; 2.499.000 học sinh mẫugiáo tăng 12,7 % so với năm học 2007 – 2008; đến năm học 2009 – 2010 con sốnày là 481.909 cháu nhà trẻ và 2.596.768 số học sinh mẫu giáo
Trang 28Giáo dục phổ thông, trong đó quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm và đang
dần đi vào ổn định, năm học 2008 – 2009 có 7.947.600 học sinh, giảm 402, 5 nghìn
so với năm học 2007 – 2008, năm học 2009- 2010 là 6.871.795 học sinh Đối vớibậc trung học cơ sở , số học sinh THCS chưa ổn định, năm học 2008 – 2009 có6.972.000 học sinh THCS tăng 2,7 % so với năm học 2007 – 2008, năm học 2009 –
2010 là 5.858.484 học sinh giảm 3% so với năm học 2008 – 2009, tỷ lệ huy động đihọc trong độ tuổi tăng đạt 92 % Tuy đang trong giai đoạn thực hiện phổ cập nhưng
số học sinh THCS giảm do ảnh hưởng giảm hàng năm của số học sinh lớp 5, hiệmtượng giảm đã dừng và tăng dần trở lại tiếp cân với số dân số của độ tuổi sau khi cảnước đạt được phổ cập giáo dục đúng độ tuổi Đối với bậc trung học phổ thông, cáctỉnh thuộc vùng kinh tế phát triển vẫn giữ được mức tuyển sinh vào lớp 10 ổn định,năm học 2008 – 2009 có 2.847.300 học sinh phổ thông tăng 8,8 % so với năm học2007– 2008, năm học 2009 – 2010 là 3.070.023 học sinh tăng 0,5 % so với năm học
2008 - 2009
Giáo dục đại học cao đẳng, trong thời gian qua giáo dục đại học tăng nhanh
về số lượng và chất lượng giảng dậy, hàng năm đều đạt được các chỉ tiêu về quy mônhư kế hoạch, các chỉ tiêu tăng thêm chủ yếu là do có thêm các trường đại học, caođẳng mới thành lập, nên số chỉ tiêu tăng thêm chủ yếu dành cho các trường này
2.2.3 Đầu tư cho giáo dục và đào tạo theo phân vùng tự nhiên và dân cư.
Bảng 2.8: Tổng vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo theo các vùng, miền
Trang 29phương nói chung và toàn quốc nói riêng Lượng vốn ngân sách nhà nước giành chocác địa phương không phải được phân chia đều cho 64 tỉnh thành phố trong cả nước
mà được phân chia theo các tiêu chí như: nhu cầu về vốn của từng địa phương, cácchương trình dự án quan trọng cần phải thực hiện, các khu vực có hoàn cảnh điềukiện kinh tế xã hội khó khăn (miền núi, vùng dân tộc ít người)
Bảng 2.9: Định mức phân bổ ngân sách chi sự nghiệp giáo dục theo dân số trong
độ tuổi đến trường từ 1 đến 18 và Dân số trong độ tuổi đào tạo ( từ 18 tuổi trở lên)
giai đoạn 2006-1010
Đơn vị: đồng/người dân/năm
Vùng
Định mức phân bổ giai đoạn 2006-2010
Dân số trong độ tuổi đến trường từ 1 đến 18 Dân số trong độ tuổi đào tạo ( từ 18 tuổi trở lên)
Bên cạnh đó, do sự phân bố của các trường đại học cao đẳng ở Việt Namkhông đồng đều Các trường đại học cao đẳng lớn tập trung hầu hết ở các thành phốlớn như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…, những trường đại học tập trung ởcác thành phố lớn là những trường đại học trọng điểm, là trường đi đầu trong quátrình hội nhập với nền giáo dục đại học cao đẳng của các nước trong khu vực vàquốc tế, vì vậy mà các địa phương này được phân bổ lượng vốn ngân sách nhiềuhơn so với các tỉnh thành phố còn lại Với mục tiêu thực hiện công bằng xã hộitrong giáo dục và tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn cho tất cả các tầng lớp nhândân trong xã hội, người dân ở tất cả các vùng miền trong cả nước Hỗ trợ giáo dục
Trang 30miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng khó khăn, đặc biệt là đối với các tỉnh mớithành lập cơ sở vật chất còn hết sức khó khăn như: Lai Châu, Đắc Nông, HậuGiang, trong đó đặc biệt quan tâm đến hệ thống trường nội trú và cụm xã Vốn đầu
tư giành cho hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có nhiều khókhăn thường chiếm 10 – 11 % ngân sách giành cho giáo dục địa phương Phần kinhphí này chủ yếu đầu tư xây dựng các trường, đổi mới trang thiết bị giảng dạy, tậptrung đầu tư cho hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp: trường, lớphọc, chỗ ở cho học sinh nội trú, hệ thống thư viện, sách truyện…
2.2.4 Đầu tư phát triển mạng lưới trường lớp
Trong những năm học qua các trường lớp của Việt Nam đã và đang phấn đấuđạt chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn về hạ tầng cơ sở, mạng lưới trường lớp đảm bảo choviệc dạy và học có chất lượng tương đương với các nước khác trong khu vực
Bảng 2.10: Vốn đầu tư phát triển mạng lưới trường lớp giai đoạn 2006-2010
(Nguồn: Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ KHĐT)
Qua bảng tổng kết trên ta thấy, cùng với bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thìtrong 5 năm qua việc tăng cường phát triển mạng lưới trường lớp cũng được quantâm đáng kể Số lượng trường, lớp ở tất cả cấp, bậc học đều gia tăng Cụ thể:
Trang 31Bảng 2.11: Số lượng trường của các cấp học giai đoạn 2006 – 2010
Năm học 2006-2007 2007-2008 Năm học 2008-2009 Năm học 2009-2010 Năm học Tổng số
Trang 32Nhờ có sự đầu tư trên, hiện tại cả nước đã có gần 600 trường mầm non, gần3.400 trường tiểu học, trên 500 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học đạtchuẩn quốc gia Số phòng học cấp 4 và kiên cố đã tăng đáng kể ( 53.300 phòng), số
phòng 3 ca giảm, đến năm học chỉ còn 185 phòng Nhờ tập trung thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học đã có 33.235 phòng học được triển khai xây
dựng, trong đó số phòng đã hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm học là 14.031phòng và trong năm học 2009-2010 đưa vào sử dụng thêm 19.214 phòng
Mạng lưới trường học phát triển theo xu hướng phù hợp với nhu cầu đào tạocủa xã hội, số lượng các nhà trẻ và trường mẫu giáo có xu hướng giảm và dần thaythế là các trường mầm non với cơ sở vật chất khang trang, đảm bảo đủ khuân viênvui chơi, học tập cho các học sinh mầm non Số lượng các trường tiểu học, phổthông cơ sở, trung học cơ sở cũng có xu hướng tăng và phân bố đồng đều ở các địaphương, phường, xã, đảm bảo nhu cầu học của từng phường, xã quận, tránh tìnhtrạng các trường cấp học phổ thông bị quá tải, học sinh phải học trái phường Cáctrường đại học cao đẳng được thành lập mới chủ yếu là các trường ở các địaphương, và là trường dân lập, không tập trung xây dựng ở các khu đô thị lớn như
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, điều này nhằm giảm sự quá tải ở các thành phố lớn, vàgiảm chi phí ăn ở, đi lại cho người học
2.2.5 Chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản
Xét theo tính chất kinh tế, chi NSNN cho giáo dục đào tạo gồm chi: Chithường xuyên và chi đầu tư phát triển
Trang 33Bảng 2.12 Chi NSNN cho giáo dục đào tạo xét theo tính chất kinh tế
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010, chỉ riêng khu vực giáo dụcchuyên nghiệp và đại học cả nước đã thành lập 198 cơ sở mới với 69 trường đạihọc, 92 trường cao đẳng và 37 trường trung cáp chuyên nghiệp Nếu năm 2006 cảnước có 97 trường đại học, 104 trường cao đẳng và 246 trường trung cấp chuyênnghiệp thì năm 2010 số lượng các trường đại học là 158, 196 trường cao đẳng và
279 trường trung cấp chuyên nghiệp Ngoài ra, còn có hàng chục trường cao đẳngnghề, trung cấp nghề mới được hình thành Số các cơ sở đào tại ngoài công lập cũngtăng nhanh (từ 32 trường đại học và cao đẳng ngoài công lập năm 2006, đến nay cảnước đã có 80 trường đại học và cao đẳng tư thục với 49 trường đại học và 31
Trang 34trường cao đẳng) Vốn ngân sách đã được thực hiện đầu tư phát triển các trường đạihọc có trọng điểm (Đại học Huế, Đaị học Thái Nguyên, Đại học Đà Nẵng, Đại họcBách khoa Hà Nội, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh,Đại học Cần Thơ), các trường sư phạm (Trường đại học Quy Nhơn, Đại học sưphạm Đồng Tháp, Cao đẳng sư phạm Trung Ương 3, Đại học Sư phạm Kỹ thuậtHưng Yên, Đại học sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh) và các trường thuộc khuvực kinh tế khó khắn (Đại học Tây Bắc, Đại học Tây Nguyên).Trong đó, nguồn vốn
sẽ được tập trung vào các công trình sẽ được đưa vào sử dụng theo đúng kế hoạch
và chú trọng hỗ trợ phát triển cho các vùng dân tộc, vung khó khăn nhằm đảm bảocho việc tăng quy mô đào tạo tai chỗ cho các vùng này; đã đưa vào sử dụng241.060,5 m2 nhà lớp học, thư viện, nhà luyện tập và thi đấu thể thao, ký túc xá sinhviên… phục vụ tốt cho việc giảng dậy và học tập của các khu vực
Trong phần vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản vốn ODA chiếm một tỷ lệ lớn,góp phần quan trọng vào quá trình hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dậycủa các cấp học Tiến độ giải ngân thực tế so với kế hoạch năm 2010: Tổng số vốnODA giải ngân là 50,22 triệu USD (kế hoạch là 56,85 triệu USD), so với kế hoạchđạt 88% Tổng số vốn đối ứng giải ngân là 12,66 triệu USD tương đương 202.624triệu đồng (kế hoạch là 12,66 triệu USD tương đương 202.624), so với kế hoạch đạt100% Lũy kế tỷ lệ giải ngân thực tế đến năm 2008: So với tổng số vốn đã ký kếtcủa 9 chương trình, dự án ODA do Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai thựchiện, lũy kế giải ngân đến năm 2008 là 136,23 triệu USD, so với tổng vốn của 9 dự
án, chương trình là 275,40 triệu USD, tỷ lệ đạt 49% Riêng vốn đối ứng lũy kế giảingân đến năm 2010 là 30,91 triệu USD, so với tổng vốn cam kết 62,96 triệu USD,đạt 49% Sau 10 năm sử dụng nguồn vốn ODA trong giáo dục, số dự án cho giáodục tiểu học chiếm khoảng 47%, trung học 33%, đại học 19% Những dự án,chương trình này đã giúp Việt Nam giải quyết vấn đề cấp thiết nhất là nâng cao chấtlượng giáo dục và thực hiện công bằng giáo dục, năng lực làm kế hoạch, quản lý.Tình hình quản lý các chương trình, dự án ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo đềuđược triển khai, thực hiện tốt Các hoạt động đều sát với nội dung đã đàm phán kýkết, công tác quản lý tài chính, công tác đấu thầu trong mua sắm trang thiết bị vàcác công trình xây dựng, tuyển dụng tư vấn đã được thực hiện đầy đủ theo các quyđịnh của nhà nước và nhà tài trợ
Thứ hai: Chi thường xuyên
Trang 35Phần vốn giành cho chi thường xuyên bao gồm: chi thường xuyên cho giáodục đào tạo, chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, chi sự nghiệp đảm bảo xã hội, chi
sự nghiệp kinh tế, chi sự nghiệp bảo vệ môi trường, chi quản lý hành chính, chi trợgiá báo chí
- Chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo: đây là phần chi đào tạo cho các đối
tượng học sinh, sinh viên hàng năm, bồi dưỡng công chức Với quy mô đào tạongày càng tăng của tất cả các bậc học, chi phí thường xuyên cũng ngày càng tăng
để đáp ứng yêu cầu của người học
Bảng 2.13: Chi thường xuyên cho đào tạo năm 2008
(triệu đồng/người/năm)
1 Đào tạo sau đại học
(nghiên cứ sinh, cao học,
Với quy mô đào tạo qua các năm với tỷ lệ tăng rất cao năm 2007 so với 2006
là 70 %, năm 2008 so với năm 2007 là 82%, , năm 2010 so với năm 2009 là 101%,
dự kiến năm 2011 với năm 2010 là 105,6 % Về quy mô đào tạo, quy mô đào tạotăng trung bình khoảng 5% một năm, có thể thấy năm học 2009 – 2010, tổng số sinhviên đại học và cao đẳng tăng hơn 7.9 % so với năm học 2006 – 2007 (từ 1.666.200sinh viên tăng lên 1.796.200 sinh viên) Trong cùng thời kỳ, quy mô học sinh trungcấp chuyên nghiệp tăng xấp xỉ 1,4 lần (từ 388.300 tăng lên 535.700); học sinh họcnghề dài hạn tăng 2,26 lần (từ 195.300 tăng lên 442.000) và học sinh học nghề ngắn
Trang 36hạn tăng 63% (từ 662.000 lên 1.080.000) Hàng năm NSNN vẫn tiếp tục thực hiệntăng hỗ trợ kinh phí đào tạo cho các bậc học Tuy nhiên mức chi phí đào tạo bìnhquân của học sinh, sinh viên còn khá eo hẹp so với quy mô đào tạo và so với chi phícho các học sinh sinh viên được cử đi học ở các nước hiệp định (năm 2008 là 56,53triệu đồng/ sinh viên), chi phí đào tạo quá thấp sẽ rất khó khăn cho các trường thựchiện đổi mới nội dung phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng.
- Chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học: Bộ Giáo dục đào tạo chỉ đạo triển khai
thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ trong điểm cấp Bộ; tập trung nghiêncứu những vấn đề khoa học giáo dục, nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung,phương pháp giáo dục và đào tạo, đổi mới công tác chỉ đạo, quản lý giáo dục và đàotạo Triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng các thành tự khoa học công nghệphục vụ phát triển giáo dục và đào tạo của Ngành và phục vụ phát triển kinh tế - xãhội của đất nước Nghiên cứu khoa học của các trường đại học hướng mạnh vàoviệc nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên, gắn với đào tạo sau đại học (đàotạo tiến sĩ), nâng cao hiệu quả phục vụ xã hội Tăng cường đầu tư nâng cao năng lựcnghiên cứu khoa học của các trường về nhân lực, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm,
hệ thống thông tin khoa học Đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp nghiên cứukhoa học, xây dựng hệ thống nhận đặt hàng nghiên cứu khoa học, xây dựng hệthống đặt hàng nghiên cứu, phẩn bổ kinh phí nghiên cứu khoa học có tiêu chí rõràng, gắn với đào tạo tiến sĩ, ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu sinh và đẩy mạnh hình thứcđồng tài trợ nghiên cứu khoa học, tăng cường phân cấp quản lý đối với các trườngđại học Một số đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng đã được thực hiện trong thờigian qua, đã phát huy được hiệu quả đáng kể Đề tài độc lập cấp Nhà nước: gồm 5
đề tài với tổng kinh phí 6.100 triệu đồng Số lượng đề tài độc lập cấp Nhà nước giao(thông qua tuyển chọn, đấu thầu) của các đơn vị và cá nhân trực thuộc Bộ Giáo dục
và đào tạo ngày càng tăng về số lượng, quy mô và kinh phí Chương trình khoa học
và công nghệ cấp Bộ: “Phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam trong quá trình hộinhập quốc tế” Chương trình gồm 7 đề tài cấp Bộ, đến nay các chủ nhiệm đề tàiđang trong quá trinh hoàn thiện để đánh giá nghiệm thu Kết quả chương trình lànghiên cứu tổng thể về phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước trong quá trìnhhội nhập kinh tế, xác định những cơ hội và thách thức, dự báo nhu cầu nhân lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2010 Chương trình đã cónhững đóng góp về lý luận và thực tiễn giải quyết một số vấn đề tồn tại của giáo
Trang 37dục và đào tạo trong quá trình hội nhập quốc tế như: cơ cấu đào tạo giáo dục, cơ cấutrình độ, chi phí đào tạo đại học…Trong năm 2010, các đơn vị trực thuộc Bộ Giáodục và đào tạo được giao 5.440 triệu đồng để triển khai thực hiện 135 nhiệm vụnghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên Các đề tài khoa học và công nghệ trọngđiểm cấp Bộ được tuyển chọn theo quy trình quy định tại quyết định về quản lý đềtài khoa học và công nghệ cấp Bộ, tập trung theo các hướng trọng điểm, ưu tiênphục vụ nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo cao học, nghiên cứu, có sản phẩm
rõ ràng, địa chỉ ứng dụng cụ thể Đối với các dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ,trong năm 2010 đã triển khai 11 dự án sản xuất thử nghiệm, với tổng số kinh phí là2.600 triệu đồng Trong đó có 8 dự án chuyển từ năm 2009 sang năm 2010 và 3 dự
án bắt đầu thực hiện từ năm 2010 Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ đã thực hiệnđạt được các mục tiêu là triển khai kết quả nghiên cứu, các kỹ thuật tiến bộ để hoànthiện quy trình công nghệ, tạo sản phẩm mới có chất lượng và tính cạnh tranh caođem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, tạo thêm việc làm, kích thích một số ngành nghềphát triển, tiết kiệm và tận dụng nguồn tài nguyên và nhân lực trong nước, thay thếnhập khẩu, bảo vệ môi trường Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của cáctrường đại học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội
- Chi sự nghiệp kinh tế: thực hiện điều tra cơ bản, quy hoạch ở các lĩnh vực
cấp thiết của ngành nhằm phục vụ chỉ đạo, quản lý và xây dựng chính sách, các đề
án đã triển khai điều tra cơ bản thực trạng và khiến nghị giải pháp về mô hình quản
lý tài chính đối với các trường đại học công lập do trường Đại học kinh tế quốc dânthực hiện, nâng cao hiệu quả đầu tư ở các Đại học vùng do Đại học Huế thực hiện,điều tra thực trạng quản lý tài chính do Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện…Tổchức thực hiện các chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệsinh lao động, trong năm 2010 với 1.450 triệu đồng triển khai thực hiện ở 6 trường:Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học sư phạm thể dục thể thao Hà Tây, ĐH Nôngnghiệp I, Đại học xây dựng, Đại học Thái Nguyên và ĐH SP Hà Nội Một sốchương trình Hợp tác Giáo dục đào tạo, nghiên cứu các chính sách đầu tư nướcngoài và môi hình đầu tư giáo dục nước ngoài tại Việt Nam Nhìn chung, các dự ánnghiên cứu đã đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục, giúp các nhà quản lý, cáccấp nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển cụ thể, và có chất lượng tốt
2.2.6 Chi Chương trình mục tiêu quốc gia
Bảng2.14: Vốn ngân sách chi chương trình mục tiêu quốc gia