xuất, tăng sản lượng tôm nuôi, phòng và trị bệnh… Bên cạnh đó các sản phẩm này cũng gây không ít mối quan tâm về sức khoẻ con người, chất lượng sản phẩm thủy sản, sự phân tán ra môi trườ
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây thuỷ sản Việt Nam phát triển rất mạnh và đang được coi như một ngành xuất khẩu chiến lược Giá trị xuất khẩu thủy sản tăng bình quân hơn 10%/năm Trong năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt giá trị 2,4 tỷ USD và chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2005 đã đạt hơn 1 tỷ USD Để có kết quả đó, NTTS đã đóng góp một phần rất lớn Tôm nuôi là mặt hàng đạt tỷ trọng cao nhất, chiếm khoảng 45% trong đó chủ yếu là tôm Sú
Mười năm cuối Thế kỷ XX trở lại đây, nghề nuôi tôm xuất khẩu ở nước ta đã phát triển mạnh từ các tỉnh ĐBSCL cho đến vùng duyên hải Bắc Bộ với nhiều hình thức nuôi khác nhau Sự phát triển của nghề nuôi tôm đã góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Lợi ích lớn lao từ nghề nuôi tôm là mang lại sự ổn định về kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho hàng triệu người dân ven biển Những thành tựu mà nghề nuôi tôm đạt được là kết quả tổng hợp của sự đáp ứng ngày càng tốt hơn nguồn tôm giống nhân tạo, hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi tôm thương phẩm và các dịch vụ phục vụ cho nghề nuôi tôm
Là một tỉnh nằm ở cực Nam của Tổ quốc, Cà Mau với 5.208 km2 diện tích tự nhiên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thủy sản Cà Mau có hai mặt giáp biển Đông và biển Tây, hệ thống sông ngòi chằng chịt chảy ra 33 cửa thông ra biển Hầu hết các sông ngòi đều nhiễm mặn vào mùa nắng, giảm dần vào mùa mưa và chịu ảnh hưởng bởi hai chế độ nhật triều biển Đông và bán nhật triều biển Tây Những ưu thế trên đã tạo nên tính đa dạng, phong phú về tiềm năng thủy sản Nuôi tôm Sú đã thực sự trở thành thế mạnh của Cà Mau và không ngừng tăng với tốc độ cao từ hình thức nuôi quảng canh sang hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh Mặt khác Cà Mau có thể mở rộng diện tích phát triển nuôi tôm quanh năm theo nhiều phương thức đảm bảo hiệu quả kinh tế, ổn định môi trường sinh thái, đảm bảo an toàn lương thực
Song xu hướng phổ biến thường hướng tới các phương pháp sản xuất tôm thâm canh và sự tìm kiếm lợi nhuận trong sản xuất thường đi kèm với việc dựa nhiều hơn vào các hoá chất trị bệnh, các phụ gia cho vào thức ăn, các hormone và các loại thuốc diệt ký sinh trùng Việc sử dụng các loại sản phẩm này mang nhiều lợi ích như nâng cao hiệu quả sản
Trang 2xuất, tăng sản lượng tôm nuôi, phòng và trị bệnh… Bên cạnh đó các sản phẩm này cũng gây không ít mối quan tâm về sức khoẻ con người, chất lượng sản phẩm thủy sản, sự phân tán
ra môi trường nước, sự kháng thuốc… Vì thế việc sử dụng các loại sản phẩm gì và sử dụng như thế nào đang là sự lo ngại cho nghề nuôi tôm thương phẩm công nghiệp trên toàn quốc nói chung và Cà Mau nói riêng
Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm giúp sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, thu thập và xử lý số liệu, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, tôi được Khoa Nuôi trồng Thủy sản của Trường Đại học Thủy sản giao quyết định thực tập tốt nghiệp với đề tài:
“Điều tra các loại thuốc kháng sinh, hoá chất, chế phẩm sinh học và chất dinh dưỡng bổ sung dùng trong nuôi tôm thương phẩm công nghiệp tại Cà Mau”
Với các nội dung sau:
- Điều tra các loại hoá chất và chế phẩm sinh học dùng cải tạo ao, xử lý nước trong nuôi tôm thương phẩm công nghiệp
- Các chế phẩm sinh học, các sản phẩm sử dụng quản lý môi trường ao nuôi tôm thương phẩm công nghiệp
- Các loại thuốc phòng trị bệnh và nâng cao sức khoẻ cho tôm nuôi
Báo cáo này giúp lấp một khoảng trống quan trọng bằng cách đưa ra cái nhìn tổng quát về việc sử dụng thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học và các chất phụ gia trong nuôi tôm thương phẩm công nghiệp tại Cà Mau Báo cáo này cũng đề cập đến tính hiệu quả của các sản phẩm trên nhằm đưa ra hướng bảo vệ môi trường, sức khoẻ con người, tính bền vững của nghề nuôi tôm Song nhiều thông tin trong báo cáo này cũng giúp ích cho các cơ quan quản lý, các nhà khoa học về môi trường, những người NTTS, những nhà sản xuất và cung cấp hoá chất
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG LUẬN
1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NUÔI TÔM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới
Nghề nuôi tôm ven biển đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm ở Đông Nam Á nhưng công nghiệp nuôi tôm hiện đại mới bắt đầu từ những năm 30 của Thế kỷ XX, khi Tiến sĩ Motosaku Fujinaga(Hudinaga) người Nhật công bố công trình nghiên cứu về sản
xuất giống nhân tạo loài Penaeus japonicus Đến năm 1964, quy trình sản xuất giống và ương ấu trùng P japonicus được hoàn chỉnh Sự phát triển của công nghiệp nuôi tôm
thương mại được mở ra từ đó và lớn mạnh cho đến ngày nay (Trần Minh Anh 1989)
Dựa vào mức độ công nghiệp và năng suất, người ta chia nghề nuôi tôm ra ba hình thức chính: quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Quảng canh là hình thức ra đời trước tiên, cho năng suất thấp Do nhu cầu thị trường của con tôm tăng và những tiến bộ đạt được trong khoa học công nghệ, hình thức nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh được thay thế dần và ngày càng phát triển (Nguyễn Văn Hảo 2002)
Bảng 1: Đặc điểm của 3 hình thức nuôi tôm
Đặc điểm Quảng canh Bán thâm canh Thâm canh
Cao trình đất (m) 0 đến + 1,4 m hải đồ 0 đến + 1,4 m hải đồ > + 2 m hải đồ
Sục khí Không sục khí Thay nước hoặc sục
khí khi cần thiết Sục khí tích cực Mật độ thả
Loại thức ăn Tự nhiên (không cho
ăn bổ sung) Tự nhiên + cho ăn bổ sung Thức ăn viên Năng suất
(Nguồn: Menasveta 1998)
Nuôi tôm công nghiệp rất hiệu quả cho việc sử dụng đất so với hình thức nuôi quảng canh truyền thống Mặt khác nuôi tôm công nghiệp mang lại sản lượng tôm nuôi cao, hiệu quả kinh tế lớn Tuy nhiên trình độ thâm canh càng cao dẫn đến hệ quả ô nhiễm
Trang 4môi trường càng lớn, tính bền vững của nghề nuôi tôm càng bị ảnh hưởng Điều này được minh chứng qua những dịch bệnh tôm liên tiếp xảy ra ở tại các trại nuôi của Đài Loan, các nước Đông Nam Á bắt đầu từ những năm 90 của Thế kỷ XX Sự can thiệp của nhiều loại thuốc, hoá chất cùng với sự phát triển hệ thống nuôi tôm thâm canh đã gây nên mối lo ngại cho môi trường ven biển Sự đòi hỏi ngày càng nghiêm ngặt của thị trường, sự khủng hoảng về tài chính và năng lượng đã dần xoá đi hình thức nuôi siêu thâm canh Các hình thức nuôi bán thâm canh và quảng canh cải tiến lại được phát huy tác dụng và mang tính bền vững hơn (H H 2003)
Theo số liệu của FAO năm 2003, sản lượng tôm nuôi trên thế giới gia tăng nhanh chóng và đạt hơn 1,6 triệu tấn Các nước Châu Á dẫn đầu về sản xuất tôm nuôi của thế giới, chiếm khoảng 86% sản lượng toàn cầu Riêng Trung Quốc đạt 400.000 tấn, tăng 15%
so với sản lượng năm 2002 Thái Lan đứng thứ hai với 280.000 tấn, giảm 9% so với sản lượng năm 2000 Sản lượng tôm của Việt Nam cũng tăng mạnh, từ 105.000 tấn năm 2000 đến 200.000 tấn năm 2003
Bảng 2: Sản lượng tôm nuôi thế giới từ năm 2000–2003 (Đơn vị: tấn)
Trung và Nam Châu Mỹ
Các quốc gia khác
210.000 307.000 105.000 138.000 100.000
-
-
304.000 270.000 150.000 150.000 105.000
-
-
340.000 250.000 180.000 162.000 125.000 93.000 245.000
400.000 280.000 200.000 168.000 160.000 120.000 250.000
(Nguồn: Thông tin hội thảo kỹ thuật nuôi tôm sú 2004)
Hiện nay nhiều nước Châu Á nuôi tôm thâm canh đạt 5-7 tấn/ha/vụ Một số nước như: Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam và Ấn Độ chọn mô hình nuôi tôm bán thâm canh và quảng canh cải tiến là chính, còn Thái Lan nuôi chủ yếu theo hình thức thâm canh Tuy nhiên vấn đề về dịch bệnh nổi lên ngày càng gay gắt ảnh hưởng đến sản lượng tôm nuôi ở hầu hết các nước trên thế giới Do đó nuôi tôm công nghiệp giảm tính hấp dẫn đối với người nuôi Họ chuyển dần từ độc canh con tôm sang đa dạng hoá đối tượng nuôi, phát
Trang 5triển nuôi ghép nhằm cải tạo môi trường hoặc giảm một số vụ nuôi trong năm nhằm hạn chế rủi ro
Trên thực tế tôm Sú (Penaeus monodon) và tôm He chân trắng (P vannamei) là hai
đối tượng chính góp phần phát triển thương mại và thị trường tôm thế giới Hai loài này chiếm khoảng 77% tổng sản lượng tôm nuôi năm 2003 Mặc dù hiện nay tôm Sú vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong sản xuất tôm nuôi trên thế giới nhưng dự đoán trong những năm tới hầu hết các nước sẽ mở rộng việc nuôi tôm He chân trắng (Hà Anh 2004)
Bảng 3: Sản lượng các loài tôm nuôi chính trên thế giới (Đơn vị: tấn)
633.594 16.417 20.547 70.190 145.387
676.262 25.559 20.009 70.507 280.114
593.011 25.736 22.379 75.718 430.976
666.071 31.560 23.215 78.018 723.858
(Nguồn: Infofish 2004)
Ngày nay nghề nuôi tôm chịu áp lực lớn về sự đòi hỏi nghiêm ngặt của thị trường Hai vấn đề lớn được đặt ra là kích cỡ tôm và sự kiểm soát gắt gao dư lượng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản nhập khẩu Điều này dẫn đến sự xuất hiện một làn sóng cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước sản xuất tôm Yêu cầu đặt ra cho các quốc gia có nghề nuôi tôm phải lựa chọn quy trình nuôi hợp lý đảm bảo tính bền vững đồng thời tạo ra những sản phẩm sạch
1.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam
Nghề nuôi tôm ở Việt Nam được ước tính xuất hiện hơn một thế kỷ nhưng nghề nuôi tôm chuyên canh mới thực sự phát triển từ sau năm 1987 Các yếu tố quan trọng chi phối sự phát triển nghề nuôi tôm trong thời kỳ này gồm: du nhập và cải tiến thành công công nghệ sản xuất giống tôm nhân tạo, công nghệ nuôi tôm thương phẩm, nhu cầu tôm trên thị trường thế giới tăng cao và các chính sách đổi mới kinh tế của Chính phủ Đến thập kỷ 90, phát triển tôm nuôi ở Việt Nam có phần chững lại do gặp phải nạn dịch bệnh tôm (1994-1995) Trong các năm 1996-1999, bệnh dịch có giảm nhưng vẫn tiếp tục gây thiệt hại cho người nuôi (Phạm Khánh Ly 1999)
Trang 6Sự bùng nổ của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu vào năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hoá sang NTTS Diện tích nuôi tôm tăng 2,16 lần sau 4 năm thực hiện chuyển đổi, tức là tăng từ 250.000 ha (2000) lên 540.000 ha (2003) Chỉ trong vòng 1 năm sau khi ban hành Nghị quyết 09, đã có 235.000 ha gồm 232.000 ha ruộng lúa, 1.900 ha ruộng muối và 1.200 ha diện tích đất hoang hoá ngập mặn được chuyển đổi thành ao nuôi tôm Đến nay diện tích nuôi tôm ở Việt Nam vẫn tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ đã có phần chững lại Theo số liệu hiện có, Việt Nam có diện tích nuôi tôm vào loại lớn trên thế giới, vượt xa Indonesia, nước có diện tích nuôi tôm lớn nhất vào năm 1996, khoảng 360.000 ha (Hanafi và T.,Ahmad 1999) Phần lớn nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ở ĐBSCL, rải rác dọc các cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc
Bảng 4: Diện tích nuôi tôm ở Việt Nam 1990-2003 (ha)
Năm
(Nguồn: Báo cáo Bộ Thủy sản từ 1990-2003)
Cùng với việc mở rộng diện tích, sản lượng tôm nuôi cũng tăng mạnh từ những năm
90 và đặc biệt là từ sau năm 2000 Việt Nam đã trở thành một trong 5 nước có sản lượng tôm nuôi cao nhất trên thế giới Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ hai sau Thái Lan về sản lượng tôm nuôi Theo số liệu công bố của Bộ Thủy sản Việt Nam, với 200.000 tấn năm 2003, sản lượng tôm nuôi Việt Nam chiếm đến 12% sản lượng toàn khu
vực Các loài tôm nuôi chính ở Việt Nam gồm tôm Sú (Penaeus monodon), tôm Bạc (P
merguiensis), tôm Nương (P orientalis), tôm Đất/Rảo (Metapenaeus ensis), trong đó tôm
Sú là loài nuôi chủ đạo, đóng góp sản lượng cao nhất Gần đây tôm He chân trắng Nam Mỹ
(P vannamei) cũng được đưa vào nuôi ở Việt Nam nhưng sản lượng chưa đáng kể (Trần
Văn Nhường, Bùi Thị Thu Hà 2005)
Trang 7Bảng 5: Sản lượng tôm nuôi của Việt Nam 1986-2002 (Đơn vị: tấn)
Năm
Tây Nam Bộ 14.741 30.333 47.121 44.307 81.875 127.899 153.122 Cả nước 15.605 32.746 58.593 58.996 103.845 162.713 193.973
(Nguồn:Báo cáo Bộ Thủy Sản từ 1986-2002)
Xét về công nghệ, nuôi tôm ở Việt Nam trong 20 năm qua đã đạt những tiến bộ đáng kể Hệ thống nuôi tôm quảng canh, dựa vào con giống tự nhiên của thập kỷ 70 được thay thế bằng nuôi quảng canh cải tiến, có bổ sung giống vào cuối thập kỷ 80 Sang thập kỷ 90, phong trào nuôi tôm Sú phát triển mạnh, ở Việt Nam tồn tại cả 3 hình thức nuôi tôm là quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh Tuy nhiên hình thức nuôi tôm chủ yếu vẫn là quảng canh cải tiến Các hệ thống nuôi tôm sinh thái, nuôi tôm hữu cơ và nuôi theo mô hình “thực hành nuôi tốt” cũng đã xuất hiện ở Việt Nam, nhưng mới ở quy mô nhỏ mang tính chất thử nghiệm (Trần Văn Nhường, Bùi Thị Thu Hà 2005) Sau năm 2000, phát triển nuôi tôm ở Việt Nam vừa diễn ra theo hướng mở rộng diện tích vừa gia tăng mức độ thâm canh Nhưng năng suất tôm nuôi bình quân của Việt Nam rất thấp, đạt khoảng 360 kg/ha năm 2000 và 340 kg/ha năm 2001 (Bộ Thủy sản 2001) Diện tích nuôi tôm thâm canh ở Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ nhờ sự khuyến khích của Chính phủ và sự tham gia của các nhà đầu tư Mô hình nuôi tôm thâm canh ít thay nước cho năng suất cao, đạt trung bình 5-7tấn/ha/vụ đang phát triển Tuy nhiên mô hình này cho cỡ tôm thành phẩm nhỏ, sức cạnh tranh kém trên thị trường Mặc khác khả năng gây ô nhiễm, tính rủi ro cao Mô hình nuôi bán thâm canh cho năng suất thấp hơn nhưng rủi ro thấp và ổn định hơn (Bộ Thủy sản 2004)
Hiện nay nghề nuôi tôm Việt Nam đã gặp phải những khó khăn chưa từng có Đó là vụ kiện chống phá giá tôm của Mỹ áp đặt đối với 6 nước xuất khẩu tôm trên thế giới, trong đó có Việt Nam Giá nhiên liệu tăng cao Các vùng nuôi tôm chưa được quy hoạch hoàn
Trang 8chỉnh Kỹ thuật của người nuôi còn nhiều hạn chế Năng suất nuôi giảm Ở một số tỉnh, vấn đề con giống vẫn không đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng
Các hiện tượng như ô nhiễm môi trường đã xuất hiện trên nhiều vùng đầm phá nuôi thâm canh vì người nuôi càng sử dụng nhiều thức ăn, thuốc và hoá chất Các chất thải tồn động gây bẩn môi trường làm thay đổi cấu trúc và nhiễu loạn hệ sinh thái ngoài tự nhiên Tình trạng tổ chức quản lý nguồn nước còn kém Ô nhiễm nước đã dẫn đến việc suy giảm nguồn nước ngầm ở các vùng nuôi tôm trên cát Hiện nay đã xuất hiện nguy cơ thoái hoá đất tiềm tàng ở các tỉnh Nam Trung Bộ như Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên…
Bệnh tôm ngày càng trầm trọng và lây lan trên nhiều vùng trong cả nước Theo ước tính của Bộ Thủy sản (1996), nạn dịch bệnh tôm ở các tỉnh ĐBSCL trong các năm 1994-
1995 đã ảnh hưởng tới 85.000 ha và gây thiệt hại 294 tỷ đồng Và trong các năm 2001,
2002 dịch bệnh tôm tiếp tục đe doạ và gây ảnh hưởng lớn ở khu vực ĐBSCL Năm 2003 cả nước có 546.757 ha nuôi tôm nước lợ thương phẩm, trong đó diện tích có tôm nuôi bị bệnh và chết là 30.083 ha Riêng các tỉnh ven biển từ Đà Nẵng đến Kiên Giang có tới 29.200 ha tôm nuôi bị chết nhiều, chiếm 97,06% diện tích có tôm bị chết trong cả nước Nguy hiểm
nhất là bệnh virus đốm trắng, bệnh đầu vàng, MBV (Monodon Baculovirus), bệnh do ký
sinh trùng, do dinh dưỡng và gần đây xuất hiện thêm bệnh phân trắng, teo gan ở một vài nơi (Hà Anh 2004) Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2005, diện tích nuôi có tôm bị chết nhiều trên 18.500 ha, bằng 3,4% diện tích nuôi, thiệt hại về giống trên 1,7 tỷ con (Bộ Thủy sản 2005)
Tóm lại nghề nuôi tôm ở Việt Nam có bước phát triển nhanh chóng, đạt được nhiều thành tựu kinh tế xã hội quan trọng nhưng chưa quan tâm đầy đủ đến phát triển bền vững Nuôi tôm vẫn mang tính tự phát thiếu quy hoạch, chạy theo lợi ích trước mắt Hình thức tổ chức nuôi tôm chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, có tính chất manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả, rủi ro cao, chưa hình thành mạng lưới tổ chức chặt chẽ để nâng cao hiệu quả sản xuất, quản lý tốt chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả cạnh tranh và duy trì thị trường bền vững
2 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH NUÔI TÔM Ở CÀ MAU
Nghề nuôi tôm ở Cà Mau đã có từ lâu với hình thức nuôi quảng canh, nguồn giống
Trang 9Nuôi tôm công nghiệp có đầu tư chiều sâu về con giống, thức ăn, trang thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học nhằm nâng cao lợi nhuận chỉ mới xuất hiện từ năm 2000 Tuy nhiên Cà Mau có lợi thế về điều kiện tự nhiên, diện tích nên sản lượng tôm nuôi luôn tăng và chiếm tỷ lệ lớn trên cả nước Cùng với sự tăng nhanh về diện tích, sản lượng cũng gia tăng đáng kể
Bảng 6: Diện tích, sản lượng và năng suất tôm nuôi Cà Mau 2000-2004
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (kg/ha/năm)
(Nguồn: Báo cáo Sở Thủy sản Cà Mau từ 2000-2004)
Năm 2004 sản lượng tôm nuôi đạt 80.300 tấn, tăng 2,25 lần trong khi đó diện tích chỉ tăng 1,5 lần Điều này chứng tỏ trình độ kỹ thuật của người nuôi dần dần được nâng cao Năm 2004 năng suất tôm nuôi ở Cà Mau đạt 347 kg/ha/năm, gấp 1,5 lần so với năm
2000 và 1,9 lần so với những năm đầu mới tách tỉnh (181kg/ha năm 1997) Đây là một thành công lớn đối với nghề nuôi tôm Cà Mau trong những năm qua Tuy nhiên với kết quả này nuôi tôm ở Cà Mau được đánh giá là một trong những tỉnh có năng suất bình quân thấp Điều này cũng dễ dàng nhận biết qua đặc điểm riêng của nghề nuôi tôm ở Cà Mau Cà Mau vốn là tỉnh đa dạng về mô hình nuôi với đặc trưng là mô hình nuôi tôm sinh thái rừng – tôm, nuôi quảng canh cải tiến thu tỉa thả bù và mô hình tôm – lúa
Nuôi tôm thương phẩm công nghiệp ở Cà Mau thực sự bắt đầu từ năm 2000 Hiện nay năng suất trung bình trong nuôi tôm công nghiệp chỉ đạt 3-5 tấn/ha/vụ Do gặp khó khăn về thị trường, con giống, khoa học kỹ thuật, vốn nên nuôi tôm công nghiệp không hấp dẫn đối với người nuôi ở Cà Mau Diện tích nuôi công nghiệp tuy có tăng hàng năm nhưng chiếm một tỉ lệ rất thấp trong tổng diện tích nuôi tôm toàn tỉnh Năm 2004 diện tích nuôi tôm công nghiệp chỉ đạt 580 ha, tăng 18 lần so với năm 2000 (32,1 ha)
Trang 10Hình 1: Diện tích nuôi tôm Sú công nghiệp ở Cà Mau
Hiệu quả nuôi tôm công nghiệp ở Cà Mau chưa cao Việc đầu tư cơ sở hạ tầng chưa đúng mức Hệ thống sản xuất giống thiếu sự quản lý của cơ quan chức năng về chất lượng Trong những năm gần đây tình hình sản xuất giống có nhiều chuyển biến Số lượng tăng theo hàng năm nhưng chất lượng con giống kém
Cà Mau vẫn đang ở tình trạng bị động về con giống Hàng năm toàn tỉnh phải nhập một số lượng lớn Mặc khác công nghệ sản xuất giống ở Cà Mau còn lạc hậu Một số quy trình cũ vẫn còn duy trì Lượng hoá chất, kháng sinh dùng nhiều Hầu hết các cơ sở sản xuất giống đều không xử lý nước thải Yếu tố này gây nên ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm ở Cà Mau
Bảng 7: Tình hình giống tôm Sú ở Cà Mau
Năm Số cơ sở sản
(Nguồn: Báo cáo Sở Thủy sản Cà Mau từ 2000-2004)
Mặc khác nuôi tôm ở Cà Mau đang đứng trước những thách thức lớn Kinh nghiệm của người nuôi còn non kém Việc quản lý môi trường ao nuôi chưa được quan tâm đúng mức Dịch bệnh thường xuyên xảy ra Vấn đề chăm sóc sức khoẻ tôm nuôi còn nhiều hạn chế Sự phát triển ồ ạt của thị trường thức ăn, thuốc và hoá chất gây nên sự lúng túng cho
Diện tích (ha)
Năm
Trang 11người nuôi Các cơ sở nuôi chưa đánh giá được hiệu quả của các sản phẩm nên độ tin cậy chưa cao Trên thực tế những nghiên cứu về việc sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi tôm tại Cà Mau còn rất ít Do đó việc rà soát đánh giá thành phần chủng loại và những tác dụng của các sản phẩm dùng trong nuôi tôm công nghiệp ở Cà Mau là hết sức cần thiết
3 VẤN ĐỀ THUỐC VÀ HOÁ CHẤT TRONG NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM
Trong xu thế hiện đại hoá, nhu cầu dinh dưỡng cho con người càng đòi hỏi ở mức cao Các nhu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y được đặt lên hàng đầu và ở mức nghiêm ngặt Cùng với việc mở rộng diện tích nuôi tôm, vấn đề về dịch bệnh vẫn là mối quan tâm của hầu hết những người nuôi Họ đã tìm mọi cách làm giảm dịch bệnh và tăng năng suất bằng cách áp dụng các kỹ thuật nuôi tiên tiến nhất cộng với sự can thiệp bằng thuốc và hoá chất Tuy nhiên đã có không ít trường hợp sử dụng thuốc không đúng mục đích và hướng dẫn sử dụng dẫn đến sản phẩm tạo ra không đạt tiêu chuẩn cho người tiêu dùng
Thời gian gần đây, việc thay đổi “ngưỡng không” về dư lượng một số loại thuốc kháng sinh của EU và Mỹ như dư lượng Chloramphenicol và Nitrofuran đã làm cho một nửa lượng tôm xuất khẩu của Indonesia vào EU bị loại bỏ Tất cả các sản phẩm từ động vật của Trung Quốc bị cấm hoàn toàn Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các nước EU, Mỹ, Nhật Bản, Canada… cũng gặp nhiều khó khăn (Lê Hồng Phước 2002)
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã có những chỉ thị về tăng cường quản lý việc sử dụng thuốc kháng sinh, hoá chất trong kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc động vật Bộ trưởng Bộ Thủy sản đã có quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/02/2005 về việc cấm và hạn chế sử dụng một số hoá chất, kháng sinh trong sản xuất và kinh doanh thủy sản Trong đó số lượng hoá chất, kháng sinh trong danh mục cấm lên đến 17 loại còn số lượng hạn chế sử dụng là 34 loại Gần đây với xu hướng gia nhập và sức ép thị trường càng khắc nghiệt, Bộ Thủy sản tiếp tục ra Quyết định số 26/2005/QĐ-BTS ra ngày 18/08/2005 bổ sung thêm
11 loại cấm, đã nâng danh mục hoá chất, kháng sinh bị cấm lên 28 loại
Trước yêu cầu ngày càng cao về điều kiện vệ sinh và an toàn thực phẩm, việc lựa chọn và dùng các loại thuốc, hoá chất trong NTTS có ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc làm này không những tạo ra nguồn thực phẩm ở mức an toàn vệ sinh cao mà còn góp phần nâng cao thu nhập từ xuất khẩu cho mỗi nước
Trang 12Từ khi nghề nuôi tôm công nghiệp ra đời và phát triển, nhiều loại thuốc, hoá chất được sử dụng trong quá trình nuôi, chủ yếu để xử lý nước, quản lý sức khoẻ, kích thích sinh trưởng và phòng tri bệnh Những năm gần đây với cường độ nuôi càng cao thì việc dựa nhiều hơn vào các loại chất trị bệnh, các chất phụ gia cho vào thức ăn và các chất diệt ký sinh trùng Người nuôi tôm cho rằng muốn đạt kết quả cao thì phải sử dụng nhiều thuốc và hoá chất Tuy nhiên ở chừng mực nào đó việc cường điệu hoá tác dụng của một số loại thuốc và hoá chất đã làm tăng mức độ sử dụng chúng cả về liều lượng lẫn tần suất (GESAMP 1997)
Đã xuất hiện sự lo ngại ngày càng tăng về việc sử dụng và khả năng sử dụng không đúng cách một số thuốc, hoá chất dùng trong nuôi tôm công nghiệp Lượng thông tin về việc sử dụng hoá chất trong NTTS ven biển cũng như trong nuôi tôm công nghiệp và ý nghĩa của nó với việc đảm bảo sức khoẻ con người, bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm đã được thu thập ngày càng nhiều hơn Năm 2003, Mai Văn Tài – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã thực hiện đề tài “Điều tra đánh giá hiện trạng các loại thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học dùng trong NTTS nhằm đề xuất các giải pháp quản lý” Hàng năm Bộ Thủy sản ban hành những danh mục các loại thuốc thú y thủy sản được phép, hạn chế và cấm sử dụng trong sản xuất và kinh doanh thủy sản Trước đây Lê Hồng Phước – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tham gia thực hiện đánh giá việc sử dụng thuốc và hoá chất trong NTTS khu vực ĐBSCL, đã định loại và nêu lên được mục đích, tác dụng của các sản phẩm trên thị trường Riêng ở Cà Mau, hàng năm Chi cục quản lý thuốc thú y thủy sản tỉnh có nhiều đợt điều tra đánh giá các sản phẩm bán trên thị trường cũng như sử dụng trong nghề nuôi tôm Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2005 tỉnh đã tiến hành kiểm tra trên 300 cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thú y thủy sản và thống kê được hơn 80 loại thuốc, hoá chất xử lý môi trường và chế phẩm sinh học
Tuy nhiên những báo cáo trước đây chưa đi sâu nghiên cứu vào thành phần hoạt chất chính của các loại sản phẩm và tác dụng đến những vùng nuôi cụ thể Do đó chắc còn lâu nghề nuôi tôm mới có đủ thông tin cần thiết cho việc quản lý cũng như nghiên cứu sâu hơn về các sản phẩm đó Báo cáo này góp một phần nhỏ trong việc lấp vào khoảng trống quan trọng bằng cách đưa ra cái nhìn tổng quát hơn về việc sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hoá chất và chế phẩm sinh học dùng trong nuôi tôm công nghiệp ở Cà Mau theo thành phần hoạt chất cũng như mục đích sử dụng của nó
Trang 13CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU TRA
1.1 Thời gian: Từ ngày 11/08/2005 đến ngày 20/11/2005
1.2 Địa điểm:
- Các cơ sở nuôi tôm thương phẩm công nghiệp ở Cà Mau
- Các đại lý kinh doanh thuốc thuốc thú y thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Các phòng chức năng quản lý thủy sản trực thuộc Sở Thủy sản Cà Mau
2 SƠ ĐỒ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
Nội dung nghiên cứu
Sở Thủy sản Cà Mau - Các cơ sở nuôi tôm
- Các đại lý kinh doanh thuốc thú y thủy sản
- Hiện trạng nghề nuôi tôm
ở Cà Mau
- Doanh mục các loại thuốc
thú y thủy sản kinh doanh ở
Cà Mau
- Các tiêu chuẩn ngành
- Đặc điểm ao nuôi, vùng nuôi
- Kỹ thuật nuôi
- Hiệu quả kinh tế
- Thông tin chủ hộ
- Thuốc kháng sinh
- Các hoá chất
- Chế phẩm sinh học
- Các chất dinh dưỡng bổ sung
Trang 14: Vị trí tập trung nhiều cơ sở nuôi tôm công nghiệp trong điều tra
Hình 2: Bản đồ hành chính Cà Mau
Trang 153 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA
- Phỏng vấn trực tiếp người nuôi
- Phỏng vấn các đại lý kinh doanh thuốc thú y thủy sản về những sản phẩm bán ra thị trường và khu vực cung cấp
- Thu thập số liệu:
+ Số liệu thứ cấp được công bố ở Sở Thủy sản và những số liệu có liên quan đến vùng nghiên cứu
+ Số liệu sơ cấp được tổng hợp qua quá trình điều tra các trại nuôi tôm công nghiệp, các đại lý kinh doanh với số mẫu điều tra là 70
Ngoài ra, thông tin còn được thu thập thông qua các tài liệu, văn bản quản lý thuốc thú y thủy sản của Bộ Thủy sản Thông qua các tờ rơi, catalogue của các công ty, danh mục thuốc thú y được phép nhập khẩu, danh mục thuốc thú y được phép sử dụng của Bộ Thủy sản để có các sản phẩm đã và đang lưu hành trên thị trường
4 PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
- Số liệu thu thập được mã hoá và xử lý trên phần mềm Excel
- Sử dụng phương pháp mô tả thống kê để xác định các trị số trung bình, trung vị, tỷ lệ phần trăm của việc sử dụng thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học
- Xác định mối quan hệ giữa các yếu tố: Số lượng hoá chất được dùng, kinh nghiệm nuôi và những nhận thức về việc dùng thuốc
- Các sản phẩm thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học được phân chia thành 7 nhóm nhỏ riêng biệt dựa trên mục đích sử dụng và thành phần hoạt chất chính của GESAMP (1997): Hoá chất xử lý đất và nước, chất gây màu nước gồm phân bón và hoá chất nuôi tảo, hoá chất khử trùng và diệt tạp, kháng sinh, chế phẩm sinh học, thức ăn bổ sung (vitamin, vi khoáng, axít amin, men tiêu hoá), các loại hormone và các sản phẩm không rõ nguồn gốc, không xác định được thành phần, không có thương hiệu Việc sắp xếp này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh, phân tích, đánh giá và rút ra nhận xét cần thiết
Trang 16CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 SƠ LƯỢC HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM CÔNG NGHIỆP
Ở CÀ MAU
1.1 Đặc điểm ao nuôi tôm công nghiệp ở Cà Mau
Bảng 8: Một số chỉ tiêu ao nuôi tôm công nghiệp ở Cà Mau
Các chỉ tiêu
Ao
Diện tích (m 2 )
Độ sâu (cm)
Tỷ lệ (%)
ao chứa không lớn, đạt mức 14% tổng diện tích nuôi Hầu hết các trại nuôi tôm đều không có ao chứa nước thải trừ những trại có diện tích nuôi >10 ha Theo Nguyễn Đình Trung (2002) tỷ lệ diện tích khuyến cáo trong nuôi tôm công nghiệp giữa ao nuôi: ao lắng và xử lý hoá học: ao xử lý nước thải xấp xỉ 60: 25: 15 mới đảm bảo được việc quản lý tốt môi trường ao nuôi, vùng nuôi cũng như việc xử lý rủi ro về khía cạnh môi trường trong quá trình nuôi Hiện nay tỷ lệ này trong nuôi tôm công nghiệp tại Cà Mau chỉ đạt 83: 14: 3 Mặt khác sau mỗi vụ nuôi các chất thải chưa xử lý được cho trực tiếp ra môi trường sông rạch xung quanh Điều này phần nào nói lên được ý thức quản lý môi trường của người nuôi còn kém, làm ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề nuôi
Đa số ao nuôi đều có hình vuông và chữ nhật rất thuận lợi cho viêc quản lý chăm sóc và cho ăn Bên cạnh đó độ sâu cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý môi trường
ao nuôi và đảm bảo cho hoạt động sống bình thường của tôm nuôi Qua số liệu điều tra độ
Trang 17sâu trung bình 120,06 cm phù hợp với nhiều nghiên cứu và khuyến cáo của các nhà chuyên môn trong nuôi tôm công nghiệp tại Việt Nam
Nguồn nước và chất đáy là những yếu tố không thể thiếu trong nuôi tôm Các yếu tố này gắn liền với vị trí địa lý và điều kiện thổ nhưỡng nơi ao nuôi được xây dựng Nó ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình nuôi, quy trình kỹ thuật cũng như việc sử dụng thuốc và hoá chất
Bảng 9: Nguồn nước và chất đất ở các tiểu vùng tại Cà Mau
Đầm Dơi - Chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy
triều biển Đông - Thịt pha sét, ít phèn Năm Căn, Ngọc Hiển - Chịu ảnh hưởng đồng thời của
thủy triều biển Đông và biển Tây - Thưa thịt, mùn bả hữu cơ, ít phèn Thành phố Cà Mau,
Thới Bình, Cái Nước
- Chịu ảnh hưởng vùng nội đồng xa biển tiếp giáp vùng nước ngọt
- Thịt, mùn bả hữu cơ, phèn nhiều
U Minh, Trần Văn
Thời, Phú Tân
- Chịu ảnh hưởng nhiều của vùng biển Tây và tiếp giáp vùng nước ngọt nội đồng
- Thịt pha sét, mùn bả hữu
cơ, phèn nhiều
Các tiểu vùng khác nhau có điều kiện về nguồn nước, chất đất khác nhau Điều này nói lên được khả năng trao đổi nước tự làm sạch môi trường, mức độ ô nhiễm hữu cơ hàng năm cũng khác nhau Những điều kiện đó làm ảnh hưởng đến kỹ thuật nuôi, đặc biệt là sự can thiệp của các loại thuốc và hoá chất trong việc quản lý sức khoẻ tôm nuôi và môi trường ao nuôi
Trong thực tế hàng năm Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã nghiên cứu và chứng minh được mối quan hệ giữa vị trí của các tiểu vùng đến mức độ trao đổi nước, ô nhiễm hữu cơ, độ nhiễm phèn, năng suất tôm nuôi Những vùng chịu ảnh hưởng nhiều của thủy triều biển Đông, năng suất tôm nuôi cao, sự trao đổi nước dễ dàng, sự ô nhiễm hữu cơ thấp do biên độ triều lớn Ngược lại những vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều biển Tây có năng suất thấp hơn, khả năng trao đổi nước kém, mức độ ô nhiễm hữu cơ tăng, chịu ảnh hưởng lớn của lượng lớn nước ngọt và phèn nội đồng Điều này phù hợp với việc điều tra Tiểu vùng Đầm Dơi được xem là nơi thuận lợi cho nuôi tôm công nghiệp về nguồn nước lẫn chất đất Trên thực tế diện tích nuôi tôm công nghiệp tại Đầm Dơi nhiều nhất, ra đời sớm nhất, chiếm khoảng 28% diện tích nuôi tôm công nghiệp toàn tỉnh
Trang 181.2 Đặc điểm kỹ thuật nuôi tôm công nghiệp
1.2.1 Chuẩn bị ao nuôi
Công việc chuẩn bị ao nuôi bao gồm nhiều khâu và được thực hiện trước mỗi vụ nuôi Mục đích của việc làm này nhằm tạo cho tôm nuôi có một vùng đáy sạch, cứng và có chất lượng nước tốt, ổn định Qua điều tra thực tế, 100% trang trại nuôi tôm công nghiệp tại Cà Mau đều thực hiện việc cải tạo ao đáy ao và chuẩn bị nước cho ao trước khi thả giống Thời gian cho công việc này dao động 30-45 ngày Các bước tiến hành gồm: Tháo cạn nước, vét bùn, súc rửa đáy, tu sửa bờ ao, bón vôi, phơi đáy, lấy nước, xử lý nước và gây màu nước
1.2.2 Thả giống
Bảng 10: Mật độ, nguồn giống và chất lượng giống trong nuôi tôm công nghiệp
Mật độ
(P 15 /m 2 ) Địa phương
(%)
Nhập ngoài tỉnh (%)
Qua xét nghiệm bệnh, gây sốc (%)
Không qua xét nghiệm bệnh (%)
Việc lựa chọn nguồn giống, chất lượng con giống và mật độ thả giống là hết sức quan trọng Phần nào những yếu tố này quyết định đến kết quả nuôi Mật độ thả trung bình trong nuôi công nghiệp tại Cà Mau là 31,02 P15/m2, tương đối phù hợp với điều kiện ao nuôi, vùng nuôi và trình độ quản lý của người nuôi Nguồn giống chủ yếu được mua từ miền Trung và hơn 72% được xét nghiệm các mầm bệnh nguy hiểm và gây sốc để loại bỏ những hậu ấu trùng yếu Giống được thả trực tiếp xuống ao Theo Đỗ Thị Hoà (2000) việc thả trực tiếp Postlarvae xuống ao nuôi không qua giai đoạn ương trong ao đất góp phần giảm sự lây nhiễm bệnh, đặc biệt là bệnh MBV
1.2.3 Thời vụ nuôi
Bảng 11: Thời vụ và thời gian nuôi
Thời vụ (Vụ/năm) Thời gian nuôi (ngày/vụ)
Hiện nay môi trường nuôi tại Cà Mau còn tốt Các chương trình cải tạo sên vét sông rạch được thực hiện thường xuyên Khả năng trao đổi nước giữa biển Đông với vùng nội
Trang 19địa còn ở mức cao nên mức độ ô nhiễm hữu cơ tăng chậm Do đó hơn 80% số trang trại tiến hành nuôi 2 vụ/năm, đã đưa số vụ nuôi trung bình 1,72 vụ/năm Thời gian nuôi trung bình của một vụ là 130,80 ngày
1.2.4 Quản lý thức ăn và môi trường ao nuôi
Thức ăn là một yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định đến hiệu quả kinh tế cũng như gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Thức ăn là nguồn gây ô nhiễm chính cho môi trường ao nuôi Ý thức được việc này, 100% trang trại nuôi tôm đều sử dụng thức ăn công nghiệp có giá trị cao về dinh dưỡng và có độ hoà tan thấp
Việc thay nước thường xuyên sẽ gây sốc cho tôm nuôi và có thể mang nhiều mầm bệnh từ bên ngoài vào Qua điều tra 100% trang trại nuôi thực hiện quy trình nuôi ít thay nước và không thay nước Họ thường xuyên theo dõi sự biến động các yếu tố môi trường và quản lý bằng các loại hoá chất và CPSH
1.3 Kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế
Qua điều tra 278,95 ha nuôi tôm công nghiệp tại Cà Mau, năng suất bình quân khá cao, đạt 4,30 tấn /ha Kích thước tôm thu hoạch tương đối lớn (33,78 con/kg) và có sức cạnh tranh tốt trên thị trường Điều này cũng đánh giá được điều kiện sinh thái thuận lợi, trang thiết bị phục vụ cho nuôi tôm tương đối đầy đủ Tuy nhiên trình độ quản lý môi trường nuôi còn kém, nhiều hộ nuôi gặp khó khăn trong quá trình nuôi và chịu rủi ro lớn về bệnh tôm và dinh dưỡng cho tôm nuôi Chi phí sản xuất chỉ ở mức trung bình là 221,68 triệu đồng cho
1 ha nuôi tôm công nghiệp So với kết quả khảo sát của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản năm 2001 chi phí sản xuất tôm công nghiệp tại Cà Mau chỉ tương đương với chi phí đầu tư cho 1 ha nuôi tôm ở trình độ bán thâm canh Kết quả giá thành sản xuất tôm công nghiệp tại Cà Mau (51.214,28 VNĐ/ kg) cũng xấp xỉ với giá thành sản xuất tôm thương phẩm công nghiệp tại Việt Nam mà Shang và các cộng sự điều tra vào năm 1998 (52.939,00 VNĐ/kg)
Bảng 12: Kết quả nuôi và hiệu quả kinh tế
Loại tôm thu hoạch bình quân (con/kg) 33,78±1,28
Trang 20Với lợi nhuận 22.685,71 VNĐ/kg người nuôi tôm Cà Mau hiện nay vẫn có thể phát triển nuôi tôm công nghiệp trong giới hạn mật độ nuôi vừa phải kết hợp việc quản lý sức khoẻ tôm nuôi và môi trường nuôi bằng phương pháp sinh học và hạn chế việc dùng hoá chất Đó là hướng phát triển bền vững và mang lại lợi nhuận cao nhất
2 CÁC LOẠI THUỐC KHÁNG SINH, HOÁ CHẤT, CHẾ PHẨM SINH HỌC VÀ CHẤT DINH DƯỠNG BỔ SUNG DÙNG TRONG NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM CÔNG NGHIỆP TẠI CÀ MAU
2.1 Chủng loại, mục đích sử dụng và nồng độ các loại thuốc, hoá chất và CPSH
Kết quả điều tra 70 trại nuôi tôm thương phẩm công nghiệp (278,95 ha) có 139 loại thuốc, hoá chất, CPSH khác nhau đã được sử dụng trong ao nuôi tôm (293 tên thương mại) Trong đó, nhóm chất xử lý đất và nước có 9 loại, phân bón và chất gây tảo 15 loại, chất khử trùng và diệt tạp 33 loại, kháng sinh 16 loại, CPSH 26 loại, chất bổ sung vào thức ăn
38 loại (chưa kể các loại CPSH bổ sung vào thức ăn), nhóm không xác định 2 loại
2.1.1 Hoá chất xử lý đất và nước
Nhóm chất xử lý đất và nước gồm các loại vôi, hoá chất xử lý đáy trong quá trình cải tạo ao, chất làm trong và sạch môi trường nước, khử các khí độc ở đáy Đây là nhóm chất phổ biến và được sử dụng chủ yếu trong nghề nuôi tôm
Trang 21Bảng 13: Nhóm hoá chất dùng trong cải tạo đáy ao và ổn định môi trường trong ao nuôi tôm thương phẩm công nghiệp
Thời điểm và cách dùng
Tỷ lệ hộ sử dụng (%)
Calci-100, vôi nông nghiệp, Super
limestone, Super canximax, Geo-super-canxi
- Cải tạo và khử trùng đáy, tăng pH đất
- Tăng hệ đệm, ổn định môi trường
15-20 - Khi cải tạo
ao, khi trời mưa và dùng định
Geo-Dolomite, Lab Dolomite
- Cải thiện khả năng đệm của nước
- Cải tạo màu nước và ổn định pH
15-20 - Khi gây màu
100
4 CaO ≥ 98% Vôi sống, vôi
Kiên Hà, Canxi ôxit, vôi chuyên dùng
- Tăng pH, tăng độ trong, diệt tạp đáy
ao
7-10 - Khi cải tạo
ao, khi pH xuống thấp
Neolite, Granular AAA, Marine Zeolite, Sitto zeolite, Diatomite, Zeo-100, Well Zeolite, Bac-Zeolite, ASC Protect,
Clinzex-DS
- Hấp thụ các khí độc, giảm sự thối rữa đáy ao
- Lắng tụ chất
lơ lững và góp phần quản lý màu nước
15-20 - Khi gây màu
nước, tảo tàn và định kỳ 10-15 ngày/lần
- Bón trực tiếp xuống ao ở dạng hạt, hoà tan vào nước và tạt trên mặt ao
ở dạng bột
91
Trang 22B Allaline
- Tăng độ kiềm, ổn định
- Giảm pH 3-5 - Khi pH tăng
cao đột ngột
- Tạt đều trên mặt ao
7
100% trại nuôi sử dụng vôi để làm tăng và ổn định pH Phổ biến nhất là vôi CaCO3 và CaMg(CO3)2 Hai loại vôi này cho hiệu quả cao khi sử dụng và ít gây hại cho môi trường cũng như tôm nuôi Chúng cung cấp một lượng nhất định các anion và cation nhằm cân bằng hệ đệm Carbonat trong nước góp phần ổn định pH và độ kiềm trong ngưỡng phù hợp với sự phát triển của tôm Ngoài ra vôi CaO cũng được dùng như một chất khử trùng trong cải tạo ao 91% trại nuôi trong điều tra này sử dụng các hợp chất silicat (Zeolite) như một phương thức loại bỏ amôniac và quản lý tảo Tuy nhiên, Boyd (1995) đã đặt vấn đề về hiệu quả của phương thức này vì sự hấp thụ NH4 bị kiềm chế mạnh bởi nồng độ cao các cation hoà tan trong nước lợ và các hốc của zeolite bị nước lấp đầy nên không thể hấp thụ các loại khí được Mặt khác lượng nhỏ silic trong Zeolite không làm tăng được lượng silic trong ao cho sự phát triển tảo khuê Một số loại acid cũng được sử dụng ở 8 trại có pH cao
do sự phát triển quá mức của tảo dưới dạng sản phẩm khác nhau kể cả giấm ăn và chanh tươi
2.1.2 Phân bón
Nhóm này gồm có phân vô cơ, phân hữu cơ (phân gà, bột cá, bột đậu nành, cám gạo), đường và các chất gây tảo Trong hệ thống nuôi công nghiệp phân bón ít được dùng thường xuyên mà dựa chủ yếu vào thức ăn Phân bón chỉ có ý nghĩa tích cực ở giai đoạn ban đầu trong việc tạo màu nước và ổn định môi trường
Trang 23Bảng 14: Phân bón và chất gây màu nước
Mục đích sử dụng
Nồng độ sử dụng (ppm)
Thời điểm và cách dùng
Tỷ lệ hộ sử dụng (%)
1 Phân đạm Phân Urê - Cung cấp chất
dinh dưỡng cho
ao, ổn định màu nước và ngăn chặn tảo đáy phát triển
1-2 - Khi gây
màu nước
- Hoà tan trong nước và tạt đều trên mặt ao
51
4 Phân gà ủ
hoai
VK3, Phân gây tảo
đường cát
- Kích thích hệ vi sinh vật có lợi phát triển
2-3 - Khi gây
màu nước, khi pH cao
shrim, Bloom shrim, Mineral sea
Bio Bổ sung nguyên tố vi lượng cho nước ao nuôi nhằm duy trì nguồn tảo và vi sinh vật có lợi
0,5-1,0 - Khi gây
màu nước, định kỳ 15 ngày/lần
- Hoà tan và tạt đều trên mặt ao
- Làm giàu nguồn phiêu sinh vật, tạo màu nước
ngày/lần
61
Trang 24Zpt - Giúp phát triển
nhanh phiêu sinh động vật
nt 0,5-1,0 - Sau khi xử
lý hoá chất và định kỳ
30 ngày/lần
Thiên Phú 2 - Cải tạo đáy 15-20 nt 46
Các chất gây tảo và phân vô cơ được sử dụng nhiều nhất trung bình 56,62% trại nuôi Các loại khoáng tổng hợp và các loại bào tử tảo khuê, tảo lục được dùng phổ biến nhất như những hoạt chất chủ yếu trong gây màu nước với 90% trại nuôi Người ta cho rằng sự phát triển của quần thể tảo lục và tảo khuê trong ao nuôi làm cho màu nước ổn định, các yếu tố môi trường ít biến động và tôm mau lớn Phân NPK như một giải pháp vô cơ gây màu nhanh và ít tốn kém, có 64% trại nuôi áp dụng Hầu hết các trại nuôi tôm công nghiệp không sử dụng phân chuồng ngoại trừ một lượng nhỏ phân gà (4%) Điều này phù hợp vì trong hệ thống thâm canh, phân chuồng dễ gây chua đất và ô nhiễm hữu cơ Tuy việc bón phân có nhiều lợi ích trong gây nuôi sinh vật phù du góp phần tạo nên tính ổn định cho môi trường nhưng điều kiện đất và nước có thể xấu đi nếu áp dụng một cách máy móc
2.1.3 Hoá chất khử trùng và diệt tạp
Các chất khử trùng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của nghề nuôi tôm Đây là nhóm chất được sử dụng phổ biến, mang tính truyền thống và thói quen Lượng sử dụng lớn nhất là trong hệ thống nuôi tôm thâm canh Các chất này được dùng trong khâu
Trang 25cải tạo ao đìa, duy trì điều kiện vệ sinh chăn nuôi trong suốt chu kỳ sản xuất và ngoài ra còn dùng trong việc xử lý bệnh
Bảng 15: Các loại hoá chất khử trùng nước và diệt tạp
Mục đích sử dụng
Nồng độ sử dụng (ppm)
Thời điểm và cách dùng
Tỷ lệ hộ sử dụng (%)
- Diệt khuẩn, làm trong nước
20-30 - Khi chuẩn
bị nước ao nuôi
- Hoà tan trong nước và tạt đều trên mặt ao
khuẩn, nấm tảo, protozoa
1,5-2,0 - Chuẩn bị
nước ao trước khi thả tôm
44
7 - H2O2 Oxy già - Diệt khuẩn,
oxy hoá các chất hữu cơ và tăng cường oxy trong nước
10-15 - Khi chuẩn
bị ao, tảo phát triển mạnh và định
- Trị bệnh đóng rong
0,4-0,5 - Khi trong ao
nhiều tảo độc
- Chất hữu cơ tích tụ nhiều
- Định kỳ
10-15 ngày/lần
30