ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN GIÁP THỊ KIM CHI LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC CỬA SÔNG TIỀN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI SỰ DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN Ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
GIÁP THỊ KIM CHI
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC CỬA SÔNG TIỀN TRONG MỐI QUAN
HỆ VỚI SỰ DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN
Chuyên ngành: Thạch học, khoáng vật học và địa hoá học
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 3
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 3
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 3
1.2.1 Khí hậu, khí tượng 3
1.2.2 Đặc điểm thủy văn 5
1.2.3 Đặc điểm hải văn 6
1.2.4 Đặc điểm địa hình - địa mạo 7
1.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI 8
1.3.1 Kinh tế 8
1.3.2 Xã hội 10
Chương 2 LỊCH SỬ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 15
2.2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.2.1 Cách tiếp cận 17
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 18
Chương 3 TƯỚNG TRẦM TÍCH VÀ QUY LUẬT PHÂN BỐ 27
3.1 KHÁI NIỆM TƯỚNG TRẦM TÍCH 27
3.2 PHÂN LOẠI TƯỚNG 27
3.3 ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC CỬA SÔNG TIỀN VÀ QUY LUẬT PHÂN BỐ 29
3.3.1 Đặc điểm tướng trầm tích Holocen khu vực cửa sông Tiền 29
3.3.2 Quy luật phân bố tướng trầm tích Holocen khu vực cửa sông Tiền 38
Chương 4 ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU VỰC CỬA SÔNG TIỀN 44
4.1 ĐỊA TẦNG PHÂN TẬP 44
4.1.1 Khái niệm chung 44
4.2.2 Địa tầng phân tập và lịch sử phát triển trầm tích Holocen khu vực cửa sông Tiền 44
4.2 BIẾN ĐỘNG CỬA SÔNG VÀ ĐƯỜNG BỜ 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3và cát san lấp với trữ lượng lớn; Địa hệ các đồng bằng phù sa châu thổ phì nhiêu là diện tích trồng lúa quan trọng; Địa hệ các vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển là một dạng tài nguyên đặc thù lồng ghép đan xen giữa khai thác hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản; Địa hệ các thủy vực vịnh cửa sông là các hải cảng cho tàu thuyền lớn Bên cạnh đó sông Tiền còn là con đường giao thông đường thủy quan trọng
Với ý nghĩa thực tiễn như trên nên việc nghiên cứu quy luật hình thành và lịch
sử phát triển các thành tạo Holocen khu vực cửa sông Tiền phục vụ cho công tác quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội là điều cần thiết nhằm phát triển bền vững khu vực
này Vì vậy, tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ với tiêu đề: “Lịch sử phát triển trầm
tích Holocen khu vực cửa sông Tiền trong mối quan hệ với sự dao động mực nước biển” Nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc điểm thành phần trầm tích, tướng trầm
tích và quy luật phân bố của chúng với sự thay đổi mực nước biển trong Holocen
Để hoàn thành luận văn theo mục tiêu trên, học viên đã thu thập một khối lượng tài liệu phong phú là một số giáo trình, đề tài có liên quan tới vùng nghiên cứu… như
đề tài cấp nhà nước KC-09.06/06-10 do PGS.TSKH Nguyễn Địch Dỹ làm chủ nhiệm, giáo trình trầm tích luận trong nghiên cứu Dầu khí của GS.Trần Nghi Cùng với việc tham khảo các tài liệu, tôi đã phân tích lát mỏng thạch học bở rời, phân tích độ hạt của ba lỗ khoan (BT1,BT2 và BT3) đồng thời kế thừa một số chỉ tiêu phân tích như Kt, pH, các số liệu về cổ sinh vật
Trang 4
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Khu vực nghiên cứu là dải ven biển cửa sông Tiền, bao gồm phía đông nam huyện Gò Công Đông - tỉnh Tiền Giang; phần lớn huyện Thạch Phú, huyện Ba Tri, huyện Bình Đại - tỉnh Bến Tre và phía đông bắc huyện Cầu Ngang, Châu Thành, phía đông huyện Duyên Hải - tỉnh Trà Vinh
Hình 1.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.2.1 Khí hậu, khí tượng
Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo
bị tác động mạnh mẽ của gió Đông Nam từ biển thổi vào
Chế độ mưa, bão
Trang 5Khu vực nghiên cứu có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với hướng gió chủ đạo là hướng gió mùa Tây Nam đến Tây Tây Nam, chiếm khoảng 89% lượng mưa cả năm và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với hướng gió chủ đạo là Bắc đến Đông Bắc, chiếm khoảng 11% lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 mm đến 1.500 mm và tập trung vào hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7, lượng mưa tháng xấp xỉ 200mm, thời kỳ thứ hai xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lượng mưa tháng trên dưới 250mm Diễn biến chế độ mưa trong năm như sau:
- Thời kỳ mùa mưa thật sự (đầu tháng 6 đến cuối tháng 10)
- Thời kỳ chuyển tiếp mùa mưa sang mùa khô (cuối tháng 10 đến cuối tháng 11)
- Thời kỳ mùa khô thật sự (đầu tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau)
- Thời kỳ chuyển tiếp mùa khô sang mùa mưa (đầu tháng 5 đến đầu tháng 6) Chế độ mưa như trên đã gây khó khăn không ít cho nghề trồng trọt: vào mùa khô, vùng bị xâm nhập mặn, độ chua mặn lấn sâu vào nội địa dẫn đến hạn chế khả năng trồng cây và tăng vụ, ngược lại thời kỳ mùa mưa ở đây thường bị nước ở thượng nguồn sông Mê Kông dồn về gây ra nạn ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng
Chế độ nắng
Do ở vĩ độ thấp nên vùng tiếp nhận được lượng ánh nắng dồi dào, độ dài ban ngày lớn, bức xạ và nhiệt độ cao, thích hợp cho sự phát triển của cây trồng Tổng số giờ nắng trong năm đạt trên dưới 2.709 giờ Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày đạt từ 8 – 9 giờ Tháng mùa mưa trung bình từ 5 – 7 giờ trong ngày
Chế độ gió
Chế độ gió ở đây được phân làm 2 mùa rõ rệt: Gió mùa Tây Nam hình thành từ Nam Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo, tác động đến các tỉnh phía Nam Việt Nam, mang đặc tính nóng ẩm, gây mưa lớn, chiếm khoảng 90% lượng mưa trong năm của tỉnh Gió mùa Tây Nam hoạt động bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 8 Tốc độ gió trung bình đạt 1–1,2 m/s, riêng vùng biển tốc
độ gió đạt 2 – 3,9 m/s Tốc độ tối đa của gió đạt 10 – 18 m/s, vùng biển 12 – 20 m/s
Gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chướng, xuất hiện vào cuối tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 4 tới trung tuần tháng 5 năm sau Khả năng xuất hiện gió chướng tăng dần từ đầu mùa (tháng 12) và đạt cực đại vào tháng 2 hoặc 3, sau đó giảm dần
Trang 6Đặc điểm của gió chướng là phát triển theo từng đợt Mỗi đợt từ khi phát triển cho đến lúc yếu khoảng từ 4 đến 6 ngày Gió chướng có đặc tính khô hanh, gây ra hiện tượng khô nóng kéo dài; làm gia tăng tác động của thủy triều, khiến mặn xâm nhập sâu vào nội địa, gây thiệt hại đê biển, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất
Độ ẩm: Do gần biển và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên độ ẩm tương đối tại khu vực nghiên cứu nhìn chung khá cao, trung bình từ 76 – 86%, các huyện ven biển có độ ẩm tương đối từ 83 – 91%; sự chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít nhất khoảng 15% Vào mùa khô độ ẩm của tỉnh vào khoảng 73 – 79%, riêng vùng ven biển khoảng 79 - 84% Vào mùa mưa, độ ẩm khoảng 83 – 86%, ven biển từ 85 - 91%
Nhiệt độ: Nhiệt độ của khu vực này tương đối cao, Nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng từ 26 - 27oC/năm Tháng nóng nhất: tháng 4 (khoảng 28,9oC), tháng 5 (khoảng 29,2oC); tháng mát nhất: tháng 12, tháng 1, tháng 2 (khoảng 25 - 26oC) Trong năm, không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 20oC Trong ngày, nhiệt độ cao nhất xảy ra lúc quá trưa, cao nhất tuyệt đối khoảng 36oC và thấp nhất xảy ra lúc gần sáng, thấp nhất tuyệt đối khoảng 18,1oC
Độ bốc hơi: Vào mùa khô nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi mạnh, bình quân từ 4 – 6 mm/ngày đêm Vào mùa mưa độ bốc hơi giảm đi rõ rệt còn khoảng 2,5 – 3,5 mm/ngày đêm Riêng tháng 9 có độ bốc hơi nhỏ nhất đạt 2 - 3 mm trong một ngày đêm
Bức xạ: Lượng bức xạ ở khu vực lớn và ổn định Lượng bức xạ tổng cộng trung bình ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397 calo/cm2/ngày) [16]
1.2.2 Đặc điểm thủy văn
Mạng lưới sông suối: Trước đây nước sông Tiền chảy ra biển Đông qua 6: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai (đã đắp đập), cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu và cửa Hàm Luông Nhưng hiện nay, cửa Ba Lai đã ngừng chảy do có đập và cống Ba Lai ngăn lại (năm 1999), nên hiện nay dòng sông Tiền chỉ còn 5 cửa sông đang hoạt động là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu
Trong vùng mạng lưới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ, mật độ mạng lưới thuộc vào loại lớn nhất trên lãnh thổ nước ta, dao động từ 2 đến 4km/km2
Trang 7Chế độ dòng chảy: Chế độ dòng chảy của khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều yếu tố tác động: dòng chảy sông Tiền, thủy triều biển Đông, thủy triều biển Tây-vịnh Thái Lan và chế độ mưa ở đồng bằng Nguồn nước chảy về sông Tiền là khá lớn, hằng năm có khoảng 296 tỷ m3
nước từ thượng nguồn cộng với lượng nước mưa trung bình năm cung cấp cho sông Tiền khoảng 42 tỷ m3 Tổng lượng nước hằng năm sông Tiền khoảng 338 tỷ m3
Dòng chảy sông Tiền có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Ở thượng lưu mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11, mùa kiệt bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 5 Có sự tương phản sâu sắc giữa mùa lũ và mùa kiệt, lưu lượng giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất vẫn chênh lệch rất lớn Vào mùa lũ, lưu lượng tăng cao đột ngột và đạt trung bình từ 20.000 đến 30.000m3/s, trong đó vào mùa khô lưu lượng giảm nhỏ và chỉ còn khoảng 2.000 - 4.000m3/s, bằng 10 - 20% lưu lượng các tháng mùa lũ [16]
1.2.3 Đặc điểm hải văn
Chế độ thủy triều: Vùng nghiên cứu có chế độ bán nhật triều không đều Hầu hết các ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống với chênh lệch rõ rệt giữa các độ cao nước ròng Độ lớn triều trong vùng khoảng 3-4 m trong kỳ nước cường và 1,5-2m vào kỳ nước kém Tốc độ thủy triều ở khu vực này lên xuống khá nhanh, có thể đạt 0,5-0,6 m/giờ Biên độ triều có xu hướng giảm dần về phía Trà Vinh Tại các cửa sông lớn trong vùng chế độ thủy triều diễn ra phức tạp hơn, đặc biệt vào mùa mưa do lượng nước sông đổ ra biển lớn nên mực nước tại đây tăng lên
Chế độ sóng: Sóng biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình động lực ven bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích Nói chung vùng biển nghiên cứu, chế độ sóng phù hợp hoàn toàn với chế độ gió
Tháng 1 là tháng đặc trưng cho gió mùa Đông Bắc, sóng tập trung chủ yếu vào hướng Đông Bắc (chiếm 86,69%) Độ cao sóng trong gió mùa Đông Bắc khá lớn Tính trung bình có khoảng 6% số trường hợp quan trắc được độ cao sóng từ 2m trở lên (cấp
Trang 8Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng đặc trưng cho thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa gió nên có tần suất xuất hiện phân bố tương đối rộng theo tất cả các hướng
Chế độ mực nước: Chế độ mực nước ở đây được quyết định bởi chế độ thuỷ triều Các quá trình thuỷ thạch động lực khác nhau có liên quan đến mực nước, như nước dâng do bão, lũ
Tính chất thuỷ triều ở vùng nghiên cứu thuộc loại hỗn hợp triều, thiên về bán nhật triều Hầu hết số ngày trong tháng có hai lần nước lên và hai lần nước xuống với
sự chênh lệch đáng kể của hai độ lớn triều trong ngày Độ lớn triều trong kỳ nước cường có thể đạt tới trên dưới 3m Kỳ nước cường thường xảy ra vào thời kỳ trăng non
và trăng tròn (tức là vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch) [16]
1.2.4 Đặc điểm địa hình - địa mạo
Địa hình: Vùng nghiên cứu gồm 2 nhóm địa hình: Nhóm thứ nhất phân bố trong phạm vi biển ven bờ cửa sông Tiền, là khu vực luôn ngập nước, phân bố trong độ sâu
từ 0 đến 20m nước Nhìn chung độ cao địa hình không vượt quá 0,5m phát triển theo chiều từ Thạnh Phú đến Bình Đại, trừ khu vực xóm Chợ Cũ của huyện Ba Tri cao từ 1 đến 1,5m Nhóm thứ hai phân bố vùng ven bờ huyện Gò Công Đông – tỉnh Tiền Giang; phần lớn huyện Thạch Phú, huyện Ba Tri, huyện Bình Đại – tỉnh Bến Tre và phía đông bắc huyện Cầu Ngang, Châu Thành, phía đông huyện Duyên Hải – tỉnh Trà
Vinh Nhóm này mang tính chất đồng bằng ven biển với các giồng cát, chạy liên tục
theo hình vòng cung và song song với bờ biển Càng về phía biển, các giồng cát này càng cao và càng lớn Do sự chia cắt bởi các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt nên địa hình khá phức tạp Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao cát,
xu thế dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng Nhìn chung, cao trình phổ biến 0,4-1,0 m,
chiếm 66% diện tích đất tự nhiên
Địa hình cao nhất (4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Long Hữu (Duyên Hải) Địa hình thấp nhất (0,4m) tập trung tại các cánh đồng trũng xã Thanh Mỹ (Châu Thành); Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải)
Địa mạo: Trên địa hình hiện tại, vùng nghiên cứu thuộc 2 đơn vị địa hình lớn là đồng bằng châu thổ và biển nông ven bờ Ranh giới giữa chúng là các đoạn đường bờ
Trang 9với 5 cửa sông hiện tại nối tiếp nhau, có phương chung Đông Bắc-Tây Nam, cong lồi
về phía Đông Nam
Đồng bằng châu thổ cao 0,5-4m, không bị ngập hoặc bị ngập nước cục bộ, ngập không thường xuyên do triều hoặc do lũ Trên đồng bằng, xen kẽ các giồng cát (sand ridges) là các dải đồng bằng thấp trũng với các lạch triều, các đoạn lạch triều, tuổi trẻ dần về phía biển Khoảng cách giữa 2 giồng cát 1,9-4,9km, trung bình 2,4km Cắt ngang các giồng cát là các nhánh của sông Tiền Dọc theo chúng phát triển các cù lao (braided bars) và các bãi ngầm Các dạng địa hình này về cơ bản đã ổn định, có tuổi Holocen giữa-muộn, tuy nhiên các dạng địa hình giồng cát lại đang chịu tác động mạnh mẽ từ chính con người
Phần biển nông ven bờ là phần ngập nước với bề mặt nghiêng thoải và rất thoải
về phía biển: dốc trung bình 0,5‰ trong khoảng độ sâu 0 - 2m nước, 0,7‰ trong khoảng sâu 2 - 6m nước, 2,7‰ trong khoảng sâu 6 - 10m nước, 1,9‰ trong khoảng sâu 10 - 20m nước và 1,2‰ trong khoảng độ sâu 20m nước
Các dạng địa hình ngập nước là các vùng chưa ổn định do tác động khác nhau
và không ổn định của các tác nhân: sông, sóng và thủy triều Các vùng cửa sông đều cùng chịu ảnh hưởng của chúng nhưng ưu thế với dòng chảy sông, thủy triều thuộc về các Cửa Cổ Chiên; sóng, thủy triều-Cửa Hàm Luông, Cửa Đại; thủy triều, sóng-Cửa Tiểu, Cửa Ba Lai, cửa Mỹ Thạnh
Vùng ngập nước cửa sông, có 3 nhóm địa hình chính: delta, bãi biển-đồng bằng rìa delta, sườn delta Các yếu tố này đều có thể biến đổi, trước hết là do dòng chảy sông thay đổi và kế tiếp là quan hệ sông - sóng - thủy triều thay đổi [3,10]
1.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.1 Kinh tế
a Sản xuất nông - lâm - thủy sản: Trong những năm gần đây, tuy gặp khó khăn
do khô hạn, xâm nhập mặn kéo dài, môi trường nước diễn biến phức tạp, dịch bệnh xảy ra trên cây trồng, vật nuôi… nhưng nhờ đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ động kiểm soát, phòng trừ dịch bệnh, nên giá trị sản xuất của ngành nông, lâm, thủy sản vẫn giữ mức tương đối
ổn định Theo số liệu năm 2010:
Trang 10Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 470.685 ha, đạt 108% kế hoạch Trong đó: lúa 312.835 ha, sản lượng ước đạt 1.523.593 tấn Cây màu, cây công nghiệp 106.753 ha; cây ăn trái 51.097 ha
Chăn nuôi: Tuy chịu ảnh hưởng dịch heo tai xanh, nhưng nhìn chung đàn heo toàn vùng vẫn tăng theo xu hướng chất lượng và hiệu quả, toàn vùng có trên 744.472 con heo; đàn gia cầm trên 9.500.000 con; đàn bò khoảng 334.384 con
Lâm nghiệp: Việc quản lý, chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng hiện có được thực hiện khá tốt Trong năm đã trồng mới 211 ha rừng, chăm sóc 4.606 ha, đến nay toàn vùng có 10.546 ha rừng
Thủy sản: Diện tích nuôi thủy sản ước 92.087 ha, trong đó nuôi tôm 32.523 ha Nuôi cua biển 14.863 ha, sản lượng 9.000 tấn; nuôi nghêu, sò ước đạt 6.280 ha, sản lượng 17.000 tấn Vùng nước ngọt, thả nuôi con giống các loại trên diện tích 13.660
ha, ước sản lượng cá tra đạt 175.000 tấn
Hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục phát triển, số tàu khai thác xa bờ tăng nhanh, giá cả các loại thủy sản khai thác tương đối ổn định nên ngư dân tiếp tục đầu tư vào ngư cụ đánh bắt Hoạt động cảng cá ổn định, số lượng tàu thuyền và hàng hóa qua cảng ngày càng tăng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn cho hoạt động khai thác thủy sản của vùng
b Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Thực hiện các chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ sản xuất của Chính phủ, sản xuất công nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển Tập trung sản xuất các sản phẩm có lợi thế về nguồn nguyên liệu và đang có thị trường tiêu thụ ổn định Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 7.330 tỷ đồng Một số sản phẩm tăng khá: thức ăn thủy sản, các loại thủy sản, than thiêu kết, đường, nước máy,… Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm như cơm dừa nạo sấy, thuốc trị bệnh Nhìn chung, cả khu vực kinh tế
tư nhân, khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đều tăng; các sản phẩm đều đạt kế hoạch, sản lượng tăng khá
c Thương mại - dịch vụ
Hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển: Kinh doanh thương mại nội địa khá ổn định, lượng hàng hóa trên thị trường dồi dào, phong phú, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và mua sắm của nhân dân Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch
Trang 11vụ ước đạt 23.653 tỷ đồng Công tác quản lý thị trường được tập trung chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh Công tác quản lý, phát triển và xây dựng chợ được các địa phương quan tâm
Hoạt động xuất nhập khẩu: ước tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 370 triệu USD Một số mặt hàng xuất khẩu tăng khá như: các loại thủy sản, hàng may mặc, cơm dừa nạo sấy, than thiêu kết,… ngoài ra, thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng Bên cạnh đó một số một số mặt hàng giảm như: gạo, chỉ xơ dừa,… Ước kim ngạch nhập khẩu 75,44 triệu USD
Lĩnh vực du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển, chất lượng phục vụ được cải thiện
áp dụng trả lương qua tài khoản ngân hàng, số lượng thẻ phát hành tăng cao [16,17]
1.3.2 Xã hội
a Dân số, dân tộc
Trong vùng nghiên cứu có 3 dân tộc chính là Kinh, Khmer và Hoa Trong đó đông nhất là dân tộc Kinh (chiếm khoảng 68,5%), tiếp đến là dân tộc Khmer (chiếm khoảng 30%), ít hơn nữa là dân tộc Hoa (chiếm khoảng 1,4%)
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng những biến động và xáo trộn về dân cư và dân số dần dần được ổn định Những năm đầu khi chiến tranh mới kết thúc, dân số của vùng phát triển tương đối nhanh, về sau tốc độ tăng dân số giảm dần theo kế hoạch phát triển dân số của cả nước và của vùng Hiện nay, dân số có sự phát triển bình thường tăng theo tỷ lệ tăng tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của tăng dân số cơ học, tức
là không có sự di cư từ các miền đất khác đến đây Kể cả khi các tỉnh này thành lập các khu, cụm công nghiệp thì sức hút lao động từ nơi khác đến cũng không đáng kể Tình hình dân số của các tỉnh trong vùng nghiên cứu được thể hiện qua các bảng 1.1, 1.2, 1.3
Trang 12Bảng 1.1 Diễn biến dân số các tỉnh vùng nghiên cứu [17]
Bảng 1.2 Tỷ suất nhập – xuất cư các tỉnh trong vùng nghiên cứu [17]
Tỉnh Tỷ suất nhập cư (‰) Tỷ suất xuất cư (‰)
Cho đến nay, số trường, lớp về cơ bản đã đáp ứng được công tác dạy và học tại các địa phương, nhưng đội ngũ giáo viên vẫn trong tình trạng thiếu Tình hình giáo dục các tỉnh trong vùng nghiên cứu được thể hiện qua các bảng dưới đây
Trang 13Bảng 1.4 Số trường học, lớp học,giáo viên và học sinh mẫu giáo tới thời điểm
30/09/2010 [17]
Tỉnh Trường học
(trường) Lớp học (lớp)
Giáo viên (người)
Học sinh (nghìn người)
Trang 14Bảng 1.7 Số học sinh phổ thông các tỉnh tính đến 31/12/2010 (đơn vị: người) [17]
Tiền Giang 284.834 140518 92429 39007 Bến Tre 227.577 99541 68656 37240 Trà Vinh 161.863 81608 48344 18252
Bảng 1.8 Số giáo viên và sinh viên đại học và cao đẳng năm 2010 (đơn vị: người) [17]
sỹ, y tá ngày càng được bổ sung Tuy vậy, sự phát triển của mạng lưới chăm sóc sức khoẻ cộng đồng còn chưa phù hợp với tốc độ phát triển dân cư trong vùng cũng như nhu cầu mở rộng các điểm dân cư, nhất là ở các điểm khai hoang mới ngoài đê Tình hình y tế các tỉnh trong vùng nghiên cứu được thể hiện ở các bảng dưới đây:
Trang 15Bảng 1.9 Số cơ sở khám, chữa bệnh thuộc sở Y tế năm 2010 [17]
Tỉnh Tổng
số
Chia ra Bệnh
viện
Phòng khám đa khoa khu vực Trạm y tế Số giường
Bảng 1.10 Số cán bộ y tế năm 2010 (đơn vị: người) [17]
Công tác phòng bệnh đã được thực hiện tốt, trên toàn vùng về cơ bản đã khống chế và thanh toán được một số các bệnh dịch nguy hiểm như sốt rét, sốt phát ban, thương hàn, tiêu chảy cấp, v.v
Trang 16Chương 2 LỊCH SỬ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối với vùng cửa sông ven biển sông Cửu Long nói chung và khu vực cửa sông Tiền nói riêng đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề địa mạo, trầm tích, tướng đá cổ địa lý và địa tầng, sinh thái và biến động đường bờ theo không gian và thời gian Có thể trình bày các công trình nghiên cứu theo các lĩnh vực khoa học và thứ tự thời gian công bố như sau:
Trong lĩnh vực địa mạo, những đóng góp quan trọng đầu tiên về nghiên cứu địa mạo là thành lập bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/500000 của Lê Đức An,1984 [1] Trong đó đã thể hiện được phân vùng các đơn vị địa mạo khu vực hạ lưu sông Cửu Long Năm
2002 Vũ Văn Vĩnh và nnk đã thành lập bản đồ địa mạo đới ven bờ, đoạn Bình Thuận –
Hà Tiên tỷ lệ 1/200000 thuộc đề tài cấp nhà nước KC-09-05:” Nghiên cứu hiện trạng
và quy luật xói lở bồi tụ bờ biển Việt Nam” Năm 2010 đề tài KC-09-06/06-10 do Nguyễn Địch Dỹ làm chủ nhiệm đã thành lập bản đồ địa mạo khu vực cửa sông Cửu Long tỷ lệ 1/250000 Bản đồ này đã thể hiện tương đối chi tiết các đơn vị địa mạo và mối quan hệ chặt chẽ giữa địa hình, địa mạo vùng biển nông ven bờ (0-30m nước) [3]
Trong lĩnh vực địa tầng và trầm tích, đây là đối tượng nghiên cứu chính của nhiều đề tài liên quan đến lý luận và thực tiễn Năm 2004 Nguyễn Huy Dũng, Ngô Quang Toàn và nnk nghiên cứu địa tầng trầm tích Đệ Tứ ở đồng bằng sông Cửu Long
và đã chia ra các phân vị Holocen sớm giữa (Q21-2,Q22-3 và Q23) [4] Cũng trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2001 Nguyễn Biểu và nnk trong đề án “Điều tra địa chất và khoáng sản biển nông ven bờ (0-30m nước) tỷ lệ 1/500.000” [2] đã thành lập bản đồ trầm tích tầng mặt, bản đồ tướng đá thạch động lực và bản đồ địa chất Đệ tứ vùng biển
từ sông Tiền đến Bạc Liêu Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra quy luật phân bố các tướng trầm tích thuộc châu thổ ngập nước từ bờ ra độ sâu 25m nước, trong đó từ 0 đến 20m
Trang 17nước thuộc tướng tiền châu thổ còn từ 5 đến 25m nước là thuộc tướng chân châu thổ (prodelta)
Trong lĩnh vực Nghiên cứu tiến hóa trầm tích trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển trong Đệ tứ:
Các công trình nghiên cứu của Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Doãn Đình Lâm nghiên cứu về “Đặc điểm tướng đá cổ địa lý trong Pliocen-Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam” ,2000 [10] Trong đó các tác giả đã xác định được các thế hệ đường bờ cổ và sự dao động mực nước biển trong Đệ tứ liên quan đến các chu kỳ băng hà (Gunz, Mindel, Riss, W1,W2) và gian băng trên thế giới Đặc biệt trong công trình về lại sự thay đổi mực nước biển trong Đệ tứ trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven bờ từ Nha Trang đến Bạc Liêu” 2003 của Trần Nghi và Mai Thanh Tân [9],
đã chứng minh sự thay đổi mực nước biển bằng dấu ấn các đường bờ cổ trên đáy biển thềm lục địa Việt Nam và các thềm san hô mài mòn ven biển
Nguyễn Văn Lập, Tạ Thị Kim Oanh,2004 với công trình” Môi trường trầm tích Pleistocen muộn-Holocen vùng Cà Mau”[6] đã giải thích cơ chế và lịch sử phát triển trầm tích Pleistocen muộn- Holocen trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển
Trong công trình mới nhất công bố năm 2012 “Luminescence dating of beach ridge for
characterizing multi-decadal to centennial deltaic shoreline changes during late Holocene,Mekong River delta”[23] của Toru Tamura, Yoshiki, Saito, Nguyễn Văn Lập
và Tạ Thi Kim Oanh đã xác định được tuổi các giồng cát theo phân tích nhiệt huỳnh quang giữa các thế hệ đường bờ cách nhau hàng chục đến môt trăm năm Những nghiên cứu định lượng có tính chất thời sự này có ý nghĩa rất lớn giúp xác định được tốc độ tăng trưởng của đường bờ từ đất liền ra biển trong Holocen muộn mỗi năm từ 50-60m
Năm 2010, Nguyễn Địch Dỹ đã nghiên cứu tiến hóa trầm tích Holocen khu vực cửa sông Cửu Long trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển Trên cơ sở đó tác giả đã chia trầm tích Pleistocen muộn - Holocen khu vực sông Cửu Long thành một tập bao gồm 3 miền hệ thống: hệ thống biển thấp (LST) tương đương với pha biển thoái của băng hà W2, hệ thống biển tiến (TST) tương đương với pha biển tiến Flandrian và hệ thống trầm tích biển cao (HST) tương đương với giai đoạn đầu của pha biển thoái Holocen muộn [3]
Trang 182.2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tính hệ thống có quan hệ nguồn gốc với nhau theo không gian và theo thời gian được gọi là cộng sinh tướng
* Cách tiếp cận nhân quả
Mối quan hệ nhân quả được thể hiện qua mối quan hệ giữa chuyển động kiến tạo, sự thay đổi mực nước biển và trầm tích Trong đó, trầm tích là kết quả của sự thay đổi mực nước biển và chuyển động kiến tạo, sự thay đổi mực nước biển là kết quả của chuyển động kiến tạo Các mối quan hệ nhân quả nói trên cũng có ý nghĩa như mối quan hệ hàm - biến, nghĩa là giữa chúng có sự phụ thuộc lẫn nhau Khi xuất hiện chuyển động kiến tạo, dẫn tới sự thay đổi mực nước biển thì môi trường trầm tích cũng thay đổi, dẫn tới chế độ thủy động lực thay đổi và cuối cùng là thành phần độ hạt và thành phần khoáng vật cũng thay đổi theo
* Cách tiếp cận tiến hóa
Theo thời gian địa chất, trầm tích khu vực cửa sông Tiền tiến hóa theo chu kỳ
độ hạt, tướng trầm tích và thành phần khoáng vật
Trầm tích Holocen vùng nghiên cứu, thuộc phần trên của một tập, bao gồm hai
hệ thống trầm tích: hệ thống biển tiến (TST) và hệ thống biển cao (HST) Hệ thống biển tiến (TST) gồm có hai nhóm phụ tập tương ứng với hai nhóm tướng: nhóm tướng biển ven bờ và nhóm tướng biển nông - vũng vịnh Hệ thống biển cao (HST) có ba nhóm phụ tập tương ứng với nhóm tướng châu thổ
Trang 192.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
a Nhóm phương pháp địa chất trầm tích
* Các phương pháp nghiên cứu thành phần vật chất
- Phân tích độ hạt: phương pháp này sử dụng bộ rây và pipet (đối với trầm tích bở rời) để tính hàm lượng % các cấp hạt (sạn, cát, bột, sét ) từ đó xây dựng các biểu đồ tích luỹ độ hạt, biểu đồ phân bố độ hạt, tính toán các tham số Md, So, Sk để xác định chế độ thuỷ động lực của môi trường
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là phân trầm tích thành các cấp hạt khác nhau bằng bộ rây tiêu chuẩn với cấp hạt lớn hơn 0,063mm (Thông thường sử dụng bộ rây tiêu chuẩn 2 hay 10
10) và dùng pipet (bộ hút robinsơn) đối với cấp hạt nhỏ hơn 0,063mm Toàn bộ kết quả phân tích được xử lý đồng bộ theo phương pháp
đồ thị Trask (hình 2.1) (Hàm lượng phần trăm các cấp hạt được cộng tích lũy từ lớn đến nhỏ, sau đó biểu diễn lên đồ thị hai trục Trục hoành là kích thước hạt theo chiều giảm dần theo thang logarit, trục tung là hàm lượng phần trăm tích lũy các cấp hạt Đường cong tích lũy được xây dựng trên cơ sở nối các điểm rời rạc được xác định từ kích thước hạt và hàm lượng phần trăm tích lũy) nhằm xác định các thông số trầm tích như kích thước hạt trung bình (Md), độ chọn lọc (So), hệ số bất đối xứng (Sk) Trên đường cong tích luỹ này sẽ xác định được giá trị d25: cấp hạt tương ứng 25%; d50 (Md): cấp hạt tương ứng 50% và d75: cấp hạt tương ứng 75%
Hình 2.1 Đường cong tích lũy độ hạt
Trang 20Các thông số So, Sk được tính theo công thức:
So =
75
25
d d
Đường cong phân bố độ hạt thường tuân theo luật phân bố chuẩn hoặc chuẩn logarit chúng có thể thay đổi từ 1 đỉnh (môi trường thủy động lực đơn giản, đồng nhất) đến 2 hoặc 3 đỉnh (môi trường thủy động lực phức tạp và hay thay đổi)
Md (kích thước trung bình): được tính trên biểu đồ đường cong tích lũy tại giá trị độ hạt ở hàm lượng tích lũy 50% Giá trị Md phản ánh quãng đường di chuyển vật liệu, năng lượng sóng và tốc độ dòng chảy, khoảng cách so với nguồn cung cấp Mối quan hệ này mang tính chất tỷ lệ thuận: Md càng lớn thì động lực môi trường càng lớn và vật liệu trầm tích càng gần đá gốc; ngược lại Md càng nhỏ thì động lực môi trường càng yếu và vật liệu trầm tích có thể càng xa nguồn cung cấp
So (hệ số chọn lọc): phản ánh năng lượng thủy động lực (chủ yếu là sóng và dòng chảy), tính đồng nhất và tính ổn định của môi trường thủy động lực tạo nên các thực thể trầm tích Với giá trị So trong khoảng lớn hơn 1 đến 1,58: trầm tích có độ chọn lọc tốt, chứng tỏ môi trường có chế độ thủy động lực mạnh và khá đồng nhất trong suốt quá trình trầm tích Nếu So = 1,59 – 2,12: trầm tích có độ chọn lọc trung bình, chứng tỏ môi trường thủy động lực khá mạnh nhưng tính ổn định kém hơn Nếu So > 2,12: trầm tích có độ chọn lọc kém, chứng tỏ môi trường bị xáo trộn (khi mạnh, khi yên tĩnh)
Sk (hệ số đối xứng): đặc trưng cho tính đối xứng của đường cong phân bố Nếu Sk > 1 thì trầm tích hạt lớn chiếm ưu thế; Sk < 1 thì trầm tích hạt nhỏ chiếm ưu thế
- Phân tích lát mỏng thạch học bở rời sẽ giúp xác định được trong mẫu đó có những khoáng vật nào, hàm lượng của từng khoáng vật là bao nhiêu và các đặc điểm của chúng như: kích thước; biến đổi thứ sinh, tính chất; hình dáng (xác định hệ số mài tròn (Ro) và xác định hệ số cầu (Sf), qua đó xác định nguồn gốc và chế độ thuỷ động lực của môi trường)[7]
- Phân tích hoá cơ bản để biết một số thành phần quan trọng: SiO2, Al2O3, FeO, Fe2O3, CaO, Na2O, K2O, MgO
Trang 21- Phân tích hoá môi trường có thể phân biệt các kiểu môi trường trầm tích, dựa trên các chỉ tiêu sau: độ pH, Eh (thế năng oxi hoá khử), Fe+2S/Corg, Kt (Bảng 2.1)
Kt=
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu địa hóa đặc trưng cho các môi trường trầm tích khác nhau [7]
Loại phân tích Môi trường
Lục địa Chuyển tiếp Biển
Fe+2S/Corg < 0,06 0,06 - 0,2 > 0,2
Kt < 0,5 0,5 – 1 > 1
* Phương pháp phân loại trầm tích
Kiểu trầm tích được phân loại trên cơ sở hàm lượng phần trăm các cấp hạt theo biểu đồ phân loại của Folk, 1954 (hình 2.2)
Hình 2.2 Biểu đồ phân loại trầm tích của Folk, 1954 1-Bùn
11-Cát bùn sạn 12-Sạn bùn 13-Sạn cát bùn 14-Sạn cát 15-Sạn sỏi
1a-Sét 1b-Bột 2a-Sét cát 2b-Bột cát 7a-Cát sét 7b-Cát bột
Tû lÖ bét : sÐt
Tû lÖ
¸t :
bïn
(phi
tû ) 9:1
Hµm
l-î %
s¹n
(p
tû )
Tû lÖ c¸t : bïn (phi tû lÖ)
1
5
30 80
M g Ca
Na K
Trang 22b Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối bằng tuổi đồng vị 14 C
Phương pháp tuổi đồng vị 14C cho phép xác định các mẫu có tuổi nhỏ hơn 40 nghìn năm Phương pháp này dựa trên cơ sở khoa học sau:
- Nguyên tử Carbon được hấp thu bởi mọi cơ thể đang sống (chất liệu hữu cơ)
- Tỉ lệ giữa 14C và 12C trong cơ thể bằng với tỉ lệ giữa 14C và 12C ở môi trường xung quanh
- Khi cơ thể chết đi, cơ thể đó bắt đầu quá trình phân rã của nguyên tử 14C đã có (phân rã thành Nitrogen 14) Đây là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tỉ lệ giữa 14C và 12C trong cơ thể chết này, tỉ lệ này càng thấp thì thời gian chết của cơ thể đấy càng lâu
- Sự phân rã của 14C có tỉ lệ và mức độ cố định Trước đây Libby, nhà hóa học người Mỹ xác định phải mất khoảng 5.568 năm để cho một nửa số 14C trong các mẫu phân tích (lấy từ các cơ thể hữu cơ đã chết trong di tích khảo cổ học) phân rã Hiện nay người ta đã xác định chu kỳ bán phân rã của 14C là 5.730 năm
- Dựa vào chu kỳ bán phân rã của 14C đã xác định này, chúng ta có thể tính được thời gian từ khi cơ thể hữu cơ chết đi đến thời điểm hiện tại bằng cách đo tỉ lệ đồng vị Carbon còn lại Sau 5.730 năm lượng 14C giảm còn một nửa thì sau 23.000 năm lượng
14C sẽ chỉ còn 1/6 so với ban đầu
Dưới đây là các đối tượng có thể xác định tuổi theo phương pháp 14C (trích dẫn từ Faure G., 1989)
Đối tượng
nghiên cứu
Số lượng vật chất
Than gỗ và gỗ 25 Định tuổi thường chính xác, ngoại trừ than gỗ bị
nghiền mịn có thể hấp phụ axit mùn Vật chất hữu cơ
lẫn đất 50-300
Đối tượng này ít nhất chứa 1% carbon hữu cơ dưới dạng mảnh thấy được
Than bùn 50-200 Định tuổi thường chính xác, tuy nhiên cần loại
bỏ các rễ cây hiện đại thâm nhập vào
Xương bị carbon
Tài liệu định tuổi của xương bị carbon hoá mạnh cho kết quả tốt hơn so với loại carbon hoá yếu; vì có thể xảy ra quá trình trao đổi với carbon phóng xạ hiện đại
Trang 23Vỏ sò (carbon
nguồn hữu cơ) Một vài kilogam
Carbon nguồn gốc hữu cơ có mặt dưới dạng vỏ
ốc, chiếm 1-2% vỏ sò hiện đại Do hoạt tính ban đầu của 14
C trong các vật chất này không biết, nên có thể có sai số hệ thống trong các tài liệu định tuổi
c Phương pháp phân tích tướng
Phân tích tướng là phương pháp tổng hợp nhất của khoa học trầm tích luận Trên
cơ sở nghiên cứu thạch học, khoáng vật, các tham số trầm tích định lượng như: So, Md,
Ro, Sf, Sk và các chỉ tiêu địa hoá môi trường như pH, Eh, Kt, Fe2+S (sắt trong pirit), Chc
và các loại vật chất hữu cơ cho phép luận giải điều kiện lắng đọng trầm tích và xác định tướng trầm tích
d Phương pháp địa tầng phân tập
Địa tầng phân tập là phương pháp phân tích địa tầng mới cả về khoa học lẫn thực tiễn Các bồn trầm tích được lấp đầy như thế hiện qua địa tầng phân tập , bên cạnh đó phương pháp này còn áp dụng trong kỹ thuật tìm kiếm thăm dò tài nguyên khoáng sản
Ba yếu tố: nâng hạ kiến tạo, thay đổi mực nước biển chân tĩnh và quá trình trầm tích xảy ra như thế nào, ở đâu, tốc độ của chúng và tác động lẫn nhau như thế nào là nguyên tắc cơ bản của trầm tích học và địa tầng Đặc điểm trầm tích lắng đọng trong
Trang 24các môi trường thay đổi từ sông và đồng bằng ngập lụt tới bờ biển, thềm lục địa và thậm chí là biển sâu là do tác động của ba yếu tố này Nghiên cứu các mối quan hệ giữa sự thay đổi mực nước biển và trầm tích là nội dung cơ bản của “địa tầng phân tập”
Các lợi thế của phương pháp địa tầng phân tập trở nên rất rõ ràng khi sử dụng chúng để liên kết các mặt cắt xác định trên các vết lộ, mặt cắt địa chấn hay trong các lỗ khoan sâu từ vài km đến hàng chục km Bằng cách sử dụng sự thay đổi của mực nước biển tương đối như là tiêu chuẩn để phân tích địa tầng, phương pháp địa tầng phân tập
có thể khắc phục được một số nhược điểm của các phương pháp khác như phương phân tích thạch địa tầng, sinh địa tầng, xác định tuổi đồng vị phóng xạ
Sự thay đổi mực nước biển tương đối thường xảy ra trên các khu vực tương đối rộng, thậm chí trên toàn cầu: chúng ảnh hưởng đến trầm tích trong các môi trường từ các con sông trên các đồng bằng ven biển, tới bờ biển, các thềm lục địa và các vùng biển sâu lân cận mép thềm lục địa Nếu có các bằng chứng của sự dâng lên hoặc hạ xuống của mực nước biển ở một môi trường này thì cũng có thể có dấu hiệu trong các môi trường khác Việc liên kết đối sánh có thể được thực hiện trên cơ sở so sánh các
mô hình trong các mặt cắt khác nhau: một mô hình phủ chồng tiến ở các tướng đới bờ cũng sẽ được phát hiện ở các đới biển xa bờ, do đó chúng có thể được liên kết với nhau, thậm chí thành phần thạch học có thể hoàn toàn khác nhau và chúng có thể không chứa cùng một loại hóa thạch Các ranh giới tập là các bất chỉnh hợp bào mòn trên thềm hoặc các chỉnh hợp tương đương trong vùng nước sâu hơn có thể được phát hiện trên các vùng rộng lớn Các bề mặt ngập lụt cực đại có thể được phát hiện nhờ các bằng chứng về sự thiếu hụt trầm tích ở phần thềm ngoài và sự thay đổi từ mô hình phủ chồng lùi đến phủ chồng tiến trong các nhóm phân tập gần bờ
Liên kết đối sánh các mặt cắt bằng cách sử dụng các dấu hiệu của các mô hình
và các bề mặt then chốt có thể được thực hiện chỉ khi có một số thông tin bổ sung Các thông tin sinh địa tầng là cần thiết trong nhiều trường hợp để cung cấp một khung thời địa tầng tổng quát Liên kết giữa các giếng khoan có thể được thực hiện bởi vị trí của chúng trong các mặt cắt địa chấn và sau đó vạch ra bề mặt liên kết giữa chúng
Một số khái niệm cơ bản về địa tầng phân tập được sử dụng trong luận văn:
* Các đơn vị địa tầng phân tập
Trang 25Tập (sequence): là “một tổ hợp các phân vị địa tầng (các phụ tập, nhóm phụ tập) tương đối chỉnh hợp có liên quan với nhau về nguồn gốc, được giới hạn ở nóc và đáy bằng các bất chỉnh hợp và chỉnh hợp liên kết từ chúng” (Mitchum và Vail, 1977)
Nhóm phụ tập (parasequence set): là “tổ hợp các phụ tập có liên quan với nhau
về nguồn gốc, phủ chồng lên nhau theo một dạng riêng biệt được giới hạn bằng các về mặt ngập lụt và các mặt liên kết từ chúng” (Van Wagoner, 1988, 1990) Ranh giới nhóm phụ tập là các mặt ngập lụt chính và các mặt liên kết từ chúng
Phụ tập (Parasequence): là đơn vị thành phần của tập, là khoảng địa tầng tương đối chỉnh hợp bao gồm các lớp, nhóm lớp trầm tích có liên quan với nhau về nguồn gốc, được giới hạn bằng các mặt ngập lụt biển và các mặt liên kết từ chúng” (Van Wagoner, 1988)
* Các miền hệ thống trầm tích
Theo mô hình địa tầng phân tập của Angela L Coe và Kevin D Church (2003), một tập (sequence) bao gồm 4 miền hệ thống trầm tích (hình 2.3) Bắt đầu một tập là miền hệ thống trầm tích biển hạ và kết thúc là miền hệ thống trầm tích biển cao
- Miền hệ thống trầm tích biển cao (Highstand systems tract - HST)
Miền hệ thống trầm tích biển cao hình thành khi tốc độ dâng cao mực nước biển giảm dần đến không và bắt đầu chuyển sang giai đoạn hạ thấp Trầm tích được cung cấp từ lục địa bởi các con sông và phần lớn tích tụ trên thềm lục địa, chỉ có một ít đạt tới vùng nước sâu hơn
- FSST, LST, TST, HST: Các miền hệ thống trầm tích biển hạ, biển thấp, biển tiến và biển cao
- SB: ranh giới tập; TS(RS) là bề mặt biển tiến hoặc bào mòn biển tiến; MFS: bề mặt ngập lụt cực đại
Hình 2.3 Thời gian hình thành các miền hệ thống trầm tích trong một tập tương ứng với một chu kỳ dao động mực nước biển (theo Angela L Coe và nnk., 2003) [18]
Trang 26- Miền hệ thống trầm tích biển hạ (Falling stage systems tract - FSST)
Miền hệ thống trầm tích biển hạ hình thành trong suốt giai đoạn mức nước biển
hạ từ mức cực đại đến cực tiểu (hình 2.3) Trong giai đoạn mực biển tương đối hạ sẽ dẫn đến: tăng khối lượng trầm tích vụn hoặc tái vận chuyển trầm tích carbonat ra biển
và di chuyển toàn bộ các đai tướng về phía biển và đường bờ hạ thấp hơn các giai đoạn trước đó Vật liệu chủ yếu có nguồn gốc từ các con sông đã đào khoét và vận chuyển trầm tích ra biển trong giai đoạn hạ thấp mực nước biển
- Miền hệ thống trầm tích biển thấp (Lowstand systems tract – LST)
Các trầm tích hình thành trong giai đoạn biển thấp được gọi là miền hệ thống trầm tích biển thấp (LST) Mực nước biển tương đối đang dâng chậm nhưng tốc độ trầm tích lại tương đối cao Các con sông dừng quá trình bào mòn trên thềm lục địa quá trình trầm tích tiếp tục xảy ra trên quạt đáy bồn dạng turbidit (hay trầm tích quạt biển thấp) Các trầm tích cũng bắt đầu hình thành trên quạt chân sườn để hình thành nêm biển thấp
- Miền hệ thống trầm tích biển tiến (Transgresive Systems Tract - TST)
Các trầm tích trên thềm lục địa hình thành trong suốt giai đoạn mực nước biển tương đối dâng nhanh hơn tốc độ cung cấp trầm tích được gọi là hệ thống trầm tích biển tiến (TST) Chúng biểu hiện một mô hình phủ chồng lùi trong các lớp khi đường
bờ dịch chuyển về phía lục địa Trầm tích không được cung cấp xa hơn nữa tới đáy bồn do có đủ không gian tích tụ trên thềm Mực nước biển tương đối tăng tạo nên thành tạo estuary vì các thung lũng bị ngập lụt do nước biển: trầm tích estuary là đặc trưng của hệ thống trầm tích biển tiến Sự tăng mực cơ sở về phía thượng nguồn tạo không gian tích tụ các trầm tích sông (aluvi) trong các thung lũng
- Bề mặt ngập lụt cực đại (Maximum flooding surface - MFS)
Khi tốc độ dâng cao mực nước biển giảm xuống, hệ thống trầm tích đạt tới điểm mà ở đó không gian tích tụ cân bằng với cung cấp trầm tích: khi đó quá trình biển tiến dừng lại và đường bờ thoạt đầu vẫn đứng yên rồi sau đó bắt đầu di chuyển về phía biển Bề mặt kết thúc quá trình biển tiến khi đường bờ tiến xa nhất về phía lục địa
trong giai đoạn này được gọi là bề mặt ngập lụt cực đại Các điểm của bề mặt ngập lụt
cực đại nằm trên phần ngoài của thềm lục địa rất nghèo trầm tích do khi đó ở gần bờ
có không gian tích tụ rất lớn Tốc độ trầm tích rất thấp trên thềm lục địa có thể nhận