1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi

118 714 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của các ngư dân trên tàu khai thác hải sản đối với vấn đề an toàn thực phẩm hải sản.. Đánh giá kiến thức kỹ năng, thái độ về vấn đề an toàn thực phẩm của ngư dân trên tàu khai th

Trang 1

ĐỖ THỊ BÍCH NHUNG

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG VÀ THÁI ĐỘ VỀ

AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA NGƯ DÂN TẠI VẠN NINH

BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT BẰNG CÂU HỎI

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN

GVHD : TS NGUYỄN THUẦN ANH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

-o0o -

Nha Trang, năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN i

MỤC LỤC ii

CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC HẢI SẢN TẠI KHÁNH HÒA 3

1.1.1 Năng lực khai thác và năng lực tàu thuyền 3

1.1.2 Sản lượng khai thác: 10

1.1.3 Tình hình hoạt động của các tàu khai thác hải sản tại cảng cá Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh 12

1.2 TÌNH HÌNH ATTP HẢI SẢN 16

1.2.1 Tình hình an toàn thực phẩm trong nước 16

1.2.1.1.Tình hình an toàn thực phẩm hải sản tiêu thụ nội địa 18

1.2.1.2.Tình hình an toàn thực phẩm hải sản xuất khẩu 20

1.3 CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM HẢI SẢN AN TOÀN 24

1.3.1 Tình hình hoạt động của chuỗi cung ứng hải sản tại huyện Vạn Ninh 24

1.3.2 Vai trò của các ngư dân trên tàu khai thác hải sản đối với vấn đề an toàn thực phẩm hải sản 26

1.4 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT DÙNG BẢNG CÂU HỎI 27

1.4.1 Phỏng vấn cá nhân (PAPI/CAPI) 27

1.4.2 Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI) 28

1.4.3 Các cuộc điều tra qua thư 30

1.4.4 Phỏng vấn trực tiếp bằng máy vi tính (CASI/CAWI) 30

1.4.5 Các cuộc điều tra qua điện tử 31

1.4.6 Các cuộc điều tra qua Imternet/mạng nội bộ (các trang Web) 32

1.5 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ CƠ BẢN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG 33

1.5.1 Lý thuyết cơ bản về công cụ quản lý chất lượng 33

1.5.2 Quản lý chất lượng bằng biểu đồ nhân quả (Cause & Effect Diagram) 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 39

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

Trang 4

2.2.1 Đánh giá điều kiện ATTP của tàu khai thác hải sản 40

2.2.1.1 Phương pháp nghiên cứu đánh giá 40

2.2.1.2 Lấy mẫu 40

2.2.2 Đánh giá kiến thức kỹ năng, thái độ về vấn đề an toàn thực phẩm của ngư dân trên tàu khai thác hải sản 41

2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu đánh giá 41

2.2.2.2 Lấy mẫu 42

2.2.2.3 Thiết kế bảng câu hỏi 43

2.2.3 Xác định các nguyên nhân từ ngư dân khai hải sản tại Vạn Ninh ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hải sản sau thu hoạch 45

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUVÀ THẢO LUẬN 46

3.1 Kết quả điều tra về các thông tin cá nhân của các ngư dân trên tàu khai thác hải sản 47

3.2 Kết quả điều tra các thông tin liên quan đến yêu cầu, quy định sức khỏe của ngư dân trên tàu khai thác hải sản 50

3.3 Kết quả điều tra các thông tin kiến thức an toàn thực phẩm của các ngư dân trên tàu khai thác hải sản 53

3.4 Kết quả điều tra các thông tin về kỹ năng thực hành vệ sinh của các ngư dân trên tàu khai thác hải sản 59

3.5 Kết quả điều tra các thông tin về thái độ của các ngư dân đối với vấn đề an toàn thực phẩm 68

3.6 Bảng kết quả đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm ở các tàu cá tại Vạn Ninh 72

3.7 Kết quả xác định các nguyên nhân từ ngư dân khai thác hải sản tại Vạn Ninh ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hải sản sau thu hoạch 77

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 83

1 KẾT LUẬN 84

2 ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 5

FDA Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ

KT&BVNL Khai thác và bảo vệ nguồn lợi

VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số lượng tàu thuyền hoạt động đánh bắt xa bờ 3

Bảng 1.2 Năng lực tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề năm 2013 4

Bảng 1.3 Đặc điểm của từng loại hình khai thác 5

Bảng 1.4 Sản lượng khai thác và kim ngạch xuất khẩu hải sản tỉnh Khánh Hòa 11

Bảng 1.5 Số lượng tàu thuyền tại huyện Vạn Ninh 14

Bảng 1.6 Năng lực tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề năm 2013 tại huyện Vạn Ninh 15

Bảng 2.1 Số lượng tàu khai thác hải sản chia theo công suất tại Vạn Ninh 40

Bảng 2.2 Bảng kết quả kích thước mẫu cần điều tra 41

Bảng 3.1 Bảng kết quả đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm ở các tàu cá tại Vạn Ninh 72

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Biến động sản lượng khai thác Khánh Hòa năm 2007- 2012 11

Hình 1.2 Sơ đồ ban quản lý cảng cá Đại Lãnh 13

Hình 1.3 Sơ đồ chuỗi cung ứng hải sản tại huyện Vạn Ninh 24

Hình 2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu của đề tài 39

Hình 3.1 Kết quả điều tra về tỷ lệ giới tính của ngư dân trên tàu khai thác hải sản 47

Hình 3.2 Kết quả điều tra độ tuổi của ngư dân trên tàu khai thác hải sản 47

Hình 3.3 Kết quả điều tra thời gian làm việc của ngư dân trên tàu khai thác hải sản 48

Hình 3.4 Kết quả điều tra hình thức làm việc của ngư dân trên tàu khai thác hải sản.49 Hình 3.5 Kết quả điều tra trình độ văn hóa của ngư dân trên tàu khai thác hải sản 49

Hình 3.6 Kết quả điều tra các ngư dân có được khuyến khích báo cáo cho người quản lý khi bị bệnh 50

Hình 3.7 Kết quả điều tra các ngư dân có tiếp xúc với hải sản khi có các triệu chứng tiêu chảy hoặc ói mửa 51

Hình 3.8 Kết quả điều tra về các ngư dân có tiếp xúc với hải sản khi bị đứt tay, bị bệnh ngoài da, mụn nhọt hoặc vết bỏng bị nhiễm có mủ trên tay và cổ tay 52 Hình 3.9 Kết quả điều tra về hải sản được bảo quản bằng đá, thì vi sinh vật trong hải sản phát triển 53

Hình 3.10 Kết quả điều tra về kiến thức của các ngư dân về việc rửa tay khi nào để giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật đối với nguyên liệu hải sản 55

Hình 3.11 Kết quả điều tra các ngư dân làm gì khi bị bệnh ngoài da 56

Hình 3.12 Kết quả điều tra về việc kiểm tra nhiệt độ các nguyên liệu hải sản trong quá trình bảo quản và xử lý 58

Hình 3.13 Kết quả điều tra các ngư dân có rửa tay trước khi tiếp xúc với nguyên liệu hải sản 59

Hình 3.14 Kết quả điều tra các ngư dân có rửa tay sau khi tiếp xúc với nguyên liệu hải sản 60

Hình 3.15 Kết quả điều tra các ngư dân có sử dụng găng tay sạch khi tiếp xúc với nguyên liệu hải sản 61

Trang 8

Hình 3.16 Kết quả điều tra các ngư dân có ăn uống, hút thuốc trong khu vực làm

việc 62 Hình 3.17 Kết quả điều tra các ngư dân có rửa tay sau khi chạm vào tai, tóc, mũi 63 Hình 3.18 Kết quả điều tra các ngư dân có rửa tay sau khi ho, hắt hơi, sử dụng khăn

giấy 1 lần 64 Hình 3.19 Kết quả điều tra các ngư dân có vệ sinh trang thiết bị dụng cụ và bề mặt

trước và sau khi sử dụng 64 Hình 3.20 Kết quả điều tra các ngư dân có vệ sinh thiết bị dụng cụ và bề mặt sau

khi tiếp xúc với các đối tượng có khả năng nhiễm bẩn 65 Hình 3.21 Kết quả điều tra các ngư dân có sử dụng quần áo bảo hộ sạch sẽ khi tiếp

xúc và phân phối nguyên liệu hải sản 66 Hình 3.22 Kết quả điều tra về các ngư dân có sử dụng chất tẩy rửa, chất khử trùng

để rửa rổ và dụng cụ chứa đựng 67 Hình 3.23 Kết quả điều tra về trách nhiệm của các ngư dân trong việc xử lý thực

phẩm an toàn 68 Hình 3.24 Kết quả điều tra các ngư dân nghĩ như thế nào về việc cần trang bị nhiều

hơn về kiến thức an toàn thực phẩm 69 Hình 3.25 Kết quả điều tra các ngư dân nghĩ như thế nào về việc rửa các dụng cụ

chứa đựng và trang thiết bị gần nơi có nguyên liệu hải sản 70 Hình 3.26 Sơ đồ khung xương cá xác định các nguyên nhân chính từ ngư dân ảnh

hưởng đến chất lượng của hải sản sau khi thu hoạch trên tàu khai thác hải sản tại Vạn Ninh 77 Hình 3.27 Sơ đồ khung xương cá xác định chi tiết các nguyên nhân từ ngư dân khai thác hải

sản tại Vạn Ninh ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hải sản sau thu hoạch 78

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Hải sản là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và cũng là nguồn thực phẩm quan trọng cung cấp protein trong các khẩu phần ăn trên khắp thế giới, đặc biệt

là ở các vùng ven biển, nhưng hải sản lại tiềm ẩn các mối nguy gây mất an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng Hiện nay, thực phẩm hải sản kém chất lượng chưa được kiểm soát tốt vẫn được lưu thông trên thị trường, vì thế mà các vụ ngộ độc hải sản xảy

Được sự phân công của khoa Công Nghệ Thực Phẩm, tôi thực hiện đề tài nhằm:

“ Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại

Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi ”,

Các nội dung thực hiện trong đề tài:

- Đánh giá điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm ở các tàu cá tại Vạn Ninh

- Đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ về ATTP của ngư dân trên tàu khai thác hải sản

- Xác định các nguyên nhân từ ngư dân khai thác hải sản tại Vạn Ninh ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hải sản sau thu hoạch

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Trang 11

1.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC HẢI SẢN TẠI KHÁNH HÒA

1.1.1 Năng lực khai thác và năng lực tàu thuyền

Toàn tỉnh hiện có 5 cảng cá và có nhiều doanh nghiệp tham gia chế biến xuất khẩu hải sản Với lợi thế này, Khánh Hòa được đánh giá là có nhiều thuận lợi để phát triển nghề khai thác hải sản (KTTS) Trong những năm qua, Khánh Hòa là một tỉnh có năng lực nghề khai thác đứng trong nhóm 5 tỉnh có nghề khai thác thủy sản phát triển mạnh trong cả nước.Tuy nhiên, nghề KTTS ở Khánh Hòa vẫn gặp không ít khó khăn

do chi phí đầu vào quá cao, nguồn lợi ven bờ có dấu hiệu cạn kiệt, cùng với đó là sự cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác có nhiều lợi thế hơn

Bảng 1.1 Số lượng tàu thuyền hoạt động đánh bắt xa bờ

Những năm gần đây, lĩnh vực KTTS đã có biến chuyển mạnh mẽ trong việc nâng cao năng lực đánh bắt, mở rộng quy mô sản xuất và chuyển dịch theo hướng cơ giới hóa Bên cạnh tăng cường khai thác ở vùng biển xa bờ, đẩy mạnh thăm dò tiềm năng ngư trường, đội tàu cá Khánh Hòa bước đầu đã ứng dụng công nghệ khai thác tiên tiến nhằm vào các đối tượng có giá trị cao và các đối tượng xuất khẩu như cá hố,

cá nhám, cá ngừ đại dương… Tuy nhiên, những số liệu trên cũng cho thấy, tàu cá trên địa bàn Khánh Hòa chủ yếu công suất nhỏ; có tới hơn 80% phương tiện không đủ điều kiện đánh bắt xa bờ Vì vậy, không tránh khỏi tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi

Trang 12

ven bờ Bên cạnh đó, do không được quản lý chặt chẽ, tình trạng đánh bắt theo hướng hủy diệt bằng các nghề cấm như giã cào, chất nổ, xung điện… càng làm tăng nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi ven bờ Ngoài ra, do sự phát triển của cảng biển, du lịch cùng nhiều công cụ đánh bắt đón đầu các đàn cá di cư nên sản lượng đánh bắt giảm hơn nhiều so với những năm trước đây

Dựa theo bảng 1.2 bên dưới, ta có thể thấy nghề cá tỉnh Khánh Hòa vẫn đang đứng trước những thử thách lớn do số lượng phương tiện không đủ điều kiện đánh bắt

xa bờ ( dưới 20CV) là 5.532 chiếc chiếm 56,4 % Vì vậy, sẽ không tránh khỏi tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi ven bờ

Bảng 1.2 Năng lực tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề năm 2013

∑ số tàu thuyền trong tỉnh ∑= 9804 chiếc

( Nguồn: Chi cục KT& BVNL thủy sản Khánh Hòa, năm 2003)

Trang 13

Cơ cấu khai thác hải sản của tỉnh Khánh Hòa gồm nhiều loại hình khai thác khác nhau được thể hiện qua bảng 1.3

Bảng 1.3 Đặc điểm của từng loại hình khai thác

Phương tiện Đặc

điểm

Loại

Phân loại

Loại cá Ngư trường Số

lượng (người)

Đặc điểm lưới/lưỡi

câu

Thời gian

Câu khơi (tiến hành khi trời bắt đầu tối)

Tàu công suất ≤ 155CV, kết cấu vững chãi đủ cho chuyến biển

có khi kéo dài tới 2 - 3 tuần

Cá nhám, cá mập, cá ngừ đại dương, mực ống…

Ngư trường hoạt động của nghề câu khơi phần lớn là vùng biển khơi, có khi cách xa bờ hàng trăm hải lý

7-8 - Dây câu chính,

chiều dài có khi hàng chục cây số, dọc trên chiều dài là các thẻo câu có gắn lưỡi câu, chiều dài thẻo câu có thể thay đổi tùy theo độ sâu tầng nước cá di chuyển

Mồi câu là các loại

cá nhỏ như cá chuồn, cá nục được móc vào lưỡi câu Câu

Câu mực (tiến hành vào ban

Tàu câu mực thường chở theo 15 - 20 chiếc thuyền

Có các giỏ đựng lưỡi câu, dây câu đặt trước boong tàu, thường có 2 cánh làm bằng gỗ ở hai bên hông tàu.( phụ lục 4.3)

Các loại mực ống kích thước lớn, sinh sống ở

Ngư trường khơi cách

bờ từ hàng chục đến

Từ tháng

1 đến tháng 7

âm lịch

Trang 14

đêm) thúng và đèn

(thả trôi quanh thúng thu hút mực)

vùng biển khơi

hàng trăm hải lý tùy theo mùa

Cá tầng nổi như cá ngừ,

cá thu, cá nục lớn

- Từ vùng ven biển đến vùng khơi

Chủ yếu hải phận Khánh Hòa

- Ninh Thuận, vùng biển Đông - Tây Nam bộ

5-6 - Lưới được làm

bằng sợi tổng hợp (ni lông)

- Mắt lưới:

+Nghề cản bờ: cỡ 50mm;

+Nghề cản khơi: cỡ 30mm

- Chiều dài hàng chục mét

- Chiều rộng: 15 - 20m

tháng 1 đến tháng

5 hàng năm

Giã cá/

giã cào đôi

Tàu : >90CV (phụ lục 4.1)

Tàu thường có kí hiệu chữ A

Cá mối, cá phèn, cá mú,

cá đù, cá hố,

cá trác, cá liệt, …

Đáy biển tương đối bằng

phẳng, độ sâu thường

tháng 1 đến tháng

5 hàng năm

Giã

Trang 15

giã cào đơn

sắt, mực nang

tôm thì thường đánh bắt gần bờ: 10-20m

miệng lưới được gắn vào một khung sắt có thể cào sát đáy biển

đến tháng

4 năm sau

Giã cào bay/ lưới quyét

Tàu: 90 -

400

Tàu thường có kí hiệu chữ A

Tất cả các loại hải sản

Từ gần bờ cho đến xa

bờ

14-15 Bộ lưới của giã cào

bay có chiều rộng 1,5-2 hải lý, chiều dài thì tít tắp Phía dưới đáy được gắn những dây xích sắt

to đùng đủ sức kéo

cả giàn dưới quét sát xuống đáy biển,

có thể lủi xuống tận lớp bùn để cào sạch những con ốc, con ghẹ đang giấu mình dưới đó

Quanh năm

(8m - 9m) chèo bằng mái giầm

Dọc theo bờ biển Các loại cá

nhỏ gần bờ như cá liệt, cá cơm, cá suốt,

cá đục, cá ong, cá móm,

Tháng 3 đến tháng

9

Trang 16

giò…đều được kéo lên

(30CV)

Dài: 12-14m Rộng: 4m

Đánh bắt xa bờ Loại lớn hơn

như cá sòng,

cá ồ, cá hố, cá đổng…

Các loài cá tầng nổi hoặc tầng giữa như

cá nục, cá ngừ, cá cơm,

cá ngân

Nơi có các loài cá đi thành đàn lớn với kích thước tương đối đồng đều

và thuần loài

10-12 - Chiều dài lưới

(chu vi vòng vây đàn cá): khoảng 400m

Chiều cao: 80m - 100m, có thể đánh bắt ở vùng nước xa

bờ có hiệu quả

Mùa vụ đánh bắt chính từ tháng 2 đến tháng

5 hàng năm, lưới vây cá cơm có thể đánh bắt đến tháng 9 Mành đèn

(hoạt động vào ban đêm)

2 - 3 cái thúng chai

và chèo con để bơi

Các loại cá nhỏ ven bờ

theo cây, lá, … kết

loại cá nhỏ như cá nục,

Các rạn gần

bờ

4-5

Vàng lưới mành có hình thang, miệng lưới là đáy lớn, có buộc chì tạo sức chìm, dây giềng miệng có thể dài

Mùa chính nghề mành từ tháng 2 đến tháng

7 âm lịch,

Trang 17

(hoạt động vào ban ngày)

thành mảng hay còn gọi là gốc chà rạo

cá cơm, cá sơn, cá chỉ vàng

Mành pha xúc

sử dụng ánh sáng cực mạnh của chùm đèn pha có công suất

từ 5.000W - 10.000W

Cá cơm những đàn

cá cơm xuất hiện di chuyển theo dòng hải lưu vào sát ven bờ

3-4

Mành mùng

cùng một số xuồng nhỏ hoặc thúng chai

Ghe thuyền có công suất từ 30 -45CV, công suất ánh sáng khoảng

15.000W/phương tiện

Tất cả các loại hải sản

9 âm lịch

cá liệt,…

Đánh bắt gần bờ

2-3 Lưới cước màu

trắng

Cao: 6m;

Dài: 300 – 400m Mắt lưới: 3-4mm

Quanh năm

Trang 18

Qua bảng 3.3 cho thấy cơ cấu về các loại hình khai thác của Khánh Hòa rất đa dạng, riêng tại địa bàn huyện Vạn Ninh cơ cấu khai thác chủ yếu là giã cào, lưới rút, cản, mành và trũ

1.1.2 Sản lượng khai thác:

Khánh hòa là một trong những tỉnh trọng điểm nghề khai thác hải sản của Việt Nam Ngành khai thác hải sản luôn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới chung của tỉnh, giá trị tăng thêm của ngành hải sản chiếm 3- 4% của toàn tỉnh, kim ngạch xuất khẩu chiếm gần 60% tổng giá trị sản xuất toàn ngành của địa phương, xếp vị trí thứ 5 trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu hải sản hằng năm

Trong những năm gần đây, lĩnh vực khai thác hải sản đã có biến chuyển mạnh

mẽ trong việc nâng cao năng lực đánh bắt, mở rộng qui mô sản xuất và chuyển dịch theo hướng cơ giới hóa Bên cạnh tăng cường khai thác ở vùng biển xa bờ, đẩy mạnh thăm dò tiềm năng ngư trường, đội tàu cá Khánh Hòa bước đầu đã ứng dụng công nghệ khai thác tiên tiến nhằm vào các đối tượng có giá trị cao và các đối tượng xuất khẩu như cá hố, cá nhám, cá ngừ đại dương… Sản lượng khai thác hải sản chủ yếu gồm khai thác hải sản cá nổi và khai thác hải sản cá đáy

Khai thác hải sản cá nổi: bao gồm các loại hải sản ở ven bờ và ở vùng biển khơi với các loại như họ cá ngừ, họ cá thu, cá trích, cá đũa, cá cờ…trong đó có họ cá ngừ và

cá thu có giá trị kinh tế lại vừa chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản lượng Tập trung ở vùng biển khơi, họ cá ngừ đại dương là đối tượng khai thác cá nổi có giá trị xuất khẩu lớn và đang được khuyến khích phát triển với các nghề câu cá vàng, cá ngừ đại dương, nghề lưới rê thu ngừ

Khai thác nguồn lợi hải sản ở cá đáy chủ yếu tập trung ở ven bờ, sản lượng cá đáy vùng biến khơi không lớn nhưng có giá trị xuất khẩu cao như cá mú, cá hồng, cá lạc…Một số loài cá đáy ven bờ chủ yếu như cá đổng, cá mối, cá liệt, cá thóc,…Đây là một số loài cá được khai thác chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại địa phương và các tỉnh lân cận

Trang 19

Bảng 1.4 Sản lượng khai thác và kim ngạch xuất khẩu hải sản tỉnh Khánh Hòa

( Nguồn: Sở NN & PTNT Khánh Hòa, năm 2012)

Biến động sản lượng khai thác hải sản năm 2007- 2012

( Nguồn: Sở NN & PTNN Khánh Hòa, năm 2012)

Hình 1.1 Biến động sản lượng khai thác Khánh Hòa năm 2007- 2012

Tổng sản lượng khai thác hải sản và kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Khánh Hòa

liên tục tăng đều trong các năm qua Tính đến năm 2012, xuất khẩu hải sản Khánh Hòa

đã hoàn thành và hoàn thành xuất sắc kế hoạch, với tổng giá trị kim ngạch đạt được

trong 12 tháng lên 327 triệu USD, 63 ngàn tấn hàng xuất khẩu, tăng 3,8 % so với kế

hoạch và tăng 5,7% so với cùng kỳ Theo thống kê của chi cục Khai thác và bảo vệ

Trang 20

nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa, trong những tháng đầu năm từ tháng 1-4/2013 sản lượng khai thác là 35.000 tấn, theo ước tính trong năm 2013 sản lượng khai thác sẽ đạt là 85.000 tấn.( Nguồn: Chi cục KT và BVNL thủy sản Khánh hòa, năm 2013)

Thị trường chính của các công ty chế biến xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa trong các năm qua là EU, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Đài Loan,…Tính riêng năm 2012, nhóm 3 thị trường chủ lực là Nhật, Mỹ, Eu đều tăng mạnh cả về khối lượng lẫn giá trị Theo đó, Nhật tiêu thụ 15 ngàn tấn hải sản, trị giá 85 triệu đô Mỹ đứng thứ hai về nhập khẩu hải sản Khánh Hòa với 12 ngàn tấn, trị giá 68 triệu USD Thị trường EU đạt

10 ngàn tấn, trị giá 56 triệu đô, còn lại là các thị trường khác Mặc dù năm 2012, các doanh nghiệp hải sản vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong điều kiện kinh tế thế giới bất

ổn nhưng hải sản Khánh Hòa đã dần được khẳng định (Nguồn: Sở NN & PTNN Khánh Hòa, năm 2012)

1.1.3 Tình hình hoạt động của các tàu khai thác hải sản tại cảng cá Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh

a Khái quát chung:

Thời gian gần đây, hệ thống cảng cá trên địa bàn tỉnh đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp, nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu

Hiện nay, toàn tỉnh có 5 cảng cá chính, gồm: Hòn Rớ, Vĩnh Lương, Vĩnh Trường (Nha Trang), Đá Bạc (Cam Ranh), Đại Lãnh (Vạn Ninh) Trong số này, chỉ có cảng cá Hòn Rớ đạt tiêu chuẩn cảng cá loại 1 Các cảng còn lại đều thuộc loại 2, 3 Riêng cảng cá Vĩnh Trường hoạt động còn hạn chế nhưng đang nằm trong khu vực quy hoạch nên không thể đầu tư sửa chữa, nâng cấp Các cảng cá còn lại: Vĩnh Lương,

Đá Bạc, Đại Lãnh chưa đạt tiêu chuẩn của ngành

Theo thống kê của chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa, toàn huyện Vạn Ninh có khoảng 2856 tàu thuyền, chiếm khoảng 30% số lượng tàu thuyền trong toàn tỉnh Hầu hết các tàu thuyền ở huyện thường cập ở cảng Đại Lãnh là chủ yếu

Cảng cá Đại Lãnh do Trung tâm quản lý khai thác các công trình hải sản Khánh Hòa quản lý

Trang 21

Hệ thống ban quản lý của cảng cá Đại Lãnh gồm:

Hình 1.2 Sơ đồ ban quản lý cảng cá Đại Lãnh

Cảng cá Đại Lãnh thuộc cảng cá loại 2 nhưng đang bị quá tải, thường xuyên diễn ra tình trạng rất nhiều tàu phải xếp hàng chờ nhiều giờ liền mới cập cảng được, gây không ít khó khăn và trở ngại cho ngư dân

Kết cấu cơ sở hạ tầng của cảng cá: bến cập tàu dài 70m, kè bảo vệ bờ 193m, nhà điều hành 108m2, nhà tiếp nhận hải sản 671m2, đường trong cảng 840 m2 và sức chứa tối đa của cầu cảng hiện nay là 8 tàu thuyền, nhưng đối với mùa vụ thì có khoảng hơn 100 tàu thuyền cập cảng

Cơ sở hạ tầng của cảng cá còn yếu, không có hệ thống kho lạnh, cũng như các phương tiện phục vụ bốc dỡ hiện đại Cảng cá còn thể hiện nhiều điểm bất tiện trong quá trình hoạt động như thiếu hệ thống bậc thang để thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu lên cảng khi thủy triều xuống, không có hệ thống rãnh dẫn nước gây ứ đọng nước làm ô nhiễm môi trường

Trưởng ban quản lý

2 nhân viên thu phí

2 nhân viên bảo vệ

2 nhân viên điện nước

Trang 22

Theo số liệu thống kê về số lượng tàu thuyền ở huyện Vạn Ninh

Bảng 1.5 Số lượng tàu thuyền tại huyện Vạn Ninh

Công suất

(CV) <20 CV 20- 50 CV 50-< 90 CV 90 -<250CV 250-<400 >=400

( Nguồn: Chi cục KT và BVNL thủy sản Khánh Hòa, năm 2013)

Toàn huyện Vạn Ninh có 2856 tàu thuyền các loại, hình thức khai thác chủ yếu

là gần bờ, có một số ít tàu thuyền là khai thác xa bờ

Việc công tác quản lý tàu thuyền và con người tại cảng do trạm Biên Phòng Đại Lãnh phụ trách, có nhiệm vụ quản lý tình hình khai thác hải sản, kiểm soát các hoạt động của tàu cá theo nghị định 33/2010/ NĐ-CP, ngày 31/03/2010: Về quản lý hoạt động khai thác hải sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển, nghị định 161/2003/NĐ-CP, ngày 18/12/2003: qui chế khu vực biên giới biển Riêng vấn đề về tình hình ATTP trên các tàu thuyền khai thác do Chi cục KT và BVNL thủy sản tỉnh Khánh Hòa quản lý

Theo ước tính của Ban quản lý cảng cá Đại Lãnh, số lượng tàu cá cập cảng mỗi ngày có khoảng 15 tàu, trong đó có khoảng 10% tàu thuyền có công suất >200CV và <

30 CV, 50% tàu thuyền có công suất 30- 90 CV, 40% tàu thuyền có công suất 90- 200CV, nhưng thống kê này không ổn định và tùy thuộc vào mùa vụ khai thác

( Nguồn : Ban quản lý cảng cá Đại Lãnh)

Cơ cấu khai thác hải sản chủ yếu gồm các loại hình như: giã cào, lưới rút, lưới cản, mành, trũ,…, sản lượng khai thác mỗi ngày của các tàu thuyền tại cảng ước tính khoảng 26tấn/ngày, gồm nhiều loại như: cá ồ, cá nục, cá ngừ, cá hố, mực…

Trang 23

Bảng 1.6 Năng lực tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề năm 2013 tại huyện

b Về tình hình hoạt động:

Hiện nay, nguồn hải sản gần vùng biển ở huyện Vạn Ninh đang cạn kiệt dần Chính vì thế, trong những tháng đầu năm, nhiều tàu thuyền của ngư dân đã đi tới một

số vùng biển lân cận để khai thác như Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Bình Định…

Tại cảng Đại Lãnh, hình thức khai thác của các tàu thuyền chủ yếu là gần bờ, với nhiều loại hình khai thác khác nhau như: trũ, giã cào, lướt rút, lưới cản, mành

Tại cảng Đại Lãnh, thời gian cập cảng của các tàu thuyền không ổn định, buổi sáng thường khoảng 2h-3h sáng, buổi chiều 14h -15h Đa số các tàu thường khai thác vào các ngày tối trời, trừ các ngày trăng khoảng 12-18 âm lịch hàng tháng Riêng đối với giã cào thì có thể khai thác vào tất cả các ngày

Trang 24

Tại cảng cũng có một số tàu chuyên thu mua nguyên liệu (người dân thường gọi

là tàu cá nước) Các tàu này thường thu mua nguyên liệu từ các tàu của ngư dân vào

bán cho các chủ Nậu Vựa

Tại cảng, các tàu thuyền thường khai thác gần bờ, đi đánh bắt trong ngày nên mỗi lần đi chỉ đem khoảng 4-5 cây đá, đối với các tàu thu mua thì tàu thuyền của họ được trang bị nhiều hầm đá có khoảng 6-8 hầm, mỗi hầm chứa khoảng 100 cây đá Vì thế, chất lượng hải sản được các tàu thu mua ngoài biển có chất lượng tốt hơn so với các tàu về trực tiếp tại cảng

Còn một số tàu có công suất lớn thường là đánh bắt xa bờ, khai thác các loại hải sản có giá trị như: cá ngừ, cá thu…, nhưng số lượng tàu đánh bắt xa bờ thường cập cảng Đại Lãnh là rất ít, chúng thường cập ở những cảng lớn Hòn Rớ, thành phố Nha Trang

Tại cảng cá Đại Lãnh, hầu hết tất cả các tàu thuyền sau khi khai thác, nguyên liệu chỉ được bảo quản bằng nước đá, không sử dụng bất kì hóa chất nào Đá được ngư dân mua tại các nhà máy đá gần cảng: Tài Phát, 5 Sao, Bà Thúy… Đá được sản xuất

từ nguồn nước suối (Suối Hồ) đã qua khử trùng đạt tiêu chuẩn nước sạch Nước dùng

để muối nguyên liệu được ngư dân lấy trực tiếp từ biển, không đảm bảo chất lượng nguồn nước dùng trong bảo quản, có nguy cơ lây nhiễm vi sinh vật cao

Sau khi kết thúc 1 chuyến đi biển, các ngư dân trên tàu họ thường rửa dụng cụ, làm vệ sinh tàu thuyền bằng nước biển Đối với những tàu thuyền có sử dụng hầm đá thì khoảng 2-3 ngày sau khi hết đá trong hầm mới làm vệ sinh

1.2 TÌNH HÌNH ATTP HẢI SẢN

1.2.1 Tình hình an toàn thực phẩm trong nước

Thực phẩm là nguồn cung cấp dinh dưỡng hàng ngày cho cơ thể, giúp cơ thể khoẻ mạnh, chống lại các nguy cơ của bệnh tật đang có mặt ở khắp nơi trong môi trường; giúp người ta hoạt động và làm việc Như vậy, nếu nguồn thực phẩm không hợp vệ sinh, sức khỏe con người sẽ bị đe doạ

Do đó, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm vào việc bảo vệ sức khỏe cho chính bạn và sức khỏe của cộng đồng, hơn nữa nó còn bảo vệ an toàn cho công việc kinh doanh của bạn

Trang 25

Hiện nay, tình hình an toàn thực phẩm trong nước đang diễn ra hết sức phức tạp, đã có rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra Việc sử dụng bừa bãi các loại hóa chất cấm trong bảo quản nông hải sản, trong thức ăn chế biến… diễn ra khá phổ biến làm cho việc kiểm tra vấn đề an toàn thực phẩm trở nên rất phức tạp, khó kiểm soát

Vì lợi nhuận trước mắt, không ít tổ chức, cá nhân đã sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các loại hàng giả, hàng kém chất lượng và các loại thực phẩm mất an toàn gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, kể cả tính mạng của người tiêu dùng[17]

Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm, ở nước ta tỷ lệ ngộ độc thực phẩm (NĐTP) hiện còn ở mức cao Hàng năm, có khoảng 150 - 250 vụ NĐTP được báo cáo với từ 3.500 đến 6.500 người mắc, 37-71 người tử vong NĐTP do hóa chất, đặc biệt

là hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), một số hóa chất bảo quản thực phẩm, chiếm khoảng 25% tổng số các vụ NĐTP Tuy nhiên trong thực tế con số này có thể cao hơn nhiều do công tác điều tra, thống kê báo cáo chưa đầy đủ [3]

Giai đoạn 2006 - 2010, bình quân hàng năm có 189 vụ NĐTP với 6.633 người mắc và 52 người tử vong, số người mắc và số tử vong do NĐTP chưa thay đổi nhiều

so với giai đoạn trước Đây là một thách thức lớn với công tác phòng chống NĐTP ở nước ta Số vụ NĐTP có nguyên nhân do vi sinh vật có xu hướng giảm rõ, trong khi đó nguyên nhân ngộ độc do hóa chất có xu hướng tăng lên [2]

Bên cạnh đó cũng có nhiều vụ ngộ độc do thủy hải sản xảy ra, một số yếu tố được cho là nguyên nhân gây mất an toàn thực phẩm thủy hải sản gồm:

Do vật rắn, vật cứng: Các vật cứng, rắn nhiễm vào thủy hải sản có thể có trong quá trình khai thác, thu hoạch hoặc ngư cụ bị hư, dụng cụ thu hoạch bị vỡ hoặc gỉ sét Trong khâu vận chuyển xếp hải sản thành nhiều lớp dưới hầm tàu hoặc trên xe làm dập nát và lẫn tạp chất Mặc khác, với những hành vi gian lận thương mại người kinh doanh cố tình nhét đinh, chì, tăm tre…vào nguyên liệu thủy hải sản

Do kháng sinh và các hóa chất độc hại khác: Trong quá trình mua bán để bảo quản, hoặc sơ chế nguyên liệu hải sản không ít người kinh doanh đã sử dụng chất

Trang 26

kháng sinh, hóa chất độc hại như: Chloramphenicol, Nitrofurans, Sulfite, Ure…và nhiều chất phụ gia khác không rõ nguồn gốc, mục đích giúp sản phẩm được tươi ngon, hấp dẫn người tiêu dùng Khi thủy hải sản đã bị tẩm các chất này thì dù rửa hay nấu chín cũng không thể loại bỏ được Một số chất độc khác như Histamine có trong cá ngừ, cá thu; Tetrodotoxin trong cá nóc, bạch tuộc đốm xanh; kim loại nặng có trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ

Do vi sinh vật có trong hải sản: một số vi sinh vật có sẵn trong môi trường sống hoặc xâm nhiễm vào hải sản thông qua các dụng cụ chứa đựng, hầm bảo quản, sàn tàu, dùng nước bẩn để rửa nguyên liệu, sử dụng nước đá không an toàn vệ sinh hay bị nhiễm bẩn từ công nhân mang mầm bệnh

Việc đảm bảo an toàn thực phẩm có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng, nâng cao tuổi thọ con người mà còn quyết định uy tín, nhãn hiệu của thực phẩm nước ta trên thị trường quốc tế

1.2.1.1.Tình hình an toàn thực phẩm hải sản tiêu thụ nội địa

Ở Việt Nam, mặt hàng hải sản tươi sống được bày bán một cách rộng rãi Người dân có thể mua dễ dàng sản phẩm hải sản từ các chợ, các quầy bán cá nhỏ dọc đường, các khu chợ nhỏ tự phát hoặc mua trực tiếp tại cảng cá Tuy nhiên, việc đảm bảo vệ sinh hải sản tại các khu vực đó chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ nên mối nguy tiềm ẩn là rất lớn Ngoài ra, người dân cũng có thể mua sản phẩm hải sản đông lạnh tại các cửa hàng đại diện của các công ty chế biến hải sản và cả siêu thị Nhưng chất lượng những sản phẩm đó liệu có đáng tin cậy hay không; khi hầu như các doanh nghiệp hải sản chỉ chú trọng đến chất lượng sản phẩm hải sản xuất khẩu mà xem nhẹ thị trường nội địa

Dưới đây là những dẫn chứng cụ thể về tình hình an toàn thực phẩm hải sản trong nước những năm gần đây:

Có rất ít những nghiên cứu về an toàn thực phẩm, nhất là việc lây nhiễm vi sinh trên thực phẩm hải sản Theo nghiên cứu của Nguyễn và cộng sự (2007) đánh giá mức

độ ô nhiễm vi sinh tại các chợ cá ở Việt Nam: cụ thể nguyên nhân là do hiện tượng tái nhiễm cũng như việc xử lí không vệ sinh xảy ra nhiều tại các chợ cá Để cải thiện tình

Trang 27

hình mất vệ sinh tại các chợ cá, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người bán cá tại các chợ địa phương cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể làm thế nào để xử lý nguyên liệu hải sản hợp vệ sinh hơn Đồng thời, nghiên cứu cũng đưa ra các số liệu dẫn chứng về mẫu tôm, cua, sò, hến bán lẻ tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh bị ô nhiễm nặng bởi vi khuẩn đường ruột: 94% tìm thấy trong tôm, 18% được tìm thấy trong cua và

32% được tìm thấy trong sò, hến bị nhiễm E.coli, Salmonella và V.parahaemolyticus[9]

Theo Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Hải sản Vĩnh Long (2010), tiến hành lấy các mẫu nông hải sản để kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm tại các

cơ sở chế biến Kết quả phân tích có nhiều mẫu nhiễm vi khuẩn Salmonella, các mẫu

hải sản như cá nục, cá thu, cá bạc má, mực có nhiễm Ure và một số mẫu nhiễm Chloramphenicol, Trifluralin [10]

Theo kết quả điều tra của Chi cục quản lý chất lượng và nguồn lợi thủy sản thành phố Hồ Chí Minh thì tìm thấy hàm lượng chất cấm Trifluralin trong lô cá nước ngọt ở chợ đầu mối Bình Điền Tuy nhiên, kết quả điều tra cho rằng nguyên nhân sự việc xuất phát từ người nuôi trồng vì chất này không có trong thành phần của thức ăn

tự nhiên Có thể thấy Bình Điền là chợ cá lớn tại thành phố Hồ Chí Minh và cũng giống như các chợ đầu mối khác trên khắp cả nước thì số lượng cá nhập vào hàng ngày

là một con số lớn nên việc quản lý về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng hải sản cũng gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, cơ sở hạ tầng nói chung ở hầu hết các chợ, cũng như phương thức quản lý về vận chuyển, xử lý hải sản không đảm bảo vệ sinh

Ngoài Trifluralin thì còn các chất khác cấm sử dụng trong hải sản như: Enrofloxacin, Chloramphenicol, Nitrofuran…Hầu như, việc lây nhiễm các chất cấm trên đều xuất phát từ khâu nuôi trồng do người nuôi trồng hải sản cố tình cho vào nguồn nước hoặc vô tình sử dụng nguồn nước nhiễm bẩn

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị an toàn thực phẩm hải sản đã đưa ra kết quả kiểm tra kháng sinh trong 310 mẫu cá do Cục Quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản thực hiện Phát hiện 8 trên 310 mẫu cá tra có nhiễm Enrofloxacin và Ciprofloxacin [11]

Trang 28

Theo kết quả kiểm nghiệm của Sở Y tế Thành Phố Hồ Chí Minh (2009) phát hiện hàm lượng histamine có trong thức ăn cho công nhân do công ty Thành Công cung cấp cao gấp 9 lần tiêu chuẩn cho phép, làm hàng loạt công nhân ngộ độc Ba mẫu

cá lấy tại chợ Bình Điền thì có một mẫu có hàm lượng histamine vượt chuẩn với hàm lượng 203 ppm

Gần đây nhất, tại Hải Phòng xảy ra 4 vụ ngộ độc do so biển và bạch tuộc đốm xanh, trong đó có 1 trường hợp tử vong [12]

Qua những thống kê nêu trên, có thể nói nguyên nhân dẫn đến mất an toàn thực phẩm hải sản là rất nhiều nhưng chỉ có một vài trường hợp điển hình thường gặp như:

vi sinh vật gây bệnh có trong hải sản (V.parahaemonlyticus, Salmonella), hàm lượng

histamine vượt quá mức yêu cầu, vẫn tồn tại tình trạng sử dụng chất cấm trong nuôi trồng hải sản

1.2.1.2.Tình hình an toàn thực phẩm hải sản xuất khẩu

Thời gian qua, có rất nhiều lô sản phẩm hải sản xuất khẩu của nước ta bị các nước nhập trả về do tồn dư các loại hóa chất, kháng sinh cấm; do chứa nhiều tạp chất làm nặng như đá mạt, đinh vụn, bột sắt, chì…; đặc biệt là nhiều lô sản phẩm do vi phạm về chất lượng và an toàn thực phẩm

Từ năm 2001, nhiều lô hàng hải sản Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản và một số nước khác, phát hiện có dư lượng kháng sinh cấm trong sản phẩm hải sản nuôi tại Việt Nam như chloramphenicol, dẫn xuất nitrofuran, Chẳng hạn, năm 2006 phát hiện 80 lô hàng và năm 2007 phát hiện 213 lô hàng hải sản Việt Nam bị nhiễm kháng sinh Vì thế, tháng 5/2007, cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ đã công bố danh sách 28 nhà xuất khẩu thủy hải sản và thực phẩm Việt Nam có hơn 30 mặt hàng

vi phạm các tiêu chuẩn vi sinh, kháng sinh, tạp chất, bao bì không đạt và bị từ chối nhập khẩu Nga cũng cử một đoàn thanh tra sang Việt Nam để tìm hiểu xem liệu có nhập khẩu hàng hải sản Việt Nam nữa hay không, sau đó cũng cử đoàn thanh tra sang Việt Nam để kiểm tra định kỳ hàng năm Những động thái này cho thấy nếu ngành thủy sản nước ta không có các biện pháp kịp thời, cụ thể để quản lý chất lượng thủy

Trang 29

sản nuôi, chúng ta có thể đánh mất các thị trường truyền thống (Nhật Bản, Châu Âu) hay thị trường mới đầy tiềm năng (Nga, Hoa Kỳ, Nhật) [4],[6].

Trong tháng 7 đầu năm 2006 đã có 3 doanh nghiệp Việt Nam bị Nhật Bản yêu cầu trả lại hoặc hủy các sản phẩm vi phạm Luật an toàn thực phẩm khi xuất khẩu thủy sản sang thị trường này Phía Nhật Bản cho biết, họ đã phát hiện nhóm vi trùng đường ruột có kết quả dương tính tại các sản phẩm của Công ty TNHH Chế biến hải sản và Thực phẩm Thành Hải; phát hiện dư lượng chất chloramphenicol trong sản phẩm của Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh; phát hiện nhóm vi trùng đường ruột có kết quả dương tính trong sản phẩm của Công ty TNHH Thực phẩm Anh Đào [6]

Theo thống kê của VASEP, trong 6 tháng đầu năm 2007, nước ta đã xuất khẩu sang Nhật Bản khoảng 6.000 lô hàng hải sản, nhưng có đến 94 lô bị phát hiện dư lượng kháng sinh cấm (chiếm tỷ lệ 1,6%) Các mặt hàng bị nhiễm như: Seafoodmix (29 lô), tôm PTO (22 lô), tôm tẩm bột (11 lô), mực khô (3 lô), mực sushi (3 lô), v.v Các hóa chất, kháng sinh bị phát hiện trong hàng hải sản xuất khẩu như Chloramphenicol (CAP) có 55 lô, AOZ (17 lô), SEM (6 lô) Cơ quan chức năng của Nhật Bản đã cảnh báo 14 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nước ta có lô hàng thủy sản nhiễm chất kháng sinh cấm Ðiều này dẫn đến Nhật Bản áp dụng việc kiểm tra tất cả các lô hàng hải sản nhập khẩu từ Việt Nam[6]

Theo thống kê của Hiệp hội Chế biến thủy sản Việt Nam (VASEP) thì trong tháng 7/2007 có tổng cộng 27 lô hàng thủy sản có nguồn gốc từ Việt Nam bị từ chối cho nhập vào Mỹ vì lí do an toàn thực phẩm Trong sáu tháng đầu năm 2007 thì số lô hàng bị phía Mỹ từ chối lên tới 240 lô, đến tháng 8/2007 thì tiếp tục có 18 lô hàng thủy sản bị từ chối

Các tỉnh Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang thường có những doanh nghiệp xuất hiện trong danh sách có hàng bị nước ngoài từ chối vì lí do chất lượng, vệ sinh thực phẩm [13]

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 6 tháng đầu năm 2009, hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam chỉ bị các thị trường nhập khẩu cảnh

Trang 30

báo có 29 lô, cơ quan chuyên ngành của Bộ đã kiểm tra 22.665 lô hàng với tổng khối lượng 454.000 tấn thủy sản xuất nhập khẩu, phát hiện 1,99% sản lượng không đạt yêu cầu; đã thực hiện 2.111 lượt kiểm 30 tra điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các

cơ sở chế biến thủy sản, và có 3,7% doanh nghiệp bị xếp loại C, D (doanh nghiệp có nguy cơ cao) trong tổng số doanh nghiệp được kiểm tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, sau nhiều biện pháp nhằm quản lý chặt hoạt động mua bán và sử dụng hoá chất, kháng sinh cấm, tăng cường kiểm tra, kiểm soát đối với nguyên liệu; đồng thời sau nhiều lần ảnh hưởng tới việc xuất nhập mặt hàng này vì lý do không đảm bảo an toàn thực phẩm số DN đạt tiêu chuẩn đảm bảo ATTP đã được cải thiện rõ rệt Hiện nay, những thay đổi về chính sách kiểm soát dư lượng kháng sinh khiến nhiều nước xuất khẩu thủy sản sang các thị trường lớn như EU, Nhật, … bị từ chối hoặc chuyển trả do sản phẩm bị phát hiện chứa dư lượng cao hơn mức giới hạn mới và phải qua chế độ kiểm tra tăng cường khiến các nước phải tăng cường công tác kiểm tra hàng hóa gắt gao trước khi xuất khẩu

Theo thông tin mới nhất từ Cục quản lý chất lượng nông lâm và thủy sản thuộc

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 16/2/2012 thì cơ quản kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga cảnh báo có thể xem xét ban hành biện pháp cấm nhập xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nếu nhiễm các vi khuẩn lây bệnh, nấm men, nấm mốc…trong hải sản vẫn tái diễn Bởi vì, hiện nay đang gia tăng các lô thủy sản sản xuất khẩu vào Nga bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn gây bệnh và nấm men, nấm mốc

Trong năm 2011 và tháng đầu năm 2012, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản đã cảnh báo hàng chục lượt tôm nhập khẩu Việt Nam có dư lượng kháng sinh Enrofloxacin quá mức cho phép và hàng bị buộc tái nhập về Việt Nam, khiến hình ảnh tôm Việt Nam bị ảnh hướng xấu trên thị trường thế giới Nhiều thị trường (trong đó có Nhật Bản) có thể ngừng nhập khẩu tôm từ Việt Nam nếu tình trạng này không được cải thiện [14]

Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong tháng 4/2012, có 26 lô hàng thủy sản Việt Nam bị cảnh báo, tăng 36.8% so với 19 lô của

tháng trước đó Đồng thời, tình hình các lô hàng nhiễm Salmonella tăng mạnh tại Mỹ

Trang 31

Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) (4/2012), Việt Nam nhận 20 cảnh báo, tăng 66.6% so với 13 lô trong tháng 3 Có tới 19 lô hàng xuất hiện

Salmonella, trong đó có 7 lô vừa nhiễm Salmonella vừa có tạp chất Các lô bị nhiễm khuẩn salmonella chủ yếu là cá nục (chiếm 55%), cá cơm (chiếm 15%) tổng số lô

hàng bị cảnh báo [15]

Thông tin mới nhất từ Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), từ ngày 18/5/2012, 30% số lô tôm nhập khẩu từ Việt Nam vào thị trường Nhật Bản sẽ bị kiểm tra Ethoxyquin với mức giới hạn cho phép 0.01ppm Do trước đó,

Bộ Nông nghiệp Nhật Bản đã phát hiện trên thị trường một mẫu tôm có tồn dư Ethoxyquin với hàm lượng 0.02ppm

Bên cạnh những lô hàng bị cấm xuất khẩu cũng như nhập khẩu vào các thị trường khác do an toàn thực phẩm thủy sản thì cũng có những xí nghiệp đạt chuẩn về sản phẩm xuất khẩu an toàn Đồng thời, tình hình an toàn thực phẩm hải sản xuất khẩu cũng khả quan hơn; khi các cơ quan có chức năng và các doanh nghiệp thủy sản ra sức khắc phục, cải thiện chất lượng sản phẩm thủy sản

Theo Cục trưởng Cục Quản lý Nông lâm thủy sản (NAFIQAD) cho biết thì tình hình chất lượng thủy sản có tiến triển Trong năm tháng đầu năm 2012 thì kiểm tra tăng cường 334 lô để kiểm soát tạp chất thì chỉ có 4 lô vi phạm [16]

Ngoài ra, tại cuộc họp do Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm Thủy sản (NAFIQAD) tổ chức và sự tham dự của Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Tổng cục Thủy sản và VASEP đã đưa ra lời nhận xét của Đoàn Thanh tra Nhật Bản sau khi tiến hành thanh tra một số cơ sở nuôi và chế biến thủy sản của Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 15/9/2012 là: điều kiện an toàn vệ sinh tại các nhà máy chế biến và cơ sở nuôi thủy sản của Việt Nam tương đương với Nhật Bản

Theo thống kê của trung tâm chất lượng thủy sản 3 (NAFIQAD 3) cho biết, tình hình 6 tháng đầu năm 2013 có một số lô hàng thủy sản xuất khẩu sang các nước bị nhiễm các hóa chất, chất kháng sinh như: Cadmium, Histamin, Mercury, Chloramphenicol, Enrofloxacin Cụ thể như sau: có 4 lô hàng thủy sản của doanh nghiệp DL243 xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản bị nhiễm Chloramphenicol,

Trang 32

Enrofloxacin: lô hàng tôm sắt lột thịt ĐL, 2 lô hàng hải sản trộn đông lạnh và lô hàng tôm thẻ nhỏ tẩm bột chiên, cũng tại thị trường Nhật Bản lô hàng ruốc khô của doanh nghiệp HK98 bị nhiễm Chloramphenicol Ở thị trường Pháp, các lô hàng thủy sản như

cá ngừ đông lạnh, cá cờ gòn đông lạnh bị nhiễm histamin của các doanh nghiệp Bá Hải

(DL198) và doanh nghiệp DL 318 (Nguồn trung tâm chất lượng thủy sản 3, năm 2013)

Trong những tháng đầu năm 2013, tỉ lệ các lô hàng thủy sản xuất khẩu sang các nước có xu hướng giảm dần, đó là một tín hiệu tốt tạo tiền đề thuận lợi cho việc thâm nhập vào các thị trường lớn và góp phần tăng giá trị kinh tế cho đất nước

1.3 CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM HẢI SẢN AN TOÀN

1.3.1 Tình hình hoạt động của chuỗi cung ứng hải sản tại huyện Vạn Ninh

 SƠ ĐỒ CHUỖI CUNG ỨNG HẢI SẢN TẠI HUYỆN VẠN NINH

Hình 1.3 Sơ đồ chuỗi cung ứng hải sản tại huyện Vạn Ninh

TÀU CÁ

CẢNG CÁ

CƠ SỞ CHẾ BIẾN THỦY SẢN

NHÀ HÀNG

SIÊU THỊ

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Trang 33

Chuỗi cung ứng sản phẩm là chuỗi của các hoạt động từ khâu sản xuất, qua lưu thông (có thể qua chế biến) và đến tay người tiêu dùng cuối cùng Sản phẩm đi qua tất

cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi

về giá cả, thay đổi về giá trị dinh dưỡng và có thể có những thay đổi nhất định về giá trị vì luôn có các chi phí xảy ra trong suốt các hoạt động Chính vì vậy, các bên liên quan trong chuỗi cung ứng luôn có được các lợi ích nhất định và sự xung đột lợi ích giữa các bên liên quan là tính chất tất yếu của chuỗi cung ứng sản phẩm trong cơ chế

kinh tế thị trường

Trong chuỗi cung ứng thì mỗi thành viên của chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành viên trong chuỗi có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích đó Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau Mỗi thành viên góp thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào sự thỏa mãn của khách hàng Chuỗi cung ứng thủy sản bao gồm: người mua và người bán

Trang 34

 Người mua bao gồm:

(1) Người tiêu dùng: việc bán trực tiếp sản phẩm khai thác đến tay người tiêu dùng cuối cùng không phổ biến, thường chỉ xảy ra đối với những sản phẩm khai thác ở những thuyền gắn máy nhỏ, cập bến cá địa phương, có một phần sản phẩm được bán cho bà con trong xóm, thông thường người tiêu dùng mua nguyên liệu thủy sản tại các chợ địa phượng thông qua người bán lẻ

(2) Người bán lẻ: việc bán trực tiếp sản phẩm khai thác đến tay người bán lẻ ở các chợ địa phương cũng không phổ biến, thường chỉ xảy ra đối với những sản phẩm khai thác ở những thuyền gắn máy nhỏ, cập bến cá địa phương, có một phần sản phẩm được bán cho người mua buôn để bán lẻ ở các chợ trong huyện, xã

(3) Người bán buôn (bán sỉ): người bán buôn gồm nhiều loại có quy mô hoạt động khác nhau:

 Người bán buôn quy mô nhỏ: Có một lực lượng người bán buôn cung cấp cho những người bán lẻ và hệ thống các nhà hàng đây là người mua bán trung gian có

cơ sở kinh doanh tại các chợ nhưng quy mô không lớn, thường không có quan hệ tài chính với chủ tàu cũng như với đối tượng mua hàng của họ

 Người bán buôn là các chủ nậu vựa cấp 1: là các chủ nậu vựa quan hệ mua hàng trực tiếp với ngư dân sau đó sẽ chuyển tiếp cho các đối tượng mua hàng khác, chủ yếu là chuyển hàng cho các chủ nậu vựa cấp 2 (trong hoặc ngoài tỉnh), nhà máy chế biến

(4) Cơ sở chế biến: thông thường các cơ sở chế biến cũng cử người về tận các cảng, bến cá để mua nguyên liệu trực tiếp của chủ tàu để hạ giá thành sản phẩm chế biến

1.3.2 Vai trò của các ngư dân trên tàu khai thác hải sản đối với vấn đề an toàn thực phẩm hải sản

Trong chuỗi cung ứng hải sản, người cung ứng là những người làm việc và tham gia vào chuỗi cung ứng, bao gồm: các ngư dân đánh bắt hải sản, người làm việc

ở cảng (bốc vác), người làm việc ở các cở sở thu mua, người buôn bán hải sản ở chợ, người làm việc trong các nhà hàng, các công ty chế biến thủy sản, siêu thị, người vận chuyển, phân phối, các nhà bán lẻ…

Trang 35

Nghiên cứu này được thực hiện trên các tàu khai thác hải sản, chính vì vậy người cung ứng ở đây là các ngư dân đánh bắt hải sản

Người ngư dân đánh bắt hải sản: là những người đánh bắt trực tiếp trên biển Khi nguyên liệu hải sản được đánh lên sẽ được những người ngư dân phân loại thành nhiều loại có giá trị khác nhau Sau khi phân loại nguyên liệu được ướp đá để bảo quản Trong quá trình phân loại nếu ngư dân thực hiện lâu nguyên liệu sẽ bị ươn, như một số loại cá có chứa một số chất dễ biến đổi thành chất độc như histamin gây độc cho người ăn phải vì vậy mà họ phải xử lý từng loại cá riêng để đảm bảo an toàn thực phẩm Ngư dân thường có thói quen ướp đá theo kinh nghiệm mà không có kiểm tra nhiệt độ trong quá trình bảo quản dẫn đến cá không được tươi và dễ bị hư hỏng Một

số người vì lợi nhuận mà họ đã sử dụng hóa chất để bảo quản như urê…như vậy sẽ làm cho nguyên liệu nhiễm độc gây ảnh hưởng tới sức khỏe cho người sử dụng

1.4 TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT DÙNG BẢNG CÂU HỎI

Các phương pháp khảo sát dùng bảng câu hỏi bao gồm:

 Phỏng vấn cá nhân (PAPI/CAPI)

 Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI)

 Các cuộc điều tra qua thư

 Phỏng vấn trực tiếp bằng máy vi tính (CASI/CAWI)

 Các cuộc điều tra qua thư điện tử

 Các cuộc điều tra qua Internet/mạng nội bộ (các trang Web)

1.4.1 Phỏng vấn cá nhân (PAPI/CAPI)

Đối với hình thức thu thập dữ liệu này, người phỏng vấn thường liên hệ và sau

đó phỏng vấn đối tượng theo hình thức đối mặt Đó là hình thức phỏng vấn truyền thống nhất Các cuộc phỏng vấn cá nhân có thể xảy ra trong hầu hết mọi môi trường, nhưng điển hình là được thực hiện tại nhà, tại một trung tâm hoặc các vị trí trung tâm khác, trên đường phố, bên ngoài nơi gặp mặt hay địa điểm bầu cử, v.v Chúng có thể được ghi lại trên máy (PAPI), trên thiết bị được hỗ trợ bằng máy vi tính (CAPI) hay được thu thập bằng cách sử dụng các thiết bị cầm tay khác (PADs)

Trang 36

a Các ưu điểm chính

 Là một phương pháp tiếp cận rất linh hoạt

 Không nhất thiết phụ thuộc vào các cấu trúc lấy mẫu sẵn có

 Tạo điều kiện cho đối tượng tham gia phỏng vấn được xem các lựa chọn và nhiều tác nhân kích thích để biết liệu chúng có liên quan đến các sản phẩm, các khái niệm, quảng cáo, v.v hay không

 Các đối tượng tham gia phỏng vấn có thể cảm nhận, thử, kiểm tra các sản phẩm trong một môi trường được kiểm soát

 Các nhân viên phỏng vấn có thể liên hệ và phỏng vấn các đối tượng trong khi

họ đang thực hiện hoặc vừa thực hiện xong một hoạt động cụ thể hay tại một địa điểm cụ thể: sau khi mua sắm, tại một khu vực giải trí, v.v

 Bằng cách thiết lập mối quan hệ, các nhân viên phỏng vấn có thể thực hiện được các cuộc phỏng vấn dài hơn so với phương pháp không phải mặt đối mặt

 Tạo cơ hội để tiến hành nhiều phương pháp vấn đáp bao gồm các câu hỏi mở vì nhân viên phỏng vấn có thể tiến hành thăm dò dựa theo các gợi ý bằng hình ảnh cũng như bằng lời

 Người phỏng vấn có thể thu thập các gợi ý phi ngôn ngữ và cung cấp những dữ liệu bổ sung này nếu có tính chất giai thoại

b Các nhược điểm chính

 Các cuộc phỏng vấn cá nhân có thể tốn kém hơn cho mỗi cuộc phỏng vấn so với các phương pháp khác

 Có thể bao gồm một quá trình liên hệ và lấy mẫu phức tạp

 Phụ thuộc vào phương tiện tập hợp dữ liệu–giấy, v.v có thể bao gồm nhiều giai đoạn quản lý và làm tăng quỹ thời gian của một dự án

1.4.2 Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI)

Các cuộc điều tra bằng điện thoại (CATI) đã trở thành phương pháp phổ biến nhất ở môi trường B2B (doanh nghiệp đến doanh nghiệp) trong nhiều năm qua, và đây

Trang 37

là phương pháp hiệu quả cho việc nghiên cứu B2C (từ doanh nghiệp đến khách hàng) trong hai thập kỷ trước, đặc biệt với sự thành lập của “các trung tâm hỗ trợ khách hàng”

 Rút ngắn thời gian trì hoãn giữa quá trình phỏng vấn và cung cấp kết quả

 Tiêu chuẩn hóa hoàn toàn nội dung phỏng vấn

 Việc tự động hóa công tác quản lý phỏng vấn (các quãng ngắt, tính nhất quán bên trong v.v.) cho phép nhân viên phỏng vấn chỉ tập trung vào chính cuộc phỏng vấn

 Mẫu và liên hệ phỏng vấn được cung cấp tự động cho nhân viên phỏng vấn

 Dễ dàng hơn cho việc lên lịch và thực hiện các cuộc hẹn và bất cứ các cuộc hẹn lại nào

 Các trung tâm hỗ trợ khách hàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát năng suất hoạt động của nhân viên phỏng vấn trên cơ sở hợp lý và liên tục

b Các nhược điểm chính

 Có khả năng gặp phải các vấn đề không phản hồi vì đối tượng tham gia phỏng vấn tiềm năng có thể không nhận ra ngay rằng họ đang được đề nghị tham gia vào một cuộc nghiên cứu thị trường và có thể nhầm lẫn cách tiếp cận này với những phương pháp khác mà những người bán hàng hoặc tiếp thị đã sử dụng trong các cuộc giao tiếp qua điện thoại

 Khả năng phỏng vấn đối với nhiều đối tượng mục tiêu có thể bị giới hạn, ví dụ như những người đang làm việc

 Khó có thể sử dụng các công cụ kích thích như một phần của quá trình phỏng vấn

 Có khả năng không thể đạt được độ sâu thông tin theo yêu cầu về câu hỏi mở

Trang 38

1.4.3 Các cuộc điều tra qua thư

Bảng câu hỏi được gởi đến đối tượng qua thư, đối tượng trả lời vào bảng câu hỏi và gởi lại cho người nghiên cứu (thường là bằng thư không cần tem)

a Các ưu điểm

 Là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu ít tốn kém nhất

 Có thể được sử dụng khi các phương tiện liên lạc với đối tượng mục tiêu không thể thực hiện được, ví dụ như có sẵn tên và địa chỉ của nhóm đối tượng mục tiêu nhưng không có số điện thoại hay địa chỉ thư điện tử

 Mất nhiều thời gian hơn các phương pháp thu thập dữ liệu khác

 Có thể khó nhận được phản hồi từ các đối tượng mục tiêu có trình độ văn hóa thấp

 Các phụ phí có thể phát sinh do phải tăng cường gửi thư để cải thiện tỷ lệ phản hồi

 Thời gian đầu phải gửi đi rất nhiều thư để đảm bảo lượng phản hồi phù hợp – điều này sẽ làm tăng thêm chi phí

 Không nhất thiết phải đảm bảo rằng đối tượng điều tra phù hợp đã hoàn thành cuộc phỏng vấn

 Có thể không phù hợp để thu thập một số loại dữ liệu nào đó, mức độ nhận biết

tự phát, các câu hỏi mở, v.v

 Các vấn đề về việc không phản hồi: thông tin từ những người không phản hồi thường quan trọng bằng, hoặc đôi khi quan trọng hơn so với thông tin từ những người phản hồi

1.4.4 Phỏng vấn trực tiếp bằng máy vi tính (CASI/CAWI)

Với phương pháp thu thập dữ liệu này, các đối tượng tham gia phỏng vấn có thể phản hồi trực tiếp vào máy vi tính đã được thiết lập tại một địa điểm cụ thể: nơi làm

Trang 39

việc, trung tâm thương mại, các khu vực giải trí, bệnh viện, các trung tâm y tế, v.v Các phần mềm phỏng vấn và lưu trữ dữ liệu có thể được cài vào máy tính như đối với phương pháp CASI (phương pháp phỏng vấn tự hoàn thiện với sự hỗ trợ của máy vi tính) hay máy vi tính có thể được nối với một trang web chuyên dụng, nơi bảng câu hỏi và các dữ liệu được lưu trữ như trong phương pháp CAWI (phỏng vấn qua mạng với sự hỗ trợ của máy tính)

Bất kể phương pháp nào trong các phương pháp này được sử dụng thì hình thức trình bày hướng đến đối tượng tham gia phỏng vấn đều rất giống nhau

a Các ưu điểm

 Các nhóm mục tiêu cung cấp các câu trả lời trong ngữ cảnh tức thì

 Có thể nhập dữ liệu trực tiếp

 Có thể nhận được câu trả lời chính xác và trung thực hơn cho các câu hỏi nhạy cảm

 Khi được phỏng vấn, người lao động thường sẵn sàng đưa ra những câu trả lời trung thực trước một máy vi tính hơn so với trước mặt người phỏng vấn hoặc các bảng câu hỏi tự điền trên giấy

 Có thể loại bỏ thành kiến của nhân viên phỏng vấn

 Việc sắp xếp ở vị trí đã được chọn phải được xem xét kỹ lưỡng

 Có thể không phù hợp với các nhóm đối tượng mục tiêu nào đó

 Đây là các đối tượng tự chọn

 Có thể nhận được nhiều câu trả lời từ cùng một người

1.4.5 Các cuộc điều tra qua điện tử

Việc sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu bằng thư điện tử có thể rất tiết kiệm chi phí và được hoàn tất trong một khoảng thời gian ngắn Hiện tại, số lượng người có

Trang 40

email nhiều hơn so với số người có thể tiếp cận Internet đầy đủ, nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng

a Các ưu điểm

 Được thực hiện cực kỳ nhanh chóng

 Phần lớn các chi phí rơi vào quy trình thiết lập

 Cả các tập tin hình ảnh lẫn âm thanh đều có thể được đính kèm như các hình thức kích thích khác

 Có thể đạt được tỷ lệ phản hồi cao hơn so với các phương pháp thu thập dữ liệu khác

 Có thể được sử dụng một cách hiệu quả khi tính đại diện trung thực của đối tượng mục tiêu không phải là một bất lợi đối với việc sử dụng dữ liệu đã được thu thập

b Các nhược điểm

 Nhiều loại câu hỏi bị hạn chế, do đó dữ liệu có thể thu thập cũng bị hạn chế

 Phụ thuộc vào sự tồn tại một khung mẫu phù hợp

 Hầu như có ít hoặc không có sự kiểm soát đối với những người đang thực sự phản hồi

 Phải khắc phục được tính ít nói của các đối tượng khi trả lời các thư điện tử được gửi đi dưới hình thức tự nguyện

 Khó khăn trong việc tìm ra các phát hiện đối với nhóm đối tượng chung vì mẫu

có sẵn có thể không hoàn toàn phản ánh hết các đặc điểm của nhóm đối tượng chung đó

 Không thể sử dụng trên toàn thế giới

 Giống như các phương pháp thư tín khác, không có hình thức kiểm soát nào để đảm bảo “đúng” người phản hồi

1.4.6 Các cuộc điều tra qua Imternet/mạng nội bộ (các trang Web)

Các cuộc điều tra bằng web nhanh chóng trở nên phổ biến Chúng có ưu điểm chính về tốc độ, chi phí và tính linh hoạt, nhưng cũng có những hạn chế đáng kể về

Ngày đăng: 20/03/2015, 07:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Esomar (2011), cẩm nang nghiên cứu thị trường “market research handbook”, Nhà xuất bản tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, tr. 110 – 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Esomar (2011), cẩm nang nghiên cứu thị trường “market research handbook
Tác giả: Esomar
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2011
2. Nguyễn Công Khẩn (2009), “Đảm bảo an toàn thực phẩm ở Việt Nam- Các thách thức và triển vọng”, Kỷ yếu hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần thứ 5-2009, Nhà xuất bản Hà Nội,tr 11- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Khẩn (2009), “Đảm bảo an toàn thực phẩm ở Việt Nam- Các thách thức và triển vọng”, "Kỷ yếu hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần thứ 5-2009
Tác giả: Nguyễn Công Khẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2009
3. Cục An toàn thực phẩm (2011), Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục An toàn thực phẩm (2011), "Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Cục An toàn thực phẩm
Năm: 2011
7. Cochran, W. G. 1963. Sampling Techniques, 2nd Ed., New York: John Wiley and Sons, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sampling Techniques
8. Yamane, Taro. 1967. Statistics: An Introductory Analysis, 2 nd Ed., New York: Harper and Row Sách, tạp chí
Tiêu đề: Statistics: An Introductory Analysis
9. Nguyen, T. P. L, A. Dalsgaard, D. C. Phung, D. Mara (2007), "Microbiological quality of fish grown in wastewater-fed and non-wastewater-fed fishponds in Hanoi, Vietnam: influence of hygiene practices in local retail markets", Journal of Water and Health, pp. 209-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microbiological quality of fish grown in wastewater-fed and non-wastewater-fed fishponds in Hanoi, Vietnam: influence of hygiene practices in local retail markets
Tác giả: Nguyen, T. P. L, A. Dalsgaard, D. C. Phung, D. Mara
Năm: 2007
16. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu hải sản Việt Nam (VASEP), giảm tần suất kiểm tra hải sản.http://www.vasep.com.vn/Tin-Tuc/53_18330/Giam-tan-suat-kiem-tra-thuy-san.htm Link
10. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vĩnh Long, (2011), Vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp tết Tân Mão.&lt;http://vinhlong.agroviet.gov.vn/ContentDetail.aspx?Id=6079&amp;CatId=4 2&gt Khác
11. Cục Chế biến, Thương mại nông lâm hải sản và nghề muối, (2012), Khó kiểm soát chất cấm trong hải sản.&lt;http://www.chebien.gov.vn/ContentDetail.aspx?CatId=20&amp;Id=8928&gt Khác
12. Hội khoa học- kỹ thuật và kinh tế biển tp.HCM, (2013), Làm gì khi bị ngộ độc so biển và đốm xanh Khác
13. Trung tâm Thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn (AGROINFO) – Viện chính xác và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), Tuyên chiến với nạn gian dối trong nuôi truồng trồng hải sản.&lt;http://agro.gov.vn/news/tID4570_Tuyen-chien-voi-nan-gian-doi-trong- nuoi-trong-thuy-san.htm&gt Khác
14. Tổng cục Hải sản, Tôm Việt Nam lấy lại hình ảnh đẹp tại thị trường Nhật. &lt;http://www.fistenet.gov.vn/f-thuong-mai-thuy-san/b-thi truong/tom-viet-nam-lay- lai-hinh-anh-111ep-o-thi-truong-nhat/&gt Khác
15. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu hải sản Việt Nam – VASEP (2012), Hải sản bị cảnh báo tại Nhật Bản tiếp tục giảm.&lt;http://www.vasep.com.vn/Tin-Tuc/53_18456/Thuy-san-bi-canh-bao-tai-Nhat-Ban-tiep-tuc-giam.htm&gt Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2 Sơ đồ ban quản lý cảng cá Đại Lãnh - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 1.2 Sơ đồ ban quản lý cảng cá Đại Lãnh (Trang 21)
Hình 3.1. Kết quả điều tra về tỷ lệ giới tính của ngư dân trên tàu khai thác hải sản - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.1. Kết quả điều tra về tỷ lệ giới tính của ngư dân trên tàu khai thác hải sản (Trang 55)
Hình 3.2. Kết quả điều tra độ tuổi của ngư dân trên tàu khai thác hải sản - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.2. Kết quả điều tra độ tuổi của ngư dân trên tàu khai thác hải sản (Trang 55)
Hình 3.5. Kết quả điều tra trình độ văn hóa của ngư dân trên tàu khai thác hải sản - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.5. Kết quả điều tra trình độ văn hóa của ngư dân trên tàu khai thác hải sản (Trang 57)
Hình 3.4. Kết quả điều tra hình thức làm việc của ngư dân trên tàu khai thác hải sản - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.4. Kết quả điều tra hình thức làm việc của ngư dân trên tàu khai thác hải sản (Trang 57)
Hình 3.7. Kết  quả điều tra các ngư dân có tiếp xúc với hải sản khi có các triệu - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.7. Kết quả điều tra các ngư dân có tiếp xúc với hải sản khi có các triệu (Trang 59)
Hình 3.9.  Kết quả điều tra về hải sản được bảo quản bằng đá, thì vi sinh vật trong - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.9. Kết quả điều tra về hải sản được bảo quản bằng đá, thì vi sinh vật trong (Trang 61)
Hình 3.12. Kết quả điều tra về việc kiểm tra nhiệt độ các nguyên liệu hải sản - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.12. Kết quả điều tra về việc kiểm tra nhiệt độ các nguyên liệu hải sản (Trang 66)
Hình 3.15. Kết quả điều tra các ngư dân có sử dụng găng tay sạch khi tiếp xúc với - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.15. Kết quả điều tra các ngư dân có sử dụng găng tay sạch khi tiếp xúc với (Trang 69)
Hình 3.16. Kết quả điều tra các ngư dân có ăn uống, hút thuốc trong khu vực làm việc - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.16. Kết quả điều tra các ngư dân có ăn uống, hút thuốc trong khu vực làm việc (Trang 70)
Hình 3.19. Kết quả điều tra các ngư dân có vệ sinh trang thiết bị dụng cụ và bề - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.19. Kết quả điều tra các ngư dân có vệ sinh trang thiết bị dụng cụ và bề (Trang 72)
Hình 3.22. Kết quả điều tra về các ngư dân có sử dụng chất tẩy rửa, chất khử - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.22. Kết quả điều tra về các ngư dân có sử dụng chất tẩy rửa, chất khử (Trang 75)
Hình 3.23. Kết quả điều tra về trách nhiệm của các ngư dân trong việc xử lý thực - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.23. Kết quả điều tra về trách nhiệm của các ngư dân trong việc xử lý thực (Trang 76)
Hình 3.25. Kết quả điều tra các ngư dân nghĩ như thế nào về việc rửa các dụng cụ - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
Hình 3.25. Kết quả điều tra các ngư dân nghĩ như thế nào về việc rửa các dụng cụ (Trang 78)
Phụ lục 3: Hình ảnh đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP trên tàu  khai thác hải sản - Đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ về an toàn thực phẩm của ngư dân tại Vạn Ninh bằng phương pháp khảo sát bằng câu hỏi
h ụ lục 3: Hình ảnh đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP trên tàu khai thác hải sản (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w