1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa

109 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 794,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở học tập, nghiên cứu về mặt lý thuyết đã được trang bị trong Nhà trường để vận dụng vào thực tiễn sinh động trong đời sống các doanh nghiệp, em đã chọn đề tài: “Đánh giá công t

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Thị Mộng Thuỷ MSSV: 44D4315

Ngành: Quản trị kinh doanh Tên đồ án: Nghiên cứu công tác cổ phần hoá và hiệu quả sản xuất kinh doanh tại

công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Mục tiêu cơ bản của mọi doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường là phải đạt hiệu quả kinh doanh Mục tiêu cao nhất và không thay đổi đó là phát triển trên cơ sở có lợi nhuận cao, bảo toàn và tăng vốn kinh doanh, mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp Đồng thời đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, của xã hội Để thực hiện được điều đó thì tối thiểu nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải tạo ra được các thu nhập bù đắp các khoản chi phí bỏ ra, vừa có tích luỹ để tái sản suất mở rộng.Sự phát triển đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đặt biệt đến hiệu quả kinh tế và phải luôn phấn đấu nâng cao hiệu quả kinh tế của mình Đây là mục tiêu cơ bản, lâu dài của doanh nghiệp Chỉ có nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường

Trên cơ sở học tập, nghiên cứu về mặt lý thuyết đã được trang bị trong Nhà trường

để vận dụng vào thực tiễn sinh động trong đời sống các doanh nghiệp, em đã chọn đề tài: “Đánh giá công tác cổ phần hoá và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài khảo sát, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà sau khi cổ phần hoá

3 Phương pháp nghiên cứu:

- Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Ngoài ra còn có các phương pháp khác như: phân tích tổng hợp, phân tích thống

kê, phương pháp xác suất, liên hệ so sánh, tham khảo ý kiến chuyên gia

4 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Đề tài nghiên cứu công tác cổ phần hoá và tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà sau cổ phần hoá

Trang 2

Qua đó, củng cố và khẳng định sự đúng đắn của công ty khi tiến hành cổ phần hoá Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả

các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

6 Nội dung và kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 3 phần:

Phần I: Tổng luận về cổ phần hoá và hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Phần II: Thực trạng công tác cổ phần hoá và hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà

Phần III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà

Trang 3

PHẦN I

TỔNG LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN

1.1 Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước

1.1.1 Khái niệm:

Trang 4

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Trong đó, Nhà nước có thể vẫn giữ tư cách là một cổ đông, vẫn có thể là chủ sở hữu của một bộ phận tài sản của doanh nghiệp Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước không chỉ là quá trình chuyển sở hữu Nhà nước sang sở hữu của các cổ đông, mà còn có cả hình thức doanh nghiệp Nhà nước thu hút thêm vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần

1.1.2 Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN:

Cổ phần hoá DNNN là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế

Cổ phần hoá nhằm thay đổi cơ cấu sở hữu đối với DNNN, gắn quyền sở hữu với quyền quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp Thông qua việc gắn kết các quyền này, đội ngũ cán bộ quản lý trong doanh nghiệp và người lao động có trách nhiệm với chính nguồn vốn họ

đã đầu tư vào doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, cổ phần hoá là giải pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng các DNNN hoạt động kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ kéo dài

Cổ phần hoá góp phần làm lành mạnh hoá tình trạng tài chính của khu vực các DNNN nói riêng và của nền kinh tế nói chung Trong quá trình cổ phần hoá, thực trạng tài chính của các DNNN được xác định một cách chính xác, các khoản nợ, đặc biệt là nợ khó đòi được giải quyết, các loại tài sản được kiểm kê, đánh giá lại theo giá trị thực tế Do đó, cổ phần hoá góp phần làm cho các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp với Nhà nước và với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp được xác định, giải quyết một cách rõ ràng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động lành mạnh sau cổ phần hoá

Cổ phần hoá DNNN là giải pháp để Nhà nước thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng thu hồi vốn đầu tư trong những lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm giữ và chuyển giao cho các thành phần kinh tế khác, tập trung đầu tư vào những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân Do đó, cổ phần hoá tạo điều kiện để thành phần kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Thông qua cổ phần hoá, các doanh nghiệp thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thiết lập quan hệ lâu dài với người lao động, những nhà cung cấp và khách hàng Trên cơ sở đó, sau cổ phần hoá các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư nâng cao trình độ công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.2 Các bước tiến hành cổ phần hoá:

Trang 5

Theo Nghị định 64/2002/ NĐ – CP, ngày 19/6/2002 của Chính phủ, quy trình cổ phần hoá thông qua các bước như sau:

1.2.1 Thành lập ban đổi mới quản lý doanh nghiệp tại công ty

Nhiệm vụ của Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp là:

- Tuyên truyền, giải thích cho người lao động trong doanh nghiệp những chủ trương, chính sách của Chính phủ để tổ chức thực hiện

- Chuẩn bị các tư liệu, hồ sơ pháp lý khi thành lập doanh nghiệp

- Kiểm tra và lập hồ sơ về tình hình công nợ, tài sản, nhà xưởng, vật kiến trúc do doanh nghiệp đang quản lý

- Kiểm tra và lập hồ sơ về vật tư, hàng hoá ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất và đề

ra hướng giải quyết

- Lập danh sách số lao động của doanh nghiệp đến thời điểm quyết định cổ phần hoá: Số lượng, năm công tác của từng người, dự kiến số lao động nghèo được mua cổ phần theo giá ưu đãi của Nhà nước trả dần trong mười năm

- Lập dự toán chi phí cổ phần hoá cho đến khi hoàn thành Đại hội cổ đông lần thứ nhất

1.2.2 Xác định giá trị doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá

Để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp là công việc quan trọng nhất Giá trị tài sản của doanh nghiệp được xác định dựa vào những căn cứ sau:

- Trên sổ sách, gồm có: Số liệu giao vốn gần nhất, biên bản xét duyệt ba năm trước khi cổ phần hoá, toàn bộ chứng từ sổ sách liên quan

- Số liệu kiểm kê thực tế, gồm có tài liệu kiểm kê về tài sản, nguồn vốn, vật tư, hàng hoá, biên bản đối chiếu công nợ các bên đã ký xác nhận, hợp đồng, giấy phép liên doanh, liên kết (nếu có) và các tài liệu khác về đầu tư tài chính

- Hiện trạng về giá hiện hành của từng loại tài sản, vật tư, hàng hoá

Dựa vào các căn cứ trên, giá trị các bộ phận tài sản của doanh nghiệp cần xác định gồm có:

- Tài sản cố định được xác định rõ về nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại cho từng loại tài sản đang dùng, không dùng, chưa dùng, cho thuê, chờ thanh lý Sau khi đã kiểm kê và tính theo giá trên sổ sách toàn bộ tài sản cố định, doanh nghiệp căn

cứ vào chất lượng còn lại và giá trị hiện hành của tài sản, giá trị tài sản vô hình để xác định giá trị tài sản thực còn lại Riêng giá trị nhà cửa, vật kiến trúc được xác định dựa vào biểu giá hiện hành của địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở Đối với đất đai đang sử dụng, không tính giá trị đất vào giá trị doanh nghiệp

Trang 6

Nhà nước cho phép doanh nghiệp Nhà nước và các công ty cổ phần sử dụng đất theo thời hạn nhất định Công ty cổ phần phải nộp tiền thuê đất hàng năm theo Luật đất đai và các quy định khác của Nhà nước về sử dụng đất Trước khi giao đất cho công ty cổ phần sử dụng, doanh nghiệp Nhà nước đã nộp một số khoản tiền như tiền đền bù, tiền san lấp mặt bằng; các khoản này được tính vào giá trị doanh nghiệp

- Giá trị tài sản lưu động gồm tiền mặt, vật tư hàng hóa (căn cứ vào kiểm kê thực tế

và giá trị đã được xác đinh lại căn cứ vào thời giá hiện hành), các khoản phải thu, giá trị các tài sản lưu động khác (thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn) được tính theo công thức sau:

- Giá trị xây dựng cơ bản dở dang (đối với các công trình xây dựng dở dang gắn liền với các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp mà công ty cổ phần có nhu cầu xây dựng tiếp) được xác định như đối với tài sản cố định nêu trên

- Giá trị vốn góp liên doanh, liên kết (nếu có) được xác định lại bằng số thực có theo mặt bằng giá trị khi thực hiện cổ phần hoá Vốn góp liên doanh bao gồm tiền, vật

tư hàng hoá, tài sản cố định, đất đai (giá trị đền bù và san lấp mặt bằng)

- Nguồn vốn hình thành, gồm có vốn chủ sở hữu, nợ phải trả, các khoản lỗ, quỹ phúc lợi và khen thưởng, vốn nhận liên doanh Các nguồn vốn và quỹ phải được xác định rõ phần thuộc sở hữu nhà nước (ngân sách cấp hoặc tự bổ sung), vốn nhận liên doanh và các phần thuộc sở hữu khác (chi tiết từng loại nguồn) Nợ phải trả bao gồm

nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và nợ khác Các khoản lỗ bao gồm lỗ năm trước, nợ không đòi được, những khoản thiệt hại còn lại sau khi được bảo hiểm và người gây thiệt hại bồi thường, tài sản vật tư mất, thiếu hụt và những khoản lỗ khác Quỹ phúc lợi và khen thưởng bao gồm những tài sản được hình thành từ nguồn quỹ phúc lợi và khen thưởng bằng tiền chưa chia

Sau khi xác định lại giá trị từng loại tài sản và nguồn hình thành, giá trị doanh nghiệp được tính theo công thức sau:

Giá trị TSLĐ thực tế

= Giá trị vật tư hàng hoá sau khi

đã được đánh giá lại

Tiền

phải thu

Nợ khó đòi

khác +

Giá trị doanh nghiệp sau kiểm kê, đánh giá lại

= Giá trị TSCĐ + Giá trị TSLĐ +

Vốn góp liên doanh, liên kết +

Giá trị xây dựng cơ bản dở dang

Trang 7

- Lợi thế của doanh nghiệp về vị trí địa lý thuận lợi, nhãn mác có uy tín, trình độ quản lý tốt, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp…được tính vào giá trị doanh nghiệp khi tiến hành cổ phần hoá Cách xác định giá trị lợi thế của doanh nghiệp như: lấy tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân trong 3 năm trước khi cổ phần hoá so với tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành kinh tế kỹ thuật (theo phân loại của Nhà nước); giá trị lợi thế của doanh nghiệp bằng phần chêch lệch về tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá nhân với giá trị doanh nghiệp sau khi kiểm kê, đánh giá lại

1.2.3 Xây dựng phương án cổ phần hoá:

Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp tổ chức kiểm kê tài sản, vật tư, vốn, công nợ của doanh nghiệp và phân loại thành các nhóm sau:

- Tài sản đang dùng

- Tài sản không cần dùng

- Tài sản xin thanh lý

- Tài sản (hiện vật) được hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp

Căn cứ vào số liệu trên sổ sách kế toán và kết quả kiểm kê, Ban đổi mới quản lý đánh giá lại giá trị tài sản của doanh nghiệp, phối hợp với các cơ quan quản lý vốn giải quyết những vướng mắc về tài chính và dự kiến đề nghị giá trị thực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

Cơ quan chủ quản doanh nghiệp thống nhất với cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp về giá trị thực tế của doanh nghiệp, ra văn bản thoả thuận với

Bộ Tài chính về mức giá này

Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp lập phương án (dự kiến) cổ phần hoá doanh nghiệp, dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần:

Giá trị doanh nghiệp sau kiểm kê, đánh giá lại

Giá trị doanh nghiệp

Giá trị lợi thế của doanh nghiệp

Chi phí thực hiện

cổ phần hoá

+ +

=

Trang 8

- Phổ biến hoặc niêm yết công khai các dự kiến phương án để mọi người lao động biết và cùng thảo luận

- Tổ chức đại hội công nhân viên bất thường để lấy ý kiến về dự thảo phương án, bàn phương hướng, biện pháp cụ thể làm cơ sở hoàn thiện phương án Tuy nhiên, Ban đổi mới quản lý có thể tổ chức lấy ý kiến bằng các hình thức khác nếu thấy có hiệu quả

- Hoàn thiện phương án trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hoàn chỉnh dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần để chuẩn bị trình Đại hội cổ đông xem xét, quyết định

1.2.4 Thông báo công khai về việc cổ phần hoá doanh nghiệp:

Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng chủ trương bán cổ phần, tổ chức bán cổ phần của doanh nghiệp cho các cổ đông, mở sổ đăng ký mua cổ phần của các cổ đông, đăng ký mua tờ cổ phiếu tại Kho bạc Nhà nước và thông báo công khai tình hình tài chính của doanh nghiệp đến thời điểm cổ phần hoá

Triệu tập Đại hội cổ đông lần thứ nhất để bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, thông qua điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần

1.2.5 Ra mắt công ty cổ phần:

Với sự chứng kiến của Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp, đại diện cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước, Giám đốc, kế toán trưởng doanh nghiệp đã cổ phần hoá bàn giao cho Hội đồng quản trị công ty cổ phần các hồ sơ về lao động, vốn, tài sản, danh sách hồ sơ cổ đông và các tài liệu sổ sách khác của doanh nghiệp

Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp bàn giao những công việc còn lại (nếu có) cho Hội đồng quản trị và tuyên bố tự giải thể từ ngày ký biên bản bàn giao

Hội đồng quản trị công ty cổ phần phải hoàn tất những công việc còn lại, bao gồm:

- Nộp lại con dấu cũ và xin khắc con dấu của công ty cổ phần

- Lập bản kê đề nghị kho bạc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cung cấp cho các cổ đông tờ cổ phiếu phù hợp với số cổ phần của các cổ đông

- Tổ chức ra mắt công ty cổ phần: đăng báo quy định công bố trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo bằng văn bản thời điểm hoạt động của công ty cổ phần theo con dấu mới, vốn điều lệ, ngành nghề kinh doanh

- Đăng ký kinh doanh với Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

1.3 Tình hình cổ phần hoá ở nước ta trong thời gian qua:

1.3.1 Những thành tựu:

Trang 9

Biểu đồ 1: Tình hình cổ phần hoá nước ta giai đoạn 1992 – 2005

Theo Báo Tài chính tháng 3/2005 thì từ năm 1992 đến nay, cả nước đã cổ phần hoá được 2242 DNNN Trong đó, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng là 1.327 doanh nghiệp, chiếm 59,2% tập trung ở các ngành thi công xây lắp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thương mại dịch vụ, chế biến nông phẩm do các địa phương quản lý; các doanh nghiệp có vốn Nhà nước từ 5 – 10 tỷ đồng là 500 doanh nghiệp, chiếm 22,3%; còn lại, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước trên 10 tỷ đồng là 415 doanh nghiệp, chiếm 18,5%

Cổ phần hoá đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp, trong đó người lao động trong doanh nghiệp trở thành người chủ thực sự phần vốn góp của mình trong công ty cổ phần Tính bình quân kết quả cổ phần hoá trong thời gian qua cho thấy chủ sở hữu Nhà nước nắm giữ 46,5% vốn điều lệ, tương ứng 10.792 tỷ đồng; người lao động trong doanh nghiệp nắm giữ 38,1% vốn điều lệ, tương ứng 8.847 tỷ đồng; cổ đông ngoài doanh nghiệp nắm giữ 15,4% vốn điều lệ, tương ứng 3.654 tỷ đồng

Cổ phần hoá đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu lại DNNN để DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Hoàn thành cổ phần hoá của 2.242 doanh nghiệp như đã nêu trên, chúng ta không chỉ đơn thuần giảm được số lượng DNNN mà còn để DNNN

có được bước cơ cấu lại quan trọng Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, lĩnh vực, qua cổ phần hóa đã tập trung vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt

TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HOÁ NƯỚC TA GIAI

ĐOẠN 1992 - 2005

1327

500 415

0 200 400 600 800 1000 1200 1400

Dưới 5 tỷ đồng Từ 5 – 10 tỷ đồng Trên 10 tỷ đồng Vốn Nhà nước

Số DN

Trang 10

của nền kinh tế, trong đó nhiều ngành, lĩnh vực DNNN cần chi phối để Nhà nước làm công cụ điều tiết vĩ mô Quy mô vốn của DNNN cũng được tăng lên đáng kể Năm

2001, vốn bình quân của một DNNN khoảng 24 tỷ đồng, nay đã tăng lên đến 63,6 tỷ đồng Tài chính doanh nghiệp được lành mạnh hoá hơn một bước thông qua cơ cấu lại các khoản nợ, xử lý tài sản ứ đọng, tồn kho lâu ngày, thông qua công ty mua bán nợ của doanh nghiệp

Cổ phần hoá đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh Trong quá trình cổ phần hoá DNNN, một mặt vốn Nhà nước tại doanh nghiệp được đánh giá lại khách quan hơn, tiếp cận hơn với phương thức thị trường, mặt khác

đã huy động được 12.411 tỷ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội vào doanh nghiệp để kinh doanh, đầu tư phát triển sản xuất

Cổ phần hoá góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Do lợi ích được đảm bảo hài hoà, tuyệt đại đa số sau cổ phần hoá các công ty hoạt động có hiệu quả hơn Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương về hiệu quả sản xuất kinh doanh của 850 doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hoá đã hoạt động trên một năm cho thấy: Vốn điều lệ bình quân tăng 44%; Doanh thu bình quân tăng 139.76%, trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoá đều hoạt động kinh doanh có lãi Nộp ngân sách bình quân tăng 24,9% mặc dù các doanh nghiệp này được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất…Thu nhập của người lao động bình quân tăng12%… (Theo Báo Tài chính, Tháng 3/2005)

1.3.2 Những tồn tại yếu kém:

Mặc dù vậy, quá trình cổ phần hoá vẫn còn có những hạn chế:

- Hệ thống các quy định pháp lý cho triển khai cổ phần hoá DNNN còn chưa được đầy đủ trong khi những vấn đề mới liên tục nảy sinh, đặc biệt là quy trình thống nhất quy định cụ thể về quá trình chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần Tại nhiều đơn

vị, quá trình cổ phần hoá thực hiện rất chậm do không giải quyết được những vấn đề nảy sinh khi xác định giá trị doanh nghiệp, xác định phần đóng góp của người lao động trong doanh nghiệp, giải quyết nợ, thu hồi nợ khó đòi…

- Công tác tuyên truyền vận động ở nhiều doanh nghiệp cổ phần hoá còn chưa tốt nên quá trình triển khai cổ phần hoá còn chậm, đặc biệt là giai đoạn bán đấu giá cổ phần Một số đơn vị khi thực hiện bán đấu giá cổ phần đã tự đặt thêm các quy định như lượng cổ phần mua tối thiểu, đặt cọc tiền khi đăng ký mua…và những quy định này đã khiến các nhà đầu tư ngần ngại

- Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới mạnh trong quản trị công ty, phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như DNNN nên hiệu quả thấp

Trang 11

Đa số lãnh đạo các công ty cổ phần đều là cán bộ cũ của DNNN chuyển sang, không

có thêm những khuôn mặt mới với cách tư duy theo lối mới để đem lại sức sống mới cho công ty cổ phần Việc nắm giữ 51% vốn điều lệ tại khá nhiều công ty cổ phần là một cái cớ để các cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hội đồng quản trị không thực hiện hết chức năng của công ty cổ phần theo luật định mà chủ yếu tập trung theo sự chỉ đạo của Nhà nước Lãnh đạo công ty không đại diện cho cổ đông có sở hữu vốn lớn mà chủ yếu Nhà nước định hướng tham gia quản lý Những điều đó dẫn đến tình trạng doanh nghiệp cổ phần hoá nào mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối thì hoạt động khó khăn hơn trước

- Người lao động ở một số doanh nghiệp chưa nhận thức rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong và sau quá trình cổ phần hoá, chưa có ý thức đầy đủ trong thực hiện theo đúng các quy định về trách nhiệm của cổ đông đối với doanh nghiệp

- Cản trở về mặt tâm lý xã hội do tình trạng phân biệt đối xử giữa DNNN và công

Quan điểm 1: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản

xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả với mục tiêu kinh doanh

Quan điểm 2: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng về kinh tế tức là sự

tăng trưởng của các mục tiêu kinh tế, cách tìm hiểu này chỉ là phiến diện, đứng trên mức độ biến động theo thời gian

Quan điểm 3: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tiết kiệm chi phí và mức độ

tăng kết quả

Quan điểm 4: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so

sánh giữa kết quả và chi phí

Quan điểm 5: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh

doanh trên mỗi lao động

Trang 12

Quan điểm 6: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự

tập trung phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực

đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

Như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được khi kết quả đạt được tăng và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó giảm hoặc khi kết quả tăng và chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ tăng của kết quả đạt được

2.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội Nó gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội

là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian Chính vì việc khan hiếm nguồn lực, sử dụng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí

2.2 Những nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.2.1 Trình độ tiến bộ kỹ thuật công nghệ trong doanh nghiệp

Trong nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, trình độ tiến bộ công nghệ là một nhân

tố có tính quyết định đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp Trình

độ tiến bộ kỹ thuật công nghệ càng cao thì khả năng tăng năng suất lao động càng lớn, đây sẽ là điều kiện để nâng cao hiệu quả kinh tế

Năng suất lao động tăng nhanh sẽ làm sản lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian lớn, do đó có khả năng nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ sở giảm các loại chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm Trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ cao cũng là điều kiện giảm lượng tiêu hao nguyên vật liệu, nhiên liệu để sản xuất

và có thể sử dụng nguyên liệu thay thế Do đó nâng cao trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ sẽ dẫn đến việc tiết kiệm chi phí trong sản xuất và sử dụng sản phẩm

Vì vậy, ta có thể khẳng định rằng trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ là nhân

tố quyết định việc nâng cao hiệu quả kinh tế Tuy nhiên cũng phải nhấn mạnh: tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ chỉ có thể phát huy hiệu quả với những điều kiện hợp lý

2.2.2 Trình độ hoàn thiện của tổ chức sản xuất

Trình độ hoàn thiện của tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp càng được nâng cao sẽ tạo ra khả năng đảm bảo cho sự kết hợp giữa các yếu tố của quá trình sản xuất

Trang 13

ngày càng chặt chẽ hơn, đảm bảo sự kết hợp nhịp nhàng cân đối và liên tục Đó chính

là điều kiện rút ngắn thời gian sản xuất, đặc biệt là thời gian lao động để tăng năng suất lao động, rút ngắn chu kỳ sản xuất, giảm tổn thất về lao động, về máy móc thiết bị

và nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất Theo đó thì công tác tổ chức sản xuất càng được hoàn thiện phù hợp với trình độ tiến bộ kỹ thuật công nghệ sẽ tạo ra khả năng lớn để nâng cao hiệu quả kinh tế và là điều kiện cơ bản để phát huy sức mạnh của tiến

bộ kỹ thuật công nghệ trong sản xuất

2.2.3 Trình độ khai thác sử dụng các nguồn sản xuất trong doanh nghiệp

Việc khai thác và sử dụng các nguồn sản xuất một cách đầy đủ triệt để, hợp lý và tiết kiệm các nguồn chi phí thì doanh nghiệp càng có khả năng tăng hiệu quả kinh tế, tăng nhanh tích luỹ và cải thiện đời sống Việc khai thác và sử dụng các nguồn sản xuất theo hướng này phải chú ý về mặt chủng loại, số lượng

2.2.4 Trình độ hoàn thiện quản lý trong doanh nghiệp

Các nhân tố về tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ khai thác và sử dụng các nguồn sản xuất có ảnh hưởng quyết định trực tiếp đến từng mặt, từng lĩnh vực của vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, những nhân tố này không phát huy được đầy đủ và có hiệu quả tối đa trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nếu không có tác động của quản lý Có thể nói trình độ quản

lý là một nhân tố tổng hợp, có ý nghĩa đến sự sống còn, sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, một ngành và toàn bộ nền kinh tế hay thậm chí cả một xã hội Quản lý doanh nghiệp suy cho cùng là quản lý con người một cách sáng tạo để họ

có thể tác động lại các yếu tố về kỹ thuật công nghệ, vật chất, tiền, vốn nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao sau một quá trình sản xuất kinh doanh Trình độ quản lý càng cao thì hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh đạt được càng lớn và ngược lại

2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.3.1 Phương pháp so sánh:

Một chỉ tiêu kinh tế đơn thuần vẫn chưa thể hiện đầy đủ mức độ đạt hiệu quả ở một doanh nghiệp như thế nào Thông qua phương pháp so sánh ta mới có thể thấy được mức tăng trưởng, phát triển hay những bước đi thụt lùi đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong phương pháp này ta phải so sánh mức hiệu quả giữa các năm như thế nào, năm nay có cao hơn năm trước hay không? Trên cơ sở đó tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng hay giảm của kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp phát huy và khắc phục

Trang 14

Chúng ta không chỉ so sánh hiệu quả kinh tế giữa các năm mà còn xem xét mối quan hệ thực tế so với kế hoạch để thấy rõ mức độ thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp như thế nào, tức là xác định mức độ phát triển hay mức độ phấn đấu trong năm của doanh nghiệp

Việc so sánh các chỉ tiêu kinh tế của đơn vị mình với các chỉ tiêu kinh tế bình quân của ngành và của các doanh nghiệp có điều kiện sản xuất kinh doanh tương tự trên địa bàn làm việc là rất quan trọng nhằm thấy được điểm mạnh và điểm yếu của chính mình Qua đó phát huy được thế mạnh trong cạnh tranh hay học hỏi được kinh nghiệm của các đơn vị khác để khắc phục cho đơn vị mình Tuy nhiên việc nghiên cứu các sự kiện kinh tế trong trạng thái động và luôn phát triển nên chúng ta phải xem xét cả hai mặt về thời gian và không gian Nếu chỉ xem xét về mặt thời gian sẽ cho chúng ta thấy

sự tăng trưởng và phát triển không đồng đều và phấn đấu giữa các doanh nghiệp Tuỳ theo mục đích yêu cầu phát triển, tính chất và nội dung của các chỉ tiêu kinh tế

mà ta sử dụng các khoản thời gian so sánh thích hợp Do đó, ta có thể sử dụng các biện pháp sau:

2.3.1.1 So sánh số tuyệt đối

Số tuyệt đối là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng giá trị của một chỉ tiêu kinh

tế nào đó trong một thời gian và địa điểm cụ thể Nó có thể tính bằng thước đo hiện vật, giá trị, giờ công

So sánh số tuyệt đối giữa các chỉ tiêu kinh tế giữa kỳ kế hoạch và thực tế, giữa những khoảng thời gian khác nhau để thấy được mức độ hoàn thành kế hoạch, tốc độ hay quy mô phát triển của các chỉ tiêu kinh tế nào đó

2.3.1.2 So sánh số tương đối:

Số tương đối là số biểu hiện dưới dạng số phần trăm, số tỷ lệ Số tương đối có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu hiện tượng kinh tế Đặc biệt cho chúng ta liên kết các chỉ tiêu không tương đương để thực hiện phương pháp so sánh Có rất nhiều loại

số tương đối được sử dụng trong phân tích kinh doanh, ở đây chúng ta xem xét:

v Số tương đối động thái:

Số tương đối động thái là biểu hiện biến động về mức độ của chỉ tiêu kinh tế qua một thời gian nào đó Nó được tính bằng cách so sánh mức độ đạt được của chỉ tiêu kinh tế được biểu hiện bằng số lần hay số phần trăm

Số tương đối động thái có thể tính theo kỳ gốc, liên hoàn hoặc cố định tuỳ theo mục đích nghiên cứu và thường dùng dưới hai dạng sau:

+ Cố định kỳ gốc(định gốc) = (i n)

y

y i

,1

0

=

Trang 15

+ Thay đổi kỳ gốc(liên hoàn)=

Trong đó: y0: giá trị kỳ gốc

Yi: giá trị kỳ cần so sánh

n : số kỳ cần thống kê, nghiên cứu

v Số tương đối kết cấu: Phản ánh tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng thể

Yêu cầu các chỉ tiêu sử dụng trong phương pháp so sánh đòi hỏi phải có cùng điều kiện, có tính chất so sánh, tức là:

- Phải thống nhất về nội dung so sánh

- Phải thống nhất về phương pháp tính toán

- Số liệu thu thập được của các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng một khoảng thời gian tương ứng

- Các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng một đại lượng biểu hiện

Đối với các chỉ tiêu biểu hiện về mặt giá trị đã đảm bảo được tính so sánh giữa các năm thì chúng ta cần phải loại trừ ảnh hưởng sự biến động của giá cả trên thị trường

Do vậy chúng ta nên quy đổi các chỉ tiêu giá trị về cùng một thời điểm nào đó để có thể đảm bảo được mức đồng bộ trong phương pháp so sánh

Trong phương pháp này chúng ta chỉ thể hiện những vấn đề mang tính chung nhất của hiện tượng nghiên cứu, chúng ta chưa nhận thấy được mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, để đi sâu hơn nữa vào hiện tượng nghiên cứu chúng ta phải tiến hành phương pháp phân tích

2.3.2 Phương pháp phân tích

Sản xuất kinh doanh là cả một quá trình từ khâu nghiên cứu, khảo sát và nắm bắt nhu cầu thị trường để đưa ra quyết định sản xuất, chuẩn bị và tổ chức quá trình sản xuất ra hàng hoá theo nhu cầu thị trường và tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hoá đó Do

đó hiệu quả sản xuất kinh doanh của một đơn vị không chỉ đơn thuần chịu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó mà chịu ảnh hưởng tổng hợp của một hệ thống các nhân tố

Tỷ trọng của từng bộ

Trang 16

Để phân tích, ta thường dùng các phương pháp hệ số chênh lệch và phương pháp thay thế liên hoàn

2.4 Hệ thống đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

2.4.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp

Lao động là yếu tố quan trọng nhất trong ba yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Nếu không có lao động thì mọi hoạt động sản xuất đều bị ngưng trệ Nó có ý nghĩa quyết định đến tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất của doanh nghiệp.Yếu tố lao động tác đông đến hai mặt: Số lượng lao động và trình độ lao động

2.4.1.1 Chỉ tiêu năng suất lao động

Chỉ tiêu này phản ánh trong một đơn vị thời gian một lao động sản xuất ra được bao nhiêu đồng doanh thu Năng suất lao động là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của hoạt động kinh doanh

Công thức tính năng suất lao động bình quân:

2.4.1.2 Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng chi phí tiền lương

Tiền lương là một phần thu nhập của người lao động Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình Nếu tiền lương đảm bảo

đủ trang trải và có tích luỹ thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động yên tâm làm việc Ngược lại sẽ làm năng suất lao động thấp, nền kinh tế trì trệ Vì vậy, phương pháp giảm chi phí tiền lương là phương pháp không được áp dụng để làm tăng hiệu quả sử dụng chi phí sức lao động vì tiền lương là đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động làm việc

Chỉ tiêu này biểu hiện mối quan hệ giữa chi phí tiền lương chi ra với kết quả đạt được trong kỳ Nó phản ánh kết quả của chi phí lợi nhuận sống so với doanh thu của các doanh nghiệp Có doanh thu chứng tỏ doanh nghiệp có được nguồn vốn để trang trải các khoản chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ đóng góp ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất tiếp theo

KQSX trên 1 đồng chi phí tiền lương

Doanh thu tiêu thụ trong kỳ Tổng chi phí tiền lương trong kỳ

=

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

Số công nhân bình quân trong kỳ NSLĐbq =

Trang 17

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí tiền lương sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu Hiệu quả sử dụng chi phí sức lao động càng lớn khi doanh thu càng tăng hoặc chi phí tiền lương giảm, hay cả doanh thu và chi phí càng tăng nhưng tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí

2.4.1.3 Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân trên một lao động

Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm thặng dư do sản xuất kinh doanh mang lại Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện về số lượng và chất lượng của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là nguồn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn bộ nền kinh tế quốc dân và từng đơn vị kinh doanh Lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và các đơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Công thức tính lợi nhuận bình quân cho một lao động

2.4.1.4 Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương bình quân của công nhân (I)

Hiệu quả kinh tế được nâng cao khi tốc độ tăng năng suất lao động bình quân cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Có như vậy mới đảm bảo việc tái sản xuất và nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên Đây cũng là điều kiện cần thiết để hạ giá thành sản phẩm

Công thức thể hiện mối quan hệ:

Lợi nhuận trong kỳ

Trang 18

Trong đó:

TL 1:Tiền lương bình quân của một công nhân năm kế hoạch

TL 0:Tiền lương bình quân của một công nhân năm báo cáo

W 1: Năng suất lao động bình quân một công nhân năm kế hoạch

W 0 : Năng suất lao động bình quân một công nhân năm báo cáo

2.4.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ và VCĐ

2.4.2.1Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định

v Hiệu suất sử dụng TSCĐ Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng NGTSCĐ tham gia vào sản xuất thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Doanh thu tạo ra trên một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ càng nhiều chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSCĐ càng tăng

v Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:

TSCĐ là cơ sở vật chất của doanh nghiệp Sử dụng hết công suất và có hiệu quả TSCĐ hiện có là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng NGTSCĐ bình quân tham gia vào quá trình sản xuất thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận

2.4.2.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

VCĐ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản sử dụng trong doanh nghiệp Nó có đặc điểm là tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng luân chuyển khi hết thời hạn sử dụng VCĐ trong doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn nên việc đánh giá hiệu quả sử dụng chúng là rất quan trọng, từ đó đề ra phương pháp quản lý và sử dụng chúng một cách có hiệu quả

Trang 19

v Hiệu suất sử dụng VCĐ:

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Doanh thu tạo ra càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao

v Hiệu quả sử dụng VCĐ:

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VCĐ bình quân tham gia vào quá trình sản xuất thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Lợi nhuận càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ càng cao

2.4.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá sử dụng VLĐ

VLĐ là công cụ phản ánh kiểm tra quá trình cung cấp và tiêu thụ của doanh nghiệp VLĐ chiếm nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư dự trữ ở các khâu của quá trình sản xuất Ngoài ra, VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật

tư có tiết kiệm hay không? Thời gian VLĐ nằm ở các khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý không? Do đó, thông qua việc đánh giá tình hình luân chuyển VLĐ có thể kiểm tra một cách toàn diện đối với mặt tiêu thụ và cung cấp của doanh nghiệp

Các chỉ tiêu đánh giá việc sử dụng VLĐ

Trang 20

Chỉ tiêu này cho biết VLĐ quay được bao nhiêu vòng trong kỳ

2.4.3.2 Số ngày của một vòng luân chuyển VLĐ (K)

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để hoàn thành một vòng luân chuyển VLĐ

4.3.3 Hệ số đảm nhiệm VLĐ (H)

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì bình

quân cần bao nhiêu đồng VLĐ

2.4.3.4 Hiệu quả sử dụng VLĐ(Hq)

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết bình quân với một đồng VLĐ trong kỳ bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận

2.4.4 Nhóm chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

2.4.4.1 Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

Trang 21

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong

kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng làm ăn có hiệu quả

2.4.4.3 Doanh lợi vốn chủ sở hữu:

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu sử dụng trong kỳ mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ sở hữu này càng có hiệu quả

2.4.4.4 Chỉ tiêu doanh lợi doanh thu:

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng

hoạt động tốt

2.4.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp

2.4.5.1 Tỷ số thanh toánh hiện hành( R hh )

Công thức:

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có thể sử dụng toàn bộ tài sản hiện có của mình

để trang trải các khoản nợ ngắn hạn như thế nào

2.4.5.2 Tỷ số thanh ngắn hạn(R NH )

Công thức:

Doanh lợi vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận thực hiện

Vốn chủ sở hữu bình quân

Doanh lợi doanh thu =

Lợi nhuận thực hiện Doanh thu trong kỳ

Trang 22

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có thể sử dụng toàn bộ TSLĐ và các khoản đầu

tư tài chính ngắn hạn để trang trải các khoản nợ ngắn hạn như thế nào

2.4.5.3 Tỷ số thanh toán nhanh (R q )

2.4.5.6 Tỷ số nợ

Công thức:

Tỷ số này cho biết trong toàn bộ nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động trong kỳ

có bao nhiêu phần trăm là nợ phải trả Nếu qua phân tích tỷ số này có xu hướng gia tăng thì đây là dấu hiệu cho thấy tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp đang giảm dần

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Lãi vay phải trả

Tỷ số nợ = Nợ phải trả

Tổng nguồn vốn

Trang 23

Công thức:

Tỷ số này cho biết bình quân một đồng vốn sử dụng trong kỳ đã mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu Nếu tỷ số này càng lớn thì khả năng hoạt động của vốn trong doanh nghiệp càng tốt

2.4.5.8 Vòng quay hàng tồn kho

Công thức:

Tỷ số này cho biết bình quân trong một năm hàng hoá nhập xuất bao nhiêu lần Chỉ tiêu này càng lớn thì số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ dẫn đến khả năng

quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp càng tốt

2.4.5.9 Vòng quay các khoản phải thu

Công thức:

(Nếu 1 năm là 360 ngày)

Tỷ số này cho biết bình quân trong năm doanh nghiệp có bao nhiêu lần thu được các khoản nợ thương mại và trung bình mỗi lần thu mất bao nhiêu ngày

2.4.6 Khả năng bảo toàn và phát triển vốn:

Một doanh nghiệp kinh doanh có lãi, có khả năng trang trải các khoản nợ thì đương nhiên doanh nghiệp đã bảo toàn được vốn Đánh giá khả năng phát triển vốn là xem xét bổ sung vốn hàng năm từ nguồn lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

Để đánh giá khả năng tự bảo hiểm cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải xem xét các vấn đề sau:

Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu & thu nhập khác

Các khoản phải thu bình quân

Kỳ thu tiền bình quân (ACF) =

360 Vòng quay các khoản phải thu

Trang 24

- Quỹ đầu tư và phát triển

Đối với một doanh nghiệp thì mục tiêu tối thiểu nhất là hoạt động sản xuất kinh doanh phải tạo ra lợi nhuận để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra Còn mục tiêu phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi việc sản xuất kinh doanh vừa bù đắp chi phí bỏ ra, vừa

có tích luỹ để đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng Sự phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu trích lập các quỹ phát triển kinh doanh

2.4.7 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội

2.4.7.1 Tăng thu ngân sách Nhà nước:

Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước Đó là các loại thuế: Thuế giá trị gia tăng, thuế môn bài, thuế đất, thuế thu nhập doanh nghiệp…Nhà nước sẽ dùng các khoản thu này để đầu tư vào

cơ sở hạ tầng, phục vụ cho sự phát triển của đất nước…

2.4.7.2 Tạo công ăn việc làm cho người lao động

Nước ta là nước đang phát triển, tính yếu kém về năng suất và thất nghiệp còn khá phổ biến Để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và thoát khỏi tình trạng lạc hậu

về sản xuất đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 25

PHẦN II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỔ PHẦN HOÁ

VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ VẬT

LIỆU XÂY DỰNG KHÁNH HOÀ

1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG KHÁNH HOÀ

1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Trang 26

Công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà tiền thân là một cơ sở nhỏ sản xuất gạch hoa

Theo quyết định số: 1542/UBND, ngày 29/7/1982, của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Khánh Hoà, công ty được thành lập với tên gọi là “ Xí nghiệp Vật liệu trang trí và Xây dựng ” thuộc Sở Xây dựng Khánh Hoà

Trên cơ sở đề nghị của Xí nghiệp, ngày 07/9/1990, Sở Xây dựng đã chấp nhận bổ sung thêm chức năng xây lắp theo quyết định số 1624/XD1991, Xí nghiệp được Uỷ ban nhân dân tỉnh chính thức giao kế hoạch hàng năm với 2 chức năng xây lắp và sản xuất vật liệu xây dựng

Do áp lực cạnh tranh, sự thay đổi chức năng, thay đổi về quy mô, ngày 15/7/1995 theo luật sửa đổi thành lập doanh nghiệp, xí nghiệp đã đổi tên là “Công ty Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà” với những chức năng rộng lớn như: san ủi mặt bằng công trình, thiết kế thi công các công trình điện nước, dân dụng…

Ngày 24/4/2003, theo quyết định số 1147/QĐTT của Thủ tướng Chính phủ, công

ty tiến hành cổ phần hoá và đổi tên thành:“ Công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà”

¯ Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ Phần Xây Lắp Và Vật

Liệu Xây Dựng Khánh Hoà thông qua các giai đoạn sau:

Ø Giai đoạn từ 1982-1989:

Trong giai đoạn này, chức năng của Xí nghiệp là sản xuất những sản phẩm trang trí thông thường như: gạch hoa, ngói, ống bê tông, các sản phẩm Granito… Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các công trình xây dựng trong tỉnh, phương thức tiêu thụ chủ yếu thông qua đơn đặt hàng, phân phối theo kế hoạch của tỉnh giao Mục tiêu cơ bản của công ty trong giai đoạn này là vừa tiến hành đầu tư xây dựng cơ bản, vừa lo tổ chức sản xuất đúng kế hoạch Nói chung, tình hình sản xuất trong giai đoạn này có chiều hướng suy giảm

Chủ trương rà soát lại kế hoạch của Nhà nước có xu hướng ngày càng thu hẹp đầu

tư cho ngành xây dựng, từ đó kế hoạch Nhà nước giao cho công ty hàng năm cứ thấp dần

Mặc dù còn ở giai đoạn phôi thai nhưng trên thị trường đã bắt đầu xuất hiện nhiều

cơ sở tư nhân cũng sản xuất vật liệu trang trí xây dựng có giá thành thấp để cạnh tranh với các sản phẩm của xí nghiệp Hơn nữa, xu hướng dùng ngói đất nung ngày càng lớn

vì giá thành thấp hơn ngói xi măng Đây là nguy cơ đe dọa với công ty Đứng trước tình hình trên, công ty đã tìm mọi biện pháp đổi mới sản phẩm, cho ra nhiều kiểu dáng

Trang 27

mẩu mã mới lạ Cuối cùng năm 1989, công ty đã liên kết với đơn vị 596 Bộ Tư Lệnh Thông Tin đầu tư đưa dây chuyền của đá ốp lát vào hoạt động

Về tình hình tài chính: Do Nhà nước điều chỉnh giá cộng với số tài sản của xí nghiệp được Nhà nước trang bị thêm và kết thúc đầu tư đưa vào sử dụng nên giá trị vốn gia tăng rõ rệt vào cuối năm 1989 (160trđ) Bộ máy điều hành sản xuất trong giai đoạn này là sản xuất công nghiệp nên hệ thống phòng ban được tinh gọn lại, chủ yếu

do Giám đốc điều hành trực tiếp Bộ phận sản xuất chỉ có 2 phân xưởng: một phân xưởng Granito cưa xẻ đá ốplát và một phân xưởng sản xuất gạch hoa Tổng số lao động vào những tháng đầu mới thành lập là 110 người, đến cuối năm 1989 chỉ còn 65 người

Ø Giai đoan 1990 - 2000:

Do được bổ sung thêm chức năng xây lắp nên nhiệm vụ chủ yếu của xí nghiệp trong giai đoạn này là nhận thầu thi công xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng và sản xuất các loại sản phẩm vật liệu xây dựng, trang trí Sản xuất các loại sản phẩm này dùng để phục vụ các công trình xây dựng, mở cửa hàng giới thiệu và kinh doanh các sản phẩm do công ty sản xuất

Thị trường tiêu thụ của công ty lúc này là các công trình xây dựng trên địa bàn thành phố Nha Trang và các huyện, các địa phương lân cận Từ quy mô nhỏ, vừa rồi lên quy mô lớn Từ những cấu trúc đơn giản đến phức tạp với chất lượng tốt hơn, kỹ thuật ngày càng cao hơn, giá thành hợp lý đã tạo cho công ty một chỗ đứng vững vàng

về mặt uy tín trên thị trường Ngoài việc thi công xây lắp các công trình xây dựng, công ty còn đảm nhiệm thiết kế thi công các công trình sau trạm biến áp, hệ thống nước dân dụng, san ủi mặt bằng cho các công trình và trộn bê tông tươi bán cho các cơ

sở, nhà ở Các sản phẩm vật liệu xây dựng trong giai đoạn này chủ yếu đưa vào các công trình do công ty nhận thầu, tạo điều kiện khép kín đầu vào, đầu ra của sản phẩm

Ø Giai đoạn từ năm 2001 đến nay:

Đây là giai đoạn công ty hội nhập thực sự theo cơ chế kinh tế thị trường, nhiều đối thủ cạnh tranh xuất hiện phần nào gây khó khăn cho công ty Do đó, công ty phải đưa

ra một chính sách, phương hướng kinh doanh mới, không ngừng cải tiến máy móc thiết bị và trang bị một đội ngũ công nhân có trình độ kỹ thuật cao Để tìm kiếm thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, công ty chuyển sang chỉ sản xuất một loại sản phẩm là

bê tông tươi, đồng thời đẩy mạnh chức năng xây lắp

Do quy định của Nhà nước cũng như đáp ứng nhu cầu xã hội, ngày 24/4/2003 công

ty tiến hành cổ phần hoá và đổi tên thành: “Công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà” với chức năng hoạt động rộng hơn, chuyên sâu hơn, đội ngũ cán bộ

Trang 28

quản lý cũng có nhiều thay đổi Công ty đã tạo nhiều công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đặc biệt có điều kiện tái đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

Qua các giai đoạn ta thấy từ một phân xưởng sản xuất gạch hoa đến nay công ty đã

có quy mô lớn, đầy đủ năng lực máy móc thiết bị để sản xuất thi công các công trình lớn, phức tạp cùng với đội ngũ cán bộ kỹ thuật nhiều kinh nghiệm, tay nghề cao tạo điều kiện cho công ty có những bước phát triển vững chắc trong tương lai

1.2 Chức năng, nhiệm vụ:

1.2.1 Chức năng:

- Tổ chức thi công các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi

- Nhận thầu san ủi mặt bằng, thi công hệ thống điện đường

- Thi công hệ thống nước trong các công trình xây dựng và trang trí nội thất

- Sản xuất bê tông phục vụ cho các công trình, bán bê tông thương phẩm cho mọi đối tượng khách hàng

- Thi công xây dựng và lắp đặt các công trình bưu chính viễn thông

1.2.2 Nhiệm vụ:

-Công ty phải sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường tự

bù đắp chi phí làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng phát huy năng lực sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành

-Thực hiện nghiêm túc chế độ, thể lệ trong quản lý kinh tế và kỹ thuật, các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng

-Thực hiện phân phối theo lao động và công bằng xã hội, đào tạo huấn luyện đội ngũ quản lý, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên, trình độ quản lý kinh

tế kỹ thuật để đáp ứng nhiệm vụ mà công ty đặt ra

-Tổ chức và bảo vệ đơn vị, bảo đảm an toàn cho sản xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng do Nhà nước quy định

1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý, sản xuất của công ty:

1.3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý:

1.3.1.1 Sơ đồ tổ chức quản lý:

Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng Duy trì chế độ một thủ trưởng, chế độ trách nhiệm cá nhân trên cơ sơ đảm bảo quyền tự chủ

Trang 29

của toàn bộ công nhân viên trong công ty Công ty tổ chức đội thi công công trình theo yêu cầu của công việc, thông qua việc giao nhiệm vụ cho các đội

Bộ máy quản lý của công ty được khái quát theo sơ đồ sau:

Trong đó: Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý

Trong cơ cấu này, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thực hiện mối quan hệ trực tuyến, tức là người thừa hành chỉ nhận mênh lệnh duy nhất từ người lãnh đạo trực tiếp của mình Các đơn vị chức năng lúc này trở thành tham mưu đóng vai trò trợ lý và

cố vấn cho người lãnh đạo

Theo loại hình cơ cấu này, một mặt vừa đảm bảo cho người lãnh đạo toàn quyền quản lý các phòng ban chức năng và quyết định các vấn đề đặt ra trước đơn vị mình Mặt khác, khả năng chuyên môn hoá và chế độ thủ trưởng trong quản lý đã được phát

Hội đồng quản trị

Ban kiểm soát Giám đốc

Phó giám đốc kỹ thuật thi công

bê tông

Đội điện

Phó giám đốc thiết bị và VLXD

Đội

số

1

Trang 30

huy tốt và được kết hợp ở loại hình cơ cấu này làm cho nó mang tính linh hoạt, uyển chuyển nhất định

1.3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:

và cách thức sử dụng quỹ

- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ thông qua hợp đồng mua, bán, vay cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty và theo quy định phân cấp quyền hạn tài chính

- Quyết định về quy chế tuyển dụng, cho thôi việc cán bộ công nhân viên của công

ty phù hợp với Bộ Luật Lao Động Trực tiếp quyết định khen thưởng kỷ luật các chức danh thuộc quyền quản lý của Hội đồng quản trị và quyết định mức bồi thường vật chất khi cán bộ công nhân viên này gây thiệt hại cho công ty

¯ Ban kiểm soát:

- Kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, các báo cáo quyết toán năm tài chính của công ty và kiến nghị khắc phục các sai phạm

- Được quyền yêu cầu các phòng ban nghiệp vụ điều hành kinh doanh của công ty cung cấp tình hình, số liệu, tài liệu liên quan và thuyết minh các hoạt động kinh doanh của công ty

- Báo cáo với đại hội cổ đông về những sự kiện tài chính bất thường, những vấn đề trong việc quản lý tài chính của Hội đồng quản trị và Giám đốc theo ý kiến đánh giá độc lập của mình

- Thông báo định kỳ kết quả kiểm soát cho Hội đồng quản trị, tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội cổ đông

¯ Giám đốc:

Trang 31

- Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty Điều hành mọi hoạt động của công ty theo đúng pháp luật, bảo toàn và phát triển vốn, kinh doanh có lãi, đảm bảo mức thu nhập cho người lao động

- Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, phương án sản xuất kinh doanh và phương án đầu tư đã được Hội đồng quản trị thông qua Đại hội cổ đông

- Xây dựng và trình Hội đồng quản trị các định mức kinh tế kỹ thuật nội bộ, các kế hoạch dài hạn và kế hoạch hàng năm, phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản

lý nội bộ công ty đáp ứng với yêu cầu thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh

- Quyết định giá mua, giá bán sản phẩm, dịch vụ trong hoạt dộng sản xuất kinh doanh của công ty, trừ những sản phẩm, dịch vụ do Nhà nước quy định giá

- Báo cáo trước Hội đồng quản trị tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

¯ Phó giám đốc:

Hai phó giám đốc công ty có nhiệm vụ kiểm tra về mặt kỹ thuật, phối hợp liên kết với các chủ đầu tư để tìm kiếm công trình và tham vấn cho giám đốc Sau khi phân tích, Giám đốc sẽ đưa ra quyết định chấp nhận ký kết hợp đồng hay không Nếu ký kết hợp đồng, Giám đốc sẽ chỉ đạo các phòng ban và các đơn vị thi công để triển khai công tác

¯ Kế toán trưởng: giúp Giám đốc thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê và các

điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng

¯ Các trưởng phòng, quản đốc phân xưởng và các đội trưởng là cấp quản trị thứ

hai, trực tiếp lãnh đạo đơn vị mình để thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn đã được phân công và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả công việc đó trước Giám đốc công ty

¯ Phòng tổ chức hành chính:

- Được chia làm nhiều bộ phận nhỏ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn do trưởng phòng giao cho gồm: tổ chức lao động, tiền lương, bảo hiểm y tế, tạp vụ và bảo vệ

- Theo dõi hồ sơ nhân lực cùng đơn vị kiểm tra và báo cáo về các chế độ Bảo hiểm

y tế, Bảo hiểm xã hội, các vấn đề liên quan đến lao động, tiền lương, công tác hành chính quản trị, đời sống theo đúng các chính sách trong Điều lệ công ty và do Nhà nước ban hành

- Kịp thời tổ chức đề xuất tuyển dụng cán bộ với năng lực theo yêu cầu phát triển của công ty

Trang 32

- Tổ chức đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động, đào tạo tại chỗ hoặc thông qua trường lớp với nhiều hình thức khác nhau

¯ Phòng kinh doanh:

Gồm có các bộ phận kế hoạch, tài chính, kế toán Phòng kinh doanh có chức năng lập kế hoạch sản xuất, báo cáo sản lượng kế hoạch đạt được và các số liệu về sản xuất kinh doanh của công ty cho Giám đốc Đồng thời kiểm tra tính toán nguồn vốn nhằm đáp ứng cho các công trình

Ngoài ra, hàng tháng căn cứ vào khối lượng của bộ phận sản xuất thi công, bộ phận kinh doanh kiểm tra chuẩn bị ứng lương, thanh toán, kiểm tra các khoản phải thu, các khoản phải trả và có kế hoạch thu hồi công nợ nhằm đảm bảo cho thi công tốt

và đạt hiệu quả cao

¯ Phòng kỹ thuật:

Lập các biện pháp tổ chức thi công theo quyết định của Giám đốc Kiểm tra, giám sát các biện pháp thi công cho các bộ phận thi công trước và trong khi xây dựng công trình Thiết lập mối quan hệ với bên chủ đầu tư để giải quyết các vướng mắc về kỹ thuật, chất lượng… của công trình Phòng kỹ thuật phải báo cáo số liệu hàng tháng cho giám đốc công ty

¯ Khối thi công xây lắp: Gồm 5 đội thi công xây lắp hoạt động độc lập với nhau

Nhiệm vụ của các đội thực hiện trực tiếp thi công theo quyết định giao việc của Giám đốc, quản lý đôn đốc và kiểm tra công việc hàng ngày của công nhân

¯ Khối sản xuất vật liệu: là trạm sản xuất bê tông tươi

Các phòng ban và các bộ phận sản xuất trong công ty không hoạt động một cách độc lập với nhau mà luôn luôn thông tin qua lại, bổ sung cho nhau những thông tin mới có ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của công ty Thông tin giữa các bộ phận và phòng ban luôn được thông suốt, thực hiện tốt chức năng hỗ trợ cho Giám đốc hoàn thành các chỉ tiêu

Quả vậy, với một cơ cấu phòng ban tương đối hợp lý, trình độ cán bộ quản lý được sắp xếp tương đối thích hợp đã góp phần vào việc gia tăng doanh thu, lợi nhuận cho công ty

1.3.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty

Trang 33

1.3.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức sản xuất:

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức sản xuất

1.3.2.2 Thuyết minh sơ đồ

1.3.2.2.1 Đối với bộ phận sản xuất vật liệu xây dựng

Bộ phận này có trách nhiệm sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho quá trình thi công xây lắp công trình Sản phẩm sản xuất ra chủ yếu phục vụ cho quá trình thi công

và tiêu thụ trong tỉnh Bộ phận này làm việc trực tiếp theo sự chỉ đạo của cấp trên, được quản lý một cách chặt chẽ, sản xuất theo đúng yêu cầu của công ty đề ra Cụ thể

là việc sản xuất bê tông tươi được sự giám sát chặt chẽ của Phó giám đốc sản xuất vật liệu xây dựng

Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất bê tông thương phẩm

Đội nước

Cung cấp và dự trữ nguyên vật liệu

Sàn vật liệu theo kích cỡ thiết kế

Cân, đong, đo, đếm theo định mức nguyên vật liệu

Đưa nguyên vật liệu vào

Bể trộn cưỡng bức theo tỷ lệ yêu cầu

Xe chở chuyên dùng

Bơm bê tông vào nơi cần bán

Sản phẩm hoàn thành

Trang 34

1.3.2.2.2 Đối với bộ phận xây lắp cơng trình:

Ä Đặc điểm quy trình tổ chức thi cơng:

Mỗi một quy trình tổ chức sản xuất thi cơng đều ảnh hưởng đến cơng tác tổ chức lao động Mỗi cơng đoạn trong quy trình đều cĩ đặc tính riêng, địi hỏi nhà quản lý phải biết cách tổ chức sao cho phù hợp với tình hình của cơng ty mình Nhà quản lý phải cĩ sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơng đoạn, bố trí lao động phù hợp với khả năng của từng cá nhân nhằm đem lại hiệu quả hoạt động kinh doanh cho cơng ty

Sơ đồ 4: Quy trình tổ chức thi cơng cơng trình

Ä Tổ chức hoạt động xây lắp cơng trình:

Thực hiện cơ chế mới trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, hầu như mọi cơng trình xây lắp đều thực hiện theo cơ chế đấu thầu Sau khi thắng thầu, tuỳ theo tính chất

và khối lượng cơng việc của cơng trình, khả năng kỹ thuật tài chính và kinh nghiệm của từng đội mà cơng ty giao cơng việc thi cơng, dưới sự chỉ thị của Giám đốc

Ngồi ra cịn cĩ một phương thức giao khác đĩ là “khốn” cho các đơn vị Việc giao này buộc các đơn vị phải làm đúng theo yêu cầu đã quy định trong bảng chương trình dự tốn lúc ban đầu khi bắt tay vào xây dựng cơng trình Đơn vị thi cơng khơng được làm khác đi bất cứ một chi tiết nào dù là nhỏ nhất Khơng những thế, họ cịn phải làm tốt cơng trình được giao, đạt được chất lượng cao, đúng tiến độ cơng trình

Theo đĩ, cơng ty được hưởng lợi nhuận trên số phần trăm (%) cịn gọi là tỷ lệ giao khốn khi thực hiện xong cơng trình Tỷ lệ này khơng cố định mà thường xuyên dao động Việc giao khốn này tạo thêm nhiều cơng ăn việc làm cho nhiều lao động chân tay khác Vì khi xây dựng các cơng trình cần cĩ nhiều cơng nhân làm việc khơng theo biên chế Nhà nước mà theo hợp đồng ngắn hạn

Lập dự tốn cơng trình

Tham gia đấu

Tiếp nhậnmặt bằng

Khởi cơng xây dựng

Nghiệm thu bàn giao

Quyết tốn cơng trình

Kết thúc đầu tư xây dựng - bảo hành

Tham gia đấu thầu

Tham gia đấu thầu

Trang 35

1.4 Những thuận lợi, khó khăn và phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới:

1.4.1 Thuận lợi:

Trải qua gần 25 năm hoạt động, Công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà đã từng bước định vị chỗ đứng của mình trên thị trường, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm, tạo được uy tín trong khu vực thành phố Nha Trang nói riêng và

cả nước nói chung

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công nhân viên có trình độ và sự nỗ lực trong công tác

Họ có thể tiếp cận nhanh chóng sự biến đổi của thị trường, nhạy bén trong khâu tiêu thụ và ký kết các hợp đồng xây dựng

Tốc độ xây dựng ngày càng gia tăng Đây là lợi thế để công ty tiến hành đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

1.4.2 Khó khăn:

Với cơ chế của nền kinh tế thị trường, công ty không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt của các công ty cùng ngành trong việc tìm kiếm công việc thi công Sự bùng nổ của các đơn vị xây dựng trong cả nước, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân làm cho thị trường ngành xây dựng ngày càng thu hẹp lại

Công tác thi công phụ thuộc vào số lượng công trình, giá trị công trình và mang tính chất thời vụ Cho nên, vấn đề giải quyết việc làm thường xuyên cho nhân viên trong công ty đôi khi gặp nhiều khó khăn

Một số công trình đấu thầu do đơn vị thi công ứng vốn ra nhưng không được tính lãi Điều này làm giảm khả năng huy động vốn, ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Mặt khác, các công trình xây dựng thường bị chiếm dụng vốn rất lớn, thời gian thi công dài Đây là trở ngại lớn của công ty

1.4.3 Phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới:

Tập trung mọi nguồn lực hiện có để tổ chức thi công các công trình có chất lượng tốt, mang lại giá trị kinh tế cao Xây dựng hệ thống thông tin nhạy bén để tìm kiếm các công trình xây dựng, tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên

Tìm kiếm nguồn cung cấp nguyên vật liệu lâu dài, có chất lượng cao Đầu tư đổi mới công nghệ, trang bị máy móc hiện đại, tiến tới mở rộng quy mô hoạt động trong nước và nhận thầu các công trình ở phạm vị quốc tế

Chú trọng gây dựng các mối quan hệ, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước cùng ngành để học tập, trao đổi kinh nghiệm nhằm củng cố cho đơn vị mình

Trang 36

Để giải quyết vấn đề về vốn, công ty tranh thủ các nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước đầu tư cho lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, công ty cũng kêu gọi các nguồn vốn từ bên ngoài Nhưng điều chủ yếu công ty muốn hướng tới đó là kinh doanh có hiệu quả Từ đó, làm tăng nguồn vốn chủ sử hữu, nâng cao năng lực tự chủ

về tài chính

Tiến hành đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý để nâng cao trình độ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Cơ cấu lại đội ngũ lao động, bố trí lại các phòng ban theo hướng tinh gọn bộ máy quản lý

Công ty có kế hoạch mở chi nhánh sang các tỉnh khác như: Đắc Nông, Ninh Thuận…và đầu tư sang một lĩnh vực kinh doanh mới đó là kinh doanh xăng dầu

Về mặt xã hội, công ty cố gắng kinh doanh có hiệu quả để tăng thu nhập cho công nhân, ổn định việc làm Đồng thời gây quỹ ủng hộ các gia đình chính sách, những nơi gặp thiên tai gây ra những mảnh đời bất hạnh Để hạn chế những rủi ro trong công việc thi công, công ty đã có kế hoạch trang bị tốt hơn các đồ bảo hiểm cho người lao động Đặc biệt, công ty phải có biện pháp xử lý chất thải do quá trình thi công gây ra, làm ô nhiễm môi trường

2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN XÂY LẮP VÀ VẬT LIỆU XÂY DỰNG KHÁNH HOÀ

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà

2.1.1 Điều kiện kinh tế

Từ khi đất nước chuyển hướng từ nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường cho phép các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng làm cho mức sống gia tăng Bên cạnh đó, kinh tế thị trường phát triển, các nước đầu tư vào nước ta liên kết thành lập các cơ sở kinh doanh Nhu cầu về nhà ở và các công trình công cộng

từ nay trở đi là vấn đề cấp bách, bức xúc nhất

Riêng tỉnh Khánh Hoà hiện nay có nhiều Công ty nước ngoài vào tham gia đầu tư Điều này đòi hỏi Tỉnh phải phát triển với một tốc độ như thế nào để làm cơ sở cho việc đầu tư được tốt hơn Do đó, chủ trương nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ là mục tiêu ưu tiên hàng đầu để nhằm tìm kiếm sự đầu tư của nước ngoài được nhiều hơn

Một điều không thể không nói đến là sự chuyển biến của ngành du lịch Đây là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Khánh Hoà vì ta có bờ biển dài và đẹp cộng thêm nhiều hòn đảo nhỏ nguyên sinh…Chính sự phát triển ngày càng tăng của ngành du lịch buộc Tỉnh phải xem xét lại bằng mọi cách thu hút đuợc nhiều khách du lịch, tận

Trang 37

dụng nguồn thu này để đóng góp cho ngân sách Nhà nước Muốn khai thác được tiềm năng trong lĩnh vực này đòi hỏi phải xây dựng mới và nâng cấp lại phòng ốc khách sạn, lập ra nhiều khu vui chơi, giải trí cho khách du lịch, thoả mãn nhu cầu của khách

ở mức cao nhất Lúc đó ngành xây dựng lại đóng vai trò hết sức quan trọng

Đây là cơ hội tốt cho các công ty xây dựng trong tỉnh phát huy được năng lực của mình Song song với những cơ hội mà nền kinh tế đem lại, công ty còn phải đối phó với sự cạnh tranh quyết liệt giữa các cơ sở của thành phần kinh tế, cạnh tranh trên nhiều phương diện về chất lượng, mẫu mã, giá thành…Không những thế, công ty còn phải đối phó với hàng hoá ngoại nhập vào thị trường Những mặt hàng này đẹp và tốt hơn sản phẩm của Công ty Điều này buộc Công ty phải tính toán, xem xét một cách

kỹ lưỡng để có thể cạnh tranh được và tạo sức hấp dẫn riêng

2.1.2 Điều kiện về chính trị - xã hội

Đất nước ta hiện nay có tình hình chính trị ổn định, có hệ thống luật pháp cho mọi thành phần kinh tế Đây là tiền đề tốt hấp dẫn nước khác vào đầu tư, làm cho nhu cầu xây dựng tăng cao

Về mặt xã hội: Tâm lý của người dân đã có nhiều thay đổi Họ muốn nhà ở phải đẹp, trang bị đầy đủ tiện nghi hiện đại, thoáng mát sang trọng, phù hợp với thị hiếu của mỗi người Hơn nữa, Việt Nam là nước có dân số đông, mức thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao theo sự phát triển của nền kinh tế Do vậy, nó lại góp phần cho ngành xây dựng phát triển bằng cách gia tăng đáng kể nhu cầu xây dựng nhà

ở cho người dân

2.1.3 Điều kiện về khoa học - kỹ thuật

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng là một động lực để nước ta phát triển theo Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đào thải các sản phẩm cũ kỹ, lạc hậu thay vào đó là những sản phẩm hiện đại hơn, tinh gọn hơn mà lại nhiều chức năng hơn Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều chất liệu tổng hợp mới, chất lượng cao, nhẹ nhàng thuận tiện hơn trong xây lắp Nó có thể thay thế các chất liệu xây dựng cũ, những căn hộ được lắp ráp bằng các chất liệu tốt thay cho những căn phòng nặng nề, tốn kém Những vật liệu trang trí nhẹ nhàng, đẹp, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Ngoài ra, máy móc trang thiết bị hiện đại cũng giúp cho việc thi công được rút ngắn thời gian, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm

Sẽ là điều kiện tốt nếu công ty bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ Tuy nhiên, nó cũng sẽ là thách thức, nguy cơ lớn nếu công ty không bắt kịp với

sự thay đổi đó Muốn tồn tại và đứng vững công ty phải ứng dụng tiến bộ khoa học

Trang 38

vào sản xuất, đầu tư trang thiết bị hiện đại, bộ máy quản lý tốt để sản xuất kinh doanh

có hiệu quả

2.1.4 Điều kiện tự nhiên

Khánh Hoà nằm ở rìa phía đông dãy Trường Sơn vươn ra sát biển, địa hình núi cao dốc đứng liền kề với các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, không có vùng núi trung du chuyển tiếp như các tỉnh miền Bắc Từ địa hình đó đã hình thành nên 70% diện tích là đồi núi Với các điều kiện tự nhiên không thuận lợi lắm cho ngành xây dựng, công ty

đã gặp không ít khó khăn Mỗi khi xây dựng các công trình lớn, trọng điểm phải xẻ núi để lấy mặt bằng cho công trình Đối với Công ty cổ phần Xây lắp và Vật liệu Xây dựng Khánh Hoà có quy mô không lớn lắm, cho nên để có thể đảm đương được những công trình này đòi hỏi công ty phải có máy móc thiết bị hiện đại cũng như trình độ lành nghề của công nhân, nhà quản lý, các cấp lãnh đạo liên tục giám sát công việc trong quá trình thi công

2.1.5 Nhà cung cấp nguyên vật liệu

Trong lĩnh vực xây dựng, những nhà cung cấp là vô cùng quan trọng Đây là yếu tố đầu vào cho việc thi công và sản xuất của công ty Nguyên vật liệu chủ yếu là cát, xi măng, đá, bột màu…Các nguyên liệu này công ty mua từ nhiều nhà cung cấp khác nhau để tránh bị ép giá, lựa chọn được yếu tố nguyên liệu cho phù hợp, tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho công ty

Việc cung cấp nguyên vật liệu phải đúng theo yêu cầu về chất lượng, số lượng, thời gian quy định Việc cung cấp chậm sẽ làm chậm tiến độ thi công, ảnh hưởng đến thời gian thi công Ngoài ra, cung cấp nguyên vật liệu quá sớm cũng không tốt vì sẽ phải tốn chi phí cho việc thuê kho bãi để tập kết nguyên liệu, một lượng nhân viên bảo

vệ Hơn nữa, việc bảo quản nguyên vật liệu không tốt làm cho nó bị han rỉ, mục nát cũng làm giảm chất lượng công trình

2.1.6 Khách hàng

Đối với mảng sản xuất bê tông thì khách hàng là những người tiêu thụ sản phẩm Còn mảng xây lắp thì khách hàng là các chủ đầu tư hay còn gọi là “Bên A” Đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, số lượng khách hàng không lớn như trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm sản xuất đơn thuần

Trên thực tế, nhiều công trình sau khi đã được nghiệm thu nhưng khách hàng chậm thanh toán hoặc thanh toán kéo dài đã gây thiệt hại rất nhều cho công ty về mặt tài chính vì công ty phải trả lãi cho Ngân hàng Cho nên, việc đáp ứng nhu cầu khách hàng trong nền kinh tế thị trường là vấn đề hết sức nan giải Nhiều lúc công ty phải bỏ

Trang 39

đi một phần lợi nhuận của mình để nhận thầu các công trình với mục tiêu là giải quyết việc làm cho cán bộ công nhân viên và tạo uy tín trên thị trường

2.1.7 Đối thủ cạnh tranh

Xây dựng là một lĩnh vực đang hấp dẫn các nhà đầu tư của mọi thành phần kinh tế Ngay trong tỉnh Khánh Hoà, công ty đang phải cạnh tranh với rất nhiều đối thủ mạnh hơn mình về tiềm lực, quy mô, vốn, lao động…Chẳng hạn như Công ty Xây Dựng Khánh Hoà, Công ty Xây Dựng Công Trình 505…

Những công ty có quy mô và tiềm lực lớn (nhất là mạnh về vốn) thường tạo được

uy tín mạnh mẽ trên thị trường Họ ít khi phải vay vốn Ngân hàng Chính điều này làm cho họ dễ dàng nhận thầu được nhiều công trình vì bỏ giá thầu thấp hơn

Đối với công ty tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn có quy mô nhỏ nên thường nhận các công trình như nhà ở, trạm y tế…Mỗi một đối thủ đều có những thế mạnh riêng đòi hỏi công ty ngày càng nâng cao uy tín của mình, làm tốt các công trình được giao, đúng yêu cầu của chủ đầu tư

Như vậy, càng cho thấy công ty phải cố gắng nhiều hơn nữa để có được một chỗ đứng vững chắc trên thị trường Công ty phải kinh doanh có lãi nhằm tạo ra một sức cạnh tranh riêng, đặc biệt là phải đảm bảo chất lượng công trình tốt nhất với một chi phí thấp nhất

2.2 Năng lực sản xuất kinh doanh của công ty

2.2.1 Vốn

Vốn điều lệ: 4.663.000 (ngđ) Tổng nguồn vốn của công ty đến cuối năm 2005 là 53.337.666(ngđ) Trong đó, Vốn lưu động: 51.664.468 (ngđ)

Vốn cố định: 1.673.198 (ngđ)

2.2.2 Lao động

Do sản phẩm của công ty mang tính chất đơn chiếc và theo mùa vụ nên yếu tố lao động dao động rất lớn Số lao động trong công ty được chia làm hai bộ phận Bộ phận thứ nhất là các cán bộ nghiệp vụ trong các phòng ban chức năng, các đội sản xuất và xây lắp, công nhân có tay nghề ở các tổ đội kỹ thuật Ngoài ra, còn có số lao động theo hợp đồng lao động Họ là những lao động phổ thông có tay nghề thấp Số lao động này công ty giao khoán về cho các đội tự đảm nhiệm, từ việc ký kết hợp đồng theo nhu cầu thực tế cho đến việc trả lương trên sự thoả thuận giữa người lao động và các đội trưởng

Trang 40

Cơ cấu chất lượng lao động hiện nay trong công ty được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Cơ cấu chất lượng lao động trong công ty

ĐVT: Người

Nguồn: Phòng tổ chức của công ty CPXL & VLXD KH

Nhận xét: Từ bảng cơ cấu chất lượng lao động hiện nay trong công ty, ta thấy số

lao động có trình độ Đại học tương đối cao, chiếm 7,25% trong tổng số lao động Chủ yếu tập trung trong khâu quản lý Điều này cho thấy công ty đã chú trọng tuyển chọn nhân viên có trình độ để hỗ trợ công ty phát triển Tuy nhiên, số lao động trình độ Cao đẳng và Trung cấp chiếm rất ít (3,38% đối với Cao đẳng và 5,07% đối với Trung cấp) Ngoài ra, lao động phổ thông lại chiếm đa số trong toàn công ty (chiếm tới 84,30%) Họ làm việc theo sự chỉ dẫn của cán bộ quản lý, phụ thuộc vào sự phân công của đội trưởng Với một cơ cấu như vậy, công ty cần nâng cao số lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp Bên cạnh đó, công ty cần có biện pháp để nâng cao tay nghề cho công nhân, tuyển chọn những lao động có trình độ, thay thế dần lao động phổ thông

2.2.3 Máy móc thiết bị, công nghệ

Máy móc thiết bị là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, quyết định

sự thành bại của doanh nghiệp Với công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá như

CƠ CẤU CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG Đại học Cao đẳng Trung cấp Phổ thông

Bộ phận

Tổng số lao

5 Đội thi công số 1

6 Đội thi công số 2

7 Đội thi công số 3

8 Đội thi công số 4

9 Đội thi công số 5

1,49 1,54 11,54 10,71

Tổng cộng 414 30 7,25 14 3,38 21 5,07 349 84,30

Ngày đăng: 20/03/2015, 09:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức quản lý (Trang 29)
Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất bê tông thương phẩm - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Sơ đồ 3 Quy trình công nghệ sản xuất bê tông thương phẩm (Trang 33)
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức sản xuất - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức sản xuất (Trang 33)
Sơ đồ 4: Quy trình tổ chức thi công công trình - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Sơ đồ 4 Quy trình tổ chức thi công công trình (Trang 34)
Bảng 3: Tình hình sản xuất bê tông của công ty qua 2 năm 2004 – 2005 - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 3 Tình hình sản xuất bê tông của công ty qua 2 năm 2004 – 2005 (Trang 42)
Bảng 6:Tình hình sử dụng lao động của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 6 Tình hình sử dụng lao động của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 54)
Bảng 7: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 7 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 59)
Bảng 9: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 9 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 64)
Bảng 10: Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 10 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 68)
Bảng 11: Sự biến động tài sản của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 11 Sự biến động tài sản của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 73)
Bảng 13: Kết cấu tài sản của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 13 Kết cấu tài sản của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 77)
Bảng 15: Khả năng thanh toán của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 15 Khả năng thanh toán của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 80)
Bảng 16: Các tỷ số hoạt động của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 16 Các tỷ số hoạt động của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 82)
Bảng 19: Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội của công ty trước và sau cổ phần hoá. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 19 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội của công ty trước và sau cổ phần hoá (Trang 86)
Bảng 20: Tổng kết tình hình đấu thầu của công ty qua 2 năm 2004 – 2005. - Đánh giá công tác cổ phần hóa và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và vật liệu xây dựng Khánh Hòa
Bảng 20 Tổng kết tình hình đấu thầu của công ty qua 2 năm 2004 – 2005 (Trang 89)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w