Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích đánh giá các số liệu của báo cáo tài chính và số liệu thống kê về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ 21, khi mà xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá đã trở thành tất yếu, thì bản thân là một bộ phận của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng không thể đặt mình nằm ngoài cuộc chơi này Hội nhập và toàn cầu hóa đem đến nhiều
cơ hội thuận lợi hơn cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, phát triển nền kinh tế của mình
Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam và chủ yếu là xuất khẩu Để góp phần phát triển kinh tế đất nước, các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành đã không ngừng nỗ lực để các sản phẩm thủy sản mang thương hiệu Việt có thể có mặt trên thị trường thế giới Nhưng trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, việc chỉ tập trung xuất khẩu vào một hay một ít thị trường thường đem lại rủi ro rất lớn Kinh nghiệm này chúng ta đã có được sau một loạt các vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá basa và tôm vào thị trường Mỹ Do đó, việc phát triển thị trường xuất khẩu trở thành một vấn đề cần thiết và cấp bách Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là phủ nhận vai trò to lớn của thị trường nội địa, nhất là sau hiện tượng quay trở lại với thị trường trong nước của các doanh nghiệp thuỷ sản sau các tranh chấp thương mại với
Mỹ Cho nên, “chú trọng đến thị trường nội địa” cũng là một mặt không thể thiếu của phát triển thị trường Do vậy, nghiên cứu thực trạng tình hình thị trường tiêu thụ để xuất một số biện pháp phát triển thị trường cho doanh nghiệp chế biến thuỷ sản là thực
nhuận Vì những lý do trên em quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp nhằm phát
triển thị trường tiêu thụ tại công ty TNHH Long Shin”
Trang 2Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động của công ty, không chỉ giúp em hệ thống lại các kiến thức đã học mà còn tập vận dụng kiến thức đã học vào thực tế của công ty, củng cố, nâng cao kiến thức đã học Ngoài ra, phân tích đánh giá tình hình thị trường tiêu thụ của công ty, trên cơ sở đó đưa ra các biện phát nhằm phát triển thị trường của công ty
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích đánh giá các số liệu của báo cáo tài chính và số liệu thống kê về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, đặc biệt là số liệu về doanh thu tiêu thụ sản phẩm theo thị trường, bao gồm cả xuất khẩu và nội địa của công ty TNHH Long Shin trong ba năm 2003, 2004 và 2005
Phương pháp nghiên cứu
Em đã sử dụng các phương pháp sau đây để phân tích số liệu, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty : phương pháp so sánh (so sánh số tuyệt đối và so sánh số tương đối, phương pháp phân tích theo thời gian
Nội dung nghiên cứu
Nội dung của đồ án được trình bày qua 3 phần sau đây : Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Phân tích thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Long Shin trong thời gian qua
Chương 3:Một số biện pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty
Đóng góp
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn hoạt động sản xuất của công ty TNHH Long Shin, em mong muốn đề xuất những biện pháp phù hợp với doanh nghiệp, có thể giúp công ty phát triển được thị trường tiêu thụ trong thời gian tới
Đồ án này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của thầy Hoàng Văn Huy cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, chị cán bộ công ty TNHH Long Shin
Do kiến thức còn hạn hẹp, đồ án này không khỏi có những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các anh, chị trong công ty để đồ án này được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !
Nha Trang, tháng 11 năm 2006
Sinh viên thực hiện Nguyễn Diệu Linh
Trang 3CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG
Khái niệm chung về thị trường Thị trường là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa, sự hình thành và phát triển của thị trường gắn liền với sự hình thành, phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa
Nói một cách nôm na thì thị trường là một “cái chợ” còn nói một cách khoa học thì thị trường có nhiều định nghĩa khác nhau Dưới nhiều góc độ nghiên cứu tiếp cận theo nhiều mục đích, lĩnh vực khác nhau khi nghiên cứu thị trường, các nhà kinh tế học có những định nghĩa khác nhau về thị trường :
Hội quản trị Hoa Kỳ cho rằng “thị trường là sự tổng hợp các lực lượng và các điều kiện, trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hóa và dịch vụ từ người bán sang người mua”
Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng “thị trường là tổng số nhu cầu về một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền tệ trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.”
Theo Các Mác, “thị trường là nơi thực hiện giá trị hàng hoá, thị trường không còn
bị giới hạn về không gian, thời gian và địa điểm cụ thể, nói cách khác thị trường là tổng hòa của các mối quan hệ về cung cầu hàng hoá”
Điều quan trọng là ta hiểu được thực chất của thị trường không phải đơn thuần chỉ
là lĩnh vực trao đổi, di chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất sang người tiêu dùng mà là trao đổi được tổ chức theo các quy luật lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ Tóm lại, ta có thể hiểu thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hóa, giá cả dịch vụ và sản lượng theo các quy luật của thị trường
Vai trò của thị trường Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất, kinh doanh hàng hóa, và quản lý kinh tế ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô
Đối với sản xuất hàng hoá : Thị trường là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng,
là mục tiêu của sản xuất hàng hoá Thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa – khâu lưu thông – là nơi kiểm tra các chi phí sản xuất và lưu thông
có được xã hội chấp nhận hay không ?
Trang 4Đối với kinh doanh : thị trường là một bộ phận của môi trường kinh doanh Nó giúp các doanh nghiệp nhận biết được nhu cầu xã hội, tiếp cận để thích ứng với nhu cầu và để thẩm định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với quản lý kinh tế vĩ mô : thị trường là căn cứ để nhà nước hoạch định các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô hoạt động của nền kinh tế và điều tiết vĩ mô đối với các doanh nghiệp thông qua môi trường kinh doanh
Vậy thông qua thị trường, người mua và người bán đều có một mục đích duy nhất
là đi đến giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau :
- Những hàng hoá và dịch vụ nào cần được sản xuất ?
- Những hàng hoá và dịch vụ đó được sản xuất cho ai?
- Khối lượng hàng hóa và dịch vụ cần được sản xuất và sản xuất bằng cách nào ? Chức năng của thị trường
Chức năng thừa nhận Bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào làm ra mà không phải để tiêu dùng mà là để bán thì được xem là hàng hoá Hàng hoá bán được thông qua chức năng thừa nhận của thị trường Khi hàng hóa không bán được tức là hàng hoá không được thị trường thừa nhận Muốn được thị trường thừa nhận thì hàng hóa đó phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng về chủng loại, số lượng, chất lượng, mẫu mã, giá cả và nghệ thuật bán hàng Chức năng thực hiện
Mọi hoạt động mua bán đều diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định Thông qua thị trường, nơi diễn ra cạnh tranh trong các hoạt động mua bán, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được thực hiện, từ đó, mối quan hệ lợi ích kinh tế của người bán và người mua cũng được thực hiện Đó chính là điều kiện cần thiết đảm bảo quá trình tái sản xuất hàng hóa diễn ra bình thường
Chức năng thực hiện của thị trường được diễn ra một cách khách quan dưới tác động của quy luật giá trị và quy luật cung cầu Từ đó, nó đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả Xét về tổng thể, sự thực hiện đó của thị trường là sự thực hiện tổng khối lượng hàng hoá cung ứng ra thị trường trong một thời gian với một
cơ cấu và quan hệ cung cầu thích hợp Thông qua việc thực hiện mà thị trường cân bằng cung cầu hàng hóa, hình thành nên giá trị trao đổi của hàng hóa, làm cơ sở cho sự phân bố các nguồn lực
Trang 5Chức năng điều tiết và kích thích Thị trường có quy luật và cơ chế vận hành của nó Chính nhờ các quy luật và cơ chế này mà thị trường thực hiện được chức năng điều tiết và kích thích Thông qua cạnh tranh giữa các ngành, thị trường điều tiết di chuyển vốn từ ngành sinh lời thấp sang ngành sinh lợi nhiều, nhờ đó một số loại sản phẩm được tăng lên về số lượng, trong khi một số sản phẩm khác lại giảm số lượng sản xuất Sự vận động này phần tạo
ra sự cân bằng cung cầu hàng hóa và dịch vụ Thông qua cạnh tranh trong nội bộ ngành, thị trường kích thích các doanh nghiệp lợi dụng lợi thế và thời có, đồng thời phải tính toán kĩ chi phí sản xuất và lưu thông để có thể thu được lợi nhuận siêu ngạch Chức năng thông tin
Chức năng này tức là thị trường cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng Thị trường chỉ rõ những biến động về nhu cầu xã hội, số lượng, giá cả, cơ cấu và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hóa dịch vụ Đó là những thông tin cực kỳ quan trọng đối với người sản xuất hàng hóa, giúp họ điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với quan hệ cung cầu, thay đổi quy cách, mẫu mã cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu, sản xuất hàng hóa theo “mốt” mà nhu cầu của người tiêu dùng đòi hỏi Những thông tin này là căn cứ quan trọng giúp các doanh nghiệp đưa ra các quyết định về chiến lược kinh doanh để có hiệu quả cao, tối đa hoá lợi nhuận; đồng thời còn là động lực thúc đẩy áp dụng tiến bộ kĩ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, đổi mới mặt hàng, cải tiến lưu thông và thực hiện văn minh thương nghiệp
Phân loại thị trường
Thị trường là một lĩnh vực huyền bí đối với các nhà kinh doanh, nhưng không phải hoàn toàn không thể nhận biết được Muốn nhận biết thị trường, có nhiều việc phải làm, trong đó có phân loại thị trường Nhờ việc phân loại thị trường đúng đắn, doanh nghiệp nhận biết được những đặc điểm chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh doanh của mình để từ đó định ra chiến lược thị trường phù hợp, tăng cường thế lực của mình trên thị trường, giành ưu thế trong cạnh tranh Việc phân chia thị trường cũng có thể dựa trên các tiêu thức khác nhau, mỗi tiêu thức cho ta một cách phân loại Tổng hợp cấc cách phân loại sẽ cho phép nhận biết thị trường một cách toàn diện và sâu sắc Dưới đây trình bày sáu cách phân loại chủ yếu :
Trang 6+ Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các quốc gia
- Thị trường trong nước
- Thị trường thế giới
+ Căn cứ vào vai trò của từng khu vực thị trường trong hệ thống thị trường
- Thị trường chính
- Thị trường nhánh
+ Căn cứ vào mức độ cạnh tranh
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo gồm : thị trường độc quyền đơn phương
và thị trường độc quyền đa phương
- Thị trường cạnh tranh độc quyền
+ Căn cứ vào mối quan hệ cung – cầu và khả năng biến nhu cầu thành hiện thực
có những nhóm nhân tố khác nhau : Căn cứ vào sự tác động của các lĩnh vực thị trường Dựa theo căn cứ này, các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường được phân chia thành các nhóm : Kinh tế, chính trị – xã hội, tâm sinh lý, … Các nhân tố về kinh tế tác động trực tiếp đến cung cầu, giá cả, tiền tệ … nên nó có vai trò quyết định Các nhân tố chính trị – xã hội thể hiện qua chính sách tiêu dùng, đặc điểm dân tộc, quan hệ quốc tế,
Trang 7tình trạng chiến tranh hay hoà bình … cũng ảnh hưởng lớn đến thị trường vì nó tác động trực tiếp tới nhân tố kinh tế Các nhân tố về tâm sinh lý có ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư và do vậy nó tác động đến chủng loại và
cơ cấu hàng hoá trên thị trường
Căn cứ theo tính chất của quản lý và cấp quản lý Dựa theo các căn cứ này, các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường được chia thành hai nhóm : nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô và nhóm nhân tố thuộc quản lý vi mô Các nhân tố thuộc quản lý vĩ mô là các chủ trương, chính sách, biện pháp của Nhà nước can thiệp vào thị trường Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia và từng thời kỳ mà Nhà nước có sự can thiệp với mức độ khác nhau Song các biện pháp phổ biến được sử dụng là thuế, quỹ điều hoà giá cả, trợ giá, … và những nhân tố tạo môi trường kinh doanh như cung cấp cơ sở hạ tầng, bao gồm cơ sở hạ tầng về kinh tế, cơ
sở hạ tầng về xã hội và cơ sở hạ tầng về chính trị Những nhân tố thuộc quản lý vi mô
là chiến lược, sách lược, biện pháp của các doanh nghiệp nhằm tiếp cận và thích ứng với thị trường như chính sách sản phẩm, chính sách phân phối, chính sách giá cả và kỹ thuật yểm trợ bán hàng, bí quyết cạnh tranh …
Phương pháp nghiên cứu thị trường Nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu thị trường trong kinh doanh xuất nhập khẩu Nghiên cứu thị trường là công việc có ý nghĩa rất quan trọng quyết định sự tồn tại
và phát triển của bất kì một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Vì thế công tác nghiên cứu thị trường phải được tiến hành thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nghiên cứu thị trường là hoạt động phức tạp bao gồm các hoạt động chủ yếu sau : + Nghiên cứu đặc điểm của thị trường
Thị trường được biểu hiện bằng các hoạt động mua bán trao đổi cùng với các quan hệ do chúng sinh ra Thị trường thực hiện trao đổi hàng hóa, thực hiện tổng cung
và cầu … Nghiên cứu về đặc điểm của thị trường là nghiên cứu tính quy luật của việc hình thành nhu cầu trên thị trường, nghiên cứu về cơ cấu của cung cầu, về thị hiếu và tập quán tiêu dùng của thị trường đó, … Có những thị trường được xem là “dễ tính” nhưng cũng có nhưng thị trường thuộc loại “khó tính” Tất cả các điều này đòi hỏi các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu muốn xâm nhập vào thị trường phải tìm hiểu, nắm bắt
Trang 8được thông tin về thị trường đó Mặt khác mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều có những luật lệ riêng của nó; thị trường cũng vậy Nghiên cứu những luật lệ, những quy tắc của thị trường, tập quán của thị trường để có biện pháp thâm nhập vào thị trường, thích ứng với thị trường đó
Trong quá trình tái sản xuất hàng hóa, thị trường nằm trong khâu lưu thông Thị trường là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hóa Nó chính là nơi hình thành và xử lý các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp với nhà nước và cả với nền kinh tế quốc dân
Trong quản lý nền kinh tế quốc dân, thị trường vừa là đối tượng, vừa là căn cứ của kế hoạch hóa Nó là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nên kinh tế của nhà nước Thị trường là nơi mà thông qua đó nhà nước tác động vào quá trình kinh doanh của các đơn vị cơ sở Vì vậy, để quản lý thị trường, nhà nước có các biện pháp, chính sách quản lý chặt chẽ đặc biệt đối với thị trường xuất nhập khẩu, chẳng hạn như chính sách về thuế, các công cụ hành chính, các điều ước, hiệp định mậu dịch, các doanh nghiệp phải tìm hiểu nắm bắt được đặc điểm của thị trường để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu quả
Nghiên cứu đặc điểm của thị trường là khâu quan trọng trong công tác nghiên cứu thị trường, là cơ sở để các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu xác định chiến lược Marketing phù hợp với thị trường họ muốn xâm nhập
+ Nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng Trong bước này nhà kinh doanh cần nghiên cứu các khía cạnh sau :
- Về quy mô của thị trường : ở đây các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần nghiên cứu xem quy mô của thị trường lớn hay nhỏ, có các đối thủ cạnh tranh nào, … để từ đó có thể xác định được hướng kinh doanh của mình, giúp tạo vị thế cho doanh nghiệp trên thị trường
Bên cạnh đó cần phải nghiên cứu dung lượng của thị trường, tức là nghiên cứu về khối lượng hàng hóa được giao dịch trên thị trường trong thời gian nhất định Vấn đề khá quan trọng trong giai đoạn này là thu được lợi nhuận tối đa Để xác định được khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhà kinh doanh phải nắm vững nguồn hàng xuất khẩu, hiệp định ký kết, hạn ngạch được cấp, dự toán chi phí trong quá trình kinh doanh xuất khẩu
Trang 9Ngoài ra khi nghiên cứu nhà kinh doanh còn phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của dung lượng thị trường, đánh giá đúng ảnh hưởng của chúng, xác định nhân tố nào là có ý nghĩa quyết định xu hướng phát triển của thị trường trong giai đoạn hiện tại và tương lai
- Về sản phẩm : các doanh nghiệp phải nghiên cứu về những yêu cầu của thị trường đối với hàng hóa như quy cách, phẩm chất, bao bì, … Để chủ động trong việc mua bán còn cần phải nắm vững tình hình sản xuất của mặt hàng như thời vụ, khả năng cung cấp nguyên liệu, tay nghề lao động, …
Khi nghiên cứu về sản phẩm, không thể không quan tâm đến vấn đề chất lượng
và chủng loại sản phẩm Đây là yếu tố giúp cho các doanh nghiệp có được vị thế vững chắc trên thị trường, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Nghiên cứu khía cạnh này, doanh nghiệp xuất nhập khẩu nắm được những thông tin cần thiết để đưa ra các chính sách phù hợp như chính sách nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng từ đó có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường, đáp ứng thị hiếu khách hàng Kết thúc bước này nhà kinh doanh phải xác định được mặt hàng dự định kinh doanh là mặt hàng gì ? Quy cách phẩm chất như thế nào ? Chủng loại ra sao ?
- Về giá cả : khi xây dựng chiến lược chung marketing, các doanh nghiệp phải tính toán được khả năng sinh lời của từng mặt hàng, của từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm Mặt khác còn tính toán đến các giải pháp kinh doanh, hiệu quả nhất khi xây dựng giá cả từng mặt hàng
Nghiên cứu tìm hiểu thị trường có thể chấp nhận mức giá thấp hay cao, từ đó định hướng được phương thức sản xuất sản phẩm sao cho giá thành của chúng là phù hợp, vừa có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, vừa được khách hàng chấp nhận Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì việc đánh giá của doanh nghiệp cũng phải tuân theo nguyên tắc bất di bất dịch, đó là : Giá bán = giá vốn + tiền lãi
Nghiên cứu về giá cả sản phẩm tức là các doanh nghiệp kinh doanh phải nghiên cứu về động thái giá cả, các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả, từ đó sử dụng các công cụ, các phương pháp kiểm tra, tính giá một cách hợp lý
- Về phân phối : Nghiên cứu các yếu tố trên rất cần thiết trong việc chiếm lĩnh
và mở rộng thị trường của doanh nghiệp, nhưng chúng ta chỉ đáp ứng được các đòi hỏi, những chuẩn mực mà thị trường đặt ra khi có một mạng lưới phân phối tiêu dùng hợp lý vì chỉ có mạng lưới phân phối sản phẩm thích hợp mới
Trang 10thỏa mãn được người tiêu dùng Người tiêu dùng có nhiều cách mua hàng khác nhau, có thể mua trực tiếp từ nhà sản xuất cũng có thể mua gián tiếp thông qua các trung gian phân phối như các nhà bán sỉ, các nhà bán lẻ … Như vậy trong hoạt động xuất nhập khẩu, việc nghiên cứu hình thành hệ thống phân phối sản phẩm thích hợp với từng thị trường và để từ đó doanh nghiệp
có thể xâm nhập và mở rộng thị trường là cần thiết
+ Nghiên cứu xu hướng vận động của thị trường
Ở bước này gồm nhiều hoạt động nhằm vạch ra các xu hướng phát triển mang tính quy luật của các hiện tượng kinh tế diễn ra trên các thị trường Tuy nhiên, mục tiêu hàng đầu cần phải nghiên cứu đó là nghiên cứu khối lượng hàng hóa sẽ tiêu thụ và giá cả hàng hóa trên thị trường trong tương lai Nghiên cứu xu hướng vận động của thị trường có thể nghiên cứu ngắn hạn (một vài tuần), nghiên cứu trung hạn (vài tháng đến
1 năm) và cũng có thể nghiên cứu dài hạn Ở mỗi loại, độ chính xác và yêu cầu nội dung nghiên cứu cũng khác nhau
Những bước đã nêu trên là cơ sở đảm bảo nhiệm vụ cung cấp thông tin cho quá trình nghiên cứu xu hướng vận động của thị trường Bước nghiên cứu sau sử dụng toàn
bộ hoạt động nghiên cứu thị trường, là cơ sở để xây dựng các bước nghiên cứu tiếp theo, là cơ sở để xây dựng chính sách marketing hợp lý
+ Lựa chọn thị trường mục tiêu Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp là thị trường trọng tâm và có triển vọng nhất trong các thị trường mà các doanh nghiệp muốn xâm nhập và mở rộng
Khi đã xác định được thị trường mục tiêu tức là thị trường mà sảm phẩm của công
ty có khả năng đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường đó, tiến hành phát triển các ưu thế của mặt hàng đó trên thị trường Lựa chọn thị trường mục tiêu để doanh nghiệp có thể phát huy được thế mạnh của mình, phát triển được chiến lược vị trí sản phẩm nhằm cho khách hàng phân biệt được sự khác biệt của công ty với các đối thủ cạnh tranh Trên đây là một số công việc cơ bản của nghiên cứu thị trường mà bất cứ một doanh nghiệp nào muốn xâm nhập và mở rộng thị trường cũng phải tiến hành
Phương pháp nghiên cứu thị trường Nội dung của công tác nghiên cứu quyết định phương pháp nghiên cứu thị trường Quá trình nghiên cứu thị trường bao gồm một số công việc nhất định như : xác định nhu cầu thông tin, thu thập và xử lý thông tin, ra quyết định Tuỳ theo từng giai đoạn
Trang 11mà người ta sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau Quan trọng nhất là lựa chọn các phương pháp để thu thập và xử lý thông tin
+ Thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu Đây là phương pháp nghiên cứu thông dụng nhất, phương pháp này ít tốn chi phí nhưng độ tin cậy không cao, nó được dùng khi nghiên cứu khái quát thị trường Có hai nguồn thông tin chủ yếu đó là : nguồn thông tin bên trong và nguồn thông tin bên ngoài của công ty
Nguồn thứ nhất được cung cấp từ những báo cáo của công ty về tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính, … hoặc báo cáo của các chi nhánh đại lý cho công ty hoặc những thông tin do nhân viên của công ty thu thập được trong chuyến đi công tác Đặc biệt là những phân tích của Phòng Tài vụ, Phòng Kỹ thuật, Phòng Kinh doanh cũng như những trao đổi của công ty với người cung cấp và khách hàng
Nguồn thứ hai được cung cấp từ những sách báo thương mại, các bản tin kinh tế hàng ngày, các tạp chí …
Phương pháp nghiên cứu tài liệu sử dụng số liệu thống kê như là những thông tin quan trọng nhất Đó là những số liệu thống kê về sản xuất, tiêu thụ, xuất nhập khẩu … nhờ những số liệu này mà công ty có thể đánh giá khái quát tình hình phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế nói riêng cũng như có cái nhìn bao quát về thị trường và xu hướng phát triển của nó
- Phương pháp nghiên cứu thị trường Phương pháp này đòi hỏi chi phí khá cao và có tính phức tạp Do đó, người ta sử dụng phương pháp này sau khi đã có kết quả của phương pháp nghiên cứu tài liệu Nội dung chủ yếu của phương pháp này là tiến hành điều tra đặc biệt về người tiêu dùng Trong một ít trường hợp, khi số lượng người tiêu dùng không lớn, người ta có thể tiến hành điều tra với tất cả các cá nhân, đó chính là điều tra toàn bộ Nhưng thường xuyên nhất vì người tiêu dùng quá nhiều nên người ta sử dụng phương pháp điều tra bằng thăm dò
Lý thuyết thăm dò đánh giá người tiêu dùng bằng việc quan sát và nghiên cứu bộ phận mẫu người tiêu dùng Độ chính xác của những đánh giá này tuỳ thuộc phần lớn vào số mẫu hay quy mô tổng thể mẫu
Trang 12Để hình thành nên bộ phận mẫu mang tính chất đại diện chung của người tiêu dùng phải xác định tổng thể chung của người tiêu dùng mà công ty quan tâm, sau đó tiến hành chọn mẫu theo các phương pháp chọn mẫu khác nhau :
· Chọn ngẫu nhiên hai xác xuất : là phương pháp chọn mẫu trong tổng thể chung một cách hết sức ngẫu nhiên thông qua một sự sắp xếp nào trước, phương pháp này gồm hai giai đoạn :
+ Lập danh sách toàn bộ người tiêu dùng của công ty
+ Rút thăm, quay số hoặc theo bảng số ngẫu nhiên chọn một số người trong đó hình thành nên bộ phận mẫu
Phương pháp này đòi hỏi nhiều chi tiết nên ít sử dụng
· Chọn máy móc hay chọn theo hành trình : là phương pháp tổ chức chọn mẫu trong
đó mỗi đơn vị được chọn căn cứ vào những khoảng cách nhất định Nó được kết hợp với phương pháp ngẫu nhiên để chọn kiểm tra trên hành trình đó
Phương pháp này có nhiều khó khăn nên thực tế ít dùng
+ Xử lý thông tin
Xử lý thông tin là giai đoạn quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường Mục đích của nó là trên cơ sở những thông tin đã thu nhận về tình hình của thị trường, công ty cần xác định cho mình những thị trường mục tiêu chuẩn bị cho việc xác lập các chính sách về marketing thích ứng trên thị trường đó
Nội dung chủ yếu của việc xử lý thông tin là :
- Xác định thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm của công ty
- Lựa chọn thị trường mục tiêu mà công ty có khả năng xâm nhập và phát triển việc tiêu thụ sản phẩm của mình
Tương ứng với hai nội dung mà người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng thông thường nhất là :
+ Lập mô hình giải thích thái độ chung
Trang 13mà thường xuyên ảnh hưởng đến và làm thay đổi thái độ của người tiêu dùng theo chiều hướng có lợi nhất cho công ty Do đó, công ty cần biết rõ biết rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng
Hiện nay người ta sử dụng mô hình đa tiêu chuẩn để đánh giá thái độ và ý thức của người tiêu dùng đối với một loại sản phẩm do nhiều công ty sản xuất và cung ứng ra thị trường (đánh giá những nhãn hiệu khác nhau)
Nội dung của mô hình đa tiêu chuẩn là :
· Trong những nhãn hiều của một loại sản phẩm nhất định, ý thích của người tiêu dùng là kết quả của việc so sánh các nhãn hiệu đo theo những tiêu chuẩn khác nhau mà người ta cho là quan trọng (các tiêu chuẩn này thay đổi theo loại sản phẩm )
· Đối với mỗi loại tiêu chuẩn của từng nhãn hiệu, người tiêu dùng sẽ đánh giá chúng bằng cách cho điểm (những đánh giá này thu được từ các cuộc điều tra phỏng vấn)
· Rút ra nhận xét về trình tự nhãn hiệu mà người tiêu dùng thích mua, thích sử dụng Để làm được điều đó có thể sử dụng các phương pháp sắp xếp mô hình đa tiêu chuẩn khác nhau :
P1 : Sắp xếp theo tổng số điểm bằng cách cộng đơn giản : theo cách này người tiêu dùng tính tổng số điểm của các tiêu thức, nhãn hiệu mà người tiêu dùng thích là nhãn hiệu có số điểm cao nhất
P2 : Sắp xếp theo tổng số điểm bằng cách cộng các hệ số cân bằng các điểm chuẩn khác nhau Khác với cách cộng trên, tổng số điểm của các tiêu thức là tổng số điểm được cân bằng nhờ hiệu số biểu thị tầm quan trọng của từng tiêu thức Tất nhiên hệ
số này thay đổi theo từng loại sản phẩm, tuỳ đối tượng khách hàng
Ngoài hai cách sắp xếp thứ tự cơ bản trên, người ta còn sử dụng các mô hình như :
mô hình thải loại, mô hình từng loại hay mô hình hỗn hợp
Khi sử dụng các mô hình giải thích chung, ta cần chú ý những vấn đề sau :
- Không tồn tại một mô hình giải thích chung, nghĩa là đối với mỗi tập tính của người tiêu dùng cần phải sử dụng một mô hình giải thích riêng biệt
- Các mô hình giải thích có thể có mức độ chính xác khác nhau
- Các mô hình này không bao giờ chính xác tuyệt đối mà chỉ tương đối
Trang 14** Lập bảng so sánh thị trường :
Để lựa chọn thị trường mục tiêu, người ta thường sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhưng thông thường nhất là lập bảng so sánh Phương pháp này bao gồm hai bước :
+ Giới hạn điều tra : giới hạn thị trường điều tra nhằm thực hiện sự nghiên cứu tập trung, tránh tràn lan, lãng phí thời gian, tiền của mà không đạt được kết quả mong muốn Để giới hạn thị trường điều tra, có thể dựa vào những căn cứ chủ yếu như :
- Khả năng sản xuất và cung ứng tại chỗ những sản phẩm cùng loại với công ty
- Đặc điểm về tiêu dùng những sản phẩm của công ty (tập quán tiêu dùng, đặc điểm văn hoá xã hội của vùng đó… )
+ So sánh các thị trường : mục đích của bước này là trên cơ sở giới hạn một số thị trường để xác đinh thị trường có triển vọng nhất Thông thường người ta lập bảng
so sánh các thị trường theo những tiêu thức quan trọng như vị trí của thị trường, triển vọng tăng thu nhập, khả năng xúc tiến bán hàng, điều kiện cạnh tranh, cơ hội tiêu thụ nhiều hay ít
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG Quan điểm về phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
Tuỳ thuộc vào các yếu tố của môi trường vĩ mô, môi trường vi mô, và nội lực cũng như mục tiêu, định hướng phát triển của mình mà công ty có thể lựa chọn phát triển thị trường theo các hướng sau :
+ Phát triển thị trường theo chiều rộng
+ Phát triển thị trường theo chiều sâu
+ Phát triển thị trường theo mặt hàng
Phát triển theo chiều rộng Công ty phát triển theo chiều rộng là xu hướng công ty nỗ lực mở rộng phạm vi thị trường, tăng thị phần, tăng doanh số và khách hàng ở thị trường mới
Thị trường Sản phẩm Mới hiện tại Các doanh nghiệp có thể phát triển thị trường bằng cách đưa các sản phẩm hiện có của mình vào thị trường mới Như vậy đồng nghĩa với việc công ty công ty sẽ thâm nhập vào thị trường mới, cạnh tranh với những đối thủ hiện tại trên thị trường đó (nếu có), đáp ứng nhu cầu cho những khách hàng những sản phẩm có cùng tính năng, công dụng như những sản phẩm họ đã được đáp ứng trước đó Muốn vậy, công ty cần nỗ
Trang 15lực bắt tay vào nghiên cứu thị trường, nghiên cứu về các tầng lớp trong xã hội, nghiên cứu thị hiếu, xu hướng tiêu dùng sản phẩm trong tương lai … để xác định có thể kích thích những nhóm khách hàng nào sẽ chuyển sang dùng sản phẩm của mình Công ty cần có kế hoạch, chiến lược cụ thể, lựa chọn phương pháp marketing phù hợp để có những bước đi hợp lý, để tạo ra được sự khác biệt và thu hút của sản phẩm do mình sản xuất với những sản phẩm khác để giành được thành công trên thị trường
Xét về mặt địa lý, những thị trường này thường là những địa bàn mới được công ty đưa những sản phẩm hiện tại vào để bán Do đó, nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng ở đây phải có nét tương đồng nhất định với những người tiêu dùng cũ trên địa bàn cũ, nếu không sản phẩm của công ty sẽ không thể tiêu thụ được
Công ty áp dụng phương thức này trong điều kiện tiềm lực của công ty đủ mạnh để vừa có thể duy trì thị trường cũ, phát triển thị trường mới hoặc doanh số trên thị trường
cũ đã giảm do khả năng cạnh tranh của công ty giảm và công ty tìm kiếm sự bù đắp doanh số ở thị trường mới
Phát triển theo chiều sâu Phát triển thị trường theo chiều sâu có nghĩa là công ty tìm kiếm sự tăng trưởng bằng cách tăng doanh số và khách hàng trên thị trường hiện tại
Thị trường Sản phẩm hiện tại hiện tại Phát triển thị trường theo chiều sâu nói cách khác tức là công ty sẽ tiếp tục kinh doanh bằng những thứ hàng hóa hiện có (không thay đổi gì bản thân hàng hóa) trên thị trường cũ Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt, đối thủ cạnh tranh thì nhiều mà tốc độ tăng nhu cầu thị trường trên thị trường không lớn nên tìm cách tăng tăng doanh số mà không nỗ lực thay đổi hàng hóa là một vấn đề khó khăn Để có thể phát triển thị trường theo chiều sâu thì sản phẩm của công
ty phải là sản phẩm có uy tín, có chất lượng hay ít ra là chưa có ai có thể đáp ứng sản phẩm đó cho người tiêu dùng trên thị trường
Doanh nghiệp có thể tăng doanh số trên thị trưòng hiện tại bằng cách thực hiện một trong các điều kiện sau :
+ Tăng sức mua sản phẩm : Sức mua của khách hàng là hàm số biểu thị mối liên hệ giữa tần suất mua hàng và khối lượng hàng mua được Vì vậy, doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp xúc tiến bán hàng như quảng cáo, khuyến mãi, tham gia hội chợ, triển lãm, dịch vụ sau bán … để thuyết phục khách hàng mới trước đây chưa sử dụng
Trang 16sản phẩm của doanh nghiệp nay bắt đầu sử dụng, hay khách hàng cũ sử dụng sản phẩm thường xuyên hơn hoặc tăng số lượng sản phẩm cho mỗi lần sử dụng nhằm đạt hiệu quả tăng doanh số
+ Lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh : vẫn là chú trọng đến các biện pháp Marketing để tăng doanh số từ việc khách hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng sản phẩm của công ty
+ Mua lại đối thủ cạnh tranh : việc mua lại đối thủ cạnh tranh trực tiếp của công ty trên thị trường đồng nghĩa với việc công ty gia tăng thêm doanh số nhờ vào số khách hàng trước đây vốn thuộc đối thủ cạnh tranh
Công ty áp dụng phương thức này trong điều kiện tiềm năng của thị trường còn lớn, nhu cầu vẫn đang phát triển trong khi năng lực của sản công ty có thể gia tăng để đáp ứng được yêu cầu sản xuất, hay năng lực tài chính của công đủ mạnh để mua đứt đối thủ cạnh tranh hoặc có thể áp dụng các biện pháp marketing dài hơi để lôi kéo khách hàng chuyển hẳn sang sử dụng sản phẩm của mình
Phát triển theo mặt hàng Phát triển thị trường theo mặt hàng là công ty tìm cách gia tăng doanh số bán hàng thông qua việc phát triển sản phẩm mới cho những thị trường hiện có Quan niệm này
có thể nhằm vào một số sản phẩm riêng biệt hay toàn bộ các sản phẩm của doanh nghiệp
Thị trường Sản phẩm hiện tại hiện tại và mới Sản phẩm ở đây có thể là những những sản phẩm cải tiến về tính năng, chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, bao bì … của sản phẩm hay tạo ra các sản phẩm mới hoàn toàn để đưa ra thị trường nhằm đáp ứng nhiều loại nhu cầu của khác hàng ở nhiều độ tuổi khác nhau, nhiều mức thu nhập khác nhau, … Công ty sẽ có nhiều lợi thế khi tung ra những sản phẩm đáp ứng các nhu cầu mới của nhóm khách hàng hiện tại vì họ đã quen tiêu dùng sản phẩm của công ty, dễ chấp nhận và ủng hộ công ty, nhưng tạo các sản phẩm mới hoàn toàn không hề là điều dơn giản đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Đối với các doanh nghiệp này, những phương án cải tiến dựa trên cơ cấu mặt hàng để
bổ sung các mặt hàng mới hoặc cải tiến trên cơ sở mô phỏng các sản phẩm hiện có trên thị trường có tính khả thi lớn hơn
Việc phát triển thị trường theo hướng nào thì cũng nhằm mục đích cuối cùng là tăng sản lượng tiêu thụ, tăng doanh số, và tăng lợi nhuận Tuy nhiên, lựa chọn hình
Trang 17thức phát triển thị trường như thế nào là tuỳ thuộc vào môi trường công ty kinh doanh
và nội lực thật sự của công ty
Các chỉ tiêu đánh giá việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm Sản lượng và doanh thu của hàng hóa
Sản lượng là số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ trong một khoảng thời gian nhất định còn doanh thu là số tiền thu được qua việc bán hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định của hoạt động sản xuất kinh doanh
Doanh thu được tính theo công thức :
TR = P x Q Trong đó : TR : doanh thu
P : giá bán bình quân cho một đơn vị sản phẩm
Q : số lượng sản phẩm được bán ra trong một đơn vị thời gian Tốc độ tăng doanh thu và sản lượng
Ở đây đề cập đến ảnh hưởng của sản lượng và giá bán bình quân lên doanh thu Doanh thu không những nói lên kết quả của việc mở rộng thị trường mà còn phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc phân tích này có thể đánh giá phần nào về hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ của mỗi loại sản phẩm cho từng thị trường khác nhau nhưng có nhược điểm là không so sánh được với đối
thủ cạnh tranh
Số lượng và tỉ lệ phát triển số lượng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Số lượng và tỉ lệ phát triển số lượng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiêp nói lên sự phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm theo khu vực địa lý Chỉ tiêu này càng lớn tức là thể hiện doanh nghiệp đang đẩy mạnh công tác mở rộng thị trường thị trường sản phẩm của mình
Sản phẩm mới
Là một trong những hướng phát triển thị trường của doanh nghiệp, sản phẩm mới ngày càng nhiều và được thị trường chấp nhận là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp phát triển thị trường tiêu thụ của mình
Thị phần hay phân suất thị phần Thị phần là tỉ lệ giữa kết quả hoạt động của doanh nghiệp trên thị trường chia cho tổng nhu cầu trên thị trường thực tế Thị phần của một doanh nghiệp là chỉ tiêu nói lên
Trang 18sự cống hiến của doanh nghiệp với tất cả các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Thị phần của doanh nghiệp có thể được tính bằng cách :
- Theo sản lượng : Tq = q/Q Trong đó : Tq : Thị phần theo sản lượng hàng hóa a của doanh nghiệp
q : Sản lượng tiêu thụ hàng hóa a của doanh nghiệp
Q : Sản lượng tiêu thụ hàng hóa a của toàn thị trường
- Theo doanh thu : Tr = r/ R Trong đó : Tr : Thị phần theo doanh thu hàng hóa a của doanh nghiệp
r : Doanh thu tiêu thụ hàng hóa a của doanh nghiệp
R : Doanh thu tiêu thụ hàng hóa a của toàn thị trường
Ngoài ra, ta còn có thể tính chỉ tiêu này trên doanh thu và sản lượng của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất hoặc yếu nhất của doanh nghiệp Nếu thị phần của doanh nhiệp tăng lên chứng tỏ là doanh nghiệp đang hưởng lợi trên đối thủ cạnh tranh, còn ngược lại là doanh nghiệp đang thua thiệt so với đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, kết luận rút ra
từ việc phân tích thị trường còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh môi trường và mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn như : có sự gia nhập mới hoặc rút khỏi thị trường của đối thủ cạnh tranh hoặc sản phẩm nhập khẩu có sự thay đổi thì thị phần của doanh nghiệp sẽ thay đổi theo; đôi khi có một số doanh nghiệp dựa vào thành tích bình quân của các doanh nghiệp khác trên thị trường để phán đoán thành tích của các doanh nghiệp, rồi định ra mục tiêu cho doanh nghiệp mình; hay có một số doanh nghiệp có ý định giảm thị phần để theo đuổi một mục tiêu nào đó
Lợi nhuận Lợi nhuận được sử dụng như một chỉ tiêu gián tiếp để đánh giá việc phát triển thị trường thị trường sản phẩm Để phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp phải thường xuyên mở rộng thị phần của mình Đôi khi các doanh nghiệp phải
bỏ ra một khoảng chi phí không nhỏ Như vậy có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá hiệu quả của việc phát triển thị trường Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là phần dôi ra giữa doanh thu và chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
LN = R – C Trong đó : LN : lợi nhuận
R : doanh thu ; C : chi phí
Trang 19Lợi nhuận có mối quan hệ mật thiết với doanh thu và thị phần Khi doanh thu bắt đầu tăng lên, thị phần và lợi nhuận có thể tăng lên Nhưng khi thị phần và doanh thu tăng đến một mức nào đó thì lợi nhuận có thể giảm xuống do doanh nghiệp mua thị phần và doanh thu với chi phí khá cao, khi doanh thu lớn thì việc mua thị phần có khó khăn
Mặc dù vừa là kết quả, vừa là hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và phát triển thị trường nói riêng, nhưng lợi nhuận chỉ là một trong những mục tiêu của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp muốn phát triển thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại của doanh nghiệp thì lợi nhuận không phải là mục tiêu hàng đầu, không phải là chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá việc phát triển thị trường Chính sách phát triển thị trường
Bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương nào muốn tồn tại và phát triển cũng đều phải thực hiện việc phát triển thị trường
Phát triển thị trường là để khai thác tối đa những lợi thế có sẵn của mình phục vụ tốt cho nhu cầu của thị trường tiêu thụ nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp, đó là mục tiêu lợi nhuận, giành vị thế cạnh tranh trên thị trường và an toàn trong kinh doanh Chính vì thế phát triển thị trường là công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, mang tính chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhâp khẩu
Để tiến hành việc phát triển thị trường, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu thường
áp dụng một số chính sách như : chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến
Bốn chính sách trên cấu thành Marketing-Mix Marketing-Mix là tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu Marketing-Mix bao gồm tất cả những gì mà công ty có thể vận dụng để tác động lên nhu cầu về hàng hóa của mình Các bộ phận cấu thành nên Marketing-Mix được biểu diễn theo sơ đồ sau :
Trang 20Mục tiêu và ý nghĩa của việc phát triển thị trường Mục tiêu của việc phát triển thị trường
Mục tiêu lớn nhất của một doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh cuối cùng là lợi nhuận Muốn vậy, doanh nghiệp phải không ngừng nỗ lực tìm mọi biện pháp để phát triển thị trường Thị trường tiêu thụ sản phẩm phát triển cùng với sự tăng doanh thu của doanh nghiệp, sự giảm chi phí đầu tư bình quân trên một đơn vị sản phẩm, dẫn đến tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu Mặt khác, việc phát triển thị trường tiêu thụ cũng đồng thời làm cho uy tín của sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp được nâng cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp củng
cố thế lực cạnh tranh trên thị trường
Ý nghĩa của việc phát triển thị trường Một là, đảm bảo an toàn và phát triển cho doanh nghiệp : trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay, nhiều doanh nghiệp vấp phải các khó khăn thì mục tiêu đầu tiên của doanh nghiệp là an toàn để tồn tại rồi mới nghĩ đến lợi nhuận Có an toàn doanh nghiệp mới có thể tạo ra thế lực cạnh tranh và mới kiếm được lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phát triển thị trường để tránh được những rủi ro đáng tiếc nếu một trong các thị trường có biến động thì doanh nghiệp vẫn có doanh thu từ
những thị trường khác
Hai là, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh : Một trong những mục đích của phát triển thị trường là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và tỷ suất lợi nhuận Trên cơ sở mục tiêu này, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, trong khi nghiên cứu thị trường, nhu cầu, sở
Trang 21thích của khách hàng, các phản ứng đã và sẽ có của đối thủ cạnh tranh, sự biến động của môi trường kinh doanh, … các doanh nghiệp sẽ hoạt động có hiệu quả hơn nếu các nghiên cứu trên chính xác, doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh sản xuất sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng
Ba là, củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường : thị phần càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng có vị trí cao trong thị trường Tuỳ thuộc vào quy mô của thị phần trong quá trình phát triển thị trường của từng doanh nghiệp mà có thể có những vị thế khác nhau trên thị trường Với vị thế của doanh nghiêp trên thị trường, doanh nghiệp
có những chiến lược cạnh tranh khác nhau Thị trường tiêu thụ phát triển mạnh mẽ tạo
ra thị phần lớn, từ đó doanh nghiệp củng cố được vị thế cạnh tranh trên thị trường Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động đến cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp Thị trường có chức năng điều tiết sản xuất, trên cơ sở điều tiết đó các doanh nghiệp xác định phương hướng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình Việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, loại bỏ những tổn thất không đáng có, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng với chi phí thấp nhất
SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY
Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian gần đây Trong danh mục những mặt hàng xuất khẩu của nước ta nhiều năm qua, thủy sản luôn là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn và ngày càng tăng Nếu như năm 1985, thủy sản cả nước chỉ xuất khẩu được 90 triệu USD thì đến năm 2005, con số đó là 2.742 tỉ USD, tăng gấp 30,5 lần, đưa Việt Nam khá ổn định ở vị trí 10 nước xuất khẩu thủy sản nhiều nhất thế giới Theo số liệu thống kê của FAO, với giá trị xuất khẩu đạt 2,03 tỉ USD vào năm 2002, Việt Nam xếp thứ 7 trên thế giới sau Trung Quốc, Thái Lan, Na Uy, Hoa Kì, Canada và Đan Mạch về sản lượng thủy sản xuất khẩu
B 1.1 : Tình hình xuất khẩu của thủy sản Việt Nam từ 1990 – 2005
Đơn vị tính : triệu USD
Tổng 205 550 858,6 971 1.470 1.777 2.023 2.217 2.401 2.742
Trang 22Sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đã được xuất đi 105 thị trường khác nhau, chủ yếu là Hoa Kỳ, Nhật Bản
B 1.2 : Tình hình xuất khẩu của thủy sản Việt Nam theo thị trường
90.668 121.375 299.880 316.719 302.261 147.786 131.198
EU 106.466 93.216 101.430 106.716 84.404 127.240 243.938 Asean 44.647 66.028 58.800 64.930 79.529 73.080 165.681 Khác 154.033 161.186 220.500 334.185 363.004 503.448 512.194
Theo số liệu của tổng cục thống kê, giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2006 đạt 1,409 tỷ USD, bằng 50,32% kế hoạch năm và tăng 29,03% so với cùng kỳ năm trước Các chuyên gia trong ngành thuỷ sản nhận định trên đà này thì chỉ tiêu xuất khẩu thủy sản 2,8 tỷ USD cho cả năm 2006 sẽ không khó thực hiện Nhìn vào tình hình xuất khẩu 6 tháng đầu năm, chúng ta nhận thấy về cơ cấu thị trường đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ Giá trị xuất khẩu sản phẩm thủy sản sang các nước châu Âu tăng vọt, đạt 374 triệu USD, tăng trên 89,4% so với cùng kì năm trước, không kém bao nhiêu so với thị trường truyền thống số một là Nhật Bản và cao hơn cả thị trường Mỹ Thêm vào đó là giá trị xuất khẩu sang các nước Đông Âu cũng tăng cao so với năm ngoái : Nga đạt 60,72 triệu USD (tăng 5,34 lần), Ukraina là 6,85 triệu USD (tăng 18,52 lần),… Ngược lại với xu hướng trên, một loạt các vụ kiện bán phá giá và các quy định về khoản tiền kí quỹ xuất khẩu đã ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu vào thị trường Mỹ, khiến giá trị xuất khẩu vào thị trường này chỉ còn đạt 260,8 triệu USD, thua hẳn mức 283 triệu cùng kì năm 2004
Trang 23H 1.1 : Thị phần xuất khẩu thủy sản
Về cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu cũng cĩ những biến đổi đáng kể Mặt hàng tơm đơng lạnh tuy vẫn dẫn đầu về giá trị, đạt 561 triệu USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2005 nhưng thị phần chỉ cịn chiếm gần 40%, thấp hơn nhiều so với 50% năm
2004 và 44,4% năm 2005 Ngược lại, các mặt hàng cá đơng lạnh, (nhất là cá tra và cá basa ), mực và bạch tuộc thì tăng lên
Cơ cấu sản phẩm THỦY SẢN xuất khẩu (giá trị triệu USD)
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Tơm hùm , tơm vỗ Tơm đơng lạnh Tơm khơ
Cá khơ Mực khơ
Cá đơng lạnh Ruốc khơ
Cá Ngừ Hàng tươi sống Bạch tuộc đơng lạnh Mặt hàng khác Mực đơng lạnh
H 1.2 : Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu qua 3 năm 2003 – 2005 (giá trị triệu USD)
Về an tồn vệ sinh, hiện cĩ 209 doanh nghiệp nằm trong danh sách 1 vào thị trường
EU, 300 doanh nghiệp đủ điều kiện vào Hoa Kỳ, 295 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn vào
Trang 24Trung Quốc và 251 các doanh nghiệp chế biến đáp ứng các yêu cầu an toàn về sinh đối với thị trường Hàn Quốc
Những kết quả trên càng mang nhiều ý nghĩa hơn khi chúng ta xem xét đến những yếu tố bên ngoài tác động đến ngành thuỷ sản trong thời gian qua Sự biến động của thời tiết, nhất là tác động của những cơn bão vừa qua – bão Chan Chu, bão Xang san,… – sự tăng giá của xăng dầu và các chi phí phụ trợ, mùa thu hoạch tôm đến muộn dẫn đến tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu Bên cạnh đó là ảnh hưởng của dịch lở mồm long móng và dịch cúm gia cầm đã khiến cho nhu cầu tiêu thụ hàng thuỷ sản nội địa tăng mạnh đã đẩy giá thu mua nguyên liệu lên cao Ngoài ra, tình trạng bơm chích tạp chất và dư lượng hoá chất, kháng sinh trong sản phẩm thuỷ sản nuôi vẫn còn xảy
ra, có thể khiến cho uy tín của hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường xuất khẩu giảm đáng kể Để giải quyết những khó khăn này, nhiều ý kiến đã được đề xuất tại Hội nghị
sơ kết 6 tháng đầu năm và bàn biện pháp hoàn thành kế hoạch năm 2006 của ngành thuỷ sản như liên doanh với nước ngoài để khai thác xa bờ, đưa tàu cá đi khai thác ở các vùng biển gần khu vực Malaixia và Inđônêxia, …
Mặc dù vẫn còn có những khó khăn nhất định nhưng dựa vào những kết quả đạt được, chúng ta vẫn có thể tin tưởng vào sự phát triển mạnh mẽ của ngành thủy sản nói chung và mức tăng trưởng ổn định của kim ngạch thuỷ sản xuất khẩu nói riêng trong thời gian tới
Sự cần thiết phải phát triển thị trường của công ty TNHH Long Shin
Cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế, bất kì doanh nghiệp nào cũng mong muốn sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể vươn ra khỏi biên giới quốc gia, góp mặt trên thị trường quốc tế Đối với một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu như công ty Long Shin, việc đưa sản phẩm ra thị trường thế giới lại càng là mục tiêu cần hướng đến của công ty Hiện nay, nhu cầu về sản phẩm thủy sản trên thế giới là rất lớn, và nhu cầu này càng đặc biệt gia tăng sau khi dịch cúm gia cầm bùng phát rộng trên toàn thế giới Với lợi thế bờ biển dài và tài nguyên thuỷ sản phong phú, thuỷ sản Việt Nam đã và đang được xuất khẩu đi hơn 100 thị trường khác nhau trên toàn thế giới, ngày càng khẳng định được uy tín của thương hiệu thuỷ sản Việt Theo đó, các công ty sản xuất chế biến thủy sản xuất khẩu ngày càng nhiều, cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt Do đó, nếu muốn tăng quy mô, mở rộng sản xuất thì công ty Long Shin phải quan tâm đến công
Trang 25tác phát triển thị trường Hơn nữa, sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài không những đem lại doanh thu cho công ty mà còn từng bước khẳng định vị thế của công ty trong ngành chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam Do vậy, đối với công ty, việc phát triển thị trường, bao gồm cả xuất khẩu và nội địa, là yêu cầu cần thiết.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY LONG SHIN
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Tên công ty : Công ty TNHH Long Shin Tên giao dịch : Long Shin Corporation
Địa chỉ : Khu công nghiệp Suối Dầu – huyện Diên Khánh – tỉnh
Khánh Hòa – Việt Nam Điện thoại : (84.58) 743137 – 138 – 139
- Công ty TNHH Long Sinh của Việt Nam – trụ sở đặt tại 37 Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, Khánh Hòa
- Công ty Shin Hao Food Co, Ltd của Đài Loan – trụ sở đặt tại No.2/3 Fu Chuan Town, Min Hsiung Jia Yih City, Taiwan
Công ty TNHH Long Shin được thành lập vào ngày 5/6/2000 theo quyết định số 003/2000/QĐ – GPĐT của Ban Quản lý khu công nghiệp Khánh Hòa với số vốn đầu
tư ban đầu là 1.000.000 USD, trong đó bên Việt Nam góp 200.000 USD (chiếm 20% vốn pháp định) và phía Đài Loan góp 800.000 USD (chiếm 80% vốn pháp định) Đến ngày 31/12/2005, tổng mức vốn đầu tư thực tế hiện nay của công ty đã vượt mức vốn được ghi trong Giấy phép đầu tư là 59,23% Cho nên công ty đang tiến hành các thủ
Trang 26tục điều chỉnh Giấy phép đầu tư, ghi tăng vốn pháp định lên 1.592.342,84 USD, tương đương 23.831.441.954 VND
Công ty TNHH Long Shin là doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, thời hạn hoạt động của công ty là 40 năm kể từ ngày được cấp giấy phép Công ty TNHH Long Shin chính thức đi vào hoạt động ngày 01/04/2001 với ngành nghề kinh doanh là sản xuất chế biến hàng thuỷ sản và thực phẩm xuất khẩu Qua năm năm thành lập và phát triển, công ty càng ngày càng phát triển lớn mạnh Số lượng và chất lượng các mặt hàng xuất khẩu ngày càng tăng, thị trường xuất khẩu cũng ngày càng được mở rộng Hiện nay, công ty có trên 20 mặt hàng sản xuất chính được chia thành 3 nhóm : sản phẩm sơ chế, sản phẩm tinh chế và sản phẩm giá trị gia tăng, trong đó có khoảng hơn 10 mặt hàng nằm trong danh mục xuất khẩu thường xuyên như tôm sú, tôm hùm, cá, thịt ghẹ, … với giá trị xuất khẩu hàng năm đều tăng Năm 2005, doanh thu xuất khẩu của công ty đạt khoảng 11,4 triệu USD Sản phẩm của công ty được xuất khẩu đến các thị trường chính là Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonexia, Singapore và Mỹ.Sang năm 2006, công ty dự định mở rộng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước EU này
Bên cạnh đó, quy mô sản xuất của công ty cũng được mở rộng và hệ thống máy móc thiết bị trang bị cho các phân xưởng càng ngày càng được hiện đại hoá Từ quy
mô ban đầu chỉ có 1 phân xưởng, nay công ty đã có 4 phân xưởng chế biến gồm 2 xưởng sơ chế, 1 xưởng tinh chế và 1 xưởng luộc – làm hàng nội địa Ba trong số 4 xưởng trên đạt tiêu chuẩn EU code Đó là EU code DL 316 cấp cho phân xưởng III và
EU DL 361 cấp cho phân xưởng I, II (năm 2004) Năm 2005, công ty tiếp tục lấy được Korea code DL 361 Ngoài ra, công ty còn hợp tác với công ty TNHH Long Hiệp (Unilongs) sản xuất thức ăn thuỷ sản và thức ăn gia súc, gia cầm và với công ty TNHH Long Sinh tronglĩnh vựcsản xuất phân bón, giống, thuốc trị bệnh cho tôm,khối lượng sản xuất các sản phẩm hàng năm lên đến 15000 tấn Những sản phẩm này đã giành được sự tin tưởng và ưa thích của người tiêu dùng trên nhiều quốc gia, được xuất khẩu sang thị trường các nước Đông Nam Á Riêng sản phẩm thức ăn cho gia súc gia cầm
của công ty đã đạt được giải “Sao Vàng đất Việt” năm 2005
Ngoài ưu thế về xuất khẩu, hàng năm khoảng 10% các sản phẩm sản xuất của công ty TNHH Long Shin được cung ứng trên thị trường nội địa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước Các mặt hàng thuỷ sản đông lạnh của công ty
Trang 27Long Shin, chủ yếu là các sản phẩm giá trị gia tăng như bánh mực tẩm cốm xanh, lẩu hải sản, … hiện đang có mặt tại các siêu thị và hệ thống phân phối khác, đã và đang tạo được uy tín thương hiệu và từng bước giành được sự tín nhiệm của người tiêu dùng Việt Nam.
Mức doanh thu năm 2005 của công ty đạt hơn 182 tỉ, tăng 21% so với năm trước Thu nhập bình quân năm của lao động phổ thông tại công ty là 1,1 triệu đồng/người/tháng, của nhân viên là 1,7 triệu đồng/người/tháng, cao hơn mức lương tối thiểu theo Nghị định quy định về mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp FDI, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam do Chính phủ ban hành (gồm 3 mức phân theo vùng là 870.000; 780.000 và 710.000 đồng/người/tháng), có hiệu lưc từ 1/2/2006 Các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân mạng cho người lao động cũng đều được công ty thực hiện đầy đủ
Từ một công ty ban đầu thành lập mới chỉ có 180 cán bộ và nhân viên, hiện nay công ty TNHH Long Shin đã phát triển hơn và mở rộng quy mô sản xuất cũng như nguồn lao động đến hơn 700 nhân viên, vào mùa vụ chính có thể lên tới con số 1000 người lao động Với phương châm “Hợp tác lâu dài, phát triển bền vững”, công ty Long Shin luôn cố gắng nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thành tựu trong lĩnh vực công nghệ sinh học vào sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu của công ty, giúp sản phẩm của công ty đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường, gia tăng uy tín thương hiệu của công ty nhằm thực hiện
mục tiêu “1 năm tăng 15 – 20 % doanh thu xuất khẩu” và góp phần hỗ trợ cho ngành thuỷ sản địa phương phát triển bền vững
Vì những thành tích xuất khẩu đã đạt được, liên tục trong hai năm 2002 và 2003, công ty đã được Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa tặng bằng khen đã có thành tích tăng trưởng xuất khẩu cao Bộ Thương Mại cũng tặng bằng khen về thành tích xuất khẩu xuất sắc năm 2003 cho công ty
Chức năng, nhiệm vụ của công ty
Chức năng
Công ty TNHH Long Shin là doanh nghiệp liên doanh chuyên kinh doanh sản xuất chế biến hàng thủy sản và thực phẩm xuất khẩu Theo Giấy phép Đầu tư : 90% sản phẩm sản xuất của công ty được xuất khẩu đi các thị trường khác nhau trên thế
Trang 28giới; 10% còn lại, chủ yếu là các sản phẩm giá trị gia tăng, được tiêu thụ trên thị trường nội địa, nhằm đáp ứng nhu cầu về sản phẩm thủy sản đông lạnh nội địa
Nhiệm vụ
- Chủ động tổ chức thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký : sản xuất xuất khẩu thuỷ sản Đồng thời, tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn sản xuất kinh doanh, đảm bảo bảo toàn và phát triển vốn, tăng cường tích luỹ để tái đầu tư và mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Thực hiện tốt hạch toán kinh tế và báo cáo tài chính thường xuyên, trung thực theo qui định của nhà nước về quản lý tài chính
- Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở địa phương, chăm
lo cải thiện đời sống vật chất – tinh thần cho người lao động
- Thực hiện tốt mọi nghĩa vụ đối với nhà nước, đảm bảo an ninh trật tự trong công ty và an ninh chính trị – quốc phòng của quốc gia; bên cạnh đó, trong quá trình chế biến, phải đảm bảo vệ sinh công nghiệp không làm ô nhiễm môi trường
- Góp phần củng cố và phát triển nghề cá của tỉnh Khánh Hoà và của Việt Nam
Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Bộ máy tổ chức của công ty hiện có 18 bộ phận chức năng phân thành 7 phòng ban quản lý các cấp với khoảng hơn 700 nhân viên Bộ máy tổ chức trong công ty TNHH Long Shin được xây dựng theo cơ cấu chức năng Đây là cơ cấu quản lý hiệu quả đối với một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu như công ty Bởi vì nó phát huy được đầy đủ lợi thế về chuyên môn hóa do công việc chủ yếu là làm theo dây chuyền, mức độ lặp đi lặp lại là rất cao Cơ cấu này cũng giúp đơn giản hoá việc đào tạo cho cả cán bộ quản lý và người lao động do họ học hỏi được theo nhóm
Cụ thể là : Ban tổng giám đốc sẽ chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Hội đồng quản trị Các phòng kế toán, phòng tổ chức hành chính, phòng kế hoạch kinh doanh, phó quản đốc nguyên liệu, đội ngũ chuyên gia và giám đốc sản xuất thì nhận sự chỉ đạo trực tiếp
từ Ban tổng giám đốc Các bộ phận chức năng, tổ đội khác thì tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, công việc được giao mà phân về các phòng ban và chịu sự chỉ đạo của các phong ban nói trên
Trang 30Hội đồng quản trị
Ban tổng giám
đốc
Giám Đốc Sản Xuất
Phòng Kế Toán
Phòng Tổ Chức – Hành
KCS + Vi
Chế biến
Bao trang
Tiếp nhận phục
vuï
Tạp vụ Xếp kho
R & D
Chuyên Gia
Ca trưởng – Điện nước
Bếp
H2.1 : SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CÔNG TY TNHH LONG SHIN
Trang 31Chức năng của từng bộ phận Hội đồng quản trị (HĐQT) : quyết định mọi hoạt động của công ty, về chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển của công ty
Ban tổng giám đốc : trực tiếp thi hành các chính sách của Hội đồng quản trị, đồng thời giám sát việc thực hiện các chính sách đó Ban tổng giám đốc sẽ chịu trách nhiệm trước HĐQT về mọi hoạt động của công ty
Phòng kế toán: có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và quản lý về tài chính mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng chịu trách nhiệm quản lý bảo toàn và phát triển vốn Chuyên gia : chuyên gia kỹ thuật có nhiệm vụ lắp đặt hệ thống máy móc thiết bị, bảo trì bảo dưỡng điện, hệ thống lạnh và chuyển giao công nghệ
Phòng tổ chức hành chính (TCHC) : chịu trách nhiệm quản lý về nhân sự, tổ chức
các đội bảo vệ, phòng y tế, đội phiên dịch, đội cây cảnh, và bếp, thực hiện công tác thi
đua khen thưởng, an toàn bảo hộ lao động, và các công tác khác liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Đội bảo vệ : trực thuộc phòng TCHC, chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh và trang thiết
bị trong công ty
Phòng y tế : trực thuộc phòng TCHC, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho cán
bộ nhân viên trong công ty
Đội cây cảnh : trực thuộc phòng TCHC, chịu trách nhiệm về trang trí mỹ quan và
chăm sóc cây cảnh cho công ty
Đội phiên dịch : trực thuộc phòng TCHC, làm nhiệm vụ phiên dịch cho khách hàng
cũng như cho các chuyên gia trong quá trình làm việc tại công ty
Bếp : chịu trách nhiệm vấn đề ăn uống cho công nhân, trà nước cho các phòng ban
Phòng kế hoạch kinh doanh (KHKD) : chịu trách nhiệm về công tác kinh doanh hàng năm, hàng quý, hàng tháng, tìm đối tác giao dịch mua bán
Đội xe : trực thuộc phòng Kế hoạch kinh doanh, chủ yếu có nhiệm vụ chở hàng
phân phối đến các nơi theo, các bộ phận khác có nhu cầu dùng xe như đội thu mua của phòng nguyên vật liệu hay xe chuyên chở công nhân, xe đi công tác đều phải báo qua phòng KHKD để được sắp xếp
Trang 32Phó quản đốc nguyên liệu : quản lý về mặt nguyên liệu cho công ty, quản lý trực tiếp đội thu mua
Đội thu mua : trực tiếp giao dịch với ngư dân và các đại lý về giá cả, chất lượng
nguyên liệu, đồng thời chịu trách nhiệm bảo quản nguyên liệu từ nơi thu mua về công ty Giám đốc sản xuất : trực tiếp điều hành mọi hoạt động liên quan đến sản xuất tại công ty, nắm tình hình sản xuất, chất lượng hàng hóa trong kho, trang thiết bị phục vụ sản
xuất, quản lý trực tiếp đội ngũ KCS + Vi sinh, Thủ kho, Thống kê, R&D, Điều hành sản
xuất và Cơ khí điện nước
KCS – Vi sinh : quản lý chất lượng sản phẩm, giám sát quá trình chế biến, xây dựng
quy trình chế biến, xây dựng các quy trình quản lý chất lượng.Vi sinh chịu trách nhiệm kiểm tra về mặt vi sinh cho sản phẩm
Thủ kho : quản lý hàng hóa, nhiên liệu, nguyên vật liệu, thiết bị trong kho
Xếp kho : quản lý sắp xếp các sản phẩm, thành phẩm trong kho lạnh, do thủ kho quản lý
Thống kê : nắm giữ các số liệu trong quá trình sản xuất, xem xét tình hình nguyên
liệu và bán thành phẩm, định suất, năng suất làm việc của công nhân để báo cáo trực tiếp cho giám đốc
R&D : đây là bộ phận, được tách ra từ phòng KCS + Vi sinh, chuyên nghiên cứu và
phát triển sản phẩm mới cho công ty
Ca trưởng – điện nước : chịu trách nhiệm về vận hành kĩ thuật, sữa chữa nếu có khi
hỏng của máy móc thiết bị trong công ty
Điều hành sản xuất : bố trí dây chuyền sản xuất, điều phối số lượng công nhân,
lượng nguyên liệu, thời gian làm việc tại phân xưởng, quản lý trực tiếp các tổ bao trang, chế biến, tạp vụ, và tiếp nhận phục vụ
Đội tiếp nhận phục vụ : chịu trách nhiệm bốc dỡ nguyên liệu từ trên xe xuống đồng thời bảo quản nguyên liệu trong quá trình chờ chế biến
Tạp vụ : làm vệ sinh phân xưởng và vệ sinh chung cho công ty Chế biến : trực tiếp thao tác chế biến, phải tuân thủ mọi quy định mà ban điều hành đưa ra
Bao trang : chịu trách nhiệm công việc cấp đông và bao gói sản phẩm
Trang 33b Nhân sự – lao động
Do đặc trưng của ngành nghề kinh doanh, tổng số lao động của công ty thường sẽ
có dao động sự thay đổi tương đối vào mùa vụ chính Nhưng nói chung con số này sẽ dân
có xu hướng ổn định với lượng nhân viên và lao động kí kết hợp đồng làm việc dài hạn Tính đến thời điểm 10/05/2006, tổng số nhân viên lao động trong công ty là 742 người, trong đó cán bộ quản lý chiếm khoảng 5% Trong tổng số lao động của công ty, có hơn 52% là lao động kí hợp đồng dài hạn, số còn lại là lao động tập việc, không có lao động giao kết bằng hợp đồng ngắn hạn hay hợp đồng miệng, chứng tỏ sự ổn định trong cơ cấu lao động của doanh nghiệp, khiến người lao động có thể yên tâm làm việc, phát huy năng lực đóng góp cho sự phát triển công ty Thu nhập bình quân của một lao động phổ thông tại công ty là khoảng 1 triệu đồng/người/tháng, còn đối với cán bộ quản lý thì mức lương là 1,8 triệu đồng/người/tháng
B2.1: TRÌNH ĐỘ NHÂN VIÊN CÔNG TY TNHH LONG SHIN
B2.2 : SỐ LƯỢNG ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH LONG SHIN
Đơn vị : lượt người
Trang 34Bên cạnh đó, chất lượng đời sống nhân viên cũng được công ty quan tâm chú ý Mức tiền lương trung bình của nhân viên trong doanh nghiệp liên tục tăng khoảng hơn 10%/năm trong khi tỉ lệ tiền lương trong cơ cấu thu nhập của người lao động cũng ngày càng giảm Điều này chứng tỏ công ty không chỉ quan tâm đến “lương cứng” mà còn chú
ý đến các hình thức thù lao lao động khác như thưởng, quà Tết, quà sinh nhật,… quan tâm đến đời sống riêng của từng nhân viên để có sự giúp đỡ kịp thời : lúc ốm đau, khi hiếu hỉ,
… Các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho nhân viên đều được công ty tham gia đầy đủ Vì vậy, làm cho nhân viên ngày càng gắn bó với doanh nghiệp, khiến cho tỉ lệ nhân viên rời bỏ doanh nghiệp không ngừng giảm xuống Liên tục 3 năm liền từ 2003 đến
2005, Công đoàn công ty TNHH Long Shin được Liên Đoàn Lao Động tỉnh Khánh Hoà
trao tặng bằng khen và cờ với thành tích “Công Đoàn cơ sở ngoài quốc doanh vững mạnh
· Ưu điểm của mặt bằng công ty
- Công ty nằm trong khu công nghiệp, được xây dựng trên mặt bằng thông thoáng cao ráo, xa vùng dân cư, thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh như việc thoát nước, xử lý nước thải, không bị ngập lụt, ô nhiễm
- Đường lưu thông trong công ty và ra vào công ty thông thoáng, thuận lợi cho việc nhập và xuất hàng
- Công ty nằm trong cùng khu vực với các công ty khác có thể có cùng ngành nghề hoặc có ngành nghề bổ trợ cho nhau, từ đó có thể tận dụng được sự hợp tác với các công ty trong cùng khu công nghiệp
- Công ty có cách bố trí dây chuyền và máy móc thiết bị hợp lý, không gây nhiễm chéo, giúp phát huy tối ưu hiệu suất công việc, Các phế liệu ở các phòng đều có lối
ra riêng, các khu phân xưởng được bố trí tương đối tách biệt, có lối ra riêng nhằm tránh ảnh hưởng lẫn nhau nhưng vẫn đảm bảo sự liên thông trong sản xuất
Trang 35H2.2 : SƠ ĐỒ MẶT BẰNG CÔNG TY TNHH LONG SHIN
Nhà vận hành
Phòng bảo hộ lao động
Nhà nghỉ
Trang 36Nhược điểm của mặt bằng công ty
- Văn phòng làm việc không tập trung một nơi, dẫn đến việc tốn kém thời gian di chuyển Hệ thống cây xanh làm mát trong công ty còn ít làm giảm dáng vẻ mỹ quan của công nghiệp của công ty, có thể làm giảm năng suất lao động
- Khu xử lý nước thải còn gần khu chế biến, ngay bên cạnh nhà ăn tập thể nên dễ gây mùi khó chịu làm mất vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, việc khu xử lý nước thải này nằm gần nhà bếp có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân viên và làm hạn chế quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh sau này
- Diện tích phân xưởng I và II còn hẹp, do đó một số sản phẩm sản xuất phải di chuyển qua lại giữa các phân xưởng sản xuất làm kéo dài thời gian chế biến và vận chuyển, làm gián đoạn quá trình sản xuất
Quy trình sản xuất của công ty
Là doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu thủy sản, ngay từ đầu, công ty Long Shin đã chú ý áp dụng hệ thống quản lý chất lượng của HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point) để đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất (Công ty áp dụng
hê thống quản lý chất lượng HACCP vào tháng 2/2004) Quy trình sản xuất chung của công ty đảm bảo yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP ở từng khâu, từng công đoạn
Để giải thích cụ thể hơn, ta sẽ xem xét một quy trình sản xuất một sản phẩm cụ thể của công ty : quy trình sản xuất tôm sú duỗi
Trang sau sẽ trình bày sơ đồ quy trình sản xuất cụ thể của công ty
Trang 37H2.3 : SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT TƠM SÚ DUỖI
Rửa 1Xử lýRửa 2
Phân cỡRửa 3Cắt bụngÉp tôm duỗi dàiRửa 4NgâmCânXếp khuônCấp đôngTách khuôn, mạ băngBao gói, bảo quảnTiếp nhận nguyên liệu
Phân màu
Trang 38Thuyết minh quy trình chế biến tôm sú duỗi :
1 Tiếp nhận nguyên liệu :
- KCS kiểm tra chất lượng nguyên liệu và quyết định có nhận lô hàng đó hay không
- Thao tác tiếp nhận cần phải nhẹ nhàng và phải thao tác nhanh chóng chính xác
- Nguyên liệu tiếp nhận phải được phân cỡ, phân loại sơ bộ, chọn tôm đạt tiêu chuẩn loại
1 sang sản xuất mặt hàng cao cấp
- Nguyên liệu được đem đi chế biến ngay nếu lượng nguyên liệu nhập về nhiều thì được bảo quản lại chờ sản xuất
2 Rửa 1 :
- Nguyên liệu sau khi tiếp nhận phải được rửa qua nước đá lạnh nhiệt độ từ 2–5oC và được đưa vào chế biến ngay Nếu nguyên liệu không kịp chế biến thì đưa đi bảo quản bằng nước đá lạnh Bộ phận điều hành sản xuất đánh dấu lô hàng đó và đưa cho tổ trưởng
tổ phục vụ Tổ trưởng tổ phục vụ có nhiệm vụ theo dõi lô hàng đó để đưa vào chế biến
- Mục đích rửa nguyên liệu nhằm làm sạch nguyên liệu hạn chế sự lây nhiễm của vi sinh vật vào nguyên liệu Bảo quản sơ bộ nguyên liệu nhằm đảm bảo nguyên liệu giữ được trạng thái giống như ban đầu và hạn chế sự phát triển của vi sinh vật
- Dùng rổ sạch vớt tôm ra đổ vào sọt đem sơ chế.Thao tác rửa cần thực hiện nhẹ nhàng và nhanh chóng tránh làm dập nát nguyên liệu
3 Xử lý (lột PTO, rút tim) :
- Mục đích là loại bỏ phần không ăn được và giảm sự lây nhiễm của vi sinh vật
- Thao tác : tôm được đổ lên bàn có phủ đá vẩy để tiến hành lột PTO và rút tim
4 Rửa 2, 3, 4 :
- Mục đích là loại bỏ phần tạp chất còn lại trong tôm và hạn chế sự lây nhiễm của vi sinh vật
5 Phân mẫu, phân cỡ, cắt bụng, duỗi dài :
- Mục đích : tạo độ cảm quan, nhằm đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, bảo vệ sản phẩm
- Thao tác : + Chuẩn bị rổ đựng tôm (cỡ 3kg và 5 kg), dao inox, thước đo, bàn duỗi, thau nước đá lạnh
≤ 5oC
Trang 39+ Chọn màu tôm được phân thành 3 màu : màu xanh, màu hơi nâu và màu nâu + Sau khi phân xong thì cho vào rổ và phủ đá vẩy lên bề mặt
+ Sau đó tiến hành phân cỡ tôm theo từng màu một Tôm sau khi phân cỡ được rửa nhẹ qua thau nước
- Cắt bụng : dùng dao inox khứa 5 đường cắt ngang chia phần bụng tôm thành 6 phần, đường cắt đầu tiên ở sát đốt đuôi, đường cắt cuối cùng ở giữa phần thịt đầu
- Duỗi dài : tôm sau khi khứa bụng xong xếp tôm vào khay ép, tuỳ theo kích thước của tôm mà khay ép có kích thước khác nhau, tôm lớn thì dùng khay có rãnh lớn và ngược lại Dùng dụng cụ ép để ép tôm duỗi thẳng đạt đến chiều dài quy định, ép từ dưới đuôi ép lên phía trên sau đó đè phần giữa xuống cho đều con tôm Khi cầm con tôm lên thì yêu cầu chỗ nào cũng được ép đều hết
Sau khi duỗi dài xong tiến hành rửa lại bằng nước đá cho sạch
6 Ngâm Poly :
Mục đích :
- Hạn chế sự mất nước : khi ngâm tôm vào dung dịch có pha 3% Sodium tripolyphotphat (S.T.P.P) và 0,5% muối thì trung tâm ưa nước của cơ thể tôm sẽ tăng lên về trọng lượng (do bản chất của nó là một chất háo nước)
- Khắc phục giá trị cảm quan của tôm : Sau khi ngâm tôm vào trong dung dịch thì thịt tôm bóng hơn, có vị ngọt hơn, màu sắc tươi lên
9 Bao gói, bảo quản :
- Tiến hành đặt size lên vỉ tôm, cho mỗi vỉ vào một túi PE mỏng
- Sau khi bao gói xong được chuyển vào kho lạnh bảo quản ở nhiệt độ ≤ 18oC, thời gian
bảo quản trong kho không quá 6 tháng
Trang 40Vị trí, vai trò của công ty đối địa phương và đối với nền kinh tế Ngành thủy sản là một trong những ngành mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, được nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển Hàng năm, kim ngạch thủy sản xuất khẩu đều tăng, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nươc Hoạt động trong lĩnh vực này, công ty TNHH Long Shin đã vượt qua nhiều khó khăn và trở ngại ban đầu, từng bước xác lập vị trí ngày càng quan trọng của công ty đối với ngành và đối với nền kinh tế địa phương
Tuy mới thành lập được 6 năm, và mới chính thức đi vào hoạt động được 5 năm (bắt đầu từ 1/4/2001) nhưng công ty TNHH Long Shin hiện nay đã là một doanh nghiệp xuất khẩu hàng thuỷ sản có uy tín ở địa phương và trên thị trường xuất khẩu Công ty đã bắt đầu kinh doanh có lãi chỉ sau 2 năm hoạt động Hàng năm giá trị xuất khẩu của công
ty luôn tăng hơn 10%/năm Do được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ và của Tỉnh, nên công ty chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và một số loại thuế khác nhưng nhìn vào tốc độ tăng nhanh của doanh thu xuất khẩu, chúng ta có thể dự đoán được mức đóng góp của công ty TNHH Long Shin vào nguồn thu thuế của tỉnh trong tương lai Bên cạnh đó còn là việc công ty thu về cho đất nước một khoản ngoại tệ không nhỏ hàng năm thông qua hoạt động xuất khẩu của mình
Sự tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ của công ty ngoài việc góp phần tích cực vào sự phát triển lớn mạnh của ngành thủy sản và chế biến thủy sản, cũng kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty như vận tải hàng hải, bảo hiểm, ngân hàng, … Đồng thời, công ty cũng tạo ra khối lượng công việc góp phần giải quyết công ăn việc làm cho khoảng hơn 700 nhân viên hợp đồng dài hạn và khoảng 250 - 400 công nhân mùa vụ hàng năm Ngoài ra, công ty còn rất tích cực tham gia các công tác xã hội từ thiện như : thăm tặng quà công nhân nghèo, đồng bào
bị lũ lụt, ủng hộ quỹ tấm lòng vàng, quỹ công nhân lao động nghèo, quỹ vì người nghèo, ủng hộ bếp ăn tình thương bệnh viện tâm thần tỉnh, hội người mù tỉnh, … với số tiền hàng chục triều đồng/năm
Nhìn vào thành tích xuất khẩu của công ty trong suốt những năm gần đây, chúng ta thấy được rằng công ty Long Shin là một trong những đơn vị đóng góp nhiều cho sự tăng trưởng của nền kinh tế – xã hội ở địa phương, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của