Qua việc đánh giá và phân tích tình hình tài chính sẽ cho phép doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính của công ty, đánh giá được mức độ hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng vốn, các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH
= = = = = =
TRẦN VIỆT TRINH
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
KHÁNH HÒA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH GVHD: ThS HUỲNH THỊ XUÂN MAI
Nha Trang, tháng 07 năm 2013
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo một xây dựng một nền tảng vững mạnh, bao gồm cơ cấu quản lý, nguồn vốn, phương thức hoạt động… cũng như nắm chắc tình hình tài chính chung của công ty Dựa trên cơ sở nắm vững tình hình tài chính của doanh nghiệp, nhà quản lý sẽ có những biện pháp và kế hoạch đối phó cụ thể với các biến động của thị trường
Phân tích tài chính lúc này trở thành một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Qua việc đánh giá và phân tích tình hình tài chính sẽ cho phép doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính của công ty, đánh giá được mức độ hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng vốn, các nhân tố tác động đến kết quả kinh doanh cũng như tìm ra điểm mạnh điểm yếu của công ty trong mỗi giai đoạn Đồng thời, đây cũng là cơ sở cho phép doanh nghiệp xây dựng các kế hoạch tài chính và các kế hoạch khác trong tương lai, giúp nhà quản trị có được những chính sách điều hành phù hợp và tối ưu nhất
Hiểu được vấn đề này, trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần xây dựng Khánh Hòa, được sự tư vấn và giúp đỡ của bộ phận Kế toán – Tài chính và sự hướng dẫn nhiệt tình của cô Huỳnh Thị Xuân Mai, giảng viên khoa Kế toán – Tài chính trường Đại học Nha Trang, em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng Khánh Hòa” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Do kiến thức và kinh nghiệm bản thân còn hạn hẹp nên đề tài luận văn này vẫn còn nhiều sai sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo và những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để đề tài hoàn thiện hơn
2 Đối tượng của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình tài chính của Công ty Cổ phần xây dựng Khánh Hòa trong 3 năm 2009 – 2011
3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung của đề tài gồm 3 phần chính:
Trang 3• Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính của doanh nghiệp
• Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần xây dựng Khánh Hòa
• Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực tài chính tại công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
Đề tài cũng giúp chúng ta thấy được những nguyên nhân dẫn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm qua, làm cơ sở để công ty đưa ra những quyết định kịp thời và đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
Thấy được những tồn tại và nguyên nhân của nó, đề tài cũng nêu lên một số biện pháp giải quyết những vấn đề còn tồn đọng góp phần giúp công ty đưa ra những quyết định nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả tài chính tại Công ty Cổ phần Xây dựng Khánh Hòa
Trang 4Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là việc xem xét, kiểm tra về nội dung, thực trạng, kết cấu các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính; từ đó so sánh, đối chiếu tìm ra năng lực, nguồn tài chính tiềm tàng và xu hướng phát triển tài chính của doanh nghiệp nhằm xác lập các giải pháp khai thác, sử dụng nguồn tài chính có hiệu quả
Hay nói cách khác, phân tích tài chính là quá trình đánh giá vị thế, tình trạng
và kết quả tài chính bằng cách sử dụng thông tin từ các báo cáo tài chính và các nguồn khác Phân tích tài chính chỉ rõ những gì đang diễn ra đằng sau những chỉ tiêu tài chính, và các báo cáo tài chính sẽ như một bức tranh phản ánh đầy đủ thực trạng tài chính của một công ty
1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính
Cung cấp thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo cùng với những kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong hoàn cảnh
đó
Đánh giá chính xác thực trạng và an ninh tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tính hợp lý của cấu trúc tài chính … Từ đó các nhà quản lý có căn cứ tin cậy và khoa học để đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn
Nắm bắt được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi, dự báo được nhu cầu tài chính và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp
Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế - tài chính cần thiết cho việc kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - tài chính chủ yếu của doanh nghiệp, tình hình chấp hành các chế độ kinh tế - tài chính của doanh nghiệp
Cung cấp thông tin và là căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế
- kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp, đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm
Trang 5tăng cường quản trị doanh nghiệp, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của phân tích tài chính
Phân tích tài chính đóng vai trò cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về tình hình tài chính hay nói cách khác là nguồn thông tin tham khảo cực kỳ hữu ích về sức khỏe thật sự của một doanh nghiệp Không chỉ với bản thân doanh nghiệp, phân tích tài chính còn có vai trò cực kỳ quan trọng với các bên liên quan như các đối tác, bạn hàng, nhà cung cấp, các ngân hàng, nhà đầu tư, các cấp quản lý và ngay cả người lao động
Đối với bản thân công ty, việc phân tích tài chính sẽ giúp các nhà quản trị tài chính công ty đánh giá được tình hình tài chính của công ty một các hệ thống đầy
đủ, trên cơ sở đó có những hoạch định phù hợp nhằm duy trì hoặc cải thiện tình hình tài chính công ty ngày càng tốt hơn
Trong khi đó, các đối tác của công ty sẽ hướng sự quan tâm theo một hướng khác khi phân tích tình hình tài chính Chẳng hạn các chủ nợ ngắn hạn thường quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty thông qua các đảm bảo về tài sản ngắn hạn và lưu chuyển tiền tệ ròng mang lại từ hoạt động kinh doanh Hay đối với các chủ nợ dài hạn và nhà đầu tư thì lại quan tâm đến khả năng sinh lời trong dài hạn và rủi ro trong hoạt động cũng như cơ cấu tài chính của công ty
1.1.4 Mục đích của phân tích tài chính
Quá trình phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp phải hướng đến các mục tiêu:
− Giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế, thể hiện qua việc thanh toán với các đơn
vị liên quan Mối quan hệ này sẽ được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu để đánh giá về mặt lượng, chất và thời gian
− Đảm bảo nguyên tắc hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi tối thiểu hóa việc sử dụng các nguồn vốn nhưng vẫn đảm bảo quá trình kinh doanh bình thường và mang lại hiệu quả cao
Trang 6− Hoạt động tài chính phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật, chấp hành và tuân thủ các chế độ tài chính tín dụng, nghĩa vụ đóng góp, kỷ luật thanh toán với các đơn vị và cá nhân có liên quan
1.1.5 Các tài liệu dùng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Tài liệu được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính của công ty là hệ thống báo cáo tài chính qua các thời kỳ, bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Bên cạnh đó, người phân tích cần lưu ý đến các chính sách, các định chế tài chính, nguyên tắc, chuẩn mực, và chính sách kế toán của công ty khi tiến hành lập báo cáo tài chính Đồng thời, các chỉ số bình quân của ngành cũng là kênh thông tin quan trọng cần được sử dụng để so sánh, đối chiếu với chỉ số tài chính của công ty nhằm xác định chính xác thực trạng cũng như giải pháp cho công ty trong tương lai
Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành nên tài sản của công ty tại một thời điểm nhất định Sự biến động của các khoản mục trên bảng cân đối kế toán sẽ phác họa một cách đầy đủ tình hình biến động của tài sản và nguồn hình thành nên tài sản của công ty, cho biết quy mô hoạt động kinh doanh của công ty Đồng thời, các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán cũng thể hiện trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh doanh, tình hình sức khỏe tài chính công ty tại thời điểm mà nhà phân tích cần xem xét, đánh giá
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ kế toán nhất định của doanh nghiệp Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng
Trang 7hợp nhất về tình hình tài chính và kết quả sử dụng các tiềm tàng về vốn, lao động,
kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh quá trình hình thành và sử dụng tiền tệ phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ người sử dụng có thể đánh giá khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp và dự đoán được các luồng tiền trong kỳ tiếp theo
Thuyết minh báo cáo tài chính:
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của doanh nghiệp
1.1.6 Phương pháp phân tích
1.1.6.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để so sánh giữa các kỳ với nhau để thấy được xu hướng phát triển, so sánh giữa doanh nghiệp với ngành, giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác để thấy được vị thế của doanh nghiệp
Trong phân tích báo cáo tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách so sánh ngang và so sánh dọc So sánh ngang báo cáo tài chính là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của báo cáo tài chính Còn so sánh dọc là việc sử dụng các tỷ suất, các
hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để đưa ra kết luận
Tiêu chuẩn so sánh thường là:
- Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh
- Tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua
- Chỉ tiêu của các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành
Trang 8- Chỉ tiêu bình quân của nội ngành
- Các thông số thị trường
- Các chỉ tiêu có thể so sánh khác
1.1.6.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
Đây là phương pháp mà ở đó các nhân tố lần lượt thay thế theo một trình tự nhất định để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu cần phân tích bằng cách cố định các nhân tố khác trong mỗi lần cần thay thế Dựa vào đó, người phân tích sẽ phát hiện sự mất cân đối cần giải quyết, những vi phạm về chính sách, chế độ, những khả năng tiềm tàng còn có thể khai thác
1.1.6.3 Phương pháp liên hệ cân đối
Phương pháp liên hệ cân đối là phương pháp dùng để phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố mà giữa chúng sẵn có mối liên hệ cân đối và chúng là những nhân tố độc lập Một lượng thay đổi trong mỗi nhân tố sẽ làm thay đổi trong chỉ tiêu phân tích đúng một lượng tương ứng
Những liên hệ cân đối thường gặp trong phân tích là mối quan hệ giữa tài sản
và nguồn vốn, cân đối hàng tồn kho, nhu cầu vốn và sử dụng vốn…
1.1.6.4 Phương pháp phân tích xu hướng
Xem xét xu hướng biến động qua thời gian là một biện pháp quan trọng để đánh giá các tỷ số trở nên xấu đi hay đang phát triển theo chiều hướng tốt đẹp Phương pháp này được dùng để so sánh một sự kiện kéo dài trong nhiều năm Đây
là thông tin rất cần thiết cho người quản trị doanh nghiệp và nhà đầu tư
1.1.6.5 Phương pháp phân tích các tỷ số chủ yếu
Phân tích các chỉ số cho biết mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên báo cáo, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất và khuynh hướng tài chính của doanh nghiệp Đồng thời, việc phân tích các tỷ số giúp thấy rõ hơn thực trạng tài chính của doanh nghiệp, tỷ số tài chính là mối quan hệ giữa hai khoản mục trên bảng cân đối kế toán
và báo cáo kết quả kinh doanh Mỗi tỷ số tài chính phản ánh một nội dung khác nhau về tình hình tài chính của doanh nghiệp, chúng sẽ cung cấp nhiều thông tin hơn khi được so sánh với các chỉ số có liên quan
Trang 91.1.6.6 Phương pháp phân tích định tính
Phân tích tình hình tài chính theo phương pháp trên bị giới hạn bởi nó chỉ cho phép đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu cụ thể đã được tính toán Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của nghành nghề, đặc điểm kinh doanh, sự biến động của tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu, sự ảnh hưởng của mức cung cầu đến giá bán của một mặt hàng nào đó… Những nhân tố này khó có thể đo lường, tính toán
và càng không thể hiện trên báo cáo tài chính nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó cần sử dụng phương pháp định tính để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp toàn diện hơn
1.2 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán
1.2.1.1 Phân tích kết cấu và sự biến động về tài sản
Phân tích kết cấu và sự biến động về tài sản là tiến hành so sánh tổng số tài sản giữa 2 kỳ kinh doanh, đồng thời so sánh giá trị và tỷ trọng của các bộ phận cấu thành tài sản để đánh giá sự biến động về quy mô doanh nghiệp và những nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình trên, cũng như thấy được tính hợp lý của việc phân bố tài sản và trình độ sử dụng tài sản trong các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.2 Phân tích kết cấu và sự biến động nguồn vốn
Phân tích kết cấu và sự biến động nguồn vốn là tiến hành so sánh tổng nguồn vốn và các bộ phận cấu thành nguồn vốn giữa hai kỳ kinh doanh để đánh giá tình hình huy động vốn cũng như sử dụng vốn của doanh nghiệp, mức độ tự chủ tài chính và các khó khăn trong việc dùng vốn của doanh nghiệp
1.2.1.3 Phân tích nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn
Biểu kê nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn
Trang 10Đây là một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản trị tài chính Mục đích chính của biểu kê là chỉ rõ vốn xuất phát từ đâu và được sử dụng như thế nào?
Khi cơ quan tín dụng kiểm tra tình hình sử dụng tiền vay ở doanh nghiệp, câu hỏi đầu tiên mà họ đặt ra là doanh nghiệp đã làm gì với số vốn của họ Câu trả lời chính là biểu kê nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn Ngoài ra , thông tin trên biểu
kê còn cho biết doanh nghiệp có vi phạm nguyên tắc sử dụng vốn hay không?
Để lập biểu kê này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ này sang đầu kỳ kế tiếp đó Mỗi sự thay đổi này được xếp vào một trong hai cột “nguồn vốn” hay “sử dụng nguồn vốn” theo nguyên tắc sau:
- Nếu tài sản tăng hoặc nguồn vốn giảm thì đó chính là việc sử dụng vốn trong
kỳ nên ghi vào cột “sử dụng nguồn vốn”
- Nếu tài sản giảm hoặc nguồn vốn tăng thì đó chính là nguồn vốn phát sinh trong kỳ nên ghi vào cột “nguồn vốn”
Bảng phân tích nguồn và sử dụng nguồn vốn
Sau khi lập biểu kê nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn, ta xây dựng bảng phân tích nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn Bảng này cho thấy những trọng điểm của việc sử dụng vốn cũng như nguồn vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng trong kỳ
1.2.2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Tính toán, so sánh mức và tỷ lệ biến động của kỳ phân tích so với kỳ gốc kết quả đạt được Qua bảng phân tích sẽ cho thấy tốc tăng trưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm ra được nguyên nhân ảnh hưởng cũng như đưa ra biện pháp khắc phục
1.2.3 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ để thấy được khả năng tự tạo tiền của công ty trong hoạt động kinh doanh và mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tiền cho các chính sách đầu tư
1.2.4 Phân tích tình hình tài chính thông qua các chỉ số tài chính
1.2.4.1 Tỷ suất đầu tư tài sản, tỷ số nợ và tỷ số tự tài trợ
Trang 11Tỷ suất đầu tư tài sản
• Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn (Mã số 200 – Phần tài sản)
Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn =
Tổng tài sản (Mã số 270 – Phần tài sản)
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình đầu tư chiều sâu, tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng của doanh nghiệp Nó cho biết năng lực và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được đánh giá hợp lý hay không phụ thuộc vào từng ngành kinh doanh cụ thể Ngoài ra chỉ tiêu này còn cho biết tỷ lệ khách hàng chiếm dụng vốn dài hạn cao hay thấp, đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp nhiều hay ít
• Tỷ suất đầu tư tài sản ngắn hạn
Trang 12nhiều hơn nhưng lại không sử dụng vốn chủ sở hữu Đối với bên cho vay, họ lại thích tỉ lệ này thấp hơn vì đảm bảo mức độ an toàn cao cho nhà cung cấp tín dụng
và đảm bảo trả nợ trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản
• Tỷ số tự tài trợ
Vốn chủ sở hữu (Mã số 400 – Phần nguồn vốn)
Tỷ số tự tài trợ =
Tổng nguồn vốn (Mã số 440 – Phần nguồn vốn)
Chỉ tiêu này thể hiện sự góp vốn của chủ sở hữu vào quá trình kinh doanh
Tỷ số này phản ánh khả năng tự chủ về mặt tài chính, từ đó thấy được khả năng chủ động của doanh nghiệp hay mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ Nếu tỷ số này càng lớn thì uy tín của doanh nghiệp càng cao và là cơ sở cho các chủ
nợ tin tưởng vào khả năng thanh toán vì tình hình tài chính của doanh nghiệp biến chuyển theo xu hướng tốt, nó biểu hiện hiệu quả kinh doanh tăng, tích lũy nội bộ tăng hay doanh nghiệp mở rộng liên doanh, liên kết Ngược lại, nếu chỉ tiêu này càng giảm thì doanh nghiệp sẽ có lợi nhưng mức độ rủi ro tăng lên
1.2.4.2 Phân tích khả năng thanh toán
Phân tích khả năng thanh toán là xem xét tài sản của doanh nghiệp có đủ trang trải các khoản nợ hay không Để đánh giá ta dùng các chỉ tiêu sau:
Phân tích khả năng thanh toán hiện hành:
Phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Tài sản ngắn hạn (Mã số 100 – Phần tài sản)
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn (Mã số 310 – Phần nguồn vốn)
Trang 13Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn ( phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh) của doanh nghiệp là cao hay thấp Hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng tốt Tuy nhiên, nếu cao quá sẽ không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đầu tư quá mức vào tài sản ngắn hạn so với nhu cầu vốn của doanh nghiệp, hoặc có thể do hàng tồn kho, ứ đọng vốn quá lớn…, tài sản ngắn hạn dư thừa không tạo nên doanh thu, do đó vốn
sử dụng không hiệu quả
Thông thường hệ số này phụ thuộc vào đặc điểm nghành nghề, lĩnh vực kinh doanh, dự trữ theo mùa vụ…Nếu nó lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường hoặc khả quan Ngược lại doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán
Phân tích khả năng thanh toán nhanh:
có khả năng chi trả công nợ, nhưng doanh nghiệp đang giữ quá nhiều tiền, gây ứ đọng vốn, do đó hiệu quả sử dụng vốn không cao Nếu tỷ số này dưới 0,1 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tiền để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và thanh toán công nợ đến hạn
Phân tích khả năng thanh toán lãi vay:
Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay =
Chi phí lãi vay
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay và mức độ an toàn có thể đối với nhà cung cấp tín dụng (bên cho vay) và đây cũng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
sủ dụng vốn vay của doanh nghiệp Hệ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn
Trang 14vay càng tốt Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả
và không có khả năng thanh toán lãi vay trong năm đó
1.2.4.3 Phân tích tỷ số hoạt động
Việc phân tích khả năng hoạt động của doanh nghiệp dựa trên việc phân tích các tỷ số hoạt động có tác dụng đo lường mức độ hoạt động của doanh nghiệp có liên quan đến việc sử dụng tài sản và hiệu quả kinh doanh Đối với doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, sau đây là một số chỉ tiêu
cơ bản:
Phân tích tình hình sử dụng hàng tồn kho:
Giá vốn hàng bán (Mã số 11 – Báo cáo KQHĐKD)
Nếu vòng quay vốn hàng tồn kho quá cao, dẫn đến khả năng doanh nghiệp không đủ hàng hoá thoả mãn nhu cầu bán hàng, làm cho doanh nghiệp mất khách hàng Ngược lại, hàng tồn kho dự trữ quá mức cần thiết, gây ứ đọng vốn, hoặc hàng hoá không phù hợp với nhu cầu thị trường, tiêu thụ chậm… gây lãng phí vốn, chi phí sử dụng vốn cao do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
• Kỳ luân chuyển hàng tồn kho:
Số ngày trong kỳ
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho =
Số vòng quay hàng tồn kho
Trang 15Kỳ luân chuyển hàng tồn kho là số ngày cần thiết để hàng tồn kho quay được một vòng hay nói cách khác, để hàng tồn kho quay được một vòng thì phải cần một khoản thời gian bình quân là bao nhiêu ngày Nếu số ngày luân chuyển càng lớn thì việc quay vòng hàng tồn kho chậm, điều này cũng đồng nghĩa với việc dự trữ nguyên vật liệu quá mức hoặc hàng hoá tồn kho quá nhiều và ngược lại
Phân tích tình hình luân chuyển các khoản phải thu:
Doanh thu và thu nhập (Mã số 10, 21 và 31 – Báo cáo KQHĐKD)
Các khoản phải thu bình quân
Số vòng quay các khoản phải thu =
(Mã số 130 – Phần tài sản)
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi nợ Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu càng cao thì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên số vòng quay quá cao sẽ không tốt vì ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ, khó tìm kiếm các đối tác làm ăn mới, gặp khó khăn trong việc mở rộng qui mô thị trường
• Kỳ thu tiền bình quân ( kỳ luân chuyển các khoản phải thu):
Số ngày trong kỳ
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho =
Số vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày cần thiết bình quân để thu hồi các khoản phải thu trong kỳ, hay nói cách khác chỉ tiêu này cho thấy để thu được các khoản phải thu cần một khoảng thời gian bình quân là bao nhiêu
Nếu số ngày càng lớn thì việc thu hồi các khoản phải thu chậm và ngược lại Tuy nhiên, kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có thể kết luận chắc chắn mà phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp…
Phân tích tình hình luân chuyển vốn ngắn hạn:
Doanh thu và thu nhập (Mã số 10, 21 và 31 – Báo cáo KQHĐKD)
Tài sản ngắn hạn bình quân Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn =
(Mã số 100 – Phần tài sản)
Trang 16Ý nghĩa: hệ số này cho biết cứ bình quân 1 đồng vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Phân tích tình hình luân chuyển vốn dài hạn:
Doanh thu và thu nhập (Mã số 10, 21 và 31 – Báo cáo KQHĐKD)
Tài sản dài hạn bình quân Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn =
1.2.4.4 Phân tích tỷ số sinh lời
Nhà quản trị thông qua việc phân tích các tỷ số sinh lời để nắm được hiệu quả sử dụng vốn của công ty
Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và thu nhập:
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) (Mã số 50 (60) – Báo cáo KQHĐKD)
Doanh thu và thu nhập
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu và thu nhập =
(Mã số 10, 21 và 31 – Báo cáo KQHĐKD)
Trang 17Ý nghĩa: Trong một kỳ kinh doanh, cứ trong 100 đồng doanh thu và thu nhập khác thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thì có bao nhiêu đồng là lợi nhuận trước thuế hay sau thuế Thông qua chỉ tiêu này, những người quan tâm đến doanh nghiệp nhận biết được hiệu quả của 1 đồng doanh thu thu được trong kỳ cao hay thấp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tốt
Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản:
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) (Mã số 50 (60) – Báo cáo KQHĐKD)
Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tài sản ngắn hạn:
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) (Mã số 50 (60) – Báo cáo KQHĐKD) Tài sản ngắn hạn bình quân
Tỷ suất lợi nhuận
trên tài sản ngắn hạn = 100*
(Mã số 100 – Phần tài sản)
Ý nghĩa: tỷ số này cho biết bình quân một đồng vốn ngắn hạn bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ đã mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu tỷ số này lớn hơn 0 và có xu hướng tăng chứng tỏ việc sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp có hiệu quả
Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tài sản dài hạn:
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) (Mã số 50 (60) – Báo cáo KQHĐKD) Tài sản ngắn hạn bình quân
Tỷ suất lợi nhuận
trên tài sản dài hạn = 100*
(Mã số 200 – Phần tài sản)
Trang 18Ý nghĩa: tỷ số này cho biết bình quân một đồng vốn dài hạn bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ đã mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu
tỷ số này lớn hơn 0 và có xu hướng tăng chứng tỏ việc sử dụng vốn dài hạn của doanh nghiệp ngày càng tốt và ngược lại
1.2.4.5 Phân tích giá trị thị trường của công ty
Phân tích thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS):
Tỷ suất thu nhập Thu nhập ròng của cổ đông thường
trên mỗi cổ phiếu = Số lượng cổ phiếu thường
Trong đó: Thu nhập ròng của cổ đông = Lợi nhuận sau thuế - Lợi tức của cổ phiếu ưu đãi
Chỉ tiêu này là một yếu tố quan trọng quyết định giá trị cổ phiếu bởi vì nó đo lường mức thu nhập tính trên mỗi cổ phiếu hay nói cách khác, nó thể hiện mức thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phiếu đó
Phân tích thu nhập trên vốn cổ phần (ROE):
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) (Mã số 50 (60) – Báo cáo KQHĐKD) Vốn chủ sở hữu bình quân
Nếu tỷ số này có xu hướng tăng là dấu hiệu cho thấy việc sử dụng đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại
1.2.4.6 Phân tích đòn bẩy tài chính của công ty (DFL)
Để đo lường rủi ro tài chính của một doanh nghiệp người ta dựa vào độ nghiêng của đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính là khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng các chứng khoán có thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi)
Trang 19trong cơ cấu vốn của mình Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi
tỷ trọng chứng khoán có thu nhập cố định trong tổng vốn của doanh nghiệp cao
Phần trăm thay đổi của EPS DFLEBIT =
Phần trăm thay đổi của EBIT
Ý nghĩa: Khi LNTT và lãi vay (EBIT) thay đổi 1% thì lợi nhuận trên số cổ phần (EPS) hay lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) thay đổi 1% x DFL
1.2.4.7 Phân tích DUPONT
Phương pháp này cho biết mối quan hệ tương hỗ giữa các tỷ số tài chính Đó
là mối quan hệ hàm số giữa các tỷ số: vòng quay tổng tài sản, doanh lợi doanh thu,
tỷ số nợ với tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Ngoài ra, phương pháp này còn chỉ rõ các nhân tố trong từng thành phần tác động đến các tỷ số này
Theo phương pháp này, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu được phân tích như sau:
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản:
Đối với tỷ suất này, khi sử dụng phương pháp Dupont cho phép xác định nguồn gốc làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, hoặc là do doanh thu bán hàng không đủ lớn
để tạo ra lợi nhuận hoặc do lợi nhuận trên một đồng doanh thu quá nhỏ Từ đó, nhà quản trị có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp: hoặc đẩy mạnh tiêu thụ hoặc tiết kiệm chi phí
Doanh lợi tổng vốn = Doanh lợi doanh thu x Vòng quay tổng vốn
Doanh thu thuần x Tổng tài sản
Phương trình trên cho thấy, doanh lợi vốn kinh doanh phụ thuộc vào hai nhân tố:
- Doanh lợi doanh thu: phản ánh mức sinh lời trên một đồng doanh thu cao hay thấp Đối với nhân tố này, mức sinh lời trên một đồng doanh thu cao hay thấp
là do ảnh hưởng của chi phí sản xuất phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 20cao hay thấp Trong tổng số chi phí phát sinh thì bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Vì vậy, một khi phân tích tỷ số này thấp thì ta phải đề ra biện pháp để giảm chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Vòng quay tổng vốn: phản ánh mức độ hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ tốt hay xấu Đối với nhân tố này, việc làm giảm tốc độ quay vòng của vốn là do doanh thu tiêu thụ hàng hoá trong kỳ là quá thấp hoặc doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản trong doanh nghiệp Từ việc phân tích trên, ta đề ra các biện pháp hợp lý và kịp thời theo hướng đẩy mạnh và mở rộng thị trường tiêu thụ để gia tăng doanh thu và tận dụng công suất máy móc thiết bị đã đầu tư…
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:
Doanh lợi vốn
chủ sở hữu = Doanh thu thuần x Tổng tài sản x Vốn chủ sở hữu
1 ROE = Doanh lợi doanh
Vòng quay tổng vốn x 1 – tỷ số nợ
Phương trình trên cho thấy, doanh lợi vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào 3 nhân
tố, đó là doanh lợi doanh thu, số vòng quay tổng vốn và tỷ số nợ
Đối với các nhân tố doanh lợi doanh thu và số vòng quay tổng vốn thì việc phân tích tương tự như tỷ suất doanh lợi vốn kinh doanh Đối với tỷ số nợ, ta thấy khi tỷ số nợ càng cao thì tỷ số 1/(1- tỷ số nợ) càng lớn Do đó, khi doanh nghiệp có lợi nhuận thì tỷ số doanh lợi vốn chủ càng cao, hay nói cách khác là tỷ số nợ tỷ lệ thuận với doanh lợi vốn chủ, nghĩa là khi doanh nghiệp vay nợ càng nhiều thì càng
kỳ vọng làm gia tăng doanh lợi vốn chủ Tuy nhiên, khi tỷ số nợ của doanh nghiệp càng cao thì các tỷ số thanh toán càng thấp cho thấy rủi ro tài chính càng cao
Trang 21Chương 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
XÂY DỰNG KHÁNH HÒA 2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG KHÁNH HÒA
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty cổ phần xây dựng Khánh Hòa tiền thân là Công ty xây dựng Khánh Hòa, được thành lập từ sự hợp nhất Công ty xây dựng số 2 và Công ty xây dựng số
3 từ năm 1989 theo quyết định số 163/UB ngày 07/08/1989
Ngày 29/12/2004 theo quyết định chuyển đổi doanh nghiệp số 3629/QĐ-UB của UBND tỉnh Khánh Hòa chuyển Công ty xây dựng Khánh Hòa từ một doanh nghiệp vốn nhà nước thành Công ty cổ phần xây dựng Khánh Hòa và hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 370300171 do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 25/08/2005 Công ty xây dựng Khánh Hòa chính thức chuyển thành Công
ty cổ phần xây dựng Khánh Hòa vào ngày 01/09/2005
Tên công ty: Công ty cổ phần xây dựng Khánh Hòa (KCC)
(Khanh Hoa construction joint stock company)
Trụ sở chính: 43 Nguyễn Thị Minh Khai – Nha Trang
và công nghiệp, thẩm định giá hợp đồng…
Trang 22Tại thời điểm chuyển đổi vào năm 2005, vốn điều lệ của công ty đã đạt đến 5
tỷ đồng
Một số công trình quan trọng của tỉnh Khánh Hòa mà công ty đã hoàn thành: Trụ sở Thành ủy Nha Trang, bệnh viện đa khoa Ninh Hòa, Vạn Ninh, cục thuế tỉnh Khánh Hòa, khu resort Anna Madara,…
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
- Thực hiện nghiêm túc chế độ sổ sách kế toán do Nhà nước quy định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ngân sách đối với Nhà nước về thuế, phí và các khoản phải nộp khác
- Trong quá trình thi công phải đảm bảo an toàn lao động cho người và máy móc, tuân thủ quy định về phòng cháy chữa cháy, có biện pháp đảm bảo vệ sinh môi trường
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
2.1.2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
Trang 23Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý
2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan cao nhất của công ty giữa hai kỳ đại hội cổ đông,
có nhiệm vụ thảo luận và thông qua các vấn đề để trình Đại hội đồng cổ đông quyết định Hàng năm có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, đưa ra các phương hướng chiến lược đầu tư, phát triển công ty; lập các phương án phân phối lợi nhuận,
Hội ngđ quản trị Ban kiểm soát
Trang 24trích lập các quỹ và chia cổ tức cho cổ đông; báo cáo phúc trình hoạt động, các báo cáo tài chính trong năm và các tài liệu có liên quan; giải trình nhu cầu tăng giảm vốn, thay đổi mệnh giá cổ phiếu, có các phương án phát hành cổ phiếu, trái phiếu để thực hiện kế hoạch huy động vốn phát triển sản xuất kinh doanh
Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát là người thay mặt Đại hội đồng cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành của Giám đốc, chịu trách nhiệm về những sai phạm gây thiệt hại cho công ty khi thực hiện nhiệm vụ
Ban giám đốc:
Giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao Giám đốc có nhiệm vụ tổ chức phân tích thực hiện các kế hoạch dài hạn phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư được thông qua và quyết định lương, thưởng, các khoản phụ cấp cho lao động trong công ty
Phòng tổ chức hành chính:
Có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về toàn bộ công tác quản lý hành chính, lao động tiền lương và các chế độ bảo hiểm, hưu trí và chính sách cho lao động toàn công ty; tiếp nhận và giải quyết công văn, giấy tờ liên quan đến công tác tổ chức hành chính; quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên toàn công ty và tổ chức sắp xếp lao động
Phòng kế toán:
Giám sát toàn bộ hoạt động kinh doanh, tham mưu cho giám đốc về công tác tài chính kế toán của công ty bao gồm: tình hình huy động và sử dụng vốn, tình hình tài sản, chi phí, kết quả hoạt động kinh doanh Lập các sổ sách kế toán và quyết toán tài chính đúng niên độ, đúng quy định Cuối tháng, tổng hợp quyết toán, cung cấp thông tin kinh tế chính xác và kịp thời phục vụ cho công tác quản lý kinh doanh
Phòng kinh doanh:
Có nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, chuẩn bị hồ sơ tham gia đấu thầu Tổ chức giao dịch ký hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng Tiến hành phân tích tình hình
Trang 25sản xuất kinh doanh, phân tích, tổng hợp vật tư, nguyên liệu, nhân công, thiết lập bảng dự toán chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình, tiến hành theo dõi
và tổng hợp chi phí thi công Thiết kế bản vẽ, tổ chức thi công và nghiệm thu công trình, chỉ đạo kỹ thuật thi công
Công trường:
Là đơn vị trực thuộc công ty, là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm thi công đối với từng công việc cụ thể được giao, phải hoàn thành nhiệm vụ và chịu sự kiểm tra giám sát của công ty
2.1.3 Tổ chức bộ máy sản xuất của công ty
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất Tại công trường cũng được bố trí cơ cấu một cách chặt chẽ để thực hiện nhiệm
vụ Đứng đầu một công trường là chỉ huy trưởng (trạm trưởng), là người trực tiếp chỉ đạo, giám sát thi công cụ thể của từng công nhân tại công trường do mình quản
lý Bên cạnh còn có các bộ phận hỗ trợ:
Chỉ huy trưởng công trình
Trang 26Bộ phận kỹ thuật
Chịu trách nhiệm trực tiếp về mặt kỹ thuật, mỹ thuật trong quá trình thi công công trình, hạng mục công trình Kịp thời báo cáo nếu gặp khó khăn và đảm bảo công tác an toàn lao động
Bộ phận vật tư:
Tiến hành lập kế hoạch, theo dõi tình hình vật tư, hàng hóa, đảm bảo cung ứng vật tư kịp thời và đầy đủ trong quá trình thi công
Bộ phận an toàn vệ sinh môi trường
Làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát từng công nhân, từng công việc vụ thể trong quá trình thi công nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động và người dân xung quan khu vực thi công Đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
2.1.4 Công tác tổ chức hạch toán kế toán tại doanh nghiệp
2.1.4.1 Tổ chức công tác kế toán tại công ty Cổ phần Xây dựng Khánh Hòa
Công ty Cổ phần Xây dựng Khánh Hòa tổ chức công tác kế toán theo mô hình tập trung Theo hình thức này tất cả các công việc kế toán như phân loại chứng
từ, định khoản, ghi sổ chi tiết, tính giá thành, lập báo cáo đều được thực hiện tập trung ở phòng kế toán Bên cạnh đó, tại các công trường, trạm bê tông, mỏ đá còn
có các bộ phận kế toán trực thuộc tập hợp hóa đơn, chứng từ đầu vào định kỳ gửi lên công ty để kế toán hạch toán chi phí cho các bên liên quan
Chế độ kế toán áp dụng tại công ty theo QĐ 15/2006 QĐ – BTC
• Niên độ kế toán: từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 hàng năm
• Đơn vị tiền tệ sử dụng để ghi chép sổ kế toán: VNĐ
• Hình thức sổ sách kế toán áp dụng: Nhật ký chung
• Phương pháp kế toán: kê khai thường xuyên
• Công ty áp dụng kế toán máy để giảm nhẹ khối lượng công việc và có tính chính xác cao
Trang 272.1.4.2 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
Quan hệ chỉ đạo Quan hệ đối chiếu, tổng hợp
Sơ đồ 2.3 Tổ chức nhân sự phòng kế toán Chức năng và nhiệm vụ của từng thành viên:
Kế toán trưởng:
Là người đứng đầu bộ máy kế toán của công ty, có nhiệm vụ điều hành và chịu trách nhiệm về toàn bộ sổ sách, chế độ kế toán và công tác chuyên môn trước giám đốc và pháp luật
Quản lý, kiểm tra, ký duyệt các chứng từ kế toán, có trách nhiệm kiểm tra các hóa đơn, chứng từ, các báo cáo của đơn vị trực thuộc để tổng hợp số liệu toàn công
ty và lập các báo cáo tài chính
Tổ chức việc thanh quyết toán khối lượng công trình đúng thủ tục và thời gian quy định khi công trình đã nghiệm thu từng hạng mục hoặc đã đưa vào sử dụng
Kế toán trưởng còn có nhiệm vụ quan trọng là chỉ đạo nhân viên và các cán bộ liên quan thu hồi nợ đẩy mạnh công tác thu hồi vốn
Hàng tháng kế toán trưởng có trách nhiệm cung cấp số liệu về tài chính và sản xuất của công ty, lên các báo cáo quản trị nhanh chóng theo định kỳ hoặc đột xuất
Kế toán trưởng (trưởng phòng tài chính)
Kế toán ở các đơn vị trực thuộc
Trang 28theo yêu cầu của giám đốc và tham mưu cho giám đốc tình hình tài chính của công
ty
Kế toán tổng hợp:
Kế toán tổng hợp có nhiệm vụ giúp kế toán trưởng tiến hành hạch toán, theo dõi các phần hành kế toán, giám sát việc thu chi tạm ứng nhằm tìm ra biện pháp xử lý các đối tượng có số dư công nợ lớn và công trình, công việc cần ứng vốn lớn
Theo dõi và hạch toán tiền, công nợ, TSCĐ, chi phí, khấu hao, vật tư… Tập hợp
số liệu cho các đơn vị trực thuộc, tổng hợp số liệu thanh quyết toán công trình và báo cáo cho kế toán trưởng
Tập hợp bảng kê chi tiết, phân bổ các khoản chi phí, ghi vào nhật ký chung, lập
hồ sơ chữ T, vào sổ cái, sổ chi tiết và xác định kết quả kinh doanh
Khi có yêu cầu của kế toán trưởng và ban giám đốc, kế toán tổng hợp thực hiện lên các báo cáo nhanh và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các số liệu báo cáo của mình trước kế toán trưởng
Thủ quỹ:
Phụ trách khâu thu chi đúng nguyên tắc, cập nhật thu chi hàng ngày vào sổ quỹ, hàng tháng lập báo cáo quỹ trình lên cấp trên, quản lý quỹ tiền mặt đúng với sổ sách Thực hiện nghĩa vụ thu chi tiền mặt, bảo quản tiền mặt và các chứng từ Tiến hành chi trả lương cho công nhân và chi tạm ứng đúng thủ tục và thời hạn quy định Ngoài ra, thủ quỹ còn có nhiệm vụ giao dịch với các ngân hàng, các cơ quan bộ phận có lên quan Phối hợp với các nhân viên khác để tăng cường công tác thu hồi
nợ Thủ quỹ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực về số liệu báo cáo trước công ty và pháp luật về sự thiếu hụt, mất mát của số tiền trong quỹ
Kế toán tại các đơn vị trực thuộc:
Làm nhiệm vụ tập hợp hóa đơn, chứng từ, sổ sách, tiến hành chấm công, tính lương rồi đem lên phòng kế toán để tổng hợp theo dõi, tập hợp chi phí Kế toán tại các đơn vị trực thuộc còn có nhiệm vụ phát lương trực tiếp cho người lao động và phối hợp với các nhân viên khác để tăng cường công tác thu hồi nợ
2.1.5 Thuận lợi, khó khăn, phương hướng phát triển
Trang 292.1.5.1 Phương hướng phát triển
Phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn là nỗ lực tăng doanh thu, tăng tỷ lệ cổ tức trên vốn điều lệ và tăng thu nhập bình quân cho người lao động, bảo toàn và phát triển vốn, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, giúp công ty ngày càng phát triển và đứng vững trên thị trường
Để thực hiện tốt kế hoạch đề ra, công ty cần tập trung giải quyết một số nội dung như sau:
- Đầu tư mua sắm thêm dàn giáo, cotfa, cây chống thép theo hình thức công ty bỏ vốn đầu tư sau đó bàn giao cho đội quản lý sử dụng và trừ dần vào từng công trình đội thi công, sau khi trừ hết tiền đầu tư thì toàn bộ thiết bị đó thuộc sở hữu của đội
- Rà soát lại thiết bị hiện có ít sử dụng, lạc hậu về kỹ thuật, có kế hoạch bán thanh
lý, đồng thời lập dự án đầu tư thêm thiết bị mới phục vụ nhu cầu thi công, đầu tư thêm cần cẩu tháp để thi công nhà cao tầng
- Tiến hành nâng cấp và thay thế các thiết bị phụ tùng cũ kĩ, lạc hậu, lắp đặt thiết
bị mới và lắp đặt hệ thống điều khiển tự động
2.1.5.2 Thuận lợi, khó khăn
Thuận lợi
Khánh Hòa có điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi cho hoạt động xây dựng các công trình theo kịp tiến độ thi công Đồng thời thành phố Nha Trang là một thành phố du lịch với tốc độ xây dựng cao, đây là lợi thế để công ty tiến hành đầu
tư, mở rộng sản xuất kinh doanh trong ngành xây dựng
Các cán bộ chủ chốt trong công ty đã có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề Nhờ đó lãnh đạo công ty có những quyết định đúng đắn, linh hoạt, ứng phó kịp thời với những biến động phức tạp trên thị trường
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý công ty và đội ngũ nhân viên không những
có trình độ tay nghề tương đối cao mà còn có tinh thần nhiệt tình, phấn đấu không ngừng
Trang 30Công ty có định hướng rõ ràng trong sự phát triển với việc chú trọng đầu tư máy móc thiết bị không những trong công tác xây dựng mà còn trong lĩnh vực văn phòng nhằm hỗ trợ tối đa cho công việc
ty
Giá cả nguyên vật liệu cũng như các dịch vụ khác luôn biến động theo chiều hướng ngày càng tăng do tính chất lạm phát của nền kinh tế Máy móc thiết bị nhìn chung đáp ứng được nhu cầu công việc nhưng số lượng của mỗi loại xe, máy móc còn ít so với nhu cầu thực tế cho nên đã gây ra không ít khó khăn khi phải vận chuyển từ công trường này sang công trường khác, đặc biệt là khi hai công trường thi công cách xa nhau
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TỪ NĂM
2009 – 2011
2.2.1 Phân tích bảng cân đối kế toán
2.2.1.1 Phân tích kết cấu và sự biến động tài sản trong 3 năm 2009 – 2011
Phân tích sự biến động tài sản của công ty giúp ta biết về quy mô và sự biến động tài sản tại thời điểm lập báo cáo Qua bảng cân đối kế toán ta lập được bảng phân tích sự biến động tài sản qua 3 năm 2009 – 2011 tại công ty như sau:
Trang 31Bảng 2.1: Phân tích sự biến động tài sản trong 3 năm 2009 đến 2011
Đơn vị tiền: Ngđ
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch
2010/2009
Chênh lệch 2011/2010 Tài sản
A-Tài sản ngắn hạn 30.425.466 92,46 37.601.109 90,02 42.347.934 87,91 7.175.643 23,58 4.746.825 12,62
1.Tiền và các khoản tương
đương tiền 6.948.721 21,12 6.987.744 16,73 6.722.582 13,95 39.023 0,56 (265.162) (3,79) 2.Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn 2.000.000 6,08 2.471.244 5,92 471.244 0,98 471.244 23,56 (2.000.000) (80,93) 3.Các khoản phải thu ngắn
hạn 13.933.447 42,34 15.800.669 37,83 18.084.104 37,54 1.867.222 13,40 2.283.435 14,45 4.Hàng tồn kho 7.543.298 22,92 12.221.817 29,26 16.944.368 35,17 4.678.518 62,02 4.722.552 38,64 5.Tài sản ngắn hạn khác - - 119.636 0,29 125.636 0,26 119.636 100,00 6.000 5,02
Trang 32Qua bảng phân tích kết cấu và sự biến động về tài sản của công ty cổ phần xây dựng Khánh Hòa trong 3 năm 2009 – 2011, có thể nhận thấy nhìn chung tổng tài sản của công ty qua các năm đều tăng, cụ thể năm 2010 tổng tài sản công ty tăng 26,93% và tiếp tục tăng thêm 15,33% vào năm 2011 Cụ thể:
Tổng tài sản bình quân năm 2010 là 41.769.924 ngđ, tăng 8.862.800 ngđ so với năm 2009 Nguyên nhân là do:
• Tài sản ngắn hạn năm 2010 là 37.601.109 ngđ, chiếm 90,02% tổng tài sản, tỷ trọng tuy giảm so với năm 2009, nhưng lại có tốc độ tăng nhanh hơn với tỷ lệ tăng là 23,58% Trong đó:
- Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2009 là 6.948.721 ngđ, chiếm 21,12% tổng tài sản Sang năm 2010, con số này là 6.987.744 ngđ, chiếm 16,73% tổng tài sản Cho thấy có sự sụt giảm về tỷ trọng của khoản mục tiền và tương đương tiền trong tổng tài sản công ty mặc dù xét về tốc độ tăng thì chỉ tiêu này vẫn tăng nhẹ với mức 0,56%
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn tuy tăng 23,56%, tức từ 2.000.000 ngđ năm 2009 lên 2.471.244 ngđ năm 2010 nhưng lại sụt giảm về tỷ trọng, mức tỷ trọng giảm từ 6,08% năm 2009 còn 5,92% năm 2010
- Tương tự với tình hình của hai khoản mục trên, các khoản phải thu ngắn hạn cũng tăng từ 13.933.447 ngđ năm 2009 lên 15.800.668 ngđ năm 2010, tương ứng tăng 13,4% Tuy nhiên tỷ trọng trong tổng tài sản lại giảm nhẹ từ 42,34% năm
2009 còn 37,83% năm 2010 Các khoản phải thu ngắn hạn tăng chủ yếu do khoản phải thu khách hàng tăng, khoản này là khoản phải thu từ đối tác do công trình đã được nghiệm thu nhưng chưa được thanh toán
- Hàng tồn kho có mức tăng mạnh mẽ trong năm 2010 Năm 2009 hàng tồn kho có giá trị là 7.543.298 ngđ, đã tăng đến 62,02%, đạt 12.221.817 ngđ năm
2010 Đồng thời, tỷ trọng của nó trong tổng tài sản cũng tăng từ 22,92% năm
2009 lên 29,96% năm 2010 Nguyên nhân của sự gia tăng này chủ yếu là do sự gia tăng của chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Hay nói cách khác, tại thời điểm lập báo cáo, công ty vẫn còn nhiều hạng mục thi công chưa hoàn thành
Trang 33- Trong năm 2010, công ty bắt đầu có thêm tài sản ngắn hạn khác nhưng mức
tỷ trọng chỉ đạt 0,29%, tương ứng 119.636 ngđ
• Tài sản dài hạn của công ty tăng mạnh mẽ từ 2.481.658 ngđ năm 2009 lên 4.168.815 ngđ năm 2010, tương ứng tăng 67,99% Tỷ trọng trong tổng tài sản cũng có chiều hướng gia tăng, năm 2009 là 7,54% và năm 2010 là 9,98% Trong
đó, chiếm phần lớn trong tài sản dài hạn của công ty là tài sản cố định Với mức tăng 70,56% trong vòng 1 năm, từ 2.400.286 ngđ năm 2009 lên 4.093.890 ngđ năm 2010, sự tăng trưởng của tài sản cố định đã góp phần lớn nhất trong sự gia tăng chung của tài sản dài hạn Bên cạnh đó, tài sản dài hạn khác tuy giảm nhẹ 7,92% nhưng không đáng kể do tỷ trọng của nó trong tổng tài sản bình quân là khá thấp, chỉ chiếm 0,18% (số liệu năm 2010)
Năm 2011, tổng tài sản bình quân của công ty tiếp tục tăng từ 41.769.924 ngđ năm 2010 lên 48.173.877 ngđ năm 2011, tương ứng tăng 15,33% Đây là mức
tăng thấp hơn so với năm 2010 Nguyên nhân:
• Tài sản ngắn hạn tuy tăng 12,62%, tức tăng từ 37.601.109 ngđ năm 2010 lên 42.347.934 ngđ năm 2011, nhưng lại tiếp tục giảm về mặt tỷ trọng Với mức tỷ trọng giảm từ 90,02% năm 2010 xuống còn 87,91% năm 2011, cơ cấu tài sản đang dần có sự thay đổi theo chiều hướng giảm tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tăng
tỷ trọng tài sản dài hạn Cụ thể:
- Tiền và các khoản tương đương tiền giảm nhẹ về mặt giá trị, từ 6.987.744 ngđ năm 2010 còn 6.722.582 năm 2011, tức giảm 265.162 ngđ tương đương 3,79% Đồng thời, tỷ trọng của nó trong tổng tài sản cũng giảm từ 16,73% năm
2010 xuống 13,95%
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn cũng giảm mạnh về mặt giá trị lẫn tỷ trọng Từ mức 2.471.244 ngđ năm 2010, khoản mục này chỉ còn 471.244 ngđ năm 2011, tương ứng giảm 80,93% Bên cạnh đó, tỷ trọng của nó cũng giảm từ 5,92% năm 2010 còn 0,98% năm 2011
- Các khoản phải thu ngắn hạn tiếp tục tăng với tốc độ 14,45%, tức từ 15.800.669 ngđ năm 2010 đến 18.084.104 ngđ năm 2011, nhưng không có nhiều
Trang 34thay đổi về mặt tỷ trọng Phải thu ngắn hạn tăng chủ yếu vẫn do sự gia tăng của khoản mục phải thu khách hàng và các khoản phải thu khác
- Khoản mục hàng tồn kho tuy không có sự gia tăng lớn như năm 2010 nhưng cũng đạt được mức tăng 38,64%, tương ứng tăng 4.722.552 ngđ, từ 12.221.817 ngđ năm 2010 lên 16.944.368 ngđ năm 2011 Đồng thời tỷ trọng của nó trong tổng tài sản cũng viết tiếp chiều hướng gia tăng của năm 2010 khi dịch chuyển từ mức 29,26% năm 2010 lên 35,17% năm 2011
- Tài sản ngắn hạn khác tăng nhẹ từ 119.636 ngđ năm 2010 lên 125.636 ngđ năm 2011, tức tăng 5,02% Tuy vậy, do tỷ trọng trong tổng tài sản khá thấp, chỉ khoảng 0,26%, nên sự gia tăng này không tác động nhiều đến tình hình biến động tài sản nói chung
• Tài sản dài hạn năm 2011 có tốc độ tăng chỉ bằng một nửa so với mức tăng cùng kì năm trước, đạt tốc độ 39,75%, tức tăng từ 4.168.815 ngđ năm 2010 lên 5.825.943 ngđ năm 2011 Bên cạnh đó, tỷ trọng của tài sản dài hạn trong tổng tài sản cũng tiếp tục tăng từ 9,98% lên 12,09% Góp phần lớn nhất trong sự gia tăng này vẫn là khoản mục tài sản cố định với mức tỷ trọng gia tăng từ 9,8% năm 2010 lên 12,01% năm 2011 kèm theo tốc độ tăng trưởng 41,35% Mặc dù khoản mục tài sản dài hạn khác có mức giảm khá lớn 47,57% nhưng với mức tỷ trọng chỉ
chiếm 0,08% trong tổng tài sản thì tác động của nó là không đáng kể
Như vậy, với việc phân tích kết cấu cũng như sự biến động về tài sản qua 3 năm 2009 – 2011 có thể thấy rằng tổng tài sản bình quân liên tục tăng, tuy mức tăng năm sau không cao như năm trước Đây là dấu hiệu khả quan cho thấy công ty đang trên đà tăng trưởng và quy mô hoạt động đang được mở rộng Sự gia tăng ở năm
2011 tuy chậm hơn so với năm trước nhưng đây là thực trạng chung của nền kinh tế còn nhiều biến động và khó khăn, nhưng qua đó đã chứng minh được năng lực kinh doanh và ứng phó với các biến động trên thị trường của công ty là khá tốt Tuy nhiên việc chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản của các khoản phải thu và hàng tồn kho về lâu dài sẽ gây ứ đọng vốn và giảm hiệu quả sử dụng vốn của công
ty Cũng từ kết quả phân tích trên, với sự thay đổi trong cơ cấu tài sản theo chiều
Trang 35hướng gia tăng tỷ trọng tài sản dài hạn hay chính xác hơn là tài sản cố định và giảm
tỷ trọng tài sản ngắn hạn, ta có thể đưa ra nhận định công ty đang ngày càng chú trọng vào việc đầu tư nâng cấp hệ thống trang thiết bị, máy móc, phương tiện phục
vụ công tác thi công, sản xuất nhằm tăng năng lực hoạt động trong tương lai
2.2.1.2 Phân tích kết cấu và sự biến động nguồn vốn trong 3 năm 2009 –
2011
Trang 36Bảng 2.2: Phân tích sự biến động nguồn vốn trong 3 năm 2009 đến 2011 Đơn vị tiền: Ngđ
Nợ phải trả 25.553.284 77,65 32.248.829 77,21 37.633.849 78,12 6.695.545 26,20 5.385.020 16,70
Nợ ngắn hạn 25.553.284 77,65 32.248.829 77,21 37.633.849 78,12 6.695.545 26,20 5.385.020 16,70 Phải trả cho người bán 8.234.090 25,02 10.845.264 25,96 14.575.679 30,26 2.611.174 31,71 3.730.415 34,40 Người mua trả tiền trước 11.576.894 35,18 15.477.979 37,06 17.543.333 36,42 3.901.085 33,70 2.065.354 13,34 Thuế và các khoản phải nộp
Nhà nước 1.321.094 4,01 872.191 2,09 1.019.604 2,12 (448.903) (33,98) 147.413 16,90Phải trả người lao động 628.888 1,91 760.939 1,82 461.749 0,96 132.051 21,00 (299.191) (39,32) Chi phí phải trả 2.179.828 6,62 2.891.504 6,92 3.029.849 6,29 711.675 32,65 138.345 4,78 Các khoản phải trả, phải nộp
ngắn hạn khác 1.567.523 4,76 1.319.448 3,16 897.130 1,86 (248.075) (15,83) (422.318) (32,01)Quỹ khen thưởng phúc lợi 44.967 0,14 81.503 0,20 106.505 0,22 36.536 81,25 25.002 30,68
-VỐN CHỦ SỞ HỮU 7.353.839 22,35 9.521.095 22,79 10.540.028 21,88 2.167.256 29,47 1.018.933 10,70 Vốn chủ sở hữu 7.353.839 22,35 9.521.095 22,79 10.540.028 21,88 2.167.256 29,47 1.018.933 10,70 Vốn đầu tư của chủ sở hữu 6.466.560 19,65 7.933.120 18,99 7.933.120 16,47 1.466.560 22,68 0 0,00
-Cổ phiếu quỹ (390.000) (1,19) (780.000) (1,87) (780.000) (1,62) (390000) 100,00 0 0,00 Quỹ đầu tư phát triển 1.128.749 3,43 1.936.615 4,64 2.202.646 4,57 807.867 71,57 266.030 13,74 Quỹ dự phòng tài chính 148.530 0,45 227.792 0,55 316.468 0,66 79.261 53,36 88.677 38,93
TỔNG CỘNG VỐN 32.907.124 100,00 41.769.924 100,00 48.173.877 100,00 8.862.800 26,93 6.403.953 15,33
Chênh lệch 2011/2010 Nguồn vốn Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Chênh lệch 2010/2009
Trang 37Qua bảng phân tích 2.2 ta thấy:
Tổng nguồn vốn bình quân năm 2010 tăng 26,93% so với năm 2009, tức tăng từ
32.907.124 ngđ lên 41.769.924 ngđ Mức tăng này chủ yếu do:
Sự thay đổi của khoản mục nợ phải trả Do công ty không có nợ dài hạn nên nợ phải trả của công ty hoàn toàn là nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, với mức tỷ trọng tuy có phần giảm nhẹ, từ 77,65% năm 2009 giảm còn 77,21% năm 2010, nhưng lại có tốc độ tăng khá nhanh nên đã tác động mạnh đến sự thay đổi chung của tổng nguồn vốn Chỉ trong 1 năm, nợ ngắn hạn đã tăng từ 25.553.284 ngđ năm 2009 lên 32.248.829 ngđ năm 2010, tương ứng tăng 26,2% Sự biến động này chủ yếu phụ thuộc vào các khoản mục có tỷ trọng lớn là phải trả người bán, người mua trả tiền trước và chi phí phải trả, cụ thể:
- Phải trả người bán tăng 31,71%, tức từ 8.234.090 ngđ năm 2009 lên 10.845.264 ngđ năm 2010 Tỷ trọng của nó trong tổng nguồn vốn xấp xỉ 25%, tuy
có sự gia tăng nhưng không nhiều
- Người mua trả tiền trước năm 2010 đạt 15.477.980 ngđ, tăng 3.901.085 ngđ tương ứng 33,7% so với năm 2009 Với mức tỷ trọng chiếm đến 37,06% vào năm
2010, sự thay đổi của khoản mục này góp phần khá lớn vào sự thay đổi của sự biến động nguồn vốn
- Chi phí phải trả tăng về mặt tỷ trọng, từ 6,62% năm 2009 lên 6,92% năm
2010 Về mặt giá trị, chi phí phải trả đã tăng 32,65%, tức từ 2.179.828 ngđ năm
- Vốn đầu tư chủ sở hữu đóng vai trò tác động mạnh nhất đến sự thay đổi chung của vốn chủ sở hữu, với việc năm 2010 tăng 22,68%, đạt 7.933.120 ngđ Tỷ
Trang 38trọng trong tổng nguồn vốn tuy giảm nhưng không nhiều, từ mức 19,65% năm
2009 còn 18,99% năm 2010
- Quỹ đầu tư phát triển tăng mạnh 71,57%, tức từ 1.128.749 ngđ năm 2009 lên 1.936.615 ngđ năm 2010 Kèm theo đó là sự gia tăng về mặt tỷ trọng trong tổng nguồn vốn, từ 3,43% lên 4,64% trong năm 2010
Tổng nguồn vốn năm 2011 là 48.173.877 ngđ, tăng 15,33% hay 6.403.953 ngđ
so với năm 2010 Nguyên nhân:
Xét về nợ phải trả, trong năm này công ty tiếp tục không có nợ dài hạn mà chỉ có nợ ngắn hạn Tỷ trọng của nợ ngắn hạn trong tổng nguồn vốn đã tăng từ 77,21% năm
2010 lên 78,12% năm 2011 Đồng thời, tốc độ tăng cũng đạt 16,7%, tức từ 32.248.829 ngđ năm 2010 lên 37.633.849 ngđ năm 2011 Góp phần chủ yếu vào sự gia tăng của nợ ngắn hạn vẫn là hai khoản mục phải trả người bán, người mua trả
tiền trước và chi phí phải trả Trong đó:
- Đối với phải trả người bán, năm 2011 giá trị của khoản mục này là 14.575.679 ngđ, tương ứng tăng đến 34,4% trong vòng 1 năm Tỷ trọng của nó trong tổng nguồn vốn cũng tăng từ 25,96% năm 2010 lên 30,26% năm 2011
- Đối với người mua trả tiền trước, tỷ trọng trong tổng nguồn vốn tuy giảm từ 37,06% năm 2010 xuống còn 36,42% năm 201, nhưng xét về mặt giá trị lại tăng từ 15.477.979 ngđ năm 2010 lên 17.543.333 ngđ năm 2011, hay tăng 13,34%
- Chi phí phải trả không có sự biến đổi nhiều về mặt tỷ trọng trong tổng nguồn vốn, chỉ xấp xỉ khoảng từ 6% đến 7% Đồng thời tuy có tăng về mặt giá trị nhưng rất thấp, chỉ tăng 4,78%, từ 2.891.504 ngđ năm 2010 lên 3.029.849 ngđ năm 2011 Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2011 là 10.540.028 ngđ, tăng 10,7% hay 1.018.933 ngđ
so với cùng kì năm trước Do trong năm 2011, công ty không có nguồn kinh phí và quỹ khác nên sự biến đổi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi của quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính và lợi nhuận chưa phân phối Trong đó, quỹ đầu
tư phát triển tăng 13,74%, tức từ 1.936.615 ngđ năm 2010 lên 2.202.646 ngđ năm 2011; quỹ dự phòng tài chính năm 2011 là 316.468 ngđ, tăng 38,93% so với năm
2010 nhưng có tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn, chưa đến 1% nên sự thay đổi
Trang 39này không tác động gì nhiều đến sự biến động chung Tương tự, lợi nhuận chưa phân phối năm 2011 tuy đạt 617.794 ngđ, tăng đến 203,48% so với năm 2010 nhưng chỉ chiếm xấp xỉ 1% trong tổng nguồn vốn
Có thể thấy qua vệc phân tích kết cấu và sự biến động về nguồn vốn qua 3 năm 2009 – 2011, có thể nhận định nguồn vốn của công ty không ngừng tăng qua các năm, mặc dù mức tăng năm sau không cao như năm trước nhưng đây là dấu hiệu cho thấy công ty đang tập trung mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy vậy, tỷ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn bình quân tương đối lớn cho thấy nhiều rủi ro
2.2.1.3 Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2009
Bảng 2.3: Biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn năm 2009
3 Phải thu của khách hàng 7.149.483 10.468.911 3.319.429
4 Trả trước cho người bán 2.557.325 1.362.986 1.194.340
5 Các khoản phải thu khác 2.646.713 3.681.475 1.034.762
Giá trị hao mòn lũy kế (254.305) (309.434) 55.129
9 Chi phí xây dựng cơ bản
10 Chi phí trả trước dài hạn 82.517 80.227 2.290
TỔNG CỘNG TÀI SẢN 26.675.167 39.139.080
B Phần nguồn vốn
1 Phải trả cho người bán 7.624.153 8.844.027 1.219.874
2 Người mua trả tiền trước 7.881.881 15.271.908 7.390.027
Trang 403 Thuế và các khoản phải
7 Quỹ khen thưởng phúc lợi 27.578 62.357 34.779
8 Vốn đầu tư của chủ sở
CỘNG 16.056.398 100,00
B Sử dụng nguồn vốn
2 Tăng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 4.000.000 24,91