1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế

108 473 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do hình thành đề tài Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHOA KINH TẾ



NGUYỄN THỊ MINH HẠNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG

ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY TRỞ LẠI CỦA

DU KHÁCH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ LỮ HÀNH

KHÁNH HÒA – 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

KHOA KINH TẾ



NGUYỄN THỊ MINH HẠNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG

ĐẾN Ý ĐỊNH QUAY TRỞ LẠI CỦA

DU KHÁCH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ LỮ HÀNH

GVHD: ThS LÊ CHÍ CÔNG

KHÁNH HÒA – 2014

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Nha Trang, ngày tháng 06 năm 2014

Giáo viên hướng dẫn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực, do chính tác giả thu thập và phân tích Nội dung trích dẫn đều chỉ rõ nguồn gốc Những số liệu và kết quả trong luận văn

là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

NGUYỄN THỊ MINH HẠNH

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thầy

Lê Chí Công - thầy giáo trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Nếu như không có sự hướng dẫn, giúp đỡ hết sức nhiệt tình và bổ ích của thầy thì em đã không thể hoàn thành bài luận văn này

Em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Kinh tế, Bộ môn Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt cho em những kiến thức cần thiết trong suốt quá trình học tập tại trường, làm nền tảng cơ bản giúp em thực hiện nghiên cứu

Luận văn này được hoàn thành cũng là nhờ dựa trên sự tham khảo, học hỏi từ các báo, tạp chí, các mẩu thông tin liên quan cũng như các nghiên cứu của các tác giả cùng ngành Vì vậy, em xin chân thành cảm ơn tác giả của các tác phẩm mà em đã tham khảo

Đặc biệt, em xin cảm ơn sự hợp tác hết sức nhiệt tình từ phía các du khách quốc tế, đã không ngại bỏ ít thời gian quý báu giúp em hoàn thành công tác điều tra khách hàng Đồng thời, em cũng rất biết ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện tốt nhất có thể, cả về vật chất lẫn tinh thần, ủng hộ em rất nhiều trong quá trình làm luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế Em kính mong các Thầy, các Cô có những ý kiến đóng góp, giúp em hoàn thiện đề tài được tốt hơn

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày 12 tháng 06 năm 2014

SINH VIÊN NGUYỄN THỊ MINH HẠNH

Trang 6

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do hình thành đề tài 1

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 5

1.6 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1 Khái quát về du lịch 7

2.1.1 Giới thiệu về du lịch 7

2.1.2 Các loại hình du lịch 9

2.1.3 Đặc điểm và đặc thù của du lịch 10

2.2 Lý thuyết về tài nguyên du lịch 10

2.2.1 Tài nguyên du lịch 10

Trang 7

2.2.1.1 Định nghĩa tài nguyên du lịch 11

2.2.1.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch 12

2.2.1.3 Vai trò của tài nguyên du lịch 14

2.2.1.4 Phân loại tài nguyên du lịch 15

2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 15

2.2.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên 15

2.2.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên 16

2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 19

2.2.3.1 Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn 19

2.2.3.2 Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn 21

2.3 Lý thuyết lòng trung thành của khách hàng trong du lịch 25

2.3.1 Trung thành ý định 26

2.3.2 Trung thành hành vi 27

2.3.3 Ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định trung thành của du khách 28

2.4 Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 33

3.2 Phương pháp phân tích số liệu 33

3.3 Quy trình nghiên cứu 35

3.3.1 Nghiên cứu sơ bộ 35

3.3.2 Đánh giá sơ bộ thang đo 38

3.4 Giới thiệu nghiên cứu chính thức 39

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Tồng quan về du lịch Nha Trang – Khánh Hoà 40

4.1.1 Giới thiệu về du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa 40

Trang 8

4.1.2 Tình hình khách du lịch nước ngoài đến Nha Trang- Khánh

Hoà trong thời gian qua 47

4.2 Kết quả nghiên cứu 50

4.2.1 Mô tả nghiên cứu 50

4.2.1.1 Giới tính 51

4.2.1.2 Cơ cấu nhóm tuổi 51

4.2.1.3 Cơ cấu thu nhập 52

4.2.1.4 Số lần đến Nha Trang 54

4.2.1.5 Cơ cấu quốc tịch của du khách quốc tế 55

4.2.2 Phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu 56

4.2.2.1 Đánh giá hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 56

4.2.2.2 Đánh giá giá trị thang đo - Phân tích nhân tố EFA 59

4.2.2.3 Hiệu chỉnh thang đo và mô hình nghiên cứu điều chỉnh 64

4.2.2.4 Phân tích hồi qui và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 67

4.2.2.5 Thống kê mô tả cho các biến quan sát 72

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

5.1 Kết luận 75

5.2 Kiến nghị 77

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO x PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

VIF Variance Inflation Factor Hệ số phóng đại phương sai

EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá

UNWTO United National World Tourist

Organization

Tổ chức du lịch thế giới

Cronbach’s Alpha Hệ số tin cậy

Item Total Correlation Hệ số tương quan biến tổng Standardized Factor Loading Trọng số nhân tố chuẩn hóa

thích bởi nhân tố

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thang đo địa hình 36

Bảng 3.2 Thang đo khí hậu 36

Bảng 3.3 Thang đo tài nguyên biển và sinh vật 37

Bảng 3.4 Thang đo di tích lịch sử, kiến trúc 37

Bảng 3.5 Thang đo lễ hội, phong tục tập quán 37

Bảng 3.6 Thang đo ý định quay lại 38

Bảng 4.1 Bảng phân bố mẫu theo giới tính 51

Bảng 4.2 Bảng phân bố mẫu theo độ tuổi 52

Bảng 4.3 Bảng phân bố mẫu theo thu nhập 53

Bảng 4.4 Bảng phân bố mẫu theo số lần đến Nha Trang của du khách 54

Bảng 4.5 Bảng phân bố mẫu theo quốc tịch 55

Bảng 4.6 Độ tin cậy của các thang đo 57

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định và Bartlett cho các nhân tố độc lập 60

Bảng 4.8 Bảng phương sai trích khi phân tích nhân tố độc lập 61

Bảng 4.9 Bảng phân tích nhân tố độc lập tương ứng với các biến quan sát 62

Bảng 4.10 Kết quả kiểm định và Bartlett cho nhân tố phụ thuộc 63

Bảng 4.11 Bảng các biến quan sát của mô hình nghiên cứu điều chỉnh 65

Bảng 4.12 Model Summaryb 67

Bảng 4.13 ANOVAb 68

Bảng 4.14 Coefficientsa 68

Bảng 4.15 Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu 71

Bảng 4.16 Bảng thống kê mô tả của các biến quan sát 73

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 32

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 35

Hình 4.1 Bản đồ hành chính thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 40

Hình 4.2 Số lƣợng khách quốc tế đến Nha Trang - Khánh Hoà thời gian qua 48

Hình 4.3 Mô hình nghiên cứu điều chinh 66

Hình 4.4 Sơ đồ tác động của các nhân tố mới tới ý định quay lại của du khách 72

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ mô tả mẫu theo giới tính 51

Biểu đồ 4.2 Biểu đồ mô tả mẫu theo nhóm tuổi 52

Biểu đồ 4.3 Biểu đồ mô tả mẫu theo thu nhập trung bình năm 53

Biểu đồ 4.4 Biểu đồ mô tả mẫu theo số lần đến Nha Trang của du khách quốc tế 54

Biểu đồ 4.5 Biểu đồ mô tả mẫu theo quốc tịch 56

Biểu đồ 4.6 Biểu đồ tần số của phần dƣ chuẩn hoá 69

Biểu đồ 4.7 Biểu đồ phân tán phần dƣ 70

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do hình thành đề tài

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội của các đất nước Thông qua các hoạt động du lịch con người thỏa mãn nhu cầu hài hòa cả về vật chất lẫn tinh thần Bên cạnh đó du lịch cũng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế

Hoạt động du lịch Việt Nam ngày càng phát triển nhờ những chính sách đổi mới và sự quan tâm trợ giúp của quốc tế Theo Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đánh giá, hiện Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới Với tiềm năng du lịch tự nhiên, văn hóa phong phú, du lịch Việt Nam đã và đang có những bước tiến vững chắc đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đạt trình độ phát triển của khu vực và thế giới Trong thời gian qua, ngành du lịch nước ta đã phát triển mạnh mẽ thu hút nhiều du khách quốc tế hàng năm có sự gia tăng đáng kể Tuy nhiên, một thực tế cho thấy du lịch của nước ta vẫn chưa có sức hấp dẫn đủ mạnh để có thể thu hút khách nước ngoài trở lại thăm Việt Nam lần thứ 2, thứ 3,… Theo thống kê có hơn 70% du khách quốc tế đến Việt Nam và không quay trở lại với rất nhiều lý do Trước hết, đó là chất lượng dịch vụ tại các điểm đến du lịch tại Việt Nam vẫn chưa cao Thêm vào đó, tình trạng chặt chém khách quốc tế vấn còn nhiều và gây ra những bức xúc cho du khách.1

Theo số liệu được trích từ tổng cục du lịch Việt Nam, tính chung 12

1

http://phunutoday.vn/xa-hoi/doi-song/201305/Khach-quoc-te-den-VN-giam-vi-thieu-dai-su-du-Lich-2215150/

Trang 13

tháng năm 2013 ước đạt 7.572.352 lượt, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2012.Cũng trong 5 tháng qua, khách đến Việt Nam đông nhất vẫn là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, Nga Một số nước và vùng lãnh thổ có số lượng khách đến Việt Nam giảm so với cùng kỳ gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đài Loan Đặc biệt, tệ nạn lừa gạt, "chặt chém" du khách vẫn chưa thể xử lý tận gốc đang là những nguyên nhân làm cản trở lớn nỗ lực xúc tiến quảng bá hình ảnh

du lịch Việt Nam và cũng như là nguyên nhân khiến 70% khách du lịch đến Việt Nam không trở lại

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của du lịch nước nhà,

du lịch Khánh Hòa cũng đang từng bước chuyển mình và đã có những bước phát triển khá toàn diện Nha Trang – Khánh Hòa đang tiếp tục vươn mình để trở thành một trong những Trung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch và thương mại của khu vực miền Trung cũng như cả nước, thu hút ngày càng nhiều khách trong và ngoài nước Được mệnh danh là một trong hai mươi chín Vịnh đẹp nhất thế giới, Nha Trang là thành phố nằm trong top 10 trung tâm du lịch hàng đầu cả nước Sức hấp dẫn du lịch của Nha Trang được tạo ra bởi rất nhiều sự kiện văn hóa du lịch như Festival biển, các cuộc thi hoa hậu quốc tế, cảnh quan thiên nhiên, biển đảo,…với kỳ vọng thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến với Nha Trang Tuy nhiên, tỷ lệ gia tăng của du khách quốc tế đến Nha Trang chỉ đạt có 11,3% thấp hơn mức trung bình của cả nước, tỷ lệ du khách quốc tế quay lại nói chung vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của tỉnh,

khoảng 10%, và cũng không ít lời phàn nàn được đưa ra (Sở Văn hóa – Thể

thao – Du lịch Khánh Hòa) Bên cạnh những yếu tố thu hút khách du lịch như

chất lượng dịch vụ tốt, sản phẩm du lịch độc đáo, ẩm thực đa dạng,… thì tài nguyên du lịch được xem như là một thế mạnh đầu tiên để thu hút du khách đến với Nha Trang - Khánh Hòa Bởi vẻ đẹp thiên nhiên được ban tặng, Nha Trang với khí hậu ôn hoà, có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển

Trang 14

du lịch Nơi đây có nhiều hòn đảo lớn nhỏ như Hòn Tằm, Hòn Mun, Hòn Lao, Hòn Thị,… trong đó đảo Hòn Tre lớn nhất, nằm che chắn ngoài khơi giúp cho Nha Trang trở nên kín gió và êm sóng, ít chịu ảnh hưởng của mưa bão Nha Trang còn có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùng các di tích văn hóa đặc sắc như Tháp Bà Ponagar, Nhà thờ Núi, Dinh Bảo Đại, chùa Long Sơn,… Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông, là viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên và vẻ đẹp của nó

Trên thế giới, hàng loạt các nghiên cứu đã được tiến hành nhằm điều tra, đánh giá vai trò cũng như tác động của điểm đến du lịch và sự thỏa mãn lên ý định quay lại của du khách Tuy nhiên, hiện nay theo hiểu biết của tác giả tại Việt Nam vẫn còn rất ít các nghiên cứu chú trọng giải quyết đến vấn đề này Xuất phát từ tình

hình thực tiễn nêu trên, là một sinh viên của ngành Du lịch đang học tập và sinh sống tại thành phố biển xinh đẹp Nha Trang, Khánh Hòa, một trong những trọng điểm du lịch của đất nước, thu hút khá nhiều sự quan tâm, chú ý từ phía du khách

quốc tế, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế”

làm luận văn tốt nghiệp cuối khóa học.

Mong rằng đề tài này sẽ có những đóng góp tích cực giúp các doanh nghiệp và nhà quản lý kinh doanh du lịch tại Nha Trang tăng khả năng thu hút khách du lịch Quốc tế trong tương lai

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu:

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương tác động đến

sự quay trở lại của khách quốc tế Từ đó, đưa ra các kiến nghị, chính sách nhằm nâng cao sự thoả mãn và việc quay trở lại của du khách quốc tế khi tới

du lịch tại Nha Trang – Khánh Hoà

Trang 15

- Đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao sự thỏa mãn của du khách cũng như ý định quay trở lại của du khách đối với du lịch Nha Trang

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là ý định quay trở lại của du khách, trong đó luận văn sẽ tập trung vào yếu tố tài nguyên du lịch địa phương tác động đến sự quay trở lại của du khách

Khách thể nghiên cứu là khách du lịch quốc tế đến với Nha Trang

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Việc nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thành phố Nha Trang

Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2014

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ: Giai đoạn này được thực hiện thông qua phương pháp định tính, liên quan đến việc xác định vấn đề nghiên cứu Đầu tiên là xác định các yếu tố của văn hóa địa phương ảnh hưởng đến việc quay trở lại của du khách dựa trên cơ sở tham khảo tài liệu, bài báo cáo, các công trình nghiên cứu có liên quan từ đó xây dựng các tiêu thức cần khảo sát và đánh giá Thêm nữa, để phát triển bảng câu hỏi phục vụ cho nghiên cứu chính thức thì tác giả đã tiếp xúc, tham khảo, tư vấn chuyên gia, khách du lịch Quá

Trang 16

trình này giúp phát hiện các tiêu chí không cần thiết và bổ sung các tiêu chí mới tác động đến ý định quay trở lại của du khách

Nghiên cứu chính thức: được thực hiện bằng phương pháp định lượng, dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng bảng phỏng vấn Trên cơ sở dữ liệu đã thuy được quan phỏng vấn du khách sẽ tiến hành phân tích mẫu nghiên cứu, kiểm định thang đo, phân tích các nhân tố, kiểm định giải thuyết nghiên cứu Tất cả các số liệu thu thập được xử lý thông qua phần mềm SPSS 16.0

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu:

- Với việc hoàn hành đề tài nghiên cứu này hy vọng sẽ góp một phần vào việc hệ thống hóa lại cơ sở lý thuyết về yếu tố tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế đối với điểm đến du lịch

- Giúp các đơn vị kinh doanh và quản lý du lịch thành phố Nha Trang nhận ra nhu cầu của khách thông qua yếu tố tài nguyên du lịch địa phương

Từ đó tìm ra những giải pháp cải tiến để giữ chân và thu hút ngày càng nhiều

du khách nước ngoài đến và trở lại Nha Trang du lịch

- Làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên khóa sau

1.6 Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn ngoài danh mục các bảng biểu; danh mục các sơ

đồ, đồ thị; danh mục các từ viết tắt; danh mục các tài liệu tham khảo và phụ

lục thì gồm có 4 phần chính sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nội dung của

chương này là đưa ra cơ sở lý thuyết về du lịch, tài nguyên du lịch, lòng trung thành của khách hàng trong du lịch và xây dựng mô hình lý thuyết cho nghiên cứu

Trang 17

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này đề cập đến các

phương pháp nghiên cứu trong đề tài để kiểm định thang đo và mô hình cùng với các giả thuyết nghiên cứu làm nền tảng cho chương 4

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung chính của chương này là

tiến hành nghiên cứu, phân tích và đưa ra những kết quả cụ thể liên quan đến sự ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Dựa trên các kết quả đã đạt được ở

chương 3, chương cuối này sẽ đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao ý định quay trở lại của du khách đối với tài nguyên du lịch Nha Trang Đồng thời, những thiếu sót và và hạn chế của đề tài cũng được đề cập

Trang 18

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Khái quát về du lịch

2.1.1 Giới thiệu về du lịch

Khách du lịch nội địa: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam,

người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ

Việt Nam (Điều 34, luật du lịch, 2005)

Khách du lịch quốc tế: Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài,

người Việt Nam định cư ở nước ngoài đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch (Điều

Theo thời gian, qua từng thời đại, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau có những quan niệm khác nhau về du lịch Đúng như một chuyên gia về

du lịch đã từng nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Trước thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng như trong lĩnh vực đào tạo việc nghiên cứu, thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niệm cơ bản

Ở thời kỳ đồ đá, con người “đi” vì sự sinh tồn, vì tránh đói, tránh rét, tránh sợ hãi Đến thời kỳ cường thịnh của đế quốc La Mã, các chuyến du ngoạn bằng ngựa đã mang mục đích tiêu khiển của những tầng lớp thống trị

Sự ra đời của tàu hỏa vào thế kỷ XIX đã tạo động lực cho giao thông phát

Trang 19

triển, đồng thời cũng tạo điều kiện cho du lịch phát triển hơn Sau đó đến sự

có mặt của tàu thủy, ô tô, máy bay,… làm cho du lịch ngày càng trở nên gần gũi với con người hơn

Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc nhóm người, rời khỏi nơi ở của mình trong khoảng thời gian ngắn, đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh

Hội nghi Liên Hợp quốc về du lịch Roma (1963) đã đưa ra định nghĩa:

“Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú ngoài nơi lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình fơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Pirogionic (1985) đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến việc di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”

Trong cuốn “Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan” với nội dung khá chi tiết nhà địa lý Belarus đã nhấn mạnh: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi có liên quan có sự di cư và tạm trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa, dịch vụ”

Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): “Du lịch theo nghĩa hành động, được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này Người đi du lịch là

Trang 20

người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian hơn 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển”

Theo Luật Du lich nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2005, “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định” (Điều 4)

Tuy có khá nhiều các quan điểm khác nhau về du lịch nhưng vẫn chưa

có sự thống nhất chung Do đó, tác giả mong muốn được áp dụng một quan điểm mới của Ts Nguyễn Đức Tuấn với nội dung khá đầy đủ về du lịch như

sau: “Du lịch là sự ra đi của các cư dân và tạm trú cách xa (khoảng 600m)

nơi ở thường xuyên của mình để tạo ra các mối quan hệ với nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền và dân địa phương nơi đến, nhằm mục đích phục

vụ cho việc nghỉ ngơi, giải trí, tham quan các danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, đoàn tụ gia đình, và thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo, thể thao có tác dụng nâng cao chất lượng cuốc sống của con người Ngoài ra, du khách phải nghỉ đêm và mua các dịch vụ ở nơi đến”

2.1.2 Các loại hình du lịch

- Du lịch làm ăn,

- Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt,

- Du lịch nội quốc, quá biên,

- Du lịch tham quan trong thành phố,

- Du lịch trên những miền quê (du lịch sinh thái),

- Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm

- Du lịch hội thảo, triển lãm MICE

- Du lịch giảm stress, Du lịch ba-lô, tự túc khám phá

- Du lịch bụi, du lịch tự túc

Trang 21

- Theo lịch trình, thời gian

- Theo phương tiện sử dụng để đi thăm quan

- Theo mùa

- Theo chương trình du lịch

- Theo cách thức di chuyển: đi bộ hay đi bằng phương tiện …

Tóm lại, Việt Nam là đất nước nhiều tiềm năng, đặc biệt là tiềm năng

du lịch Được đánh giá cao trên các trang web đánh giá về du lịch, nhiều địa danh được đánh giá rất cao Bên cạnh những ưu điểm về mặt tự nhiên, chúng

ta không khỏi thấy rằng vẫn còn có những điểm yếu rõ nét, trong đó chính là

sự chưa chuyên nghiệp trong tất cả các khâu, còn có những hiện tượng xấu do

ý thức công cộng của người dân còn chưa tốt, hay chính những hướng dẫn viên thiếu năng lực, thiếu trình độ thực tế, khiến nhiều khách du lịch đến Việt Nam chỉ một lần và không quay lại lần thứ hai

2.2 Lý thuyết về tài nguyên du lịch

2.2.1 Tài nguyên du lịch

Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng

Trang 22

của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch Vì vậy, sức hấp dẫn du lịch của một địa

phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch của địa phương đó

2.2.1.1 Định nghĩa tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được

sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch

Tuy nhiên định nghĩa này chưa phản ánh được bản chất của tài nguyên

du lịch Nguyễn Minh Tuệ và một số học giả cho rằng tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, kinh tế, văn hóa được sử dụng để phục hồi sức khỏe cho

con người Trên cơ sở này cho rằng địa hình, thủy văn, khí hậu, thế giới động

vật, di tích, lễ hội…là những tài nguyên du lịch Thế nhưng rõ ra không phải trong bất cứ mọi dạng, mọi kiểu địa hình, không phải bất cứ kiểu khí hậu nào…cũng đều có khả năng thu hút khách du lịch Hay nói cách khác, không phải tất cả chúng đều có thể được khai thác cho kinh doanh du lịch nhiều khi

có những kiểu địa hình, khí hậu, thủy văn lại là những điều kiện bất lợi, cản trở việc thu hút khách

Do đó, tài nguyên du lịch phải là những giá trị thẩm mỹ, lịch sử, văn hóa tâm linh, giải trí, kinh tế…của các thành tạo tự nhiên, những tình chất của

tự nhiên các công trình, sản phẩm do bàn tay hay trì tuệ của con người làm nên có sức hấp dẫn với du khách hoặc được khai thác phục vụ phát triển du lịch

Luật du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa về tài nguyên du lịch tại điều

4 như sau: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di

tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu

tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

Trang 23

Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao

2.2.1.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch

- Là loại tài nguyên có thể tái tạo được: Trong quá trính khai thác và

kinh doanh du lịch, khách được đưa đến điểm du lịch để họ thẩm nhận tại chỗ những giá trị của thế giới xung quanh, cụ thể là những giá trị của tài nguyên

du lịch Tài nguyên của mỗi loại hình du lịch mang tình đặc thù của chúng Mục đích nghỉ ngơi, điều dưỡng là các loại hình nước khoáng, bùn, thời tiết, khí hậu, thích hợp cho việc chữa bệnh… Du lịch thể thao và các cuộc hành trình cần những đặc điểm đặc biệt của lãnh thổ như: những chướng ngại vật, dân cư thưa thớt, ở xa trung tâm Đối với du lịch tham quan cần những danh lam thắng cảnh tự nhiên và lịch sử văn hóa, các công trình kinh tế, những ngày lễ dân gian và những thành phần văn hóa dân tộc Những tài nguyên này được du khách tiêu thụ song hầu như không mất đi giá trị ban đầu

- Thường thuộc loại tài nguyên có tính đa dạng: Một số tài nguyên

không chỉ là tài nguyên du lịch mà còn là tài nguyên của các ngành kinh tế khác Điều này thường dẫn đến những tranh chấp về trách nhiệm trong công tác quản lý và điều hành khai thác Trong trường hợp này, chính quyền phải

có quyết định hợp lý mặc dù để dành tài nguyên đó cho du lịch thì hiệu quả kinh tế trước mắt sẽ không cao bằng để cho ngành kinh tế khác khai thác

- Là thành phần cơ bản để tạo nên sản phẩm du lịch: Tài nguyên du

lịch cũng là yếu tố đặc trưng của sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch là tất cả những gì mà du khách được hưởng thụ trong suốt chuyến đi sản phẩm du lịch

là kết quả của dịch vụ chình (dịch vụ ăn, nghỉ, đi lại), dịch vụ bổ sung (nếu khách có yêu cầu) và dịch vụ đặc trưng Về cơ bản thì dịch vụ chính và dịch

vụ bổ xung có trong tất cả các tour du lịch trọn gói còn dịch vụ đặc trưng chủ

Trang 24

yếu là do tài nguyên du lịch quyết định

- Có tính sở hữu chung: Về nguyên tắc bất cứ công dân nào cũng có

quyền thẩm nhận các giá trị tài nguyên du lịch mang lại Vì vậy, việc khai thác tài nguyên là quyền của mọi doanh nghiệp du lịch Không có doanh nghiệp du lịch nào độc quyền tổ chức các tour về bất cứ một điểm du lịch nào

“cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động

du lịch” và nhà nước ta “đảm bảo sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch”

- Gắn với vị trí địa lý: Đa số các tài nguyên du lịch như cảnh quan

thiên nhiên, di tích lịch sử… đều gắn chặt với vị trí địa lý, không thể di rời nơi khác được Ngay cả thế giới động vật, khí hậu, lễ hội, văn hóa truyền thống cũng là hàm số của vị trí Đặc điểm này tạo sự khác biệt trong kinh doanh du lịch là để bán được sản phẩm du lịch, khách hàng chứ không phải sản phẩm du lịch được đưa đến nơi có tài nguyên du lịch

- Có tính mùa vụ khá rõ rệt: Hầu hết các tài nguyên du lịch đều có đặc

điểm này kể cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Với tư cách là tài nguyên du lịch, khí hậu thích hợp với du lịch biển từ tháng

4 đến tháng 8 Du lịch lễ hội diễn ra chủ yếu vào mùa xuân…Điều này là một trong những nhân tố quyết định tính thời vụ của hoạt động du lịch nói chung

và kinh doanh du lịch nói riêng

- Giá trị của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào yếu tố chủ quan: Giá trị

của tài nguyên du lịch không chỉ phụ thuộc vào giá trị tự thân mà còn phụ thuộc vào các nhà cung ứng và du khách Về phần mình giá trị tự thân phụ thuộc vào độ lớn, sự phong phú, sự đa dạng, độc đáo và sự tương phản… một

di tích có nhiều công trình, một khu rừng có nhiều tầng, một địa hình có nhiều núi non tạo nên sự đa dạng, phong phú Một công trình đương đại đặc sắc, một lễ hội truyền thống, một trò chơi dân gian độc đáo… có sức hấp dẫn rất

Trang 25

lớn đối với du khách Những hiểu biết của nhà cung ứng, khả năng và nghệ thuật diễn giải và việc tôn tạo tu bổ tài nguyên có ảnh hưởng tới giá trị tài nguyên mặc dù hầu như không làm thay đổi giá trị tự thân của nó Ngoài ra, việc hấp dẫn du khách còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng truyền đạt của hướng dẫn viên Kết quả đầu tư của nhà cung ứng cũng có ý nghĩa trong việc làm gia tăng giá trị của tài nguyên du lịch Tuy nhiên cũng có từng trường hợp tại một số nước do thiếu sự hiểu biết và vội vã nên việc trùng tu, tôn tạo tài nguyên du lịch dẫn đến kết quả ngược lại làm giảm giá trị của nó Đặc điểm tiếp theo tạo nên sự khác biệt của tài nguyên du lịch là giá trị của nó còn phụ thuộc vào khách du lịch Hiểu biết, trính độ văn hña, nhận thức, tính cảm, mói trường sống…của khách là yếu tố gñp phần đánh giá giá trị của tài nguyên du lịch Như vậy, sức hấp dẫn hay giá trị của tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan

2.2.1.3 Vai trò của tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải kể đến tài nguyên du lịch Sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên

sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch Tài nguyên du lịch càng độc đáo, đặc sắc thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng

Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Trong quá trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các yêu cầu

và thoả mãn các mục đích của du khách, các loại hình du lịch mới cũng không ngừng xuất hiện và phát triển Các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa trên

cơ sở của tài nguyên du lịch Và chính sự xuất hiện của các loại hình du lịch

đã làm cho các yếu tố điều kiện tự nhiên, xã hội trở thành tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng tổ chức lãnh thổ du lịch Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian

Trang 26

của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó Các yếu tố đó là khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đội ngũ cán bộ công nhân viên, tổ chức điều hành và quản lý du lịch Hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác nhau Nhưng dù ở cấp phân

vị nào thì tài nguyên du lịch đều đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ du lịch, cũng là yếu tố cơ bản để hính thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác một cách hiệu quả nhất các tiềm năng của nó Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp phần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói riêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung

2.2.1.4 Phân loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng để tạo nên sản phẩm du lịch Quyết định tới loại hình du lịch.Tài nguyên du lịch được chia thành hai loại: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.Trong đó tài nguyên du lịch nhân văn được chia thành tài nguyên du lịch nhân văn vô thể

và tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.2.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Tuệ cùng các tác giả trong cuốn địa lý du lịch:" Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta"

Theo thạc sĩ Bùi Thị Hải Yến trong đề tài Tài nguyên du lịch Bắc Ninh

với sự phát triển du lịch bền vững: "Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các tổng thể tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp khai thác sử dụng để tạo

ra sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch"

Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự

Trang 27

nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, nó thường được khai thác đồng thời với tài nguyên du lịch nhân văn

2.2.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên

 Tài nguyên địa hình:

Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt động của con người Đối với hoạt động du lịch các dạng địa hình tạo nên phong cảnh, một yếu tố quan trọng để hình thành nên các tài nguyên khác Một số kiểu địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn cho phát triển du lịch:

- Địa hình đồng bằng: Là dạng địa hình tương đối đơn điệu về ngoại hình không gây được cảm giác mạnh trong du lịch mạo hiểm Tuy nhiên, đây

là nơi thuận lợi cho hoạt động kinh tế, là nơi quần tụ của con người Nơi đây

đã sản sinh ra văn hóa của con người, nơi tập trung tài nguyên du lịch nhân văn Vì vậy, địa hình đồng bằng cũng ảnh hưởng gián tiếp tới du lịch

- Địa hình miền núi: Trong các dạng địa hình thì địa hình miền núi có

ưu thế hơn cả đối với hoạt động du lịch Địa hình miền núi có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, có nhiều đối tượng trong hoạt động du lịch như các sóng, suối, thác nước, hang động, rừng cây Miền núi cũng là nơi cu trú của đồng bào dân tộc ít người còn giữ được bản sắc văn hóa độc đáo

- Địa hình vùng đồi: Là dạng địa hình tạo ra không gian thoáng đãng và bao la, khách du lịch thường thích cắm trại thăm quan trên các vùng đồi, nơi đây tập trung dân cư tương đối đông đúc, lại là nơi tập trung các di tích khảo

cổ học, và tài nguyên văn hóa, lịch sử độc đáo, rất thích hợp để tổ chức các hoạt động du lịch tham quan theo chuyên đề

- Đặc biệt là kiểu địa hình kaster và kiểu địa hình bờ bãi biển: Hang động kaster là một trong những kiểu kaster được quan tâm nhất đối với khách

du lịch vì cảnh quan thiên nhiên và văn hóa kiểu địa hình ven bờ có thể tận

Trang 28

dụng khai thác du lịch với các mục đích khác nhau như: tham quan du lịch, nghiên cứu khoa học, nghỉ an dưỡng, tắm biển, thể thao dưới nước

 Tài nguyên khí hậu

Theo như định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization - WMO) thì Khí hậu được hiểu nghĩa như sau: khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa và gió Khí hậu trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống khí hậu

Ở mỗi nơi trên trái đất, trong những năm khác nhau, thời tiết diễn ra khác nhau, những điều kiện khí quyển ít nhiều biến thiên trong quá trình một năm: từ mùa đông sang mùa hè và từ mùa hè sang mùa đông Song sự khác biệt của thời tiết hàng ngày, hàng tháng, hàng năm tại mỗi địa phương ta vẫn

có thể phân biệt được một loại khí hậu hoàn toàn xác định Với ý nghĩa đó khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của con người như: nông nghiệp, sự phân bố địa lý của công nghiệp, giao thông đường bộ, đường thủy, hàng không Nha Trang là một ví dụ điển hình, một thành phố nằm ngay bên bờ biển có khí hậu gió mùa ôn hòa, nắng nhiều hơn mưa rất phù hợp với những khách muốn du lịch biển Khí hậu tác động trực tiếp đến Thành phố mang lại một khí hậu vô cùng đẹp, một năm có đủ bốn mùa Theo thống kê của trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ưng thì nhiệt độ trung bình tại Nha Trang không quá cao khoảng 26,3⁰C có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm)

Trang 29

Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 và kết thúc sớm

vào tháng 11 cho nên rất phù hợp để cho khách du lịch tại Nha Trang

 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước trên bề mặt và nguồn nước ngầm trong lòng đất Đối với hoạt động du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất to lớn, bao gồm: đại dương, biển, hồ, sông, suối, thác nước, suối phun Đối với du lịch nước mặt góp phần tạo môi trường không khí mát mẻ, thoáng, tạo phong cảnh đẹp Các mặt nước ven bờ: bãi biển, ven hồ, các dòng sóng thường được sử dụng để tắm, phát triển các hoạt động thể thao dưới nước, là phương tiện giao thông đường thủy Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng tuỳ theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và theo nhu cầu của mỗi quốc gia Nước không chỉ có tác dụng phục hồi trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu khí hậu ven bờ

Nước ngầm: các điểm nước khoáng, suối nước nóng là tài nguyên thiên nhiên quý giá để phát triển các loại hính du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh… Trong tài nguyên nước cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng, đây là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh Nước khoáng là nước thiên nhiên chứa một số thành phần vật chất đặc biệt, các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ lại có một số tính chất vật lý: nhiệt độ cao, độ pH có tác dụng sinh lý với con người

 Tài nguyên sinh vật

Tài nguyên sinh vật bao gồm: nguồn động vật, thực vật tiêu biểu có thể phục vụ phát triển du lịch Hiện nay, khi mà đời sống con người càng được nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí càng trở nên cấp thiết cùng với thị yếu

đi du lịch ngày càng phong phú Ngày nay, đã xuất hiện một hình thức đi du lịch mới hấp dẫn du khách đó là tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên với

Trang 30

các đối tượng là các loại động thực vật thông qua một số loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, tham quan thiên nhiên, nghiên cứu khoa học

Trong hoạt động tham quan du lịch thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt do tình đa dạng sinh học sự bảo tồn được nhiều nguồn gen, tạo phong cảnh đẹp, thơ mộng, sinh động Tài nguyên sinh vật có ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch, nó hình thành nên các rừng quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên…Việc tham quan du lịch trong thế giới động – thực vật sống động, hài hoà trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống

Ngoài các yếu tố tự nhiên trên còn có các hiện tượng đặc biệt của thiên nhiên có tác động mạnh mẽ đến phát triển du lịch như hiện tượng nhật thực, tuyết rơi ở vùng khí hậu nhiệt đới…

2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn

2.2.3.1 Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các giá trị văn hóa, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh doanh du lịch Trong số các tài nguyên du lịch nhân văn thì các di sản văn hóa có vị trí đặc biệt Các di sản văn hóa được chia thành di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu truyền khác bao gồm chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, lễ hội, bí quyết về thủ công truyền thống, tri thức về

y dược cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

Trang 31

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia Di tích lịch sử văn hóa

là công trình xây dựng địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm về lịch sử, văn hóa, khoa học từ 100 tuổi trở lên Báu vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học

- Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn tác dụng giải trí, có ý nghĩa không điển hình hoặc thứ yếu

- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân văn diễn ra trong thời gian ngắn, tài nguyên du lịch nhân văn thích hợp với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình

- Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hóa cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn

- Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn

- Ưu tiên của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không theo tính mùa, không bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên

- Sở thích của những người tìm hiểu tài nguyên du lịch nhân văn là rất phức tạp và khác nhau Nó gây nhiều khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên

du lịch nhân văn

- Tài nguyên du lịch nhân văn tác động theo từng giai đoạn:

Giai đoạn thông tin: Ở giai đoạn này du khách nhận được những thông

Trang 32

tin chung nhất, thậm chì còn có thể là mờ nhạt về các đối tượng nhân văn và thường thông qua các tin truyền miệng hay các phương tiện thông tin

Giai đoạn tiếp xúc: Là giai đoạn khách du lịch có nhu cầu tiếp xúc bằng

mắt thường với đối tượng, tuy chỉ lướt qua nhưng bằng mắt thực

Giai đoạn nhận thức: Trong giai đoạn này khách du lịch làm quen với

đối tượng một cách cơ bản, đi sâu vào nội dung của nó, thời gian tiếp xúc lâu hơn

Giai đoạn đánh giá, nhận xét: Ở giai đoạn này bằng kinh nghiệm sống

của bản thân về nhận thức, khách du lịch so sánh đối tượng này với đối tượng khác gắn với nó

2.2.3.2 Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là những gì do con người tạo ra, hay nói cách khác nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc điểm rất khác biệt so với tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn vô thể

 Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

+ Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể là các di tích lịch sử văn hóa

Theo Luật Di sản 2001: Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó

có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Theo phó giáo sư Nguyễn Minh Tuệ cùng các tác giả trong cuốn địa lý

du lịch "Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại "

Di tích lịch sử - văn hoá – kiến trúc là những không gian vật chất cụ

Trang 33

thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại bao gồm: Di tích văn hoá khảo cổ; Di tích lịch sử; Di tích văn hoá nghệ thuật; Các loại danh lam thắng cảnh Theo giá trị khác nhau, các di tích lịch sử văn hóa được đánh giá, xếp hạng theo các cấp bậc khác nhau Đó là di tích đặc biệt quan trọng, các di tích được xếp hạng (quốc gia, địa phương) Thông thường, các di tích được xếp hạng như sau: Di sản văn hóa thế giới, di tích cấp bậc quốc gia

và địa phương:

- Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà ở truyền thống, nói lên một nền văn hóa đang có nguy cơ bị hủy hoại trước những biến động không cưỡng lại được

- Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí

Di sản văn hóa được coi như là sự kết tinh của những sáng tạo văn hóa của một dân tộc Các di sản văn hóa khi được công nhận là các di sản văn hóa thế giới của quốc gia thì sẽ trở thành nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô giá, có sức hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã có ba di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hña thế giới

đó là Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn

Di tích khảo cổ học: các di tích khảo cổ có thể bị vùi lấp trong lòng đất hoặc ở trên mặt đất bao gồm: di chỉ cư trú, di chỉ mộ táng, những công trình kiến trúc cổ và các di chỉ khác

Các di tích lịch sử văn hóa: di tích lịch sử là những công trình ghi nhận các sự kiện, các địa điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trính phát triển lịch sử của mình

Trang 34

Các di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tìch gắn với các công trình kiến trúc có giá trị, những di tích này chứa cả những giá trị kiến trúc nghệ thuật và những giá trị văn hóa phi vật thể

Các danh lam thắng cảnh: là nơi có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp

và thường có những giá trị do con người sáng tạo ra gắn liền với phong cảnh thiên nhiên

+ Các tài nguyên du lịch nhân văn khác

Những công trình đương đại nhiều khi cũng tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với du khách Các công trình này bao gồm: Các tòa nhà, hệ thống cầu cống, đường xá, các viện nghiên cứu, nhà máy công trình kiến trúc lớn có giá trị kiến trúc nghệ thuật

Thư viện, bảo tàng, nhà lưu niệm, rạp hát, công viên, khu vui chơi giải trí, các sản phấm lao động đặc trưng, các món ăn truyền thống cũng có thể được coi là các tài nguyên nhân văn hữu hình

Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, món ăn dân gian hay đặc sản cũng có sức hấp dẫn lớn đối với du khách

 Tài nguyên du lịch nhân văn vô thể

+ Lễ hội

- Khái niệm: Theo phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đức Thanh trong bài giảng địa lý du lịch : "Lễ hội là một bộ sách bách khoa đồ sộ, là một bảo tàng sống văn hóa tinh thần của người Việt Nó đã và sẽ tác động mạnh mẽ và sâu sắc vào tâm linh, vào việc khuôn đúc tâm hồn và tinh cách Việt Nam xưa nay và mai sau"

Theo trang web chính thức của bộ văn hóa thể thao và du lịch Việt Nam2 thì “Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có

2

cinet.gov.vn

Trang 35

mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn hóa của Việt Nam” Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị

“Thần” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó

là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội

tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người

Đối với Nha Trang, lễ hội được biểu hiện rõ nét nhất phải kể đến: lễ hội Festival cứ 2 năm được tổ chức một lần với nhiều chủ đề khác nhau, lễ hội yến sào, lễ hội Tháp bà Ponaga, lễ hội cá ông, lễ hội Am Chúa… các lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Các lễ hội thờ cũng các vị thần khác nhau nhưng có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc

Ngoài ra, lễ hội tại Nha Trang cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát

Trang 36

huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí

Các lễ hội tại Nha Trang được đầu tư lớn, có quy mô về nhiều mặt đặc biệt là Festival Nha Trang, một trong những lễ hội đặc sắc nhất tại Khánh Hòa Với mức đầu tư như vậy, sẽ mang được tầm quảng bá, giới thiệu đến cho du khách, một lần nữa có thể khẳng định Nha Trang trong lòng những du khách đến du lịch tại đây

+ Nghề và làng thủ công truyền thống: Nghề thủ công truyền thống với

những sản phẩm độc đáo mang giá trị nghệ thuật, thể hiện sự khéo léo của người lao động, thể hiện tâm tư tình cảm của họ Nghề thủ công truyền thống luôn được bảo tồn, phát huy từ đời này sang đời khác của các gia đình, các làng, các địa phương Hiện nay trong du lịch, việc thăm quan các làng nghề

và học làm các sản phẩm tại các làng nghề đang rất phát triển

+ Các tài nguyên du lịch nhân văn vô thể khác: Phong tục tập quán,

nghệ thuật hát, múa, diễn xướng dân gian, nghệ thuật ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc, tri thức về y dược cổ truyền Ngoài ra, hoạt động sản xuất với những sắc thái riêng của mỗi dân tộc trên địa bàn cư trú riêng của mình, những hoạt động thể thao mang tính sự kiện, các hoạt động nghệ thuật,… cũng là đối tượng thu hút khách du lịch

2.3 Lý thuyết lòng trung thành của khách hàng trong du lịch

Lòng trung thành mang tính quyết định đến sự tồn vong của doanh nghiệp trong tương lai, nó được đo lường bởi ý định tiếp tục mua, lòng tin và

sự giới thiệu với người khác về sản phẩm và dịch vụ mà họ đang dùng Ngược lại với sự trung thành là sự than phiền khi khách hàng không hài lòng với sản phẩm dịch vụ so với những mong muốn của họ Sự trung thành của khách hàng được xem như một tài sản của doanh nghiệp, vì vậy, các doanh nghiệp cần phải tạo ra sự hài lòng đối với khách hàng nhằm nâng cao sự trung thành

Trang 37

của họ đối với doanh nghiệp Có một câu châm ngôn trong ngành du lịch như thế này “một người khách thỏa mãn, vui vẻ ra về sẽ nói tốt về ta cho ba người khác Một người khách bực tức ra về sẽ nói xấu về ta cho mười người khác”

Do vậy, khi một doanh nghiệp không làm thoả mãn khách hàng thì không những doanh nghiệp đánh mất khách hàng đó mà còn làm mất đi rất nhiều khách hàng tiềm năng

Day (1969) đã đề nghị rằng sự trung thành nên được đo lường như sự phối hợp của sự trung thành thái độ và sự trung thành hành vi, và ông đề xuất chỉ số trung thành với nhãn hiệu như sau: “Hành vi trung thành với nhãn hiệu được định nghĩa như là một hành động công khai của việc mua hàng lặp lại có tính lựa chọn dựa trên các quá trình quyết định tâm lý có đánh giá, trong khi thái độ trung thành với nhãn hiệu có khuynh hướng là các khunh hướng nền tảng ứng xử theo một cách thức có tính chọn lọc” Những người có đóng góp quan trọng đối với nghiên cứu sự trung thành hành vi và sự trung thành thái

độ là Dick và Basu (1994) Hai ông đã khái niệm sự trung thành của khách hàng như là sự kết hợp của mua hàng lặp lại (Repeat patronage) và thái độ tương đối (Relative attitude) hướng đến mục tiêu (cửa hàng, nhãn hiệu, dịch

vụ, người bán hàng…)

Lòng trung thành được đo lường theo ba cách khác nhau: Đo lường hành vi thông qua hành vi “mua hàng lặp lại” và bỏ qua các yếu tố tiềm ẩn khác (Nodman, 2004); đo lường thông qua thái độ như: ý định mua, đề nghị đối với những người khác hoặc nói thuận lợi về sản phẩm hoặc dịch vụ (Oliver, 1999); đo lường kết hợp cả hành vi và thái độ (Jacoby và Chesnut, 1978)

2.3.1 Trung thành ý định

Sự trung thành thái độ, trong đó sự trung thành nhãn hiệu được xem xét phụ thuộc vào sự ràng buộc về mặt tâm lý, ý định mua, đề nghị đối với những người khác, hoặc nói thuận lợi về sản phẩm hoặc dịch vụ (Oliver, 1999)

Trang 38

Một vài nghiên cứu trong quá khứ đã phân tích tầm quan trọng của việc xem xét hai khía cạnh hành vi và thái độ của lòng trung thành đã đề xuất chỉ số lòng trung thành dựa trên cơ sở của việc đo lường thái độ và hành vi (Pritchard, Howard) Engel và Blackwell (1982) định nghĩa lòng trung thành

là thái độ và hành vi đáp ứng tốt hướng tới một hoặc một vài nhãn hiệu đối với một loại sản phẩm trong một thời kỳ bởi một khách hàng Như định nghĩa trên thì lòng trung thành gồm cả hai yếu tố thái độ và hành vi Cho rằng khách hàng có hành vi trung thành với một công ty thể hiện thái độ ưa thích nhiều hơn đối với công ty, trong sự so sánh với đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên trong một số trường hợp hành vi trung thành không nhất thiết phản ánh thái độ trung thành, khi tồn tại những yếu tố khác làm cản trở khách hàng rời bỏ công

ty Nếu thất bại trong việc tính toán lòng trung thành có thể dẫn đến lòng trung thành giả mạo Vì vậy để đạt được lòng trung thành “đúng”, các công ty nên đồng thời tập trung vào cả hai thứ hành vi và thái độ trung thành

2.3.2 Trung thành hành vi

Theo Oliver (1997, tr.392), lòng trung thành chính là sự ràng buộc mang tính hành vi hướng đến việc mua sản phẩm hay sử dụng dịch vụ trong tương lai Bởi du khách quốc tế có ý định quay lại một điểm du lịch nào đó

mà họ đã từng đến hay không là rất khó dự báo

Lòng trung thành được định nghĩa như là sự cam kết của khách hàng sẽ mua lại sản phẩm hoặc dịch vụ ưa thích (Chaudhuri, 1999), sẽ ưu tiên tìm mua sản phẩm của một thương hiệu nào đó (Yoo và cộng sự, 2000) trong tương lai

Sự trung thành thể hiện là sự gắn bó với một sản phẩm hơn là có ý định chuyển hướng sang sử dụng một sản phẩm khác Mặc dù sự trung thành có nhiều cách định nghĩa và đo lường khác nhau, nhưng có lẽ cách đánh giá phổ biến nhất là đo lường hành vi diễn ra theo thời gian hay các đặt điểm về mua

Trang 39

hàng lặp lại (Olsen, 2003) Theo quan điểm của Jacoby và Chesnut (1978) và được mở rộng bởi Oliver (1997), người tiêu dùng trước tiên trở nên trung thành về mặt nhận thức, hiểu biết và và kinh nghiệm (cognitive), sau đó là cảm nhận giác quan (affective), tiếp đến là ý định thực hiện (conative), và sau cùng là phương thức hành vi (behavior manner) Khung lý thuyết này tạo ra khả năng kết hợp một số nhân tố mà có thể làm trung gian hoặc trung hòa cho quan hệ giữa thái độ và hành vi (Dick và Basu, 1994)

2.3.3 Ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định trung thành của du khách

Theo cách tiếp cận về khía cạnh du lịch, sự hài lòng được cho rằng đó

là kết quả của sự so sánh giữa sự mong đợi và trải nghiệm thực tế (Trường & Foster, 2006, tr.842) Khi trải nghiệm thực tế được so sánh với sự mong đọi

mà du khách cảm thấy thích thú thì họ đã hài lòng (Reisinger & Turner, 2003, tr.211) và sau khi kết thúc kì nghỉ, nó vẫn để lại cho họ những kỉ niệm đẹp Đây là lí do để giải thích tại sao ngành du lịch đã quyết định làm nổi bật điểm đến du lịch để gia tăng sự hài lòng của du khách

Theo cách tiếp cận của Weber (1996), sự hài lòng của khách hàng như

là yếu tố cơ bản của lý thuyết marketing và có ảnh hưởng quan trọng đến ý định mua hàng trong tương lai của khách, thông qua các kênh phân phối hay truyền miệng (WOM)

Để cấu thành tài nguyên du lịch bao gồm rất nhiều nhân tố của tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Trong phạm vi cho phép của đề tài, dựa vào thực tế nguồn tài nguyên du lịch tại thành phố Nha Trang, tác gỉa đã chọn ra 5 nhân tố tiêu biểu nhất, đại diện cho tài nguyên du lịch Nha Trang đề tiến hành nghiên cứu Đó là: địa hình; khí hậu; tài nguyên biển, di tích lịch sử, kiến trúc và lề hội, phong tục tập quán Các yếu tố này có thể cấu tạo nên một nguồn tài nguyên du lịch địa phương hấp dẫn và sức ảnh

Trang 40

hưởng của các yếu tố tài nguyên du lịch địa phương tới ý định quay trở lại của

du khách rất cao được thể hiện qua các đặc điểm sau:

-Về yếu tố địa hình: Nha Trang được thiên nhiên ưu đãi với những cảnh

quan đẹp, rừng vàng biển bạc như: bải biển dài và đẹp, có nhiều đảo lớn nhỏ khác nhau tạo nên cho thiên nhiên Nha Trang vô cùng hấp dẫn, thu hút rất nhiều du khách Thiên nhiên là những gì mà tạo hóa ban cho, không có bàn tay của con người, chính vì điều này đã làm cho nhiều du khách phải ngưỡng

mộ trước những cảnh quan thiên nhiên mà Nha Trang đang sở hữu Cảnh quan thiên nhiên đã đóng góp không nhỏ đến ý định quay trở lại của du khách, tạo nên cho Nha Trang có những nét đặc trưng riêng về cảnh quan thiên nhiên

H1: Yếu tố địa hình tác động dương đến việc quay trở lại của du khách quốc tế

-Về yếu tố khí hậu: Khí hậu thuộc về yếu tố tự nhiên, mang tính quy

luật của tự nhiên, tuy nhiên đối với Nha Trang, khí hậu đóng góp một phần hình thành nên tính đặc trưng cho thành phố Với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình không cao, có bốn mùa rõ rệt rất khác biệt so với các khu lực khác trong cùng vùng địa lý Điều này đã tác động đến ý định quay trở lại của du khách Khi được hỏi một số du khách về khí hậu thì họ trả lời rằng họ rất thích Nha Trang, đặc biệt là khí hậu Nắng ấm, gió mát, biển đẹp, những điều này làm họ rất hài lòng Đây quả thật là nới lý tưởng để về khí hậu để cho những du khách đến đây Qua đây có thể thấy rằng yếu tố khí hậu cũng đóng góp một phần không nhỏ vào tài nguyên du lịch địa phương cho Nha Trang Tạo nên một đặc trưng riêng biệt, làm cho du khách hài lòng và thực sự muốn quay trở lại

Ngày đăng: 20/03/2015, 09:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 43)
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 46)
Hình 4.1: Bản đồ hành chính thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Hình 4.1 Bản đồ hành chính thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (Trang 51)
Hình 4.2 Số lƣợng khách quốc tế đến Nha Trang - Khánh Hoà - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Hình 4.2 Số lƣợng khách quốc tế đến Nha Trang - Khánh Hoà (Trang 59)
Bảng 4.1 Bảng phân bố mẫu theo giới tính - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.1 Bảng phân bố mẫu theo giới tính (Trang 62)
Bảng 4.2 Bảng phân bố mẫu theo độ tuổi - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.2 Bảng phân bố mẫu theo độ tuổi (Trang 63)
Bảng 4.3 Bảng phân bố mẫu theo thu nhập - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.3 Bảng phân bố mẫu theo thu nhập (Trang 64)
Bảng 4.4 Bảng phân bố mẫu theo số lần đến Nha Trang của du khách - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.4 Bảng phân bố mẫu theo số lần đến Nha Trang của du khách (Trang 65)
Bảng 4.8 Bảng phương sai trích khi phân tích nhân tố độc lập - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.8 Bảng phương sai trích khi phân tích nhân tố độc lập (Trang 72)
Bảng 4.9 Bảng phân tích nhân tố độc lập tương ứng với các biến quan sát - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.9 Bảng phân tích nhân tố độc lập tương ứng với các biến quan sát (Trang 73)
Hình 4.3 Mô hình nghiên cứu điều chinh - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Hình 4.3 Mô hình nghiên cứu điều chinh (Trang 77)
Bảng 4.13 ANOVA b - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.13 ANOVA b (Trang 79)
Bảng 4.12 cũng chỉ ra giá trị Durbin – Watson = 2,071 vì hệ số Durbin –  Watson nằm trong khoảng từ 1 đến 3 nên không có hiện tượng tự tương quan - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.12 cũng chỉ ra giá trị Durbin – Watson = 2,071 vì hệ số Durbin – Watson nằm trong khoảng từ 1 đến 3 nên không có hiện tượng tự tương quan (Trang 80)
Hình 4.4 Sơ đồ tác động của các nhân tố mới tới ý định quay lại - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Hình 4.4 Sơ đồ tác động của các nhân tố mới tới ý định quay lại (Trang 83)
Bảng 4.16 Bảng thống kê mô tả của các biến quan sát - Nghiên cứu ảnh hưởng của tài nguyên du lịch địa phương đến ý định quay trở lại của du khách quốc tế
Bảng 4.16 Bảng thống kê mô tả của các biến quan sát (Trang 84)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w