1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển bền vững khu tái định cư Mường Trai - huyện Mường La - tỉnh Sơn La thuộc dự án thuỷ điện Sơn La

104 692 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy việc nghiên cứu hướng sử dụng đất hợp lý để phát triển bền vững tại các khu TĐC, qua đó, để rút ra những bài học kinh nghiệm và các giải pháp theo hướng này cho quá trình di dân T

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

-

NGUYỄN KHOA HIẾU

Nghiên cứu sử dụng đất hợp lý theo hướng

phát triển bền vững khu tái định cư

Mường Trai - huyện Mường La - tỉnh Sơn La

thuộc dự án thuỷ điện Sơn La

Hà Nội – 2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển bền vững (PTBV) là vấn đề đang được thế giới quan tâm Đặc biệt là từ sau hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về môi trường và phát triển tại Rio Janerio (Rio 92) đã khẳng định tầm quan trọng của phát triển bền vững

Sự khẳng định này được thể hiện trong chương trình nghị sự 21 (Agenda21)

và sau đó tại hội nghị Rio + 10 (2002) tại Johannesburg (Nam Phi) đã thành lập uỷ ban về PTBV để thực hiện và cụ thể hoá Agenda 21 Ở Việt Nam, PTBV đã được nhà nước quan tâm bằng các bước đi và chính sách thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng Agenda 21, tiêu chí đánh giá PTBV và đặc biệt là PTBV ở các cộng đồng dân cư miền núi, việc đánh giá mức độ bền vững của cộng đồng đã được rất nhiều nước trên thế giới thực hiện như

Mỹ, Úc, Anh, Philippin,

Bất kỳ một dự án phát triển nào làm thay đổi phương thức sử dụng đất, nguồn nước, hay các loại tài nguyên thiên nhiên khác, đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới những người đang sử dụng các nguồn tài nguyên đó và các phương tiện kinh tế, xã hội, văn hoá có liên quan Có nhiều dự án phải chiếm dụng hay chuyển hướng sử dụng các khu vực đất do các cá nhân và cộng đồng đang sở hữu hoặc đang sử dụng như các dự án xây dựng nhà máy thủy điện, đường giao thông, sân bay, cầu cảng, khu thể thao, Trong số này, nhiều dự án có thể mang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực và quốc gia Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát triển quốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân - những người bị ảnh hưởng Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho các ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân hoặc chỉ gây gián

Trang 3

đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội, môi trường và tìm ra cách để làm hoà hợp những lợi ích và mâu thuẫn nói trên

Công trình thuỷ điện Sơn La khi hình thành sẽ là nấc thang thứ hai sử dụng nguồn nước sản xuất điện năng trên dòng Sông Đà, có vai trò và tác dụng

to lớn trong việc sản xuất điện năng và điều tiết nước, chống lũ cho vùng hạ du Đồng thời công trình cũng tạo ra vùng hồ rộng lớn, gây ảnh hưởng ngập với nhiều địa phương của 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu Với mực nước dâng bình thường 215 m, tỉnh Sơn La phải di chuyển 12.479 hộ tới nơi ở mới

và tiến độ đến năm 2010 phải hoàn thành

Việc di dân tái định cư có ảnh hưởng, gây tác động lớn đến phát triển kinh tế-xã hội và đời sống nhân dân trong tỉnh Công tác lập quy hoạch, kế hoạch TĐC cho nhân dân vùng lòng hồ được quan tâm đúng mức với quan điểm là phải đảm bảo cuộc sống ổn định lâu dài và tạo việc làm cho nhân dân

để có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ

Để quy hoạch TĐC đạt được kết quả tốt, tạo điều kiện cho dân tái định

cư có điều kiện sớm ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất cũng như không làm suy giảm chất lượng môi trường khu vực vùng TĐC, một trong những tiêu chí quan trọng nhất trong quy hoạch TĐC là xác định vị trí và chất lượng vùng TĐC cũng như bố trí sử dụng hợp lý tài nguyên, lãnh thổ trong vùng được lựa chọn Việc lựa chọn, bố trí sử dụng cần được đánh giá, xem xét từ các góc độ về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường với sự hỗ trợ của các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, hiện nay việc quy hoạch vùng TĐC vẫn được thực hiện theo các phương pháp cũ, nhiều chỉ tiêu về mặt tự nhiên, kinh

tế, xã hội, chủ yếu bằng phương pháp định tính Do đó kết quả quy hoạch ít nhiều còn mang tính chủ quan, tính thuyết phục của cơ sở khoa học chưa cao, chưa bền vững, Thực tế cho thấy nhiều khu TĐC đã không đáp ứng được

Trang 4

nguyên bị khai thác, sử dụng quá khả năng của tự nhiên, đời sống của cộng đồng TĐC không ổn định Những hành động này tất yếu sẽ dẫn đến đói nghèo tại các khu TĐC ở nước ta Hơn nữa nó đã và đang gây tác động xấu đến môi trường, làm cho cộng đồng khu TĐC thường không ổn định và rất khó khăn trong việc bảo vệ sự phát triển bền vững

Do vậy việc nghiên cứu hướng sử dụng đất hợp lý để phát triển bền vững tại các khu TĐC, qua đó, để rút ra những bài học kinh nghiệm và các giải pháp theo hướng này cho quá trình di dân TĐC là rất cần thiết Bởi vậy,

chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển bền vững khu tái định cư Mường Trai - huyện Mường La tỉnh Sơn La thuộc dự án thuỷ điện Sơn La” để làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu và ý nghĩa đề tài

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở điều tra đánh giá đúng hiện trạng sử dụng đất và nghiên cứu phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường để bố trí sử dụng đất và đề xuất các giải pháp sử dụng, bảo vệ theo hướng phát triển bền vững ở vùng dự án, góp phần làm tham khảo trong việc bố trí sử dụng đất ở các vùng tái định cư khác

Yêu cầu của đề tài

Trong giới hạn nghiên cứu này, chúng tôi xác định các yêu cầu cần đạt được như sau:

- Cần đánh giá đúng hiện trạng bố trí sử dụng đất và kết quả sản xuất để làm cơ sở đánh giá, phân tích nhưng mặt được và những tồn tại cần khắc phục

Trang 5

- Cần đánh giá đầy đủ các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng dự án làm cơ sở để xác định các tiêu chí phục vụ quy hoạch vùng tái định cư, bao gồm việc bố trí sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển bền vững

- Cần đánh giá khả năng thích hợp của nhưng cây trồng đối với các loại đất chính có trong vùng dự án Xác định được các lợi thế và hạn chế của các yếu tố nói trên

- Đề xuất hướng bố trí, phát triển các loại cây có hiệu quả kinh tế cao, góp phần bảo vệ đất, bảo vệ môi trường vùng tái định cư

- Lựa chọn một số mô hình hệ thống cây trồng có hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững để phục vụ bố trí sử dụng đất các khu TĐC công trình nhà máy thuỷ điện Sơn La (NMTĐSL)

2.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Góp phần làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch nói chung và các

phương án bố trí sử dụng đất theo hướng bảo vệ môi trường vùng tái định cư NMTĐSL nói riêng

- Tiếp cận tới phương pháp luận khoa học cho việc lựa chọn vùng TĐC và các tiêu chí quy hoạch để phát triển kinh tế, xã hội và môi trường vùng TĐC

- Góp phần bổ sung phương pháp quy hoạch vùng TĐC công trình thuỷ điện Sơn La, đồng thời có thể sử dụng để tham khảo trong nghiên cứu khoa học và đào tạo

3 Các quan điểm về sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững

Sự phát triển lấy kinh tế làm trọng tâm đã gây ra những thảm họa môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên và không tính đến lợi ích của những thế hệ mai sau Những trả giá này hiện nay đã lớn đến mức người ta nhận thấy trái đất không phải là nguồn tài nguyên vô tận và con người cũng không thể thống

Trang 6

nhận con người phải sống hoà hợp với tự nhiên đã dẫn đến một chiến lược

phát triển mới, đó là phát triển bền vững

Khái niệm "Phát triển bền vững " được Ủy ban Môi trường và Phát

triển thế giới (ủy ban Brundland) nêu ra năm 1987 như sau: Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không phương hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ

Phát triển bền vững ở mỗi quốc gia và trên quy mô toàn cầu có thể trở thành hiện thực thông qua việc xây dựng xã hội phát triển bền vững Đây là xã hội biết kết hợp hài hoà việc phát triển kinh tế xã hội với việc bảo vệ môi trường

Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, sách "Cứu lấy Trái đất" đã nêu lên 9 nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất: tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

Thứ hai: nâng cao chất lượng sống của cộng đồng

Thứ ba: bảo vệ sức sống và tính đa dạng sinh học của trái đất

Thứ tư: hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài

nguyên không tái tạo

Thứ năm: giữ vững trong khả năng chịu đựng được của trái đất

Thứ sáu: thay đổi thái độ và hành vi của con người

Thứ bảy: để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình

Thứ tám: xây dựng một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho

việc phát triển và bảo vệ

Thứ chín: xây dựng một khối liên minh toàn cầu trong việc bảo vệ môi

trường

Trang 7

Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thoả hiệp nhau của ba hệ thống tương tác lớn của thế giới: hệ tự nhiên, hệ kinh tế

và hệ xã hội (hình 1)

Trang 8

Hình 1: Mô hình phát triển tương tác giữa ba hệ thống tự nhiên, kinh tế,

xã hội và phát triển bền vững

Xuất phát từ cách tiếp cận trên, đã có nhiều mô hình PTBV được xây dựng như mô hình PTBV của Villen 1990, mô hình PTBV của WCED 1987, điển hình là mô hình của Jacobs và Sadler 1990 |6|

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi không gian

Nghiên cứu được giới hạn trên phạm vi hành chính của xã Mường Trai

huyện Mường La, tỉnh Sơn La.(xem sơ đồ)

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các điều kiện về tự nhiên, kinh tế-xã hội vùng dự án

- Các quan điểm về tái định cư và quy hoạch phát triển bền vững

Hệ kinh tế

Trang 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ SỬ DỤNG ĐẤT HỢP LÝ KHU VỰC TÁI ĐỊNH CƯ

1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Nghiên cứu về quy hoạch tái định cư

* Trung Quốc:

Luật quản lý đất 1986 và các điều sửa đổi, bổ sung năm 1988 đã làm rõ các quyền về đất và việc đảm bảo quyền sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nước, hướng dẫn các tỉnh, thành phố, quận, huyện và thị trấn chịu trách nhiệm thực hiện chiếm dụng đất và TĐC Luật này chính thức hoá các thủ tục tham khảo

ý kiến và giải quyết khiếu kiện của những người bị ảnh hưởng Các tỉnh có thể đưa ra hướng dẫn dựa trên luật quốc gia hoặc uỷ quyền cho các thành phố

bổ sung quy định Các dự án đi qua địa bàn nhiều tỉnh sẽ gặp khó khăn trong việc bảo đảm các biện pháp đền bù và khôi phục đã thống nhất cho những người bị ảnh hưởng |26|

Các dự án thuỷ điện cỡ lớn và trung bình phải dựa vào tiêu chuẩn thiết

kế TĐC hồ chứa nước riêng rẽ (1991) có tiêu chuẩn đền bù thấp hơn so với những ngành khác Đền bù trong các dự án hồ chứa hồ chứa nước có thể bao gồm quỹ bảo trì và xây dựng Quỹ này sẽ trích một phần nhỏ trong thu thập từ điện hoặc nước để hỗ trợ chi phí TĐC Các quy định hình thành năm 1984 và cập nhật 1991 chi phối các dự án phát triển đô thị đã đưa ra các biện pháp về tham khảo ý kiến và giải quyết khiếu nại cho những người bị ảnh hưởng Dân

cư đô thị không có giấy phép cư trú có thể không được đền bù hay hỗ trợ khôi phục

Ở nông thôn Trung Quốc, các tổ sản xuất và thôn xã phân đất cho các thành viên hộ gia đình sử dụng theo các hợp đồng dài hạn, theo đó người sản

Trang 10

phương Các cá nhân không thể mua hay bán quyền sở hữu đất, ngay cả như

họ có thể trao đổi quyền sử dụng như ở một số nơi Tất cả các thành viên trong tập thể đều được hưởng đền bù một cách công bằng Khi đất bị chiếm dụng, đơn vị thôn xã có trách nhiệm điều hoà lại các hợp đồng sử dụng đất và thâm canh nông nghiệp để nhận lại nhân công lao động Chính quyền thôn xã cũng có thể bố trí các công việc phi nông nghiệp ở các xí nghiệp (ví dụ ở các công xưởng, nhà máy của địa phương), thường là với sự giúp đỡ của chính quyền thành phố Nếu không thể nhận lại nhân công làm việc trong phạm vi nền kinh tế địa phương do những hạn chế về đất đai và dân số, đơn vị thôn xã

có thể cho phép một số thành viên thoát li, đặc biệt ở các vùng đang đô thị hoá

*In- đô- nê- xi-a

Nghị định 55/1993 của Tổng thống, chiếm dụng đất vì sự phát triển lợi ích của công cộng là tài liệu chủ yếu dựa trên các luật trước đó, bao gồm Luật

số 5 năm 1960, Luật ruộng đất cơ bản với các loại sở hữu và sử dụng đất Những vấn đề này rất phức tạp do sự chồng chéo về các quyền truyền thống, quyền sử dụng đất theo kiểu phương tây và những phát triển gần đây trong việc thuê mượn đất }26}

Nghị định năm 1993 ghi rõ các thủ tục khiếu nại cho chủ sử dụng đất ,

“định nghĩa lợi ích công cộng” cho các mục đích phát triển, tách riêng các dự

án tư nhân – những dự án phải thu xếp mua bán đất theo lối thông thường; nhấn mạnh hơn vào việc tham khảo ý kiến cộng đồng, đạt thoả thuận với người bị ảnh hưởng về hình thức và số lượng đền bù, đồng thời giới thiệu các phương án đền bù mở rộng bao gồm tiền mặt, đất thay thế, quyền hợp pháp về đất và tái định cư

Quy định số 1 năm 1994 của Bộ trưởng các vấn đề về Ruộng đất và Cơ quan Đất Quốc gia hướng dẫn thực thi Nghị định 55/1993 – Chiếm dụng đất

Trang 11

vì sự phát triển lợi ích công cộng Theo quy định này, Thống Đốc mỗi tỉnh sẽ thành lập một Ban chiếm dụng đất ở Kabupaten và Kotamadya do Bupati hay Walikota đứng đầu Ban này cũng bao gồm đại diện của các cơ quan cấp II về đất, thuế, xây dựng, nông nghiệp, lãnh đạo các huyện xã và hai thành viên độc lập khác Thống sẽ lập Ban chiếm dụng đất cấp tỉnh nếu dự án phát đi qua nhiều chính quyền cấp II Các Thống đốc cũng có thể ra các nghi định riêng cho từng dự án cụ thể, có hướng dẫn cụ thể về quyền lợi và thủ tục đền bù, hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng, làm cơ sở lập kế hoạch, thực hiện và giám sát TĐC theo nghị định 55/93 của Tổng Thống Một số dự án do ngân hàng thế giới tài trợ ở Bali và Đông Gia - Va cũng đã áp dụng phương thức này

Ban chiếm dụng có quyền kiểm kê đất đai và các tài sản khác trên đất đai

bị chiếm dụng; kiểm tra tình trạng pháp lý của đất; thông báo và thương lượng với những người bị ảnh hưởng và cơ quan sử dụng đất; ước tính đền bù; ghi lại và chứng kiến việc trả đền bù

Một quy định khác có liên quan của Chính phủ về Đánh giá Tác động Môi trường, số 51 năm 1993 yêu cầu phải có kế hoạch quản lí và giám sát các tác động môi trường, trong đó có cả việc chiếm dụng đất và TĐC Quy định này cũng đòi hỏi giảm nhẹ các tác động về xã hội, thông tin cho dân và tham khảo ý kiến cộng đồng

Trang 12

và 17 ghi rõ việc chiếm dụng bắt buộc, trong khi đoạn 18 giải quyết vấn đề khiếu nại tại toà án dân sự cấp huyện, và cấp cao hơn, nếu cần }26}

Mỗi tỉnh đều có cách áp dụng và cách hiểu Nghị định riêng qua Sở Thuế đất và đơn vị Thu đất Nói chung, giá đền bù được lập thông qua giá trị thị trường được bảo đảm xác định chính thức; giá này dựa trên giá thị trường cũ

và có thể không phản ánh gía thị trường hiện tại Dự án Thuỷ điện Ghazi Barotha là một ví dụ cụ thể về loại dự án đã đưa ra được những cách thức quản lí TĐC mới, trong đó có một ban độc lập bao gồm các chuyên gia môi trường và xã hội; các nghiên cứu về các vấn đề tái định cư và môi trường chi tiết ; sự tham gia của các NGO trong nước và các tổ chức cộng đồng của địa phương trong quá trình đối thoại năng động, kể cả các buổi họp có giới hạn;

và việc thành lập một thông tin về dự án và các chi nhánh trực thuộc để liên

hệ với những người bị ảnh hưởng, giải thích và phân phát các tài liệu quan trọng cho họ Các biện pháp đền bù tài sản theo giá thay thế và khôi phục những người bị ảnh hưởng được thống nhất để phục hồi hay nâng cao khả năng tạo thu nhập và mức sống của họ Dựa trên việc đánh giá giá trị thị trường được xác định chính thức, dự án đã thay đổi nguyên tắc Punjab năm

1983 về việc bên lấy đất định giá đất Thay vào đó, một uỷ ban ( bao gồm WAPDA, NGO và đại diện những người bị ảnh hưởng) đã được thành lập để qui định mức giá đền bù qua tham khảo ý kiến những người bị ảnh hưởng

*Phi- líp- pin

Hiến pháp năm 1997 của Phi- lip - pin định ra chính sách cơ bản về đất đai và đòi hỏi đền bù công bằng cho đất tư nhân bị Nhà nước sung công Luật Hành pháp 1035 (1985) hướng dẫn việc thu hồi tài sản tư nhân của Chính phủ

vì các mục đích phát triển, theo đó Chính phủ có thể sử dụng biện pháp mua theo thoả thuận hoặc trưng dụng Đoạn 17, 18 nói về việc tái định cư những người thuê nhà - đất, nông dân và các đối tượng sử dụng đất không có quyền

Trang 13

chính thức khác do Bộ định cư (nay đã giải thể) và Bộ cải cách ruộng đất(nay

là Vụ Cải cách Ruộng đất) và cơ quan chiếm dụng đất tiến hành Các tổ chức này cũng sẽ đền bù hoa màu bị thiệt hại của người thuê đất, các cộng đồng văn hoá và người dân phải di chuyển

Đạo luật Cộng hoà 1992 số 7292 về phát triển Đô thị và Nhà cửa đặt ra nền tảng, thủ tục và các yêu cầu về giải toả người định cư bất hợp pháp khỏi các khu đất chiếm dụng cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Đạo luật này đòi hỏi chính quyền tất cả các thành phố cùng Ban Điều tiết Sử dụng đất và Nhà cửa tiến hành kiểm kê đất và các đầu tư vào đất Đây là cơ sở xác định đất Chính phủ cho “ các khu vực định cư và nhà cửa xã hội hoá cho các yêu cầu trước mắt và lâu dài của những người vô gia cư và thiệt thòi về các quyền lợi ở các vùng đô thị ” Điều 5 và 6 ra điều kiện cho chương trình cung cấp nơi ở cho “ những người chịu thiệt về quyền lợi và người vô gia cư” qua tham khảo ý kiến của các chủ dự án tư nhân và các cơ quan của Chính phủ Điều 8 quy định về Quy hoạch lại đô thị và Tái định cư, chủ yếu tập trung vào ưu tiên phát triển tại chỗ Điều này cho phép giải toả tất cả “ những người chuyên định cư bất hợp pháp” mà không phải đền bù Điều 8 cũng định ra quy trình

di chuyển “ các công dân chịu thiệt về quyền lợi và vô gia cư” ra khỏi những khu vực nguy hiểm Những người này cần được xác định, tư vấn và hỗ trợ tài chính bằng tiền mặt Dưới sự bảo trợ của chính quyền địa phương và Sở Nhà cửa quốc gia, họ sẽ được chuyển tới các khu lắp đặt các dịch vụ, cơ sở hạ tầng

cơ bản và được tạo điều kiện có việc làm Các Nguyên tắc và Quy định Thực thi riêng, do liên ngành phối hợp lập, đi kèm các điều khoản của Đạo luật Các nguyên tắc bổ sung hướng dẫn việc thu hồi tài sản nói chung(1993), việc chiếm dụng đất xây các khu nhà xã hội hoá (1993) và định giá trị đất cho các khu nhà xã hội hoá (1992) Các nguyên tắc này đảm bảo việc di chuyển

và tái định cư hợp lý, nhân đạo, qui định việc giải quyết khiếu nại theo Đạo

Trang 14

7160 năm 1992 (Luật địa phương) cho phép các chính quyền địa phương sử dụng đặc quyền khi chiếm dụng đất và trả tiền đền bù công bằng

Một số các đạo luật khác chi phối các cơ quan ngành Ví dụ Đạo luật Cộng hoà 7638 của Sở Năng lượng (1992) hướng dẫn rằng một phần tiền kinh doanh điện phải trả cho Quĩ Phát triển và Sinh Kế cũng như cho việc cải tạo môi trường

1.1.2 Cách tiếp cận khi đánh giá phát triển bền vững ở các nước

Hội nghị Rio-92 đã nêu rõ tầm quan trọng của các chỉ thị trong hỗ trợ các quốc gia đưa ra các quyết định về PTBV Sự ghi nhận này đã được thể hiện trong chương 40 của nghị sự 21 (Agenda 21), kêu gọi các quốc gia, các

tổ chức quốc tế, chính phủ hãy xây dựng và xác định các chỉ thị của PTBV

|23| Agenda 21 đặc biệt kêu gọi về sự hoà hợp các nỗ lực để xây dựng các chỉ thị PTBV ở cấp quốc gia, vùng toàn cầu

Agenda21 là một khung kế hoạch chung để thiết kế các chương trình hành động, bao gồm mục tiêu, hoạt động và phương tiện nhằm đạt được sự PTBV thế giới trong thế kỷ 21

Agenda 21 đưa ra những định hướng cho PTBV, thể hiện những vấn đề hiện tại và thách thức mà thế giới sẽ phải đối mặt trong thế kỷ 21, phản ánh sự đồng lòng của toàn thế giới và những cam kết ở cấp cao nhất về hợp tác phát triển và bảo vệ môi trường Đây là một văn kiện khẳng định nguyện vọng phát triển theo một cách thức đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các bộ phận cấu thành sự phát triển bền vững

Sau Rio 92 nhiều quốc gia xây dựng Agenda cho mình, tuỳ điều kiện mỗi nước mà có nội dung phù hợp

Ví dụ như Agenda 21 của Trung Quốc là văn kiện chỉ đạo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước theo PTBV và được cụ thể hoá bằng các

Trang 15

chỉ tiêu, kế hoạch hàng năm của nhà nước Agenda 21 của Trung Quốc bao gồm 4 phần chính, mỗi phần có 1 số chương, mỗi chương có giới thiệu về vấn

đề và các chương trình hành động Với Agenda 21 của Philippin được soạn thảo và phê duyệt năm 1995 với nội dung gồm 3 phần chính: phần 1 là các nguyên tắc thống nhất, phần 2 là chương trình hành động, phần 3 là kế hoạch thực hiện

Sau hội nghị RiO-92 đến hội nghị Rio+10 tại Johannesburg (Nam Phi) với chủ đề “PTBV” đã thông qua một kế hoạch hành động mới Kế hoạch này nhằm tiếp tục thực hiện Agenda21 và đề xuất 9 phương hướng quan trọng là:

- Xoá đói giảm nghèo

- Thay đổi phương thức tiêu dùng và sản xuất không bền vững

- Bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên

- PTBV trong bối cảnh toàn cầu hoá các nền kinh tế

- PTBV và sức khoẻ con người

- PTBV tại quốc đảo đang phát triển

- PTBV tại châu Phi và các sáng kiến cho khu vực khác

- Các biện pháp thực hiện PTBV

- Khung thể chế để PTBV

Để đáp ứng yêu cầu từ Agenda 21 về xây dựng các chỉ thị PTBV và để đáp ứng nhu cầu đánh giá xem cộng đồng mình đang ở đâu trong tiến trình PTBV, Uỷ ban về PTBV ( Commision on Sustainable Development) đã đề ra

“ Chương trình công tác chỉ thị PTBV” ( Work Programme on Indicators of Sustainable Development) vào năm 1995 Với mục đích làm cho chỉ thị PTBV có thể tiếp cận đến những người ra quyết định ở cấp quốc gia bằng

Trang 16

Tại nhiều quốc gia đã có cách tiếp cận riêng trong việc xây dựng bộ chỉ thị PTBV cho quốc gia mình, nhưng phần lớn đều tham khảo hướng dẫn của

Uỷ ban về PTBV kết hợp có chọn lọc trên cơ sở thực tiễn của mình hoặc chỉ

do chính phủ quyết định

Với Trung Quốc hệ thống chỉ thị PTBV gồm 80 chỉ thị đơn (CT), thuộc

5 lĩnh vực khác nhau: 16 CT kinh tế, 18 CT tài nguyên, 16 CT môi trường, 16

CT xã hội, 7 chỉ thị dân số, 7 chỉ thị KHCN Trong khi ở Philippin gồm 43 đơn chỉ thị và không chia thành các chỉ thị riêng biệt Bộ chỉ thị PTBV của Anh gồm 15 chỉ thị đơn, chia cho 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường

Mỹ chọn tới 219 chỉ thị đơn cho đánh giá PTBV vào năm 1996, đến năm

1997 rút gọn còn 32 chỉ thị đơn

Sử dụng hợp lý tài nguyên đất bao gồm việc sắp sếp, bố trí các loại hình

sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên hay điều kiện sinh thái Để có căn

cứ lựa chọn loại hình sử dụng đất bền vững cần làm rõ khái niệm sử dụng đất bền vững, theo đó mới có thể xem xét và lựa chọn được các loại hình sử dụng phù hợp Cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu về phát triển bền vững, theo Tổ chức ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (WCED)|50| “ Phát triển bền vững là phát triển để đáp ứng được nhu cầu của đời này nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của đời sau” Theo Jaroen jan den Bergh, việc áp dụng phương pháp tiếp cận mới vào thực tiễn về phát triển bền vững đã có một số tiến bộ Một số tổ chức tài chính quốc tế đã phát triển vấn đề trên theo hướng xây dựng chỉ tiêu và chỉ số để đánh giá sự bền vững Theo Ngân hàng thế giới (WB), phát triển bền vững phải thể hiện được cả ba mặt:kinh tế, môi trường, xã hội và phải được định lượng hoá bằng các chỉ số Nhiều khái niệm “ Tam giác bền vững” và sau này đổi thành “ Ma trận bền vững” là những đóng góp về phương pháp luận của

WB cho phát triển bền vững Những chỉ tiêu bền vững về sinh thái có thể kể

Trang 17

nguyên thiên nhiên, bền vững về mặt xã hội Tuy các chỉ tiêu này còn nghèo

về định lượng đặc biệt là chỉ tiêu về mặt xã hội nhưng đã giúp đánh giá nhiều mặt của phát triển bền vững Gần đây nhất một khái niệm rất lý thú đang được

WB khai thác đánh giá tính bền vững và sự giàu có của một quốc gia “ bền vững là cơ bản phát triển” Theo khái niệm này thì dự trữ tư bản quốc gia(tài sản quốc gia) chứ không phải theo thu nhập được dùng là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường Tài sản quốc gia bao gồm tài sản do con người làm ra, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên con người, tài nguyên xã hội Bốn dạng thức của cải này được liên kết với nhau ở mức độ cao, chúng bổ sung, đôi khi tăng cường cho nhau đóng góp vào hoạt động kinh tế Như vậy

sự thay đổi về dự trữ tư bản sẽ dẫn đến thay đổi về các cơ hội kinh tế và không kinh tế hiện có cho con người hiện tại và các thế hệ tương lai Với ý nghĩa trên, khái niệm

“ sự bền vững là cơ hội phát triển” được định nghĩa như sau: “ Sự bền vững là

để lại cho các thế hệ tương lai, nếu không được nhiều hơn cũng bằng những

cơ hội chúng ta đã có cho chính chúng ta ngày hôm nay Các tiếp cận này mang tính thực tiễn và tích cực hơn các nhìn nhận về tính bền vững của WCED nêu trên Cách tiếp cận mới nhìn nhận việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cho phát triển kinh tế, điều này chứng tỏ dự trữ tư bản được xác định dưới 4 dạng thức như tài sản ở trên được bảo đảm từ điểm xuất phát và trong quá trình phát triển ít nhất là như nhau nếu không nói là tốt hơn |50| Như vậy, phát triển bền vững được đặt ra như là một đòi hỏi cấp bách của chính sự tồn vong con người hôm nay và của các thế hệ con cháu chúng

ta trong tương lai Hiện nay phát triển bền vững được sử dụng như là điểm xuất phát để xem xét một cách sâu rộng hơn, toàn diện hơn các vấn đề kinh tế học, môi trường và xã hội Cách tiếp cận bền vững ngày càng được phát triển

và được mở rộng cho nhiều ngành trong đó có vấn đề về phát triển nông

Trang 18

* Phát triển nông nghiệp bền vững

Sự phát triển bền vững nông nghiệp ở các nước đang phát triển được coi

là thành công của sự phát triển bền vững, đây cũng là ngành khai thác sử dụng hai nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng bậc nhất đối với sự tồn vong của con người là đất và nước mà sự thoái hoá đất do sản xuất nông nghiệp có đến 28% Do vậy, vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững được

nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như các tổ chức quốc tế quan tâm

Theo Julian Dumasky }47}, “ Nền tảng của một nền nông nghiệp bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng gen” và “nền nông nghiệp bền vững” phải đảm bảo được 3 yêu cầu” (1) Quản lý đất bền vững; (2) Công nghệ được cải tiến;(3) Hiệu quả kinh tế phải được nâng cao, trong đó quản lý đất bền vững được đặt

ra hàng đầu” Cũng theo Julian Dumasky (1997), “ Nông nghiệp giữ vai trò động lực cho phát triển kinh tế hầu hết các nước đang phát triển Một nền nông nghiệp bền vững hơn rất cần thiết để tạo ra những lợi ích lâu dài, góp phần vào phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo” |47|

Theo Suyth và Dumasky (1993), “ Mục tiêu của quản lý đất bền vững là điều hoà các mục tiêu và tạo cơ hội để bảo vệ môi trường, kinh tế, xã hội, vì lợi ích của con người không chỉ cho các thế hệ hôm nay mà còn cho các thế

hệ mai sau” Các tác giả cũng cho biết “ Cộng đồng khoa học thế giới, đứng đầu là Hội Khoa học đất Quốc tế, Uỷ ban về nghiên cứu đất, FAO, WB, Trung tâm phát triển phân bón quốc tế, Tổ chức Rockefeler và nhiều cơ quan khác đang phối hợp với nhau để xây dựng một khung quốc tế cho việc đánh giá quản lý đất bền vững

* Khung đánh giá sử dụng đất bền vững

Một khuôn khổ để đánh giá các giải pháp quản lý bảo vệ đất dốc nói riêng và đất nói chung có 3 mặt bao gồm:(i) lợi ích , đây là giải pháp quản lý đất có đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường, đem lại lợi ích bao nhiêu cho

Trang 19

con người; (ii) thời hạn, đây là giải pháp có thể thực hiện được trong khuôn khổ tổ chức và chính sách, đây là giải pháp có thể thực hiện được không và (iii) hỗ trợ chính sách, đây là giải pháp có thể thực hiện được trong khuôn khổ

tổ chức và chính sách quốc gia hay không Theo đó khung đánh giá quản lý đất dốc bền vững đã được đề xuất từ năm 1991, trong đó 5 thuộc tính của khái niệm bền vững được xem xét là : tính sản xuất hiệu quả , tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận Nhóm công tác về khung đánh giá quản lý đất dốc bền vững (Narobi, 1991) đã đưa ra định nghĩa:“ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế, xã hội với các quan tâm về môi trường để đồng thời duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất), giảm rủi ro trong sản xuất( an toàn), bảo vệ tiềm năng và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ) và được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)” Tính bền vững và tính thích hợp có quan hệ với nhau, tính bền vững có thể được coi là tính thích hợp

Theo mô hình của Jacobs và Saldler 1990 thì cách tiếp cận khi đánh giá PTBV là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống tự nhiên (gồm tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái, các thành phần môi trường của trái đất), hệ thống kinh tế ( hệ sản xuất và phân phối sản phẩm), hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội) quan hệ giữa PTBV với ba hệ thống chủ yếu này được mô tả

qua hình 1

Trong mô hình này thể hiện phát triển bền vững là sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu kinh tế, xã hội và môi trường Sự tương tác và thoả hiệp của ba hệ thống trên dẫn đến các mục tiêu phát triển bền vững trong các lĩnh vực hẹp

Một cách tiếp cận khác, dựa trên sự cân bằng phúc lợi sinh thái và phúc

lợi xã hội – nhân văn trong mô hình quả trứng (hình 2) Hệ thống này do

IUCN đề xuất và cho rằng xã hội loài người như lòng đỏ trứng nằm bên trong lòng trắng trứng là hệ sinh thái (HST) Quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả lòng

Trang 20

điều kiện của con người và điều kiện của HST đạt yêu cầu và được cải thiện Nếu một trong hai điều kiện không thoả mãn hoặc xấu đi thì xã hội trở nên không bền vững |8|

Hình 2 Mô hình quả trứng của hệ thống môi trường theo IUCN, 1996

Ngoài cách tiếp cận trên, một cách tiếp cận khác thường được dùng trong xây dựng làng sinh thái (ecovillage) trên thế giới, đó là cách tiếp cận dựa trên ba lĩnh vực sinh thái, xã hội và tinh thàn Mô hình chiếc ghế 3 chân minh hoạ cho cách tiếp cận này sự bền vững tổng thể của một cộng đồng (được coi như mặt ghế) được nâng lên khi cả 3 chân ghế ( tương ứng với 3 lĩnh vực sinh thái, xã hội và tinh thần) cân bằng và đều được nâng lên |49|

1.2 Nghiên cứu ở trong nước

1.2.1 Nghiên cứu tình hình chung về công tác tái định cư ở Việt Nam

Ở nước ta tái định cư (TĐC) là một trong những công tác lớn được Đảng

và nhà nước rất quan tâm, tuy nhiên việc thực hiện công tác này vào những thời kỳ khác nhau vẫn còn thiếu bất cập Trong giai đoạn đầu, với cách quản

lý của nền kinh tế trong thời kỳ bao cấp việc giải phóng mặt bằng còn mang tính mệnh lệnh hoặc chủ yếu dựa vào tuyên truyền, vận động Việc chuyển dân cư và ổn định sản xuất được đưa lên hàng đầu, giá trị của các khoản đền

các yếu tố sinh thái

các yếu tố XH-NV

Trang 21

bù không nhiều, không đủ để tái tạo cơ sở vật chất nơi ở và nơi sản xuất Tuy vậy, vì sự nghiệp chung của quốc gia, người dân TĐC vẫn sẵn sàng ra đi để giải phóng mặt bằng Điển hình cho giai đoạn này là công tác di dân giải phóng mặt bằng công trình thuỷ điện Hoà Bình (1979) Đến thời kỳ đổi mới, một mặt do vấn đề sở hữu đất đai, mặt khác để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế mở, công tác di dân TĐC đã có những thay đổi lớn, thậm chí được đưa lên hàng đầu Điều này có thể thấy rõ từ công trình thuỷ điện Yaly (1990) Ngày nay, với các công trình lớn, việc di dân TĐC thực sự đã được quan tâm của Đảng và nhà nước Ví dụ công trình thuỷ điện Sơn La, Na Hang, Khu công nghiệp Dung quất, thuỷ điện Bản Vẽ, các công trình này đã được đầu

tư cho việc bồi thường thiệt hại và hỗ trợ TĐC khá lớn, có khả năng đáp ứng được yêu cầu xây dựng quê hương mới cho dân TĐC Tuy vậy, những điểm TĐC đạt yêu cầu phát triển hậu di dân TĐC còn rất ít và nếu có thì chủ yếu là

tự phát Nguyên nhân chính của tình trạng này còn thiếu sự quan tâm đến công tác qui hoạch, đánh giá thực trạng tài nguyên khu vực TĐC và chưa xây dựng được mô hình di dân TĐC thích hợp

Trong công tác TĐC có một số khái niệm thường gặp như:

- Đền bù: là việc thay thế các loại tài sản bị mất bằng hiện vật hoặc bằng tiền

- Tái định cư: một mặt được hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không Mặt khác, dưới góc độ chính sách, tái định cư cần được hiểu là cả quá trình từ đền bù cho các thiệt hại đến các biện pháp hỗ trợ cho việc tái tạo lại các tại sản bị mất hoặc hỗ trợ di chuyển trong trường hợp hộ dân cư phải di chuyển

và cuối cùng là toàn bộ các chương trình, biện pháp nhằm giúp những người

Trang 22

Như vậy TĐC đã bao hàm cả việc đền bù cho các thiệt hại do dự án phát triển gây ra Tuy nhiên, ở Việt Nam chính sách TĐC mới dừng lại chủ yếu ở việc đền bù cho các thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất nên gọi là chính sách TĐC thì chưa đúng, nhưng nếu mà chỉ gọi là chính sách đền bù thì cũng chưa thật đầy dủ và đúng ý nghĩa của nó Trên thực tế, chính sách đền bù hiện hành của Việt Nam đã đi xa hơn trong việc đền bù và đang tiến dần tới một chính sách TĐC hoàn chỉnh

a Các hình thức tái định cư

Cho đén nay, việc di dân TĐC của các công trình phát triển kinh tế xã hội nói chung, đặc biệt là di dân ở các công trình xây dựng nhà máy thuỷ điện nói riêng được thực hiện theo 4 hình thức là di vén, di xen ghép, di dân tập trung và di dân tuỳ chọn (tự di chuyển)

- Hình thức di vén: là quá trình di dân tại chỗ, đôi khi mang tính tự phát

của người dân vùng ngập lụt, theo mức nước dâng mà họ di chuyển dần lên nơi cao hơn Hình thức tái định cư này là trường hợp bố trí địa bàn tái định cư thuận lợi về quy mô diện tích, nguồn nước sinh hoạt, đất sản xuất, đáp ứng nhu cầu cho khối dân cư phải di chuyển từ vùng lòng hồ lên vị trí có địa hình cao hơn và không bị ngập, nhưng vẫn ở xung quanh hồ chứa Trường hợp này

ít bị thay đổi về điểm ngụ cư và khoảng cách giữa nơi ở mới và nơi ở cũ là không xa Do đó, một phần diện tích đất không bị ngập hoặc bán ngập có khả năng sản xuất vẫn thuộc quyền sở hữu của họ, tránh được sự tranh chấp về đất đai ( ngoài diện tích đất bị ảnh hưởng mà người dân ở đây còn có số lượng đất nằm ở trên vùng ngập Tuy nhiên hình thức di dân này có những hạn chế là dân cư sống phân tán, khó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

- Hình thức di vén xen ghép: là hình thức di dân từ vùng lòng hồ lên sống

chung với người dân địa phương trong xã hay khác xã Hình thức này tạo sự tập đoàn kết giữa người dân di cư và người dân sở tại Nhược điểm của

Trang 23

phương thức này là người dân sở tại phải chia sẻ một phần diện tích canh tác vốn đã hạn chế, mặt khác người dân di cư đến mặc nhiên được thừa hưởng các công trình phúc lợi xã hội như đường giao thông, trạm xá, trường học và các cở hạ tầng khác Trong khi đó người dân sở tại chỉ được đền bù một phần đất mà chia sẻ cho dân TĐC Sự chênh lệch về mức ưu đãi giữa 2 nhóm người này nảy sinh mâu thuẫn giữa người cũ và người mới đến, nhất là họ không cùng dân tộc

- Hình thức di dân tập trung: Là hình thức đưa một số lượng dân bị ảnh

hưởng ( từ 25 - 30 hộ trở lên) đến một nơi ở mới mà hầu như chưa có cơ sở hạ tầng và chưa có người dân sở tại sinh sống, hoặc nếu có thì cũng chiếm một tỷ

lệ nhỏ Hình thức này có ưu điểm là hoàn toàn chủ động trong việc qui hoạch

bố trí dân cư phù hợp với qui mô, nguyện vọng của người dân và yêu cầu xây dựng khu kinh tế mới Nhưng hình thức này có khó khăn là phải đầu tư lớn cho công tác khảo sát điều kiện tự nhiên, quĩ đất, nước và đặc biệt là đầu tư vào cở sở hạ tầng Một khó khăn nữa là định hướng phát triển kinh tế, xã hội hoàn toàn mới, về lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện tại đây vì phần lớn người dân vùng lòng hồ thường có tập quán trồng lúa nước, trong khi các khu mới hầu như thiếu loại đất này

- Hình thức di dân tuỳ chọn: là hình thức mà các hộ phải di chuyển được

nhân toàn bộ tiền đền bù sau đó họ phải tự lo tìm kiếm nơi ở và các sinh kế cho mình Hình thức này ít được khuyến khích với cộng đồng người dân tộc vùng sâu vùng xa do hiệu quả đạt được thấp

b Một số văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến di dân TĐC của Việt Nam và tái định cư của công trình thuỷ điện Sơn La

Nếu như trước năm 1992 đất đai chưa được giao cho các hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài nên trong nhiều trường hợp khi nhà nước cần có thể thu

Trang 24

phương hay cho tập thể đang sử dụng đất Các tài sản bị thiệt hại cũng không quy định mức đền bù, mà chủ yếu đền bù theo thoả thuận Luật đất đai năm

1993 đã đặt cơ sở pháp lý cho chính sách đền bù (TĐC) hiện hành, được cụ thể hoá bằng các nghị định 90/cp ngày 17/8/1994 của chính phủ và sau đó là nghị định 22/1998 NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Một số văn bản pháp luật cụ thể có liên quan trực tiếp đến đền

bù trong các dự án phát triển liên quan đến công tác di dân TĐC bao gồm |35|:

- Nghị định 151/TTg của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 14/4/1959

“ Quy định về thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất” là văn bản pháp qui đầu tiên liên quan đến việc đền bù và tái định cư bắt buộc ở Việt nam Những nguyên nhân trong nghị định 151/TTg là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất trong nhưng năm thập kỷ 60 Tuy nhiên, nghị định còn chưa quy định mức đền bù cụ thể mà dựa vào chủ yếu là sự thoả thuận giữa các bên Vào đầu thập kỷ 70, nhu cầu lấy đất xây dựng tăng lên, nhiều văn bản mới ra đời nhằm cụ thể hoá Nghị định 151 trong những điều kiện cụ thể

- Thông tư 1792/TTg của thủ tướng chính phủ qui định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu năm, các loại hoa màu trên đất cho nhân dân ở vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố Nguyên tắc đền

bù là “phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân”

- Quyết định số 186/HĐBT ban hành ngày 31/5/1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng sản xuất khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác Căn cứ để tính mức đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đều qui định giá tối đa và tối thiểu

Trang 25

Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 qui định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Qui định đối tượng được hưởng chính sách đền

bù, đền bù thiệt hại về đất, đền bù về tài sản và tổ chức thực hiện

So với các văn bản trước, Nghị định 90/CP có mức độ chi tiết và tính toàn diện cao hơn Tuy nhiên, dưới tác động của cơ chế thị trường nghị định 90/CP vẫn cần được phải bổ sung, thay thế Đặc biệt, khi Việt nam bắt đầu ký kết các hiệp định vay vốn của một số tổ chức quốc tế ( đặc biệt là World bank (WB) và Asia Development Bank (ADB) cho các dự án phát triển thì nghị định 90/CP đã không đáp ứng được chính sách TĐC của tổ chức này

Nghị định 22/1998 NĐ-CP được ban hành ngày 24/04/1998 thay thế nghị định 90/CP về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Cho tới nay, đây là văn bản quan trọng nhất thể hiện chính sách đền bù (TĐC) của chính phủ trong giai đoạn hiện tại Ngoài hàng loạt các điều bổ sung một cách rất chi tiết còn có 2 chương mới là “chính sách hỗ trợ” và “lập khu TĐC”, với những chính sách hỗ trợ khôi phục cuộc sống Trong khi bố trí đất ở, khu TĐC phải được xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với thực tế qui hoạch của địa phương

Quyết định số 196/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể di đân tái định cư DATĐ Sơn

Trang 26

Quyết định số 01/2005/QĐ-UB ngày 9 tháng 1 năm 2005 của UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành quy định cụ thể chính sách của Chính phủ về bồi thường, di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La

Quyết định số 38/2005/QĐ-UB ngày 04 tháng 04 năm 2005 của UBND tỉnh Sơn La về việc cụ thể hoá và bổ sung một số điểm ban hành kèm theo Quyết định số 01/2005/QĐ-UB của UBND tỉnh Sơn La

Quyết định số 47/QĐ-UB ngày 22 tháng 4 năm 2005 của UBND tỉnh Sơn

La về việc ban hành quy định trình tự lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La

Căn cứ Quyết định số 52/2006/QĐ-UBND, ngày 07/7/2006 của UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành đơn giá lập, thẩm định và quản lý quy hoạch chi tiết các khu, điểm TĐC Dự án Thủy điện Sơn La; Quyết định số 56/2006/QĐ-UBND, ngày 25/7/2006 của UBND tỉnh Sơn La về việc Điều chỉnh, bổ sung một số nội dung ban hành kèm quyết định số 52/2006/QĐ-UBND, ngày 07/7/2006 của UBND tỉnh Sơn La;

Văn bản số 1035/UBND - TH ngày 31/5/2006 của UBND tỉnh Sơn La bổ sung đầu tư các hạng mục xây dựng TĐC ngoài QĐ 459

Quyết định số 63/2004/QĐ-UB ngày 22 tháng 06 năm 2004 và số 75/2005/QĐ - UBND ngày 22/6/2005 của UBND tỉnh Sơn La về việc ban hành đơn giá đền bù tài sản, hoa màu và một số chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng

Quyết định số 06/QĐ-UB ngày 20 tháng 1 năm 2005 và số UBND ngày 12/12/2005 của UBND tỉnh Sơn La về việc quy định giá đất trên địa bàn tỉnh Sơn La

Trang 27

4004/QĐ-Quyết định số 42/QĐ-UB ngày 11 tháng 4 năm 2005 của UBND tỉnh Sơn

La về việc ban hành đơn giá tổng hợp phục vụ công tác quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La

Quyết định số 29/2005/QĐ - UB ngày 28/3/2005 của UBND tỉnh Sơn La

về việc ban hành đơn giá tổng hợp đầu tư xây dựng các loại đường giao thông

áp dụng cho các khu (điểm) TĐC TĐSL

Công văn số 287/TĐC-TĐSL ngày 10/7/2006 của Ban QLDA di dân TĐC thủy điện Sơn La về hướng dẫn một số nội dung quy hoạch chi tiết TĐC

Có thể nói, chính sách TĐC ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và hoàn thiện Mức đền bù ngày càng phù hợp hơn và phần nào đã đáp ứng nhu cầu công tác di dân TĐC Một số biện pháp hỗ trợ đã có ý nghĩa thiết thực giúp cho các hộ di chuyển có nơi ở mới ổn định và có cuộc sống tốt hơn nơi ở

Tuy nhiên, công tác di dân TĐC ở nước ta vẫn còn những hạn chế nhất định như chỉ mới tập trung vào việc đền bù thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền với đất Nhiều dự án chưa quan tâm hỗ trợ và khôi phục sản xuất cho người TĐC, làm cuộc sống của họ sau TĐC bị sa sút và gặp nhiều khó khăn dẫn đến họ phải quay về nơi cũ sinh sống Trong tổ chức giải phóng mặt bằng tuy đã có qui định việc xây dựng thẩm định kế hoạch TĐC ngay từ khi chuẩn

bị dự án, song lại còn thiếu các hướng dẫn cụ thể nên chưa đi vào cuộc sống

c Thực trạng công tác di dân TĐC trong các dự án lớn ở Việt Nam

Do nhận thức được tầm quan trọng của việc di dân TĐC, ngay từ năm

1990, Nhà nước và các cấp chính quyền đã rất quan tâm tổng kết rút kinh

Trang 28

nghiệm về công tác hết sức khó khăn này Những bài học rút ra từ công tác di dân TĐC tại các dự án lớn có thể tóm tắt như sau:

* Với công trình thuỷ điện Hoà Bình

- Việc chuẩn bị chưa tốt, quy hoạch điểm đón dân chưa đày đủ điều kiện, chưa có kế hoạch cụ thể, nên quá trình này diễn ra khi thì ồ ạt, khi thì gián đoạn

- Mức đền bù quá thấp, chưa đủ để di chuyển từ nơi cũ đến nơi mới Việc tổ chức TĐC và bồi thường qua nhiều cấp nên các quyết định không kịp thời

- Chưa chú ý đầu tư tổ chức phát triển sản xuất, tạo việc làm ổn định lâu dài, thậm chí chưa chuẩn bị điều kiện tối thiểu cho dân sinh sống, sản xuất và học tập Cả một giai đoạn dài từ năm 1982 đến 1994 chỉ chú ý vào công tác di chuyển dân ra lòng hồ

- Khi xây dựng công trình thuỷ điện Hoà Bình đã không đánh giá tác động môi trường và không có một chương trình tổng hợp về nghiên cứu TĐC

- Việc phân công, phân nhiệm vụ không rõ ràng giữa địa phương và trung ương, giữa các cấp chính quyền, các ngành trong việc tổ chức và ổn định phát triển sản xuất cho cư dân di chuyển khỏi vùng lòng hồ; mọi việc hầu như phó thác cho địa phương mà tại đây vốn TĐC thời kỳ đầu cũng được

uỷ thác cho cấp huyện và cho nhiều ngành như thuỷ lợi, giao thông, nông nghiệp, do vậy thực tế đã không có một cơ quan nào thực sự đứng làm chủ đầu tư

Việc “khoán trắng” quy hoạch các địa bàn TĐC như vậy đã khiến cho TĐC do các huyện vạch ra rất sơ lược, chỉ dựa trên sự am hiểu sẵn có về tình hình địa phương Từng điểm TĐC cụ thể đã không khảo sát, đo vẽ, không lập luận chứng chắc chắn về khả năng tiếp nhận dân, không vạch ra được các

Trang 29

phương án tổ chức sản xuất, phương án đầu tư cơ sở hạ tầng, không đề ra được các biện pháp cụ thể nhằm giúp đỡ người dân chuyển cư thời gian đầu Tình trạng phổ biến là các hộ dân phải tự tìm mặt bằng để làm nhà, tự khai phá đất đai để sản xuất

Do nhiều điểm TĐC tỏ ra không thích hợp vì thiếu nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, không tiện lợi về giao thông đã khiến cho người dân phải về nơi cũ sinh sống hoặc bỏ đi nơi khác dẫn đến tình trạng các hộ di vén lên đến 40% ở Hoà Bình và 65% ở Sơn La Nhiều hộ không quay về được thì phải đi xa, như ở Hào Lý có một nửa số hộ phải chuyển vào Long

* Dự án công trình thuỷ điện Yaly

Công tác di dân TĐC đã được chú trọng hơn do rút được kinh nghiệm từ công trình thuỷ điện Hoà Bình Báo cáo “ Nghiên cứu về các vấn đề môi trường và tài chính cho dự án công trình thuỷ điện Yali” đã đưa ra chiến lược TĐC và khuyến cáo chọn 8 khu với 16 làng cụ thể |7|

Trang 30

Công tác di dân khỏi lòng hồ và TĐC tại các làng mới đã được triển khai song song với quá trình xây dựng công trình Trong các bước triển khai như xác định nhu cầu tái định cư, lựa chọn điểm TĐC, quy hoạch và thiết kế làng TĐC, xây dựng làng TĐC, đền bù, di chuyển phục hồi và phát triển sản xuất

và đời sống tại nơi ở mới của người dân TĐC, đã có sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, các đoàn thể và ngời dân Từ năm 1993, Ban quản lý công trình

đã thành lập phòng đền bù, TĐC và môi trường để chuyên trách các mặt công tác sau này UBND tỉnh Kon Tum đã thành lập Ban di dân lòng hồ Yali và đã

có sự phối hợp với tỉnh Gia Lai và huyện Chư Pả để triển khai công tác này Các cơ quan quản lý Công trình thuỷ điện Yali và chính quyền địa phương đã có định hướng về đất sản xuất cho các hộ tái định cư, thực hiện các biện pháp khuyến nông, xây dựng các công trình thuỷ lợi để sử dụng đất

có khả năng bán ngập Những định hướng này đã được thông báo tới các cộng đồng và trao đổi ý kiến về phương thức sản xuất, phổ biến kỹ thuật thâm canh trên vung đất mới, trồng cây công nghiệp lâu năm có thể phát triển như cà phê, bời lời, kế hoạch thuỷ lợi hoá Tuy nhiên, do chưa có những biện pháp quy hoạch và tổ chức sản xuất chặt chẽ, chưa có kế hoạch chuyển cơ cấu kinh

tế cụ thể, nên mới chỉ đạt được kết quả về nơi ăn ở tương đối khang trang, còn

về phát triển kinh tế vẫn còn nhiều bất cập

Nhìn chung, những tồn tại trong công tác di dân TĐC trong thời gian dài trước đây đã làm ảnh hưởng đáng kể tới hiệu quả của công tác này Nhưng bài học từ công tác di dân TĐC là:

- Công tác chuẩn bị cho di dân TĐC không đầy đủ, thiếu chính xác và không đi trước một bước Hiện trạng điều kiện tự nhiên, tài nguyên vùng TĐC chưa được xem xét, đánh giá đầy đủ để đảm bảo cho một nền sản xuất vững chắc và lâu dài cho người dân đến TĐC

Trang 31

- Công tác tuyên truyền phổ biến cho cộng đồng thực hiện chưa được tốt Đây là nguyên nhân dẫn đến nhận thức vấn đề di dân TĐC trong nhiều công trình không đầy đủ, cả về phía cơ quan chủ đầu tư và các địa phương có công trình

- Các hình thức di dân TĐC chưa được lựa chọn phù hợp với điều kiện

cụ thể của từng dự án Chưa gắn công tác di dân TĐC với phương hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương

- Chính sách đền bù thiếu cụ thể và chưa trực tiếp đến tay người dân, thiếu sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và cơ quan quản lý công trình

Có thể nói rằng điều tồn tại cơ bản nhất trong công tác di dân TĐC là thiếu định hướng quy hoạch, tổ chức lãnh thổ cụ thể, chưa có các mô hình phù hợp, do đó đói nghèo và tình trạng chậm phát triển đã, đang và sẽ còn tiếp tục xảy ra đối với các địa phương này

* Dự án công trình thuỷ điện Na Hang

- Từ những bài học này đã được rút ra từ các công trình thuỷ điện trước đây việc nghiên cứu lí thuyết và thực tiễn cho công tác TĐC trong dự án công trình thuỷ điện Na Hang đã được thực hiện một cách công phu và do nhiều cơ quan có uy tín đảm nhiệm Việc tìm địa điểm đặt khu TĐC đã được triển khai một cách bài bản, bao gồm cả việc điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên toàn diện, mức đền bù cũng được xác định trên cơ sở thực tế, việc quy hoạch phát triển cho giai đoạn hậu TĐC cũng đã được dự báo Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề chưa thỏa mãn được yêu cầu của người dân đó là: sự chậm trễ trong công tác đền bù, thiếu đất canh tác, thiếu sự chỉ đạo giúp đỡ, điều kiện tự nhiên không thuận lợi vì vậy một số gia đình đã gặp khó khăn và rất khó có khả năng trụ lại nơi ở mới Công việc di dân TĐC ở công trình thuỷ điện Na

Trang 32

* Công tác di dân TĐC trong các dự án không phải thuỷ điện

- Nhìn rộng ra công tác di dân TĐC nói chung trong thời gian gần đây cũng có thể thấy những tồn tại tương tự, các cấp quản lý mới chỉ quan tâm đến việc giải phóng mặt bằng, sắp xếp chỗ cho người dân phải di chuyển còn các phương kế sinh nhai thì vẫn còn nhiều bất cập, nghĩa là vấn đề hậu TĐC vẫn còn bỏ ngỏ Ví dụ ở dự án di dân TĐC khu công nghiệp hoá dầu Dung Quất vẫn còn nhiều tồn tại nghiêm trọng như:

+ Chưa gắn việc TĐC với định canh

+ Vấn đề cộng đồng chưa được giải quyết

+ Việc chọn hình thức TĐC chưa phù hợp

1.2.2 Cách tiếp cận khi đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam

Hiện nay, ở Việt Nam vấn đề môi trường nói chung và PTBV nói riêng

đã được quan tâm từ năm 1980, đặc biệt từ năm 1992, khi Việt Nam tham gia

và cam kết nhằm PTBV tại hội nghị Rio Tại hội nghị này, Việt Nam đã cam kết xây dựng chương trình nghị sự 21 về PTBV của mình Năm 2000 chương này chính thức được xây dựng do Bộ kế hoạch - Đầu tư và Bộ khoa học và công nghệ môi trường thực hiện Năm 2002, dự thảo định hướng chiến lược

để tiến tới PTBV (Agenda 21) của Việt Nam được hoàn tất và báo cáo tại Rio+10 ở Nam Phi Agenda 21 về sự PTBV của Việt Nam là một khuôn khổ chung cho các hoạt động nhằm đưa Việt Nam tiến tới sự PTBV Với quan niệm phát triển là một quá trình tổng thể của tăng trưởng kinh tế, không ngừng nâng cao công bằng xã hội và bảo vệ môi trường (BVMT) Agenda 21 của nước ta cũng nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt

để ra chủ trương, chính sách và nhưng lĩnh vực hoạt động cần được ưu tiên để

có thể PTBV trong thế kỷ 21 Agenda 21 gồm 5 phần, 21 chương, cụ thể như sau:

Trang 33

Phần 1: PTBV – Con đường tất yếu của Viêt Nam

Phần 2: Tạo những điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế nhanh và bền vững

Phần 3: Những khía cạnh xã hội của việc chuyển sang con đường PTBV Phần 4: Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT

Phần 5: Tổ chức quá trình chuyển sang con đường PTBV

Trong quá trình chuẩn bị cho hội nghị Rio Việt Nam đã công bố kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và PTBV 1991 -2000 Tiếp sau là nhiều các văn bản pháp lý liên quan tới môi trường khác như luật BVMT ( có hiệu lực từ ngày 10/01/1994), luật bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005 ( bắt đầu có hiệu lực từ 01/7/2006) Quan điểm PTBV được đề cập chính thức trong “Báo cáo chính trị” của Đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam (1996)

Cụ thể hơn quan điểm về BVMT và PTBV đã được thể hiện trong các nghị quyết và chỉ thị của Bộ chính trị như nghị quyết số 41 – NQ/TW năm

2004, chỉ thị CT/36 Ngoài ra Việt Nam còn tham gia vào nhiều công ước, hiệp ước, nghị định quốc tế như công ước Ramsar, Enmod, Nghị định thư Kyoto, công ước CITES, công ước Viên, công ước Basel, |11|

Trong quá trình xây dựng Agenda 21 của Việt Nam, nhiều tác giả đã đề xuất thước đo độ bền vững ở Việt Nam cho các cấp khác nhau Bộ chỉ thị PTBV quốc gia của Việt Nam do Bộ KH-ĐT đề xuất năm 2000 – 2001 với sự

hỗ trợ của quốc tế Có 3 nội dung là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo

vệ môi trường tự nhiên Đây thực chất là khuôn khổ ban đầu làm cơ sở cho báo cáo hàng năm trình Quốc hội, bổ sung cho báo cáo hàng năm về hiện trạng môi trường Bộ chỉ số này gồm 30 chỉ số khác nhau, trong đó 4 chỉ số

về kinh tế, 15 chỉ số về xã hội, 11 chỉ số về môi trường Tuy các chỉ thị này

đã bao hàm khá đầy đủ các lĩnh vực nhưng nớmí dừng lại như các tiêu chí

Trang 34

Vào năm 1997 các chỉ thị cho khả năng bền vững ở miền núi được tác giả Lê Văn Khoa và Trần thị Lành đề xuất gồm 26 chỉ thị PTBV miền núi, mỗi chỉ thị đều đưa ra các mức để đánh giá và chỉ ra nguồn thông tin, các biện pháp thu nhập và thẩm định thông tin |12|

Một hệ tiêu chí khác của tác giả Lê Trình và Lê Thạc Cán (1998) đề xuất

là hệ thống tiêu chí PTBV quốc gia gồm: Hệ thống tiêu chí đầy đủ có 5 chỉ thị kinh tế, 16 chỉ thị về xã hội, 17 chỉ thị môi trường, 4 tiêu chí đảm bảo đáp ứng PTBV; hệ thống tiêu chí rút gọn được chắt lọc từ bộ đầy đủ; chỉ số tổng hợp duy nhất trên cơ sở tổng hợp từ các bộ chỉ thị đơn ( sử dụng chỉ số đánh giá mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường) |18|

Vào năm 1998 Cục môi trường ban hành thử nghiệm “ hệ tiêu chí môi trường Việt Nam” ở mức quốc gia cũng như mức tỉnh thành phố Hệ tiêu chí thử nghiệm này gồm 80 tiêu chí, chia thành 9 nhóm

+ Môi trường đất: 7 tiêu chí

+ Môi trường nước lục địa: 5 tiêu chí

+ Môi trường nước biển: 4 tiêu chí

+ Môi trường không khí: 6 tiêu chí

+ Chất thải rắn: 3 tiêu chí

+ Môi trường đa dạng sinh học: 11 tiêu chí

+ Sự cố môi trường: 8 tiêu chí

+ Môi trường kinh tế xã hội: 20 tiêu chí

+ Quản lý môi trường: 16 tiêu chí

Môi trường trong bộ tiêu chí môi trường này được xem xét theo hiện trạng (state), nguyên nhân tạo áp lực lên môi trường (pressure) và đáp ứng

Trang 35

(response) của xã hội trước những áp lực này Hệ tiêu chí này gần gũi với hệ tiêu chí PTBV

Đánh giá về PTBV là vấn đề phức tạp và khó đạt tới hoàn thiện vì phát triển có liên quan đến nhiều mặt, nhiều khía cạnh của tự nhiên, kinh tế và xã hội Sự PTBV của một xã hội có thể được đánh giá bằng nhiều chỉ thị khác nhau, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau Một trong cách tiếp cận phổ biến hiện nay là tiếp cận PTBV theo 3 thành phần chính: kinh tế, xã hội và môi trường Tính bền vững về kinh tế được thể hiện qua các chỉ số về phát triển kinh tế quen thuộc như tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) Một quốc gia được coi là bền vững về kinh tế khi đạt được yêu cầu sau:

- Có tăng trưởng của GDP và GNP/người cao Nước càng nghèo, thu nhập trong thời gian trước càng thấp thì mức tăng trởng này càng phải cao Mức tăng GDP/người được coi là là bền vững khi đạt khoảng 5%/năm

- Có GDP và GNP/người bằng hoặc cao hơn mức trung bình hiện nay của các nước đang phát triển thu nhập trung bình Nếu mức tăng GDP/người cao nhưng mức GNP/người thấp cũng chưa đạt tới mức bền vững về kinh tế

- Có cơ cấu GDP lành mạnh, có nghĩa là tỷ lệ đóng góp của công nghiệp

và dịch vụ trong GDP phải cao hơn nông nghiệp

Tính bền vững về xã hội của một quốc gia có thể thể hiện qua chỉ số phát triển con người HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, đảm bảo dinh dưỡng, hạn chế khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, các chỉ số về giáo dục, dịch vụ

y tế, hoạt động văn hoá,

Ngoài ra tính bền vững cũng thể hiện ở việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn được đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường,

Trang 36

Nông nghiệp bền vững phải nằm trong giới hạn tự nhiên làm không chống lại chúng, điều này cũng có nghĩa là việc sử dụng đất phải phù hợp với điều kiện sinh thái và những hạn chế của môi trường Kế hoạch sản xuất không vượt quá khả năng hấp thụ và thải lọc của môi trường Như vậy, sử dụng đất hợp lý là một bộ phận hợp thành chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững Những phương thức sử dụng đất không hợp lý cùng với quá trình thổ nhưỡng đặc trưng do tác động của các yếu tố khí hậu khắc nghiệt đã làm cho đất đã và đang trong quá trình thoái hoá Vì vậy, muốn tạo lập một nền nông nghiệp bền vững phải nhận thức và tổ chức thực hiện có kết quả các phương thức sử dụng đất hợp lý gắn với bảo vệ và bồi dưỡng đất, coi đó là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền Điều này cũng phù hợp với khái niệm về sử dụng hợp lý đất của Cao Liêm cùng cộng sự: để sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất cần phải sử dụng đất tổng hợp theo hướng sinh thái mà nội dung chủ yếu của nó bao hàm các yếu tố sau đây: (1) Chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với đất: đây được coi là giải pháp tốt nhất và cần thiết nhất trước khi tính đến biện pháp cải tạo đất; (2) Hạn chế và né tránh những trở ngại của đất hoặc các điều kiện tự nhiên khác bằng điều chỉnh mùa vụ: chẳng hạn né tránh sự khô hạn của những tháng mùa khô, thiếu nước để trồng cây ngắn ngày bằng việc xác định mùa vụ thích hợp; (3) Vừa sử dụng đất vừa cải tạo đất và thông qua sử dụng để cải tạo đất: quá trình sử dụng đất thực chất là quá trình tiếp cận giữa sử dụng và cải tạo đất kết hợp hài hoà với nhau để đạt được một kết quả khai thác tốt nhất vạt đất hiện có ; (4) Sử dụng thuỷ lợi và phân bón để cải tạo đất: nước và phân bón là 2 yếu tố quan trọng nhất đối với cây trồng và cần phải sử dụng chúng một cách tiết kiệm nhất nhưng có hiệu quả cao nhất Như vậy sử dụng bền vững đất cũng đồng nghĩa với sử dụng hợp lý |13|

Ở Việt Nam, một loại sử dụng đất được coi là bền vững phải đạt được 3

Trang 37

(1) Bền vững về mặt môi trường nghĩa là loại sử dụng đó phải bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, không làm tổn hại đến môi trường

tự nhiên

(2) Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận và cuối cùng

(3) Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, bảo đảm đời sống,

xã hội được phát triển Riêng vấn đề thu hút lao động phải được coi là đặc thù riêng biệt của nước ta vì trong bối cảnh hiện nay khi mà dân số trong nông nghiệp chiếm trên 76%, lực lượng lao động nông nghiệp khá lớn, công nghiệp chưa phát triển thì vấn đề thu hút lao động phải được coi là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá về mức độ bền vững của một loại hình sử dụng đất Điều này cũng có nghĩa là bền vững của một loại hình sử dụng đất Điều này cũng

có nghĩa là bền vững phải được coi là khái niệm động, bền vững ở nơi này có thể không bền vững ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này không bền vững ở thời điểm khác Do vậy, mặc dù đo lường trực tiếp tính bền vững là một khó khăn, nhưng sự đánh giá nó hoàn toàn có thể thực hiện được dựa vào những biểu hiện và các quá trình chi phối chức năng của một hệ nhất định tại một địa phương nhất định tại một địa phương cụ thể nào đó Điều này đòi hỏi ngày càng phải cụ thể hoá, định lượng hoá sự bền vững và không bền vững Trong một số trường hợp cụ thể người ta đo lường mặt không bền vững của vấn đề, chẳng hạn xác định lượng mất đất, năng suất giảm Qua đây, chúng tôi xin trình bày một số tiêu chí đánh giá mức độ bền vững của đất thông qua lựa chọn loại hình sử dụng đất bền vững Sự bền vững phải đảm bảo được các tiêu chí sau đây:

a Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế của một đơn vị diện tích là thước đo sự bền vững về

Trang 38

sản Tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh tế của một loại sử dụng đất được xác định dựa trên 4 chỉ tiêu: đầu tư hàng năm, tổng thu nhập, lãi và tỷ xuất lợi nhuận Các chỉ tiêu này được phân thành 5 cấp : rất cao, cao, trung bình, thấp, rất thấp Tuy nhiên, chỉ tiêu này rất biến động và cần được thay đổi theo từng vùng

b Bền vững về mặt xã hội

Tiêu chí để đánh giá bền vững về mặt xã hội là tạo được việc làm, thu hút được nhiều lao động động với trên 300công/ha/năm trở lên hoặc tạo được thu nhập cao nuôi sống được cư dân trong vùng Tuy nhiên để ổn định về mặt

xã hội được lâu dài, nhà nước cần hỗ trợ người dân tái định cư trong thời gian đầu

c Bền vững về mặt môi trường

Giảm thiểu xói mòn, thoái hoá đến mức chấp nhận được, xói mòn cho phép và duy trì được độ phì nhiêu hoặc tăng hàm lượng hữu cơ Đối với địa bàn nghiên cứu là đất đồi núi thuộc huyện Mường La tỉnh Sơn La, ngoài tiêu chí trình bày ở trên, nghiên cứu còn có tham khảo hệ số chống xói của cây trồng ( áp dụng trong chương trình mất đất phổ dụng) Kết quả cho thấy việc

ưu tiên phát triển cây lâu năm như nhãn, xoài và cùng kết hợp với cây trồng hàng năm khác trên địa bàn vùng nghiên cứu là lựa chọn hợp lý Đây là những cây lâu năm có khả năng chịu nhiệt độ rất tốt vì ở vùng nghiên cứu này

có nhiệt độ rất cao Độ che phủ mặt đất lớn của cây sẽ thay thế cho những cây hàng năm như sắn, khoai lang đang được trồng trên đất dốc Ngoài ra, các cây hàng năm thì được ưu tiên phát triển những cây có khả năng cố định đạm, thân lá có khả năng làm phân bón như đậu tương, đậu xanh

Trang 39

1.3 Các bước nghiên cứu

1.3.1 Thu thập tài liệu

- Thu thập các thông tin, dữ liệu, bản đồ liên quan tới hiện trạng sử dụng đất (diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng, các mô hình cây trồng trên đất đồi núi tỉnh Sơn La)

1.3.2 Nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến

sự hình thành, phát triển các hệ thống cây trồng trên địa bàn xã, huyện

- Các điều kiện tự nhiên như: Tài nguyên đất, tài nguyên khí hậu, địa hình, địa chất, thuỷ văn, lớp phủ thực vật,

- Điều kiện kinh tế xã hội như: Dân số, lao động, dân tộc, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng, giao thông thuỷ lợi

1.3.3 Điều tra đánh giá hiện trạng sử dụng đất xã Mường Trai

- Điều tra về diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng của vùng

dự án

- Điều tra hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của vùng dự án

- Điều tra các mô hình sử dụng đất trong vùng: Các hệ thống cây trồng bao gồm hệ thống cây hàng năm, cây lâu năm, nông lâm kết hợp và hiệu quả kinh tế của các mô hình hệ thống này

- Phân tích hiệu quả kinh tế và tính bền vững của các mô hình sử dụng đất có khả năng cạnh tranh về đất trong vùng

Trang 40

1.3.4 Đề xuất định hướng sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển bền

vững và giải pháp

- Đề xuất định hướng sử dụng đất đồi núi căn cứ vào:

+ Tiêu chí sử dụng đất đồi núi hợp lý đối với vùng dự án

+ Quy hoạch định hướng của huyện, tỉnh

+ Đề xuất phương án bố trí sử dụng đất xã Mường Trai huyện Mường La tỉnh Sơn La và các giải pháp nhằm sử dụng đất hợp lý để phát triển theo hướng bền vững

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Tập hợp và kế thừa các tài liệu có liên quan đến đánh giá đất đai cũng như các chương trình, dự án đã tiến hành trong những năm gần đây ở địa bàn vùng dự án như bản đồ đất, bản đồ nông hoá, bản đồ hiện trạng, các số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất, năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế các loại cây trồng Các số liệu thống kê về đặc trưng khí hậu có quan hệ đến canh tác nông nghiệp…

1.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA -

Participatory Rural Appraisal)

- Phương pháp này được áp dụng trong điều tra đánh giá nhanh nông thôn, với phương pháp này người được phỏng vấn (nông dân) vừa là người cung cấp thông tin, trả lời những câu hỏi có liên quan đến điều kiện kinh tế -

xã hội của gia đình họ đồng thời họ cũng có quyền tham gia tư vấn các vấn đề chuyên môn, xác định các vấn đề nổi cộm và đề xuất các giải pháp khắc phục trong địa phương của họ,

Ngày đăng: 20/03/2015, 08:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình phát triển tương tác giữa ba hệ thống tự nhiên, kinh tế, - Nghiên cứu sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển bền vững khu tái định cư Mường Trai - huyện Mường La - tỉnh Sơn La thuộc dự án thuỷ điện Sơn La
Hình 1 Mô hình phát triển tương tác giữa ba hệ thống tự nhiên, kinh tế, (Trang 8)
Hình 2. Mô hình quả trứng của hệ thống môi trường theo IUCN, 1996 - Nghiên cứu sử dụng đất hợp lý theo hướng phát triển bền vững khu tái định cư Mường Trai - huyện Mường La - tỉnh Sơn La thuộc dự án thuỷ điện Sơn La
Hình 2. Mô hình quả trứng của hệ thống môi trường theo IUCN, 1996 (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w