Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường do quá trình phát triển các KĐT, KCN, CCN có nhiều nguyên nhân khác nhau; Tuy nhiên để đánh giá tổng quan các nguyên nhân chính làm biến đổi chất lượng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Hà Nội - Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đều đã được cám ơn và các thông tin trích trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2012
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Hồng Phƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn bản thân tôi đã luôn cố gắng dành thời gian, tâm huyến và mọi sự nỗ lực để hoàn thiện Đề tài nghiên của mình Qua quá trình học tập và thực hiện Luận văn, bản thân tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức chuyên sâu, những bài học kinh nghiệm quý báu rất cần thiết cho quá trình công tác thực tiễn của cá nhân tôi hiện tại và sau này
Để hoàn thành được nội dung Luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch, Giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Các Thầy, Cô giáo trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, cũng như thực hiện Luận văn
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch; Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Văn Tuấn, cùng các Thầy, Cô giáo trong Khoa Địa lý, Phòng Sau đại học đã có những góp ý quý báu cho tôi hoàn thành tốt Luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, chú thuộc Sở Tài Nguyên và Môi trường Hải Phòng; Các cán bộ, nhân viên thuộc Ban quản lý khu Kinh tế Hải Phòng
đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi thực hiện Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường, các bạn đồng nghiệp thuộc Chi cục Bảo vệ môi trường và các anh, chị lớp Cao học Địa chính khóa 2010-2012, Trường Đại học Khoa học tự nhiên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 12 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Phƣợng
Trang 5i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC QUI CHUẨN VIỆT NAM viii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Qui hoạch sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp 6
1.2 Các vấn đề về môi trường trong quá trình phát triển các KĐT, KCN 10
1.2.1 Môi trường và phát triển bền vững 10
1.2.2 Các vấn đề về môi trường trong sử dụng đất các KĐT, KCN 16
1.3 Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Viễn thám trong đánh giá biến động sử dụng đất đai, môi trường 20
1.3.1 Một số khái niệm 20
1.3.2 Phương pháp đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng hệ thông tin địa lý (GIS), Viễn thám 23
1.3.3 Các đề tài, công trình đã nghiên cứu về đánh giá biến đổi đất đai, môi trường trong nước và tại Hải Phòng 24
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CÁC KHU ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 26
2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên thành phố Hải Phòng 26
2.1.1 Vị trí địa lý 26
2.1.2 Địa hình 26
2.1.3 Thủy văn và tài nguyên nước 27
2.2 Đặc điểm khí hậu 29
2.2.1 Nắng và bức xạ nhiệt 29
2.2.2 Nhiệt độ và độ ẩm không khí 30
2.2.3 Mưa và bốc hơi 30
2.2.4 Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt 31
Trang 6ii
2.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên thành phố Hải Phòng 32
2.3.1 Thuận lợi 32
2.3.2 Khó khăn 33
2.4 Công tác điều tra lập qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất 34
2.5 Hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển các KĐT, KCN 35
2.5.1 Hiện trạng sử dụng đất và phát triển các KĐT 37
2.5.2 Hiện trạng sử dụng đất và phát triển các KCN 39
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ BIẾN DỘNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ MÔI TRƯỜNG CÁC KHU ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHẢI PHÒNG 40
3.1 Biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010 40
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2005 40
3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2010 43
3.1.3 Phân tích, đánh giá biến động các loại đất thời kỳ 2005-2010 46
3.2 Biến động sử dụng đất các KĐT, KCN Tp Hải Phòng giai đoạn 2005-2010 51
3.2.1 Biến đọng sử dụng đất các khu đô thị 51
3.2.2 Biến động sử dụng đất các khu công nghiệp 52
3.3 Đánh giá biến động chất lượng môi trường trong sử dụng đất các KĐT, KCN thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010 55
3.3.1 Đánh giá chung 55
3.3.2 Mô hình hóa hiện trạng môi trường các KĐT, KCN Tp Hải Phòng và đánh giá 57
3.3.2.1 Chất lượng môi trường không khí 59
3.3.2.2 Chất lượng môi trường nước mặt 72
3.3.2.3 Chất lượng môi trường nước ngầm 91
3.3.2.4 Chất lượng môi trường đất 95
3.4 Thành lập bản đồ chất lượng môi trường tổng hợp Tp Hải Phòng 105
3.4.1 Nguyên tắc đánh giá chất lượng môi trường giai đoạn 2005-2010 105
3.4.2 Nguyên tắc thành lập bản đồ 106
3.4.3 Kết quả đánh giá 107
3.4.3.1 Bản đồ kết quả 107
Trang 7iii
3.4.3.2 Đánh giá 107
3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất các KĐT, KCN thành phố Hải Phòng 110
3.5.1 Dự báo tai biến môi trường trong qui hoạch sử dụng đất 110
3.5.2 Giải pháp về qui hoạch môi trường 112
3.5.3 Giải pháp về qui hoạch sử dụng đất bền vững 113
3.5.4 Xây dựng “Bộ chỉ tiêu lồng ghép các yếu tố bảo vệ môi trường”; “Bộ tiêu chí phát triển đô thị bền vững”, “Bộ tiêu chí đánh giá KCN, CCN phát triển bền vững” 115
3.5.5 Xây dựng hệ thống phần mềm và dữ liệu trong ngành TNMT 117
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
Trang 8iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1.Các đặc trưng cơ bản một số sông ở Hải Phòng 28
Bảng 2.2 Số giờ nắng các tháng trong năm 29
Bảng 2.3 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 30
Bảng 2.4 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 31
Bảng 2.5 Một số đặc điểm công nghiệp thành phố Hải Phòng 37
Bảng 3.1.Tổng hợp biến động sử dụng đất Tp Hải Phòng năm 2005- 2010 46
Bảng 3.2 Biến động sử dụng đất năm 2010 so với năm 2000 và 2005 47
Bảng 3.3 Diện tích đất đô thị, khu dân cư nông thôn năm 2010 51
Bảng 3.4 Tổng hợp biến động sử dụng đất các KĐT, CCN năm 2005-2010 52
Bảng 3.5 Kết quả quan trắc không khí xung quanh tại các KĐT năm 2010 67
Bảng 3.6 Kết quả quan trắc không khí xung quanh tại các KCN năm 2006-2010 67
Bảng 3.7 Kết quả quan trắc không khí xung quanh tại các KCN năm 2010 69
Bảng 3.8 Ước tính lưu lượng và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt đô thị Hải Phòng qua các năm 2006-2010 83
Bảng 3.9 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng có trong đất tại một số điểm sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng 97
Bảng 3.10 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng có trong đất tại một số KCN trên địa bàn thành phố Hải Phòng 105
Bảng 3.11 Bảng mức độ đánh giá và màu sắc thể hiện 108
Trang 9v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Biểu đồ về tình hình phát triển các KCN trên phạm vi cả nước 10
Hình 1.2 Sơ đồ về phát triển bền vững 15
Hình 1.3 Sơ đồ phân tích biến động bằng GIS 22
Hình 1.4 Sơ đồ phương pháp đánh giá biến động môi trường trong sử dụng đất 23
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu – thành phố Hải Phòng 27
Hình 3.1 Ảnh vệ tinh Landsat – thành phố Hải Phòng năm 2005 41
Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2005 42
Hình 3.3 Ảnh vệ tinh Landsat – thành phố Hải Phòng năm 2010 44
Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2010 45
Hình 3.5 Phân bố các KCN thành phố Hải Phòng (năm 2012) 53
Hình 3.6 Bản đồ hiện trạng các KCN thành phố Hải Phòng năm 2010 53
Hình 3.7 Bản đồ biến động sử dụng đất các KĐT, KCN Tp Hải Phòng 2015-2010 54
Hình 3.8 Bản đồ vùng ngập lụt thành phố Hải Phòng 56
Hình 3.9 Ảnh ngập lụt trên tuyến phố Minh Khai, quận Hồng Bàng, Tp Hải Phòng 56 Hình 3.10 Bản đồ các điểm lấy mẫu tại các KĐT, KCN Tp Hải Phòng năm 2010 58
Hình 3.11 Bản đồ hàm lượng bụi TSP có trong không khí ở các KĐT, KCN 59
Hình 3.12 Bản đồ hàm lượng NO2 trong không khí ở các KĐT, KCN 60
Hình 3.13 Bản đồ hàm lượng CO trong không khí tại các KĐT, KCN 61
Hình 3.14 Bản đồ hàm lượng SO2 trong không khí tại các KĐT, KCN 62
Hình 3.15 Ảnh bụi từ Nhà máy sản xuất đất đèn và hóa chất Tràng Kênh 63
Hình 3.16 Ảnh bụi phát sinh từ hoạt động giao thông tại khu vực ven đô 64
Hình 3.17 Biểu đồ hàm lượng Bụi, CO, SO2, NO2 trong không khí tại thành phố Hải Phòng từ 2006-2009 65
Hình 3.18 Biểu đồ hàm lượng CO trong không khí tại các KCN tại Tp Hải Phòng 69
Hình 3.19 Biểu đồ hàm lượng SO2 trong không khí tại Tp Hải Phòng 70
Hình 3.20 Biểu đồ hàm lượng NO2 trong không khí tại Tp Hải Phòng 70
Hình 3.21 Biểu đồ hàm lượng bụi trong không khí tại Tp Hải Phòng 71
Hình 3.22 Bản đồ hàm lượng TSS có trong nước ở các KĐT, KCN 72
Hình 3.23 Bản đồ hàm lượng pH có trong nước ở các KĐT, KCN 73
Hình 3.24 Bản đồ hàm lượng P có trong nước tại các KĐT, KCN 74
Hình 3.25 Bản đồ hàm lượng NO3 -N có trong nước tại các KĐT, KCN 75
Hình 3.26 Bản đồ hàm lượng NH3 -N có trong nước tại các KĐT, KCN 76
Trang 10vi
Hình 3.27 Bản đồ hàm lượng độ đục có trong nước tại các KĐT, KCN 77
Hình 3.28 Bản đồ hàm lượng độ dẫn có trong nước tại các KĐT, KCN 78
Hình 3.29 Bản đồ hàm lượng dầu mỡ có trong nước tại các KĐT, KCN 79
Hình 3.30 Bản đồ hàm lượng COD có trong nước tại các KĐT, KCN 80
Hình 3.31 Bản đồ hàm lượng BOD có trong nước tại các KĐT, KCN 81
Hình 3.32 Biểu đồ diễn biến hàm lượng BOD5 trung bình tại hồ An Biên giai đoạn 2006-2010 (đợt quan trắc mùa khô tháng 3 và mùa mưa tháng 9) 82
Hình 3.33 Biểu đồ diễn biến hàm lượng COD và DO trung bình tại hồ Tam Bạc giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô tháng 3 và mùa mưa tháng 9) 83
Hình 3.34 Biểu đồ diễn biến hàm lượng COD, BOD5 trung bình tại hồ Sen giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô tháng 3 và mùa mưa tháng 9) 84
Hình 3.35 Biểu đồ diễn biến hàm lượng COD, BOD5 trung bình tại hồ Tiên Nga giai đoạn 2006-2010 (đợt quan trắc mùa khô tháng 3 và mùa mưa tháng 9) 84
Hình 3.36 Biểu đồ diễn biến hàm lượng BOD5 trung bình tại các hồ Hải Phòng giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô tháng 3 và mùa mưa tháng 9) 85
Hình 3.37 Biểu đồ diễn biến hàm lượng DO trung bình tại hồ ở Hải Phòng giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô tháng 3 và mùa mưa tháng 9) 85
Hình 3.38 Biểu đồ diễn biếnàm lượng DO, Fe trung bình tại sông Cấm giai đoạn 2006-2010 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 86
Hình 3.39 Biểu đồ diễn biến hàm lượng Fe và NH4 trung bình tại sôngLạch Tray giai đoạn 2006-2010 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 87
Hình 3.40 Biểu đồ diễn biến hàm lượng BOD5, COD trung bình tại sông Bạch Đằng giai đoạn 2006-2010 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 87
Hình 3.41 Biểu đồ diễn biến hàm lượng NH4 trung bình tại sông Bạch Đằng giai đoạn 2006-2010 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 88
Hình 3.42 Biểu đồ diễn biến hàm lượng BOD5 trung bình tại 3 điểm quan trắc sông Giá giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 88
Hình 2.43 Biểu đồ diễn biến hàm lượng NH4 trung bình tại 3 điểm quan trắc sông Giá giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 89
Hình 3.44 Biểu đồ diễn biến hàm lượng DO trung bình tại 3 điểm quan trắc sông Rế giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 89
Hình 3.45 Biểu đồ diễn biến hàm lượng NH4 trung bình tại 3 điểm quan trắc sông Rế giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 90
Trang 11vii
Hình 3.46 Biểu đồ diễn biến hàm lượng BOD5 trung bình tại 3 điểm quan trắc sông
Đa Độ giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 90
Hình 3.47 Biểu đồ diễn biến hàm lượng NH4 trung bình tại 3 điểm quan trắc sông Đa Độ giai đoạn 2006-2009 (đợt quan trắc mùa khô và mùa mưa) 91
Hình 3.48 Đồ thị giao động mực nước tại điểm quan trắc 93
Hình 3.49 Biểu đồ hàm lượng Cl- tại các điểm quan trắc nước ngầm tại Hải Phòng 93 Hình 3.50 Biểu đồ hàm lượng Pb tại các điểm quan trắc nước ngầm tại Hải Phòng 94
Hình 3.51 Bản đồ hàm lượng pH có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 97
Hình 3.52 Bản đồ hàm lượng Zn có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 98
Hình 3.53 Bản đồ hàm lượng Hg có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 99
Hình 3.54 Bản đồ hàm lượng dầu mỡ có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 100
Hình 3.55 Bản đồ hàm lượng Cr có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 101
Hình 3.56 Bản đồ hàm lượng Cd có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 102
Hình 3.57 Bản đồ hàm lượng Asen có trong mẫu đất ở các KĐT, KCN 103
Hình 3.58 Biểu đồ hàm lượng As có trong mẫu đất tại một số cơ sở sản xuất CN 105
Hình 3.59 Biểu đồ hàm lượng Zn có trong mẫu đất KCN, cơ sở sản xuất CN 105
Hình 3.60 Sơ đồ tổng quát ảnh hưởng môi trường do hoạt động phát triển đô thị, công nghiệp 106
Hình 3.61 Bản đồ chất lượng môi trường tổng hợp thành phố Hải Phòng .109
Hình 3.62 Dự báo ô nhiễm tràn dầu trong qui hoạch phát triển công nghiệp 110
Hình 3.63 Dự báo nước biển dâng và diện ngập thành phố Hải Phòng 111
Hình 3.64 Dự báo ô nhiễm môi trường nước thành phố Hải Phòng 111
Trang 12viii
DANH MỤC CÁC QUI CHUẨN VIỆT NAM
1 QCVN 03:2008/BTNMT: Giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
2 QCVN 05:2009/BTNMT: Chất lượng không khí xung quanh
3 QCVN 06:2009/BTNMT: Một số chất độc hại trong không khí
(Thay cho TCVN 5938-2005)
4 QCVN 08:2008/BTNMT: Chất lượng nước mặt
5 QCVN 09:2008/BTNMT: Chất lượng nước ngầm
6 QCVN 14:2008/BTNMT: Nước thải sinh hoạt
7 QCVN 15:2008/BTNMT: Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong đất
8 QCVN 19:2009/BTNMT: Khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ
9 QCVN 20: 009/BTNMT: Khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ
10 QCVN 24:2009/BTNMT: Nước thải công nghiệp
(Thay cho TCVN 5945:2005)
11 QCVN 38:2011/BTNMT: Chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh
12 QCVN 39:2011/BTNMT: Chất lượng nước dùng cho tưới tiêu
13 QCVN 42:2012/BTNMT: Chuẩn thông tin địa lý cơ sở
Trang 13ix
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BĐKH : Biến đổi khí hậu
2 BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
3 BVMT : Bảo vệ môi trường
4 CCN : Cụm công nghiệp
5 CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
6 CTNH : Chất thải nguy hại
7 CTR : Chất thải rắn
8 ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
9 GDP : Tổng sản phẩm trong nước
10 GIS : Hệ thống thông tin địa lý
11 KCN : Khu công nghiệp
17 QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
18 QTMT: : Quan trắc môi trường
19 FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
20 QHSDĐ : Qui hoạch sử dụng đất
21 STN&MT : Sở Tài nguyên và Môi trường
22 TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
23 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
24 TSP : Bụi lơ lửng tổng số
25 UBND : Ủy ban nhân dân
26 VOCs : Các hợp chất hữu cơ bay hơi
Trang 141
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thập niên cuối của thế kỉ 20, đặc biệt là những năm đầu thế kỉ 21, Việt Nam bước vào thời kì bùng nổ về phát triển đô thị và công nghiệp Quá trình này giữ vai trò quyết định trong chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Việc hình thành khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Sự hình thành các KCN, CCN còn góp phần thúc đẩy sự hình thành các khu đô thị (KĐT) mới, phát triển nhiều ngành dịch vụ và công nghiệp phụ trợ, đưa Việt Nam thoát khỏi danh sách các nước nghèo trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh sự chuyển biến tích cực về mặt kinh tế xã hội đã phát sinh những tác động tiêu cực đến môi trường do quá trình phát triển các KCN, CCN, KĐT
Nguyên nhân ở đây chính là việc quy hoạch phát triển và vận hành các KCN, CCN thiếu sự quan tâm đến môi trường dẫn tới việc ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng trong và ngoài các KCN, CCN Việc xử lý ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN, các trọng điểm gây ô nhiễm môi trường chưa triệt để đã
và đang gây nên những hậu quả môi trường nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên phạm vi cả nước Bên cạnh đó trong quá trình phát triển các KCN, CCN đặc biệt trong các vùng kinh tế trọng điểm đang còn tồn tại nhiều vấn đề như: sử dụng đất đai chưa hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy trong KCN, CCN chưa cao, nhiều nơi còn để đất hoang hóa, hiệu quả sử dụng đất thấp; việc bố trí về vị trí, quy mô diện tích các KCN, KĐT nhiều nơi chưa hợp lý, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của địa phương Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển các KCN, CCN, KĐT trong một giai đoạn ngắn vừa qua trên phạm vi cả nước đã cho thấy nhiều bất cập, trong đó các yếu tố đảm bảo cho phát triển bền vững về kinh tế, xã hội bị xem nhẹ, đặc biệt là các yếu tố về môi trường
Phát triển bền vững trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt ở những nước phát triển
ở Châu Âu, các nước: Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan Ở Việt
Trang 152
Nam, phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững môi trường nói riêng mới được đặt ra trong thập kỷ vừa qua Trên thực tế việc bảo vệ môi trường thường được xây dựng lồng ghép trong qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội, qui hoạch đô thị, khu công nghiệp…Tuy nhiên đặt vấn đề qui hoạch lồng ghép đó thực sự đã đáp ứng được tính ổn định, bền vững chưa, nó có những ảnh hưởng gì đến chất lượng môi trường hiện tại và trong tương lai còn là một vấn đề lan giải đối với các nhà quản lý, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hải Phòng nói riêng
Nằm ở vùng duyên hải Bắc Bộ, cách Hà Nội khoảng 100 km về phía Đông, Hải Phòng là cửa ngõ giao thông đường biển của khu vực kinh tế phía Bắc, có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước Với lợi thế về vị trí địa lý, vai trò của thành phố cảng, công nghiệp hiện đại, đô thị trung tâm cấp quốc gia, một cực tăng trưởng quan trọng của tam giác kinh tế động lực phía Bắc và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hải Phòng đang trên bước đường phấn đấu trở thành thành phố công nghiệp văn minh, hiện đại trước năm 2020
Trong 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Hải Phòng đạt nhiều thành tựu
to lớn Kinh tế thành phố liên tục tăng trưởng ở mức cao, với GDP tăng bình quân hơn 11%/năm, gấp 1,5 lần mức bình quân chung cả nước Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng nâng dần tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp, quy mô nền kinh tế thành phố phát triển mạnh Cơ sở hạ tầng như cảng, hệ thống hạ tầng, giao thông, diện mạo đô thị, nông thôn ngày càng phát triển và có sự thay đổi lớn Nhưng song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng cũng đang phải đối mặt nhiều với sức ép về môi trường Ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tại KĐT, KCN, CCN đã và đang gây ảnh hưởng đến môi trường chung của thành phố Ô nhiễm môi trường đang làm biến đổi chất lượng môi trường
ở cả thành thị và nông thôn, ảnh hưởng đến các tính chất vật lý, hoá học tự nhiên của môi trường
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường do quá trình phát triển các KĐT, KCN, CCN có nhiều nguyên nhân khác nhau; Tuy nhiên để đánh giá tổng quan các nguyên nhân chính làm biến đổi chất lượng môi trường trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công
Trang 163
tác quản lý đất đai có ý nghĩa rất lớn trong việc quy hoạch khai thác bền vững nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển tiềm năng kinh tế, điều kiện tự nhiên sẵn có ở một vùng đất trẻ ven biển như Hải Phòng
Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường nói chung và đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN theo phương pháp truyền thống như thống kê, báo cáo đã được thực hiện; tuy nhiên kết quả đánh giá
đó chưa thực sự phục vụ hữu ích cho nhu cầu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường nhằm hướng tới phát triển bền vững cho thành phố Hải Phòng
Ngày nay khoa học công nghệ phát triển, hệ thống thông tin địa lý (GIS), phương pháp Viễn thám đã được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá về đất đai, môi trường và nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác Để có những đánh giá cụ thể, khách quan, khoa học và tổng quan được các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển các khu đô thị, công nghiệp đặt trong mối quan hệ hệ thống với qui hoạch
sử dụng đất trên bản đồ ở trạng thái động là phương pháp mới Qua đó đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên đất; đồng thời cũng là một trong những giải pháp quan trọng trong quản lý ô nhiễm trong KCN, KĐT góp phần tích cực trong việc phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm do các hoạt động sản xuất công nghiệp gây nên trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Xuất phát từ thực tế trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi
trường trong thời gian qua; em đã lựa chọn nghiên cứ đề tài “Đánh giá biến đổi
chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp thành phố Hải Phòng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng biến đổi chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp tại thành phố Hải Phòng
Trang 174
+ Đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng phương pháp Viễn thám và
hệ thông tin địa lý (GIS);
+ Kiến nghị đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp và môi trường trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Thu thập số liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng trong
2 giai đoạn 2005-2010;
- Thu thập số liệu về hiện trạng môi trường trong các khu đô thị, công nghiệp giai đoạn 2005- 2010 (số liệu quan trắc môi trường, tổng lượng chất thải các nguồn thải: nước thải, khí thải, chất thải rắn, một số kim loại nặng trong đất);
- Đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng công nghệ GIS, Viễn thám cho giai đoạn 2005-2010: bản đồ biến động sử dụng đất (từ đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị, công nghiệp); bản đồ biến động sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ chất lượng các thành phần môi trường (theo những thông số đánh giá cơ bản được lựa chọn ) tại các khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ tổng thể biến đổi chất lượng môi trường trong các khu đô thị, khu công nghiệp;
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Toàn bộ thành phố Hải Phòng (trừ 2 huyện đảo Bạch Long Vỹ và Cát Hải)
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Giai đoạn năm 2005 - 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Thu thập tài liệu nghiên cứu trong nước, nước ngoài
có liên quan; khảo cứu tài liệu và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các chương trình, công trình, đề tài khoa học có liên quan tới vấn đề nghiên cứu;
- Phương pháp thống kê: sử dụng để thống kê các số liệu về qui hoạch sử
dụng đất các khu công nghiệp, khu đô thị, các số liệu về hiện trạng môi trường phục
vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 185
- Phương pháp so sánh: Tiến hành phân lập các nhóm đối tượng, nhóm số
liệu đánh giá; đối chiếu, so sánh, đánh giá các thông số gây ô nhiễm môi trường với Qui chuẩn, Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
- Phương pháp tính áp dụng mô hình: là sử dụng các biểu thức tính tải trọng
chất thải, tải lượng chất thải, khả năng tiếp nhận tải lượng ô nhiễm (theo Thông tư 02/2009/TT-BTNMT, ngày 19/3/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
- Phương pháp bản đồ: Phương pháp bản đồ được sử dụng trên cơ sở kỹ
thuật GIS, Viễn thấm nhằm phân tích, xử lý các dữ liệu trên để đưa ra các thông tin
về hiện tượng, biến đổi trong từng đơn vị trên bản đồ
- Phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp: Dựa trên các số liệu đã phân
tính, cần tổng hợp đánh giá theo hệ thống logic và từ đó đưa ra những nhận xét tổng hợp, các kết luận chính xác, khách quan
Trang 196
Chương 1- TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Qui hoạch sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp
Chúng ta đều hiểu rằng “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoan đất, vạc đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những
tính chất tự nhiên đặc trưng (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước mặt, chế độ nước ngầm, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất vào các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất hiệu quả thì điều đầu tiên chúng ta cần phải nghiên cứu, đánh giá đặc trưng cơ bản của đất đai từng khu vực, từng vùng, từng lãnh thổ
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong các lĩnh vực sử dụng đất đai Nó giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế xã hội Đất đai là địa điểm,
là nền tảng, là cơ sở cho mọi hoạt động phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai sẽ là một hiện tượng kinh tế xã hội thể hiện đồng thời ở tính chất: kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất), kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoan định, sử dụng số liệu ) và pháp chế (xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo pháp luật)
Theo định nghĩa của FAO: “Qui hoạch sử dụng đất là sự đánh giá có hê ̣ thống về tiềm năng tài nguyên đất và nước , về các mô hình sử dụng đất trong các điều kiê ̣n tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau nhằm mục đích lựa chọn và thông qua các phương thức sử dụng đất mang lại nhiều lợi ích nhất cho người sử dụng mà không phá hủy tài nguyên và môi trường , đồng thời đề xuất , lựa chọn và thực hiê ̣n các biện pháp thích hợp để thực hiện việc sử dụng đất” [22]
Về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Trang 207
Đất đai nói chung và đất đô thị nói riêng do diện tích có hạn, nên trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá sẽ kéo theo quá trình đô thị hoá Các đô thị phát triển ngày càng mở rộng, nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng do nhu cầu về: xây dựng cơ sở hạ tầng, khu dân cư đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế
Do vậy việc qui hoạch sử dụng đất đô thị và sử dụng đất đô thị một cách khoa học, hợp lý và có hiệu quả là một việc cấp thiết phải thực hiện Hơn thế nữa, trong quá trình qui hoạch lại các khu vực đô thị cũ thông qua hoạt động phá bỏ, di chuyển, cải tạo, nâng cấp để cải biến kết cấu sử dụng đất đô thị làm cho bộ mặt kiến trúc đô thị ngày càng văn minh - hiện đại - văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc cũng đòi hỏi phải có qui hoạch đất đô thị theo hướng phát triển bền vững
Qui hoạch sử dụng đất đô thị là việc bố trí, sắp xếp đất đai đô thị, là hệ thống các biện pháp kinh tế kĩ thuật; là các phương án khai thác sử dụng triệt để nguồn tài nguyên đất đai đô thị nhằm thoả mãn những nhu cầu mới của con người, xã hội phục vụ tốt nhất cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Tổng kết những thực tiễn trong quy hoạch đô thị hiện đại của ông Chu Tiểu Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quy hoạch Miền Tây Trung Quốc đã chỉ ra
rằng “Phát triển khoa học là nội hàm trọng tâm để thực hiện đô thị phát triển bền vững, quy hoạch bền vững là nền tảng và là bước đầu của việc đảm bảo cho đô thị phát triển một cách khoa học Đưa quan điểm quy hoạch bền vững để thay đổi mô hình phát triển lấy xây dựng truyền thống và lấy Chính quyền làm chỉ đạo, thực hiện kinh tế - xã hội, dân số, tài nguyên và môi trường phát triển một cách bền vững; sau đó kết hợp hiện trạng phát triển đô thị của Việt Nam, đưa ra những vấn đề cần quan tâm liên quan đến phát triển đô thị bền vững” [12]
Công nghiệp hoá và đô thị hoá là một tiến trình tất yếu đối với những nước nông nghiệp nghèo muốn trở thành quốc gia giàu mạnh Nhưng mỗi quốc gia cần phải cân nhắc khi lựa chọn mô hình phát triển, định hướng chiến lược phát triển cho hàng trăm năm sau sao cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước
Việt Nam đang trong tiến trình đô thị hoá trên một quy mô rất rộng lớn và với một tốc độ khá nhanh trên phạm vi cả nước Năm 1990, cả nước mới có khoảng
500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị, năm 2006 tăng lên đến
727 và đến tháng 9/2009 đã có 754 đô thị Tỷ lệ dân số đô thị năm 2010 là 29,9%
Trang 218
(tăng 2,04% so với năm 2009), năm 2010 là 33% Đây là giai đoạn tốc độ đô thị hoá được đẩy lên nhanh nhất sau khi Hà Nội mở rộng tăng diện tích từ 924 km2 với 2,4 triệu dân lên 3.344 km2 (tăng bốn lần) và 6,448 triệu dân (tăng gấp ba lần) trở thành thành phố đứng thứ 17 trên thế giới [8] Các khu vực đô thị là nơi tập trung các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, đông dân cư, là khu vực có môi trường chịu tác động nhiều nhất từ các hoạt động phát triển
Nói đến quy hoạch các KCN, người ta thường xem xét từ 2 khía cạnh: quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết
Về quy hoạch tổng thể, cho đến nay, chúng ta đã xây dựng được Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
Ưu điểm cơ bản của quy hoạch tổng thể là đã cho chúng ta có một cái nhìn toàn cục
về sự phân bố và định hướng phát triển các KCN trên phạm vi cả nước trong trên quan điểm ưu tiên tập trung phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời vẫn chú trọng việc phát triển hợp lý những vùng kinh tế khác; đưa ra được nhiều giải pháp có tính khả thi cao và đề xuất các cơ chế, chính sách cũng như tiến độ cụ thể
để thực hiện quy hoạch
Đối với quy hoạch chi tiết của từng KCN, trước khi triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng và kêu gọi các nhà đầu tư, mỗi KCN đều phải xây dựng và phê duyệt quy hoạch chi tiết; trong đó, dự kiến tỉ lệ đất đai và vị trí cụ thể cho xây dựng nhà máy, kho bãi, các công trình hạ tầng nội bộ KCN, khu vực xử lý chất thải tập trung, khu hành chính quản lý, khu cây xanh , đồng thời cũng đề ra các giải pháp di dân, tái định cư (nếu có), đền bù, giải phóng mặt bằng, tiến độ đầu tư và dự kiến các ngành công nghiệp sẽ bố trí trong KCN để làm căn cứ kêu gọi đầu tư Như vậy, có thể thấy việc xây dựng các KCN trên nguyên tắc đều phải tuân thủ quy hoạch
Trong những năm qua, về cơ bản công tác quản lý thực hiện quy hoạch các KCN ngày càng mang dáng vẻ chính quy và sự đóng góp của chúng vào sự nghiệp phát triển của ngành công nghiệp ngày càng rõ nét Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, công tác quy hoạch các KCN thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập
Tính đến hết năm 2009, cả nước đã có 249 KCN được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích đất tự nhiên 63.173 ha, tỷ lệ lấp đầy các diện tích đất các KCN đã vận hành đạt tỷ lệ 48% Giai đoạn 2006 - 2015,
Trang 229
theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sẽ ưu tiên thành lập mới
115 KCN với tổng diện tích khoảng 26.400 ha và mở rộng diện tích 27 KCN, phấn đấu tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng 60% Các KCN được phân bổ trên 57 tỉnh, thành phố trong cả nước, tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Trung du miền núi và Đồng bằng Sông Hồng) có 45 KCN, chiếm 39% tổng số KCN trên cả nước; Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Vùng duyên hải Trung bộ và Tây Nguyên) có 28 KCN, chiếm 24,3% tổng số KCN trên cả nước; Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long) tập trung 42 KCN chiếm 36,7% tổng số KCN trên cả nước [8]
Các KCN đã có nhiều đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống người dân Riêng năm 2008, các KCN đã tạo giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước); giá trị xuất khẩu đạt trên 16 tỷ USD (chiếm gần 26% tổng giá trị xuất khẩu cả nước); nộp ngân sách khoảng 2,6 tỷ USD, tạo công ăn việc làm cho gần 1,2 triệu lao động [5]
Cụm công nghiệp là một dạng của KCN nhưng có qui mô nhỏ hơn, được chính quyền địa phương phê duyệt, cấp phép và quản lý Bên cạnh các KCC, các CCN trong cả nước cũng phát triển một cách nhanh chóng Tính đến cuối năm
2008, tổng số CCN trên địa bàn cả nước là 1.685 CCN với tổng diện tích trên 76.100ha, thu hút và tạo việc làm cho hơn 500.000 lao động Trong đó 700 CCN đã
đi vào hoạt động với tổng diện tích 28.343 ha đất, diện tích trung bình CCN khoảng 45ha/cụm Trong 700 CCN này, vùng Đồng bằng Sông Hồng chiếm số lượng nhiều nhất với 189 cụm; Vùng Duyên hải Trung Bộ có 189 cụm [5]
Trang 2310
Hình 1.1: Biểu đồ về tình hình phát triển các KCN trên phạm vi cả nước
(theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ)
Phát triển các KCN, CCN với mục tiêu tập trung các cơ sở sản xuất công
nghiệp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng, tập trung các nguồn phát thải ô
nhiễm vào các khu vực nhất định, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả quản lý
nguồn thải và bảo vệ môi trường Thực tế, quá trình phát triển KCN, CCN đã bộc lộ
một số khiếm khuyết trong việc xử lý chất thải và đảm bảo chất lượng môi trường
1.2 Các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển khu đô thị, khu
công nghiệp
1.2.1 Môi trường và phát triển bền vững
Cách đây 40 (năm 1972) tại Stốckhôm, Thụy Điển, Liên hợp quốc đã tổ chức
Hội nghị quốc tế về môi trường và con người Tại hội nghị này những người đứng
đầu thế giới đã nhất trí rằng “việc bảo vệ và cải thiện môi trường con người cho các
thế hệ ngày nay và mai sau là mục tiêu cấp bách của nhân loại” Hội nghị này đã
đánh dấu sự ra đời của nhận thức về môi trường và phát triển
Năm 1987, Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển đã công bố báo cáo
“Tương lai chung của chúng ta”, trong đó đã phân tích mối liên hệ chặt chẽ giữa
môi trường và phát triển Báo cáo này cũng đưa ra định nghĩa về phát triển bền
vững là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại
đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Từ đó, năm 1987 được
coi là thời điểm hình thành khái niệm phát triển bền vững
Trang 2411
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển họp vào tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro đã thành lập Ủy ban phát triển bền vững Thành quả lớn nhất của Hội nghị này là Chương trình nghị sự 21 - Một kế hoạch hành động chi tiết cho phát triển bền vững toàn cầu của thế kỷ 21 và đánh dấu sự cam kết toàn cầu vì
sự phát triển bền vững
Tại Diễn đàn toàn cầu cấp Bộ trưởng Môi trường đầu tiên tổ chức tại Malmo tháng 05/2000 đã ra Tuyên bố Malmo kêu gọi biến các cam kết vì sự phát triển bền vững thành hành động Tại Hội nghị thượng đỉnh thiên niên kỷ vào tháng 9/2000, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã nêu ra những thách thức và những khó khăn trong việc thực hiện các cam kết vì phát triển bền vững Diễn đàn Malmo - 2000 được coi
là lời kêu gọi hành động vì phát triển bền vững [21]
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi, tháng 9/2002 đánh dấu một mốc quan trọng của loài người trong nỗ lực tiến tới phát triển bền vững toàn cầu Hội nghị đã khẳng định trách nhiệm chung xây dựng 3 trụ cột của phát triển bền vững là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường ở cấp độ địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu [21]
Ở cấp khu vực ASEAN, đã có nhiều tuyên bố cấp Bộ trưởng ASEAN về Môi trường và Phát triển, bao gồm các tuyên bố tại Manila (30/04/1981), Bangkok (29/11/1984); Jakarta (20/10/1987); Kuala Lumpur (19/06/1990); Banda Seri Begawan (26/04/1994); Jakarta (18/09/1997); Kota Kinabalu (07/10/2000) [21]
Đã có nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị
sự 21 của quốc gia mình Mặc dù cách tiếp cận của mỗi quốc gia khác nhau, nhưng tất cả các chương trình đều dựa trên điều kiện thực tế của mỗi nước và đề xuất các vấn đề ưu tiên nhằm đảm bảo phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường
Trong thời gian 20 năm qua, đất nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nhằm hoàn thành cơ bản các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vào năm
2020 Trên thế giới nói chung và Việt nam nói riêng, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá sẽ làm gia tăng các nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên nói chung Trong những năm tới, Việt Nam vẫn chú trọng vào khai thác tài nguyên thiên nhiên
Trang 2512
và phát triển nền kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Các ngành công nghiệp đang tăng trưởng lệ thuộc vào việc cung cấp nước sạch, năng lượng, tài nguyên và các dịch vụ do hệ thống thiên nhiên cung cấp Nhiều cộng đồng trực tiếp lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt những cộng đồng ở các vùng sâu vùng xa, miền núi, nông thôn; sự nghèo khổ hay sự thoát khỏi nghèo khổ của những đối tượng này gắn liền với nguồn lợi từ khai thác tài nguyên thiên nhiên
Dù bằng cách nào và ở bất cứ đâu, trong quá trình phát triển cũng tạo nên hai
hệ thống: hệ thống kinh tế - xã hội và hệ thống môi trường
Hệ thống kinh tế - xã hội bao gồm các thành phần: sản xuất, tiêu dùng, lưu thông, phân phối và tích lũy Từ đó tạo ra dòng nguyên liệu, năng lượng, hàng hóa, phế thải lưu thông giữa các thành phần cấu thành hệ thống
Hệ thống môi trường gồm môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo Hai hệ thống kinh tế - xã hội và hệ thống môi trường song song cùng tồn tại, cùng phát triển hoặc cùng suy thoái [16]
Hiện nay, việc sử dụng các thành phần môi trường phục vụ phát triển kinh tế
là chưa hợp lý, còn lãng phí, không thân thiện môi trường và thiếu quan tâm đến tính bền vững Nguyên nhân chính là do chưa quan tâm đúng mức đến công tác quy hoạch, kế hoạch phân bổ hợp lý tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế ngay
từ những giai đoạn đầu ra quyết định phát triển Về nguyên tắc thì quy hoạch cần phải làm trước và các hành động phát triển diễn ra sau Khi đã có quy hoạch hợp lý
và sau khi đã có cam kết thực hiện đúng quy hoạch sẽ giảm thiểu được những tác động tiêu cực đến môi trường Một nguyên nhân khác làm cho phát triển không bền vững là trong quá trình phát triển thiếu sự giám sát hợp lý để có đủ thông tin phản hồi cần thiết phục vụ việc điều chỉnh và nâng cao hiệu quả hoạt động
Cùng với những hậu quả về môi trường phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, những tác động của biến đổi khí hậu với các thiên tai đã làm cho môi trường hành tinh chúng ta nói chung và của Việt Nam nói riêng ngày càng xấu
đi cả ở quy mô và mức độ nguy hiểm Vì vậy đòi hỏi phải có những chính sách mới gắn kết chặt chẽ giữa nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững
Trang 2613
* Quan điểm chỉ đạo về phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay
Ở nước ta, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý làm cơ sở đẩy ạnh phát triển bền vững tại Việt Nam, trong đó, phải kể đến những văn bản pháp lý quan trọng như: Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 (Hiện nay là Quyết định số 1216/2012/QĐ-TTg ngày 05/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030); Nghị quyết số 41/NQ-
TU ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật bảo vệ môi trường năm 2005 Đặc biệt, ngày 17/04/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự 21) Đây là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn làm
cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21
Định hướng chiến lược phát triển bền vững gồm 5 phần, trong đó nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên Định hướng chiến lược được xây dựng trên 8 nguyên tắc cơ bản Định hướng chiến lược cũng đề ra 19 vấn đề cần ưu tiên bao gồm 05 vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế, 4 vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội và 9 vấn đề thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường [3]
Định hướng chiến lược phát triển bền vững không thay thế các chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch hiện có, mà là căn cứ cụ thể hoá Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Dựa trên các nguyên tắc cơ bản, các nội dung cần ưu tiên về phát triển bền vững mà các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hành động của các cấp, các ngành, các địa phương đã và đang được xây dựng và triển khai vào thực tiễn
Chương trình Nghị sự 21 quốc gia về tài nguyên và môi trường đã được xây dựng nhằm triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, theo đó mỗi Bộ chủ chốt liên quan đến tài nguyên và môi trường; mỗi tỉnh sẽ soạn thảo các hợp phần
Trang 2714
của mình trong chương trình Các hợp phần tài nguyên và môi trường đó sẽ được lồng ghép với toàn bộ các chương trình Nghị sự 21 và các chiến lược, kế hoạch hành động kinh tế - xã hội của ngành và địa phương Chương trình Nghị sự 21 về tài nguyên và môi trường không phải là chương trình của ngành tài nguyên và môi trường, mà là chương trình có tính định hướng, chỉ dẫn chính sách nhằm đảm bảo mọi hoạt động kinh tế - xã hội được xem xét đầy đủ các yếu tố tài nguyên và môi trường
Mục tiêu và hành động ưu tiên theo định hướng phát triển bền vững về kinh
tế - xã hội - môi trường ở Việt Nam của Chương trình nghị sự 21 là:
- Về kinh tế: Mục tiêu phát triển bền vững là đạt được sự tăng trưởng ổn định
với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau
- Về xã hội: Mục tiêu phát triển bền vững là đạt được kết quả cao trong việc
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm Giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức
độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội Duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần
- Về môi trường: Mục tiêu thực hiện nguyên lí của phát triển bền vững “phát
triển để đáp ứng với nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến thế hệ tương lai” Phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường, cùng với sự phát triển môi trường luôn được bảo vệ, gìn giữ
* Hành động ưu tiên
- Về kinh tế Các hoạt động ưu tiên phát triển đã hướng tới việc tăng trưởng
theo chiều sâu bằng cách cải tiến công nghệ để đạt hiệu quả cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường Các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp cần được xem xét, đánh giá toàn diện về phương diện môi trường Các hoạt động trong ngành
du lịch - dịch vụ trước đây chưa được quan tâm cần phải xác định vị trí và tầm quan trọng của các hoạt động này đảm bảo cho ngành du lịch - dịch vụ là góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững
Trang 2815
- Về xã hội Các hoạt động ưu tiên đã hướng tới việc phát triển toàn diện,
đồng đều về chất lượng của người dân cả về vật chất và tinh thần Là một nước đa dân tộc, giàu truyền thống văn hóa, Việt Nam đã tạo nên một dấu ấn rất riêng trong cách nhìn của người nước ngoài Vấn đề đặt ra là trong quá trình hội nhập, Việt Nam cần phải giữ vững truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình, thay đổi những hủ tục lạc hậu và những thói quen sinh hoạt, sản xuất gây cản trở cho sự phát triển bền vững của đất nước
- Về môi trường Để phát triển kinh tế bền vững cần phải gìn giữ môi trường,
hướng tới nền “kinh tế xanh”; Ưu tiên phát triển công nghệ sử dụng những nguồn năng lượng mới, nguồn năng lượng sạch, nguồn năng lượng tái sinh; sử dụng tiết kiệm tài nguyên không tái tạo được; đảm bảo công bằng xã hội Có thể nhận thấy rằng sử dụng các nguồn năng lượng tái sinh sẽ có tính ổn định, bền vững cao hơn, giảm thiểu được các tác động gây suy thoái môi trường Đặc biệt, điều kiện tự nhiên nước ta có nhiều lợi thế về năng lượng sạch như năng lượng nước, gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều nên nếu áp dụng được những công nghệ này trong sản xuất và sinh hoạt sẽ tạo ra một hình ảnh mới của Việt Nam trên thế giới Đối với quy hoạch nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng, cần đặc biệt chú trọng các yếu tố môi trường Không thể để tồn tại những vấn đề không đảm bảo môi trường ngay trong quy hoạch ban đầu
PTBV Quốc gia
PTBV các tỉnh/ thành PTBV các ĐT, các KCN, khu vực NT
PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN
Trang 29có hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tập trung, đã và đang tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với môi trường Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Nguyễn Thế Đồng cho biết, theo Quyết định 64/2003/TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong giai đoạn 1 có 338/439 cơ sở đã hoàn thành các biện pháp xử lý không còn gây ô nhiễm, song tiến độ xử lý đối với 3.856 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ còn rất chậm trễ [5]
Quy hoạch đô thị hiện nay thường đi trước quy hoạch môi trường, đặt môi trường và sử dụng tài nguyên đất trước một việc đã rồi Do vậy, hiện tượng ô nhiễm môi trường đến mức không kiểm soát nổi như hiện nay đang trở thành vấn đề báo động tại các khu đô thị cũ Các sự cố về môi trường, những “điểm nóng” về môi trường như “làng ung thu”, „dòng sông chết”, những “tiếng kêu cứu về môi trường”…đang trở lên phổ biến ở tất cả các thành phố, các đô thị trong cả nước Thực tế khi quy hoạch, người ta ít tham khảo quan điểm của các nhà khoa học và quản lý môi trường hoặc có thì cũng chỉ qua loa, hình thức Nhưng tới khi có sự cố, kiện tụng, hoặc bị phê phán gây ô nhiễm thì lại do “nhà quản lý về môi trường"
Quy hoạch khu đô thị cạnh khu công nghiệp, hay quy hoạch khu công nghiệp vào đầu hướng gió chính của khu đô thị, vào đầu nguồn các con sông là nguyên nhân tất yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường là điều không tránh khỏi Có những bản quy hoạch thuê nước ngoài làm, qua hội thảo cho có lệ, rồi xếp ngăn tủ; hoặc có triển khai cũng méo mó…Quy hoạch khu công nghiệp một cách ồ ạt như hiện nay
mà không quy hoạch nhà ở cho công nhân, bệnh xá, trường học, nhà giữ trẻ cho con
em họ; chính vì vậy, mà một hệ lụy tất yếu xảy ra là: cạnh khu công nghiệp, các loại hình nhà trọ nhếch nhác, lộn xộn đang đà phát triển, lấn át “bộ mặt văn minh đô thị”, làm nảy sinh “môi trường tệ nạn xã hội”
Trang 3017
Nguyên nhân chủ yếu, trước hết, đó là thiếu sự hợp tác giữa các quy hoạch ngành liên quan khác Chính vì vậy mà xưa nay người ta vẫn phải “xem đất” mỗi khi xây dựng nhà cửa, xây dựng đô thị cũng phải chọn đất: “nhất cận thủy, nhì cận sơn”, xem thế đất, cảnh quan… Nhiều nhà cao tầng bị sụp, bị lún, nghiêng là hậu quả của xem thường khảo sát địa chất, địa tầng, đất đai khi quy hoạch Vùng trũng ngập sâu sẽ ngập sâu hơn khi khí hậu thay đổi, nước biển dâng nhưng lại quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp thì thật là điều khó hiểu…
Việc qui hoạch sử dụng đất phải phù hợp với chức năng môi trường của từng vùng, tránh tình trạng vượt quá sức chịu tải ô nhiễm môi trường; khai thác sử dụng tài nguyên đất không vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn tài nguyên thiên nhiên
là điều quan trọng Cần xem xét lợi ích về kinh tế- xã hội - môi trường trước khi chuyển đổi qui hoạch sử dụng đất Đồng thời, phải dành quỹ đất xây dựng hệ thống
hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó, thích nghi với thiên tai và biến đổi khí hậu
Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, các hoạt động sản xuất công nghiệp là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất
Công nghiệp là ngành kinh tế đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ nào Nó là động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế, là cơ sở của các ngành dịch vụ, thương mại, là yếu tố trung tâm của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho các quốc gia, nâng cao vị thế, hình ảnh của các quốc gia Tuy nhiên bên cạnh những vai trò to lớn đó, các khu cụm công nghiệp cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt như tác động đến đời sống, sức khoẻ, sinh hoạt của dân cư làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến phát triển bền vững
Khu công nghiệp, cụm công nghiệp là hình thức ra đời và phổ biến ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Đây là một mô hình sử dụng các ưu đãi đặc biệt (thuê đất, ưu đãi thuế, thủ tục hành chính, lao động, ) để thu hút vốn, khoa học công nghệ của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Khu công nghiệp là nơi tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp với nhiều loại hình khác nhau, dù các cơ sở này có công nghệ hiện đại đến mấy cũng đều tác động đến môi trường ở những khía cạnh và mức độ khác nhau (ô nhiễm nước mặt,
Trang 3118
nước ngầm, không khí, khói, bụi, tiếng ồn, giao thông, ô nhiễm nhiệt độ, độ ẩm ) làm cho các khu vực xung quanh bị ảnh hưởng Các nguồn thải công nghiệp gây ô nhiễm môi trường lớn nhất là: nước thải, khí thải và chất thải rắn
Nước thải công nghiệp có thành phần rất đa dạng, trong đó bao gồm chất lơ lửng, chất hữu cơ, dầu mỡ và kim loại nặng Nước thải công nghiệp gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm và ô nhiễm đất Ô nhiễm nguồn nước gây hậu quả trực tiếp cho con người khi sử dụng làm nguồn nước sinh hoạt Nguồn nước ô nhiễm từ các khu công nghiệp đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp như hủy hoại môi trường nước nuôi trồng thủy sản, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng vật nuôi Đặc biệt nước thải công nghiệp phần lớn bị ô nhiễm kim loại nặng, đây là nguyên nhân gây nhiều chứng bệnh hiểm nghèo cho con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng nguồn nước ô nhiễm này Ở nhiều nước công nghiệp trước đây, do đã sử dụng công nghệ cũ, không có quy trình xử lí nước thải, đã thải thẳng vào nguồn nước mặt, hậu quả đã làm ô nhiễm nguồn nước mặt
Ở Nhật Bản, năm 1953 đã gây nên vụ ngộ độc thực phẩm nổi tiếng ở vịnh Manimata do các nhà máy đã thải thủy ngân (Hg) vào nước biển, do hoạt động của tảo biển đã chuyển hóa thủy ngân thành thủy ngân metyl (CH3)2Hg tích tụ trong tảo, tôm cá ăn tảo đã trở thành thực phẩm độc hại, gây ngộ độc cho người Gần đây những vụ ngộ độc kim loại nặng cũng đã xảy ra ở nhiều nước Bệnh Itai - Itai ở Nhật Bản cũng bắt nguồn từ nước thải chứa nguyên tố cadimi Sự nhiễm nguyên tố cadimi qua đường thức ăn đã tích tụ nguyên tố này trong gan, thận và xương gây rối loạn chức năng trao đổi chất, ức chế enzym đã gây bệnh về máu heamatopoiesis
Quy hoạch chất thải công nghiệp là khâu rất quan trọng, để đảm bảo an toàn môi trường khu công nghiệp Sự thiếu tính toán kỹ lưỡng bể chứa “chất thải bùn đỏ” trong sản xuất quặng bôxit ở nhà máy Ajkai Timfoldgyar ở thị trấn Ajka - Hunggari đã gây sự cố môi trường nghiêm trọng khi bể chứa bùn đã bị vỡ Sự cố môi trường này đã gây hậu quả trước mắt, làm 8 người chết và khoảng 150 người bị thương sau khi gần một triệu m3 bùn phủ trên một khu vực rộng 40 km2 Về lâu dài,
đã gây ô nhiễm nguồn nước cho cả khu vực, nguy hại hơn cả là ở dòng sông Đanup
Quá trình tích lũy kim loại nặng trong cơ thể con người dễ dàng hơn quá trình đào thải kim loại nặng ra khỏi cơ thể Để đánh giá thời gian đào thải kim loại
Trang 3219
nặng ra khỏi cơ thể, người ta sử dụng khái niệm chu kì bán thải sinh học (biological
half-life): là thời gian mà lượng kim loại nặng còn lại trong cơ thể bằng một nửa lượng ban đầu, đối Với cadimi thời gian này là 10 năm, với thủy ngân khoảng 80
ngày Những nguyên tố có chu kì bán thải sinh học ngắn thường gây độc cấp tính, còn nguyên tố có thời gian bán thải sinh học dài thường gây chứng bệnh hiểm nghèo mãn tính Nói chung nhiễm độc kim loại nặng biểu hiện thành bệnh lí rất đa dạng, điều trị rất khó khăn, phức tạp
Khí thải công nghiệp bao gồm các oxít thể khí như: cácbonoxít (CO, CO2), nitơoxít (NO, NO2), lưu huỳnh oxít (SO2, SO3); các hydrocácbon, halogenua cácbon (CH4, CFC, CClC); sunfuhydro (H2S), amoniac (NH3); VOCs, bụi, muội khói Hiện nay tổng lượng khí thải công nghiệp trên thế giới đã tăng gấp 4 lần so với những năm thập kỉ 50 của thế kỉ trước Khí thải công nghiệp không qua xử lí thải vào môi trường gây ô nhiễm không khí, tác hại trực tiếp đến con người, môi trường sinh thái Hậu quả khôn lường của khí thải công nghiệp là tạo nên hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi khí hậu, phá hủy tầng ozôn Các nhà khoa học đã dự báo nếu thế giới không hành động kịp thời cắt giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính thì đến năm 2025, nhiệt độ trái đất sẽ tăng thêm 1oC, đến cuối thế kỉ này sẽ tăng thêm 4oC
Chất thải rắn công nghiệp ngày một gia tăng về lượng và về tính chất độc hại Nhiều tài liệu công bố đã cảnh báo nguy cơ về chất thải rắn Sự tích tụ chất thải rắn trong môi trường nước, đất đe dọa môi trường sinh thái trên phạm vi toàn cầu Nguy cơ ô nhiễm gián tiếp do phế thải rắn công nghiệp là các loại bao bì, túi màng polime tổng hợp Loại phế thải rắn đặc biệt này đã phá hủy môi trường sinh thái và
để lại hậu quả ô nhiễm môi trường lâu dài Hàng năm, con người đã sản xuất và thải vào môi trường khoảng 500 tỷ các loại bao bì, túi nhựa polime tổng hợp Để phân hủy được lượng polime trên phải mất 1000 năm Polime sau khi sử dụng chỉ có khoảng 0,1% được thu hồi tái chế, số còn lại được đi vào rác thải chôn lấp, phần không nhỏ đi vào sông suối và chảy ra đại dương Tháng 7/2009, các nhà khoa học
đã sửng sốt khi phát hiện một bãi rác có diện tích khoảng 696.621 km2 ở Thái Bình Dương Trên vùng này đã hình thành một bãi rác phế thải polime tổng hợp lớn nhất thế giới, với diện tích xấp xỉ nước Anh, chứa khoảng 400.000 tấn rác thải polime trôi nổi giữa đại dương Tháng 3/2010, các nhà khoa học lại phát hiện thêm một bãi
Trang 3320
rác khổng lồ khác ở Đại Tây Dương Tại đây các nhà khoa học đã tìm thấy hàng tỷ
đồ phế thải bằng nhựa Nguy hại của rác thải polime đối với hệ sinh thái biển là hủy diệt đời sống hoang giã của sinh vật biển Trên mặt đất phế thải polime đã phá hủy môi trường đất, nước Phế thải polime lẫn vào thức ăn của động vật gây nguy hiểm cho động vật khi ăn phải Tái chế các sản phẩm polime tổng hợp tốn kém hơn nhiều lần
sử dụng hạt polime nguyên liệu Vì vậy nếu không được hỗ trợ kinh phí việc tái chế
sẽ không khả thi Chôn lấp phế thải polime cùng với rác thải khác sẽ tạo nên môi trường yếm khí làm cho các phế thải hữu rất khó bị phân hủy Khi polime bị nát vụn
sẽ làm cho đất mất khả năng thấm, mất tính mao dẫn, làm ô nhiễm đất nghiêm trọng Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã cấm sử dụng túi nhựa tổng hợp - polime làm bao bì đựng hàng hóa
1.3 Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Viễn thám trong đánh giá biến động sử dụng đất đai, môi trường
1.3.1 Một số khái niệm
* Biến động: là sự thay đổi theo cả mọi ý nghĩa, thể hiện sự vận động không ngừng của mọi vật chất, mọi hiện tượng Biến động thể hiện ở cả bên trong lẫn bên ngoài Trong lĩnh vực khoa học trái đất, biến động thể hiện ở rất nhiều lĩnh vực như: Biến động khí hậu, biến động địa hình trên đất liền và biến động đáy sông biển, biến động sử dụng đất đai, biến động chất lượng môi trường, biến động các hệ sinh thái, biến động đất ở nông thôn và thành thị, biến động mạng lưới giao thông, biến động môi trường biển
Có thể phân loại biến động thành ba dạng chính là: biến động về lượng, biến động về chất, biến động cả về chất và về lượng Trong khoa học về trái đất, sự thay đổi phải được xác định cùng với tọa độ không gian, nghĩa là sự thay đổi đó phải được bản đồ hóa và theo không gian 3 chiều Theo dõi sự biến động đó trong không gian 3 chiều được quan niệm là không gian 4 chiều Trong thực tế, sự biến động không thật sự được tách biệt rõ thành từng loại hình biến động đặc trưng Biến động trong sử dụng đất đai là biến động cả về lượng và về chất vì trong cùng một thời gian có sự mở rộng hoặc thu hẹp của một loại hình sử dụng đất và sự chuyển đổi mục đích sử dụng của một loại hình sử dụng đất
Trang 3421
* Bản đồ phân bố các vùng nhạy cảm môi trường: Là bản đồ thuộc thể loại bản đồ đánh giá, với nội dung chính là thể hiện các vùng lãnh thổ mà trong đó các thành phần môi trường hoặc các mối liên hệ giữa chúng dễ bị tổn thương hoặc dễ bị thay đổi do tác động của con người Các thành phần môi trường có thể là: đất, nước, không khí, các hệ sinh thái, các khu dân cư, các khu vực sản xuất, khu bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử…và các vùng có tiềm năng tài nguyên có giá trị hoặc những vùng thường xảy ra các tai biến thiên nhiên
* Bản đồ dẫn xuất: là những bản đồ thành phần mà từ chúng có thể thành lập
ra bản đồ tổng hợp theo những nội dung xác định
* Tiêu chuẩn môi trường: là những chuẩn mực và giới hạn cho phép tối đa về liều lượng các tác nhân gây ô nhiễm trong từng vùng cụ thể hoặc cho từng mục đích
sử dụng cụ thể đối với những thành phần môi trường Chúng được làm căn cứ để quản lý môi trường
* Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường
* Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi tính chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và thiên nhiên
Để dự báo chất lượng môi trường nói chung, chúng ta phải quan tâm đến những yếu tố cấu thành chính sau đây:
- Xác định quy mô hoạt động và phát triển của các nguồn gây ô nhiễm hiện có
- Xác định quy mô gây ô nhiễm môi trường của các nguồn sẽ hình thành trong tương lai theo quy hoạch phát triển
- Xác định tốc độ gia tăng ô nhiễm môi trường nền trên cơ sở xây dựng phương pháp xác định khả năng chứa và phân huỷ ô nhiễm (dung tích) của các môi trường thành phần và nhận dạng quy mô chuyển hoá tác nhân ô nhiễm giữa chúng
- Xác định hậu quả suy thoái môi trường, hậu quả ô nhiễm đến đối tượng chịu tác động
1.3.2 Phương pháp đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Viễn thám
Đánh giá biến động bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) hoặc công nghệ Viễn thám có sự khác biệt cơ bản so với phương pháp thống kê truyền thống GIS
Trang 3522
có tọa độ không gian, gắn với vị trí của từng đối tượng trên bề mặt trái đất Hơn
nữa, bằng chức năng phân tích và xử lý không gian, GIS cho phép phát hiện, xác
định mọi loại hình biến động một cách chính xác về cả chất lượng và số lượng, theo
cả không gian của thế giới thực Sản phẩm của GIS trong nghiên cứu biến động bao
gồm cả đồ thị, các thông số và đặc biệt là các bản đồ có tọa độ địa lý thực Nghĩa là
GIS có khả năng theo dõi sự biến động theo thời gian thực và không gian thực, điều
mà phân tích thống kê không đáp ứng được
Hình 1.3: Sơ đồ phân tích biến động bằng GIS Bản đồ biến động theo chiều thẳng đứng: trong những nghiên cứu về biến
động theo chiều thẳng đứng, phép xử lý GIS được áp dụng là trừ bản đồ (với dữ liệu
Raster) Bản đồ biến động theo chiều ngang (cả về lượng và về chất): trên bản đồ
biến động, có những đơn vị không biến động (A) và có những đơn vị biến động (A biến thành B)
Áp dụng viễn thám trong nghiên cứu biến động là khá đa dạng, có thể đáp
ứng cho cả 3 nội dung nghiên cứu về biến động trên Tư liệu viễn thám được sử
dụng trong nghiên cứu biến động bao gồm nhiều loại ảnh dạng analoge, ảnh toàn
sắc (đơn phổ), ảnh đa phổ, ảnh số với các độ phân giải khác nhau Các tư liệu viễn
thám có thể là dạng quang học, dạng hồng ngoại nhiệt, dạng radar (vi sóng -
microwave); Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng là rất khác nhau như
Trang 3623
phương pháp: So sánh biến động của các bản đồ giải đoán bằng mắt và số hóa để
phân tích biến động theo nguyên tắc GIS; so sánh biến động phổ của từng pixel trên
từng kênh phổ riêng biệt; so sánh biến động các ảnh chỉ số; nghiên cứu biến động
bằng phương pháp trực tiếp phân loại ảnh đa thời gian; so sánh biến động sau phân loại
Phương pháp so sánh biến động sau phân loại là phương pháp được ứng
dụng nhiều nhất trong nghiên cứu biến động Với ảnh của hai thời gian khác nhau,
bản đồ chuyên đề được phân loại theo cùng một hệ thống phân loại giống nhau
* Sơ đồ phương pháp đánh giá
Hình 1.4 Sơ đồ phương pháp đánh giá biến động môi trường trong qui hoạch
sử dụng đất các khu đô thị, khu công nghiệp
* Cơ sở tài liệu sử dụng thực hiện luận văn:
- Các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hàng năm; Các báo cáo hiện trạng môi trường, kết quả quan trắc môi trường
Thu thập số liệu, tài liệu, bản đồ về đất đai, môi trường giai đoạn 2005-2010
Kiểm tra số liệu quan trắc môi trường giai đoạn 2005-2010 Biên tập và chuẩn hóa số liệu
Xuất dữ liệu sang Arcgis Bản đồ chất lượng môi trường
Bản đồ biến động sử dụng đất các
KĐT, KCN
Chồng xếp các lớp bản đồ thành
phần môi trường Bản đồ tổng hợp chất lượng môi
trường
Trang 3724
(từ 2005 đến 2011) của Sở Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm quan trăc smooi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường Hải Phòng;
- Báo cáo hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010;
kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015; Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm
2005, 2010 của Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Ảnh vệ tinh Landsat năm 2005, 2010
* Phần mềm sử dụng: Phần mềm viễn thám ENVI 4.3 và phần mềm ARC/GIS
1.3.3 Các đề tài, công trình đã nghiên cứu sử dụng GIS để đánh giá biến động đất đai, môi trường trong nước và tại Hải Phòng
a Trong nước
Năm 1999, Cục Môi trường (Bộ KHCN&MT cũ) đã tiến hành thực hiện nhiệm vụ “Xác định chỉ tiêu và khoanh định vùng nhạy cảm môi trường phục vụ cho việc thực hiện Thông tư hướng dẫn 490/1998/TT-BKHCNMT về đánh giá môi trường các cơ sở sản xuất”; trong đó có bản đồ toàn quốc tỷ lệ 1:1.000.000 Vì bản
đồ tỷ lệ quá nhỏ và nội dung cũng rất khái lược nên nó chưa đáp ứng được các yêu cầu đề ra trong việc sàng lọc dự án đầu tư
Năm 2000, Trung tâm công nghệ Môi trường (ENTEC) thuộc Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam phối hợp với các cơ quan khoa học khác đã thực hiện nhiệm vụ “Xây dựng bản đồ phân bố vùng nhạy cảm cho khu vực tam giác tăng trưởng thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng tàu” Kết quả mới chỉ đưa ra được một số cơ sở khoa học về các chỉ tiêu nhạy cảm môi trường ở khu vực nghiên cứu và một số “bản đồ” khái lược mới chỉ mang tính chất là những sơ đồ mà chưa đưa ra được phương pháp, cách thức tiến hành thành lập loại bản đồ này
b Thành phố Hải Phòng
Trong những năm qua đã có những những đề tài nghiên cứu đánh giá liên qua đến vấn đề môi trường trong quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại thành phố Hải Phòng như: Nghiên cứu biến động xâm nhập mặn tại các vùng biển Hải Phòng, nghiên cứu tai biến và xây dựng kịch bản nước biển dâng tại Hải Phòng, nghiên cứu đánh giá ô nhiễm đất tại khu vực bãi rác Thượng Lý, quận Hồng Bàng…nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường chung của thành phố
Trang 3825
Một số Đề tài nghiên cứu có liên quan như:
- Đề tài nghiên cứu cấp trọng điểm Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QGTH/ 05-02.2007 :"Xây dựng bản đồ nhạy cảm các vùng sinh thái với tác động môi
trường nhằm sử dụng hợp lý cảnh quan lãnh thổ cho mục đích phát triển bền vững khu vực ven biển Hải Phòng" năm 2007 của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch; Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến tai biến nước biển dân, xây dựng kịch bản các mực nước dâng từ đó xác định sự phân bố, diện ngập, mức độ ngập sâu và mức độ thiệt hại của các hệ sinh thái trong khu vực giúp đưa ra những quyết định nhanh chóng, kịp thời, chính xác
- Đề tài “Bản đồ phân loại khí hậu thành phố Hải Phòng phục vụ đánh giá mức độ nhạy cảm của các hệ sinh thái đối với các tai biến môi trường (bão, tràn dầu, ô nhiễm, ) do KS Nguyễn Thị Hiền thực hiện năm 2005, đánh giá tác động của biển đối khí hậu để thành lập bản đồ phân loại khí hậu phục vụ phân tích mức
độ nhạy cảm các hệ sinh thái đối với tác động của các hiện tượng thời tiết thiên tai như bão, ngập úng, nước dâng, và của các tai biến môi trường như ô nhiễm, tràn dầu, sạt lở đường bờ, nhiễm mặn,…trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Ngoài ra Viện Tài nguyên Môi trường biển Hải Phòng, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và môi trường của thành phố Hải Phòng trong những năm vừa qua
Trang 3926
Chương 2- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
CÁC KHU ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP
Diện tích đất tự nhiên của Hải Phòng là 1519,22 km2, bao gồm cả đất đồi núi, đồng bằng và đất bồi ven biển Dân số trung bình của thành phố Hải Phòng đến năm 2009 là 1.841,65 nghìn người; với mật độ dân số là 1.212 người/km2
Về ranh giới hành chính, Hải Phòng tiếp giáp Quảng Ninh ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Tây, Thái Bình ở phía Nam và biển Đông ở phía Đông Hải Phòng nằm trên nhiều trục đường giao thông đường bộ, đường sắt và đường biển quan trọng của cả nước và quốc tế, có cảng biển, sân bay và mạng lưới giao thông khá đồng bộ Các quốc lộ 5, 10, đường sắt, các tuyến đường biển là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Hải Phòng với các tỉnh khác nhau trong cả nước và quốc tế
2.1.2 Địa hình
Địa hình thành phố Hải Phòng rất đa dạng, có đồi núi, biển, đảo, bãi triều ven biển, có thể chia thành ba dạng chính:
- Địa hình đồi núi: phân bố tập trung tại các quận, huyện là Thuỷ Nguyên,
An Lão, Kiến Thuỵ, Bạch Long Vĩ, Đồ Sơn và quận Kiến An Đỉnh cao nhất là đỉnh Cao Vọng (huyện Cát Hải) có độ cao 322m Trên đất liền có núi Đèo, huyện Thuỷ Nguyên cao 143m Đỉnh thấp nhất là 40m, tập trung ở vùng đồi dạng bát úp huyện Thuỷ Nguyên Hệ thống núi đá vôi phân bố ở phía Bắc huyện Thuỷ Nguyên (xã Lại Xuân, Liên Khê, Minh Tâm, Gia Minh); huyện An Lão có núi Voi, núi Xuân Sơn Đặc biệt huyện Cát Hải có 500 hòn đảo lớn nhỏ, nằm trong quần thể Hạ Long, tạo thành vùng danh thắng đồ sộ
Trang 4027
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu - thành phố Hải Phòng
- Địa hình bãi bồi ven biển: phân bố tại Thuỷ Nguyên, Hải An, Kiến Thuỵ,
Tiên Lãng, Cát Hải và Đồ Sơn Đây là vùng đất chuyển tiếp giữa lục địa và biển và
là vùng sản xuất lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản chính của Hải Phòng
- Vùng đồng bằng: là kiểu địa hình chủ yếu chiếm 1/3 diện tích tự nhiên, kéo
dài từ Thuỷ Nguyên xuống Vĩnh Bảo, được hình thành do phù sa của sông Thái
Bình Đây là vùng sản xuất lương thực lớn của thành phố
2.1.3 Thủy văn và tài nguyên nước
Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6
-0,8km/km2 Thành phố có bốn sông chính là:
- Sông Đá Bạc - Bạch Đằng: dài 42 km, là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra
biển ở cửa Nam Triệu và là ranh giới phía Bắc của vùng Đông Bắc - Hải Phòng với
Quảng Ninh
- Sông Cấm: dài 37 km, nối với sông Bạch Đằng bởi kênh Đình Vũ Sông
Cấm là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Cấm