1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa

139 420 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa - DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước - DNTN: Doanh nghiệp tư nhân - ĐKKD: Đăng ký kinh doanh - EU European Union: Liên minh Châu Âu - FDI foreign direct investm

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau một quá trình học tập 4 năm tại trường Đại Học Nha Trang dưới sự dạy bảo của các thầy cô trong trường, đặc biệt là thầy cô giáo khoa Kinh Tế Các thầy

cô đã truyền đạt cho em những kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế để giúp em

có thể vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế và hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô, ban giám hiệu nhà trường, khoa Kinh Tế đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho em để em có thể hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt em xin cảm ơn Th.S Võ Văn Diễn là người trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em trong thời gian viết khóa luận tốt nghiệp

Ngoài ra em cũng chân thành cảm ơn tới các chuyên viên sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Khánh Hòa đã tham gia thảo luận nhằm tìm hiểu những nguyên nhân và giải pháp để đề tài em được hoàn thiện hơn

Do hạn chế về hiểu biết cũng như thời gian tìm hiểu có hạn vì vậy bài không tránh những hạn chế và thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý cũng như chỉ dẫn của các Thầy cô để em có thể hoàn thiện hơn

Cuối cùng em cũng biết ơn sâu sắc bạn bè và gia đình đã luôn động viên giúp

đỡ em trong suốt quá trình học tập và làm bài khóa luận này

Nha Trang, ngày 10 tháng 6 năm 2011

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC HÌNH ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Năng lực cạnh tranh 4

1.1.2 Năng lực cạnh tranh quốc gia 5

1.1.3 Năng lực cạnh tranh ngành 6

1.1.4 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 7

1.1.5 Năng lực cạnh tranh sản phẩm 8

1.1.6 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ 9

1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9

1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9

1.2.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 11

1.2.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ? 11

1.2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI 11

1.2.2.3 Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 13

1.2.2.4 Các chỉ số và cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 15

1.2.2.5 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 25

1.2.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 30

1.2.2.7 Ưu điểm và hạn chế của chỉ số PCI 35

Trang 3

1.2.2.8 Kinh nghiệm của 1 số địa phương về cải thiện chỉ số PCI nhằm

nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa 36

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA KHÁNH HÒA 41

2.1Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Khánh Hòa 41

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41

2.1.1.1 Vị trí địa lý 41

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 41

2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 43

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 46

2.1.2.1 Tăng trưởng và cơ cấu kinh tế 46

2.1.2.2 Cơ cấu lao động 47

2.1.2.3 Hệ thống Cơ sở hạ tầng 49

2.2 Thực trạng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa 53

2.2.1 Tổng quan biến động chỉ số PCI giai đoạn 2005-2011 53

2.2.2 Phân tích biến động các chỉ số PCI thành phần 56

2.2.2.1 Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường 56

2.2.2.2 Chỉ số Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 58

2.2.2.3 Chí số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 59

2.2.2.4 Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 62

2.2.2.5 Chỉ số Chi phí không chính thức 63

2.2.2.6 Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 65

2.2.2.7 Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 67

2.2.2.8 Chỉ số Đào tạo lao động 70

2.2.2.9 Chỉ số thiết chế pháp lý 71

2.2.3 So sánh chỉ số PCI của tỉnh Khánh Hòa với cả nước 73

2.2.4 So sánh chỉ số PCI với các tỉnh Duyên Hải Trung Bộ 75

Trang 4

2.2.5 So sánh chỉ số PCI của Khánh Hòa giai đoạn 2006-2011 với Bình

Định và Quảng Ninh 82

2.2.5.1 Lý do chọn Quảng Ninh và Bình Định để so sánh với Khánh Hòa 82

2.2.5.2 So sánh Chỉ số PCI 85

2.2.5.3 So sánh các chỉ số thành phần của chỉ số PCI 87

Tiểu kết chương 2 99

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA KHÁNH HÒA TRONG THỜI GIAN TỚI 100

3.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 100

3.1.1 Tác động của bối cảnh quốc tế 100

3.1.2 Các yếu tố phát triển nội sinh 101

3.2 Định hướng phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010-2020 102

3.2.1 Quan điểm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Khánh Hòa 102

3.2.2 Mục tiêu phát triển kinh tế 105

3.2.3 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế 105

3.3 Nguyên tắc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh 106

3.3.1 Cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh là mục tiêu cao nhất 106

3.3.2 Thực hiện theo thứ tự ưu tiên, có lộ trình và là công việc thường xuyên, lâu dài 107

3.3.3 Nâng cao nhận thức và gắn kết chỉ tiêu cải thiện môi trường kinh doanh, chỉ số năng lực cạnh tranh với các chương trình hoạt động của các sở, ban nghành và các huyện thị 107

3.3.4 Chú trọng các công tác quảng bá, cải thiện cảm nhận của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư đối với môi trường kinh doanh tại tỉnh 107

3.3.5 Có cơ chế giám sát và theo dõi quá trình thực hiện 108

3.4 Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Khánh Hòa 109

3.4.1 Những điểm làm chưa tốt của các chỉ số 109

3.4.2 Các giải pháp để cải thiện các chỉ số thành phần 110

Trang 5

3.4.2.1 Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường 110

3.4.2.2 Chỉ số Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 111

3.4.2.3 Chỉ số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 112

3.4.2.4 Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 113

3.4.2.5 Chỉ số Chi phí không chính thức 114

3.4.2.6 Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 114

3.4.2.7 Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 115

3.4.2.8 Chỉ số Đào tạo lao động 115

3.4.2.9 Chỉ số thiết chế pháp lý 116

3.5 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động của chính quyền tỉnh 117

3.5.1 Nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng 117

3.5.2 Phát triển và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng 118

3.5.3 Đổi mới nhận thức của cán bộ công chức phục vụ công dân 119

3.5.4 Công nghệ hóa hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công 120

Tiểu kết chương 3 123

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần 29

Bảng 2.1: Xếp hạng PCI Khánh Hòa so với cả nước 53

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu của chỉ số gia nhập thị trường năm 2010, 2011 57

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất năm 2010, 2011 59

Bảng 2.4: Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm 2010,2011 61

Bảng 2.5: Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước năm 2010, 2011 63

Bảng 2.6: Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2010, 2011 65

Bảng 2.7: Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh năm 2010, 2011 67

Bảng 2.8: Các chỉ tiêu của chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp năm 2010, 2011 69

Bảng 2.9: Các chỉ tiêu của chỉ số Đào tạo lao dộng năm 2010, 2011 71

Bảng 2.10: Các chỉ tiêu của chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2010, 2011 73

Bảng 2.11: Biến động chỉ số PCI của tỉnh Khánh Hòa so với cả nước 73

Bảng 2.12: Thứ hạng PCI của Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng 77

Bảng 2.13: Thay đổi điểm số PCI của Khánh hòa và các tỉnh trong vùng 78

Bảng 2.14: Điểm số và vị trí thứ hạng của Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ninh từ năm 2005 đến 2011 86

Bảng 3.1: Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Khánh Hòa đến 2010 – 2015 và 2020 106

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu lao động các nghành kinh tế của tỉnh Khánh Hòa năm

2006, 2010 48

Biểu đồ 2.2: Điểm số và vị trí của PCI Khánh Hòa từ năm 2005 đến 2011 54

Biểu đồ 2.3: Chi phí gia nhập thị trường của Khánh Hòa 2005-2011 56

Biểu đồ 2.4: Chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất của Khánh Hòa năm 2005-2011 58

Biểu đồ 2.5: Chỉ số Tính minh bạch và tiếp cận thông tin của Khánh Hòa 2005-2011 60

Biểu đồ 2.6: Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước của Khánh Hòa 2005-2011 62

Biểu đồ 2.7: Chỉ số Chi phí không chính thức của Khánh Hòa 2005-2011 64

Biểu đồ 2.8: Chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh của tỉnh Khánh Hòa 2005-2011 66

Biểu đồ 2.9: Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Khánh Hòa 2005-2011 68

Biểu đồ 2.10: Chỉ số Đào tạo lao động tỉnh Khánh Hòa 2005-2011 70

Biểu đồ 2.11:Chi số Thiết chế pháp lý của tỉnh Khánh Hòa 2005-2011 72

Biểu đồ 2.12:Chỉ số PCI thành phần của Khánh Hòa và giá trị trung vị qua các năm từ 2005 đến 2011 74

Biểu đồ 2.13: Điểm số PCI của Khánh Hòa và các tỉnh trong vùng Duyên hải Trung Bộ từ 2005 đến 2011 76

Biểu đồ 2.14: Cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh và Khánh Hòa năm 2020 84

Biểu đồ 2.15: Chỉ số PCI qua các năm từ 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 85

Biểu đồ 2.16: Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định-Quảng Ninh – Khánh Hòa 87

Biểu đồ 2.17: Chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 88

Trang 8

Biểu đồ 2.18: Chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin từ năm 2005 đến

2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 90 Biểu đồ 2.19: Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 91 Biểu đồ 2.20: Chỉ số chi phí không chính thức từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 92 Biểu đồ 2.21: Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh từ năm

2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 93 Biểu đồ 2.22: Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 95 Biểu đồ 2.23: Chỉ số Đào tạo lao động từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 96 Biểu đồ 2.24: Chỉ số Thiết chế pháp lý từ năm 2005 đến 2011 của Bình Định – Quảng Ninh – Khánh Hòa 97

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Biểu đồ “hình sao” thể hiện kết quả điều hành của từng tỉnh theo chỉ

số thành phần năm 2009 28

Hình 1.2: Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 30

Hình 2.1: Chỉ số thành phần của tỉnh Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (1) 80

Hinh 2.2: Chỉ số thành phần của tỉnh Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (2) 81

Hình 2.3: Chỉ số thành phần của Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (3) 82

Trang 10

- DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

- DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

- DNTN: Doanh nghiệp tư nhân

- ĐKKD: Đăng ký kinh doanh

- EU (European Union): Liên minh Châu Âu

- FDI (foreign direct investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- GCI (Global Compitiveness Index): Năng lực cạnh tranh toàn cầu

- GDP (Gross Dosmetic Product): Tổng sản phẩm nội địa

- GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- HĐH: Hiện đại hóa

- IMD (International Institute for Management Development): Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển

- KCN: Khu công nghiệp

- KTTT: Kinh tế thị trường

- NLCT: Năng lực cạnh tranh

- ODA ( official development assistance): Hỗ trợ phát triển nước ngoài

- PCI (Provincial Competitiveness Index): Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

- TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn

- UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 11

- USAID (United States Agency for International Development): Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ

- USD (United States Dollar): Đô la mỹ

- VCCI (Vietnam Chamber of Commerce and Industry): Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam

- VNCI (Vietnam Competitiveness Initiatives): Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam

- WEF (World Economic Forum): Diễn đàn Kinh tế Thế giới

- WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của nghiên cứu

Ngày này,ở hầu hết các nước trên thế giới sự phát triển vững mạnh của khu vực kinh tế tư nhân được xem có vai trò then chốt đối với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế Những năm gần đây Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân, hơn 136000 doanh nghiệp tư nhân được đăng ký chính thức kể từ khi ban hành luật doanh nghiệp năm 2000 [12] Sự lớn mạnh đó đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức ấn tượng Nhưng việc tăng trưởng này chủ yếu tập trung ở một số tỉnh thành.Vấn đề cạnh tranh cấp tỉnh đã xuất hiện song chưa thực sự rõ nét cho đến khi có sự phân cấp mạnh mẽ giữa trung ương và tỉnh, tạo quyền hành nhất định cho các tỉnh trong phát triển kinh tế

Sự phát triển kinh tế xã hội các tỉnh trong những năm qua cũng cho thấy chính quyền cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và địa phương Chính quyền đã đang và cái thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư ở địa phương Nhiều địa phương đã thành công trong việc thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho người dân Những thành công đó đã khiến các nhà nghiên cứu, các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm hơn dến vai trò cấp tỉnh

mà cụ thể hơn là cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam Năng lực cạnh tranh được tạo nên

từ tập hợp nhiều yếu tố khác nhau, tác động đa chiều, đan xen và ảnh hưởng qua lại rất phức tạp Hiện nay năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được đánh giá thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI – Provincial Competitiveness Index) của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi cả nước

Khánh Hòa là tỉnh nằm trong vùng kinh tế của miền Trung với những điều kiện tự nhiện và cơ sở hạ tầng thuận lợi Theo kết quả đánh giá xếp hạng thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy Khánh Hòa chưa phải địa phương có điểm số và thứ hạng

Trang 13

cao Năm 2009 Khánh Hòa đạt 58,66 điểm xếp hạng 30 trong số 64 tỉnh thành thuộc nhóm khá, nhưng năm 2010 Khánh Hòa chỉ đạt 56,75 và giảm 10 bậc nên đứng vị trí 40 trong số 64 tỉnh thành, đến năm 2011 Khánh hòa đạt 59,11 tăng hơn so với năm 2010 và vị trí cũng tăng xếp vị trí thứ 34 trong số 64 tỉnh thành Sự tăng giảm không ổn định qua các năm ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh chung của địa phương Xuất phát từ thực tiễn trên kết hợp với hiện nay chưa có một nghiên cứu nào tại Khánh Hòa thực hiện khào sát, đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.Vì thế việc chọn đề tài nghiên cứu “Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa” đáp ứng yêu cầu về mặt

lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý luận về năng nực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do VCCI thực hiện đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Khánh Hòa trong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chỉ tiêu, các chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ số PCI qua các năm của tỉnh Khánh Hòa và một số địa phương , các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, một số cơ quan chính quyền trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiến hành nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trên phạm vi toàn tỉnh Khánh Hòa, trên đó có mối liên hệ với một số tỉnh ở Việt Nam.Thời gian nghiên cứu từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 6 năm 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận, nghiên cứu này dự kiến sẽ áp dụng một số phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: chủ yếu hệ thống lại các lý thuyết liên quan đến năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh), các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Trang 14

- Phương pháp thu thập thông tin: tiến hành thu thập thông tin thứ cấp từ các

cơ quan quản lý nghành, từ website PCI, VCCI

5 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Hiện nay cơ sở lý thuyết về xếp hạng NLCT cấp tỉnh vẫn chưa được làm rõ tuy nhiên đề tài vận dụng những lý thuyết về cạnh tranh để làm rõ vấn đề từ đó áp dụng nó vào thực tế

Ý nghĩa thực tế: Từ kết quả đánh giá chỉ số chi phí gia nhập thị trường của tỉnh Khánh Hòa so sánh với một số địa phương khác đề tài đã khẳng định được những nỗ lực và chỉ ra những bất cập của chính quyền tỉnh Khánh Hòa trong cải thiện môi trường kinh doanh, đồng thời xác định rõ trọng tâm đổi mới hoạt động của chính quyền tỉnh trong thời gian tới Đồng thời đề tài này có thể làm tài liệu tham khảo và mở ra các hướng nghiên cứu mới cho những đề tài nghiên cứu sau này

6 Nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương: Trong đó chương 1 hệ thống lại cơ sở lý thuyết về cạnh tranh, NLCT và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tinh (PCI), đồng thời đưa ra một số kinh nghiệm của một vài địa phương để tham khảo Chương 2 lại đề cập chủ yếu đến thực trạng cụ thể là những điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội của Khánh Hòa, quan trọng hơn là tập trung phân tích thực trang cũng như đánh giá về chỉ số PCI của Khánh Hòa, đồng thời so sánh với tỉnh có điều kiện tương đồng và tình cạnh tranh với Khánh Hòa Chương 3 là chương đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao điểm

số của những chỉ số thành phần nói riêng và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nói chung, bên cạnh đó cũng đề xuất đồng thời có một số khuyến nghị nhằm hoàn thiên

tổ chức của tỉnh Khánh Hòa

Trang 15

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Năng lực cạnh tranh

Từ nhiều thập kỉ trước đây, thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” đã trở nên khá phổ biến đối với nhiều nhà kinh tế, hoạch định chính sách trên thế giới dướ nhiều quan điểm nghiên cứu bằng cách sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Nhưng ở Việt Nam thuật ngữ này mới thực sự được biết đến trong vài năm gần đây Khái niệm “Năng lực cạnh tranh” được sử dụng trong các nghiên cứu ở nhiều phạm vi, cấp độ khác nhau: toàn cấu, quốc gia, địa phương, doanh nghiệp, sản phẩm… Ở mỗi cấp độ khác nhau thì năng lực cạnh tranh được hiểu theo theo cách khác nhau

Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan đến quá trình cạnh tranh giữa các chủ thể được sử dụng song hành cùng với thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” (Competitiveness) như: “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và

“Tính cạnh tranh” (Competitivity) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng những thuật ngữ này Và trong thực tế, các thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”, “Sức cạnh tranh” và “Khả năng cạnh tranh” đều được dùng là

“Competitiveness”

Theo quan điểm của K.Marx, “cạnh tranh” là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt giữa các nhà TB nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “sự ganh đua, kinh địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Khái quát lại hệ thống lý thuyết về cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau, là một phạm trù rất rộng và mang tính lâu dài Khái

Trang 16

niệm cạnh tranh được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành hoặc quốc gia…điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra là ở quy mô doanh nghiệp hay quốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại

và tìm kiếm lợi nhuận cao thì đối với quốc gia là tạo việc làm nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân Tóm lại cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể cạnh tranh ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu của mình

Liên quan đến quá trình cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được hình thành thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia, các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu Từ khái niệm cạnh tranh có thể hiểu rộng ra NLCT

là tập hợp những điều kiện vốn có hoặc khả năng đủ để giành thắng lợi, tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, DN hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp

độ : quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất : Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu, phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp này đều do một

số Giáo sư đại học Havard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng

1.1.2 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian”

Trang 17

Còn theo tác giả Lương Gia Cường (2003, Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nhà xuất bản Giao thông vận tải) thì năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế

xã hội, nâng cao đời sống của người dân”

Theo đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường

Ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Đó là sự hiện diện của các ngành công nghiệp tạo nên những ưu việt trong các ngành công nghiệp hiệu quả hơn, tiến nhanh đến chi phí sản xuất hiệu quả Là những nghành công nhiệp liên quan mang tính cạnh tranh quốc tế có thể phối hợp và chia sẻ các hoạt động trong chuỗi mắc xích khi nó cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành Trong cạnh tranh ngành chủ thể cạnh tranh là ngành Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn các ngành khác trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế

Có rất nhiều cách để phân tích năng lực cạnh tranh của nghành, tác giả M.E.Porter (1980) đưa ra cách phân tích năng lực cạnh tranh dựa vào phân tích cấu trúc trong quản trị chiến lược Theo đó năng lực cạnh tranh ngành bị ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố :điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển

Trang 18

khoa học - công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế- xã hội

1.1.4 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, tạo thu nhập cao và phát triển bền vững

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là yếu tố nội lực của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí

về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối thủ của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh [4]

Thực tế cho thấy, không có một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy

đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và hạn chế về mặt khác Nhưng không phải vì thế mà các doanh nghiệp không thể tạo dựng được lợi thế cạnh tranh cho riêng mình, có thể thông qua việc tạo ra sự khác biệt sản phẩm và dịch vụ, thỏa mãn được thị hiếu khách hàng bằng những cách thức mà đối thủ cạnh tranh không thể thực hiện hoặc bằng cách đi trước đón đầu, tạo ra nhu cầu mới cho khách hàng, tận dụng những nguồn lực có sẵn để tăng giá trị cho khách hàng đồng thời hạ thấp chi phí và giảm giá cả

Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực

tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong còn yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

Trang 19

Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm- dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định lượng và định tính Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở các ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu

tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm : giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin và xúc tiến thương mại; năng lưc nghiên cứu và phát triển, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần, vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp

Một doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch

vụ nên người ta còn phân biệt NLCT của DN với NLCT của sản phẩm dịch vụ

1.1.5 Năng lực cạnh tranh sản phẩm

Trong thực tế việc đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta chỉ mới xem xét trên phương diện định tính Điều này không tránh khỏi những cảm tính trong đánh giá, do vậy không đảm bảo tính chính xác Kết quả của việc đánh giá không chính xác có thể ảnh hưởng không tốt đến các quyết định quản lý liên quan đến sản phẩm của công ty Bởi vậy, việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng vào việc phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là hết sức cần thiết Trong việc đo lường sức cạnh tranh cho một sản phẩm người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm và bao gói, doanh thu và sản phẩm, thị phần của sản phẩm, tổ chức phân phối sản phẩm, khả năng cung ứng của sản phẩm

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được tạo ra từ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Sẽ không có NLCT của sản phẩm cao trong khi NLCT của bản thân

Trang 20

doanh nghiệp thấp Điều này cho thấy mối quan hệ giữa NLCT DN ảnh hưởng cơ bản và lâu dài đến NLCT sản phẩm

1.1.6 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ

Khi nói đến năng lực cạnh tranh, các nhà nghiên cứu thường xem xét dưới các cấp độ như: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ ngành, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ Giữa các cấp độ này đều

có mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau rất mật thiết, tạo điều kiện cho nhau hay chế định nhau, phụ thuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể tạo cơ hội thuận lợi mở đường cho doanh nghiệp khai thác điểm mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngược lại, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính bền vững của năng lực cạnh tranh quốc gia Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao Tương tự, quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng vậy Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực của các sản phẩm/ dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh

1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

1.2.1 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi địa phương Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu

tư phát triển ở đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền địa phương Khả năng của một địa phương cấp tỉnh trong thu hút các DN, các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các DN, nhà đầu tư hay

đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 21

tỉnh đó

Cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

và cũng là cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia, cạnh tranh giữa các tỉnh (hay vùng) có mức độ được hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó sẵn có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng con người, cơ sở

hạ tầng, chính sách thu hút đầu tư Đan xen với sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển dựa trên lợi thế có sẵn của nhau Vì thế việc liên kết hợp tác giữa các địa phương nhằm xoá bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ trợ cho nhau để tăng cường năng lực cạnh tranh của các tỉnh

Như vậy, thực chất NLCT cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vai trò ấy được xác định trên các mặt sau: (1) Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch,

kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách phát triển kinh tế; (2) Tạo môi trường pháp lý và kinh tế cho các DN hoạt động và cạnh tranh lành mạnh; (3) Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính công; (4) Kiểm tra giám sát các hoạt động kinh tế theo pháp luật, chính sách đã đề ra

Để nâng cao NLCT cấp tỉnh, cả nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất (hay nguồn lực mềm) đều rất quan trọng Trong khi các nguồn lực vật chất dễ nhận biết, lượng hoá thì nguồn lực phi vật chất không phải lúc nào và ai cũng nhìn nhận

ra được và nhìn nhận như nhau Vì thế, khi nói đến NLCT và tạo dựng NLCT cho địa phương mình, mỗi tỉnh nhìn nhận và cách làm khác nhau Trong tư duy cạnh tranh cũ, có tỉnh đã “xé rào” để thu hút các nhà đầu tư, DN Trong tư duy “cạnh

Trang 22

tranh phát triển bền vững”, NLCT của tỉnh được đánh giá chủ yếu trong “con mắt” của nhà đầu tư và DN mà không chỉ dưới góc nhìn chính quyền tỉnh Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khuôn khổ luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế

1.2.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

1.2.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ?

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay gọi tắt là PCI (Provinvial Competitiveness Index) là chỉ số dùng để đo lường và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh để thúc đẩy phát triển của vực kinh tế tư nhân thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp các trên địa bàn các tỉnh PCI được phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chính thức

từ năm 2005 Tuy nhiên, việc đánh giá và xếp hạng về PCI cho tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước chỉ được tiến hành hàng năm từ năm 2006

1.2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI

Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu trước đây của Qũy châu Á và VCCI Đó là nghiên cứu “Những thực tiễn tốt trong điều hành kinh

tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 - 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển của tỉnh, thành đó Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó

đã trở thành cơ sở khởi động một dự án nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn, nghiên cứu về sự khác biệt giữa các tỉnh, thành Dự án nghiên cứu thứ hai do VNCI đảm nhận VNCI là dự án phát triển kinh tế do Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam (PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa VNCI và VCCI Chỉ số PCI được xây dựng nhằm mục đích lý giải nguyên nhân tại sao trong cùng một nước, một số tỉnh, thành có sự phát triển năng động của khu vự tư nhân, tạo ra việc làm và tăng trưởng kinh tế…tốt hơn các tỉnh, thành khác Bằng cách thực hiện điều tra mới đối với DN

để tìm hiểu đánh giá của các DN đối với môi trường kinh doanh ở tỉnh, thành; kết

Trang 23

hợp dữ liệu điều tra với các dữ liệu khác thu thập được từ các nguồn chính thức về các địa phương

Năm 2005, chỉ số PCI được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và thu hút được sự quan tâm từ cộng đồng các DN, các nhà tài trợ cũng như chính quyền địa phương, đồng thời cũng ghi nhận nhiều đóng góp ý kiến từ các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước Theo Báo cáo chi tiết chỉ số PCI năm 2005

do VCCI công bố, chỉ số PCI được cấu thành từ 9 chỉ số thành phần, bao gồm: (1) Chi phí gia nhập thị trường, (2) Tiếp cận đất đai, (3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, (4) Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, (5) Chi phí không chính thức, (6) Thực hiện chính sách của Nhà nước, (7) Ưu đãi đối với DNNN, (8) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, (9) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Đến năm 2006, đã có sự thay đổi trong các chỉ số cấu thành nên chỉ số tổng hợp PCI Chỉ số thực hiện chính sách của Nhà nước được thay thế bằng hai chỉ số mới là: Đào tạo lao động và Thiết chế pháp lý, hình thành nên 10 chỉ số thành phần Nguyên nhân của sự thay đổi này:

 Đào tạo lao động: trong nhiều năm qua, các DN liên tục phàn nàn về năng lực yếu kém của lực lượng lao động Các DN gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Chính

vì vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động địa phương sẽ có ý nghĩa cự kỳ quan trọng đối với môi trường kinh doanh trên địa bàn

 Thiết chế pháp lý: việc phát triển pháp luật và giải quyết các tranh chấp một cách chính quy luôn là một mắc xích trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở Việt Nam Tăng cường thể chế cho các cơ quan tư pháp và tòa án địa phương trở nên cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO Ngoài ra, có rất ít DN thực sự hiểu biết một cách thấu đáo về các trình tự, thủ tục pháp lý để có thể phân biệt rạch ròi, chi tiết các thiết chế pháp lý khác nhau

Trang 24

Đến năm 2009, khi quá trình cổ phần hóa các DNNN diễn ra một cách mạnh

mẽ, ảnh hưởng của các DNNN không còn tác động mạnh đến khu vực kinh tế tư nhân, nhóm nghiên cứu của VCCI đã bỏ chỉ số Ưu đãi đối với DNNN và đổi tên chỉ

số Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân thành Dịch vụ hỗ trợ DN Thông qua việc đối thoại với các lãnh đạo tỉnh, doanh nghiệp, đại diện các hiệp hội và các chuyên gia nghiên cứu cho thấy nên bổ sung chỉ số này vào các chỉ số thành phần Tất cả các chuyên gia đều đồng tình với quan điểm các dịch vụ hỗ trợ DN có vai trò then chốt để các DN thành công trong hoạt động kinh doanh Tại thời điểm này, những đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư nhân như: các công ty tư vấn, công ty kế toán, tư vấn chiến lược, và các luật sư vốn vẫn còn “xa lạ” đối với số đông các DN Việt Nam và cũng chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Trong khi đó, các DN lại có nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ này nhưng lại thiếu

đi những dịch vụ mang tính chuyên nghiệp và đáng tin cậy

Cho đến nay, VCCI đã công bố thường niên Báo cáo chi tiết chỉ số PCI (từ năm 2005 - 2011), các Báo cáo này đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cải thiện môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành trên cả nước; giúp cho các chính quyền địa phương nhận biết được đâu là điểm mạnh và điểm yếu của địa phương mình, từ đó đề ra hướng giải quyết nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, đưa kinh tế địa phương phát triển

1.2.2.3 Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

Kể từ khi công bố, PCI ngày càng được sử dụng như một công cụ quan trọng

để đo lường và đánh giá công tác quản lý, điều hành kinh tế của chính quyền 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam dựa trên cảm nhận của khu vực kinh tế tư nhân Những tỉnh

có công tác điều hành tốt hơn, thì sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có và đạt được mức phúc lợi từ kinh tế cao hơn

Trên thực tế, kết quả điều tra PCI đã được nhiều tổ chức và cá nhân đón nhận, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn và đời sống:

- Ở góc độ chính quyền địa phương: PCI đã và đang được sử dụng để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của địa phương mình, tìm

Trang 25

hiểu và học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương tốt hơn, giám sát việc thực hiện công tác quán lý điều hành của bộ máy hành chính, từ đó đưa ra chính sách phù hợp nhằm cải thiện chất lượng điều hành kinh tế PCI còn là thước đo để đánh giá, so sánh các nỗ lực và tiến bộ của từng tình so với các tỉnh, thành khác Các nhà lãnh đạo cũng có thể sử dụng dữ liệu PCI để đánh giá các thay đổi chính sách và đo lường trực tiếp tác động các chính sách này Điều tra PCI cũng cung cấp các thông tin quan trọng về tác động của những sáng kiến cải cách ở cấp Trung ương và địa phương, trong đó có Đề án Đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản

lý nhà nước (Đề án 30) do Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo là nỗ lực cải cách thể chế mang tính đột phá tại Việt Nam giúp đẩy nhanh quá trình đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Chỉ số PCI cũng góp phần hỗ trợ quá trình phân cấp quản lý hiện nay bằng việc cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách những thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách từ cấp trung ương xuống cấp địa phương, qua đó giúp chính quyền tỉnh nâng cao năng lực và hiệu quả thực hiện, và cung ứng các dịch vụ công tốt hơn Chẳng hạn như nhiều tỉnh đã cải thiện tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin và văn bản pháp luật nhằm tuân thủ các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ

- Ở góc độ doanh nghệp: Vai trò điều hành kinh tế của chính quyền trở nên đặc biệt quan trọng đối với những quyết định của DN DN bày tỏ quan ngại về các triển vọng trong tương lai vì rất khó dự đoán các sự kiện kinh tế khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách trong nước và thậm chí cả những quyết định chính sách được đưa ra Trong bối cảnh này việc đảm bảo các chính sách và quy định, minh bạch và công bằng là hết sức cần thiết, giúp DN dự báo chính xác hơn về triển vọng kinh doanh trong tương lai Chẳng hạn, khi được tiếp cận đầy đủ với thông tin về những thay đổi chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng,

kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, các DN sẽ dự báo tốt hơn về triển vọng đầu tư của họ trong tương lai DN cũng sẽ mạnh dạn đầu tư hơn nếu thấy yên tâm về triển vọng kinh doanh dài hạn Và ngược lại, khi DN lo lắng về những thay đổi bất ngờ trong

Trang 26

quy định, cơ sở hạ tầng, hay đất đai đồng thời doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao công nghệ và mở rộng hoạt động do thiếu nhân sự thì DN sẽ do

dự trước các dự án quy mô lớn, và chỉ đầu tư cầm chừng để thăm dò thị trường

- Đối với cộng đồng các nhà tài trờ quốc tế, gồm các tổ chức song và đa phương: các chỉ tiêu cụ thể trong kết quả PCI đã được sử dụng như là một cơ sở để theo dõi và đánh giá các dự án phát triển kinh tế tại địa phương đặt dự án

- Dữ liệu điều tra PCI cũng được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về tình hình hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, các nhân tố quyết định đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài, tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, chính sách công nghiệp, xóa đói giảm nghèo, kể cả vai trò của Quốc hội trong hoạch định chính sách

1.2.2.4 Các chỉ số và cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Có nhiều cách để phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cấp tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (như điều kiện tự nhiên – địa lý, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường…) và nhóm yếu tố nguồn lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của chính quyền cấp tỉnh Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tố căn bản, quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng rất khó hoặc thậm chí không đạt được trong thời gian ngắn Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết định đến sự hấp dẫn đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy, NLCT cấp tỉnh được xác định theo các tiêu chí xác định khả năng của nguồn lực mềm và chỉ số NLCT cấp tỉnh hiện nay được cấu thành từ hệ thống các chỉ số thành phần sau:

(1) Chi phí gia nhập thị trường: là chỉ số thành phần xác định về thời gian

hoàn thành các thủ tục và giấy tờ cần thiết để DN chính thức đi vào hoạt động Chỉ

số này nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các DN mới thành lập giữa các tỉnh với nhau Được đo lường bởi các chỉ tiêu cụ thể như sau:

Trang 27

- Thời gian đăng ký kinh doanh – số ngày Theo quy trình một “cửa liên thông” quy định tại Thông tư liên bộ số 05 - 08, thời gian để các sở KHĐT hoàn thành các thủ tục đăng ký kinh doanh không quá 5 ngày trên thực tế có nhiều tỉnh lên tới 15 ngày

- Thời gian đăng ký kinh doanh bổ sung - số ngày (Giá trị trung vị): Vì nhiều

lí do khác nhau, doanh nghiệp đã đăng kí có thể phải đăng kí bổ sung Lý do có thể

do chủ doanh nghiệp muốn thay đổi hình thức pháp lí của doanh nghiệp, tăng vốn đăng kí hay thay đổi ngành nghề sản xuất

- Số giấy phép đăng kí và giấy phép cần thiết để doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động Chỉ cần một loại giấy phép gặp khó khăn thôi cũng có thể là một gánh nặng cho doanh nghiệp Vì doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và đi lại nhiều lần mới có được giấy phép đó Luật Doanh nghiệp tạo nền tảng cho việc hủy

bỏ hàng trăm yêu cầu cấp phép không cần thiết Tiếp sau việc ban hành Luật Doanh nghiệp, một loạt Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định của Chính phủ

về việc bãi bỏ nhiều loại giấy phép Tuy nhiên đáng tiếc là nhiều Bộ có liên quan và

Ủy ban Nhân dân tỉnh đã tìm cách tạo ra nhiều giấy phép hơn, khiến cho thời gian gia nhập thị trường của doanh nghiệp lâu hơn và tốn nhiều chi phí hơn Chỉ số PCI

cố gắng đo lường sự khác nhau về giấy phép trong cả nướcThời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh Doanh nghiệp chỉ chờ đợi 1 tháng sẽ được giải quyết xong hồ sơ

- % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh Doanh nghiệp có thể phải chờ đợi tới cả một quý tài chính mới được giải quyết xong hồ sơ và thủ tục cần thiết cho hoạt động kinh doanh

(2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: Là chỉ số ghi nhận

những khó khăn tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh không những doanh nghiệp mất đi cơ hội đầu tư mà còn hạn chế khả năng tiếp cận nguồn tín dụng, vì doanh nghiệp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp tại các ngân hàng Mặt khác, liệu doanh nghiệp có cảm thấy yên tâm về tính ổn định của mặt bằng sản

Trang 28

xuất, họ sẽ đầu tư lâu dài trên mặt bằng đó Còn nếu doanh nghiệp cho rằng có khả năng đất cho thuê bị đòi lại hoặc bị chèn ép, thay đổi những điều khoản quan trọng trong hợp đồng thuê đất, họ sẽ điều chỉnh lập dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh ngắn hạn Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp không thể tìm được đất cho mình nên phải thuê lại mặt bằng từ các DNNN hoặc các cơ quan nhà nước ở tỉnh Do đó doanh nghiệp bị hạn chế nhiều khi muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì thường phải tốn kém nhiều chi phí giao dịch mới Được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

- % doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo pháp luật của Việt Nam, đất đai thuộc sở hửu toàn dân Kể từ năm 1993, các cá nhân và doanh nghiệp được cấp quyền sở hữu đất thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) Giấy chứng nhận này công nhận về mặt pháp lí quyền sử dụng đất lâu dài của chủ sở hữu đối với phần đất được giao (ít nhất là 20 năm và nhiều nhất

là 70 năm) và năm quyền đi kèm là quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, thế chấp và cho thuê đất đai Trong đó, đặc biệt quan trọng là quyền được dùng GCNQSD để làm thế chấp khi vay vốn ngân hàng Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm số doanh nghiệp tư nhân có GCNQSDĐ lâu dài và ổn định khác nhau rất nhiều giữa các tỉnh Ở nhiều tỉnh, rất nhiều doanh nghiệp được hưởng các quyền sử dụng đất không chính thức thông qua thừa kế hay qua chuyển nhượng “chui” không hợp pháp

- % diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSD (theo dữ liệu của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường) Dữ liệu này thuộc dạng dữ liệu cứng nhằm đánh giá quan điểm của doanh nghiệp về mức độ tiếp cận đất đai Các loại đất

ở đây bao gồm: đất nông nghiệp, đất hộ gia đình, đất sản xuất, đất thành thị, đất sử dụng cho mục đích quân sự và tôn giáo

- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp) Sau khi nhà đầu tư có giấy chứng nhận quyền sử hữu DĐ, yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ cam kết, quy mô đầu tư của doanh nghiệp chính là việc nhà đầu

tư lo ngại về khả năng mặt bằng sản xuất của họ bị thu hồi hoặc buộc phải di dời

- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% luôn luôn hoặc thường xuyên) nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sữ được bồi thường thỏa

Trang 29

đáng việc cơ quan chức năng địa phương đưa ra những công bố khi cần thiết sẽ giảm bớt phần nào lo lắng về rủi ro bị thu hồi mặt bằng của doanh nghiệp Suy cho cùng các doanh nghiệp đều có nhu cầu về: một cơ sở hạ tầng tốt hơn, mở rộng mặt bằng hiện có, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phát triển, dẫn đến sự thay đổi sở hữu của một diện tích lớn cho việc xây dựng và hình thành khu công nghiệp, chính phủ cũng phải sử dụng đất để nâng cấp cải thiện các dịch vụ công tốt hơn Trong những trường hợp đó, vấn đề cần quan tâm là liệu những cá nhân hoặc doanh nghiệp bị buộc phải chuyển nhượng đất đai có được đền bù thiệt hại xứng đáng với giá trị của lô đất không Đó là những vấn đề không đơn giản

- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị trường (% đồng ý) do sự quan liêu khi định giá đất và sự lên xuống thất thường của giá đất trên thị trường mỗi ngày Ngoài ra một số doanh nghiệp còn e ngại đó là sự khác biệt giữa giá trị của lô đất trong tương lai so với giá trị thị trường tại thời điểm hiện tại Một khi cơ sở hạ tầng mới được xây dựng, quy hoạch, bố trí sử dụng hợp lí,

cá lô đất sẽ bị đẩy giá đất lên cao hơn rất nhiều trong tương lai, nhưng giá trị thị trường hiện thời chỉ phản ánh điều kiện, hiện trạng của lô đất tại thời điểm đó

- DN không gặp cản trở về mặt bằng kinh doanh Chỉ tiêu này đo lường khả năng các dự án đầu tư hủy bỏ do không có mặt bằng , doanh nghiệp đã bỏ lỡ mất cơ hội mở rộng mặt bằng sản xuất vì các vấn đề khó khăn tiếp cận đất đai

(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: là chỉ số đo lường khả năng tiếp

cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định

đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp Nó được đo lường bởi các chỉ tiêu sau:

- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch: Doanh nghiệp đánh giá khả năng tiếp cận các văn bản như Ngân sách tỉnh, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm,

Trang 30

10 năm, hàng năm, Chương trình hành động phát triển khu vực kinh tế tư nhân, bản

đồ quy hoạch đất

- Tính minh bạch của các tài liệu pháp lí: Doanh nghiệp đánh giá khả năng tiếp cận các quyết định và nghị quyết của UBND tỉnh, mẫu hồ sơ đăng kí và sử dụng đất, thay đổi các thông tin về các chính sách thuế

- Cần có "mối quan hệ" để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh (% quan trọng) Chỉ tiêu này thể hiện phần trăm số doanh nghiệp cho rằng để tiếp cận được với các tài liệu trên, phải có mối quan hệ cá nhân mới nhận được những tài liệu trên, việc phải có mối quan hệ với cơ quan Nhà nước ở tỉnh là quan trọng hoặc thậm chí rất quan trọng

- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh (% đồng ý) Chỉ tiêu này đánh giá mức độ nhất quán trong áp dụng chính sách thuế đối với các doanh nghiệp ở trong cùng một tỉnh Mặc dù thương lượng tiền thuế là tình trạng rất phổ biến đối với các hộ kinh doanh cá thể nhưng đối với các doanh nghiệp tư nhân, họ có mã số thuế và định kì nộp thuế trên cơ sở hóa đơn giá trị gia tăng

- Khả năng tiên liệu việc thực thi pháp luật của tỉnh (% Luôn luôn hoặc Thường xuyên) Điều này cho thấy vai trò quan trọng của lãnh đạo của tỉnh đối với từng địa phương, giúp cho doanh nghiệp có thể nắm bắt được tình hình thực thi pháp luật của tỉnh để từ đó có thể làm theo

- Độ mở của trang web tỉnh Yếu tố minh bạch kinh doanh là yếu tố then chốt đối với thành công của doanh nghiệp Khi được tiếp cận đầy đủ với thông tin về những thay đổi chính sách, phát triển cơ sở hạ tầng, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, các doanh nghiệp sẽ dự báo tốt hơn về triển vọng đầu tư của họ trong tương lai Doanh nghiệp cũng sẽ mạnh dạn đầu tư hơn nếu thấy yên tâm về triển vọng kinh doanh dài hạn Và ngược lại, khi doanh nghiệp lo lắng về những thay đổi bất ngờ trong quy định, cơ sở hạ tầng, hay đất đai, doanh nghiệp sẽ do dự cầm chừng để thăm dò thị trường

- Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản biện các chính sách, quy định của tỉnh (% Quan trọng hoặc Rất quan trọng) Các

Trang 31

hiệp hội này giúp đỡ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt động, giúp cho các doanh nghiệp có thể yên tâm hoạt động

(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: là chỉ số

dùng để đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Sau khi luật doanh nghiệp ra đời nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn cho rằng hoạt động thanh tra và kiểm tra vẫn đang là gánh nặng đối với doanh nghiệp Các cơ quan nhà nước ở địa phương vẫn tiến hành thanh tra kiểm tra quá nhiều, và thời gian thanh tra và kiểm tra thường kéo dài Ở một mức độ nào đó hoạt động thanh tra

và kiểm tra vẫn là cần thiết Vấn đề đặt ra là các cơ quan quản lí chức năng cần hoàn thành trách nhiệm đó song không được có những hành vi can thiệp gây tốn kém cho doanh nghiệp.Nó được đo lường bởi các chỉ tiêu:

- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước

Số lần thanh tra (tất cả các cơ quan)

- Số giờ làm việc với thanh tra thuế

- Các cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả hơn (% Đồng ý)

- Số lần doanh nghiệp phải đi lại để lấy các con dấu và chữ ký cần thiết giảm (% Đồng ý)

- Thủ tục giấy tờ giảm (% Đồng ý)

- Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục giảm (% Đồng ý)

- Không có bất kỳ sự thay đổi nào sau khi thực hiện CCHCC (% Có)

(5) Chi phí không chính thức: là chỉ tiêu dùng để đo lường các khoản chi

phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

Trang 32

- % DN cho rằng các DN cùng ngành trả chi phí không chính thức Chỉ tiêu này được thiết kế với mục đích để doanh nghiệp có thể nhận định về tình trạng này đối với doanh nghiệp cùng ngành nói chung chứ không phải thông tin về hành vi đưa và nhận hối lộ của chính doanh nghiệp

- % DN phải chi hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức Chỉ số này phân Phần trăm doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp cùng ngành phải trả các chi phí không chính thức

- Chính quyền tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương để trục lợi (% Đồng ý) này là một chỉ tiêu mới được cập nhật xác định mức độ tham nhũng Tham nhũng, hối lộ là một vấn nạn, những rào cản do diễn giải sai lệch chính sách nhằm chèn ép doanh nghiệp phải đưa hối lộ của các nhân viên cũng không kém phần nguy hại

- Công việc được giải quyết sau khi đã trả chi phí không chính thức (% thường xuyên) rất nhiều doanh nghiệp tin rằng các khoản chi phí không chính thức này cũng có lợi với điều kiện là nếu mất tiền tiêu cực phí thì doanh nghiệp được kết quả như ý muốn Có rất nhiều doanh nghiệp tự nguyện đưa thêm tiền bồi dưỡng cho các nhân viên nhà nước sau khi đã đóng đủ các khoản phí và lệ phí như quy định trên dơ sở tin tưởng rằng họ sẽ được đền bù xứng đáng

- DN trả hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước (% Đúng) Các doanh nghiệp thường muốn có các hoạt đồng từ các cơ quan nhà nước nên thường hay tìm cách có được các hợp đồng này từ các cán bộ làm trong nhà trường

và họ có thể ăn chia hoa hồng với nhau

- DN chi trả chi phí không chính thức Nhằm tìm hiểu doanh nghiệp có trả các chi phí không chính thức hay không

(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: là chỉ số đo lường

lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp Nó được

đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

Trang 33

- Cán bộ tỉnh nắm vững các chính sách, quy định hiện hành trong khung khổ pháp luật để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho DN (% Đồng ý): Chỉ tiêu này đánh giá khả năng này áp dụng các quy định pháp luật hiện hành của lãnh đạo tỉnh

- Tỉnh sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp tư nhân (% Đồng ý) Thước đo này đánh giá chức năng tìm kiếm những cơ hội hay “khoảng trống trong khuôn khổ pháp luật hiện hành của lãnh đạo tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp”

- Cảm nhận của DN về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân (% Tích cực hoặc Rất tích cực)

(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp: Chỉ số này dùng để đo lường các dịch vụ

của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin

tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm trước hoặc đăng ký tổ chức cho năm nay

- Số lượng các nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân trong tỉnh

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh trên (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tư vấn

về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

Trang 34

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- DN đã sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- DN đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

Chi tiết một số chỉ tiêu sau:

- Doanh nghiệp đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ: Chỉ tiêu này bao gồm các biện pháp quảng bá, giới thiệu giúp nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về tính hiệu quả của những công nghệ mới trong lĩnh vực ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt động, cũng như đào tạo kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ trực tuyến do chính quyền địa phương cung cấp

- Hỗ trợ tìm kiếm đối tác thông qua các hoạt độngnhư giới thiệu các xuất khẩu quốc tế cho các doanh nghiệp ở địa phương, xác định các nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào và dịch vụ kinh doanh cho những doanh nghiệp ở địa phương không có khả năng tự tìm kiếm đối tác

(8) Đào tạo lao động: Các doanh nghiệp liên tục phàn nàn về năng lực yếu

kém của lực lượng lao động Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Trong khi đó hàng năm nhu cầu cần giải quyết việc làm của nước ta lên tới hơn 1 triệu

Trang 35

người Hai sự việc mâu thuẫn này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra công ăn việc làm mới, thu hút lực lượng lao động trẻ, tuy nhiên các DNTN không sẵn sàng tiếp nhận những lao động phổ thông mà ngược lại chỉ nhận những lao động có tay nghề, có khả năng đóng góp vào công việc kinh doanh, sản xuất của họ Chính vì vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động địa phương sẽ có ý nghiã cực kỳ quan trọng đối với môi trường kinh doanh trên địa bàn Có nhiều doanh nghiệp đã tự đầu tư cho việc đào tạo đội ngũ nhân viên của mình Vấn đề là, khi những người lao động sau một thời gian đào tạo, lại bị các công ty khác lôi kéo Chính vì vậy các doanh nghiệp thường ngại đầu tư cho việc đào tạo lao động của mình Chỉ số này dùng để

đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục phổ thông (% Tốt hoặc Rất tốt)

-Dịch vụ do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp: Dạy nghề (% Tốt hoặc Rất tốt)

- DN đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm (%)

- DN đã sử dụng dịch vụ giới thiệu việc làm nói trên của nhà cung cấp dịch

vụ tư nhân (%)

- DN có ý định sẽ sử dụng lại nhà cung cấp dịch vụ nói trên cho dịch vụ giới thiệu việc làm (%)

- % tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động

- % tổng chi phí kinh doanh cho tuyển dụng lao động

- % doanh nghiệp hài lòng với chất lượng lao động

- Số lượng học viên tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo

- Số lao động tốt nghiệp THCS (% tổng lực lượng lao động)

Chi tiết một số chỉ tiêu:

Trang 36

- Dịch vụ do các cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp giáo dục đào tạo Chỉ tiêu này là thước đo ban đầu về cảm nhận của doanh nghiệp đối với chất lượng giáo dục đào tạo của tỉnh Có rất nhiều lao động được tuyển dụng tôt nghiệp từ các chương trình giáo dục phổ thông nói chung chứ không phải từ các trường dậy nghề

- Dịch vụ do các cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp : dạy nghề

(9) Thiết chế pháp lý: Chỉ số này dùng để đo lường lòng tin của doanh

nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chế pháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương Nó được đo lường bởi hệ thống các chỉ tiêu sau:

- Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của các công chức (% thường xuyên)

- Doanh nghiệp tin tưởng và khả năng bảo vệ của pháp luật (bản quyền hoặc thực thi hợp đồng (% Đồng ý)

- Số lượng vụ việc tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Tòa án kinh tế cấp tỉnh thụ lý trên 100 doanh nghiệp

- Tỉ lệ % nguyên đơn không thuộc nhà nước trên tổng số nguyên đơn tại Toàn án kinh tế tỉnh

- Doanh nghiệp sử dụng tòa án hoặc các thiết chế pháp lý khác để giải quyết tranh chấp (%)

- Số tháng trung vị để giải quyết vụ kiện tại tòa

- % Chi phí (chính thức và không chính thức) để giải quyết tranh chấp trong tổng giá trị tranh chấp

1.2.2.5 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Để xây dựng chỉ số PCI và xếp hạng chỉ số PCI được tiến hành theo ba bước

đó là: (1) Thu thập dữ liệu; (2) Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần; (3) Xây dựng chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) Cụ thể phương pháp như sau:

Bước 1: Thu thập số liệu:

Quá trình thu thập số liệu PCI gồm có: thứ nhất, các chuyên gia nghiên cứu

Trang 37

tiến hành điều tra các doanh nghiệp trong nước đảm bảo mẫu đại diện đủ lớn, có thể đại diện cho tổng thể mẫu các doanh nghiệp để có thể thu thập thông tin đánh giá của các doanh nghiệp Thứ hai, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các nguồn số liệu chính thống đã được công bố ở địa phương Mục tiêu là kết hợp các số liệu khách quan ( số liệu “cứng”) và số liệu chủ quan ( số liệu “mềm”: thể hiện cảm nhận đánh giá của các doanh nghiệp được điều tra), để có thể cho những kết quả đáng tin cậy hơn so với chỉ sử dụng một trong hai số liệu trên

Số liệu “mềm”: Để có thể điều tra và thu thập số liệu “mềm”, các chuyên

gia sử dụng chọn mẫu ra sao? Công cụ thu thập và xử lý như thế nào? Và phương pháp điều tra cần tiến hành như thế nào?

- Chọn mẫu: nhóm nghiên cứu áp dụng kĩ thuật chọn mẫu là lập danh sách doanh nghiệp điều tra từ danh sách các doanh nghiệp nộp thuế của cơ quan thuế, tiến hành phân tổ điều tra Do không có điều kiện điều tra toàn bộ các doanh nghiệp

ở địa bàn mỗi tỉnh trên cả nước, nên mẫu điều tra theo hình thức phân tổ được lập ra

để đại diện cho toàn bộ các doanh nghiệp Để tiến hành chọn mẫu, danh sách doanh nghiệp được chia thành 24 nhóm, theo ba tiêu chí: (1)Loại hình của doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân (2)Ngành nghề của doanh nghiệp: Công nghệ/ sản xuất, dịch vụ/ thương mại, nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản), tài nguyên thiên nhiên (khai khoáng) (3)Tuổi của doanh nghiệp: thành lập trước năm 2000 (năm Luật Doanh Nghiệp có hiệu lực) và thành lập từ sau năm 2000

Phân nhóm doanh nghiệp VCCI tiến hành phân nhóm, chọn mẫu một cách ngẫu nhiên và lập ra danh sách doanh nghiệp sẽ gửi phiếu điều tra Số lượng doanh nghiệp được gửi phiếu điều tra ở tỉnh căn cứ vào số lượng doanh nghiệp dân doanh

ở tỉnh đó và số lượng gửi phiếu phản hồi ở các năm trước đó Đối với các tỉnh có số lượng dân doanh dưới 500 doanh nghiệp thì tất cả các doanh nghiệp ở tỉnh đó đều được gửi phiếu điều tra

- Công cụ thu thập: phiếu điều tra gồm các câu hỏi về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đánh giá của các doanh nghiệp về các khía cạnh khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của địa phương

Trang 38

- Phương pháp điều tra: VCCI gửi phiếu điều tra cho doanh nghiệp trong mẫu đã chọn Để đạt được tỉ lệ phản hồi cao, VCCI đã tuyển chọn và huấn luyện cộng tác viên để gọi điện thoại đến các doanh nghiệp xác nhận phiếu điều tra đã được gửi đến đúng địa chỉ và thuyết phục doanh nghiệp trả lời Đối với các doanh nghiệp chưa nhận được điều tra thì VCCI tiến hành gửi lại một lần nữa Đối với các doanh nghiệp trả lời, VCCI gửi tặng một cuốn sách mà doanh nghiệp lựa chọn kèm theo thư cảm ơn của VCCI

Số liệu “cứng”: Các phương pháp được cơ quan nghiên cứu sử dụng và thu

thập số liệu như: lấy ý kiến chuyên gia, và số liệu thống kê

- Lấy ý kiến chuyên gia: thu thập ý kiến của các chuyên gia về chất lượng quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu chỉnh những sai lệch trong đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng

- Số liệu thống kê: để tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn công bố chính thức và bên thứ ba như: niên giám thống kê của tổng cục thống kê, kết quả của các cuộc điều tra, các báo cáo, ấn phẩm của ngân hàng thế giới ,các công ty

Bước 2: Xử lí dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần:

Như đã trình bày, một trong những cách tiếp cận quan trọng của PCI là so sánh chất lượng điều hành kinh tế giữa mỗi tỉnh với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế ở Việt Nam, chứ không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởng nào đó Vì vậy để có cơ sở so sánh, đánh giá giữa các tỉnh thành, chúng ta cần một đơn vị thống nhất, nên mỗi chỉ tiêu sẽ được chuẩn hóa theo thang 10 điểm như sau:

 Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt thì sử dụng công

thức sau đây để chuẩn hóa điểm: 9*[

Minimum Maximum

Minimum ovince i

 Pr

]+1

 Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11

trừ đi công thức ở trên: 11-{9*[Pr ]

Minimum Maximum

Minimum ovince i

Trang 39

thành phần với mục tiêu đặt ra là điểm các chỉ số này phải phản ánh được tương đối đầy đủ những trở ngại đối với việc thành lập mới và phát triển của khu vực kinh tế

tư nhân ở Việt Nam Do đó, sau khi đã chuẩn hóa, VCCI đã tính trung bình các chỉ tiêu sau đó cũng áp dụng lại qui trình tính điểm chỉ tiêu như trên để tạo ra từng chỉ

số thành phần cho mỗi tỉnh Sau khi chuẩn hóa, toàn bộ các chỉ số của một tỉnh sẽ được thể hiện trên một sơ đồ hình sao Hình 1.1 dưới đây thể hiện ví dụ điểm cụ thể của 9 chỉ số thành phần của một vài tỉnh, thành Độ dài của mỗi đường gân của ngôi sao thể hiện điểm của từng chỉ số thành phần với thang điểm tuyệt đối là 10

Hình 1.1: Biểu đồ “hình sao” thể hiện kết quả điều hành của từng tỉnh theo chỉ

số thành phần năm 2009

Bước 3: Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI:

Nếu lấy điểm của tất cả các chỉ số thành phần cộng lại với nhau, tổng điểm

sẽ là chỉ số PCI tổng hợp chưa có trọng số với điểm tối đa là 100 Mặc dù đây là phương pháp dễ dàng nhất để tính chỉ số PCI, nhưng lại không thực sự phù hợp nếu muốn sử dụng PCI như một công cụ chính sách Lý do là vì trong các chỉ số thành phần, có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi lí giải sự khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân Do đó mỗi chỉ số thành phần cần được tính toán trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng

Trang 40

chỉ số đối với việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân Để làm được việc này, trong giai đoạn 2005-2009, VCCI sử dụng phương pháp hồi qui đa biến để đo lường tác động của từng chỉ số thành phần tới một số chỉ số vốn được coi là có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh, vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính trên bình quân đầu người, lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theo triệu đồng), khống chế ảnh hưởng mà các điều kiện truyền thống (khoảng cách tới thị trường tính bằng số km từ trung tâm tỉnh lị tới Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng ban đầu) đem lại cho sự phát triển kinh tế tư nhân, từ đó tính ra mức độ đóng góp tương đối (hay còn gọi là trọng số) của chúng đối với các chỉ số thành phần Nhưng

từ năm 2009 về sau VCCI sử dụng phương pháp tính trọng số mới bằng cách cũng chọn ra ba biến kết quả quan trọng thể hiện sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp tư nhân trên 1000 dân, mức đầu tư trên đầu người, lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp) Các biến số này được hồi qui theo từng chỉ số thành phần, trong đó loại trừ tác động của các nhân tố cấu trúc (mật độ dân số, diện tích, khoảng cách từ

Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh theo kilomet), cơ sở hạ tầng (đo bằng tỉ lệ đường được rải nhựa trong tỉnh) và sử dụng thêm các biến giả (biến phân đôi) cho 7 vùng ở Việt Nam để tính ra trọng số cho mỗi chỉ số thành phần Những trọng số này được làm tròn tới 5% gần nhất để phân thành ba loại cơ bản như bảng 1.1 dưới đây :

Ngày đăng: 20/03/2015, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Lương Gia Cường (2003) – Nhà xuất bản Giao Thông vận tải, “Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao Thông vận tải
[4]. Hà Phạm (2008), “xây dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: xây dựng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt
Tác giả: Hà Phạm
Năm: 2008
[5]. Nguyễn Thị Hường (2009), khóa luận tốt nghiệp “ Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Hà Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Hà Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2009
[6]. Nguyễn Minh Tuấn (2010) - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
[7]. Phan Nhật Thanh (2010), Luận án tiến sỹ “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hải Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Hải Dương
Tác giả: Phan Nhật Thanh
Năm: 2010
[10]. Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Phú Yên (2011), “ Báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đề xuất kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của tỉnh Phú Yên (giai đoạn 2011 – 2012)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và đề xuất kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của tỉnh Phú Yên (giai đoạn 2011 – 2012)
Tác giả: Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Phú Yên
Năm: 2011
[11]. Sở công thương tỉnh Khánh Hòa (2006), “Báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp Khánh Hòa đến năm 2015 có tính đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp Khánh Hòa đến năm 2015 có tính đến năm 2020
Tác giả: Sở công thương tỉnh Khánh Hòa
Năm: 2006
[22]. Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa - Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa năm 2010 [23]. UBND tỉnh Khánh Hòa (2010), “ Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của tỉnh Khánh Hòa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 của tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Khánh Hòa - Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa năm 2010 [23]. UBND tỉnh Khánh Hòa
Năm: 2010
[24].“Chỉ số PCI: Công cụ giám sát của doanh nghiệp” (http://dddn.com.vn/20100 114084332923cat130/chi-so-pci-cong-cu-giam-sat-cua-doanh-nghiep.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số PCI: Công cụ giám sát của doanh nghiệp
[25]. “PCI – Công cụ đột phá” (http://dddn.com.vn/2012051409469683cat183/pci-cong-cu-tao-dot-pha.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: PCI – Công cụ đột phá
[26]. “ Đòn bẩy cải thiện đầu tư” (http://www.baohungyen.vn/content/viewer.asp?a =19454&z=120) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đòn bẩy cải thiện đầu tư
[27]. “Khánh Hòa chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa” (http:// www.khachsannhatrang.net/modules.php?name=KhanhHoa&td=view_article&id=32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khánh Hòa chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
[31]. “ Làm gì để cải thiện chỉ số PCI ” (http://www.baomoi.com/Lam-gi-de-cai-thien-chi-so-PCI/45/8105073.epi) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để cải thiện chỉ số PCI
[28]. Chuyển dịch cơ cấu lao động đến năm 2010 (http://www.baokhanhhoa.com.vn /Chinhtri-Xahoi/2005/11/109167/) Link
[32].Trang web chính thức của chỉ số năng lực cạnh tranh PCI (http://www.pciv ietnam.org/) Link
[8]. Báo cáo tham luận tổng hợp đề xuất giải pháp nâng cao PCI của thành phố Đà Nẵng năm 2009 Khác
[9]. Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà nẵng (2010) Khác
[12]. VCCI và USAID (2005), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2005 của Việt Nam Khác
[13]. VCCI và USAID (2006), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2006 của Việt Nam Khác
[14]. VCCI và USAID (2007), Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2007 của Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Biểu đồ “hình sao” thể hiện kết quả điều hành của từng tỉnh theo chỉ - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Hình 1.1 Biểu đồ “hình sao” thể hiện kết quả điều hành của từng tỉnh theo chỉ (Trang 39)
Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 1.1 Trọng số của các chỉ số thành phần (Trang 40)
Hình 1.2: Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Hình 1.2 Mô hình phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Trang 41)
Bảng 2.1: Xếp hạng PCI Khánh Hòa so với cả nước - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.1 Xếp hạng PCI Khánh Hòa so với cả nước (Trang 64)
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng (Trang 70)
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm (Trang 72)
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.5 Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định (Trang 74)
Bảng 2.6: Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2010, 2011 - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.6 Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2010, 2011 (Trang 76)
Bảng 2.7: Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.7 Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo (Trang 78)
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu của chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2010, 2011 - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.10 Các chỉ tiêu của chỉ số Thiết chế pháp lý năm 2010, 2011 (Trang 84)
Bảng 2.12: Thứ hạng PCI của Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.12 Thứ hạng PCI của Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (Trang 88)
Hình 2.1: Chỉ số thành phần của tỉnh Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (1) - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Hình 2.1 Chỉ số thành phần của tỉnh Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (1) (Trang 91)
Hình 2.3: Chỉ số thành phần của Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (3) - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Hình 2.3 Chỉ số thành phần của Khánh Hòa so với các tỉnh trong vùng (3) (Trang 93)
Bảng 2.14: Điểm số và vị trí thứ hạng của Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ninh - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
Bảng 2.14 Điểm số và vị trí thứ hạng của Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ninh (Trang 97)
Phụ lục 1: Bảng tổng hợp điểm số và vị trí xếp hạng của chỉ số PCI 2009 -2011. - Các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa
h ụ lục 1: Bảng tổng hợp điểm số và vị trí xếp hạng của chỉ số PCI 2009 -2011 (Trang 139)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w