Trong quá trình phát triển của một đất nước,Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động hiệu quả và vững chắc.Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ. Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng,hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại,vì quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, quá trình công nghiệp hoáhiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ,hệ thống Ngân hàng thương mại cũng ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nời thừa sang nơi thiếu,đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Hoạt động Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực.Tuy nhiên trong nền kinh tế hiện nay,rủi ro là không thể tránh khỏi đối với các thành phần kinh tế,do đó hoạt động Ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro cao.Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng,vốn vay bị sử dụng sai mục đích,khách hàng phá sản..đều biến thành khoản nợ khó đòi.Bên cạnh đó,quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra mộ môi trường cạnh tranh gay gắt,khiến hầu hết các doanh nghiệp,những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.Do đó nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng,đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cho các thành phần kinh tế.Việc đánh giá,thẩm định, và quản lý tốt các khoản cho vay các khoản dự định cho vay sẽ làm giảm rủi ro cho các Ngân hàng và tất yếu giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng.Nhận thức được vấn đề này,sau thời gian tìm hiểu nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài “Rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một số biện pháp khắc phục rủi ro tín dụng’’.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của một đất nước,Ngân hàng đóng vai trò rấtquan trọng.Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,nền kinh tếchỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt độnghiệu quả và vững chắc.Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng
và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ
Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng,hoạtđộng tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại,vì quá trìnhhuy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp các thành phần kinh tế pháttriển ổn định và ngược lại
Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,cùng với sự phát triểncủa sản xuất hàng hoá, quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá với đường lốiphát triển nền kinh tế nhiều thành phần ,hệ thống Ngân hàng thương mại cũngngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nời thừasang nơi thiếu,đáp ứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp
Hoạt động Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực.Tuy nhiêntrong nền kinh tế hiện nay,rủi ro là không thể tránh khỏi đối với các thànhphần kinh tế,do đó hoạt động Ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro cao.Nhữngnguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng,vốn vay bị sử dụngsai mục đích,khách hàng phá sản đều biến thành khoản nợ khó đòi.Bên cạnhđó,quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu giatăng khi tạo ra mộ môi trường cạnh tranh gay gắt,khiến hầu hết các doanhnghiệp,những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt vớinguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.Do đó nhiệm
vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phảinâng cao chất lượng tín dụng,đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi
ro tín dụng cho các thành phần kinh tế.Việc đánh giá,thẩm định, và quản lý tốtcác khoản cho vay các khoản dự định cho vay sẽ làm giảm rủi ro cho cácNgân hàng và tất yếu giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng
Nhận thức được vấn đề này,sau thời gian tìm hiểu nhóm chúng em đã
quyết định chọn đề tài “Rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một số biện pháp khắc phục rủi ro tín dụng’’.
Trang 2Đề án gồm có 3 chương:
Phần 1:Một số lý luận chung về rủi ro tín dụng của các Ngân hàng
thương mại (Sinh viên: Nguyễn Văn Tiến)
Phần 2: Thực trạng về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam (Sinh viên: Ngô Qua/ng Thọ)
Phần 3:Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng của các Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam (Sinh viên: Trịnh Thế Phiệt)
Em hy vọng bài viết có thể làm rõ một số lý luận về NHTM,hoạt độngtín dụng Ngân hàng,và thực trạng của hoạt động tín dụng trong các NHTMViệt Nam hiện nay
Trang 3
PHẦN 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I.Khái niệm về rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Ở bất kì hoạt động nào cũng xảy ra rủi ro,rủi ro luôn tồn tại trong hoạtđộng kinh doanh,vì thế mọi chủ thể kinh doanh luôn phải đối mặt với rủi ro
và chỉ khi nào chủ thể kinh doanh khống chế và hạn chế được mức tối đa rủi
ro có thể xảy ra thì hoạt động kinh doanh mới tồn tại và phát triển.Nhiều nhàkinh tế học đã định nghĩa ‘ rủi ro’ theo các cách khác nhau.Frank Knight,mộthọc giả người Mỹ đầu thế kỷ 20 định nghĩa ‘ Rủi ro là sự bất trắc có thể đolường được’.Alain Willet cho rằng ‘ Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đếnbiến cố không mong đợi’ Còn Irving Perfer lại nói ‘ Rủi ro là tổng hợp củanhững sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất’.Một nhà kinh tế họcngười Anh là Marilic Hurt Carty quan niệm ‘ rủi ro là tình trạng trong đó cácbiến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được’
Như vậy cụm từ rủi ro có thể được định nghĩa theo nhiều cách khácnhau,nhưng khái quát lại ta có thể hiểu rủi ro là sự xuất hiện một biến cốkhông mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ thể,rủi ro có thể xảy ratrong mọi hoạt động,mọi lĩnh vực mà không phụ thuộc vào ý muốn có conngười.Đối với Ngân hàng,thì việc kinh doanh tiền tệ là hoạt động rất dễ xảy rarủi ro và thiệt hại gây ra là rất lớn.Rủi ro tác động trực tiếp tới kết quả doanhlợi,nguy cơ phá sản của các Ngân hàng.Do vậy việc thừa nhận rủi ro tronghoạt động kinh doanh của Ngân hàng và từ đó tìm kiếm phương pháp chống
đỡ các rủi ro là đòi hỏi sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Rủi ro trongkinh doanh ngân hàng là một tất yếu ,mà các nhà quản lý Ngân hàng chỉ cóthể có chính sách giảm bớt chứ không thể gạt bỏ hoàn toàn được chúng.Tronghoạt động kinh doanh Ngân hàng thường xảy ra những rủi ro như :rủi ro tíndụng,rủi ro lãi suất,rủi ro thanh khoản,rủi ro tỷ giá….những rủi ro này rất dễxảy ra gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ,trong đó đặcbiệt là rủi ro tín dụng
II Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là credo(tin tưởng ,tín nhiệm).Trongquan hệ tài chính tín dụng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.Xéttrên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
Trang 4thể thiếu hụt tiêt kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ
từ người cho vay sang người đi vay
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của Ngân hàng,tín dụngcòn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp chokhách hàng Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đivay,trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trongmột thời hạn nhất định theo thoả thuận,bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vôđiều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.Tài sản giaodịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm 2 hình thức là cho vay và chothuê.Trong những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của Ngân hàngchỉ có cho vay bằng tiền.Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữtín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau.Xuất phát từ nguyên tắchoàn trả,vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sửdụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn
Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiệnkinh tế xã hội nhất định.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế,các hình thứctín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng,đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuấtkinh doanh
III Rủi ro tín dụng.
II.1, Khái niệm về rủi ro tín dụng
Trong những hoạt động của Ngân hàng hoạt động tín dụng là hoạt độngđem lại lợi nhuận cao nhất cho Ngân hàng nhưng đồng thời cũng đem lạinhiều rủi ro.Rủi ro tín dụng là những thiệt hại hay mất mát mà Ngân hàngphải gánh chịu khi người vay vốn hoặc người sử dụng vốn không trả đúnghạn,không đầy đủ,không thực hiên đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồngtín dụng vì bất kể lý do gì.Xét về khía cạnh của Ngân hàng,thì rủi ro tín dụngđồng nghĩa với việc thu nhập dự tính của Ngân hàng từ các tài sản có sinh lờikhông được hoàn trả đầy đủ cả về mặt số lượng và thời hạn
Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A ModernPerpective”, A
Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khingân hàng
cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập
dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiệnđầy đủ về cả số lượng và thời hạn
Trang 5Còn theo Henie Van Greuning… Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụngđược định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãihoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng đây
là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chitrả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ điều này gây ra
sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoảncủa ngân hàng (The World Bank)
Ngày nay,nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh,cải tiến trangthiết bị kỹ thuật,nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuất kinhdoanh luôn tăng lên.Để đáp ứng nhu cầu này,các NHTM cũng phải luôn mởrộng quy mô hoạt động tín dụng,điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng cũng phátsinh nhiều hơn
II.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
II.2.1 Rủi ro tín dụng có tính đa dạng và phức tạp.
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hìnhthức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặctrưng ngân hàng là trung gian tàichính kinh doanh tiền tệ Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phảichú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả
do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp
II.2.2 Rủi ro tín dụng có tính tất yếu.
Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắtđược các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứkhoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng Kinh doanh ngân hàngthực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng
II.2.3 Rủi ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không.
Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn chokhách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thấtbại trong quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tíndụng của ngân hàng.Trong đó việc thất bại trong quá trình sử dụng vốn của
khách hàng là điều không thể dự báo trước được
II.3 Các loại rủi ro tín dụng.
II.3.1 Rủi ro mất vốn.
Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ.Bản chất của tín dụng Ngânhàng là ứng trước tiền cho người vay,sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân
Trang 6chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ.Nếu Ngân hàng càng ứngtrước nhiều thì độ rủi ro càng cao.Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi rocao hơn cho vay tài sản thế chấp.Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễchuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản.Tronghoạt động kinh doanh,rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởngnghiêm trọng đến tài sản kinh doanh.Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là cácmón cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng,nếu cáckhoản vay không được trả Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi dẫn đến nguy cơ
dễ phá sản
II.3.2 Rủi ro sai hẹn.
Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa trả cho Ngânhàng.Thông thường trường hợp này khách hàng thường xin Ngân hàng gia hạnthêm thời hạn nợ.Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuậnthì họ sẽ phải chịu lãi suất phạt.Khoản tiền thu hồi muộn này có thể làm đảolộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn
II.3.3 Rủi ro lãi suất
Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường bất cân xứng với kỳhạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro
về lãi suất.Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản cóthì khi lãi suất trên thị trường thay đổi Ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảmgiá trị tài sản.Giá trị thị trường của tài sản của tài sản có hay nợ dựa trên kháiniệm giá trị hiện tại của tiền tệ.Do đó nếu lãi suất của thị trường tăng lên thìmức chiết khấu giá trị của tài sản cũng tăng lên,giá trị của tài sản nợ và tài sản
có sẽ giảm xuống và ngược lại.Rủi ro giảm giá trị của tài sản khi lãi suât thayđổi thuộc loại rủi ro lãi suất và có thể dẫn đến thiệt hại cho Ngân hàng
II.3.4 Rủi ro tỷ giá.
Rủi ro tỷ giá thường diễn ra dưới hình thức của một chệnh lệch giữa giáđặt mua và giá chào bán của tiền tệ.Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hốixuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động kinh tế
và chính trị của một nước
II.4 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng.
Để đánh giá rủi ro tín dụng,ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau
-Chỉ tiêu:Tổng dư nợ tín dụng trên tổng số tài sản có
Dư nợ tín dụng
Tổng tài sản có
Trang 7Đây là chỉ số tổng quan về quy mô hoạt động của Ngân hàng.Chỉ tiêu này
-Chỉ tiêu:Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:
+ Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn từ 181-360 ngay, có khả năng thu hồi
+ Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên (nợ khó đòi)
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng.Chỉ tiêu này càngthấp càng tốt,nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này vượtquá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu.Để có thể đánh giá được 1 cáchchính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng ta cần phải đánh giákèm theo chỉ tiêu vồng quay của các khoản nợ quá hạn này
-Chỉ tiêu:Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn
Nợ quá hạn khó đòi
Tổng nợ quá hạn
Tỷ lệ này đánh giá các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày,được xác định làkhông có khả năng thu hồi.Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốnthấp,nguy cơ mất vốn cao,chất lượng tín dụng của Ngân hàng thấp
-Chỉ tiêu:Mức độ chênh lệch thời lượng của tài sản có và tài sản nợ
Chỉ tiêu này phản ánh nếu kế hoạch huy động vốn và sử dụng vốn không
có sự nhất quán thì sẽ dẫn đến nguy cơ xả ra rủi ro tín dụng rất cao và khi đómức độ ảnh hưởng là toàn bộ hoạt động của Ngân hàng.Đánh giá mức độ ảnhhưởng của sự chênh lệch của thời lượng có thể dựa vào công thức sau:
E = A - L Trong đó: + A = - DA A i
1+i L = - DL L i
1+i
Với: * i :lãi suất
* D A , D L :là thời lượng của toàn bộ tài sản có và tài sản nợ
* A, L :là giá trị của tài sản có và tài sản nợ
Trong trường hợp E < 0, chứng tỏ rằng Ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh,trong đó có cả rủi ro tín dụng
Trang 8II.5 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
II.4.1 Nguyên nhân khách quan.
II.4.1.1, Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Khi tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh,bao giờ doanh nghiệp cũngtiến hành đánh giá tình hình thị trường cũng như đưa ra những dự báo pháttriển thị trường,dự báo tăng trưởng doanh số.Nếu nền kinh tế thế giới cũngnhư nền kinh tế quốc nội vận hành theo quỹ đạo đã dự báo thì doanh nghiệp
sẽ thực hiện tốt các kế hoạch đã đề ra.Tuy nhiên như chúng ta đã biết,nềnkinh tế nước ta vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào các ngành sản xuất nôngnghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp(nuôi trồng,chế biến thực phẩm
và nguyên liệu),dầu thô,…vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thếgiới,nên dễ bị ảnh hưởng khi thị trường thế giới có những biến động xấu.Bên cạnh đó,quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làmcho nợ xấu gia tăng khi tạo một môi trường cạnh tranh gay gắt,khiến hầu hếtdoanh nghiệp,những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặtvới nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.Bản thân sựcạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môitrường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các Ngân hàng trong nước với hệ thốngquản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các kháchhàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các Ngân hàng nước ngoài thu hút
II.4.1.2, Rủi ro do môi trường pháp lý
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chínhphủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)và các cơ quan liên quan đã ban hànhnhiều luật,văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt độngtín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khaivào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiềuvướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Nhữngvăn bản này đều có quy định: Trong những hợp khách hàng không trả được
nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay Trên thực tế, các NHTMkhông làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là
cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàngbàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sảnđảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quyđịnh khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng,tài sản tồn đọng Sự chậm trễ, rườm rà trong các thủ tục cấp giấy phép, các
Trang 9thủ tục hải quan… nhiều lúc ảnh hưởng lớn đến cơ hội kinh doanh của cácdoanh nghiệp Ta biết rằng cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp có tính thờiđiểm,nhưng nó sẽ không đươc thực hiện nhanh chóng nếu không được “ cởitrói ” bởi các thủ tục pháp lý,việc chậm trễ sẽ dẫn đến hậu quả của hàng loạtcác hợp đồng kinh tế bị đình trệ.Điều này gây tổn thất lớn về mặt kinh tế đốivới các doanh nghiệp vay vốn.
Hệ thống quản lý lại bất cập, hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bốthông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụngngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động đã quá một thập niên và đã đạtđược những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tinkịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mứctín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp cònđơn điệu, thiếu cập nhật Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trongviệc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một
hệ thống thông tin tương xứng
II.4.1.3 Rủi ro do hàng hoá nhập lậu tràn vào trong nước
Hàng hoá nhập lậu vào Việt Nam qua các con đường vùng biên từ lâu đã
là nỗi ám ảnh của các doanh nghiệp nội địa.Hàng hoá nhập lậu có ưu điểm rẻhơn về giá,loại hình phong phú đánh mạnh vào nhu cầu đại bộ phận ngườitiêu dùng có thu nhập thấp.các mặt hàng về đồ điện tử,kim khí,mỹ phẩm làminh chứng cho hiện tượng trên
Các rủi ro cơ bản trên đã ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp.Một khi các đồng vốn mà doanh nghiệp đi vay đổ vàosản xuất kinh doanh mà không thu lại được,tất yếu sẽ đẩy doanh nghiệp tớiviệc mất dần khả năng trả nợ.Ngân hàng đứng trước nguy cơ khó thu hồikhoản cho vay nay
II.4.2 Nguyên nhân chủ quan
II.4.2.1.Đối với Ngân hàng
Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các doanh nghiệp.Các ngành nghềcủa các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng,đa phần các cán bộ tín dụng khôngthể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực màdoanh nghiệp đang đầu tư.Ta đã biết,hiện tại các doanh nghiệp,công tác kếtoán chi phí chưa được thực hiện hoá chuyên nghiệp,ghi chép liên tục rõ
Trang 10ràng.Vì thế khi các Ngân hàng sử dụng báo cáo tài chính do doanh nghiệpcung cấp sẽ đưa lại cái nhìn lệch lạc,không chuẩn xác.Chính vì thế rất khókhăn trong việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp,nên Ngân hàngthường có xu hướng ưu tiên các hồ sơ vay vốn có tài sản thế chấp,đảmbảo.Tuy nhiên khi dẫn đến việc thu hồi nợ cũng rất khó khăn.Trình độ của cán
bộ tín dụng còn hạn chế,ngoài ra còn có tiêu cực,một số người còn sẵn sàngtiếp tay cho các doanh nghiệp làm giả hồ sơ giấy tờ để xin vay vốn vì nhữnglợi ích vật chất.Chính điều này đã dẫn đến những rủi ro rất lớn ngay từ khâugiải ngân.Hơn nữa các doanh nghiệp này đều có tình hình tài chính khôngminh bạch ,không đáp ứng được những điều kiện giải ngân mà Ngân hàng đã
đề ra
II.4.2.2, Đối với khách hàng
Nhiều doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sửdụng đồng vốn,đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lời của vốn.Đaphần doanh nghiệp khi sử dụng vống trong quá trình sản xuất kinh doanhthường đầu tư vào mở rộng quy mô sản xuất,đầu tư vào cơ sở vật chất mà cáiquan trọng nhất đầu tư phát triển kỹ năng của lực lượng nhân lực của côngty.Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô mà tư duy quản lý không thay đổi,trình
độ đội ngũ không được đảm bảo thì doanh nghiệp tất yếu phải đối mặt với
Trang 11những rủi ro về khả năng quản lý sản xuất,dẫn đến nhiều sai lầm trong quátrình ra quyết định quản lý kinh doanh.Nhiều doanh nghiệp sử dụng sai mụcđích so với đăng ký ban đầu trong hồ sơ xin vay vốn,tất yếu đã gây khó khăntrong việc kiểm soát dòng vốn cũng như rủi ro của đồng vốn
II.4.3 Nguyên nhân khác.
Những nguyên nhân như bão lũ,hạn hán,động đất,hoả hoạn ….,các vụ ăncắp,lừa đảo gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàngkhiến người đi vay mất khả năng trả nợ vay.Đối với loại rủi ro này,Ngân hàngphòng ngừa bằng các biện pháp như : mua bảo hiểm,tăng cường bảo vệ trựctiếp,giáo dục ý thức,trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng
Ngân hàng có sự lựa chọn trái nghịch cho khách hàng vay trong khikhách hàng không có khả năng trả nợ.hay rủi ro đạo đức,khách hàng vi phạmthoả thuận với ngân hàng như sử dụng sai mục đích nguồn tiền đi vay
Trang 12
PHẦN 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
I, Nhiệm vụ và mục tiêu của công tác quản trị rủi ro tín dụng.
Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng,đểđảm bảo tính thống nhất trong quá trình thực hiện Hoạch định phương hướng
và kế hoạch phòng chống rủi ro,cụ thể là:
+ Phương hướng nhằm vào dự đoán xác định rủi ro có thể xảy ra đếnđâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao,…
+ Phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ranhững mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thểchấp nhận được
+Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soátphòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựachọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyếthậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc
II Nội dung quản lý RRTD NHTM
II.1 Nhận biết và đánh giá rủi ro tín dụng
a, Để nhận biết rủi ro tín dụng về căn bản người ta thường dựa vào các dấu hiệu sau : (1) các dấu hiệu tài chính, (2) các dấu hiệu phi tài chính,
(3) và các khoản cho vay
(1) Các dâú hiệu tài chính
- Các chỉ số thanh khoản có dấu hiệu suy yếu
- Các chỉ số khả năng sinh lời có dấu hiệu suy yếu
- Các vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu
- Cơ cấu vốn không hợp lý
(2) Các dấu hiệu phi tài chính
- Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý với KH
Có sự thay đổi về cơ cấu NS trong hệ thống quản trị
Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành
Ít kinh nghiệm, xuất hiện nhiều hành đồng nhất thời
Thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên
Trang 13 Tranh chấp trong quá trình quản lý
Chi phí quản lý bất hợp pháp
Quản lý có tính gia đình
-Dấu hiệu vấn đề kỹ thuật và thương mại
Khó khăn trong phát triển sản phẩm mới, hoặc không có sản phẩm thay thế
Những thay đổi chính sách của NN
Sản phẩm có tính thời vụ cao
Có biểu hiện cắt giảm chi phí
Thay đổi trên thị trường về lãi suất, tỷ giá, mất KH lớn, vấn đề thị hiếu ,
-Dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính
Sự gia tăng tỷ lệ không cân đối nợ
Chuẩn bị số liệu tài chính không đủ, trì hoãn nộp báo cáo
Khả năng tiền mặt giảm
Phải thu tăng nhanh và thời hạn thanh toán nợ kéo dài
Kết quả KD lỗ
Cố tình làm đẹp BCĐTSbằng tài sản vô hình
- Dấu hiệu phi tài chính khác
Có sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh
Hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hậu
Có sự kỷ luật với cán bộ chủ chốt
(3) Các khoản cho vay
Tỷ lệ các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê cao
Tỷ lệ giữa các khoản nợ ròng so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê cao
Tỷ lệ giữa trích lập và sử dụng dự phòng tổn thất hàng năm so với tổng
dư nợ cho vay, cho thuê hay với tổng vốn sở hữu thất thường
II.2 Giải quyết rủi ro tín dụng
Khi gặp rủi ro tín dụng, chúng ta có thể giải quyết vấn đề rủi ro thôngqua việc
Kiểm tra hồ sơ khoản vay có vấn đề
Trang 14 Gặp gỡ và thảo luận với KH
– Cho vay thêm
– Bổ sung tài sản bảo đảm
– Chuyển NQH
– Thực hiện khoanh nợ, xóa nợ
– Chỉ định đại diện tham gia quản lý doanh nghiệp
đó đề nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thốngquản trị rủi ro
III Tình hình quản trị tín dụng ở các Ngân hàng thương mại.
III.1 Tình hình huy động vốn.