1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa

50 551 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUễI TRỒNG THUỶ SẢN NGUYỄN HỮU NGHIỆP NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG HÀM LƯỢNG PROTEIN KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN CHẾ BIẾN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUễI TRỒNG THUỶ SẢN

NGUYỄN HỮU NGHIỆP

NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG HÀM LƯỢNG PROTEIN KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN CHẾ BIẾN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG

CỦA CUA XANH (Scylla paramamosain) GIAI ĐOẠN GIỐNG (30 NGÀY

TUỔI) LấN THƯƠNG PHẨM TẠI NHA TRANG - KHÁNH HOÀ

Đồ án tốt nghiệp đại học Chuyờn ngành Nuụi trồng Thuỷ Sản, khoỏ 2003-2008

Nha Trang, 11/2007

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA NUễI TRỒNG THUỶ SẢN

NGUYỄN HỮU NGHIỆP

NGHIấN CỨU ẢNH HƯỞNG HÀM LƯỢNG PROTEIN KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN CHẾ BIẾN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG

CỦA CUA XANH (Scylla paramamosain) GIAI ĐOẠN GIỐNG (30 NGÀY

TUỔI) LấN THƯƠNG PHẨM TẠI NHA TRANG - KHÁNH HOÀ

Đồ án tốt nghiệp đại học Chuyờn ngành Nuụi trồng Thuỷ Sản, khoỏ 2003-2008

Cỏn bộ hướng dẫn PGS.TS LẠI VĂN HÙNG

Nha Trang, 11/2007

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành tốt đẹp được đợt thực tập tốt nghiệp này bên cạnh sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân, nhân đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:

Trường Đại học Nha Trang, khoa Nuôi trồng Thuỷ sản, Bộ môn dinh dưỡng

và thức ăn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất, kỹ thuật và tinh thần để tôi có thể thực hiện được đề tài

Thầy PGS.TS Lại Văn Hùng, người đã tận tình hướng dẫn em thực hiện đề tài tốt nghiệp thành công

Các Thầy cô giáo đã dạy em trong suốt quá trình học tập tại trường để em có

được kiến thức thực hiện đề tài tốt nghiệp

Anh Đinh Quang Huy, người đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ em về về kỹ thuật nuôi cua Xanh và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề tài

Anh Phan Ngọc Anh, người đã tạo điều kiện cho em có được địa điểm thực tập

và chỗ ăn nghỉ trong thời gian làm đề tài tốt nghiệp

Chị Trần Nguyễn Tô Nguyên, phòng kỹ công ty TNHH Long Hiệp đã cung cấp nguyên liệu và thành phần nguyên liệu để em thực hiện đề tài

Cảm ơn tất cả các bạn cùng nhóm, các bạn sinh viên lớp 45NT2 đã sát cánh cùng tôi trong suốt bốn năm học đại học

Nhân đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình tôi, đã nuôi nấng, dạy dỗ, cung cấp tài chính cho tôi học hành và thực hiện đề tài, để tôi có được ngày hôm nay

Trang 4

MụC LụC

Mở ĐầU 1

PHầN I : TổNG QUAN TàI LIệU 2

1 Một số đặc điểm sinh học của cua Xanh 3 1.1 Vị trí cấu tạo 3

1.2 Hình thái cấu tạo .4

1.3 Vòng đời và một số điều kiện sinh thái của cua biển 6

2 Đặc điểm dinh dưỡng của cua Xanh 7

2.1 Tập tính ăn của cua Xanh 7

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cua Xanh và những nghiên cứu liên quan 8

3 Sơ lược về sự phát triển của nghề nuôi cua xanh (Scylla spp ) trong và

ngoài nước 3.1 Tình hình sản xuất giống .11

3.2 Tình hình nuôi cua thương phẩm 12

4 Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chu kỳ lột xác 14

Phần ii : phương pháp nghiên cứu 17

1 Địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu nghiên cứu .17

2 Đối tượng nghiên cứu 17

3 Thức ăn thí nghiệm .17

3.1 Nguyên liệu sản xuất thức ăn 17

3.2 Lựa chọn các mức protein nghiên cứu và phương pháp xác định công thức thức ăn 18

3.3 Phương pháp chế biến thức ăn 19

4 Dụng cụ thí nghiệm 20

5 Bố trí thí nghiệm .21

5.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 21

5.2 Chăm sóc, quản lý, thu thập số liệu 22

6 Xử lý số liệu .22

Phần iii : kết quả nghiên cứu và thảo luận 25

1 Một số yếu tố môi trường thí nghiệm và công thức thức ăn 25

Trang 5

1.1 Một số yếu tố môi trường thí nghiệm 25

1.2 Công thức thức ăn 25

2 ảnh hưởng của protein lên sự tăng trưởng của cua xanh .26

2.1 ảnh hưởng của protein đến sự lột xác của cua Xanh 26

2.2 ảnh hưởng của các mức protein khác nhau đến tăng trường về khối lượng và chiều dài mai cua .27

3 ảnh hưởng của các mức protein khác nhau đến tỷ lệ sống 30

4 Đánh giá chất lượng của thức ăn chế biến 31

4.1 Đánh giá chất lượng của thức ăn chế biến thông qua tốc độ tăng trưởng về chiều dài và khối lượng cua .31

4.2 Đánh giá chất lượng của thức ăn chế biến thông qua tỷ lệ sống của cua thí nghiệm 33

5 Phân tích một số A.a không thay thế trong thức ăn chế biến tương ứng với hàm lượng protein khác nhau 34

phần iv : kết luận và đề xuất ý kiến 37

1 Kết luận 37

2 Đề xuất ý kiến .37

Trang 6

DANH MụC CáC BảNG

Trang

Bảng 1: Một số yếu tố sinh thái thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển

Bảng 2: Diện tích nuôi và sản lượng nuôi cua ở Việt Nam 12

Bảng 3: Một số bệnh thường gặp ở cua Xanh trong quá trình nuôi thương

Bảng 7: ảnh hưởng hàm lượng Protein khác nhau trong thức ăn chế

Bảng 8: ảnh hưởng của thức ăn chế biến và thức ăn đối chứng lên tốc

Bảng 9: Hàm lượng a.a không thay thế trong thức ăn chế biến ở các

Trang 7

DANH MụC CáC HìNH

Trang

Hình 1: Cua Xanh (Scylla paramamosain Var Estampador) trưởng thành 4

Hình 8: Tỷ lệ sống (%) của cua ở hàm lượng protein khác nhau 30

Hình 9: Đồ thị tăng trưởng về khối lượng của cua cho ăn các loại thức ăn

Hình 10: ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến tỷ lệ sống 34

Trang 8

Giải thích các thuật ngữ và chữ viết tắt

CW (carapace width): chiều dài mai

BW (body width): khối lượng thân

Trang 9

MỞ ĐẦU

Hiện nay, có khoảng 500-600 loài cua biển đã được định trong số 4000 loài cua đã biết trên thế giới Một số giống loài cua biển quan trọng đang được khai thác

và nuôi như : Portunus pelagicus, Scylla paramamosain, Portunus sanguinolentus,

Scylla serrata, Scylla olivacea,…Trong đó cua Xanh (Scylla paramamosain) là loài

cua có kích thước lớn, thịt nhiều, vị ngon, có hàm lượng protein cao (15 – 23.5%), hàm lượng mỡ thấp (0.1-4%), dồi dào về khoáng vi lượng và vitamin, đặc biệt là những con cua có buồng trứng phát triển tốt Vì vậy, cua Xanh đã trở thành một đối tượng nuôi có giá trị và đáp ứng được thị hiếu của người dân

Nghề nuôi cua Xanh thương phẩm đang dần phát triển theo quy mô công nghiệp, tuy nhiên thức ăn hiện nay được sử dụng chủ yếu là cá tạp, dắt, cua nhỏ…so với thức ăn nhân tạo thì thức ăn tươi sống không đáp ứng được quy mô nuôi cua công nghiệp do tính bị động về nguồn thức ăn, chất lượng thức ăn gây ô nhiễm môi trường nuôi, tỷ lệ sống không cao, ngoài ra cũng là một trong những tác nhân lây

truyền bệnh cho cua (Alex Anderson et al., 2004) Do đó chúng ta cần phải thử

nghiệm các loại thức ăn khác nhau để đưa ra một loại thức ăn thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và nâng cao tỷ lệ sống cho cua Xanh

Mỗi loài động vật khác nhau có nhu cầu khác nhau về thnàh phần thức ăn và hàm lượng dinh dưỡng Do vậy những công trình nghiên cứu về dinh dưỡng trrên các đối tượng khác như : tôm, cá, gia súc… không thể áp dụng theo phương pháp

suy diễn cho cua Xanh được (Alex Anderson et al., 2004) Chính vì vậy việc nghiên

cứu để sản xuất thức ăn công nghiệp cho cua Xanh nuôi thương phẩm là một yêu cầu thức tế cấp bách hiện nay Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các hàm lượng cholesterol, protein, lipid, tỷ lệ protein/lipid khác nhau trong thức ăn, khả năng tiêu hoá một số nguyên liệu chế biến thức ăn tổng hợp… cho cua Xanh Tại Việt Nam vẫn chưa có báo cáo nghiên cứu nào về nhu cầu dinh dưỡng của cua Xanh nuôi thương phẩm

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn

chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua Xanh (Scylla paramamosain)

giai đoạn giống ( 30 ngày tuổỉ) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hoà"

Trang 10

Đề tài được thực hiện từ ngày 02/07/2007 đến 30/10/2007 tại Đồng Bò –Nha Trang-Khánh Hoà với các nội dung sau:

- Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến sinh trưởng của cua Xanh

- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống của cua Xanh

ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài:

 Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin mới về nhu cầu protein cho cua Xanh

 Đồng thời góp phần cho những nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất thức ăn cho cua Xanh nhằm giải quyết vấn đề thiếu thức ăn công nghiệp cho cua Xanh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường do việc sử dụng thức ăn tươi sống gây

ra

Với mục đích làm quen với phương pháp nghiên cứu, triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học, cách bố trí thí nghiệm, xử lý số liệu và viết một báo cáo khoa học Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn nhân tạo trong nuôi thương phẩm đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua Xanh, nhằm tìm ra loại thức ăn tốt nhất cho cua Xanh

Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, trình độ bản thân

có hạn, hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất và thời gian nghiên cứu nên chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô giáo cùng sự góp ý của các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Nha Trang, tháng 11/2007

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Hữu Nghiệp

Trang 11

PHẦN I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Một số đặc điểm của cua Xanh

Scylla serrata (Forskal 1775) : c¸c gai thuỳ trªn cao, tï, c¸c cặp gai lớn trªn

carpus (đốt càng giữa) tï và procarpus (đốt càng ngoài) râ; v©n cã nhiều gãc hiện diện trªn tất cả phụ bộ

S tranquebarica (Fabricius 1798) : gai thuỳ tr¸n trung b×nh , tï c¸c cặp gai

lớn trªn carous và procapus râ; v©n nhiều gãc hiện trªn hai cặp ch©n cuối, mờ hoặc kh«ng cã trªn c¸c bộ phận phụ cßn lại

S paramamosain (Etampdor 1949) : c¸c gai thuỳ trªn thường trung b×nh,

nhän, và h×nh tam gÝac cặp gai lớn trªn procarpus râ, trªn carpus gai trong kh«ng cã

và gai ngoài thãai ho¸; v©n nhiều gãc hiện diện trªn hai cắp ch©n cuối, mờ hoặc kh«ng cã trªn c¸c bộ phận phụ cßn lại

S olivacea (Herbs 1796) : c¸c gai thuỳ tr¸n thấp và trßn; cặp gai tho¸i ho¸

râ trªn procarous; trªn carpus gai trong kh«ng cã và gai ngoài tho¸i ho¸…

Đối tượng chóng t«i nghiªn cứu là loài Scylla paramamosain, và được ph©n

loại như sau:

Loài: Scylla paramamosain Etampador,1949

Cua Xanh cã tªn tiếng anh là: Mud crab, Green Crab, ở Việt Nam tuỳ theo địa phương người ta cã tªn gọi kh¸c nhau: cua Xanh, cua biển, cua bïn, cua lửa, cua só…(Nguyễn Cơ Thạch 2000)

Trang 12

1.2 Hình thái và cấu tạo

Loài cua biển Scylla serrata có kích thước tương đối lớn có thể đạt khối

lượng 2kg, kích cỡ thương phẩm của cua Xanh là từ 120 -150 g trở lên, cua có màu Xanh lục hoặc màu vàng sẫm, mặt bụng thường có màu sáng hơn ở lưng.Cơ thể cua dẹp theo hướng lưng bụng và chia làm hai phần Phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua) Phần bụng nhỏ gập lại dưới giáp đầu ngực (yếm cua)

Hình 1 : Cua Xanh (Scylla paramamosain Var Estampador) trưởng thành

1.2.1 Phần đầu ngực

Phần đầu và ngực của cua dính liền với nhau, ranh giới giữa các đốt không

rõ ràng Căn cứ vào phần phụ mang trên đó mà ta biết được số đốt tạo thành Đầu gồm 5 đốt mang mắt, anten và các phần phụ miệng Ngực gồm 8 đốt mang các chân hàm và các chân bò Mặt lưng của phần đầu ngực được bao bọc trong giáp đầu ngực (mai cua) Mé trước của giáp đầu ngực có hai hố mắt mang hai mắt nắm trên cuống mắt Giữa hai hố mắt, mỗi bên mép trước của giáp đầu ngực có 9 gai nằm liên tiếp nhau Mặt trên của giáp đầu ngực phân chia thành từng vùng nhỏ ngăn cách bởi vách và gờ rõ rệt Phía trước là vùng trán kế tiếp là vùng dạ dày ngăn cách với nhau bởi hai gờ Tiếp theo là vùng tim, sau vùng tim là đến vùng ruột, hai bên vùng

dạ dày là vùng gan, ngoài cùng là vùng mang Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng, các tầm bụng làm thành vùng lõm ở giữa chứa phần bụng gập vào ở con cái có đôi lỗ sinh dục nằm ở tấm bụng thứ ba được phần bụng gập lại che lấp

1.2.2 Phần bụng

Phần bụng gồm 7 đốt với các phần phụ bị tiêu giảm nằm gập lại dưới phần đầu ngực (thường gọi là yếm cua) làm cho cua thu ngắn chiều dài và gọn lại giúp cua bò được dễ dàng, thời kỳ tiền giao vĩ phần bụng (yếm) hơi vuông (thường gọi là

Trang 13

yếm cua, cua cái so) Sau khi lột xác tiền giao vĩ yếm cua trở nên tròn nên kích thước lớn che phủ phần lớn mặt bụng phần giáp đầu ngực

Ở các con cái các đốt bụng I, II, và VII khớp động với nhau, ở cua đực và cua cái có sự nhau nhau ở con cái chưa trưởng thành sinh dục (các đốt bụng I, II,

và VII khớp động với nhau, các đốt khác bất động, các chân bụng chẻ đôi biến thành các chùm lông yếm để trứng đẻ ra bám vào đấy phát triển, lỗ hậu môn nằm ở cuối cùng ở các con đực các đốt bụng I, II, V và VI khớp động với các đốt bên, các chân bụng thoái hoá thành đôi giai giao cấu, lỗ hậu môn nằm ở cuối cùng

1.2.3 Các phần phụ

- Anten I: nằm trong 2 rãnh xiên với trán, ở đốt gốc anten I có lỗ bình nang

- Anten II: nằm ở gốc cuống mắt và có hình sợi nhỏ, ở đốt anten II có lỗ của các tuyến anten

- Hàm trên: là tấm kitin lớn, rất khoẻ, bờ trong sắc không cos răng

- Hàm dưới I: gồm phần gốc 2 lá, trên đầu hai lá có nhiều lông

- Hàm dưới II: gồm phần gốc hai lá: lá trong hình lưỡi dao, đầu có nhièu lông; lá ngoài hai nhánh đầu loe rộng và có nhiều lông

- Chân hàm I: gồm phần gốc hai lá: lá trong nhỏ và trên đầu có nhiều lông cứng, lá ngoài đầu loe rộng và mép ngoài có lông ngắn Phần ngọn gồm hai nhánh : nhánh trong hình lá cờ, mép trong có nhiều lông dài, nhánh ngoài gồm ba đốt ở phần gốc còn có tấm kitin mỏng hình lá lúc có tơ dài theo hướng phía ngoài và lùi

về phía sau gọi là mang khoả nước

- Chân hàm III: đã kitin hoá rất mạnh, gồm phần gốc hai đốt Phần nhọn có hai nhánh

- Chân ngực: gồm 5 đôi, đôi thứ nhất phát triển lớn đầu có kẹp (càng cua) ở con đực hai càng có kích thước khác nhau rõ rệt, thường càng bên phải lớn hơn càng bên trái Càng cua vừa để bắt mồi vừa là cơ quan tự vệ và tấn công kẻ thù lợi hại

- Chân bụng: ở cua cái có 4 đôi chân bụng, từ đốt bụng thứ nhất đến đốt bụng thứ tư biến thành cơ quan giữ trứng Các chân bụng cấu tạo giống nhau, gồm một đốt gốc và phần ngọn gồm hai nhánh hình lá lúa mép mỏng có lông dài phủ, nhánh trong phân đốt, nhánh ngoài không phân đốt ở cua đực chỉ còn lại đôi chân thứ nhất và thứ thứ hai biến thành chân giao cấu, phần gốc gồm 3 đốt, phần ngọn chỉ còn nhánh trong, không phân đốt

Trang 14

1.2 Vòng đời và một số điều kiện sinh thái của cua biển

 Vòng đời cua biển trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn có tập tính sống, cư trú khác nhau thời kỳ phát triển phôi thai được cua mẹ mang và phát triển ở vùng biển ven bờ, ấu trùng nở ra và sống phù du Cua bột mới nở ra theo thuỷ triều dạt vào vùng nước lợ : những bãi lầy sú vẹt ven bờ biển, cửa sông nơi có đáy bùn, bùn cát hoặc đất thịt pha cát mịn giàu mùn bã hữu cơ thuộc vùng trung hạ triều, cua cư trú ở lớn lên cho đến lúc thành thục sinh dục (thường là một năm) lại di cư ra vùng biển gần bờ (Hoàng Đức Đạt 2003)

Hình 2 : Vòng đời của cua Xanh ( Scylla spp)

 Một số yếu tố môi trường phù hợp sự sinh trưởng và phát triển của cua

Trang 15

Bảng 1: Một số yếu tố sinh thái thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển

cua Cua Xanh

pH thích hợp

27-29 28-30

28-30

26-29

25-29 (**)

8.0-8.6 8.0-8.6

8.0-8.6

7.5-8.6

7.59.2 (**)

Sống trôi nổi Sống trôi nổi

Chuyển sống đáy

Sống ở đáy bùn cát

Vùng rừng ngập mặn

Nguyễn Cơ Thạch & Trương Quốc Thái (2004b)

Nguyễn Cơ Thạch & trương Quốc Thái (2004a);Nguyễn

Cơ Thạch at al.,

(2004) (*) I M

Ruscoe at al

(2004) (**) Hoàng Đức

Đạt

2 Đặc điểm dinh dưỡng của cua Xanh

2.1.Tập tính ăn của cua Xanh

Theo một số tác giả của Đại học Cần Thơ (1994) nghiên cứu về tính ăn của cua Xanh cho thấy tính ăn thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển Giai đoạn ấu trùng

cua thích ăn thực vật và động vật phù du (Branchionus plicatilis, Nauplius của

Artemia, Artemia sinh khối…) Cua con chuyển sang ăn tạp như rong tảo, giáp xác, nhuyễn thể, cỏ hay cả như xác động vật chết, cua con 2 -7 cm chủ yếu ăn giáp xác, cua từ 7-13cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn thường ăn cua nhỏ, cỏ…cua là loài bắt mồi tích cực thời gian bắt mồi thường nhiều hơn thời gian vùi mình trong đáy

Trang 16

hoặc trong hang Cua thường trú ẩn vào ban ngày và bắt mồi vào ban đêm Cua thường ăn rất nhiều nhưng cũng có thể nhịn đói vài ngày trong những điều kiện bất lợi

Cua Xanh có tính hung dữ, khi thiếu thức ăn, cua biển thường tấn công lẫn nhau Cua khoẻ hơn tấn công cua yếu hơn cắn gãy càng vỡ mai rồi ăn thịt Trong thời kỳ giao vĩ cua đực cắn nhau giành cua cái Tính hung dữ đó có từ ấu trùng megalops đến cua trưởng thành (Hoàng Đức Đạt 2003) Cua biển có cơ thể lớn đôi càng to khỏe, bơi lội giỏi và có đôi mắt kép có khả năng quan sát nhanh Trong trường hợp nguy kịch cua có thể thí đi một phần cơ thể để thoát thân, bộ phận bị mất đi sẽ được tái sinh sau một thời gian ngắn

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của cua Xanh và những nghiên cứu liên quan

Cua Xanh có khả năng tiêu hoá tốt các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chế biến như : thịt cá, thịt mực, bột thịt , bột xương, đậu tương, bột ngũ cốc bột mì, cám

gạo…(Catacunta et al 2003) Thức ăn gồm các thành phần dinh dưỡng chính:

protein, lipit, carbohydrates, vitamin, chất khoáng Việc xác định rõ vai trò và nhu cầu của từng thành phần chất dinh dưỡng trong thức ăn đóng vai trò vô cùng quan trọng để sản xuất được thức ăn cho đối tượng nuôi Mỗi vật nuôi đều có một nhu cầu đối với từng thành phần dinh dưỡng khác nhau trong thức ăn Việc thiếu hay thừa thành phần dinh dưỡng trong thức ăn đều tác động không tốt đến sinh trưởng

và phát triển của vật nuôi (Đỗ Thị Hoà 2003)

Vì vậy để đánh giá đầy đủ nhu cầu protein, người ta đưa ra hai khái niệm là: nhu cầu protein tương đối và nhu cầu protein tuyệt đối Nhu cầu protein tương đối là xác định tỷ lệ % protein có trong thức ăn và nhu cầu protein tuyệt đối được định nghĩa như là lượng protein cá tiếp nhận từ thức ăn trên một đơn vị thể trọng (tính theo gam protein trong thức ăn/ kg cá/ ngày) Nhu cầu protein tương đối thường được sử dụng cho các nhà sản xuất thức ăn trong việc tính toán phân phối thức ăn Tuy nhiên đối với các nhà nghiên cứu thường sử dụng khái niệm nhu cầu protein tuyệt đối cuả đối tượng nuôi ( Lại Văn Hùng 2004)

Protein là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng lên các tổ chức mô của cua cũng như của động vật khác, protein chiếm khoảng 60 - 75% tổng số vật chất khô của cơ thể (Lại Văn Hùng 2004), cua sử dụng protein để đáp ứng nhu cầu amino

Trang 17

acid Protein sau khi được enzyme protease thực hiện quá trình tiêu hoá hoá học giải phóng amino acid tự do Các amino acid này sẽ được hấp thụ qua thành ống tiêu hóa vào máu được vận chuyển đến các tổ chức cơ quan, các tổ chức mô khác nhau, ở đó chúng tham gia vào quá trình tổng hợp protein mới

Nhu cầu protein tối ưu với các loài khác nhau không giống nhau, trong cùng một loài nhu cầu protein cũng giảm cùng với kích thước và tuổi, trong phạm vi nhiệt

độ thích hợp, nhiệt độ tăng nhu cầu của vật nuôi cũng tăng Nhu cầu protein trong thức ăn tăng lên khi thức ăn không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và ngược lại nhu cầu protein giảm khi thức ăn dư thừa năng lượng Do đó khi thức ăn thiếu protein sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng của cua vì chúng phải huy động các nguồn protein tổ chức trong cơ thể để đáp ứng nhu cầu amino acid , dẫn đến khối lượng bị giảm sút, ngược lại thức ăn quá dư thừa protein thì chỉ một phần protein trong thức ăn sẽ được

sử dụng để tổng hợp vật chất cho cơ thể, phần còn lại sẽ được chuyển hoá thành năng lượng hoặc được bài tiết ra ngoài (cần phải tốn năng lượng), protein là thành phần dinh dưỡng có giá trị cao nhất trong thức ăn, vì vậy nếu hàm lượng protein trong thức ăn quá cao sẽ gây lãng phí hoặc có hại cho cua, làm giảm hiệu quả nuôi (Lại Văn Hùng 2004) Giá trị dinh dưỡng của protein trong thức ăn phụ thuộc chủ yếu vào thành phần amino acid của chúng Trong cơ thể động vật có sự chuyển hoá giữa amino acid cần thiết thành các amino acid không cần thiết, tuy nhiên quá trình chuyển hoá ngược lại không bao giờ xảy ra, do đó trong thành phần thức ăn của vật nuôi phải đáp ứng hàm lượng các amino acid không thay thế đó, đa số các nguyên liệu sử dụng để sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi thuỷ sản có khả năng tiêu hoá cao, có đầy đủ các amino acid, tỷ lệ amino acid cần thiết và không cần thiết là 1:1 Ngoài ra các yếu tố sinh thái cũng ảnh hưởng tới nhu cầu protein của cua Xanh (Lại Văn Hùng 2004)

Người ta sử dụng các tỷ lệ E/P hoặc P/E để đánh giá mối quan hệ giữa protein

và năng lượng tổng số của thức ăn Đây là tỷ lệ quan trọng, tỷ lệ tối ưu này đặc trưng cho loài

Trang 18

Tỷ lệ E / P =

Tỷ lệ P / E =

Tỷ lệ P/E thay đổi tuỳ theo loài, giai đoạn phát triển và điều kiện sinh thái Tuy nhiên đa số các loài tỷ lệ này đều lớn hơn 20 Đối với động vật máu nóng, ví dụ

ở gà tỷ lệ này dao động từ 14-18, heo từ 6-10 và 6-12 đố với bò

Để xác định nhu cầu protein của vật nuôi người ta sử dụng hai phương pháp

đó là: phương pháp đường cong gẫy khúc và phương pháp sử dụng sử dụng đường cong hồi quy bậc hai Ở phương pháp đường cong gẫy khúc người ta sử dụng 5-6 khẩu phần thức ăn có mức protein khác nhau từ thấp đến cao để tăng trọng cua đến bão hoà Từ kết quả thu được sẽ xác định được mức protein tối thiểu trong thức ăn nhưng cho tốc độ tăng trưởng nhanh làm cơ sở xác định nhu cầu protein Ở phương

pháp sử dụng đường cong hồi quy, theo Zeitoun at al, (1976) tốc độ tăng trưởng và

hàm lượng protein trong thức ăn tương quan với nhau theo phương trình bậc hai : Y=aX2+bX+c, đồ thị của phương trình là dạng parabol bậc hai có một cực Tại điểm cực đại được xem như mức dinh dưỡng tối đa cho tốc độ tăng trưởng tối đa (Lại Văn Hùng 2004)

Nhu cầu protein thấp nhất ở những loài thiên về ăn thực vật như Penaeus

vanamei (tối ưu 30%) và cao nhất ở những loài thiên về ăn động vật như Penaeus japonicus (>55%) (Kanazawal 1990, trích dẫn bởi Guillaume, J, 1997) Catacutan

(2002) nghiên cứu về tỷ lệ giữa protein và năng lượng, kết quả cho thấy protein 32% hoặc 40% cùng với lipid 6% hoặc 12% đều phù hợp với cua Xanh sinh trưởng và phát triển Y.Y Mu (1998) nghiên cứu nhu cầu protein của cua Tóc Trung Quốc

tiền trường thành (Eriocheir siensis) kết quả cho thấy nhu cầu protein thích hợp từ

39.0% đến 42.5%, ngoài ra cũng có những báo cáo về nhu cầu lượng protein của các

đối tượng giáp xác khác như : tôm Bạc (Penaueus merguiensis) là 34% đến 42% (Sedgwick 1979, trích dẫn bởi Lại Văn Hùng 2004), tôm Sú (Penaueus monodon) là

Năng lượng của thức ăn (Kj / kg thức ăn)

Hàm lượng protein thô của thức ăn (%)

Số (g) protein / kg thức ăn

Năng lượng của thức ăn (Kj / kg thức ăn)

Trang 19

46% (Lee 1970, trích dẫn bởi Lại Văn Hùng 2004), cua Tóc (Eriocheir sinensis) là 39- 42.5% (Y Y Mu 1998)

Nhu cầu các A.a không thay thế (hay a.a cần thiết) của cua xanh : a.a không thay thế không thể tổng hợp được trong cơ thể của cua nói riêng và của động vật nói chung, chúng phải bắt buộc cung cấp từ thức ăn, các a.a không thay thế bao gồm : valin, iso leucin, leucin, threonin, methionin, phenylalanin, arginin, lysin, histidin, tritophan Các thành phần này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong thức ăn nhưng lại không thể thiếu được, nếu thiếu có thể gây ra sự rối loạn trong cơ thể , trong cùng một loài thì nhu cầu a.a không thay thế phụ thuộc vào một số yếu tố như nhiệt độ, độ mặn, tuổi, nhìn chung khi nhiệt độ và độ mặn tăng lên thì nhu cầu a.a không thay thế cũng tăng, khi loài còn nhỏ thì nhu cầu a.a không thay thế cao hơn khi già Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể nhu cầu a.a không thay thế ở cua Xanh, cũng như tỷ lệ % của các a.a không thay thế trong thức ăn như thế nào là phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển từng giai đoạn của cua

3 Sơ lược về sự phát triển của nghề nuôi cua Xanh (Scylla spp) trong và

ngoài nước

3.1 Tình hình sản xuất cua Xanh giống

Những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu sự sinh sản của cua Xanh nhân tạo trên toàn thế giới và Việt Nam Hiện nay trên thế giới đã có các nước Philippines, Indonesia, Autralia, Nhật Bản , Malaysia sản xuất giống thành công với tỷ lệ sống từ zoea đến cua 1 là 10 -20% (Fieder D & Allan G 2004) Đa

số quy trình sản xuất cua giống từ các nước đều sử dụng nguồn cua mẹ từ tự nhiên,

trong quá trình sản xuất giống còn sử dụng kháng sinh để phòng trị bệnh

Những năm gần đây do nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu tăng, nên cùng với nghề khai thác tự nhiên nghề nuôi cua đã phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước, tuy nhiên nguồn con cua giống chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khai thác ngoài tự nhiên để giải quyết vấn đề con giống, đã có một số đề tài nghiên cứu về sinh sản nhân tạo một số giống cua, ghẹ từ năm 1998, trung tâm nghiên cứu thuỷ sản III (nay là viện nghiên cứu Thuỷ sản III) đã thực hiện đề tài nghiên cứu sinh sản

nhân tạo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cua Xanh loài (Scylla

serrata) Trong thời gian nghiên cứu nhóm tác giả thu được kết quả rất khả quan,

nghiên cứu đó được trao hai giải nhất INFOTECH của Việt Nam và WIPO của tổ

Trang 20

chức sở hữu trí tuệ thế giới dành cho công trình khoa học xuất sắc nhất ( http://

www.việt linh.com)

Hiện nay cua được nuôi phổ biến khắp các tỉnh ven biển Việt Nam đặc biệt

là ở vùng châu thổ phía Bắc (Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định) và các tỉnh duyên hải Nam bộ, năng suất nuôi riêng đã đạt trên 1000 kg/ ha/ vụ

Kết quả thành công của các đề tài đó nghiên cứu của các quốc gia đó thúc đẩy nghề sản xuất giống cua phát triển nghề sản xuất cua giống đã phần nào cung cấp nhu cầu về giống cho nuôi cua thương phẩm

3.2 Tình hình nuôi cua thương phẩm

Năm 1993, thống kê của FAO, sản lượng cua nuôi trên thế giới đạt được

40000 tấn, trong đó chỉ có 25.5% là cua biển, cua đầm lầy đạt sản lượng cao hơn là 29.8% và cuối cùng 44.7% là cua sông Một số quốc gia Đông Nam á đã tiến tới nuôi thâm canh nhưng phương pháp này vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm (Nguyễn Văn Duyên 1998)

Tại Việt Nam cua biển Scylls serrata được phát triển thành cao trào nuôi

trong phạm vi toàn quốc từ năm 1991, do đó cua thường được xuất khẩu ở dạng sống hoặc đông lạnh nguyên con, thị trường chủ yếu là ở Trung Quốc và một số thị trường lân cận nên trị giá xuất khẩu thường biến động, năm 2004, khối lượng xuất khẩu đạt giá trị 6000 tấn, trị giá hơn 25 triệu USD, trong đó các tỉnh miền Bắc chiếm 13%, miền Trung 9%, miền Nam 78%

Bảng 2: Diện tích nuôi và sản lượng nuôi cua ở Việt Nam

Vùng

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 21

Bảng 3: Một số bệnh thường gặp ở cua Xanh trong quá trình nuôi thương phẩm

Bệnh đốm vỏ - Cú cỏc đốm màu rỉ sắt, màu trắng, vàng, nõu

hoặc đen ở mai, chõn, càng Kớch thước cỏc đốm từ 1 – 200 mm2

Khú lột xỏc, chết rải rỏc đến hàng loạt

nhanh và tỷ

lệ chết cao Bệnh cua sữa - Cơ thể chứa nhiều nước màu đục Chõn

càng phồng lờn, phần vỏ ở dưới yếm cú màu trắng sữa, hơi hồng, cua ớt hoạt động

- Cua bỏ ăn, cú mựi hụi tanh, cơ thể nhớt, cơ nhóo

Cua chết nhanh và tỷ

lệ chết cao

Bệnh đen mang - Cua yếu, ớt di chuyển

- Mang bị đen, cú cỏc chất bẩn bỏm vào, cua

ăn kộm, khụng lột xỏc

Chết rải rỏc

Bệnh rũ cũng - Cua yếu, ăn kộm, thường nằm ở gần bờ Khi

bắt lờn chõn càng cứng đơ và tự rụng

- Cỏc khớp cơ bị teo

Cua chết nhanh và tỷ

lệ chết cao Bệnh mềm vỏ - Cua lột xỏc vỏ khụng cứng được

- Cơ thể chứa nhiều nước

Chậm lớn,

dễ nhiễm cỏc bệnh khỏc, nhất là bệnh vỏ Bệnh đúng rong - Rong đúng khắp cơ thể, cú khi đúng cả

trong tơ mang

- Cơ thể nhớt, màu tối

Cua chậm lớn, khú lột xỏc

Trang 22

4 Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chu kỳ lột xác của cua Xanh

Khác với sinh trưởng của cá, sinh trưởng của giáp xác mang tính chất giai đoạn và đặc trưng là sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng cua muốn gia tăng kích thước phải tiến hành lột bỏ vỏ cũ, sự lột xác là kết quả của quá trình phức tạp và lâu dài Quá trình đó là sự tích luỹ và sự kết hợp chặt chẽ với các hoạt động của các tổ chức cơ quan

Sự chuyển hoá hàm lượng glycogen, lipit, cholesterol ở gan tụy, tổ chức cơ thịt của cua liên quan đến sự lột xác của cua Xanh mang trứng đã được Sentikumar, Desai nghiên cứu và công bố vào những năm 1976 Tham gia điều khiển quá trình lột xác ở cua Xanh chính là các hormone, sự lột xác ở cua được tác động bởi ba loại kích thích tố:

 Kích thích sự lột xác: ức chế sự tích luỹ chất canxi và các chất dinh dưỡng làm cho sự lột xác chậm lại

 Kích thích tố thúc đẩy sự lột xác: thúc đấy hoạt động sinh lý trước khi lột xác như tăng cường hấp thụ muối vô cơ và vật chất hữu cơ

 Kích thích tố điều tiết hút nước và lột xác: điều tiết lượng nước hấp thụ làm cho cơ thể sau khi lột xác trương lên với độ hợp lý

Cơ quan sản sinh hormone lột xác Ecdysone chính là cơ quan Y, vị trí nằm ở hốc mang trước tuy nhiên cơ quan Y lại chịu sự điều khiển trực tiếp của cơ quan X thông qua hormone kìm hãm lột xác MIH (Molting Inhibiting Mormone) Khi MIH tiết ra nhiều, nó sẽ ức chế hoạt động của cơ quan Y, tức là ức chế sản xuất hormone Ecdysone và như vậy lột xác không xảy ra, ngược lại nếu MIH tiết ra, cơ quan Y sẽ tăng cường hoạt động nhiều hormone lột xác Ecdysone và dẫn đến những biến đổi sinh lý trong các tổ chức mô, tế bào như:

 Tăng cường hấp thụ khoáng, vật chất dinh dưỡng

 Tăng cường sinh tổng hợp protein

 Sự phân chia tế bào gia tăng

 Năng lượng được huy động ở gan tụy, để chuẩn bị cho sự lột xác

Trang 23

Hình 3: Kích thước của cua Xanh trước và sau khi lột xác Khi bắt đầu lột xác, các tuyến trong biểu bỡ tiết ra hormone lột xác chứa các men để tiêu hoá các chất protein và kitin của lớp trong của vỏ cuticum bên dưới hình thành lớp cutium mới mềm dẻo, gấp nếp để cơ thể có thể lớn hơn được Con vật có thể hấp thụ nước cutium phồng lên, vỡ ra Nó gỡ mình ra khỏi lớp vỏ cũ để lớp vỏ mới căng ra hết cỡ Đây là thời điểm để cơ thể tăng trưởng về kích thước, sau

đó lớp biểu bì tiết ra men làm lớp cutium cứng lại, thêm muối canxi vào kitin và tiết lớp cutium bổ sung (Vili, Dethiơ, 1979)

Năm 1965 Talbot, H waterman đó nghiên cứu vấn đề lột xác của cua Xanh Theo ông : nhưng biến đổi của lớp vỏ ngoài cùng trong 70% hoặc toàn bộ thời gian giữa các lần lột xác Còn 30% của khoảng thời gian còn lại của chu kỳ lột xác thì cua sẽ duy trì năng lượng dữ trữ trong gan mà năng lượng này phần lớn được sử dụng để hình thành lớp vỏ mới

Sự lột xác xuyên suốt quá trình sống của cua ở giai đoạn ấu trùng cơ thể cần sinh trưởng nhanh do đó thường khoảng 2-3 ngày hoặc 4-5 ngày một lần Càng trưởng thành, thời gian giữa hai lần lột xác càng tăng lên, có thể nửa tháng đến 1 tháng mới lột xác một lần, cua không những lột bỏ vỏ ngoài mà cả vỏ cũ của dạ dày, mang … cũng lột luôn (Talbol, H Waterman, 1965; Hoàng Đức Đạt 1995)

Cũng nghiên cứu về vấn đề cua biển, Hoàng Đức Đạt kết luận : cua mới lột xác yếu không ăn, không có khả năng tự vệ, trong thời gian cua lột xác cua thường

bị kẻ thù tấn công và rất dễ bị tử vong Sau mỗi làn lột xác cua tăng trọng lượng 40 80%

-Cua thường mất từ 10-15 phút để lột xác -Cua mới lột vỏ nằm dưới đáy 2-3 giờ sau đó mới có thể phục hồi lại trạng thái bình thường, mất 6-7 giờ vỏ mới cứng

Trang 24

lại hoàn toàn (Talbol, H Waterman,1965), Hoàng Đức Đạt cũng có những kết luận tương tự.

Hình 4: cua Xanh đang lột xác

Sự lột xác của cua Xanh là một trong những vấn đề cần quan tâm để tìm ra biện pháp nuôi thích hợp, nghiên cứu vấn đề này 1984 Anar cho rằng : trong nuôi cua chất lượng nước tốt cần được duy trì và thức ăn phải phù hợp, cần tạo nơi ẩn nấp cho cua lột xác và tránh nuôi cua với mật độ cao, với mục đích nhằm nâng cao

tỷ lệ sống của cua, đây cũng là vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu

Trang 25

Phần II: PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Đồng Bò - Nha trang - Khánh Hoà

- Thời gian: Từ ngày 02/07/2007 đến ngày 30/10/2007

2 Đối tượng nghiên cứu

Cua Xanh (Scylla paramamosain) có nguồn giống nhân tạo được sản xuất từ

Trung tâm cua giống Tuy Hoà - Phú Yên Cua thí nghiệm là cua 1 (được khoảng 20 ngày tuổi) và lựa chọn những con có kích thước đều nhau (mtb=0.128 g), được vận chuyển từ trung tâm về bằng phương pháp vận chuyển hở, khô Cua giống được còn

đo để xác định khối lượng và chiều dài ban đầu, cua được thả vào giai 10 m2, chiều cao 1.5 m, với mật độ 30 con/10m2, cho ăn bằng thức ăn thí nghiệm

3 Thức ăn thí nghiệm

3.1 Nguyên liệu sản xuất thức ăn

Thành phần nguyên liệu gồm: bột cá, bột mực, bột mì, bã nành, cholesterol, dầu mực, dầu đậu nành, antioxidant, choline chloride, chitosan, bột rong biển, men bia, vitamin premix, mineral premix, dicanxiphotphat

Ngày đăng: 20/03/2015, 09:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Cua Xanh (Scylla paramamosain Var. Estampador) trưởng thành                   1.2.1 - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 1 Cua Xanh (Scylla paramamosain Var. Estampador) trưởng thành 1.2.1 (Trang 12)
Hình 2 : Vòng đời của cua Xanh ( Scylla spp) - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 2 Vòng đời của cua Xanh ( Scylla spp) (Trang 14)
Bảng 1: Một số yếu tố sinh thái thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 1 Một số yếu tố sinh thái thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển (Trang 15)
Bảng 2: Diện tích nuôi và sản lượng nuôi cua ở Việt Nam - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2 Diện tích nuôi và sản lượng nuôi cua ở Việt Nam (Trang 20)
Bảng 3: Một số bệnh thường gặp ở cua Xanh trong quá trình nuôi thương phẩm - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 3 Một số bệnh thường gặp ở cua Xanh trong quá trình nuôi thương phẩm (Trang 21)
Bảng 4:  Thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu sản xuất thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 4 Thành phần dinh dưỡng của nguyên liệu sản xuất thức ăn (Trang 26)
Hình 5 : Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 29)
Bảng 5 : Sự biến động các yếu tố môi trường ở ao nuôi thí nghiệm từ 03/07/2007 - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 5 Sự biến động các yếu tố môi trường ở ao nuôi thí nghiệm từ 03/07/2007 (Trang 33)
Bảng 6 :  Phân tích tỷ lệ % thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 6 Phân tích tỷ lệ % thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm (Trang 34)
Bảng 7: ảnh hưởng của các hàm lượng protein khác nhau lên tốc độ sinh trưởng - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 7 ảnh hưởng của các hàm lượng protein khác nhau lên tốc độ sinh trưởng (Trang 36)
Hình 6 : Biểu đồ tăng trưởng về khối lượng của cua thí nghiệm hàm lượng - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 6 Biểu đồ tăng trưởng về khối lượng của cua thí nghiệm hàm lượng (Trang 37)
Hình 7 : Biểu đồ tăng trưởng về chiều dài của cua thí nghiệm hàm lượng protein - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 7 Biểu đồ tăng trưởng về chiều dài của cua thí nghiệm hàm lượng protein (Trang 37)
Hình 8 : Tỷ lệ sống (%) của cua ở các mức protein khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 8 Tỷ lệ sống (%) của cua ở các mức protein khác nhau (Trang 38)
Hình 9: Biểu đồ tăng trưởng về khối lượng của cua cho ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 9 Biểu đồ tăng trưởng về khối lượng của cua cho ăn (Trang 41)
Hình 10: ảnh hưởng của các loại thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng hàm lượng protein khác nhau trong thức ăn chế biến đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cua xanh (Scylla paramamosain) giai đoạn giống (30 ngày tuổi) lên thương phẩm tại Nha Trang - Khánh Hòa
Hình 10 ảnh hưởng của các loại thức ăn (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w