đầu tư là điều kiện quyết định sự ra đời, tồn tại và tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, là yếu tố quyết định sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội
Trang 1http://svnckh.com.vn 1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã và đang tăng trưởng với tốc
độ rất cao Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã làm giảm đáng kể tình trạng nghèo đói (giảm tỷ lệ đói nghèo từ 58% năm 1993 xuống còn 19.5% vào năm 2004, rồi 16% năm 2006), tỷ lệ số người quá nghèo ( theo tiêu chí thiếu lương thực) giảm từ 25% xuống còn 11% vào năm 1993 và năm 2000 Cuộc sống của người dân nói chung cũng có những cái thiện đáng kể
Mặc dù vậy, sự phát triển này không đồng đều, sự tăng lên của thu nhập không đồng nhất và sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng tăng Khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số ngày càng nới rộng Điều này đã làm giảm đáng kế chất lượng và hiệu quả của đường lối tăng trưởng giảm nghèo mà Việt Nam đang theo đuổi
Hiểu và trăn trở với thực trạng đó, đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng thực hiện mục tiêu tăng trưởng giảm nghèo ở Việt Nam, trong đó đặc biệt chú trọng đến bất bình đẳng thu nhập giữa người giàu và người nghèo, giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số và giữa các vùng trên toàn quốc
Hy vọng nghiên cứu có thể đóng góp một phần vào việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng giảm nghèo ở Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu được thực hiện với mục đích đem đến được một cái nhìn tổng quan
về tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam, từ đó đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng giảm nghèo
Trang 2http://svnckh.com.vn 2
2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là trả lời được những câu hỏi sau:
- Tăng trưởng giảm nghèo là gi? Tại sao phải hướng tới mục tiêu tăng trưởng giảm nghèo?
- Thực trạng đói nghèo thay đổi như thế nào trong bối cảnh có tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam?
- Các yếu tố nào làm hạn chế tăng trưởng hướng tới giảm nghèo tại Việt Nam?
- Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng giảm nghèo Viêt Nam là như thế nào?
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Người nghèo ở Việt Nam và tác động của tăng trưởng đối với họ
- Khả năng tham gia vào quá trình tạo nên và hưởng lợi từ tăng trưởng của người nghèo Việt Nam
- Các thành phần tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng giảm nghèo tại Việt Nam
+ Chính phủ và hệ thống chính sách và chi tiêu công của chính phủ
+ Các tổ chức tài chính vi mô hỗ trợ tín dụng cho người nghèo
+ Những người, tổ chức và cơ quan thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các nội dung về tăng trưởng giảm nghèo, các yếu tố làm hạn chế tăng trưởng giảm nghèo và giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng giảm nghèo tại Việt Nam
- Không gian nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu chất lượng tăng trưởng và giảm nghèo tại Việt Nam
Trang 3http://svnckh.com.vn 3
- Thời gian nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo của Viêt Nam trong giai đoạn có tăng trưởng kinh tế từ sau Đổi mới đến nay, đặc biệt là từ năm 1990 đến năm 2006
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu các nội dung trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp và phân tích thu thập thông tin thứ cấp
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp, phân tích - tổng hợp để hệ thống hoá các vấn đề lý luận cũng như đánh giá về thực trạng của tăng trưởng giảm nghèo
ở Việt Nam
5 Kết cấu đề tài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được kết cấu gồm 4 chương, mỗi chương lần lượt trả lời 4 câu hỏi được nêu ở phần 2.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mỗi chương gồm có ba phần: phần mở đầu – giới thiệu chung về nội dung, nhiệm vụ của chương và mối quan hệ giữa nó với các chương khác trong toàn bài nghiên cứu, phần nội dung chính của chương và phần tóm tắt cuối chương
Trang 4http://svnckh.com.vn 4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TĂNG TRƯỞNG GIẢM NGHÈO
Chương 1 có nhiệm vụ đưa ra những cơ sở lý luận của vấn đề tăng trưởng giảm nghèo, làm tiền đề cho các chương sau của nghiên cứu Nội dung của chương gồm có:
- Khái niệm nghèo đói và các chỉ số đánh giá tình trạng nghèo đói
- Khái niệm, tầm quan trọng của tăng trưởng giảm nghèo và các chỉ số đánh giá tăng trưởng giảm nghèo
- Mối quan hệ giữa tăng trưởng giảm nghèo và bất bình đẳng
I Khái niệm nghèo đói
1 Một số quan điểm về nghèo đói
Nghèo đói là tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diên Không có một định nghĩa duy nhất về nghèo đói mà khái niệm nghèo khổ được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau
1.1.Định nghĩa về đói nghèo
Quan điểm của trường phái phúc lợi:
Theo trường phái này, xã hội có hiện tượng đói nghèo khi một hay nhiều cá nhân trong xã hội không có được một mức phúc lợi kinh tế được coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiếu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó [8, trang 177] 1
Quan điểm của trường phái nhu cầu cơ bản
1 Xem “Cách ghi chú tài liệu tham khảo” trong mục “Danh mục tài liệu tham khảo”, trang 58
Trang 5http://svnckh.com.vn 5
Đây là một quan điểm về đói nghèo thường được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, sử dụng Khái niệm được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9/1993, theo đó “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [15, trang 152]
Quan điểm của trường phái năng lực
Theo trường phái này, phạm vi của đói nghèo càng được mở rộng Giá trị cuộc sống của con người không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ thoả dụng hay thoả mãn các nhu cầu cơ bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự
do đáng kể mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn.[8, trang 179]
Nhìn chung, theo WB, định nghĩa nghèo đói ngày càng được mở rộng, và từ năm 1980 đến nay, một người bị coi là nghèo khi anh ta bị thiếu thốn về năng lực
và cơ hội, bao gồm tiêu dùng, dịch vụ xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương
1.2 Phương pháp đánh giá nghèo khổ
Để đánh giá nghèo khổ, các nước sử dụng hai khái niệm về đói nghèo, đó là nghèo khổ tuyệt đối và nghèo khổ tương đối
1.2.1 Nghèo khổ tuyệt đối
Khái niệm Nghèo khổ tuyệt đối nhằm “biểu thị một mức thu nhập (chi tiêu)
tối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản để mỗi người có thể
“tiếp tục tồn tại”.[15, trang 153] Thước đo nghèo khổ tuyệt đối cho biết số người sống dưới một ngưỡng nghèo nhất định không thay đổi theo thời gian và không gian
Mỗi nước sử dụng những thước đo đói nghèo tuyệt đối riêng, phù hợp với trình độ phát triển và các chuẩn mực xã hội của mình Nhìn chung, có hai loại
Trang 6http://svnckh.com.vn 6
thước đo đói nghèo tuyệt đối được sử dụng ở Việt Nam, đó là chuẩn nghèo của thế giới do WB quy định và chuẩn nghèo của Việt Nam
Chuẩn nghèo của WB
Chuấn nghèo tuyệt đối do WB quy định là 1USD/ngày/người và 2USD ngày/người được tính theo ngang giá sức mua ( PPP) năm 1993 Trong đó, ngưỡng 1USD/ngày/người thường được sử dụng cho các nước kém phát triển, chủ yếu là ở châu Phi; ngưỡng 2USD/ngày/người thường được dùng cho các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình như Đông Á và Mỹ Latinh [1, trang 28]
Chuẩn nghèo của Việt Nam
Chuẩn nghèo của Việt Nam thay đổi theo thời gian
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 thì chuẩn nghèo quốc gia của giai đoạn 2001 – 2005 là 80.000đ/người/tháng (tương đương 0.17 USD/ngày) đối với khu vực nông thôn; 100.000đ/người/tháng ( tương đương 0.21USD/ngày) đối với khu vực đồng bằng; và 150.000đ/người/tháng (tương đương 0.32 USD/ngày) đối với khu vực thành thị
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 quy định chuẩn nghèo quốc gia của giai đoạn 2006 – 2010 thì ở khu vực nông thôn, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Còn tại khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân
từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
1.2.2 Nghèo khổ tương đối
Nghèo tương đối được xét trong tương quan xã hội Đó là tình trạng sống dưới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được tại những địa điểm và thời gian xác định
Trang 7http://svnckh.com.vn 7
Một ngưỡng hay dùng để đo lường ngưỡng nghèo khổ tương đối là 50% hay 60% mức thu nhập trung bình đầu người trong một nền kinh tế Một ví dụ khác về nghèo tương đối là tình trạng mức thu nhập/chi tiêu thấp hơn 25% so với mức thu nhập/chi tiêu trung bình trong xã hội
Nghèo tương đối thể hiện sự bất bình đẳng trong phân phối, khi mà một số người trong xã hội không được hưởng và không được cung cấp một số tiềm lực vật chất và phi vật chất mà họ xứng đáng được hưởng tương ứng với sự sung túc của
xã hội đó
2 Các chỉ số đánh giá tình trạng nghèo đói của một quốc gia
2.1.Chỉ số đếm đầu người (HCI – Headcount Index)
Chỉ số đếm đầu người là một thước đo được sử dụng phổ biến hiện nay để đánh giá nghèo khổ về thu nhập, nó cho biết số người sống dưới chuẩn nghèo
2.2.Tỷ lệ đếm đầu ( HCR – Headcount Ratio)
Theo WB, tỷ lệ đếm đầu của một quốc gia là tỷ lệ phần trăm của tổng số người sống dưới chuẩn nghèo quốc gia chia cho tổng số dân của quốc gia đó
2.3 Khoảng cách nghèo (PG – Poverty Gap)
Khoảng cách nghèo - chỉ số thể hiện mức độ trầm trọng của tình trạng đói nghèo của một quốc gia - là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo và ngưỡng nghèo Khoảng cách nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với ngưỡng nghèo [15, trang 157] Nó cũng cho biết lượng ngân sách cần thiết để giúp những người nghèo thoát khỏi nghèo đói
Ví dụ, khoảng cách nghèo của một quốc gia là 0.2 Như vậy có nghĩa là số tiền cần phải chuyển cho người nghèo để nhấc họ lên ngưỡng nghèo là 20% ngưỡng nghèo Nếu thu nhập bình quân đầu người của quốc gia đó là 2 lần ngưỡng nghèo thì số tiền người nghèo cần có để thoát nghèo là 10% thu nhập bình quân
Trang 8http://svnckh.com.vn 8
Khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ của nghèo đói khác nhau ở những nhóm dân cư khác nhau Ví dụ, nếu khoảng cách nghèo ở nông thôn cao hơn khoảng cách nghèo ở thành thị thì với cùng một mức tăng thu nhập, vùng nông thôn sẽ cần nhiều thời gian hơn so với vùng thành thị để thoát khỏi đói nghèo (cũng
có nghĩa là mức độ nghèo đói ở nông thôn trầm trọng hơn ở thành thị)
II Tăng trưởng giảm nghèo
1 Khái niệm và tầm quan trọng của tăng trưởng giảm nghèo
1.1.Khái niệm
Tăng trưởng giảm nghèo (Poverty-alleviating growth) chính là tăng trưởng kinh
tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo, là tăng trưởng hướng tới giảm nghèo
Tăng trưởng giảm nghèo bao gồm hai khía cạnh:
- Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng trong tổng sản phẩm quốc nội, tổng thu nhập quốc dân hoặc thu nhập quốc dân tính trên đầu người
- Giảm nghèo: là sự cải thiện các chỉ số đánh giá tình trạng nghèo đói của quốc gia (HCI, HCR và PG đều giảm) Bên cạnh đó, hiệu quả giảm nghèo còn được đánh giá ở khía cạnh giảm nghèo tương đối, thể hiện ở tình trạng bất bình đẳng giảm ( hệ số Gini giảm; chỉ số Theil giảm; tốc độ giảm nghèo đồng đều giữa các nhóm người, các vùng, )
1.2.Tầm quan trọng của tăng trưởng giảm nghèo
Để thấy được tầm quan trọng của tăng trưởng giảm nghèo thì cần phải xem xét tăng trưởng thông qua lăng kính phát triển
Phát triển là một khái niệm chuẩn tắc, mỗi người có thể đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia Quan điểm truyền thống về phát triển theo giáo sư Todaro – cũng là quan điểm phổ biến trước những năm 1970 - cho rằng phát triển bao gồm các 3 khía canh: (1) Tăng trưởng;
Trang 9Sau này, Dudley Seers và G Myrdal đưa ra các tiêu chuẩn về phát triển như : năng suất lao động cao hơn, mức sống cao hơn, công bằng xã hội và kinh tế, thống nhất và độc lập của quốc gia, dân chủ tới tầng lớp thường dân, điều kiện về giáo dục và việc làm tốt hơn,
Các khái niệm phát triển không hoàn toàn giống nhau, nhưng tựu chung lại, chúng đều bao gồm khía cạnh tăng trưởng kinh tế nhằm hướng tới giảm nghèo, giảm bất bình đẳng Theo đó, tăng trưởng kinh tế, xét cho cùng, là để phục vụ, thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu ngày càng cao của con người Nói cách khác, con người là mục tiêu cuối cùng của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế sẽ không có ý nghĩa nếu nó không làm cho cuộc sống của con người
tốt đẹp hơn (“what is the meaning of growth if it is not translated into the lives of
people? ” - UN, Human Development Report, 1995) Điều này một lần nữa được
Liên hiệp quốc khẳng định lại qua 8 mục tiêu của tiên niên kỷ ( MDGs) , trong đó xóa đói giảm nghèo về mọi mặt được coi là thách thức chủ yếu của toàn cộng đồng thế giới
Mặc dù các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đã ý thức được tầm quan trọng của tăng trưởng giảm nghèo nhưng thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng giảm nghèo tại các quốc gia này không phải là một quá trình đơn giản Chính vì vậy, cộng đồng thế giới cùng các nước đang phát triển phải tìm cách thúc đẩy và nâng cao hiệu quả tăng trưởng hướng tới giảm nghèo, để cho người nghèo
có thể thực sự được hưởng lợi nhiều hơn từ tăng trưởng kinh tế
Trang 10http://svnckh.com.vn 10
2 Các chỉ số đánh giá tăng trưởng giảm nghèo
Tăng trưởng giảm nghèo là một khái niệm tổng hợp, vì vậy để đánh giá tăng trưởng giảm nghèo, cần phải sử dụng nhiều chỉ số khác nhau:
2.1 Các chỉ số đánh giá tăng trưởng kinh tế
Trong bài nghiên cứu sử dụng 3 chỉ số phổ biến sau:
- Tổng sản phẩm quốc dân (GDP)
- Tổng sản phẩm quốc nội (GNP)
- Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người hay GNP/người)
2.2 Các chỉ số đánh giá hiệu quả giảm nghèo
Bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số đánh giá tình trạng nghèo đói của quốc gia đã được trình bày ở trên, đó là: tỷ lệ đếm đầu (HCR) và khoảng cách nghèo (PG) Ngoài ra, khi nghiên cứu công tác giảm nghèo còn cần phải xét đến hiệu quả giảm nghèo tương đối, giảm bất bình đẳng Các chỉ số được sử dụng trong bài nghiên cứu để đánh giá khía cạnh này gồm có:
- Hệ số Gini tính theo chi tiêu
- Chỉ số Theil L
- Khoảng cách thu nhập giữa người giàu nhất và người nghèo nhất
- Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn
- Tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo toàn quốc
- Tốc độ giảm nghèo tại các vùng và các dân tộc
Các chỉ số được nêu ở mục 2.1 và 2.2 được xem xét trong cùng một giai đoạn để thấy được tình trạng nghèo đói thay đổi thế nào trong giai đoạn có tăng trưởng kinh tế
III Mối quan hệ giữa tăng trưởng giảm nghèo và bất bình đẳng
Tăng trưởng giảm nghèo và bất bình đẳng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Một sự tăng trưởng có đi đôi với giảm nghèo (bao gồm cả giảm nghèo tuyệt đối và
Trang 11Bảng 1 Thay đổi trong tỷ lệ đói nghèo trong giai đoạn có tăng trưởng kinh
tế tại 74 quốc gia đang phát triển (1980 – 1990)
(I)
(30% số trường hợp) đói nghèo giảm 1.3% /năm
(II)
Giảm
(26% số trường hợp) đói nghèo tăng 1.7% /năm
(III)
(27% số trường hợp) đói nghèo giảm 9.6% / năm
- Bất bình đẳng có quan hệ thuận chiều với nghèo đói
Trang 12Như vậy, có thể thấy rằng tình trạng đói nghèo có được cải thiện hay không không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế mà còn phụ thuộc vào bất bình đẳng Tác động của tăng trưởng và bất bình đẳng lên đói nghèo, có trường hợp là những tác động cùng chiều (trường hợp (I) và (IV) ở Bảng 1); có trường hợp là những tác động ngược chiều (trường hợp (II) và (III) ở Bảng 1) Do đó, tác động tổng hợp của tăng trưởng và bất bình đẳng lên đói nghèo sẽ là tác động tích cực (nếu nó làm cho nghèo đói giảm) hoặc tác động tiêu cực (nếu nó làm cho nghèo đói tăng) tùy thuộc vào mối tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng
Do đó, cần phải nghiên cứu tăng trưởng giảm nghèo trong mối quan hệ với tình trang bất bình đẳng để đánh giá được chính xác hiệu quả của tăng trưởng gắn với giảm nghèo
Trang 13http://svnckh.com.vn 13
Tóm tắt cuối chương1
Nghèo đói là một khái niệm rất rộng, không có định nghĩa duy nhất mà phải được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau Đã có ba trường phái đưa ra định nghĩa về nghèo đói (trường phái phúc lợi, trường phái nhu cầu cơ bản và trường phái năng lực), theo đó nội hàm của nghèo đói ngày càng được mở rộng Hiện nay, nghèo đói được coi là tình trạng thiếu thốn về năng lực và cơ hội, bao gồm tiêu dùng, dịch vụ xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương
Để đánh giá nghèo đói một cách toàn diện thì cần phải đánh giá cả hai mặt: nghèo khổ tuyệt đối và nghèo khổ tương đối Nếu như nghèo khổ tuyệt đối cho biết
số người sốn dưới một ngưỡng nghèo nhất định thì nghèo khổ tương đối cho biết mối tương quan giữa những nhóm người trong xã hội, qua đó thể hiện tình trạng bất bình đẳng trong xã hội đó Khi đánh giá tình trạng nghèo đói của một quốc gia, người ta dùng 3 chỉ số phổ biến sau: HCI (chỉ số đếm đầu người), HCR ( tỷ lệ đếm đầu) và PG (khoảng cách nghèo)
Tăng trưởng giảm nghèo chính là tăng trưởng kinh tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo Tuy rằng hiện nay, các quốc gia trên thế giới đã xác định đây là mục
Trang 14Chương 2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ GIẢM NGHÈO
TẠI VIỆT NAM
Chương 1 đã đưa ra các niệm về nghèo đói, tăng trưởng giảm nghèo và bất bình đẳng cũng như các chỉ số đánh giá chúng Dựa trên cơ sở lý luận của chương
1, chương 2 đi sâu nghiên cứu thực trạng quá trình tăng trưởng và giảm nghèo tại Việt Nam trong giai đoan từ năm 1986 đến năm 2006
Nội dung của chương này bao gồm các số liệu thực tế về các chỉ số đánh giá nghèo đói, tăng trưởng giảm nghèo và bất bình đẳng đã được nêu trong chương 1
Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra đánh giá sự tăng trưởng tại Việt Nam có phải là tăng trưởng giảm nghèo hay không
I Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Từ năm 1996 đến nay, kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh và ổn định (xem bảng 2):
Bảng 2 Các chỉ số kinh tế của Việt Nam năm 1996, 2005, và 2006
Trang 15GDP của Việt Nam tăng hơn gấp đôi, từ 24.7 tỷ USD lên 59.3 tỷ USD năm
2006 Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia ròng/GDP và tỷ lệ tiết kiệm quốc dân ròng/GDP cũng tăng mạnh trong khoảng thời gian tương ứng
Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người và Giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam cũng luôn duy trì ở mức cao và ổn định với tốc độ tăng trưởng trung bình trong 20 năm (1986 – 2006) tương ứng là 7.1%, 5.35% và 22.15% (xem Bảng 3)
Bảng 3 Các chỉ số thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
giai đoan 1986 – 2006
1986 - 1996 1996 - 2006 2005 2006
Tốc dộ tăng trưởng hàng năm
Giá trị xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ (%)
(Nguồn: website WB) [19]
Như vậy, sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam từ sau Đổi mới được thể hiện
ở sự tăng lên nhanh và ổn định của tất cả các chỉ số kinh tế Đây là một yếu tố qua
Trang 16Theo chuẩn nghèo quốc tế
Đồ thị 1 cho thấy từ năm 1990 đến 2004, tỷ lệ nghèo của Việt Nam , tính theo chuẩn nghèo quốc tế (1USD/ ngày/người), đã giảm mạnh từ 50.8% vào năm 1990 xuống còn 10.6% vào năm 2004 Tỷ lệ nghèo Việt Nam tính theo chuẩn quốc tế (2USD/ngày/người) cũng giảm từ 87% năm 1990 xuống 53.4% vào năm 2004
Đồ thị 1 Tỷ lệ nghèo của Việt Nam theo chuẩn quốc tế
50.8
39.9
23.6 16.4 16.9 15.2 14.6
13.6 12
10.6
87 80.5
69.4 65.4 65.9
63.5 61.8
58.2 55.8 53.4
Tỷ lệ dân số sống dưới mức 2 USD/ngày (%)
[Nguồn: 1, trang 77]
So với các quốc gia có cùng trình độ phát triển hoặc có trình độ phát triển cao hơn thì thành tựu giảm nghèo của Việt Nam lại càng nổi bật Theo WB, năm 2003,
Trang 17http://svnckh.com.vn 17
tỷ lệ nghèo đói theo ngưỡng 1USD/ngày/người của Việt Nam là 12%, trong khi đó của Trung Quốc là 16.1%, Ấn Độ 34.7% và Philippin 14.6% [1, trang 77]
Theo chuẩn quốc gia
Tính trung bình kể từ khi đổi mới đến năm 2006, mỗi năm Việt Nam giảm được 2% số hộ nghèo đói [1, trang 77] Tính theo chuẩn quốc gia do Tổng cục Thống kê
xác định (theo đó Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm là 2.100
calo/người/ngày; Đường đói nghèo chung, ngoài đói nghèo về lương thực thực
phẩm, còn tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm Năm
1993 đường đói nghèo chung có mức chi tiêu là 1.16 triệu đồng/năm/người; năm
1998 là 1.79 triệu đồng/năm/người) trong giai đoạn 1993 – 2002, tỷ lệ nghèo của
Việt Nam cũng giảm mạnh: tỷ lệ nghèo chung giảm gần một nửa, từ 58.1% vào năm 1993 xuống còn 28.9% vào năm 2002; còn tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm (2.100 calo) giảm từ 24.9% vào năm 1993 xuống còn 10.9% vào năm 2002
Đồ thị 2 Tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia giai đoạn
1993 - 2002 58.1
37.4
28.9 24.9
[Nguồn: 1, trang 78]
Tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 – 2005 (theo đó từ năm 2001,
chuẩn nghèo là 80 nghìn đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng nông thôn miền núi;100nghìn đồng/người/tháng ở các vùng nông thôn đồng bằng; 150 nghìn đồng/người/ tháng ở khu vực thành thị) cũng có những thay đổi tích cực: tỷ
lệ nghèo liên tục giảm từ 17.2% vào đầu năm 2001 xuống còn 11% vào cuối năm
2003, 8.3% vào năm 2004 và 7% vào năm 2005 [1, trang 81, 83]
Trang 18http://svnckh.com.vn 18
2 Chỉ số PG – Khoảng nghèo
Số liệu thống kê cho thấy không chỉ có tỷ lệ nghèo đói giảm trong giai đoạn có tăng trưởng kinh tế mà khoảng cách nghèo, phần thu nhập/ chi tiêu mà người nghèo thiếu so với mức chuẩn nghèo, cũng giảm trong giai đoạn đó ( từ 19% vào năm
1993 xuống còn 5% vào năm 2004)
Đồ thị 3 Khoảng cách nghèo của Việt Nam
III Thực trạng bất bình đẳng tại Việt Nam trong giai đoạn có tăng
trưởng kinh tế
Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế trong giai đoạn 1993 – 2004, tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên, trong đó có ba sự bất bình đẳng ngày càng trở nên sâu sắc: bất bình đẳng về thu nhập, bất bình đẳng vùng miền và bất bình đẳng giữa các dân tộc
1.Bất bình đẳng về thu nhập
1.1 Hệ số Gini
Hệ số Gini là thước đo phổ biến về bất bình đẳng trong thu nhập (chi tiêu) Hệ
số Gini của Viêt Nam cho thấy Việt Nam là tương đối bình đẳng so với các nước cùng trình độ phát triển hay có trình độ phát triển cao hơn Theo báo cáo HDI 2006
Trang 19http://svnckh.com.vn 19
của UNDP, hệ số Gini năm 2006 của Việt Nam là 37% trong khi hệ số đó của Trung Quốc là 44.7%, Thái Lan là 42%, Xingapo là 42.% [1, trang 79]
Tuy nhiên, hệ số Gini của Việt Nam tăng dần qua các năm, (xem Bảng 4):
Bảng 4 Hệ số Gini của Việt Nam tính theo chi tiêu
- Vùng thành thị tuy bất bình đẳng hơn nhưng mức độ bất bình đẳng ở đây hầu như không thay đổi trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Trái lại, vùng nông thôn ít
Trang 20http://svnckh.com.vn 20
bất bình đẳng hơn nhưng mức độ bất bình đẳng ở đây lại biến động khá nhiều khi
có tăng trưởng kinh tế
1.2 Khoảng cách thu nhập/ chi tiêu
Khoảng cách thu nhập giữa 20% những người giàu nhất và 20% những người nghèo nhất của Việt Nam đang ngày một nới rộng Theo Đồ thị 4, năm 1993, thu nhập của 20% nhóm người giàu nhất gấp 4.9 lần thu nhập của 20% nhóm người nghèo nhất và khoảng cách thu nhập là 1,16 triệu đồng (theo giá năm 1993) Đến năm 2004, khoảng cách thu nhập này đã được nới rộng lên 4.6 triệu (theo giá năm 1993) và thu nhập của nhóm người giàu nhất gấp 6.28 lần thu nhập của nhóm
người nghèo nhất.[12, trang 26, 27]
Đồ thị 4 Khoảng cách thu nhập tại Việt Nam
Xét về chi tiêu, các số liệu thống kê cũng cho thấy sự bất bình đẳng ngày càng lớn giữa 20% những người giàu nhất và 20% những người nghèo nhất Năm 1993, nhóm người nghèo nhất chi tiêu 8.4% tổng chi tiêu toàn xã hội; nhóm người giàu nhất chi tiêu nhiều gấp 4.9 lần (41.8% tổng chi tiêu) Đến năm 2002, con số này đã
Trang 21Bảng 5 Tỷ lệ nghèo đói theo vùng năm 2004
Tỷ lệ nghèo đói (%) Tỷ lệ dân số (%)
Trang 222.2 Tốc độ giảm nghèo theo vùng
Không chỉ chênh lệch nhau về tỷ lệ nghèo đói, các vùng, miền còn khác nhau về tốc độ giảm nghèo Đông Bắc Bộ là vùng thành công nhất về xóa đói giảm nghèo với tỷ lệ nghèo đói của vùng giảm mạnh từ 86% (vào năm 1993) xuống còn 29% vào năm 2004, tức là giảm 57% lần trong 11 năm Tây Bắc Bộ có tốc độ giảm nghèo chậm nhất, chỉ giảm 22% , từ 81% ( năm 1993) xuống 59% (năm 2004) [12,trang 34]
Các nghiên cứu của VLSS 1993- VLSS 1998 và VHLSS 2002 – VHLSS 2004 còn cho thấy sự khác biệt về địa lý có ảnh hưởng đến việc các hộ nghèo thoát nghèo và viêc các hộ cận nghèo không bị rơi vào nghèo đói hay không Các nghiên cứu cũng cho thấy “những hộ gia đình ở Đông Nam Bộ, đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long có nhiều khả năng thoát nghèo hơn là những hộ gia đình khác có những đặc điểm tương tự (như dân tộc, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng, ) nhưng sống ở phía Bắc duyên hải miền Trung, nơi mà những cơ hội thị trường có hạn hơn.” [12, trang 35]
Sự không đồng nhất về tốc độ giảm nghèo này (vùng tập trung ít người nghèo
có tốc độ và khả năng giảm nghèo cao, vùng tập trung nhiều người nghèo có tốc độ
và khả năng giảm nghèo thấp) càng làm sâu sắc hơn mức độ bất bình đẳng giữa các vùng vốn đã khác nhau về tỷ lệ nghèo đói
Trang 23http://svnckh.com.vn 23
2.3 Khoảng cách nghèo của các vùng
Mức độ trầm trọng về nghèo đói tại các vùng khác nhau khá nhiều Nhìn chung, những vùng tập trung nhiều người nghèo cũng là những vùng mà mức độ trầm trọng của đói nghèo càng sâu sắc Tình trạng nghèo đói ở Tây Bắc Bộ là trầm trọng nhất với PG=19.1% vào năm 2004, gấp gần 16 lần khoảng cách nghèo của vùng Đông Nam Bộ (1.2% vào năm 2004) Tuy vậy, khoảng cách nghèo tại tất cả các vùng đều giảm dần qua các năm có tăng trưởng kinh tế (1993 – 2004), tuy ràng tốc
độ giảm khoảng cách nghèo cũng khác nhau [12, trang 36]
2.4 Chi tiêu bình quân đầu người của các vùng
Đông Nam Bộ và đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là những vùng có chi tiêu bình quân đầu người cao nhất cả nước Tây Bắc, Tây Nguyên và phía Bắc duyên hải miền Trung luôn là những vùng có chi tiêu bình quân đầu người thấp nhất cả nước Hơn nữa, tốc độ tăng lên của chi tiêu không đồng nhất và khoảng cách chênh lệch về chỉ số này giữa các vùng ngày càng tăng trong giai đoan 1993 – 2004 Năm
1993, chênh lệch chi tiêu trung bình giữa vùng Đông Nam Bộ (vùng có chi tiêu bình quân đầu người cao nhất) và Tây Bắc (vùng có chi tiêu bình quân đầu người thấp nhất)là 845,000 đồng Năm 1998, 2002 và 2004, chỉ số này tăng dần, lần lượt
là 1,723,000 đồng, 1,802,000 đồng và 2,129,000 đồng [12, trang 37]
3 Bất bình đẳng giữa các dân tộc
3.1 Tỷ lệ nghèo đói và tốc độ giảm nghèo của các dân tộc
Người dân tộc thiểu số chỉ chiếm 12.6% dân số toàn quốc, nhưng lại chiếm đến 39.3% tổng số người nghèo toàn quốc [12, trang 38]
Trang 24http://svnckh.com.vn 24
Hơn nữa, tỷ lệ người nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số cũng luôn cao hơn tỷ lệ người nghèo trong dân tộc Kinh Tỷ lệ nghèo trung bình của nhóm dân tộc thiểu số trong giai đoạn 1993 – 2004 là 72.75%, trong khi đó, con số này ở dân tộc Kinh là 30.5% Tốc độ giảm nghèo của dân tộc thiểu số cũng thấp hơn nhiều so với dân tộc Kinh Trong 11 năm (1993 – 2004), tỷ lệ nghèo trong dân tộc Kinh đã giảm 40% trong khi tỷ lệ nghèo trong dân tộc thiểu số mới giảm được 25% Điều này càng làm sâu sắc hơn mức độ bất bình đẳng giữa các dân tộc
3.2 Khoảng cách nghèo của các dân tộc
Độ sâu của nghèo đói luôn trầm trọng hơn tại nhóm các dân tộc thiểu số Tuy rằng khoảng cách nghèo của tất cả các dân tộc đều giảm trong bối cảnh có tăng trưởng kinh tế, nhưng chênh lệch về khoảng cách nghèo giữa các dân tộc lại tăng mạnh Năm 1993, khoảng cách nghèo của nhóm dân tộc thiểu số gấp 2.18 lần khoảng cách nghèo của dân tộc Kinh Nhưng đến năm 2004, con số này đã tăng lên thành 6.3 lần [12, trang 38]
3.3 Chi tiêu bình quân của các dân tộc
Người dân tộc thiểu số luôn có mức chi tiêu thấp hơn nhiều so với mức chi tiêu của người Kinh Không những thế, chênh lệch về chi tiêu giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số cũng ngày một lớn: Năm 1993, chi tiêu bình quân của người Kinh gấp 1.72 lần chi tiêu bình quân của người dân tộc thiểu số Đến năm 2004, sự chênh lệch này đã tăng lên thành 2.15 lần Rõ ràng, bất bình đẳng giữa các dân tộc đang ngày càng tăng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.[12,trang 41]
IV Đánh giá quá trình tăng trưởng dẫn tới giảm nghèo tại Việt Nam
Trang 25http://svnckh.com.vn 25
Mặc dù trong 20 năm từ sau Đổi mới - giai đọan có kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, tình trạng đói nghèo tuyệt đối của Việt Nam đã được cải thiện nhiều, thể hiện qua tỷ lệ đếm đầu và khoảng cách nghèo giảm liên tục qua các năm, nhưng nghèo tương đối lại ngày một tăng do bất bình đẳng không giảm mà thậm chí còn ngày một tăng.Như vậy, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chưa thể được đánh giá là tăng trưởng giảm nghèo
Tóm tắt cuối chương 2
Trong giai đoan 1986 – 2006, kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh, thể hiện ở GDP, tốc độ tăng GDP và GDP bình quân đầu người liên tục tăng qua các năm Điều này đã góp phần thúc đẩy và tạo nên thành quả to lớn của công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn tương ứng, thể hiện qua chỉ số HCR và
PG giảm mạnh trong giai đoạn có tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo còn chưa bền vững Cùng với sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh và mạnh, tình trạng bất bình đẳng tại Việt Nam cũng trở nên ngày càng nghiêm trọng và nghèo tương đối ngày càng gia tăng
Tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoan 1986 – 2006, chính vì thế, chưa thể được đánh giá là tăng trưởng giảm nghèo
Trang 26http://svnckh.com.vn 26
Chương 3
CÁC YẾU TỐ HẠN CHẾ TĂNG TRƯỞNG HƯỚNG TỚI GIẢM NGHÈO
TẠI VIỆT NAM
Nối tiếp chương 2, chương 3 tập trung nghiên cứu những nguyên nhân nào khiến cho tăng trưởng tại Việt Nam trong giai đoan 1986 – 2006 chưa phải là tăng trưởng giảm nghèo; để từ đó, đưa ra được các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng giảm nghèo tại Việt Nam trong chương 4
I Bất bình đẳng về điều kiện kinh tế ban đầu
Tình trạng chêch lệch giàu nghèo và bất bình đẳng ngày một sâu sắc tại Việt Nam không phải là do người nghèo ngày càng nghèo đi và người giàu ngày càng giàu lên mà là do người giàu giàu lên với tốc độ nhanh hơn người nghèo, thu nhập
Trang 27http://svnckh.com.vn 27
của người Kinh và cư dân thành thị tăng lên nhanh hơn so với thu nhập của người dân tộc thiểu số và cư dân nông thôn, miền núi Một trong những nguyên nhân của vấn đề tốc độ tăng trưởng không đồng đều này là sự khác biệt về điều kiện kinh tế,
tự nhiên – xã hội ban đầu của các nhóm dân cư khác nhau:
Người giàu và người nghèo: Xuất phát điểm của người giàu và người nghèo có
sự khác biệt lớn Người giàu có thu nhập cao, có vốn lớn nên có khả năng tích lũy cao Tích lũy nhiều dẫn đến có khả năng đầu tư nhiều và năng suất lao động tăng Năng suất lao động tăng lại giúp họ có khả năng nâng cao thu nhập vốn dĩ đã cao của mình (xem Hình 1)
Hình 1 Vòng tăng trưởng thu nhập của người giàu:
Trái lại, người nghèo lại bị rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo và không thể tự mình thoát ra đươc khỏi ngưỡng thu nhập thấp:
Hình 2 Vòng luẩn quẩn đói nghèo
Thu nhập cao
Tích lũy nhiều
Đầu tư nhiều
Năng suất cao
Trang 28http://svnckh.com.vn 28
Như vậy, thu nhập của người giàu và người nghèo thay đổi với tốc độ khác nhau rõ rệt, thậm chí còn phần nào trái ngược nhau Đó là hệ quả tất yếu của đặc điểm kinh tế ban đầu khác nhau giữa người giàu và người nghèo Chính sự bất bình đẳng ban đầu này đã làm cho thu nhập của người giàu ngày càng tăng nhanh so với thu nhập của người nghèo, đồng thời kìm hãm người nghèo trong vòng luẩn quẩn thu nhập thấp, ngày càng nới rộng hơn khoảng cách giàu-nghèo
Người Kinh và người dân tộc thiểu số; Vùng thành thị và vùng nông thôn miền núi : Giữa những nhóm dân tộc và các vùng khác khau này cũng có những
bất bình đẳng về đặc điểm kinh tế ban đầu giống như vấn đề bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo đã trình bày ở trên Xuất phát điểm thấp của người dân tộc thiểu số và của dân cư nông thôn, miền núi (thu nhập ban đầu thấp) đã hạn chế khả năng tăng trưởng của họ, giống như vòng luẩn quẩn đói nghèo mà người nghèo rơi vào Trong khi đó, xuất phát điểm cao hơn của người Kinh và cư dân thành thị tạo điều kiện cho họ tăng thu nhập và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giống như vòng tăng trưởng thu nhập của người giàu Kết quả là, tốc độ tăng trưởng kinh tế của dân
cư không đồng nhất, và người dân tộc và dân cư nông thôn, miền núi nghèo bị nghèo đi tương đối trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng
II Bất bình đẳng về phân phối thu nhập và phân bổ nguồn vốn
1 Phân phối thu nhập không bình đẳng
Thu nhập thấp
Tích lũy ít
Đầu tư ít
Năng suất thấp
Trang 29http://svnckh.com.vn 29
1.1 Phân phối thu nhập theo nguyên tắc công bằng
Trước đây, thời bao cấp, Việt Nam theo đuổi mục tiêu bình đẳng, những gì mọi người dân được hưởng đều giống như nhau Nhưng hiện nay, Việt Nam theo đuổi mục tiêu công bằng, theo đó, mỗi người và mọi người nhận được mức thu nhập (hay hưởng thành quả kinh tế) xứng đáng với khả năng, nỗ lực, trình độ và sự sẵn sàng chịu rủi ro của mình Chính cách thức phân phối thu nhập này đã ngày càng nới rộng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm người trong xã hội: Người giàu, người Kinh và cư dân thành thị có vốn, có khả năng đầu tư nhiều, trình độ kỹ thuật cao và sẵn sàng chịu rủi ro Chính vì vây, họ có được thu nhập cao hơn, xứng đáng với khả năng của mình Ngược lại, người nghèo, người dân tộc thiểu số và cư dân miền núi, nông thôn có ít vốn, không có khả năng đầu tư nhiều, trình độ kỹ thuật thấp và không sẵn sàng chịu rủi ro Do đó, họ có được thu nhập thấp
Như vây, bản thân việc từ bỏ chế độ bao cấp, chuyển sang lựa chọn cách thức phân phối thu nhập theo nguyên tắc công bằng của Việt Nam đã hàm chứa sự chấp nhận một sự tăng lên nhất định của mức độ bất bình đẳng
1.2 Phân phối lại không hiệu quả trong việc giảm bất bình đẳng
Có hai cách thức được sử dụng để phân phối lại thu nhập nhằm đạt mục tiêu giảm bất bình đẳng, đó là:
- Phân phối lại thu nhập giữa các nhóm dân cư thông qua thuế, trợ cấp, chi tiêu công của chính phủ và an sinh xã hội nhằm nâng cao thu nhập cho người nghèo
- Phân phối lại tài sản
Tuy vậy, hai cách thức phân phối lại này đều chưa thực sự hiệu quả trong việc giảm bất bình đẳng tại Việt Nam
1.2.1 Phân phối lại thu nhập không hiệu quả trong việc giảm bất bình đẳng
Trang 30- Bảo hiểm sức khỏe đã đến được với nhiều người nghèo hơn Số người nghèo được huởng bảo hiểm sức khỏe tăng mạnh từ năm 1998 đến 2004 [12, trang 52] Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, việc phân phối lại thu nhập còn có nhiều mặt chưa đạt được mục tiêu “vì người nghèo”, trong đó nổi bật là 2 vấn đề:
- An sinh xã hội: Báo cáo của Liên hiệp quốc, “An sinh xã hội của Việt Nam
lũy tiến đến mức nào”, được công bố vào ngày 22/8/2007, đã cho thấy sự kém hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam trong cố gắng nâng cao thu nhập cho người nghèo Người nghèo Việt Nam là đối tượng được hưởng lợi ít nhất từ an sinh
xã hội Trong khi nhóm 20% những người giàu nhất nhận được 40% lợi ích từ an sinh xã hội, người nghèo Việt Nam chỉ nhận được chưa đến 7% Ngoài ra, người Kinh, người ở thành thị cũng nhận được nhiều trợ cấp hơn là người dân tộc thiểu số
và cư dân nông thôn “Nhóm giàu nhất nhận được 47% lương hưu, còn nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 2% Nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ giúp y tế, còn nhóm nghèo nhất chỉ 7% Tỷ lệ nhận trợ giúp giáo dục của nhóm giàu nhất và nghèo nhất tương ứng là 35% và 15%.” [13]
Sự thiếu hiệu quả của bảo hiểm y tế là một biểu hiện cụ thể của tình trạng an sinh xã hội đang lũy thoái của Việt Nam Hiện nay, Quỹ bảo hiểm y tế không phải
do tỉnh quản lý, nên nếu không sử dụng hết thì sẽ được chuyển tới những tỉnh bị thâm hụt quỹ Ở nhiều vùng nghèo, người dân bị bệnh nặng không thể sử dụng quỹ
Trang 31http://svnckh.com.vn 31
bảo hiểm y tế để chữa trị tại địa phương mình do tại đây thiếu trang thiết bị và kỹ thuật y tế Quỹ bảo hiểm y tế tại các địa phương này vì thế mà thường dư thừa và được chuyển về những vùng thành thị - nơi thường xuyên thâm hụt quỹ bảo hiểm y
tế do người bệnh từ các tỉnh chuyển về Trong khi đó, người dân nghèo tại các địa phương nghèo lại không có tiền để di chuyển lên các bệnh viên tuyến trên để chữa trị Tình trạng này gây nên bất bình đẳng về hưởng thụ quyền lợi được bảo hiểm y
tế, và người nghèo tại các địa phương nghèo là người chịu thiệt nhiều nhất.[14]
- Trợ cấp: Trợ cấp của Nhà nước để khuyến khích sản xuất nông nghiệp cũng
không mấy hiệu quả trong việc giúp nông dân nâng cao năng suất Chỉ có 8.1% xã
có năng suất cây lương thực, thực phẩp và cây hàng năm vào năm 2003 tăng so với năm 1998 do tác động của trợ cấp từ Nhà nước [17, trang 252] Đây là một tỷ lệ tăng rất thấp so với những hoạt động khác nhằm cải thiện đời sống của nông dân
1.2.2 Phân phối lại tài sản không hiệu quả trong việc giảm bất bình đẳng
Đa số người nghèo Việt Nam là nông dân Chính vì vây, để phân phối lại tài sản theo hướng nâng cao thu nhập cho người nghèo thì cần phải tiến hành phân phối lại tài sản cho người nông dân, làm cho người dân nghèo có nhiều tài sản hơn để mở rộng sản xuất, mà trước hết là phân phối đất đai – yếu tố quan trọng trước nhất của sản xuất nông nghiệp - theo nguyên tắc gắn tăng trưởng với tăng thu nhập cho người nông dân với một tỷ lệ tương ứng Tuy nhiên, thực trạng phân phối tài sản đất tại Việt Nam trong những năm gần đây đã tác động tiêu cực đến thu nhập của người nông dân nghèo
Diện tích đất dành cho nông nghiệp vốn dĩ đã quá chật hẹp của Việt Nam (từ 0.7 đến 0.8ha/hộ nông thôn, 0.3ha/lao động và 0.15ha/nhân khẩu) [21], nay đang bị thu hẹp với tốc độ chóng mặt do phải chuyển đổi thành đất đô thị hoặc đất xây dựng khu công nghiệp Diện tích đất trồng lúa đang bị giảm mạnh, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Hồng Trong giai đoạn 2002-2007, mỗi năm vùng này mất 7,500ha đất, tương đương 0.67% [21]
Trang 32http://svnckh.com.vn 32
Diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh dẫn đến tình trạng nông dân mất đất, mất việc làm do không có nghề nghiệp thay thế, bắt nguồn từ không được đào tạo chuyên môn gì Tiền đền bù đất nông nghiệp quá thấp, thậm chí không đủ cho người dân có thể duy trì mức sống như cũ Chẳng hạn như giá đền bù 1000m2
đất ở
ấp 3, xã Long Hậu, Long An là 35 triệu đồng Một người nông dân có khoảng 4000m2 được đền bù 140 triệu đồng Số tiênc này cũng chỉ để chị có thể mua một nền nhà tái định cư, rồi sau đó cùng không biết sống bằng gì do không được đào tạo chuyên môn [10, trang 10]
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là nguyên nhân lớn thứ 3 (sau thời tiết và sâu bệnh) dẫn đến sự suy giảm năng suất sản xuất cây lương thực, thực phẩm và cây hàng năm của cả nước vào năm 2003 so với năm 1998.Hậu quả của việc chuyển đổi đất nông nghiệp đặc biệt nghiêm trọng tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đến 51% số xã bị giảm năng suất do đất nông nghiệp bị chuyển đổi [17, trang 255]
Có thể nói, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thành đất công nghiệp và đất đô thị ồ ạt như hiện nay là một cuộc tái phân bổ ruộng đất, khi
mà đất đai bị chuyển từ tay nông dân nghèo sang những người có tiền, những nhà đầu cơ đất.Trong cuộc tái phân bổ tài sản đó, nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo
là những người chịu thiệt nhiều nhất; bất bình đẳng tiếp tục tăng là điều không tránh khỏi
2 Phân bổ nguồn vốn không bình đẳng
Trang 33http://svnckh.com.vn 33
nhân hầu như không được đầu tư vào nơi có điều kiện khó khăn đối với việc phát triển kinh tế như vùng sâu vùng xa, nông thôn miền núi hay vùng tập trung các dân tộc ít người Vốn tư nhân trong nước và nước ngoài chảy về những vùng thuận lợi cho phát triển kinh tế, thu được lợi nhuận cao, đó là vùng thành thị, đồng bằng Trong giai đoạn 1986 – 2006, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng, vốn đã là những vùng phát triển nhất Việt Nam, nhận đựợc nhiều vốn FDI nhất, chiếm tới 77.5% tổng số vốn FDI vào Viêt Nam Dầu khí và 6 vùng còn lại, những vùng kém phát triển nhất, chia nhau 22.5% tổng số vốn FDI còn lại [20] Bất bình đẳng vùng, miền vì thế mà càng thêm trầm trọng do bất bình đẳng về yếu tố quan trọng tạo nên tăng trưởng – vốn
2.2 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA được phân bổ không bình
đẳng
Vốn ODA được phân bổ về các địa phương không đồng đều Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng là những vùng nhận được nhiều vốn ODA nhất, chiếm tới 66.8% tổng lượng vốn ODA của Việt Nam trong giai đoạn 1993 – 2007 [18] Tương tự như đối với vốn FDI, việc phân bổ ODA như vậy cũng không thúc đẩy quá trình giảm bất bình đẳng
2.3 Vốn Nhà nước được sử dụng không hiệu quả trong việc giảm bất
bình đẳng
Một trong những mục đích của chi tiêu công của Nhà nước là để hạn chế bất bình đẳng và những ảnh hưởng tiêu cực của tăng trưởng đối với sự phát triển bền vững của xã hội, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người nghèo Nhưng tại Việt Nam, nguồn vốn Nhà nước đã và đang được phân bổ và sử dụng một cách không hiệu quả trong việc giảm bất bình đẳng và giảm nghèo, thể hiện ở hai khía cạnh sau: Thứ nhất, nguồn vốn Nhà nước có hạn, chỉ nên được sử dụng để đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng đầu tư, chẳng hạn như
Trang 34http://svnckh.com.vn 34
xây dựng cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm, …Tuy nhiên, cho tới nay, vốn Nhà nước vẫn được đầu tư vào các lĩnh vực, dự án có khả năng mang lại lợi nhuận cao và có thể dễ dàng huy động nguồn vốn từ tư nhân, điển hình như Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) Điều này là đi ngược lại nguyên tắc và mục đích cơ bản của việc sử dụng vốn Nhà nước
Thứ hai, vốn Nhà nước dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo còn thiếu và chưa hiệu quả Dưới đây là 3 trong số các dẫn chứng cho điều này:
- Cách thức phân bổ ngân sách Nhà nước chưa hiệu quả Nguồn vốn Trung ương được phân bổ đều về các địa phương, không phân biệt tỷ lệ nghèo đói, hoặc số hộ nghèo của mỗi địa phương [16, trang 28] Cách phân bổ theo kiểu bao cấp này rất không hợp lý và hiệu quả bởi lẽ các địa phương có tình trạng nghèo đói khác nhau lại nhận được mức ngân sách như nhau, và nguồn vốn không được chảy về nơi cần vốn nhất, giảm hiệu quả của công tác giảm nghèo
- Chất lượng của những công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn từ chương trình 135 còn thấp do ít vốn đầu tư Hơn nữa, không hề có nguồn vốn nào của Nhà nước được rót về để dành cho công tách bảo dưỡng các công trình xây dựng , chính vì vậy người dân phải đóng tiền bảo dưỡng các công trình, đặc biệt là đường giao thông do Nhà nước xây dựng [16, trang 29] Người dân nghèo, vì vậy, cũng phải trả một khoản tiền khá lớn đối với họ để có thể đựợc hưởng lợi từ chương trình 135
- Quỹ hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo của Bộ Y Tế còn rất khiêm tốn, chỉ là 70,000đồng/người/năm.[16, trang 32] Số tiền này là quá nhỏ bé, không thể đem đến cho người nghèo một sự hỗ trợ thực sự có ý nghĩa Không những thế, ở nhiều địa phương, việc tiến hành khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo sử dụng mức hỗ trợ 70,000đồng này còn được tiến hành