Tại Xí nghiệp Thiết kế - Tư vấn Xây dựng thuỷ lợi 3, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được quan tâm hàng đầu, bởi lẽ nó là cơ sở để Xí nghiệp xây dựng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nha Trang, tháng 11 năm 2006
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài:
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế kinh tế quốc tế hiện nay, đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đây là một bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới Bên cạnh những lợi ích có điều kiện mà các doanh nghiệp Việt Nam nhận được thì họ còn phải chấp nhận những thách thức rất đáng kể khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này Vậy, câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp phải làm gì? và làm như thế nào? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời, bởi lẽ mỗi doanh nghiệp có đặc điểm kinh doanh khác nhau, hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, có đối tượng khách hàng khác nhau… Nhưng các doanh nghiệp này đều có một mục tiêu tương đối giống nhau, đó là lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận Để thực hiện được điều này, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh đúng đắn Nói đến cạnh tranh, thì các doanh nghiệp có thể cạnh tranh với nhau về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ hậu mãi, dịch vụ đi kèm theo sản phẩm…Nhưng mấu chốt để giải quyết tất cả các vấn đề trên là chi phí sản xuất, bởi lẽ chi phí sản xuất quá cao thì các doanh nghiệp sẽ không đạt được mục tiêu ban đầu của mình Vì vậy, làm sao quản lý tốt chi phí, khắc phục và hạn chế đến mức thấp nhất sự lãng phí, cũng như sai sót trong khâu hạch toán chi phí sản xuất, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm luôn là một câu hỏi khó đặt ra cho các doanh nghiệp Tại Xí nghiệp Thiết kế - Tư vấn Xây dựng thuỷ lợi 3, công tác hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm luôn được quan tâm hàng đầu, bởi lẽ nó là cơ sở để Xí nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, quyết định giá dự thầu, tính giá thành công trình…Với tầm quan trọng như vậy, cho nên chi phí sản xuất luôn được
Xí nghiệp quản lý, theo dõi chặt chẽ trong từng khâu, từ khâu khảo sát địa hình, địa chất đến khâu thiết kế, nhằm hạch toán đúng, hạch toán đủ và hạch toán chính xác chi phí sản xuất vào giá thành của công trình, hạng mục công trình
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em chọn đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3” để đi sâu vào tìm hiểu nhằm hệ thống hoá kiến thức đã học với thực tiễn.chi phí
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 3- Chứng từ, sổ sách kế toán
- Các phần hành kế toán:
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Xí nghiệp Thiết kế - Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3
2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài có vận dụng các phương pháp như:
5 Những đóng góp khoa học của đề tài:
- Hệ thống hoá lý luận, kiến thức đã học về công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm
- Đánh giá về thực trạng về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng như tình hình hoạt động tại Xí nghiệp Thiết kế - Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3 Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm
Trang 4hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Xí nghiệp Thiết kế - Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3 như:
công trình hoàn thành
kinh doanh
thu hồi vốn đầu tư
Trang 5CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Trang 6I Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong ngành xây dựng cơ bản:
1 Đặc điểm hoạt động của ngành xây dựng cơ bản và ảnh hưởng của nó đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm :
Khảo sát thiết kế, khâu đầu tiên trong hoạt động xây dựng cơ bản, là một nghành sản xuất vật chất độc lập, có những đặc điểm riêng biệt về kinh tế, tổ chức, quản lý và kĩ thuật Những đặc điểm này chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung cũng như tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng Sự chi phối này thể hiện như sau:
Thứ nhất, sản xuất trong xây dựng cơ bản, cụ thể trong khảo sát thiết kế là một
loại sản xuất đặc biệt theo đơn đặt hàng Sản phẩm khảo sát, thiết kế mang tính đơn chiếc, riêng lẻ Mỗi đối tượng đòi hỏi yêu cầu kĩ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng thích hợp được xác định một cách cụ thể trên từng thiết kế dự toán của từng đối tượng khảo sát thiết kế Bởi vậy, trong quá trình khảo sát hay thiết kế, các
tổ chức phải luôn thay đổi phương thức tổ chức thi công, biện pháp thi công sao cho phù hợp với đặc điểm của từng loại sản phẩm, đảm bảo cho việc thi công mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và sản xuất được liên tục Do tính chất đơn chiếc, riêng lẻ, nên chi phí bỏ ra để khảo sát, thiết kế, thi công các công trình có nội dung và cơ cấu không đồng nhất Từ đặc điểm này, kế toán phải tính đến việc hạch toán chi phí và tính giá thành cho từng loại sản phẩm riêng biệt
Thứ hai, đối tượng khảo sát thiết kế thường có khối lượng lớn, giá trị lớn, thời
gian thi công tương đối dài Điều này dẫn đến kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp không xác định hàng tháng như trong xí nghiệp công nghiệp, mà được xác định tuỳ thuộc vào đăc điểm kĩ thuật của từng loại công trình Cụ thể trong ngành xây dựng,
do chu kì sản xuất dài nên đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm hoàn chỉnh, cũng có thể là sản phẩm hoàn thành đến giai đoạn qui ước
Thứ ba, hoạt động khảo sát thiết kế, đặc biệt là hoạt động khảo sát thường diễn
ra ngoài trời chịu tác động trực tiếp của các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên nên
có thể gặp nhiều rủi ro tạo nên những khoản thiệt hại bất ngờ, phát sinh những chi phí ngoài dự toán, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
Thứ tư, sản xuất khảo sát thiết kế được thực hiện trên các địa điểm biến động
Sản phẩm khảo sát, thiết kế mang tính ổn định, gắn liền với địa điểm xây dựng, sản phẩm hoàn thành không tiến hành nhập kho như các ngành sản xuất vật chất khác Trong quá trình khảo sát, các đội trực tiếp tham gia phải thường xuyên di chuyển địa điểm, do đó sẽ phát sinh một số chi phí cần thiết khách quan như: chi phí xây
Trang 7dựng công trình tạm, chi phí chuẩn bị mặt bằng, chi phí điều động máy móc thiết
bị…, ảnh hưởng đến việc hạch toán chi phí và tính giá thành
Từ những đặc điểm trên, công tác kế toán trong các đơn vị khảo sát thiết kế phải đảm bảo yêu cầu là xác định chính xác đối tượng tập hợp chi phí và phương pháp
kế toán chi phí, ghi chép và phân bổ chi phí chính xác, xác định đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành thích hợp
2 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản : 2.1 Khái niệm và bản chất chi phí:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, lúc nào cũng diễn ra sự tiêu hao về tư liệu sản xuất bao gồm: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Sự tiêu hao
đó là tiền đề cho việc thực hiện dự án kinh doanh Ở doanh nghiệp khảo sát thiết kế, các yếu tố về tư liệu sản xuất bao gồm: đối tượng lao động, tư liệu lao động (biểu hiện là các hao phí về lao động vật hoá) dưới tác động có mục đích của sức lao động (biểu hiện là lao động sống) sẽ biến đổi thành các đồ án thiết kế hoàn chỉnh Như vậy, trong doanh nghiệp khảo sát thiết kế, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã
bỏ ra trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công trong một kỳ nhất định
2.2 Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp khảo sát thiết kế bao gồm nhiều loại chi phí
có nội dung, công dụng và đặc tính khác nhau nên yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chi phí chủ yếu:
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí:
Theo cách phân loại này, các chi phí sản xuất có cùng tính chất kinh tế được sắp xếp vào một loại, mỗi loại đó là một yếu tố chi phí, không phân biệt mục đích, nguồn gốc của các chi phí đó:
- Chi phí nguyên vật liệu: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dựng mà doanh nghiệp đã sử dụng cho sản xuất sản phẩm khảo sát thiết kế trong kỳ
- Chi phí nhân công: tiền công, tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương; các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích trên tiền lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý sản xuất ở các bộ phận
- Chi phí công cụ, dụng cụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: là số tiền khấu hao máy thi công và các tài sản cố định khác sử dụng cho hoạt động sản xuất và phục vụ sản xuất
Trang 8- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các khoản chi mà doanh nghiệp thuê, mua
từ bên ngoài doanh nghiệp như: điện, nước, điện thoại…
- Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí ngoài các chi phí đã qui định
ở trên và được thanh toán bàng tiền
Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế của chi phí có tác dụng quan trọng trong quản lý, là cơ sở để kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố phục vụ cho việc lập thuyết minh báo cáo tài chính; cung cấp tài liệu tham khảo để lập kế hoạch cung ứng vật tư, lao động; tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ tiếp theo
2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục:
Theo cách phân loại này, chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh được chia thành các loại chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm các chi phí về nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu và động lực tiêu dùng trực tiếp để tạo nên sản phẩm khảo sát thiết kế
- Chi phí nhân công trực tíêp: gồm các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp sản xuất như tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất lương, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất gồm: khấu hao máy thi công, sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí tiền lương cho công nhân điều khiển và phục vụ máy thi công, chi phí nhiên liệu và động lực…
- Chi phí sản xuất chung: gồm tiền lương của nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của đội và các chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội
Cách phân loại này giúp cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất thực tế theo từng khoản mục chi phí để cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, làm cơ
sở phân tích tình hình thực hiện giá thành, kiểm tra định mức chi phí sản xuất và lập
kế hoạch giá thành cho kỳ sau
Trang 92.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí:
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: là các chi phí sản xuất quan hệ mật thiết đến việc sản xuất sản phẩm và có thể tính thẳng vào giá thành được như chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…Các chi phí này được kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ phản ánh chúng tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liên quan
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Chúng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp
Cách phân loại này có tác dụng trong việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí một cách hợp lý
2.2.4 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí:
- Chi phí bất biến (định phí): là những chi phí không bị biến động trực tiếp theo sự thay đổi của khối lượng sản xuất như: Chi phí khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng, chi phí tiền lương trả theo thời gian cho nhân viên quản lý…
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí phụ thuộc vào sự thay đổi của khối lượng sản xuất như: chi phí nguyên vật liệu, tiền lương cho nhân viên sản xuất…
- Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà bản thân nó gồm cả hai yếu tố khả biến và bất biến Phần bất biến của chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí căn bản tối thiểu để duy trì phục vụ và để giữ dịch vụ đó luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ Còn phần chi phí khả biến trong chi phí hỗn hợp thường phản ánh chi phí thực tế sử dụng hoặc sử dụng quá định mức Do vậy, yếu tố khả biến sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức dịch vụ phục vụ hoặc mức sử dụng vượt định mức
3 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản:
Trang 10Khối lượng từng công việc cần thực hiện
tố vật chất tham gia vào khối lượng sản phẩm vừa thoát ra khỏi quá trình sản xuất nhằm mục đích thực hiện chức năng của giá thành
3.2 Phân loại giá thành sản phẩm 3.2.1 Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu:
Theo cách phân loại này, giá thành khảo sát thiết kế được chia thành 3 loại:
- Giá thành dự toán: là chi phí cần thiết theo dự tính để hoàn thành toàn bộ khối lượng công tác khảo sát thiết kế theo một phương án khảo sát thiết
kế đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Tuy nhiên, đối với các đơn vị khảo sát thiết kế, mỗi sản phẩm có một đơn giá riêng hoặc bao gồm tổ hợp đơn giá của các loại hình công việc theo khung giá khảo sát thiết kế thống nhất do Nhà nước ban hành Trong trường hợp này, giá thành dự toán được lập như sau:
Ô
Giá thành dự toán = Đơn giá X
Đối với những công tác chưa có trong định mức dự toán hiện hành thì có thể vận dụng định mức tương tự trong tập định mức theo qui định của Bộ Xây dựng
Dự toán công tác khảo sát thiết kế là mức giá tối đa để thực hiện khối lượng công tác theo phương án khảo sát thiết kế được duyệt Đây là cơ sở để các chủ đầu
tư chọn thầu doanh nghiệp, ký kết hợp đồng khảo sát thiết kế Giá theo hợp đồng thiết kế sẽ là căn cứ để thanh toán khối lượng công việc đã thực hiện giữa chủ đầu
tư và bên nhận thầu Trường hợp cơ quan quyết định đầu tư chỉ định tổ chức nhận thầu thì giá để ký hợp đồng là dự toán công tác khảo sát thiết kế đã được duyệt
- Giá thành kế hoạch: được xác định từ những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trên cơ sở phấn đấu hạ giá thành so với giá thành dự toán bằng các biện pháp tăng cường quản lý kĩ thuật, nhân lực, vật tư, thi công
- Giá thành thực tế: là toàn bộ chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao khối lượng công tác khảo sát thiết kế Giá thành này bao gồm cả những khoản phí tổn ngoài định mức như các khoản thiệt hại trong sản xuất, các khoản bội chi lãng phí về vật tư, tiền vốn trong quá trình tiến hành hoạt động khảo sát thiết kế được phép tính vào giá thành
Trang 113.2.2 Phân loại giá thành theo phạm vi tính giá thành:
Để tiện cho việc theo dõi, giá thành có thể chia theo từng giai đoạn sản xuất:
- Giá thành khảo sát: là toàn bộ chi phí cho công tác khảo sát thực địa phục
vụ cho công tác thiết kế công trình
- Giá thành thiết kế: là tổng chi phí cho việc thiết kế kết cấu kỹ thuật công trình trên cơ sở các dữ liệu của khảo sát công trình
- Giá thành hoàn chỉnh: là toàn bộ chi phí liên quan đến việc hoàn thành công tác khảo sát thiết kế cho mỗi công trình theo đúng hợp đồng, bàn giao và được bên chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán
4 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm Chi phí biểu hiện mặt hao phí, còn giá thành biều hiện mặt kết quả Đây là 2 mặt thống nhất của một quá trình Vì vậy, chúng giống nhau về chất Giá thành và chi phí sản xuất đều bao gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình chế tạo ra sản phẩm Tuy nhiên, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên giá thành và chi phí khác nhau về lượng
II Nội dung công tác kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản:
1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong xây dựng cơ bản:
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành
Do đặc điểm của ngành khảo sát thiết kế là yêu cầu kĩ thuật, nghiệp vụ cao, loại hình sản xuất đơn chiếc Hơn nữa, công tác khảo sát thiết kế thường được tiến hành trong những điều kiện địa hình khác nhau, tổ chức sản xuất thường chia thành nhiều khu vực, bộ phận thực hiện Vì vậy, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất trong các đơn vị này thường là công trình, đơn đặt hàng, giai đoạn công việc hoàn thành hoặc theo đơn vị sản xuất
Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với yêu cầu quản
lý, cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm phải căn cứ vào:
- Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất giản đơn hay phức tạp, quy trình công nghệ liên tục hay song song
- Loại hình sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Trang 122 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
2.1 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo công trình:
Theo phương pháp này, hàng tháng các chi phí phát sinh liên quan đến công trình nào thì kế toán tiến hành tập hợp chi phí cho công trình đó Các khoản chi phí được phân chia theo các hạng mục giá thành Giá thành thực tế của đối tượng đó là tổng chi phí tập hợp cho đối tượng kể từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc công việc
2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng:
Trong trường hợp đơn vị khảo sát thiết kế thực hiện hoạt động khảo sát thiết kế theo đơn đặt hàng của khách hàng thì kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi phí tập hợp theo đơn đặt hàng là giá thành thực tế của sản phẩm, khối lượng công việc hoàn thành theo đơn đặt hàng
2.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo đơn vị sản xuất:
Các chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị sản xuất (đơn vị khảo sát, thiết kế) Trong từng đơn vị đó, chi phí lại được tập hợp theo từng đối tượng chịu chi phí như từng công việc, giai đoạn công việc hay từng công trình cụ thể…Cuối
kỳ, chi phí phát sinh ở từng đơn vị sẽ đươc tập hợp và so sánh với dự toán chi phí sản xuất của từng đơn vị Trên thực tế có nhiều chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, khi đó cần phân bổ chi phí cho đối tượng chịu chi phí một cách chính xác và phù hợp
Nhìn chung có nhiều phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, mỗi phương pháp
có một ưu điểm riêng, phù hợp với điều kiện và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp cụ thể Trên cơ sở năng lực và điều kiện hiện có, mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một phương pháp tập hợp chi phí phù hợp nhất
3 Hạch toán một số khoản mục chi phí chủ yếu:
3.1 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
3.1.1 Nội dung chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Trong khảo sát thiết kế, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về vật
tư dùng để phục vụ cho hoạt động khảo sát, thiết kế như các loại thước đo đạc địa hình, các loại mũi khoan, ống chèn … Nhìn chung, chi phí này chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá thành sản phẩm và không phải là yếu tố cấu thành nên thực thể sản phẩm Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần được theo dõi và hạch toán trực tiếp cho đối tượng tính giá thành Trong trường hợp không thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải tiến hành phân ổ chi phí cho các đối tượng theo tiêu thức hợp lý, dựa trên công thức:
Trang 13- Giá trị NVL sử dụng không hết nhập lại kho
- Giá trị phế liệu thu hồi
- Kết chuyển hoặc phân bổ CPNVL trực tiếp vào tài khoản 154 để tính giá thành sản phẩm
3.1.3 Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Mức phân bổ chi phí NVLTT cho đối tượng n
Tổng chi phí cần phân bổ
TK 152 (611)
TK 1331
Nhập kho NVL dùng không hết
Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp
TK 621
Thuế VAT Mua NVL đưa thẳng vào sử dụng
Trang 143.2 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
3.2.1 Nội dung chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp của doanh nghiệp khảo sát thiết kế là những khoản thù lao phải trả cho người lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, gồm: lương chính, lương phụ và các khoản có tính chất lương
Về nguyên tắc, chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống như chí phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154 để tính giá thành sản phẩm
3.2.3 Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
3.3 Hạch toán chi phí sản xuất chung:
3.3.1 Nội dung chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung phản ánh chi phí của đội, đơn vị thi công bao gồm: lương nhân viên quản lý đội sản xuất; tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lý đội; các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ qui định hiện hành trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên sử dụng máy thi công, nhân viên quản lý đội; khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của đội
TK 334, 111, 112
TK 335
Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
TK 622
Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất SP (kể cả lao động thuê ngoài)
Lương phép, ngừng sản xuất theo kế hoạch
TK 154
Trang 15Từng nội dung chi phí sản xuất chung ở trên được tập hợp và theo dõi theo từng đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành Trường hợp không thể hạch toán trực tiếp được thì kế toán sẽ tiến hành phân bổ các chi phí này theo phương pháp thích hợp, chủ yếu phân bổ theo tỷ lệ giá trị sản lượng thực hiện
3.3.3 Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung:
Chi phí mua ngoài
Giá trị hao mòn của máy móc phục vụ sản xuất
Lương nhân viên quản lý, các khoản trích theo lương
Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng cho quản lý đội sản xuất
Kết chuyển chi phí sản xuất chung
Các khoản chi phí SXC được giảm trừ
Trang 163.4 Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công:
3.4.1 Nội dung chi phí sử dụng máy thi công:
Trong các doanh nhiệp khảo sát thiết kế, do đặc điểm và yêu cầu của công việc nên công tác khảo sát phần lớn được thực hiện bằng máy bao gồm: máy khoan, máy cắt, máy địa chấn, máy nén … Chi phí sử dụng máy thi công là những chi phí trực tiếp có liên quan đến việc sử dụng xe và máy thi công Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí thường xuyên và chi phí tạn thời
Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: lương chính, lương phụ của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy … ; chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ; khấu hao tài sản cố định; chi phí dịch vụ mua ngoài (sửa chữa nhỏ, điện, nước, bảo hiểm xe và máy…); và các chi phí bằng tiền khác
Chi phí tạm thời sử dụng mát thi công gồm: chi phí sửa chữa lớn; chi phí công trình tạm cho máy thi công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy…)
Như vậy, để có thể hạch toán chính xác chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng, trước hết phải tổ chức hạch toán tốt công việc hàng ngày của máy: theo dõi về loại máy, đối tượng phục vụ, khối lượng công việc hoàn thành, số ca làm việc thực tế…
3.4.2 Tài khoản sử dụng:
Kế toán sử dụng tài khoản 623 – “Chi phí sử dụng máy thi công”
Tài khoản này chỉ dùng để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công đối với trường hợp doanh nghiệp thi công theo phương thức hỗn hợp (vừa thủ công vừa kết hợp bàng máy) Trường hợp doanh nghiệp thi công hoàn toàn bằng máy thì các chi phí phát sinh không được hạch toán vào tài khoản 623 mà được hạch toán vào các tài khoản chi phí sản xuất 621, 622, 627
Trang 173.4.3 Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công:
a Nếu tổ chức đội máy thi công riêng biệt và đội máy có tập hợp chi phí riêng xem như sản xuất phụ) – sử dụng tài khoản 154 để tập hợp chi phí sử dụng máy và tính giá thành ca máy: có 2 trường hợp
- Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận thì căn cứ giá thành thực tế để phân bổ cho các đối tượng xây, lắp
- Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận trong nội bộ thì căn cứ giá bán nội bộ phân bổ cho các đối tượng xây, lắp
Giá bán nội bộ phân bổ cho các đối tượng xây lắp (chịu VAT)
621
622 627
Trang 18b Nếu không tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc có tổ chức đội máy thi công riêng biệt nhưng không tập hợp chi phí riêng cho đội máy thi công:
4 Tập hợp chi phí và đánh giá Sản phẩm dở dang:
4.1 Tập hợp chi phí sản xuất:
Tất cả các chi phí sản xuất liên quan đến giá thành sản phẩm cuối cùng đều phải tổng hợp vào bên Nợ tài khoản 154 – “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” đối với phương pháp “kê khai thường xuyên” hoặc tổng hợp vào bên Nợ tài khoản 631 – “Giá thành sản xuất” đối với phương pháp “kiểm kê định kì” Đối với doanh nghiệp khảo sát thiết kế và xây lắp, chủ yếu áp dụng phương pháp “kê khai thường xuyên
Trang 19TK 154
Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan đến giá thành sản phẩm
Số dư: chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Giá thành công tác khảo sát thiết kế hoàn thành bàn giao (từng phần hoặc
toàn bộ) được coi là tiêu thụ
G ddck = G ddđk + T cptk
III Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản
1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm:
Trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản, sản phẩm là những công trình có giá trị lớn, do đó đối tượng tính giá thành sản phẩm thường là các công trình, hạng mục công trình hoặc giai đoạn công việc hoàn thành… Dựa vào đặc điểm hoạt động của đơn vị khảo sát thiết kế và để phù hợp với đối tượng hạch toán chi phí sản xuất nên đối tượng tính giá thành trong các đơn vị khảo sát thiết kế thường là các công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn công việc đã hoàn thành hoặc khối lượng công việc có dự toán riêng đã hoàn thành Đây là căn cứ để kế toán mở các phiếu tính giá
Trang 20thành sản phẩm theo từng đối tượng, phục vụ quá trình kiểm tra tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành, tính toán hiệu quả, xác định thu nhập
2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
2.1 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Đặc điểm của việc tập hợp chi phí sản xuất trong các đơn vị khảo sát thiết kế là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng của khách hàng mà không kể đến quy mô của công trình hay sự khác biệt về quy trình công nghệ, thời gian thực hiện… Đối với các chi phí trực tiếp (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp) phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo chứng từ gốc Đối với chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung liên quan đến nhiều đơn đặt hàng, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn đặt hàng theo tiêu thức phù hợp
Do việc tính giá thành sản phẩm trong các đơn vị khảo sát thiết kế chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo Đối với những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí tập hợp được theo đơn đặt hàng đó được coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ và chuyển sang kỳ sau Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợp được theo đơn đặt hàng đó chính là tổng giá thành sản phẩm khảo sát thiết kế cần tính
2.2 Phương pháp tính giá thành giản đơn:
Hiện nay, phương pháp này được sử dụng phổ biến trong các đơn vị khảo sát thiết kế bởi sự phù hợp giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm Mặt khác, phương pháp này sẽ cung cấp kịp thời số liệu về giá thành sản phẩm khảo sát thiết kế trong mỗi kỳ báo cáo với cách tính đơn giản và thực hiện dễ dàng
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp trực tiếp cho một công trình hay giai đoạn công việc từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành, đó chính là giá thành thực tế của công trình hay giai đoạn công việc
Trang 21G = D dk + C1 + C2 + … + Cn – D ck
Trong đó: G : Giá thành sản phẩm
D dk : Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ C1, C2…Cn : Chi phí sản xuất ở các bộ phận sản xuất
D ck : Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Ngoài các phương pháp trên, các doanh nghiệp khảo sát thiết kế cũng có thể áp dụng một số phương pháp tính giá thành khác như: phương pháp hệ số, Phương pháp tỷ lệ theo kế hoạch Viêc áp dụng phương pháp nào là dựa trên thực tế ở từng doanh nghiệp
3 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
3.1 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Trong điều kiện “mở cửa” hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển, đứng vững trong cạnh tranh thì tất yếu phải quan tâm đến vấn đề tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm Do tính đặc thù của lĩnh vực xây dựng cơ bản là chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao thầu, nhận thầu cho nên để thắng thầu doanh nghiệp khảo sát thiết kế phải xây dựng được giá đấu thầu hợp lý trên cơ sở định mức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành, trên cơ sở giá thị trường và khả năng của bản thân doanh nghiệp Hơn nữa, lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, vì vậy việc tăng cường công tác quản lý nói chung và quản lý chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm nói riêng phải đảm bảo phát huy tối đa tác dụng của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Yêu cầu của công tác quản
lý là:
- Quản lý kế hoạch khảo sát thiết kế nhằm đảm bảo công tác khảo sát thiết
kế hoàn thành đúng kế hoạch được giao
- Quản lý toàn bộ công trình, hạng mục công trình hoặc giai đoạn khảo sát thiết kế sao cho chất lượng đồ án, bản vẽ kỹ thuật của công trình được đảm bảo đúng theo trình tự, kết cấu được yêu cầu
- Quản lý theo từng khoản mục chi phí: chi phí khảo sát thiết kế bỏ ra ít nhất nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm, tránh hao hụt vât liệu
Tóm lại, trong việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, người quản
lý phải luôn nắm được nguồn gốc phát sinh chi phí, nội dung, tính chất của từng
Trang 22khoản mục chi phí, các nguyên nhân dẫn đến việc tăng, giảm chi phí tại doanh nghiệp, cũng như tình hình thực hiện các kế hoạch giá thành tại doanh nghiệp…
3.2 Nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Để phát huy vai trò của công cụ kế toán, việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, yêu cầu tổ chức sản xuất và yêu cầu của công tác quản lý mà doanh nghiệp xác định đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành cho phù hợp
- Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định bằng phương pháp thích hợp đối với từng loại chi phí
- Thường xuyên kiểm tra, đối chiếu và định kỳ phân tích tình hình thực hiện các dự toán chi phí đối với chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý
và tiết kiệm chi phí
- Tổ chức kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm
Trang 23CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP THIẾT KẾ – TƯ VẤN XÂY DỰNG
THUỶ LỢI 3
Trang 24I Giới thiệu chung về Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3:
1 Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3:
Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3, tiền thân là Đoàn Khảo Sát Thiết Kế Thuỷ Lợi Trung Trung Bộ, được thành lập năm 1975, tại thành phố Nha Trang
Chặng đường phát triển hơn 30 năm của Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3 có thể chia làm 3 giai đoạn chính sau:
1.1 Giai đoạn 1 (1975 – 1980): vừa xây dựng cơ sở, vừa triển khai phục vụ và
những kết quả ban đầu
Những ngày đầu mới giải phóng, đơn vị gặp không ít khó khăn, trở ngại: cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn, kinh phí cấp từ Hà Nội vào rất hạn hẹp, nhỏ giọt … Ngày 2 – 12 –1975 , đơn vị mua được căn nhà số 30 Trịnh Phong làm nơi ở và làm việc trong hoàn cảnh lấy chân làm giá vẽ, lấy sàn nhà làm giường ngủ …
Tổ chức vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, chưa ổn định Đơn vị chỉ có một đoàn trưởng do Viện phó Phan Sỹ Kỳ kiêm nhiệm Dưới đoàn có các phòng thiết kế
1, phòng thiết kế 2, phòng thiết kế 3, phòng kỹ thuật và phòng tổng hợp với các đồng chí phụ trách phòng
Nhưng cái khó nhất, đáng lo nhất lúc bấy giờ là tất cả các kỹ sư và công nhân đều chưa quen biết vùng đất lạ, điều kiện xây dựng công trình gặp nhiều khó khăn
từ việc đánh giá nguồn nước đến các điều kiện địa hình, địa chất, nền móng công trình, vật liệu xây dựng… Nhờ các biện pháp tích cực và chủ động trên cơ sở phát huy truyền thống của ngành, đơn vị đã lần lượt vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ của Bộ giao cho, đề xuất nhiều công trình được Nhà nước và Bộ đầu tư, đưa nhiều công trình sớm vào xây dựng phục vụ kịp thời cho việc phát triển sản xuất trong miền, giúp đỡ các địa phương đưa công tác khảo sát thiết kếđi dần vào nề nếp, đồng thời xây dựng bước đầu cơ sở vật chất
kỹ thuật cho một cơ quan thiết kế vùng Đơn vị đã khôi phục hơn 20 công trình trên
hệ thống thuỷ lợi Đồng Cam, đập dâng hệ thống Tam Giang,…
Ngày 14 – 5 – 1979, đơn vị mua ngôi nhà số 52 Đống Đa làm nơi ở cho công nhân khảo sát và các kỷ sư được biệt phái từ Viên vào, bố trí thư viện và kho lưu trữ…
Tháng 5 – 1980, Bộ chính thức quyết định bổ nhiệm Ban chỉ huy gồm: một Đoàn trưởng và một Đoàn phó, sau đó bổ sung thêm một Đoàn phó Từ đây, đơn vị lại bước sang một thời kỳ mới không kém phần khó khăn và thử thách
Trang 251.2 Giai đoạn 2 (1981 – 1990): tiếp tục ổn định và phát triển
Cùng với cả nước cũng như toàn ngành, đơn vị lại đứng trước những khó khăn, thử thách mới khi công tác đầu tư xây dựng tạm thời thu hẹp do thiếu vốn, vật tư,
… Nhiều công trình tạm dừng, nguồn thu bị giảm… Được các cấp lãnh đạo của Bộ
và Viện động viên, giáo dục, những người lao động ở đơn vị lại nhắc nhở nhau về truyền thống chịu đựng gian khổ, tinh thần chủ động, tự lực cánh sinh, đứng vững
và tạo ra những cơ hội phát triển mới
Đầu năm 1981, đơn vị cho kiểm kê toàn bộ công tác thiết kế, xác minh các công trình đang làm dở cần tiếp tục và các công trình tạm dừng do chủ đầu tư không cấp vốn
Ngày 1 – 5 – 1981, Đoàn ban hành quy định tạm thời về ghi chép ban đầu trong hạch toán nội bộ
Đầu năm 1989, đơn vị ra nội quy tổ chức và công tác của Đoàn Thiết Kế Thuỷ Lợi Trung Trung Bộ, làm cơ sở sau này ban hành nội quy của Xí nghiệp Thiết kế –
Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3, trực thuộc Viện Khảo Sát Thiết Kế Thuỷ Lợi quốc gia, là căn cứ pháp quy nội bộ đưa mọi hoạt động của đơn vị đi vào kỷ cương, hiệu quả
Con người vẫn tiếp tục là đố tượng quan tâm của đơn vị Bữa ăn trưa được bắt đầu từ năm 1984, tạo điều kiện cho người lao động an tâm làm việc suốt ngày Các cuộc gặp gỡ thân ái giữa lãnh đạo và công nhân viên, giữa các thành viên trong tổ, nhóm, được diễn ra thường xuyên đã làm tăng thêm tình người trong đơn vị để cùng nhau phục vụ những mục tiêu chung
Về tổ chức, ngày 9 – 12 – 1982, đồng chí Viện trưởng Phan Sỹ Kỳ vào làm việc, xác định đơn vị chưa đủ điều kiện lập Phân viện, quy mô Đoàn sẽ thu hẹp tương đương cấp phòng nhưng chức năng thì rộng và nặng hơn Cuối năm 1989, Viện được đổi tên là Công ty Khảo Sát Thiết Kế Thuỷ Lợi I, Theo quyết định 485 ngày 8 – 11 – 1989 của Bộ Thuỷ lợi
Để chuẩn bị đón những cơ hội mới, hội nhập vào trình độ phát triển chung, từ đầu năm 1990, đơn vị đã cử các kỹ sư đi học Autocad ngoài Hà Nội, liên doanh với công ty Tin học, trang bị máy vi tính, làm cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thiết kế công trình thuỷ lợi
1.3 Giai đoạn 3 (1991 —> nay): 16 năm đổi mới, tiếp tục phát triển bền vững
Xí nghiệp tiếp tục tăng cường đầu tư, nâng cao trình độ, đổi mới công nghệ, ra sức vươn lên tiếp cận trình độ tư vấn xây dựng thuỷ lợi tiên tiến
Đầu năm 1991, Đại hội công nhân viên chức quyết định dành 10% quỹ lương
Trang 26gọi là chủ nhiệm đồ án) vào năm 1991 và 1997 Một số kỹ sư được đi tu nghiệp và tham quan thực tập ở Pháp, Nhật, Hàn Quố…Tin học đã phổ cập đến các nhân viên
sơ cấp giúp việc Toàn bộ máy tính đã nối mạng nội bộ từ năm 1995 và nối mạng ra công ty từ năm 1998 Nhiều chương trình tính toán tự động hoá trong thiết kế được công ty chuyển giao và Xí nghiệp tự lập trình, 95% đồ án thiết kế được thực hiện trên máy, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Nhờ đó, nhiều đồ
án do yêu cầu của chủ đầu tư, đã được thực hiện với tốc độ chưa từng thấy: nhiều
dự án lớn chỉ thực hiện trong vòng 2 – 3 tháng
Việc tổ chức sản xuất và quản lý luôn được đơn vị cải tiến nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi tình huống: sắp xếp lại các đơn vị sản xuất, chuyên môn hoá, tập trung dứt điểm những công trình trọng điểm Công tác khoán cũng luôn được cải tiến để huy động tối đa các nguồn lực của Xí nghiệp
Ngoài ra, Xí nghiệp đã có chủ trương hữu hiệu để thu hút nguồn lực lao động ngoài Xí nghiệp như: các chuyên gia, các kỹ sư có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm đang công tác hoặc đã nghỉ hưu để vừa có thêm nhân lực, vừa là những người thầy thực tế để đào tạo các lớp kỹ sư trẻ trong hiện tại và tương lai Đồng thời, Xí nghiệp còn thiết lập các quan hệ công tác hỗ trợ với nhiều chuyên viên ở các cơ quan quản lý đầu tư xây dựng ở Bộ
Sản lượng thiết kế của đơn vị luôn tăng trưởng 10% - 15%/năm Đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện
Hơn 30 năm, Xí nghiệp đã có nhiều bước phát triển ổn định và vững chắc Xí nghiệp đã được Bộ xếp hạng doanh nghiệp hàng 2 Ngoài nhiệm vụ tư vấn thiết kế xây dựng, Bộ còn tin tưởng giao cho đơn vị chủ trì một số đề tài cấp Bộ như: Biên soạn tiêu chuẩn thiết kế đập đất đầm nén, tổng kết và hướng dẫn thiết kế lọc tiêu nước kiểu ống khói Đơn vị còn là trường học thực tiễn đào tạo con người: nhờ sự rèn giũa của tập thể trong một môi trường lao động và học tập có kỷ cương và giàu lòng nhân ái, nhiều lớp người đã lớn lên, trở thành các cán bộ có phẩm chất, năng lực ở các cấp quản lý
Những bước trưởng thành và thành quả đạt được trong hơn 30 năm qua của đơn
vị không thể tách rời sự lãnh đạo và quan tâm thường xuyên của Bộ Nông nghiệp
vá Phát triển Nông thôn, sự lãnh đạo sát sao của công ty Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi
I – cơ quan tư vấn xây dựng thuỷ lợi tầm cỡ quốc gia, đồng thời cũng không thễ thiếu sự tín nhiệm của các chủ đầu tư ở Bộ và các địa phương, sự cộng tác nhiệt thành của nhiều đồng nghiệp trong và ngoài Bộ
Công tác thuỷ lợi ở khu vực còn rất to lớn và nặng nề: cải tạo, nâng cấp các công trình đã xây dựng và làm mới hàng loạt các dự án trong quy hoạch, kế hoạch
Trang 27theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá Trước bối cảnh đó, Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3 quyết định thực hiện cơ cấu và cơ chế tổ chức mới theo mô hình công ty con cổ phần trong công ty mẹ nhà nước, cơ hội nhiều nhưng khó khăn thách thức cũng không kém, Xí nghiệp nguyện phấn đấu hết mình theo truyền thống của ngành: “Tất cả vì sự nghiệp thuỷ lợi hoá đất nước, vì hạnh phúc nhân dân”, xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng và Nhà nước, với phần thưởng cao quý mà Chủ tịch nước đã khen tặng: Huân chương độc lập hạng 3
Hiện nay, Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3 có:
- Trụ sở chính : 30 Trịnh Phong-Nha Trang - Khánh Hoà
- Tài khoản số: 710A – 00009 tại Ngân hàng Công Thương tỉnh Khánh Hoà
- Lập dự án đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện
- Khảo sát xây dựng (bao gồm: khảo sát địa hình, địa chất, thuỷ văn, môi trường…)
- Kiểm tra chất lượng công trình, kiểm định chất lượng xây dựng, xác định sự
cố công trình
- Thẩm định dự án đầu tư, thẩm định thiết kế
- Tư vấn đấu thầu, thiết kế
- Thiết kế và tổng thầu khảo sát thiết kế các dự án thuỷ lợi, thuỷ điện, các dự án tiêu thoát nước cho các khu công nghiệp, dân cư bao gồm sửa chữa, tu bổ, làm mới
- Tổng thầu thiết kế, quản lý dự án và giám sát kỹ thuật
- Xây dựng thực nghiệm các công trình thuộc đề tài nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà Nước và đơn vị chủ quản (công ty
Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi I)
Trang 28- Nghiên cứu, ứng dụng các biện pháp để khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường
- Tổng thầu khảo sát, thiết kế xây dựng công trình và quản lý dự án theo quy chế quản lý và đấu thầu xây dựng hiện hành và điều lệ của công ty
3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh : 3.1 Hoạt động sản xuất: gồm 2 hoạt động chính là 3.1.1 Công tác khảo sát:
Công tác khảo sát bao gồm: khảo sát địa hình, khảo sát địa chất và xử lý nền móng công trình
3.1.1.1 Công tác khảo sát địa hình: bao gồm
- Công tác khống chế mặt bằng
- Công tác khống chế cao độ
- Công tác đo vẽ chi tiết bản đồ
- Công tác đo vẽ mặt cắt địa hình
- Công tác xác định vị trí cao độ
3.1.1.2 Công tác khảo sát địa chất: bao gồm
- Đo vẽ bản đồ địa chất các loại tỷ lệ
- Giai đoạn nghiên cứu khả thi
- Giai đoạn thiết kế kỹ thuật + Tổng dự toán
- Giai đoạn bản vẽ thi công + Dự toán
Trang 293.2 Quy trình sản xuất:
Phòng thiết kế
Lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật, bản
vẽ thi công, dự toán công trình
Phòng kế hoạch
Đấu thầu, ký hợp đồng Tiếp nhận và giao cho chủ đầu tư
Trang 30Quy trình sản xuất của Xí nghiệp được thực hiện qua các bước sau:
- Khi chuẩn bị tham gia đấu thầu cho một công trình, phòng kế hoạch của Xí nghiệp sẽ lập hồ sơ cho công trình bao gồm các yếu tố như: giá nhận thầu, các hạng mục và những thông tin cần thiết trong hồ sơ đấu thầu Lúc này, những thông tin kế toán về chi phí là rất cần thiết để có thể lập được dự toán chi phí một cách chính xác, tạo thuận lợi cho công tác đấu thầu của Xí nghiệp
- Sau khi trúng thầu, ký hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư, giám đốc Xí nghiệp
sẽ tiến hành giao công trình cho một phòng thiết kế Phòng thiết kế này sẽ tiến hành các công việc sau: tổ chức đi thực địa, lập đề cương khảo sát thiết kế tổng quát, đề cương khảo sát thiết kế chuyên ngành
Trong giai đoạn này, phòng thiết kế sẽ tiến hành các công việc cụ thể như sau:
ü Thu thập tài liệu cơ bản, khảo sát, điều tra, thí nghiệm
ü Nghiệm thu tài liệu gốc: địa hình, địa chất, địa vật lý
- Trên cơ sở các tài liệu, thông tin thu thập được, phòng thiết kế tiến hành lập các phương án thiết kế và hồ sơ thiết kế
- Căn cứ vào phương án thiết kế được lựa chọn, phòng thiết kế tiến hành lập hồ
sơ thiết kế kỹ thuật, bản vẽ thi công, đồng thời phối hợp với phòng kế toán lập dự toán cho công trình
- Sau khi phòng thiết kế hoàn thành đồ án thiết kế công trình, chủ nhiệm đồ án tiến hành báo cáo trình duyệt đồ án trước Hội đồng thiết kế của Xí nghiệp bao gồm: Giám đốc, Phó giám đốc, trưởng phòng kế hoạch, trưởng phòng tổng hợp và chủ đầu tư
- Nếu đồ án thiết kế chưa đáp ứng yêu cầu của Hội đồng kỹ thuật và chủ đầu tư thì phòng thiết kế sẽ tiến hành bổ sung, sửa chữa và hoàn chỉnh đồ án
- Sau đó, chủ nhiệm đồ án sẽ tiến hành báo cáo trình duyệt đồ án với các cấp có thẩm quyền
- Phòng thiết kế tiến hành bổ sung, hoàn chỉnh đồ án lần cuối và tiến hành lập hồ sơ chính thức
- Phòng kế hoạch tiến hành tiếp nhận hồ sơ và giao cho chủ đầu tư Nhiệm
vụ của kế toán lúc này là xác định doanh thu và lãi lỗ của công trình dựa trên giá nghiệm thu và giá thành đã được tập hợp trong quá trình thực hiện hợp đồng
Trang 314 Sơ đồ tổ chức của Xí nghiệp:
4.1 Sơ đồ bộ máy:
Sơ đồ 2: Sơ đồ bộ máy
4.2 Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận quản lý:
- Công tác kế hoạch và phát triển sản xuất
- Chỉ đạo chung công tác khảo sát thiết kế, công tác tổng thầu khảo sát thiết kế các công trình
P Thiết
kế 1
Trang 324.2.2 Phó giám đốc 1:
Giúp giám đốc các mặt công tác sau:
- Khi giám đốc đi công tác, Phó giám đốc chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ
Xí nghiệp Khi giám đốc trở về, phó giám đốc phải báo cáo bằng văn bản những công việc đã xử lý được để giám đốc tiếp tục giải quyết
- Trực tiếp chỉ đạo công tác khảo sát thiết kế, công tác tổng thầu khảo sát thiết
kế một số công trình
- Ký nghiệm thu và thanh toán các hợp đồng kinh tế
- Trực tiếp chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho toàn Xí nghiệp
4.2.3 Phó giám đốc 2:
Có cùng chức năng, nhiệm vụ như phó giám đốc 1 ở 4 chức năng đầu, đồng thời
có thêm một số nhiệm vụ, chức năng sau:
- Trực tiếp chỉ đạo công tác ISO toàn Xí nghiệp; công tác đổi mới công nghệ; theo dõi, phổ biến quy trình, quy phạm, quản lý kỹ thuật…Đặc biệt công tác
áp dụng thiết kế mẫu trong nội bộ Xí nghiệp
- Uỷ viên Hội đồng thiết kế
- Chủ nhiệm đồ án một số công trình theo sự phân công của giám đốc Xí nghiệp
Trang 33- Quản lý các mặt thuộc lĩnh vực hoạt động tài chính của Xí nghiệp
- Giám sát các quá trình thu, chi, mua, bán, tập hợp chi phí
- Tư vấn cho giám đốc Xí nghiệp trong việc đưa ra các quyết định tài chính trên cơ sở các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường ngày
4.3 Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận sản xuất:
4.3.1 Phòng thiết kế 1 và Phòng thiết kế 2:
Lập đồ án thiết kế các giai đoạn bao gồm:
- Đề cương thiết kế các giai đoạn
- Bản vẽ xuất xưởng đến bản vẽ can hoặc in giấy can trên máy vi tính
- Bản gốc các thuyết minh tính toán của các chuyên đề đơn giản do phòng tính toán, các phụ lục chuyên đề, bản tiên lượng, công văn trao đổi kỹ thuật
- Theo dõi công tác lập hồ sơ và giao nộp sản phẩm cuối cùng cho bộ phận kế hoạch
4.3.2 Phòng thiết kế 3:
- Lập biện pháp xây dựng công trình
- Nhận làm các dịch vụ tư vấn trong quyền hạn và nhiệm vụ khi được Xí nghiệp phân công
4.3.3 Phòng thiết kế chuyên nghiệp:
Thực hiện công việc theo các chuyên ngành như sau:
- Thuỷ văn, thuỷ năng, kinh tế, mội trường
- Cơ điện
4.3.4 Phòng kỹ thuật:
- Giám định tất cả các hồ sơ thíêt kế, tất cả các giai đoạn, nhưng cũng tuỳ tình hình cụ thể mà giám đốc có sự phân công hợp lý hơn
- Chủ trì đề tài chuẩn hoá thiết kế mẫu các công trình trên hệ thống kênh
- Phổ biến, hướng dẫn các quy định quản lý kỹ thuật của Xí nghiệp và của cấp trên
- Chủ trì triển khai một số đề tài nghiên cứu đi sâu vào công nghệ ứng dụng
- Thẩm kế đồ án do cơ quan khác hợp đồng qua Xí nghiệp
- Dịch thuật các tài liệu hướng dẫn quy trình, quy phạm nước ngoài
Trang 345 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp trong thời gian qua:
Bảng 1: Khái quát về tình hình hoạt động của Xí nghiệp trong 2 năm 2004
Qua bảng phân tích trên ta thấy:
- Doanh thu bình quân năm 2005 đạt 5,582,281 (ngđ), tương đương giảm 603,604 (ngđ) so với năm 2004, hay giảm 9,76%
- Lợi nhuận trước thuế bình quân năm 2005 đạt 151,429 (ngđ), tương đương tăng 29,075.5 (ngđ) so với năm 2004, hay tăng 23.76%
- Lợi nhuận sau thuế bình quân năm 2005 đạt 109,029 (ngđ), tương đương tăng 22,970 (ngđ) so với năm 2004, hay tăng 26.69%
- Tổng vốn kinh doanh bình quân năm 2005 đạt 8,400,356 (ngđ), tương đương giảm 1,854,316 (ngđ) so với năm 2004, hay giảm 18.08%
- Vốn chủ sở hữu bình quân năm 2005 đạt 2,984,584 (ngđ), tương đương giảm 1,184,549 (ngđ) so với năm 2004, hay giảm 28.41%
- Tổng lao động bình quân năm 2005 là 84 (người), tương đương giảm 4 (người) so với năm 2004, hay giảm 4.54%
- Thu nhập bình quân năm 2005 đạt 2,650 (ngđ/người), tương đương tăng
400 (ngđ/người) so với năm 2004, hay tăng 17.78%
- Nộp ngân sách bình quân năm 2005 đạt 109,184.5 (ngđ), tương đương tăng 59,560.5 (ngđ) so với năm 2004, tương đương tăng 120.02%
Trang 35Bảng 2: Khái quát về tình hình tài chính của Xí nghiệp trong 2 năm 2004
và năm 2005:
C/Lệch 2005/2004
Ý nghĩa các tỷ số:
Xí nghiệp tương đối tốt
+ Khả năng thanh toán nhanh:
Năm 2005, khả năng thanh toán nhanh của Xí nghiệp bằng 0.07 lần, giảm 0.09 lần so với năm 2004, tương đương giảm 56.25%, nghĩa là khả năng Xí nghiệp sử dụng tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn là 0.07 lần Tỷ số này tương đối thấp là do đặc thù của Xí nghiệp (Xí nghiệp hoạt
Trang 36động trong lĩnh vực xây dựng cợ bản, chu kỳ kinh doanh kéo dài Vì vậy, khi công trình chưa hoàn thành, chưa tiến hành nghiệm thu, thanh toán thì tạm thời Xí nghiệp phải chiếm dụng vốn của cán bộ công nhân viên và các đơn vị nội bộ)
+ Khả năng thanh toán hiện hành:
Năm 2005, khả năng thanh toán hiện hành của Xí nghiệp là 0.17 lần, giảm 0.01 lần so với năm 2004, tương đương giảm 0.65%, nghĩa là Xí nghiệp có thể sử dụng toàn bộ tài sản của mình để trang trải các khoản nợ là 0.17 lần
+ Khả năng thanh toán ngắn hạn:
Năm 2005, khả năng thanh toán ngắn hạn của Xí nghiệp là 1.17 lần, tăng 0.07 lần so với năm 2004, tương đương tăng 6.36%, nghĩa là Xí nghiệp có thể sử dụng toàn bộ tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn để trang trải các khoản nợ ngắn hạn gấp 1.17 lần
– Các tỷ số về hoạt động:
+ Số vòng quay hàng tồn kho:
năm 2004, tương đương tăng 181.28% Như vậy, hàng tồn kho biến động không đều qua các năm Điều này là do đặc thù của lĩnh vực kinh doanh Năm nào,Xí nghiệp nhận thầu các công trình có quy mô lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì hàng tồn kho quay được rất ít vòng; ngược lại đối với các công trình có quy mô nhỏ thì thời gian thực hiện được rút ngắn, dẫn đến số vòng quay hàng tồn kho tăng lên tương ứng
+ Số vòng quay các khoản phải thu:
tăng 2.31 lần so với năm 2004, tương đương tăng 173.68% Như vậy, khả năng thu
nợ của Xí nghiệp đang có chiều hướng tăng, hạn chế khả năng bị chiếm dụng vốn của Xí ngiệp
+ Số vòng quay của tổng tài sản:
0.95 đồng doanh thu và thu nhập khác, tăng 0.63 đồng so với năm 2004, tương đương tăng 196.88%
– Các tỷ số về đòn bẩy tài chính:
+ Tỷ suất đầu tư tài sản cố định:
tài sản, giảm 4.82% so với năm 2004 Điều này là do trong năm 2005, Xí nghiệp chuẩn bị tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp, trích khấu hao bổ sung, đánh giá lại giá trị tài sản
Trang 37+ Tỷ số nợ
hình thành bằng nguồn vốn vay nợ, tăng 0.17% so với năm 2004 Nhìn chung, tỷ số
nợ của Xí nghiệp khá cao Song, điều này không đáng lo vì Xí nghiệp không có khoản vay dài hạn đến hạn trả cũng như vay ngắn hạn
+ Tỷ số tự tài trợ:
trợ chiếm 35.43%, giảm 0.17% so với năm 2004, tương đương giảm 0.48% Như vậy, Xí nghiệp có xu hướng chiếm dụng vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:
Trong năm 2005, bình quân cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 3.9 đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 1.4 đồng so với năm
2004, tương đương tăng 56%
+ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Trong năm 2005, cứ trong 100 đồng doanh thu và thu nhập khác đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì có 1.45 đồng là lợi nhuận sau thuế, giảm 1.71 đồng so với năm 2004, tương đương giảm 54.11%
6 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp: 6.1 Các nhân tố ngoài:
6.1.1 Thể chế pháp lý:
Đối với ngành xây dựng cơ bản nói chung, doanh nghiệp khảo sát thiết kế nói riêng, thể chế pháp lý mà cụ thể là những quyết định, nghị định liên quan đến ngành, có ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để đảm bảo hiệu quả của công tác đầu tư xây dựng cơ bản, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy có liên quan đến hoạt động xây dựng cơ bản như: điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, những quy định về quy hoạch phát triển đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng, chế độ quản lý doanh nghiệp và kinh tế tài chính xây dựng… Tuy nhiên, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một lĩnh vực rất phức tạp, cần phải
Trang 38đơn giá xây dựng cơ bản, tiến độ thực hiện, chất lượng công trình… cho đến giá quyết toán công trình sau khi hoàn thành bàn giao Vì vậy, sự thay đổi chính sách của nhà nước đối với ngành đều trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Cụ thể đối với Hệ thống thuỷ lợi Đạ Goail thì Xí nghiệp phải căn cứ vào:
- Căn cứ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 25/9/1999 và Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định chi tiết về việc thực hiện Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
- Căn cứ Nghị định số 16/2005/NĐ – CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ ban hành về quản lý đầu tư và xây dựng công trình
- Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ – CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ ban hành về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Căn cứ Quyết định số 376/QĐ – UB ngày 02/02/2000 của UBND Tỉnh Lâm Đồng Về việc phê duyệt đầu tư dự án khả thi Đập dâng Đạ Goail – Huyện Đạ Huoai – Tỉnh Lâm Đồng
- Căn cứ văn bản chỉ định thầu số 454/QĐ – NN ngày 30/03/2005 của Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Lâm Đồng về việc chỉ địng gói thầu tư vấn lập báo cáo đầu tư điều chỉnh, khảo sát thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán Hệ thống thuỷ lợi Đạ Goail – Huyện Đạ Huoai – Tỉnh Lâm Đồng
6.1.2 Điều kiện tự nhiên:
Do đặc thù của công việc là đối tượng sản xuất đa dạng, có đến 60% công việc làm ngoài trời Vì vậy, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói chung và doanh nghiệp khảo sát thiết kế nói riêng, mà trực tiếp là đối với Xí ngiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 3
Xí nghiệp không chỉ phụ trách khảo sát, thiết kế các công trình trong khu vực mình cư ngụ mà công trình ở đâu thì tiến hành khảo sát ở đó Do đó, điều kiện khí hậu nhiệt đới, địa hình phức tạp đã ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện lao động của cán bộ công nhân viên khảo sát công trình Hơn nữa, điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng đến tiến độ thi công, chất lượng công trình, tăng chi phí sản xuất Khi điều kiện thời tiết gặp nhiều bất lợi, tiến độ khảo sát công trình thường xuyên bị chậm trễ, kéo theo sự chậm trễ ở khâu thiết kế do phải có đồ án khảo sát trước khi tiến hành thiết kế, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 396.1.3 Khoa học công nghệ:
Trong bất cứ ngành nào thì yếu tố công nghệ cũng giữ một vai trò quan trọng vì
nó ảnh hương đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Với tầm quan trọng đó, Xí nghiệp Thiết kế – Tư vấn Xây dựng thuỷ lợi 3 luôn ứng dụng, đầu tư công nghệ mới vào quá trình sản xuất như:
- Ứng dụng các giải pháp công nghệ tưới hiện đại trong các vùng khan hiếm nước
- Mô hình tính dòng chảy, xâm nhập mặn của SALBOB
- Ứng dụng mô hình MITSIM trong tính toán cân bằng kinh tế nước
- Ứng dụng mô hình toán trong việc tính toán tiêu thoát nước cho vùng ảnh hưởng thuỷ triều
Đồng thời, cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp còn thường xuyên được công
ty cử đi đào tạo nước ngoài, cộng tác với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực thuỷ lợi
6.1.4 Tình hình cạnh tranh:
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu Trên thị trường hiện nay
có rất nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, phân tán khắp các Tỉnh, Thành như: Công ty cổ phần Xây dựng Viglacera tại Hà Nội, Công ty cổ phần Xây dựng số 15 tại Hải Phòng, Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Xây dựng Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh… Họ đều là những đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp
6.2 Các yếu tố bên trong:
6.2.1 Nguồn nhân lực, trình độ quản lý:
Đội ngũ lao động đông đảo, đầy nhiệt huyết và Ban lãnh đạo giàu kinh nghiệm,
là một trong những thế mạnh của Xí nghiệp Song, thực tế hiện nay đặt ra một vấn
đề lớn là khả năng thu hút nguồn lao động có trình độ của doanh nghiệp không cao Tình trạng này buộc doanh nghiệp phải có những đối sách thích hợp nhằm thu hút nhân tài, như:
- Có chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với các chuyên gia làm việc tại Xí nghiệp: lương, thưởng, thăng tiến…
- Tạo điều kiện cho những người có khả năng được đi đào tạo ở nước ngoài để
họ nâng cao trình độ
6.2.2 Trình độ chuyên môn:
Đa số cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp đều có bằng Đại học, một số cán bộ còn có bằng Thạc sỹ chuyên ngành Thuỷ lợi Họ là lực lượng lao động chủ yếu,
Trang 40cần thiết đó, mà Xí nghiệp thường xuyên tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên
đi học tập nâng cao trình độ, bắt kịp với sự phát triển của khu vực và thế giới Tóm lại, tất cả các yếu tố trên kết hợp với nhau theo rất nhiều phương các khác nhau để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp theo nhiều mức độ khác nhau, tạo thành cơ hội hoặc nguy cơ đe doạ hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp Điều quan trọng là Ban lãnh đạo của Xí nghiệp cần phải phân tích, đánh giá đúng mức tác dụng hay khả năng đáp ứng, đối phó của Xí nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm
đề ra chương trình hành động cho sự phát triển của Xí nghiệp
Hiện nay, Xí nghiệp đang tiến hành cổ phần hoá Điều này giúp cho Xí nghiệp khắc phục được những tồn tại vốn có trong những doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích cán bộ công nhân viên nâng cao tinh thần lao động vì bản thân và sự phát triển của Xí nghiệp trong tương lai
7 Phương hướng phát triển của Xí nghiệp trong thời gian tới:
7.1 Mục tiêu phấn đấu:
- Tiếp tục giữ vững và tăng trưởng về sản lượng
- Nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động và có tích luỹ cho
Xí nghiệp
7.2 Nhiệm vụ kế hoạch:
- Sản phẩm thiết kế phấn đấu đảm bảo yêu cầu về chất lượng và thời gian
- Mở rộng hoạt động tư vấn: nhận tư vấn, giám sát một số công trình dân cư…
7.3 Các biện pháp tổ chức thực hiện:
7.3.1 Tổ chức:
- Rà soát và sắp xếp lại bộ máy, nhất là bộ máy lãnh đạo ở các đơn vị đảm bảo điều hành trong Xí nghiệp thông suốt từ Ban giám đốc đến lãnh đạo các đơn
vị và cán bộ cong nhân viên
- Tuyển chọn nhân lực đảm bảo chất lượng đầu vào và có cam kết gắn bó lâu dài với Xí nghiệp
- Bổ sung quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong dây chuyền sản xuất của Xí nghiệp
- Xây dựng quy chế, điều lệ cho công ty cổ phần
7.3.2 Quản lý lao động:
- Chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát, cụ thể, giải quyết kịp thời các vướng mắc ở các đơn vị
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, quản lý của các trưởng phó đơn vị Quản lý tốt ngày công lao động, giao đủ công việc cho mọi người
- Giữ vững kỷ luật lao động, động viên người lao động làm thêm giờ trên cơ sở phân công giao việc của các đơn vị và chủ nhiệm đồ án Hàng tháng, người