Tính cấp thiết của vấn đề Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiên cứu phát triển cho vùng Thủ đô Hà Nội, trong đó có mối quan hệ hữu cơ giữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh xung
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề 1
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nội dung nghiên cứu 2
3 Cấu trúc luận văn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm 3
1.1.1 Không gian xanh, hành lang xanh, vành đai xanh 3
1.1.2 Cây xanh công cộng trong đô thị (theo TCXDVN 362:2005 – Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế) 3
1.1.3 Phần xanh có công trình xây dựng 4
1.2 Các chỉ số xanh trong đô thị [9] 5
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội 7
1.3.1 Điều kiện môi trường tự nhiên 7
1.3.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội 13
1.3.3 Dân cư và lao động 16
1.3.4 Diễn biến sử dụng đất 18
1.4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 19
1.4.1 Tổng quan về vành đai xanh điển hình trên thế giới 19
1.4.2 Tổng quan về vành đai xanh ở Hà Nội 23
1.4.3 Một số ví dụ chứng minh các luận điểm về tổng quan vành đai xanh 24
1.4.4 Vai trò của vành đai xanh trong phát triển đô thị 27
1.4.5 Các quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thủ đô Hà Nội trong đó có lĩnh vực vành đai xanh 33
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 38
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu 38
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 38
2.2 Nội dung nghiên cứu 38
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
Trang 42.3.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu 38
2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát 39
2.3.3 Phương pháp lập bản đồ 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Quy mô không gian và hiện trạng một số khu vực trong vành đai xanh tại Hà Nội 43
3.1.1 Quy mô không gian Vành đai xanh tại Hà Nội 43
3.1.2 Hiện trạng một số không gian xanh trong Vành đai xanh của Hà Nội 45
3.2 Phân tích vai trò, chức năng của vành đai xanh trong phát triển của thủ đô Hà Nội 57
3.3 Một số định hướng phát triển khu vực vành đai xanh theo hướng phát triển Thủ đô Hà Nội 60
3.3.1 Định hướng phát triển khu dân cư sinh thái trong vành đai xanh 61
3.3.2 Định hướng phát triển nông nghiệp 66
3.3.3 Định hướng phát triển không gian xanh công cộng 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 84
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 – Nhiệt độ trung bình khu vực giai đoạn 2010 – 2011 10
Bảng 1.2 – Lƣợng mƣa các tháng trong giai đoạn năm 2010 – 2011 11
Bảng 1.3 – Số giờ nắng các tháng trong giai đoạn năm 2010 – 2011 12
Bảng 1.4 – Độ ẩm trung bình trong giai đoạn năm 2010 – 2011 12
Bảng 1.5 – Một số đặc điểm về y tế tại khu vực Hà Nội 15
Bảng 1.6 – Danh sách các đơn vị hành chính của Hà Nội 17
Bảng 1.7 – Diễn biến sử dụng đất thành phố Hà Nội 18
Bảng 1.8 – Tiêu chí cho đô thị đặc biệt (Hà Nội) 34
Bảng 2.1 – Lịch trình khảo sát 39
Bảng 3.1 – Hiện trạng đất nông nghiệp trong khu vực Vành đai xanh 49
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 – Mối quan hệ của kiến trúc sinh thái 4
Hình 1.2 – Bản đồ vị trí Hà Nội và mối liên hệ vùng 8
Hình 1.3 – Sơ đồ “thành phố Vườn” của E Howard (1898) 20
Hình 1.4 – Letchoworth – thành phố 21
Hình 1.5 – Diện tích vành đai xanh ở Anh 21
Hình 1.6 – Radburn – hình bên phải là thiết kế điển hình một siêu khối 22
Hình 1.7 – Phần “xanh” của Thủ đô Hà Nội khi chưa Quy hoạch Vành đai xanh 23
Hình 1.8 – Phần “xanh” của Thủ đô Hà Nội khi Quy hoạch Vành đai xanh 23
Hình 1.9 – Phối cảnh của tòa nhà EDITT 25
Hình 1.10 – Công trình Harvest Green Tower – KTS Romses 26
Hình 1.11 - Một số mẫu nhà vườn 27
Hình 1.12 – Quy hoạch không gian xanh theo định hướng quy hoạch chung Thủ đô 37
Hình 3.1 – Nhà ở trong khu vực Vành đai xanh của Hà Nội 46
Hình 3.2 – Hoa hồng được trồng tại xã Tây Tựu, Từ Liêm 52
Hình 3.3 – Ruộng rau ở xã Thanh Liệt, Thanh Trì 52
Hình 3.4 – Ruộng lúa xã Tả Thanh Oai, Thanh Trì 53
Hình 3.5 – Ruộng lúa xã Xuân Phương, 53
Hình 3.6 – Một số ao hồ tại huyện Thanh Trì 54
Hình 3.7 – Công viên Yên Sở 58
Hình 3.8 – Công viên Hà Đông 58
Hình 3.9 – Định hướng phát triển nhà sinh thái thích hợp cho địa phương 62
Hình 3.10 – Ruộng rau trồng tại xã Minh Khai – Từ Liêm 67
Hình 3.11 – Ruộng rau tại xã Tam Hiệp, Thanh Trì 68
Hình 3.12 – Hoa cúc trồng tại xã Minh Khai, Từ Liêm 68
Hình 3.13 – Mô hình nhà lưới/nhà kính đơn giản trong trồng rau, hoa 70
Hình 3.14 – Định hướng quy hoạch trục cây xanh trên đường 73
Hình 3.15 - Ảnh hiện trạng đường Văn Tiến Dũng, xã Phú Diễn 75
Hình 3.16 – Hiện trạng trục đường Phan Trọng Tuệ, xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì 75
Hình 3.17 - Ảnh hiện trạng đường dọc sông Nhuệ 76
Hình 3.18 – Định hướng cây trồng trục đường dọc sông Nhuệ 77
Hình 3.19 – Các công viên phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân 78
Trang 7DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ 3.1 Quy mô không gian Vành đai xanh của Hà Nội 44 Bản đồ 3.2 Hiện trạng dân cư trong khu vực Vành đai xanh của Hà Nội 47 Bản đồ 3.3 Hiện trạng đất nông nghiệp trong khu vực Vành đai xanh của Hà Nội 51 Bản đồ 3.4 Hiện trạng diện tích mặt nước trong khu vực Vành đai xanh của Hà Nội 55 Bản đồ 3.5 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất khu vực Vành đai xanh của Hà Nội 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiên cứu phát triển cho vùng Thủ đô Hà Nội, trong đó có mối quan hệ hữu cơ giữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh xung quanh như Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, thành phố Hải Phòng và thành phố Hạ Long, không gian vùng Thủ đô Hà Nội đã, đang và sẽ tiếp tục được đầu tư để hình thành các mối liên kết về phát triển kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và không gian phát triển hệ thống
đô thị, các cơ sở sản xuất, dịch vụ trên diện rộng Các khu vực liền kề cửa ngõ hướng vào Thủ đô Hà Nội sẽ chịu những tác động trực tiếp, giao thoa trên nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, đô thị, công ăn việc làm, thị trường cung cấp, tiêu thụ sản phẩm, Điều này tạo ra nhiều cơ hội trong đầu tư và phát triển
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành Quyết định 1081/QĐ-TTg phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 và Quyết định số 1259/QĐ-TTg Phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050; với quan điểm xây dựng và phát triển Thủ đô thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước Trong đó, không gian đô thị xanh là một thành phần quan trọng của các hệ sinh thái đô thị Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các nhà quy hoạch là làm thế nào để tối ưu hóa lợi ích của không gian đô thị xanh
Trong các quy hoạch hiện nay như: Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế -
Xã hội, quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đều có nói đến vai trò và sự phát triển của vành đai xanh Vành đai xanh phải đáp ứng các yêu cầu như: tạo ra các không gian công viên cây xanh tại các cửa ra vào của khu dân cư, bảo vệ các khu vực nông nghiệp và các khu vực có năng suất cao dễ bị lũ lụt, bảo tồn các giá trị văn hóa và di sản, thúc đẩy các hoạt động phù hợp với bảo vệ môi trường và phát triển, cho phép một kết nối chặt chẽ hơn giữa các khu vực nông thôn, đô thị và ngoại thành, duy trì
sự ổn định của các làng nghề hiện có và phát triển du lịch sinh thái
Trang 9Tuy nhiên, chức năng, vai trò vành đai xanh và làm thế nào để xây dựng vành đai xanh một cách bền vững thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể Xuất
phát từ thực tế trên, tôi xin lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu vai trò và khả năng xây
dựng vành đai xanh theo quy hoạch phát triển Thủ đô Hà Nội” để nghiên cứu,
tìm hiểu một cách cụ thể hơn về vai trò, chức năng của vành đai xanh trên cơ sở đó chỉ ra những định hướng phát triển vành đai xanh phù hợp với quy hoạch của Thủ
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các khái niệm liên quan
- Khái quát thực trạng vành đai xanh tại khu vực Hà Nội
- Nghiên cứu định hướng phát triển vành đai xanh phù hợp với quy hoạch Thủ đô Hà Nội và đưa ra một số định hướng phát triển vành đai xanh
3 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương, trong đó:
- Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
- Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Chương 3: KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm
1.1.1 Không gian xanh, hành lang xanh, vành đai xanh
Hệ thống không gian xanh bao gồm ruộng lúa, đất nông nghiệp, lâm nghiệp, cây xanh công cộng, cây xanh đường phố, cây xanh cách ly, chuyên dụng [6]
Theo Quyết định số 1259/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 thì Hành lang xanh gồm khu vực nông thôn, hệ thống sông hồ, đồi núi, rừng tự nhiên, vùng nông nghiệp được bảo vệ nghiêm ngặt để trở thành khu hậu cần phục vụ đô thị, giữ gìn cảnh quan và đảm bảo môi trường sống đô thị
Vành đai xanh là thuật ngữ chỉ những vùng đất tự nhiên, chưa hoặc ít chịu tác động của con người, thường ở gần hoặc ngoài rìa những khu đô thị Vành đai xanh cũng có thể là những vùng đã phát triển cung cấp không gian mở, tạo ra những
cơ hội giải trí ngoài trời và phát triển
Trong giới hạn của luận văn tập trung vào Vành đai xanh bao gồm: nông nghiệp, các không gian xanh công cộng (công viên, cây xanh đường phố ), công trình xây dựng có gắn kết với không gian xanh (vườn trong nhà, nhà sinh thái )
1.1.2 Cây xanh công cộng trong đô thị (theo TCXDVN 362:2005 – Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế)
Cây xanh công viên: Là khu cây xanh lớn phục vụ cho mục tiêu sinh hoạt
ngoài trời cho người dân đô thị vui chơi giải trí, triển khai các hoạt động văn hóa quần chúng, tiếp xúc với thiên nhiên, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
Cây xanh đường phố: thường bao gồm bulova, dải cây xanh ven đường đi bộ
(vỉa hè), dải cây xanh trang trí, dải cây xanh ngăn cách giữa các đường, hướng giao thông
Công viên rừng trong đô thị có thể xếp vào loại rừng sản xuất, trong đó bao
gồm mục tiêu bảo vệ và bảo tồn các hệ sinh thái rừng tự nhiên và sự đa dạng sinh học, đồng thời tổ chức không gian của khu rừng như một công viên để phục vụ
Trang 11việc tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng, học tập, nghiên cứu của mọi đối tượng
trong xã hội
1.1.3 Phần xanh có công trình xây dựng
Kiến trúc sinh thái
Khái niệm Kiến trúc sinh thái có thể hiểu theo “Tuyên ngôn” của Kiến trúc
sư Ken Yeang (Malaysia): Thiết kế sinh thái là những nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, bao gồm việc sử dụng có cân nhắc nguồn năng lượng và vật liệu trong suốt tuổi thọ của hệ thống thiết kế, và qua thiết kế để giảm ảnh hưởng của quá trình sử dụng công trình đối với môi trường tự nhiên, hoặc hòa làm một với môi trường tự nhiên
Nói một cách tổng quát thì Kiến trúc sinh thái là kiến trúc hướng tới giải quyết mối quan hệ giữa con người, kiến trúc và thiên nhiên, nó phải vừa vì con người mà sáng tạo ra một môi trường không gian nhỏ dễ chịu, vừa phải bảo vệ môi trường lớn chung quanh
Hình 1.1 – Mối quan hệ của kiến trúc sinh thái
Nhà chung cư cao tầng
Chung cư cao tầng nói chung là loại nhà phổ biến ở các thành phố hiện đại ngày nay, nhất là ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển Loại nhà này có số tầng là từ 7 tầng trở lên hoặc có độ cao trên 21 m so với mặt đất (nếu tầng cao trung bình là 3m), với phương tiện đi lại chủ yếu bằng thang máy, được hình thành từ các căn hộ hiện đại kiểu hộ khép, có sử dụng chung các phương tiện giao thông trong nhà như: cầu thang bộ, hành lang, thang máy và một số dịch vụ công cộng khác Các chung cư cao tầng này để phục vụ chủ yếu cho những người có thu
Trang 12nhập trung bình và thấp: những gia đình viên chức, những cán bộ xa gia đình sống độc thân, những gia đình trẻ chưa có con hoặc người nghèo đô thị [14]
Tuy nhiên nhà cao tầng cũng còn gặp ở những chung cư tiêu chuẩn cao kiểu khách sạn với các căn hộ rất sang trọng
Nhà cao tầng có nhiều quan điểm khác nhau Mỹ coi nhà cao tầng là các công trình có 10 tầng trở lên Nhật Bản quy định nhà cao tầng là nhà có trên 11 tầng Trung Quốc thì quy định nhà cao tầng là nhà có từ 10 tầng trở lên Theo hội thảo Quốc tế lần thứ IV về nhà cao tầng do Hội nhà cao tầng của Liên hiệp quốc tổ chức tại Hồng Kông (1990), quy định nhà cao tầng là những công trình có từ 9 tầng trở lên Quy định này cũng phù hợp với quan niệm của Việt Nam Các chuyên gia
đã phân chia nhà cao tầng thành 4 loại:
1.2 Các chỉ số xanh trong đô thị [9]
Cây xanh – không gian xanh trong đô thị ngày nay không chỉ là yếu tố cảnh quan, là chỉ tiêu đánh giá môi trường sinh thái mà còn là tiêu chí đánh giá tính đồng
bộ, tính bền vững trong phát triển đô thị Ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam hiện nay, xem xét đến không gian xanh đều đề cập đến các yếu tố:
- Hệ thống (mạng lưới) công viên, vườn hoa
- Hệ thống cây xanh đường phố (độ che phủ)
- Hệ thống cây xanh trong các đơn vị ở
Trang 13- Cây xanh (khoảng trống) trong các nhà máy, xí nghiệp, trong các công trình công cộng (bệnh viện, trường học, công trình văn hóa ), trong các di tích lịch sử
- Cây xanh cách ly (hành lang xanh) cho các khu công nghiệp, các tuyến đường giao thông liên vùng, quốc lộ
- Cây xanh chống sụt lở, bảo vệ các sông hồ
- Hệ thống vườn quốc gia, vườn cấp đô thị, các vành đai xanh, khu du lịch ngoại vi đô thị
- Cây xanh (độ che phủ) trong các khu công trình thể dục thể thao, bãi đỗ
xe, các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật (hồ điều hòa, khu xử lý, nguồn cấp nước )
Đánh giá chất lượng, số lượng không gian xanh thông qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ che phủ (%) hay còn gọi là độ che phủ của cây xanh, chỉ tiêu này
được đánh giá bằng tỷ lệ phần trăm diện tích có cây xanh (kể cả cây xanh đường phố) so với diện tích tự nhiên của một khu vực hay một đơn vị hành chính cụ thể Trong trường hợp cần thiết cần làm rõ chỉ tiêu của từng nhóm cây: cây cao, cây bụi
và cây cỏ Đây là chỉ số khái quát nhất, thường dùng cho các vùng rộng, các khu đô thị có quy mô lớn
- Diện tích thảm xanh bình quân theo đầu người (m2/người) hay diện tích
cây xanh, là chỉ tiêu về diện tích cây xanh với số dân cư thông thường tính bình quân cho một địa bàn, một khu vực hay cả đô thị Tuy nhiên, do phân bố mảng xanh không đều, dân cư được phân bố có mật độ khác nhau tùy theo hình thái tổ chức không gian kiến trúc (cao tầng, thấp tầng), số lượng dân thường trú (không kể đến các tác động của dân lưu trú) nên một số nghiên cứu cho rằng đây chỉ là số ảo
- Diện tích cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị, trong các đô thị còn
có chỉ tiêu đất cây xanh công cộng gồm công viên, vườn dạo, vườn hoa phục vụ một hay nhiều đơn vị ở, toàn đô thị hay vùng; bao gồm cả diện tích mặt nước (nhưng không được tính quá 50% - tính quy đổi) Chỉ tiêu này không bao gồm cây xanh chuyên dụng và thường được áp dụng trong các quy định tại quy chuẩn xây
Trang 14dựng Chỉ tiêu này cần được xác định trong các đồ án quy hoạch chi tiết cho đơn vị
ở, khu đô thị mới, một đơn vị hành chính, một khu vực
- Số cây xanh bình quân tính trên đầu người (số cây thân gỗ ở tuổi định
hình/đầu người), là chỉ số hay dùng cho các đô thị thể hiện tính truyền thống, tính
bền vững và ổn định môi trường Trong một số hội nghị chuyên ngành quốc tế đã đưa ra một chỉ số lý tưởng cho đô thị là 1 cây/người Cây thường phân thành 3 nhóm: cây cao 6m + 7m trở lên, tuổi thọ dài, độ che phủ lớn; cây cao từ 1m + 2m đến 4m + 5m ở tầng thấp, sống lưu niên; cây bụi (cây non, cây cảnh) ở tầng sát mặt đất
- Chỉ tiêu cây xanh trong diện tích công trình công cộng, xác định trong
quy định về mật độ xây dựng trong tiêu chuẩn thiết kế công trình hoặc trong quy hoạch chi tiết Thông thường chỉ tiêu tính toán này được tính lồng ghép trong các chỉ tiêu trên vì vậy, chỉ tiêu này chỉ mang tính chất tham khảo
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội
1.3.1 Điều kiện môi trường tự nhiên
1.3.1.1 Điều kiện về địa lý, địa hình
a Vị trí địa lý
Hà Nội nằm chếch về phía Tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, vó vị trí trải dài từ 20053’ đến 21023’ vĩ độ Bắc và 105044’ đến 106002’ kinh độ Đông
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với 8 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Giang phía Đông Bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên phía Đông; Hà Nam ở phía Nam, Hòa Bình phía Tây Nam; Phú Thọ phía Tây; Vĩnh Phúc phía Tây Bắc
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính năm 2008 Hà Nội có diện tích 3.328,89
km2 (Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2011), nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng,
nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn
Trang 15Nguồn: Internet
Hình 1.2 – Bản đồ vị trí Hà Nội và mối liên hệ vùng
Từ Hà Nội đi các thành phố, thị xã của bắc bộ cũng như của cả nước rất dễ dàng bằng cả đường ô tô, đường sắt, đường thủy và hàng không Hà Nội có 2 sân bay dân dụng, là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt, 7 tuyến đường quốc lộ
đi qua trung tâm Đó là những yếu tố gắn bó chặt chẽ Hà Nội với các trung tâm trong cả nước và tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội phát triển mạnh giao lưu buôn bán với nước ngoài, tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới, tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực
và cùng hội nhập vào quá trình phát triển năng động của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương
Trong vùng thủ đô, Hà Nội được khẳng định là thành phố trung tâm của vùng với mô hình chùm đô thị có hệ thống đa trung tâm hiện đại, đầu mối giao thông chính, trung tâm nghiên cứu, dịch vụ tài chính, thương mại, văn hóa và dịch
vụ hạ tầng xã hội mang tầm khu vực Đông Nam Á
Trang 16Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, là trung tâm hàng đầu về khoa học – công nghệ, đào tạo, y tế, văn hóa Tại Hà Nội còn
có các cơ quan ngoại giao, các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế
b Địa hình
Thành phố Hà Nội có địa hình đa dạng, bao gồm vùng núi cao, vùng đồi thấp
và vùng đồng bằng thấp trũng
Vùng núi cao có cao độ thay đổi từ 300m đến 1000m, trong đó có đỉnh núi
Ba Vì cao 1281m và một số núi đá vôi ở phía nam tỉnh (Chương Mỹ, Mỹ Đức) với nhiều hang động đẹp, các núi rừng này thường có độ dốc lớn, hay bị xói mòn, rửa trôi khi mùa mưa đến Phía Bắc Hà Nội có dãy Sóc Sơn với đỉnh cao nhất là Chân Chim có độ cao 462m
Vùng đồi thấp tập trung chủ yếu ở khu vực Hà Tây cũ với diện tích trên 53 nghìn ha, chủ yếu có cao độ từ 30 m đến 300m Địa hình vùng đồi thấp dốc thoải với độ dốc trung bình từ 8 – 20%, đây là vùng đất nâu vàng, đỏ
Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích của thành phố, bao gồm khu vực phía Đông của tỉnh Hà Tây cũ, hầu hết diện tích của Hà Nội cũ (trừ khu vực vùng núi Sóc Sơn) và huyện Mê Linh Địa hình này chia thành hai dạng: vùng cao
độ từ 10 – 30 m ở khu vực Ba Vì với độ dốc <10% là vùng đất xây dựng rất tốt và vùng quá trũng như khu vực Mỹ Đức (trong đê hữu ngạn sông Đáy), khu vực Ứng Hòa – Thường Tín (trong đê tả ngạn sông Đáy), Thanh Trì, Phú Xuyên, có chỗ cao
Nhiệt độ trung bình tại khu vực giai đoạn 2010 - 2011:
- Nhiệt độ trung bình năm 24,9oC (tại trạm Láng) và 24,50C (tại trạm Sơn Tây)
- Nhiệt độ trung bình cao nhất là 30,9oC (tại trạm Láng) và 30,20C (tại trạm
Trang 17Sơn Tây Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 16oC (tại trạm Láng) và 180C (tại trạm Sơn Tây)
Kết quả theo dõi nhiệt độ tại khu vực dự án năm 2010 – 2011 đƣợc biểu thị trong
Bảng 1.1 – Nhiệt độ trung bình khu vực giai đoạn 2010 – 2011
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2011
Trang 18- Lƣợng mƣa trung bình tháng nhỏ nhất là 0,6mm (tại trạm Láng) và 3,4mm (tại trạm Sơn Tây)
Bảng 1.2 – Lƣợng mƣa các tháng trong giai đoạn năm 2010 – 2011
trong Bảng 1.3
Trang 19Bảng 1.3 – Số giờ nắng các tháng trong giai đoạn năm 2010 – 2011
Độ ẩm trung bình năm khu vực Hà Nội trong giai đoạn 2010 - 2011 là 77,5%
(tại trạm Láng) và 83,5% (tại trạm Sơn Tây) (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 – Độ ẩm trung bình trong giai đoạn năm 2010 – 2011
Trang 20b Thủy văn
Về trữ lượng tài nguyên nước, thành phố Hà Nội được chia làm 2 khu vực:
- Khu vực Hà Nội cũ: Nguồn nước cung cấp và phục vụ cho sinh hoạt và một phần cho các dịch vụ khác của người dân Thủ đô được khai thác chủ yếu từ nguồn nước dưới đất thông qua các giếng khoan
Trữ lượng nước mưa 1,34 tỷ m3; nước mặt: sông Hồng có lưu lượng trung bình quan sát nhiều năm là 2.650m3/s; các sông khác có tổng lưu lượng khoảng 70m3/s Nước dưới đất: lưu lượng tiềm năng 5.914.000 m3/ngày
- Khu vực Hà Nội phần mở rộng:
Theo các số liệu sơ bộ đã có về khu vực cho thấy tài nguyên nước dưới đất phân bố không đều Đặc biệt có một số khu vực hiếm nước (Thạch Thất, Chương Mỹ ) hoặc nước bị nhiễm mặn (Thường Tín, Phú Xuyên )
Trên địa bàn khu vực Hà Nội mở rộng có các sông lớn chảy qua là: sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ, trong đó sông Đà hiện tại
và trong tương lai có khả năng lớn về cấp nước cho thành phố Hà Nội
1.3.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội
1.3.2.1 Điều kiện về kinh tế
Theo Cục thống kê thành phố Hà Nội, kinh tế Hà Nội quí I năm 2012 vẫn duy trì tăng trưởng, tổng sản phẩm nô ̣i đi ̣a (GRDP) tăng 7,3%; vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng 10,5%; tổng mức bán hàng hoá và doanh thu di ̣ch vu ̣ tiêu dùng xã
hô ̣i tăng 19%; kim nga ̣ch xuất khẩu giảm 2,8%
Tổng sản phẩm nô ̣i đi ̣a (GRDP) trên đi ̣a bàn quý I năm 2012 tăng 7,3% so cùng kỳ năm trước Giá trị tăng thêm ngành nông - lâm - thuỷ sản giảm 2,9% so cùng kỳ năm trước (làm giảm 0,1% mức tăng chung); Giá trị tăng thêm ngành công nghiê ̣p - xây dựng tăng 7,9% so cùng kỳ năm trước (đóng góp 4% vào mức tăng chung); Giá trị tăng thêm các ngành di ̣ch vu ̣ tăng 7,8% so cùng kỳ năm trước (đóng góp 3,4% vào mức tăng chung)
Cộng dồn 3 tháng đầu năm 2012, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 2,8% so cùng kỳ, trong đó: công nghiệp khai thác mỏ giảm 8,5%; công nghiệp chế biến tăng 2,2%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 11,7%
Trang 21Xuất khẩu quý I năm nay giảm chủ yếu do nhu cầu ngoài nước giảm sút cùng với sự trì trệ của Hoa Kỳ, Trung Quốc và suy thoái kinh tế ở Châu Âu Đặc biệt, trong những tháng đầu năm, nhóm hàng nông sản xuất khẩu giảm mạnh tới 40,2% so cùng
kỳ Tổng trị giá xuất khẩu gạo trong quý I chỉ đạt 69,4 triệu USD giảm 42,2% so cùng
kỳ năm trước Ước tính quí I năm 2012 so cùng kỳ năm trước kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn giảm 25,4%, trong đó, nhập khẩu địa phương giảm 24,5%
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2012 tăng 0,19% so với tháng trước
và tăng 13,1% so cùng kỳ Tăng cao nhất là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,84% Tiếp đến là nhóm giao thông tăng 1,36% (do từ 16 giờ ngày 7/3 giá bán lẻ xăng dầu đồng loạt tăng giá) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nhẹ (giảm 0,8%) Chỉ số giá vàng tháng Ba năm 2012 giảm 0,11% so với tháng trước Chỉ số giá USD giảm 0,67%
Thị trường giá cả quý I chịu sự tác động của tăng giá liên tục Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng 0,96%, tháng 2 tăng 1,45%, tháng 3 tăng 0,19%; như vậy, sau 3 tháng chỉ số giá tháng Ba năm 2012 đã tăng so tháng 12 năm trước là 2,62%, tốc độ tăng bình quân 1 tháng trong 3 tháng 2012 là 0,87%/tháng Chỉ số giá bình quân quý I năm 2012 so cùng kỳ tăng 15%
Tổng thu ngân sách trên địa bàn dự kiến quí I năm 2012 đạt 39.192 tỷ đồng, bằng 27% dự toán năm, tăng 23,3% so cùng kỳ năm 2011 Tổng chi ngân sách địa phương ước quí I năm 2012 là 10.501 tỷ đồng, đạt 19,6% dự toán, trong đó chi đầu
tư phát triển là 4.590 tỷ đồng, đạt 20,8% dự toán
1.3.2.2 Điều kiện xã hội
a Giáo dục – đào tạo
Trên địa bàn Hà Nội hiện có 79 trường cao đẳng, đại học; 50 trường trung học chuyên nghiệp; 252 cơ sở đào tạo kỹ thuật, dạy nghề và một số trường, học viện của ngành quân đội, công an, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2011)
Các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố đào tạo hầu hết các nhóm ngành chủ yếu như Sư phạm; Kỹ thuật – Công nghệ; Nông – Lâm – Ngư; Khoa học, bao gồm Tự nhiên, Xã hội và Nhân văn Trong số đó có các trường đã
Trang 22được thành lập từ lâu hoặc có quy mô đào tạo rất lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Bách Khoa Hà Nội, Y Hà Nội
Các trường đại học, cao đẳng phân bố trên rất nhiều quận, huyện như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Thường Tín, Hoài Đức trong đó các quận Cầu Giấy, Đống Đa có nhiều cơ sở nhất
Nhìn chung, phân bố mạng lưới nhà trường chưa hợp lý; do lịch sử để lại, các trường chủ yếu được đặt trong nội thành Hầu hết các trường, đặc biệt là các trường có quy mô đào tạo lớn tập trung chủ yếu ở các quận Đống Đa, Hoàn Kiếm Chưa có những trung tâm đào tạo chất lượng cao đạt các tiêu chí và chuẩn mực của một số trường đại học danh tiếng trong khu vực và quốc tế
b Y tế
Các cơ sở y tế của Hà Nội cũng như của Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội (bao gồm các Bệnh viện, các Viện nghiên cứu, Trường cao đẳng, Đại học Y – dược) vừa làm công tác khám chữa bệnh đồng thời cũng là nơi nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Một số viện nghiên cứu còn là trung tâm, hạt nhân nghiên cứu của cả vùng, cả nước, tham gia nghiên cứu Y – Dược của thế giới
Bảng 1.5 – Một số đặc điểm về y tế tại khu vực Hà Nội
Đơn vị tính 2007 2008 2009 2010 2011
1 Cơ sở
- Bệnh viện (cả trung ương) Bệnh viện 48 50 52 55 55
- Trạm y tế xã Trạm 571 571 577 577 577
- Nhà hộ sinh quận Hộ sinh 4 4 4 4 4
- Trại phong Cơ sở 2 2 2 2 2
2 Giường bệnh
- Bệnh viện Giường 12421 13061 13141 14028 15500
- Trạm y tế xã Giường 2084 2084 2308 2875 2885
- Nhà hộ sinh quận Giường 60 45 45 45 45
- Trại phong Giường 190 180 180 180 180
Trang 23Trên địa bàn thành phố hiện có 55 bệnh viện, 577 trạm y tế xã, 4 nhà hộ sinh quận và 2 trại phong (năm 2011) Trong những năm qua, ngành y tế thủ đô được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân Thành phố, Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan nên công tác đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế được nâng cấp, phần nào đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân
c Văn hóa – thể dục thể thao
Môi trường văn hóa Thủ đô chuyển biến tích cực, văn hóa ở nơi công cộng được cải thiện, văn minh xã hội được nâng lên một bước Hà Nội là địa phương đảm bảo tốt các điều kiện phúc lợi xã hội cho sự phát triển con người Công tác quản lý văn hóa, bảo tổn, tôn tạo các di sản văn hóa và phi vật thể được tăng cường
có hiệu quả
Nhiều di sản văn hóa được bảo tồn, sưu tập, tôn tạo và phát huy tác dụng như Khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Thành cổ Hà Nội Một số công trình văn hóa mới (vật thể và phi vật thể) có giá trị đã và đang được xây dựng như Tượng đài
Lý Thái Tổ, thư viện Hà Nội Nhiều hoạt động giao lưu văn hóa lớn như ASEM V,
Lễ hội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được tổ chức thành công, góp phần nâng cao vị thế của Thủ đô ở trong nước và trên thế giới
Thể dục thể thao có bước phát triển mạnh Phong trào thể dục thể thao quần chúng được mở rộng cả ở khu dân cư, trường học, cơ quan, đơn vị Hà Nội dẫn đầu
cả nước trong việc du nhập và phát triển các môn thể thao mới, thể thao thành tích cao đạt nhiều thành tích trong nước và quốc tế
1.3.3 Dân cư và lao động
Trang 24Bảng 1.6 – Danh sách các đơn vị hành chính của Hà Nội
Diện tích (km 2 )
dân số (1000 ng)
Mật độ dân
số (ng/km2)
Đơn vị hành chính Phường
xã
Thị trấn
Toàn thành 3328,89 6689,5 2009,53 555 22
Ba Đình 9,25 230,0 24865 14 - Hoàn Kiếm 5,29 149,5 28261 18 - Tây Hồ 24,01 139,2 5798 8 - Long Biên 59,93 237,0 3955 14 - Cầu Giấy 12,03 238,7 19842 8 - Đống Đa 9,96 380,0 38153 21 - Hai Bà Trưng 10,09 306,0 30327 20 - Hoàng Mai 40,32 346,9 8604 14 - Thanh Xuân 9,08 235,8 25969 11 - Sóc Sơn 306,51 293,2 957 25 1 Đông Anh 182,14 350,5 1924 23 1 Gia Lâm 114,73 239,2 2085 20 2
Từ Liêm 75,63 429,4 5678 15 1 Thanh Trì 62,93 204,8 3254 15 1
Mê Linh 142,51 198,0 1389 16 2
Hà Đông 48,34 241,9 5004 17 - Sơn Tây 113,53 129,0 1136 15 -
Ba Vì 424,03 252,1 595 30 1 Phúc Thọ 117,19 162,8 1389 22 1 Đan Phượng 77,35 144,4 1867 15 1 Hoài Đức 82,47 198,4 2406 19 1 Quốc Oai 147,01 165,1 1123 20 1 Thạch Thất 184,59 182,3 988 22 1 Chương Mỹ 232,41 295,7 1272 30 2 Thanh Oai 123,85 171,8 1387 20 1 Thường Tín 127,39 225,3 1769 28 1 Phú Xuyên 171,10 183,1 1070 26 2 Ứng Hòa 183,75 183,9 1001 28 1
Trang 25phát triển theo cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, vì vậy các ngành dịch
vụ, công nghiệp đòi hỏi một lượng lớn lao động Đồng thời, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp và được thay thế bằng các khu công nghiệp vì vậy số người làm nghề nông giảm đi rất nhiều trong những năm gần đây
Lao động Hà Nội tuy dồi dào song tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2011 mới đạt 35%, trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 25,4%, chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phân bố không đều, tập trung ở vùng đô thị, các quận nội thành Lao động Hà Nội còn có tâm lý kén chọn việc làm và thu nhập rất nặng
nề Tỷ trọng việc làm bền vững tăng chậm, việc làm không ổn, việc làm tạm thời còn khá cao, chiếm khoảng 45% kết quả giải quyết việc làm hàng năm
Theo số liệu Tổng Điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2010, đến năm 2010 trong cơ cấu lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội khu vực nông lâm thủy sản chiếm 31,2%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 20,4% và khu vực dịch vụ chiếm 48,4%
1.3.4 Diễn biến sử dụng đất
Thực tế đất thành phố Hà Nội được sử dụng theo các mục đích như sau: đất công cộng; đất đô thị; đất ở làng xóm; đất cơ quan; đất trường học; đất cây xanh, công viên, vườn hoa; đất thể dục thể thao; đất nghĩa trang; đất công nghiệp; đất công trình; đất du lịch nghỉ dưỡng; đất lâm nghiệp; đất trồng lúa; đất trồng hoa màu; đất trồng cây lâu năm; đất không được phép xây dựng; đất chưa sử dụng; đất khác
Diễn biến sử dụng đất Hà Nội được trình bày như Bảng 1.7:
Bảng 1.7 – Diễn biến sử dụng đất thành phố Hà Nội
STT Loại hình sử dụng đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất tự
nhiên
334.852,150 100,0 334.852,150 100,0
1 Đất nông nghiệp 189.092,480 56,740 172.837,470 51,616 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 153.513,010 45,845 133.680,250 39,922 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 138.907,380 41,483 116.139,560 34,684 1.1.1.1 Đất trồng lúa 118.126,550 35,277 96.428,500 28,797 1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm
còn lại
20.138,990 6,014 19.711,060 5,886 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 14.605,630 4,362 17.540,690 5,238 1.2 Đất lâm nghiệp 24.051,920 7,183 23.342,790 6,971
Trang 26STT Loại hình sử dụng đất
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
1.2.1 Đất rừng sản xuất 9.618,440 2,872 8.511,780 2,542 1.2.2 Đất rừng phòng hộ 3.753,630 1,121 5.308,710 1,585 1.2.3 Đất rừng đặc dụng 10.679,850 3,189 9.522,300 2,844 1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 9.658,250 2,884 13.835,930 4,132 1.4 Đất nông nghiệp khác 1.869,300 0,558 1.978,500 0,591
2 Đất phi nông nghiệp 135.245,150 40,390 153.611,560 45,874 2.1 Đất ở 33.493,540 10,002 36.998,080 11,049 2.1.1 Đất ở tại nông thôn 26.948,780 8,048 27.477,740 8,206 2.1.2 Đất ở tại đô thị 6.544,760 1,955 9.520,340 2,843 2.2 Đất chuyên dùng 70.002,820 20,906 94.622.240 28,258 2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công
trình sự nghiệp
2.265,540 0,677 2.386,250 0,713
2.2.2 Đất quốc phòng, an ninh 9.773,530 2,919 9.840,790 2,939
2.2.4 Đất sản xuất kinh doanh
phi nông nghiệp
cây
2.880,360 0,860 2.736,050 0,817
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
1.4 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.4.1 Tổng quan về vành đai xanh điển hình trên thế giới
Vào cuối thế kỷ 19, mô hình đô thị vệ tinh ra đời cùng với ý tưởng “thành
phố vườn” của Ebenezer Howard Ông đã sớm nhận thấy các thành phố công
nghiệp của nước Anh trở nên tồi tệ để sống do ô nhiễm và mật độ dân số tăng cao quá tải Do đó, ông đã đề xuất xây dựng các thành phố chỉ khoảng 30 ngàn dân nằm
Trang 27trên các trục đường sắt nối với thành phố trung tâm và cách ly với các thành phố này bởi vành đai xanh [15]
Mô hình “thành phố vườn” của E.Howard đã phân tách khu công nghiệp với
khu ở bằng dải cây xanh hoặc tạo các vành đai xanh để hạn chế phát triển đô thị
Mô hình này sau đó được áp dụng với nhiều biến thể khác nhau ở nhiều nước trên thế giới Khi công nghiệp phát triển mạnh, mô hình chùm đô thị hay chuỗi đô thị nối liền nhau thành vùng đại đô thị, siêu đô thị
E Howard đã hình dung một tập hợp các đô thị nằm tự do bao quanh một đô thị trung tâm, nối với nhau và nối với thành phố trung tâm bằng các đường tàu Khi vòng tròn đầu tiên của các đô thị bao quanh thành phố trung tâm được lấp đầy, ông mường tượng tới việc phát triển vòng tròn thứ hai Trong mọi trường hợp, các đô thị này sẽ được tách biệt với thành phố trung tâm và các đô thị vệ tinh khác nhờ vành đai xanh
Nguồn: [28]
Hình 1.3 – Sơ đồ “thành phố Vườn”
của E Howard (1898)
Howard đề ra một diện tích rộng khoảng 1000 mẫu (400.000 m2) cho phần hạt nhân với khoảng 30 nghìn dân, được bao quanh bởi một diện tích đất nông nghiệp rộng khoảng 5000 mẫu (2.000.000
m2) với 2000 dân và cung cấp rau, quả, các sản phẩm sữa cho đô thị Sáu (6) khu đơn vị
ở riêng biệt đều phải lấy một trường học làm trung tâm Các địa điểm công nghiệp phục vụ cho sự tự tồn tại của đô thị sẽ được đặt ở rìa đô thị để tránh ô nhiễm vào trung tâm đô thị
- Các thành phố vườn ở Anh
Howard đã khích lệ nhiều người đi sau và đầu thế kỷ 20 những ý tưởng của ông đã hai
Trang 28Nguồn: [28]
Hình 1.4 – Letchoworth – thành
phố vườn đầu tiên trên thế giới
lần được mang ra thực hiện Letchworth, cách Luân Đôn 35 dặm, đã được xây dựng với diện tích 4000 mẫu vào năm 1905 Các kiến trúc sư
đã điều chỉnh sơ đồ của Howard cho phù hợp với địa điểm thực tế với thành công lớn Rất nhiều cư dân của đô thị cũng làm việc tại đó, các địa điểm xây dựng nhà khá rộng rãi; và các vành đai xanh giúp cho đô thị tách xa khỏi các khu lân cận Welwyn cũng tiếp bước vào năm
về mặt dài hạn trong chương trình “các đô thị mới” – tâm điểm quy hoạch của Anh sau chiến tranh thế giới thứ II Chính phủ Anh
đã định ra một vành đai xanh bao gồm các khu vực hạn chế phát triển xung quanh các khu ngoại ô hiện
có ở London trong những năm 50 và 60, xây dựng các thành phố vệ tinh như Hemel Hempstead bên ngoài khu vực đó Các đô thị mới có xu hướng rộng hơn đáng kể so với đề xuất của Howard và các đô thị này phải được thiết kế xung
quanh cả ô tô lẫn tàu
Trang 29- Các thành phố vườn ở Mỹ [7]
Cùng thời với Welwyn, một khu phố được quy hoạch sớm ở Mỹ cũng chịu ảnh hưởng từ những ý tưởng của Howard là Forest Hills Village, được xây dựng ở Queens, New York năm 1913 Công trình này do Quỹ Russell Sage xây dựng và là một khu phố biểu trưng cho nhà ở thiết kế tối ưu giành cho tầng lớp trung lưu Cũng theo trào lưu mới nổi này là một số khu thành phố dành cho những người làm trong lĩnh vực quốc phòng do liên bang tài trợ cũng được xây dựng trong suốt chiến tranh thế giới thứ nhất như Làng Yorkship ở Camden, New Jersey và Làng Hilton ở Newport News, Virginia
Một ứng dụng ở quy mô lớn
là Radburn, New Jersey, được xây
dựng ở khu vực ngay khi đi qua cây
cầu George Washington mới từ
New York năm 1928 Do Henry
Wright và Clarence Stein thiết kế,
Radburn nhằm hướng tới mục tiêu
“Đô thị cho một kỉ nguyên Môtô”
Bản quy hoạch sử dụng nhiều yếu
tố thiết kế mà hiện nay phổ biến
trong các khu phố được quy hoạch
cư, nhưng chỉ một phần của công trình được xây dựng do cuộc Đại Suy thoái bùng
nổ, làm cạn kiệt nguồn tài chính Tuy nhiên Radburn đã và vẫn là một khu dân cư
đô thị thành công
Trang 301.4.2 Tổng quan về vành đai xanh ở Hà Nội
Định hướng Quy hoạch khu vực Vành đai xanh chưa nhận được sự quan tâm của các nhà quy hoạch, các nhà khoa học của Việt Nam Khi Hà Nội chưa mở rộng, Vành đai xanh bao quanh Hà Nội đã được đề xuất trong quy hoạch chung Thủ đô
Hà Nội đến năm 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 108/1998/QĐ-TTg ngày 20/6/1998 Theo Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến
năm 2020 đã nêu trong phần Phân khu chức năng “Cải tạo, nâng cấp các công
viên, vườn hoa, cây xanh hiện có, kết hợp phát triển các công viên cây xanh, ở khu vực hồ Yên Sở, Linh Đàm, Triều Khúc, Mễ Trì, sông Nhuệ, Phú Thượng Hình thành các dải cây xanh đặc dụng phòng hộ, cách ly, sinh thái cảnh quan ở ven các sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu, sông Hồng, sông Nhuệ, sông Cà Lồ, sông Đuống và dọc các hành lang kỹ thuật hạ tầng Tại vùng ven đô, hình thành vành đai xanh rộng từ 1 đến 4 km, tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố”
Vành đai xanh theo Quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2050 được phát triển trên cơ sở vành đai xanh của quy hoạch chung thủ đô Hà Nội năm 2020
Hình 1.7 – Phần “xanh” của Thủ đô Hà
Nội khi chưa Quy hoạch Vành đai xanh
Hình 1.8 – Phần “xanh” của Thủ đô
Hà Nội khi Quy hoạch Vành đai xanh
Nhìn vào bản đồ trên cho thấy, Hà Nội khi chưa quy hoạch Vành đai xanh có rất ít diện tích xanh và chỉ phân bố theo điểm xanh rất nhỏ (công viên bách thảo, hồ
Trang 31gươm, hồ bảy mẫu, vườn hoa Lý tự trọng ), những mảng xanh rời rạc (Hoàng Mai,
Từ Liêm, Hồ Tây ), và một số tuyến cây xanh (Phan Đình Phùng, Bà Triệu, đường Thanh niên) Ngoài ra, trong Hà Nội cũ có phần xanh rất quan trọng đó là phần sông Hồng Tuy nhiên, Hà Nội khi mở rộng và định hướng theo Quy hoạch chung của Thủ đô Hà Nội thì phần xanh của Hà Nội không chỉ còn là các điểm xanh mà còn có hành lang xanh, vành đai xanh đô thị - là khối xanh, mảng xanh nối dài liên tiếp Vì đây là vấn đề cần thiết và rất mới của Hà Nội nên chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu
về vai trò và hướng phát triển của Vành đai xanh
1.4.3 Một số ví dụ chứng minh các luận điểm về tổng quan vành đai xanh
a, Khu nhà cao tầng
Công trình Singapore’s Ecoligical Editt Tower (26 tầng) Đây là thiết kế của KTS Ken Yeang (Malaysia) KTS Ken Yeang cho rằng thiết kế sinh thái bao gồm việc sử dụng có cân nhắc nguồn năng lượng và vật liệu trong suốt tuổi thọ của hệ thống thiết kế, và qua thiết kế giảm ảnh hưởng của quá trình sử dụng công trình đối với môi trường tự nhiên
Tại công trình EDITT, viết tắt của Ecological Design in The Tropics, (Kiến trúc sinh thái nhiệt đới), Ken Yeang cố gắng làm cân bằng khối lượng vô cơ rất lớn
của công trình với khối lượng hữu cơ, điều đó có ý nghĩa là mang hệ thực vật và cảnh quan vào công trình Nhưng ông cũng không muốn đưa tất cả cảnh quan vào một địa điểm Ông trải khắp công trình, kết hợp với cây cối từ dưới đất leo lên bao phủ công trình Để thích ứng hài hòa với thiên nhiên, một số chi tiết tòa nhà sẽ không có cửa hoặc vách tường Với điều kiện có lượng nước mưa nhiều của khí hậu nhiệt đới, tòa nhà có hệ thống tận dụng lượng nước mưa vào việc tưới cây và vệ sinh trong sinh hoạt
Công trình được trang bị đến 855 m2 diện tích cửa quang điện Vontaic, cung cấp thêm 39,7% năng lượng cho tòa nhà, hệ thống sinh thái còn chuyển đổi nước và rác thải từ tòa nhà thành năng lượng khí đốt và phân bón
Trang 32Nguồn: [29]
Hình 1.9 – Phối cảnh của tòa nhà EDITT
b, Nông nghiệp đô thị
Trang trại trong lòng đô thị - Harvest Green Tower Harvest Green Tower,
tòa nhà vụ mùa xanh vừa giành giải thưởng lớn tại cuộc thi tại Vancouvers “Thách
thức 2030” Thiết kế này lấy ý tưởng từ sự thay đổi khí hậu, sự thiếu hụt cây xanh,
hiện tượng nóng lên trên Trái đất Tòa nhà sinh học này sẽ là xu hướng mới trong
tương lai
Harvest Green Tower là một khối nhà cao tầng với nhiều phòng lắp ráp với nhau
Các khoảng không gian được bố trí cho việc trồng cây nông nghiệp như hoa quả,
lúa mì, ngũ cốc, nuôi gia súc, gia cầm để cung cấp lương thực cho người dân Nước
mưa tầng trên cùng sẽ được tận dụng cung cấp cho các loại cây trồng ở các khu
vườn trong tòa nhà Năng lượng mặt trời và turbin gió sẽ cung cấp năng lượng cho
tòa tháp này Các loại động vật, thực vật sẽ được bố trí theo từng tầng Tòa nhà sinh
Trang 33thái này còn là nơi lý tưởng cho các sinh viên, các nhà khoa học nghiên cứu về sự phát triển của sinh vật
Ưu điểm của nhà vườn: nơi thư giãn, giúp cân bằng cuộc sống giữa con người với thiên nhiên, tạo môi trường sống thoải mái với không gian sinh hoạt
Trang 34chung rộng lớn của gia đình, hướng tới nhu cầu thưởng thức không gian chung, tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên sẵn có
Việc bố trí không gian hợp lý trong khu vườn đóng vai trò then chốt quyết định đến kiến trúc và sinh hoạt của khu vườn Dưới đây là một số mẫu nhà vườn sinh thái tiêu biểu:
Nguồn: [28]
Hình 1.11 - Một số mẫu nhà vườn
1.4.4 Vai trò của vành đai xanh trong phát triển đô thị
Vành đai xanh ở trong và xung quanh khu vực đô thị có thể không cứu người nhưng chúng lại rất quan trong đối với hệ sinh thái của khu vực đó Sự đa dạng của các loài thực vật và cây cối trong vành đai xanh có tác dụng hút các loại bụi bẩn gây
ô nhiễm Đồng thời, chúng còn là kho chứa khí cacbonic giúp giảm sức nóng toàn cầu Ngoài tác dụng trong việc cải thiện môi trường sống của cây cối, hệ thống nông nghiệp trong khu vực Vành đai xanh cũng có tác dụng to lớn trong việc tăng trưởng
Trang 35kinh tế, hình thành các vùng nông nghiệp sinh thái Tuy nhiên, điều kiện kinh tế phát triển tốt nhưng nếu không biết cách dùng vành đai xanh để kiểm soát thì sẽ không thể mang lại sự phát triển bền vững
Các vành đai xanh của đô thị là cầu nối các đô thị với tự nhiên
Các vành đai xanh cũng rất quan trọng trong việc giúp dân cư các thành phố cảm thấy gần gũi hơn với tự nhiên Tiến sĩ S.C Sharma ở Ủy ban Nghiên cứu công nghiệp và khoa học của Ấn độ tin tưởng rằng: tất cả các thành phố nên có những khu vực nhất định để phát triển các vành đai xanh Điều này nhằm mang lại sức sống và màu sắc cho những khối nhà bê tông cao tầng Hơn thế, nó còn đem lại môi trường lành mạnh cho các khu đô thị
Ngoài ra, khu vực vành đai xanh còn tạo cơ hội phát triển các hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao ngoài trời gần các khu vực đô thị Các nhà nghiên cứu về tâm
lý cho biết mối quan hệ tích cực giữa diện tích và dạng không gian xanh với tuổi thọ cũng như sức khỏe thể chất tinh thần, vì khi hòa vào các không gian xanh như vườn hoa hay công viên, con người luôn cảm thấy hứng thú với những hoạt động có lợi cho sức khỏe như đi bộ, chạy hay đi xe đạp Công viên, vườn hoa, vườn dạo là nơi đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của người dân địa phương (tổ chức các trò chơi theo phong tục, tập quán, các hoạt động giải trí nâng cao trình độ văn hóa và phù hợp với từng lứa tuổi) và cũng là nơi gặp gỡ, giao tiếp của tất cả mọi tầng lớp trong
xã hội Cây xanh cũng là một yếu tố gắn bó các thành viên trong xã hội nhờ các hoạt động văn hóa, giáo dục
Với nhịp độ công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng tăng, công việc của mỗi người càng ngày càng bận rộn và căng thẳng, phát sinh căn bệnh stress Và một trong những phương thuốc chữa bệnh tự nhiên, hữu hiệu cho những người bị bệnh stress đó là tập thể dục, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn tại các vườn hoa, công viên hay chỉ là đi dạo tại những con đường với một màu xanh dịu mát của những hàng cây Các cảnh quan thiên nhiên không những làm đẹp nơi chúng ta sinh sống mà còn có thể làm tăng cảm giác an toàn, thậm chí làm giảm những trận xô xát và tội phạm Tiếp xúc với thiên nhiên làm giảm căng thẳng và các cảm xúc cáu giận ở con người
Trang 36Vì vậy hiện nay những khu nghỉ dưỡng gắn liền với thiên nhiên, các công viên, quảng trường là địa điểm lý tưởng đối với người dân thành phố để trút bỏ những bận rộn, lo toan của cuộc sống thường nhật Đặc biệt là các loại hình du lịch sinh thái, du lịch gắn liền với thiên nhiên đang ngày càng thu hút được du khách trong và ngoài nước
Các vành đai xanh giúp hạn chế việc mở rộng quá mức của các đô thị
Các vành đai xanh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế việc đô thị hóa quá mức Đây đang là xu hướng của các thành phố muốn mở rộng xuống vùng nông thôn và môi trường sống của các động vật hoang dã Giữa thành phố trung tâm và các đô thị vệ tinh thường là các vành đai xanh Các thành phố trung tâm theo mô hình đô thị vệ tinh thường bị giới hạn khu vực phát triển để không biến thành một đại đô thị khổng lồ
Tạo cảnh quan hấp dẫn gần nơi mà người dân sinh sống
Cây xanh thường có màu sắc và hình dáng phong phú quanh năm Các loài cây, cỏ, hoa tùy theo mùa mà tô điểm cảnh sắc tự nhiên, tạo ra những cảnh quan dễ chịu thích hợp với mọi người, làm phong phú thêm nội dung nghệ thuật kiến trúc của thành phố Các loại cây xanh đặc biệt kết hợp với địa hình, với công trình kiến trúc hình thành những bố cục cây xanh đa dạng là phong cách riêng của từng vùng, từng thành phố
Vẻ đẹp của cây xanh sẽ làm mềm mại hơn những công trình xây dựng, tạo ra những mảng xanh, mảng màu rực rỡ, khiến cho các công trình, các đường phố trở nên đẹp hơn, thoáng mát hơn, đặc biệt tại khu vực có mật độ các công trình xây dựng lớn
Giữ lại đất trong nông nghiệp, lâm nghiệp
Ngày nay, trong quá trình phát triển của thành phố, nhiều khu công nghiệp, khu công nghệ, khu chế xuất, khu dân cư mới, sân golf được hình thành đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp đáng kể Việc hình thành và phát triển vành đai xanh với những quy định pháp luật sẽ có tác dụng giữ lại đất trong nông
Trang 37nghiệp, lâm nghiệp Vấn đề này giúp đảm bảo an ninh lương thực cho khu vực, tránh tình trạng đô thị quá mức, thừa nhân lực lao động dẫn đến các tệ nạn xã hội
Cải thiện điều kiện vi khí hậu
- Tác dụng hạ thấp nhiệt độ và tăng độ ẩm của cây xanh
Nhiệt độ không khí ở khu vực có trồng cây xanh thường thấp hơn khu vực không được trồng cây xanh, đồng thời độ ẩm tại nơi có nhiều cây xanh lại cao hơn Một số nghiên cứu đã cho thấy, nhiệt độ không khí ở khu vườn cây và ao hồ thấp hơn trong thành phố 1 – 30C, biên độ dao động nhiệt độ trong ngày nhỏ hơn rõ rệt, còn độ ẩm không khí cao hơn từ 1 – 7% [12]
Ban ngày, cây xanh hấp thụ ánh sáng mặt trời và khí CO2 để tiến hành quá trình quang hợp, tổng hợp chất hữu cơ và nhả O2 dựa vào khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời của chất diệp lục:
6CO2 + 5H2O + 674calo = C6H10O5 + 6O26CO2 + 6H2O + 674calo = C6H12O6 + 6O2Khi hấp thụ ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp, cây xanh cũng hấp thụ nhiệt bức xạ mặt trời Đối với vi khí hậu đó là một tác dụng rất tốt Cây xanh có thể hấp thụ được 30 – 80% bức xạ mặt trời chiếu tới, tùy theo kiểu lá và số lượng lá Cây càng có lá rậm rạp, vòm lá càng rộng thì khả năng hấp thụ bức xạ càng nhiều,
vì diện tích mặt lá lớn Tổng diện tích của bề mặt lá cây ước tính bằng 75 lần diện tích trồng cây, tổng diện tích lá cỏ ước tính bẳng 25 – 35 lần diện tích bãi cỏ [12]
Bên cạnh quá trình quang hợp, cây xanh còn thực hiện quá trình hô hấp Ngược lại quá trình quang hợp, dưới tác dụng của các men, qua một chuỗi phản ứng, gluco được phân tích thành khí CO2, năng lượng và hơi nước được giải phóng Năng lượng được sử dụng vào hoạt động sống của tế bào, còn hơi nước và khí cacbonic được thải ra ngoài qua các lỗ khí hổng của lá, hơi nước này cũng làm dịu mát không khí Tuy nhiên, quá trình hô hấp của cây rất yếu so với quá trình quang hợp Dưới ánh sáng mặt trời, quang hợp diễn ra với tốc độ nhanh hơn quá trình hô hấp từ 10 đến 30 lần [18]
Trang 38Cây xanh không những trực tiếp hấp thụ bức xạ mà còn có tác dụng cản bức
xạ, thông thường chúng có thể ngăn được 60 – 80% bức xạ mặt trời Theo nghiên cứu ở thành phố Tasken (Nga), chỗ quang đãng tổng bức xạ đạt tới 800 – 805 kcal/m2h, trong khi đó dưới tán cây xanh, bức xạ xuyên qua nhỏ hơn 122 kcal/m2
Mặt khác, cây luôn luôn hút nước từ dưới đất lên Mặt đất dưới cây xanh ẩm ướt hơn, khi nắng nước sẽ bốc hơi, cho nên cây xanh có tác dụng giảm nóng rõ rệt
Số liệu đo lường thực tế cho thấy nhiệt độ ở mặt đất ẩm ướt thấp hơn nhiệt độ ở mặt đất khô tới 5,50C [12] Do đó, những mảng cây xanh lớn trong các khu có mật độ xây dựng lớn có thể làm giảm nhiệt độ không khí
- Cây xanh phòng gió
Cây xanh làm giảm tốc độ gió Những khối cây xanh lớn, trồng dày có thể làm thay đổi hướng gió, do thiết kế có thể điều chỉnh hướng gió mát vào khu vực nhà ở và hạn chế gió lạnh Tùy thuộc vào mật độ nhà, nếu tán phủ của cây chiếm 10% có thể làm giảm tốc độ của gió từ 10 – 20% (Heisler, 1989) Ngoài ra việc giảm tốc độ gió của cây xanh còn tùy thuộc vào chủng loại cây, cao độ cây, mật độ
và tầng tán, độ rộng của đất đai mà có hiệu quả khác nhau
Cải thiện chất lượng môi trường không khí
Ở các nguồn gây ô nhiễm, cây xanh có tác dụng phòng chống khí độc hại Khói bụi ở các xí nghiệp, nhà máy, khu công nghiệp bốc cao, theo gió tản về thành phố, tới vùng cây xanh tốc độ gió giảm, bụi rơi xuống vào lá, thân cây và được giữ lại làm sạch không khí
- Giảm nồng độ bụi trong không khí
Bụi bốc cao và nhiều ở các xí nghiệp, khu công nghiệp và do các hoạt động giao thông theo tốc độ gió tản rộng thành phố, bay tới vùng cây xanh tốc độ gió giảm, bụi rơi xuống vào lá, thân cây, bụi được giữ lại
Trang 39Khu cây xanh cũng như những thảm cỏ cũng có tác dụng hạn chế nguồn bụi bay lên từ mặt đất đặc biệt từ các bãi trống, bãi cát Cây xanh có thể làm giảm nồng
độ bụi trong không khí 20 – 65% Kết quả đo được ở một số đường phố ở Hà Nội cho thấy khi bên đường phố có dãy cây xanh thưa nồng độ bụi ở tầng hai chỉ bằng
30 – 50% nồng độ bụi ở nhà tầng một [18]
Khả năng lọc bụi của cây phụ thuộc vào đặc thù của lá cây (càng nhám càng
dễ bám bụi), lá to hay nhỏ, dày hay thưa, vòm cây hay tán cây và phụ thuộc vào thời tiết (nếu có định kỳ mưa đều đặn thì hiệu quả lọc bụi của cây xanh tốt hơn khi trời nắng to liên tục, vì mưa có tác dụng rửa sạch lá để dính bám bụi mới)
- Hấp thụ các chất độc hại
Trên cơ sở các quá trình hoạt động hóa sinh và vật lý mà cây xanh có khả năng hấp thụ các chất khí độc hại, bụi chì, hơi chì trong không khí, cũng như các kim loại nặng trong đất
Các kim loại nặng và khí độc được cây hấp thụ sẽ chủ yếu bị giữ ở phần mô
bì của lá cây, một phần được chứa trong thân cây và rễ cây Những loại cây thân gỗ hấp thụ các khí độc hại và kim loại nặng như chì rất tốt, vì nó có tác dụng làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm độc hại trong môi trường và không gây độc hại đối với con người Nhìn chung, cây xanh có thể giảm 10 – 35% ô nhiễm chất khí độc hại trong môi trường [13]
- Giảm tiếng ồn
Khả năng giảm tiếng ồn của cây xanh không những phụ thuộc vào loại cây
mà còn phụ thuộc vào cách bố trí cây, phối hợp các loại cây có tán, có vòm, các khóm cây, bụi cây và các dậu cây
Nhờ khả năng lọc sạch không khí, hút bớt bụi khói và tiếng ồn, đồng thời phần nào ngăn cản được khí độc hại công nghiệp Vì vậy nó thường được dùng làm khoảng cách ly giữa khu công nghiệp và khu dân cư trong thành phố Để giảm ồn cây xanh phải được trồng hợp lý trên đường giao thông đặc biệt là các rào chắn địa hình như các con đường hẹp hay những còn đường đắp cao
Trang 40- Tiêu diệt vi khuẩn, chỉ thị ô nhiễm
Một số cây xanh có tác dụng sát trùng, vệ sinh môi trường tạo điều kiện dễ chịu đối với con người Một số cây khác có tác dụng chỉ thị mức độ ô nhiễm của môi trường, nhằm phát hiện nhanh tình trạng môi trường và giảm chi phí đo đạc, kiểm chứng Do đặc tính thích nghi của các loài khác nhau đối với môi trường, một
số loài cây rất nhạy cảm với hơi độc, những loài cây chỉ thị như thế có thể là cỗ máy cảnh báo ô nhiễm môi trường Mức độ cảnh báo là do các loài cây khác nhau và các loại khí độc khác nhau
Vành đai xanh góp phần nâng cao giá trị bất động sản trong đô thị theo lý thuyết đô thị học hiện đại bền vững Một đô thị công nghệ cao nhưng có điều kiện sống, điều kiện vi khí hậu tốt
Vành đai xanh đảm bảo vùng lõi của đô thị Hà Nội ổn định về mặt môi trường khi đô thị phát triển (định vị rõ ranh giới vùng hạt nhân kinh tế đô thị Hà Nội
để tránh sự phát triển quá mức của đô thị)
1.4.5 Các quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thủ đô Hà Nội trong đó có lĩnh vực vành đai xanh
Phân loại đô thị
Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị nhằm xác lập cơ sở cho việc tổ chức sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị trong cả nước; lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị; xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, chính sách và cơ chế quản lý phát triển đô thị; nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững