Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện tại Công ty XYZ...62 2.2.1... Nhận thức được vai trò quantrọng của khoản mục này, em
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC) 3
1.1 Khái quát chung về khoản mục phải thu khách hàng có ảnh hưởng đến kiểm toán báo cáo tài chính 3
1.1.1 Bản chất khoản mục phải thu khách hàng 3
1.1.2 Vai trò, vị trí khoản mục phải thu khách hàng trong chu trình bán hàng – thu tiền 4
1.1.3 Kế toán khoản mục phải thu khách hàng 5
1.1.3.1 Nguyên tắc kế toán khi hạch toán khoản mục phải thu khách hàng 5
1.1.3.2 Chứng từ sổ sách và tài khoản sử dụng đối với khoản mục phải thu khách hàng 6
1.1.4 Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính 9
1.1.4.1 Khoản mục phải thu khách hàng với vấn đề kiểm toán báo cáo tài chính 9
1.1.4.2 Một số sai phạm thường gặp đối với khoản mục phải thu khách hàng làm ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính 9
1.1.4.3 Một số công việc kiểm soát nội bộ đối với khoản mục phải thu khách hàng 10
1.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện 12
1.3 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện 13
1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 14
1.3.1.1 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát 15
1.3.1.2 Thiết kế chương trình kiểm toán đối với khoản mục phải thu khách hàng24 1.3.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 28
1.3.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 32
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀO KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN THỰC HIỆN TẠI KHÁCH HÀNG 34
2.1 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính thực hiện tại Văn phòng Tổng Công ty ABC 34
2.1.1 Tổng quan về khách hàng ABC 34
2.1.1.1 Lĩnh vực kinh doanh của Tổng Công ty ABC 34
2.1.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy 36
Trang 22.1.1.3 Chế độ và chính sách kế toán áp dụng tại Tổng Công Ty ABC 37
2.1.2 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Văn phòng Tổng Công ty ABC 42
2.1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 42
2.1.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 51
2.1.2.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 62
2.2 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện tại Công ty XYZ 62
2.2.1 Tổng quan về khách hàng XYZ 62
2.2.1.1 Lĩnh vực kinh doanh của Công ty XYZ 63
2.2.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty XYZ 64
2.2.1.3 Chính sách và chế độ kế toán áp dụng tại Công ty XYZ 64
2.2.2 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu trong kiểm toán báo cáo tài chính thực hiện tại Công ty XYZ 68
2.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 68
2.2.2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán 79
2.2.2.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán 90
2.3 So sánh quy trình thực hiện kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do AASC thực hiện tại hai khách hàng ABC và XYZ 90
2.3.1 Những điểm giống nhau 90
2.3.2 Những điểm khác nhau 91
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC) THỰC HIỆN 93
3.1 Đánh giá tổng quát về thực trạng kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty Trách nhiệm Hữu hạn Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện 93
3.1.1 Những ưu điểm trong tổ chức công tác kiểm toán tại công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán 93
3.1.2 Những ưu điểm trong quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC do AASC thực hiện 94
3.1.2.1 Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 94
3.1.2.2 Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 95
3.1.2.3 Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán 96
3.1.3 Những hạn chế còn tồn tại trong quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do AASC thực hiện tại khách hàng 96
3.1.3.1 Việc thu thập thông tin về khách hàng vẫn còn sơ sài 96
Trang 33.1.3.2 Mô hình đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng còn hạn chế và ít được thực hiện…. 97
trình kiểm toán 97 3.1.3.4 Thủ tục phân tích áp dụng đối với khoản mục phải thu khách hàng vẫn còn sơ sài… 98
3.1.3.5 Chương trình kiểm toán khoản mục phải thu được thiết kế chi tiết nhưng không được thực hiện đầy đủ 98
3.2 Những giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục phải thu trongkiểm toán Báo cáo tài chính do AASC thực hiện 993.2.1 Tính tất yếu phải hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục phải thu kháchhàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do AASC thực hiện 993.2.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục phải thu kháchhàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính do AASC thực hiện tại khách hàng 99
3.2.2.1 Hoàn thiện việc thu thập thông tin về khách hàng 99 3.2.2.2 Hoàn thiện Mô hình đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng 100 3.2.2.3 Xây dựng mô hình ước lượng mức trọng yếu linh hoạt và đề ra các quy định áp dụng mức trọng yếu 100 3.2.2.4 Tăng cường áp dụng các thủ tục phân tích đối với kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng 101
khoản mục phải thu khách hàng 102
KẾT LUẬN 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Trình tự hạch toán khoản phải thu khách hang 8
Sơ đồ 1.2 : Các giai đoạn của một cuộc kiểm toán 14
Sơ đồ 1.3: Các bước công việc chính trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 15
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Tổng Công ty ABC 36
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty XYZ 64
BẢNG Bảng 1.1: Bảng mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng 13
Bảng 1.2: Đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng 20
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập 22
Bảng 1.4: Chương trình kiểm toát chi tiết áp dụng đối với kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại AASC 25
Bảng 1.5: Thử nghiệm kiểm soát và thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán BCTC 30
Bảng 2.1: Trang kết luận kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại Công ty ABC 61
Bảng 2.2: Bảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của XYZ 69
Bảng 2.3: Bảng đánh giá hệ thống KSNB đối với khoản mục phải thu khách hàng tại khách hàng XYZ 70
Bảng 2.4: Chương trình kiểm toán tổng quát Công ty XYZ 78
Bảng 2.5: Mẫu thư xác nhận nợ gửi cho khách hàng tại công ty XYZ 87
Bảng 2.6: Trang kết luận kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại công ty XYZ 89
Bảng 2.7: Những điểm khác nhau trong quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại Công ty ABC và Công ty XYZ 91
BIỂU Biểu 2.1: Biểu phân tích sơ bộ kết quả SXKD công ty ABC 43
Biểu 2.2: Biểu phân tích sơ bộ các chỉ tiêu tài sản Công ty ABC 44
Biểu 2.3: Biểu tính mức trọng yếu BCTC công ty ABC 47
Biểu 2.4: Biểu phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục Công ty ABC 49
Biểu 2.5: Trang tổng hợp số dư TK 131 Công ty ABC 52
Biểu 2.6: Thủ tục phân tích tại Công ty ABC 53
Biểu 2.7: Thủ tục phân tích tuổi nợ khoản phải thu khách hàng ở công ty ABC 55
Trang 5Biểu 2.8: Kiểm tra đối ứng tài khoản 131 tại Công ty ABC 56
Biểu 2.9: Bù trừ công nợ của cùng một đối tượng tại khách hàng ABC 58
Biểu 2.10: Đánh giá số dư có gốc ngoại tệ cuối kỳ tại khách hàng ABC 59
Biểu 2.11: Phân tích sơ bộ kết quả kinh doanh công ty XYZ 72
Biểu 2.12: Phân tích sơ bộ các chỉ tiêu tài sản công ty XYZ 73
Biểu 2.13: Biểu tính mức trọng yếu công ty XYZ 75
Biểu 2.14: Biểu phân bổ mức trọng yếu tại công ty XYZ 76
Biểu 2.15: Biểu tổng hợp số dư TK 131 công ty XYZ 79
Biểu 2.16: Thủ tục phân tích tại công ty XYZ 80
Biểu 2.17: Phân tích tuổi nợ tại công ty XYZ 82
Biểu 2.18: Trang tổng hợp số dư TK 131 tại công ty XYZ 83
Biểu 2.19: Thực hiện đối chiếu biên bản xác nhận nợ cuối kỳ với sổ chi tiết TK 131 Công ty XYZ 85
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đặc biệt là kiểm toán độc lập đã
và đang trở thành nhu cầu thiết yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượngquản lý của các doanh nghiệp
Từ những năm đầu của thập kỷ 90, với sự ra đời của Công ty Dịch vụ Tư vấn Tàichính Kế toán và Kiểm toán (AASC) và Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) đã đánhdấu sự ra đời của các công ty kiểm toán ở Việt Nam, cùng với sự tham gia trong một sốlĩnh vực của các công ty kiểm toán hàng đầu thế giới, hoạt động kiểm toán Việt Nam đãđược hình thành và không ngừng phát triển sau gần 20 năm thành lập Kiểm toán đã trởthành một nghề nghiệp, một lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ
Với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ công cụ quản lý kinh tế, kiểm toánngày càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết không chỉ đối với các cơ quan quản lýchức năng của nhà nước, mà còn đối với các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư.Những thông tin do kiểm toán cung cấp sẽ là những căn cứ đáng tin cậy giúp cho NhàNước nhìn nhận, đánh giá, xử lý đúng đắn các vấn đề kinh tế nảy sinh, đồng thời làm cơ
sở cho các nhà đầu tư, các nhà quản lý khi đưa ra quyết định kinh doanh mới Thông quaviệc thực hiện các chức năng, nghiệp vụ của mình, kiểm toán viên còn giúp cho cácdoanh nghiệp, các tổ chức kinh tế biết được và khắc phục những sai sót, vi phạm trongquản lý và trong việc chấp hành chính sách, luật lệ kinh tế của Nhà Nước
Khoản mục phải thu khách hàng là một khoản mục trọng yếu và chiếm tỷ trọnglớn trên báo cáo tài chính, đồng thời cũng khá nhạy cảm với những gian lận và có liênquan mật thiết đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhận thức được vai trò quantrọng của khoản mục này, em đi sâu vào tìm hiểu quy trình kiểm toán khoản mục phải thukhách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính, trên cơ sở ly luận đạt được, kết hợp với cơhội tiếp cận công việc kiểm toán thực tế trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Dịch
vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán, em đã chọn đề tài: “Vận dụng quy trình kiểmtoán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công tyTNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện tại kháchhàng” làm chuyên đề thực tập cuối khóa của mình
Trang 8Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề của em gồm có ba chương chính:
Chương I: Đặc điểm khoản mục phải thu khách hàng có ảnh hưởngđến kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)
Chương II: Thực trạng vận dụng quy trình kiểm toán vào kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện tại khách hàng.
Chương III: Nhận xét và các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Dịch
vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện.
Tuy nhiên, do hạn chế khách quan về thời gian cùng với sự giới hạn về kinhnghiệm và kiến thức, em không thể bao quát hết tất cả các vấn đề liên quan đến phạm vi
đề tài, vì thế chuyên đề của em không thề tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung
Em rất mong sự đóng góp thầy cô và các anh chị kiểm toán viên tại công ty để em có thểhoàn thiện tốt chuyên đề cũng như bổ sung vốn kiến thức về chuyên ngành kiểm toán
Em xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tàichính Kế toán và Kiểm toán và các anh chị phòng Kiểm toán 2 đã tận tình chỉ bảo giúp
đỡ em trong quá trình thực tập tại Công ty Đồng thời em cũng chân thành cảm ơn Thầy
giáo PGS TS Ngô Trí Tuệ đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành Chuyên đề này.
Trang 9CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN (AASC)
1.1 Khái quát chung về khoản mục phải thu khách hàng có ảnh hưởng đến kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Bản chất khoản mục phải thu khách hàng
Khoản mục phải thu khách hàng là một trong những khoản mục quan trọng trênBảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợphải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng
về tiền bán sản phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư, TSCĐ, cung cấp dịch vụ Tài khoản nàycũng được dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với ngườigiao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành Nó thể hiện phần tài sản củadoanh nghiệp đang bị chiếm dụng trong quá trình thanh toán Chính vì vậy, khoản mục
nợ phải thu có ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình tài chính thanh toán cũng như khả năngquay vòng vốn của doanh nghiệp
Khoản mục nợ phải thu khách hàng được phản ánh thông qua tài khoản 131 Tàikhoản này có số dư bên nợ và bên có Số dư bên nợ thể hiện số tiền còn phải thu củakhách hàng Số dư bên có thể hiện số tiền nhận trước, hoặc số đã thu nhiều hơn số phảithu của khách hàng chi tiết theo từng đối tượng cụ thể
Khoản mục phải thu khách hàng là một khoản mục rất quan trọng và có mối liên
hệ với nhiều khoản mục khác trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh Trong quá trình giao dịch với khách hàng phát sinh rất nhiều nghiệp vụ liênquan đến quan hệ thanh toán, trong đó có khoản mục nợ phải thu Khi doanh nghiệp chấpnhận bán vật tư hàng hóa, hay cung cấp dịch vụ của mình theo phương thức trả trước hayphương thức bán chịu thì xuất hiện nợ phải thu khách hàng Do đó dễ thấy, nêu số tiềncủa khoản nợ phải thu tăng lên thì tiền mặt thu được từ bán hàng sẽ giảm xuống và ngượclại Bên cạnh đó, nếu nợ phải thu tăng lên cùng với sự gia tăng của hàng hóa, dịch vụ tiêuthụ hay trao đổi là sự giảm xuống của hàng tồn kho, nguyên vật liệu…ngoài ra khoảnmục nợ phải thu cũng có quan hệ gián tiếp với một số tài khoản như thuế thu nhập doanhnghiệp khi nó là cơ sở để lập dự phòng phải thu khó đòi, do đó ảnh hưởng đến chi phí tàichính hoặc thuế giá trị gia tăng đầu ra…
Không chỉ ảnh hưởng tới một số khoản mục trên Bảng cân đối kế toán như trên
mà khoản nợ phải thu còn có mối liên hệ với một số khoản mục khác trên bảng kết quảhoạt động kinh doanh như doanh thu, giá vốn hàng bán…Thông thường khi doanh thu
Trang 10cũng như giá vốn tăng lên thì các khoản nợ phải thu cũng tăng lên nếu chính sách bánchịu không thay đổi.
1.1.2 Vai trò, vị trí khoản mục phải thu khách hàng trong chu trình bán hàng – thu tiền
Bán hàng – Thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hóa qua quá trìnhtrao đổi hàng – tiền Quá trình này được bắt đầu từ yêu cầu mua của khách hàng (đơn đặthàng, hợp đồng kinh tế…) và được kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hóa thành tiền.Chu trình bán hàng – thu tiền được xem là chu trình cuối cùng của quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Nó không những đánh giá hiệu quả kinh doanh của các chutrình trước đó mà còn đánh giá hiệu quả toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Chính vì vậy, kiểm toán chu trình này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongcác cuộc kiểm toán Các khoản phải thu ở người mua phát sinh từ quá trình bán hàng nên
có quan hệ chặt chẽ với quá trình này tạo nên một chu trình khép kín bán hàng – thu tiền,khoản mục này ghi nhận các khoản bán chịu cho khách hàng, thể hiện phần giá trị củadoanh nghiệp bị bên khách hàng chiếm dụng Tuy nhiện do “độ trễ” của quá trình thu tiền
so với quá trình bán hàng nên số tiền ghi trên khoản mục này của Bảng cân đối kế toán,cũng là số dư của các tài khoản phải thu khách hàng là số lũy kế từ các quá trình kinhdoanh trước đến cuối kỳ kinh doanh này Cùng với thời điểm phát sinh và thời hạn thanhtoán khác nhau, các khoản phải thu còn liên quan đến nhiều người mua có đặc điểm, điềukiện kinh doanh, quản lý và khả năng thanh toán khác nhau và có thể dẫn đến các khoản
nợ quá hạn, nợ khó đòi hoặc không đòi được Phân tích sự biến động của khoản mục phảithu sẽ cho thấy nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thu hồi phần tài sản bị chiếm dụng vàxem xét xu hướng của các khoản phải thu có tuân thủ theo xu hướng biến động của áckhoản phải thu trong kỳ không Vì vậy có thể rút ra các vai trò chủ yếu của khoản mụcphải thu khách hàng là:
- Ghi nhận các khoản doanh thu bán hàng theo hình thức trả chậm: Đây là
vai trò chủ yếu và quan trọng nhất của khoản mục phải thu khách hàng nhằm ghi nhậnchính xác và kịp thời các khoản bán hàng mua chịu Doanh thu được ghi nhận ngay khichuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng
- Theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng: thông qua việc ghi nhận vào
bên có của tài khoản 131 đơn vị có thể kiểm soát được quá trình trả nợ của khách hàng,
đó là cơ sở cho việc thu hồi nợ và xét duyệt bán chịu sau này Công việc này giúp doanhnghiệp giảm thiểu được phần nào rủi ro khi chấp nhận bán chịu cho khách hàng
- Đánh giá và xem xét khả năng thanh toán của khách hàng: từ việc ghi nhận
và theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp phải thường xuyên cậpnhật thông tin của khách hàng qua nhiều kênh khách nhau Việc thường xuyên cập nhật
Trang 11tình hình biến động về mặt kinh doanh của khách hàng giúp doanh nghiệp đánh giá đượckhả năng trả nợ của khách hàng.
- Khoản mục phải thu khách hàng là cơ sở để hạch toán các khoản mục dự
phòng nợ phải thu khó đòi: Việc theo dõi quá trình thanh toán và đánh giá xem xét khả
năng thanh toán của từng khách hàng giúp kế toán có cơ sở để ghi nhận các khoản dựphòng phải thu khó đòi Công việc này nhằm đảm bảo tính thận trọng trong quá trình ghinhận các khoản phải thu và mức độ thu hồi các khoản phải thu này Giá trị thuần củakhoản phải thu khách hàng bằng giá trị còn lại của khoản phải thu trừ đi khoản dự phòngphải thu khó đòi
- Khoản mục phải thu khách hàng là một công cụ quan trọng giúp doanh
nghiệp theo dõi được việc tuân thủ các chính sách bán chịu đã được đề ra: các chính
sách cơ bản ở đây là thời gian thanh toán, lãi trả chậm…
1.1.3 Kế toán khoản mục phải thu khách hàng
1.1.3.1 Nguyên tắc kế toán khi hạch toán khoản mục phải thu khách hàng
Các khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp phải được hạch toán chi tiết theođối từng đối tượng khách hàng Khi hạch toán không được phép bù trừ các khoản phảithu và phải trả của các khách hàng khác nhau nếu không có sự thỏa thuận giữa các bênvới doanh nghiệp
Hàng kỳ, kế toán phải thực hiện kiểm tra, đối chiếu công nợ đối với từng khoảnphải thu, số đã thu, số còn phải thu để tránh nhầm lẫn cũng như kịp thời phát hiện các saisót để sửa chữa, đặc biệt là đối với các khách hàng có quan hệ giao dịch thường xuyeenm
số dư khoản phải thu lớn
Với những khoản phải thu khách hàng có gộc ngoại tệ, kế toán phải theo dõi đồngthời cả số dư ngoại tệ và việt nam đồng theo tỷ giá thích hợp Cuối mỗi kỳ kế toán, doanhnghiệp cần thực hiện đánh giá lại số dư các khoản phải thu khách hàng có gốc ngoại tệ.Đối với các khoản phải thu có gốc là vàng bạc, đá quý, doanh nghiệp cần chi tiết theo cảchỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị Cuối kỳ cần đánh giá lại các khoản phải thu kháchhàng này và điều chỉnh theo giá trị thực tế
Các khoản phải thu khách hàng cần được phân loại theo thời gian thanh toán cũngnhư theo đối tượng cụ thể để có căn cứ xác định tuổi nợ và lập dự phòng chính xác chokhoản mục này Cũng như làm căn cứ để doanh nghiệp đưa ra các biện pháp thu hồi nợcủa khách hàng
Các khoản phải thu cần đảm bảo nguyên tắc ghi nhận đúng kỳ, trách sai lệch doghi nhận sai thời điểm phát sinh
Trang 12Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ bán sản phẩm, hàng hoá,BĐS đầu tư, TSCĐ, cung cấp dịch vụ thu tiền ngay (Tiền mặt, séc hoặc đã thu quaNgân hàng).
1.1.3.2 Chứng từ sổ sách và tài khoản sử dụng đối với khoản mục phải thu khách hàng
Bao gồm các chứng từ phát sinh trong toàn bộ quá trình bán hàng và cung cấpdịch vụ của doanh nghiệp như: đơn đặt hàng, lệnh duyệt bán chịu, Hợp đồng kinh tế,Phiếu xuất kho, Hóa đơn vận chuyển, Hóa đơn bán hàng, Phiếu giao nhận hàng, Biên bảnthanh lý hợp đồng, Biên bản nghiệm thu (đối với các doanh nghiệp xây lắp), Phiếu nhậpkho (đối với các hàng hóa bị trả lại), Phiếu thu tiền, Giấy báo có của ngân hàng…
Kế toán sử dụng hai tài khoản chủ yếu để theo dõi khoản mục phải thu khách hàng
là TK 131 – Phải thu khách hàng và TK 139 – Dự phòng nợ phải thu khó đòi
Kết cấu tài khoản 131
Tài khoản 131 – Phải thu khách hang
Tài khoản này có thể có số dư bên Có Số dư bên Có phản ánh số tiền nhận trước, hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng chi tiết theo từng đối tượng cụ thể Khi lập Bảng Cân đối kế toán, phải lấy số dư chi tiết theo từng đối tượng phải thu của tài khoản này để ghi cả hai chỉ tiêu bên “Tài sản” và bên “Nguồn vốn”.
Kết cấu tài khoản 139:
Trang 13Tài khoản 139 – Dự phòng phải thu khó đòi
Trang 14Sơ đồ 1.1: Trình tự hạch toán khoản phải thu khách hang
Doanh thu Tổng số tiền Chiết khấu thanh toán
Chưa thu tiền KH hàng phải thanh toán
TK 333 TK 521, 531, 532 (33311) Chiết khấu thương mại
Thuế GTGT Giảm giá hàng bán
Thu nhập khác Tổng số tiền KH Khách hàng ứng trước
Chưa thu tiền phải thanh toán Hoặc thanh toán tiền
TK 111, 112 TK 152, 153, 156,…
Các khoản chi hộ khách hàng Khách hàng thanh toán bằng hàng
(Theo phương thức hàng đổi hàng)
TK 133
TK 413 (Nếu có)
TK 333Chênh lệch tỷ giá tăng cuối kỳ Bù trừ nợ
đánh giá các khoản phải thu của
khách hàng bằng ngoại tệ TK 139
Nợ khó đòi phải Số đã lập dự phòng
TK 642 Chênh lệch tỷ giá giảm Số chưa lập DP
Trang 151.1.4 Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính
1.1.4.1 Khoản mục phải thu khách hàng với vấn đề kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán nợ phải thu khách hàng nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng thíchhợp từ đó đưa ra mức độ tin cậy của các thông tin tài chính, đồng thời cung cấp thông tin,tài liệu có liên quan làm cơ sở tham chiếu khi kiểm toán các tài khoản khác Khoản muc
nợ phải thu khách hàng là tài sản của doanh nghiệp, do đó, thực hiện kiểm toán khoảnmục này sẽ giúp kiểm tra tính trung thực của các loại tài sản trong doanh nghiệp cũngnhư khả năng hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp qua các tỷ suất phản ánh khảnăng thanh toán
Khoản mục nợ phải thu khách hàng liên quan đến khoản mục doanh thu, do vậykiểm toán nợ phải thu khách hàng góp phần kiểm tra tính trung thực của các khoản doanhthu và doanh thu bán chịu trong kỳ
Kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng bao gồm cả đánh giá việc lập dựphòng phải thu khó đòi và các chi phí phát sinh liên quan Do vậy, qua kiểm toán nợ phảithu khách hàng KTV sẽ thu thập được các bằng chứng về việc ghi tăng (hoặc giảm) chiphí trong kỳ do phát sinh các khoản phải thu khó đòi hoặc không thể thu hồi được, từ đókiểm tra thêm về tính chính xác của lợi nhuận trong kỳ
Nợ phải thu khách hàng phản ánh một giai đoạn trong chu trình bán hàng thu tiềncủa doanh nghiệp, chu trình này khá phức tạp và thường xảy ra những sai phạm hoặc cốtình hoặc vô ý Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp lớn tình hình bán hàng thu tiền phứctạp, và có nhiều khoản phải thu khó đòi kéo dài trong nhiều năm, khả năng xảy ra việcnhân viên đã thu tiền nhưng cố ý xóa sổ khoản nợ này để mang lại lợi ích cho cá nhân làkhá cao, Do đó, kiểm toán khoản mục này có thể phát hiện ra các sai phạm liên quan đếnHTKSNB và làm giảm rủi ro kiểm toán
Như vậy, đối với vấn đề kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng được coi làmột trong những khoản mục trọng yếu vì nó liên quan rất lớn đến nhiều khoản mục khácnhư đã trình bày ở trên Vì vậy, khi thực hiện kiểm toán khoản mục này, KTV cần đặtkhoản mục này trong quan hệ với các khoản mục trọng yếu khác để kiểm tra được cả sựhợp lý và tính chính xác của số liệu giữa các tài khoản
1.1.4.2 Một số sai phạm thường gặp đối với khoản mục phải thu khách hàng làm ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính
Phải thu khách hàng là khoản mục có tính chất trọng yếu trên BCTC và cũng làkhoản mục có nhiều gian lận, sai sót xảy ra Dưới đây là một số sai phạm thường xảy rađối với khoản mục này:
Trang 16- Số nợ phải phải thu KH phản ánh trên sổ sách kế toán cao hơn thực tế Saiphạm này xảy ra khi kế toán ghi nhận các khoản phải thu cao hơn chứng từ gốc hoặctrong quá trình hạch toán kế toán hạch toán hai lần đối với một số nghiệp vụ Nguyênnhân khách quan có thể do trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán còn hạn chế nên
dễ dẫn đến sai sót Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân chủ yếu Bên cạnh đó còn
có nhiều nguyên nhân chủ quan khác như: do lỗi cố ý từ phía lãnh đạo của đơn vị muốnthể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp khả quan hơn trong sự đánh giá của các đốitượng quan tâm nhằm tăng uy tín cho doanh nghiệp Sự chênh lệch này cũng có thể lànguyên nhân dẫn đến các khoản doanh thu không được phản ánh đầy đủ làm cho lợinhuận của doanh nghiệp tăng lên
- Số nợ phải thu có thể bị ghi nhận không đầy đủ các khoản phải thu kháchhàng phát sinh; không thực hiện theo dõi các khoản phải thu đã xóa sổ trên tài khoảnngoại bảng dẫn đến khả năng thất thoát cao đối với các khoản thu hồi được sau khi đãxóa sổ
- Ngoài ra, các sai phạm khác như: bù trừ nhầm công nợ giữa các đối tượng;phân loại không đúng giữa các khoản mục ứng trước của người mua với khoản tạm ứng,phải thu khách hàng, phải trả phải nộp khác; không phân loại hoặc phân loại không đúngtuổi nợ dẫn đến không có kế hoạch thu hồi nợ hoặc việc trích lập dự phòng không đúng;chưa đánh giá lại hoặc đánh giá lại sai các khoản công nợ có gốc ngoại tệ; không tiếnhành đối chiếu xác nhận công nợ phải trả tại thời điểm lập BCTC….cũng rất dễ xảy ra.Tính đúng kỳ của khoản phải thu khách hàng cũng dễ bị vi phạm do ghi nhận không đúngthời điểm phát sinh của khoản phải thu Do đó trong quá trình kiểm tra, rà soát, KTV cầnchú trọng xem xét, tìm hiểu các sai phạm có khả năng xảy ra đối với khoản mục này đểxác định các bước công việc, các thủ tục kiểm toán cụ thể để thực hiện nhằm thu thậpbằng chứng hữu hiệu, đưa ra kết luận chính xác và nhanh nhất
1.1.4.3 Một số công việc kiểm soát nội bộ đối với khoản mục phải thu khách hàng
Hệ thống kế toán chứng từ đến sổ sách kế toán và bảng tổng hợp cần có tác dụngkiểm soát tối đa các nghiệp vụ Với khung pháp lý là như nhau và được quy định trước,mỗi đơn vị lại có thể lựa chọn các hình thức kế toán, các phương thức kế toán khác nhaudẫn tới trình tự kế toán cụ thể cũng khác nhau Mỗi đơn vụ cần định sẵn trình tự cụ thểtương ứng với hệ thống sổ sách tạo thành yếu tố kiểm soát có hiệu lực
Ví dụ: Có công ty quy định khi nhận được đơn đặt hàng của người mua, công tylập hóa đơn bán hàng đánh số trước và lập biểu nhiều liên: Liên đầu giao cho người mua,các liên sau dùng để ghi sổ theo dõi bán hàng và thu tiền, cũng có thể dùng để duyệt bánchịu, cho phép vận chuyển…
Trang 17 Việc đánh số thứ tự các chứng từ
Sử dụng chứng từ có đánh số thứ tự trước theo thứ tự liên tục có tác dụng vừa đềphòng bỏ sót, dấu diếm, vừa tránh trùng lặp các khoản phải thu, các khoản ghi sổ bánhàng Tuy nhiên việc đánh số thứ tự trước phải có mục đích rõ rang kèm theo việc tổchức hợp lý theo hướng tích cực để đạt được mục đích đó
Ví dụ: Khi bán hàng và vận chuyển diễn ra với tần suất lớn cần kiểm soát qua sốthứ tự liên tục của vận đơn tránh bỏ sót các nghiệp vụ thu tiền cần phân công nhân viênlàm hóa đơn lưu trữ với tất cả chứng từ vận chuyển đã đánh số liên tục sau mỗi lần vậnchuyển đã thu tiền và cùng một người khác định kỳ soát lại tất cả các số thứ tự và tìmnguyên nhân của bất kỳ sự bỏ sót nào
Tùy theo quy mô nghiệp vụ bán hàng và quy định của mỗi doanh nghiệp thì hàngtháng, quý kế toán lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng nhằm đối chiếu những khoảnphải thu đã ghi nhận với số tiền đã thanh toán Do các cân đối này thể hiện mối liên hệtrực tiếp giữa doanh nghiệp với người mua nên được gửi đến cho người mua để xác nhậnquan hệ mua – bán đã phát sinh Việc lập bảng cân đối cần được đảm bảo tính kháchquan do đó nên giao cho người không có liên quan đến thu tiền hàng, ghi sổ bán hàng vàthu tiền lập ra Người lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng và gửi cho người mua có thể
là kế toán thanh toán dưới sự phê duyệt, kiểm tra của kế toán trưởng và Phó giám đốc…cũng có thể là kế toán tổng hợp người chịu trách nhiệm thực hiện công việc này
Bao gồm ba nguyên tắc chủ yếu sau:
- Việc bán chịu phải được duyệt y cẩn trọng trước khi bán hàng
- Hàng bán chỉ được vận chuyển sau khi duyệt với đầy đủ chứng cứ (tài khoản,con dấu, chữ ký hợp pháp của bên mua.)
- Giá bán phải được duyệt bao gồm cả phí vận chuyển, giảm giá, bớt giá và điềukiện thanh toán
- Phân tách và theo dõi độc lập sổ bán hàng và sổ thu tiền bởi hai kế toán khácnhau và có đối chiếu định kỳ Sổ bán hàng do người phụ trách ở bộ phận bán hàng lập ra,
sổ thu tiền do kế toán thanh toán với người mua lập ra
- Ngăn cách nơi làm việc độc lập của thủ quỹ với người ghi chép các nhật kýbán hàng Nhật ký bán hàng do kế toán bán hàng lập và theo dõi
Trang 18- Giữa chức năng bán hàng và chức năng duyệt bán chịu cần phân tách đểphòng ngừa những tiêu cực có thể phát sinh trong khâu bán hàng và khả năng thất thutrong thanh toán
Tính độc lập của người kiểm tra – kiểm soát
Trong việc thực hiện trình tự kiểm soát nội bộ đây là yêu tố chủ yếu trong việcphát huy hiệu lực của kiểm soát nội bộ Thông thường, sử dụng KTV nội bộ để kiểm soátviệc xử lý và ghi sổ các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền sẽ đảm bảo chất lượng kiểm soát
và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu kiểm toán
Việc kiểm tra giám sát của KTV nội bộ đối với khoản mục phải thu khách hàngđược thực hiện theo định kỳ theo quy định của từng công ty, cũng có thể theo quy mô củakhoản mục, trong trường hợp xảy ra bất thường hoặc theo yêu cầu của Ban giám đốccông ty với mục đích cụ thể
1.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện.
Kiểm toán BCTC là xác minh và bày tỏ ý kiến về độ tin cậy của các thông tin, vềtính tuân thủ nguyên tắc Đối với mỗi chu trình hay mỗi khoản mục đều có những mụctiêu chung và mục tiêu đặc thù riêng Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 xác
định: “ Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và Công ty Kiểm toán đưa ra ý
kiến xác nhận rằng BCTC được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” “ Mục tiêu kiểm toán BCTC còn giúp đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”.
Do tính chất và vai trò vô cùng quan trọng của mình, phải thu khách hàng luôn làkhoản mục được nhiều đối tượng quan tâm và kiểm toán khoản mục này là một phần rấtquan trọng trong kiểm toán BCTC Với KTV tại AASC, việc xác minh không chỉ dừnglại ở các mục tiêu chung mà còn phải cụ thể vào các mục tiêu đặc thù
Trang 19Bảng 1.1: Bảng mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
1.3 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và kiểm toán (AASC) thực hiện
Là một phần trong quy trình kiểm toán BCTC, kiểm toán khoản phải thu kháchhàng chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng cao, đòi hỏi việc thiết kế và vận dụng các thủ tụckiểm toán sao cho rủi ro phát hiện là thấp nhất, để đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực củatừng cuộc kiểm toán, cũng như để thu thập đầy đủ bằng chứng làm căn cử cho những ýkiến của KTV về tính trung thực và hợp lý của khoản mục nói riêng và BCTC nói chung.Cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình thông thường, gồm ba giai đoạn:chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán
Trang 20Sơ đồ 1.2 : Các giai đoạn của một cuộc kiểm toán
1.3.1 Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Do khoản phải thu khách hàng là một trong những khoản mục trọng yếu trongkiểm toán BCTC, vậy nên, kiểm toán khoản mục này đòi hỏi sự chuẩn bị công phu, chuđáo bởi KTV có kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp cao Chính vì vậy, giaiđoạn chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm tạo racác điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện khác cho cuộc kiểm toán Chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam số 300 (VAS 300) nêu rõ: “KTV và Công ty kiểm toán cần phải lập kế
LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TỔNG QUÁT
THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH KIỂM TOÁN
Giai đoạn
lập kế
hoạch
kiểm toán
- THỰC HIỆN CÁC THỬ NGHIỆM KIỂM SOÁT
- THỰC HIỆN THỬ NGHIỆM CƠ BẢN (THỦ TỤC PHÂN TÍCH, THỦ TỤC KIỂM TRA CHI TIẾT CÁC
Trang 21hoạch để đảm bảo cho cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả”, và “Kế hoach kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán”
Các công ty kiểm toán cần ý thức được tầm quan trọng của giai đoạn chuẩn bịkiểm toán, xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp với đơn vị mình và phù hợp với từngnhóm khách hàng cụ thể Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán khoản phải thu khách hàng baogồm hai bước chính là lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và thiết kế chương trình kiểmtoán gồm các bước việc như sau:
1.3.1.1 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Trong giai đoạn này, KTV và công ty kiểm toán phải thực hiện các bước công việcchủ yếu sau:
Sơ đồ 1.3: Các bước công việc chính trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Khi KTV và Công ty kiểm toán gửi thư chào hàng, thu nhận một khách hàng, quytrình kiểm toán sẽ bắt đầu Trên cơ sở xác định đối tượng khách hàng cần phục vụ, KTV
sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch cho cuộc kiểm toán baogồm: đánh giá khả năng chấp nhận của khách hàng mới và sự tiếp tục của khách hàng cũ,nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểmtoán, thỏa thuận sơ bộ với khách hàng và ký hợp đồng kiểm toán
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toánThu thập thông tin cơ sởThu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Thực hiện thủ tục phân tíchĐánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toánNghiên cứu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm toán
Trang 22Đánh giá khả năng chấp nhận của khách hàng cũ và sự tiếp tục của khách hàng mới
Trước khi ký một hợp đồng kiểm toán, KTV phải đánh giá, xem xét việc chấpnhận hay tiếp tục một khách hàng có làm tăng rủi ro cho hoạt động kiểm toán của KTVhay làm ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hình ảnh của Công ty kiểm toán hay không? Đểlàm được điều này, đòi hỏi KTV phải có thu thập và lựa chọn từ nhiều nguồn thông tin từcác bên liên quan tới doanh nghiệp Với các khách hàng cũ, KTV cần cập nhật nhữngthông tin mới về khách hàng, xem xét xem năm hiện tại có thêm những rủi ro nào có thểkhiến KTV và Công ty kiểm toán phải ngững cung cấp dịch vụ hay không? Với cáckhách hàng mới, việc KTV cần làm đầu tiên là xem xét lý do lựa chọn kiểm toán mới củakhách hàng, từ đó xác định khả năng chấp nhận kiểm toán, thu thập thông tin khi BCTCcủa khách hàng đã được sử dụng rộng rãi, đánh giá hệ thống kiểm soát chất lượng và tínhliêm chính của BGĐ, liên lạc với KTV tiền nhiệm nhằm thu thập những thông tin về tínhchính trực của ban quản lý, các bất đồng nếu có giữa hai bên, các vấn đề quan trọngkhác… và lý do tại sao lại có sự thay đổi KTV Qua những thông tin đó, KTV sẽ tổnghợp và cân nhắc việc chấp nhận đi tới một hợp đồng kiểm toán
Nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng
Bước công việc này, thực chất là công việc giúp KTV xác định được đối tượng vàmục đích sử dụng BCTC của khách hàng, Đây là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sốlượng bằng chứng cần phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến của KTV đưa ratrong BCKT Dựa trên tình hình hoạt động SXKD, khả năng của Công ty thông quaphỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng, hoặc dựa vào kinh nghiệm của các cuộc kiểm toántrước đó (đối với khách hàng cũ) để đưa ra quyết định hợp lý trong việc ký kết hợp đồngkiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán phù hợp Đồng thời, KTV phải thu thậpthêm thông tin trong suốt quá trình kiểm toán để hiểu thêm về lý do kiểm toán của kháchhàng Thông qua bước công việc này, Công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạpcủa cuộc kiểm toán, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chon đội ngũ nhân viên đểthực hiên cho cuộc kiểm toán ở các giai đoạn tiếp theo
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho mỗi cuộc kiểm toán nói chung vàkhoản mục chứa đựng nhiều rủi ro như khoản mục phải thu khách hàng nói riêng có vaitrò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của cuộc kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ: “ Quá trình kiểm toán phải được thực hiện
bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một KTV” Do đó,
trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên, Công ty kiểm toán cần quan tâm tới ba vấn
đề chính:
Trang 23- Lựa chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanhcủa khách hàng,
- Tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm,
- Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát các nhân viên chưa cókinh nghiệm trong nghề
Mặt khác, trong nhiểu trường hợp, cần có chính sách luân chuyển KTV giữa cáckhách hàng để tránh việc kiểm tra theo lối mòn hoặc theo ảnh hưởng tới tính khách quan,độc lập Đối với những khoản mục quan trọng như TK 131, sẽ do những KTV dày dặnkinh nghiệm, thường xuyên đảm nhận khoản mục này thực hiện
Thỏa thuận sơ bộ với khách hàng và ký hợp đồng kiểm toán
Sau khi khách hàng và Công ty kiểm toán đã thống nhất lựa chọn, trao đổi và thoảthuận sơ bộ về một số vấn đề như mục đích và phạm vi kiểm toán, việc cung cấp các tàiliệu cần thiết… Trên cơ sở đó, hai bên sẽ xúc tiến việc ký hợp đồng kiểm toán Đây làbước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán mà Công ty kiểm toán phải thực hiện
Theo chuẩn mực kiểm toán số 210: “Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức
trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và Công
ty kiểm toán” Đó chính là sự thỏa thuận chính thức giữa khách hàng và Công ty kiểm
toán về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ khác Đồng thời, hợp đồng kiểm toán sẽ
là cơ sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán, đảm bảo chomột cuộc kiểm toán được thực hiện
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng, KTV tiến hành thu thập, tìm hiểu các thông tin ban đầu
về khách hàng (ngành nghề kinh doanh, kết quả kiểm toán năm trước, giấy phép kinhdoanh, biên bản các cuộc họp,…), tìm hiểu về hệ thống kế toán, hệ thống KSNB đối vớikhoản mục phải thu khách hàng và các bên liên quan để hoạch định các thủ tục kiểm toánphù hợp với đặc điểm hoạt động của khách hàng, nhất là giúp KTV xác định được khuvực có rủi ro cao để có biện pháp kiểm toán thích hợp Đồng thời, KTV đánh giá khảnăng có những sai sót trọng yếu, đánh giá ban đầu về mức trọng yếu với BCTC cũng nhưkhoản mục phải thu khách hàng và thực hiện thủ tục phân tích để xác định khối lượngcông việc cần thực hiện
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, việc thu thập thông tin thường được tiếnhành thông qua:
- Ngành nghề kinh doanh nào cũng có những đặc điểm riêng, thông qua việctìm hiều ngành nghề kinh doanh của khách hàng, KTV có thể xác định được mức độquan trọng và kết cấu của khoản phải thu khách hàng không giống nhau giữa các doanhnghiệp Với những doanh nghiệp có kết cấu khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng
Trang 24lớn trong tổng số tài sản, công tác kiểm toán cần chú ý vào sự phản ánh trung thực, đầy
đủ và hợp lý của các khoản phải thu khách hàng
- KTV có thể liên hệ với KTV tiền nhiệm (đối với khách hàng cũ) hoặc xem lại
hồ sơ kiểm toán năm trước (đối với khách hàng cũ) để thu thập thông tin cơ bản về mức
độ sai phạm của doanh nghiệp năm trước với khoản mục phải thu khách hàng
- KTV cần tìm hiểu những thay đổi về các khoản phải thu khách hàng, việc thayđổi các khách hàng thường xuyên, hoặc khách hàng mới,… trong các năm trước
- KTV cần nhận diện các bên liên quan với doanh nghiệp Đây là bước thu thậpthông tin quan trọng, đó là thu thập các mối quan hệ giữa BGĐ, kế toán trưởng với kháchhàng, nhà cung cấp, các ngân hàng, các đơn vị tín dụng,…Thông qua phỏng vấn và đánhgiá mối quan hệ có thể đưa ra những nhận xét ban đầu về rủi ro tiềm tàng có thể xảy rađối với các số liệu kế toán khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp
- Cuối cùng, KTV cần thu thập các tài liệu, số liệu kế toán do kế toán trưởngkhách hàng cung cấp về phải thu khách hàng như: BCĐKT, BCĐSPS, nhật ký bán hàng,nhật ký thu tiền, sổ cái TK 131,…để tiến hành phân tích sơ bộ
Bước 3: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Bên cạnh việc thu thập các thông tin cơ sở, KTV cần thu thập các thông tin vềnghĩa vụ pháp lý của khách hàng để nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnhhưởng tới hoạt động kinh doanh Theo Hệ thống CMKTVN, chuẩn mực số 250 (VAS
250): “Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần phải chú ý
đến hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan dẫn đến sai sót, ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và để lập kế hoạch kiểm toán, KTV và Công ty kiểm toán phải có sự hiểu biết tổng thể về pháp luật và các quy định liên quan đến hoạt động và ngành nghề kinh doanh của đơn vị được kiểm toán…” Các thông tin liên quan đến nghĩa
vụ pháp lý mà KTV cần thu thập bao gồm:
- Giấy phép thành lập và điều lệ Công ty: đây là tài liệu quy định những vấn đềmang tính chất nội bộ của đơn vị (cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ,…)
- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và BGĐ: đây là tài liệu quantrọng về xét duyệt mua bán, phê chuẩn giải thể,…
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng, hợp đồng mua bán hàng hóa,…
- Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra của năm hiện hành hay vài năm trước
Bước 4: Thực hiện thủ tục phân tích
Theo CMKTVN số 520: “ Thủ tục phân tích là quá trình đánh giá các thông tin
tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính Nó bao hàm cả việc so sánh số liệu trên sổ với các số liệu ước tính của KTV” Thủ tục phân tích được áp dụng trong mọi cuộc kiểm
Trang 25toán và trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm toán Qua đó, KTV có thể xác định đượcnội dung cơ bản của cuộc kiểm toán Các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụngkhi kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng gồm hai loại cơ bản: phân tích ngang vàphân tích dọc.
Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC Cụ thể, đối với khoản phải thu khách hàng,KTV tiến hành:
- So sánh về số liệu nợ phải thu khách hàng của kỳ này với kỳ trước Qua đó,KTV có thể nhận thấy tình hình biến động bất thường của khoản mục và xác định đượccác vấn đề cần quan tâm
- So sánh các chỉ tiêu của Công ty khách hàng với chỉ tiêu chung của toàn ngành
- So sánh số nợ phải thu khách hàng thực tế với số dự toán hay ước tính của KTV
Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ
lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC, tỷ suất về khả năngthanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất về cơ cấu vốn,…Trong quátrình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách KTV thường sử dụng một số tỷ suất sau:
Tỷ suất thanh toán hiện hành =
Trong đó, tài sản ngắn hạn bao gồm cả các khoản phải thu khách hàng Việc phân
tích các tỷ suât sẽ giúp KTV có tể phát hiện ra một số vấn đề liên quan đến các khoản phảithu khách hàng Sự tăng lên hoặc giảm đi đáng kể của các tỷ suất này sẽ chỉ ra những vấn đề
về tính trọn vẹn và hiện hữu của khoản mục này Bên cạnh đó, các tỷ suất còn chịu ảnhhưởng bởi sự thay đổi của một số khoản tài sản khác (tiền, tài sản ngắn hạn)
Kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng, KTV cần quan tâm đến tỷ lệ cáckhoản nợ khó đòi hay nợ quá hạn hoặc nợ không đòi được trên tổng số doanh thu, tỷ lệhàng bán bị trả lại hoặc các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán…Ngoài
ra, KTV còn quan tâm đến chỉ tiêu thời gian quay vòng khoản phải thu:
Số dư bìn h qu ân các kh oả n ph ải
Hệ số vòng quay khoản phải thu khách hàng thể hiện mối quan hệ giữa doanh thuthuần với các khoản phải thu khách hàng Nó phản ánh tốc độ biến khoản phải thu kháchhàng thành tiền mặt Vòng quay các khoản phải thu KH càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồicác khoản phải thu càng nhanh Tuy nhiên, nếu vòng thu quá cao thì cũng đồng nghĩa với
kỳ thanh toán ngắn hạn và có thể ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ sản phẩm
Việc áp dụng thủ tục phân tích không chỉ giúp KTV nhận ra tình hình biến độngcũng như tính chất trọng yếu của khoản mục mà còn ước tính được khối lượng công việccần thực hiện sau đó
Trang 26Bước 5: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
Là bước cơ bản và quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: “Trọng yếu
là khái niệm về tầm cỡ (hay độ lớn) và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của cácthông tin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựavào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luậnsai lầm”
Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuât kinh doanh của khách hàng, KTV sẽ lựachọn ra chỉ tiêu (doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản) để ước lượng mức độ trọng yếuban đầu cho toàn bộ BCTC, hay chính là mức độ sai sót có thể chấp nhận được đối vớiBCTC Từ đó, đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC và xác định quy mô và bảnchất của cuộc kiểm toán Sau khi ước lượng được mức trọng yếu, KTV sẽ tiến hành phân
bổ mức trọng yếu cho các khoản mục Mức trọng yếu đối với khoản mục phải thu kháchhàng chính là sai số có thể chấp nhận được đối với khoản mục này Việc phân bổ này làhoàn toàn cần thiết vì đây là cơ sở để KTV quyết định quy mô bằng chứng cần thu thập
Cơ sở này sẽ cho KTV những bằng chứng thích hợp ở mức chi phí thấp nhất để KTV đưa
ra kết luận đối với khoản mục phải thu khách hàng
Cơ sở để KTV phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục phải thu khách hàng là bảnchất khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của KTV vàchi phí kiểm toán đối với khoản mục
Bảng 1.2: Đánh giá mức trọng yếu của khoản mục phải thu khách hàng
Đánh giá rủi ro kiểm toán:
Bất kỳ một cuộc kiểm toán nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định do nhiềunguyên nhân khác nhau, chính vì vậy, khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần chú ý đánhgiá rủi ro kiểm toán Theo định nghĩa của nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế IGA 25:
“Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng” Dựa trên
cơ sở mức trọng yếu phân bổ cho khoản mục phải thu khách hàng, KTV sẽ thiết kế cácthủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm toán thích hợp cho khoản mục này.KTV cần đánh giá các loại rủi ro sau:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục phải thu khách hàng
là khả năng số dư của khoản mục có thể xảy ra sai sót dù có hay không hệ thống kiểmsoát nội bộ của đơn vị khách hàng KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng của khoản mục nàydựa trên tính chất ngành nghề kinh doanh của khách hàng, quy mô của khoản mục, mức
Trang 27độ trọng yếu của số dư tài khoản, các phán đoán nghề nghiệp của KTV về rủi ro củakhoản mục từ việc thực hiện thủ tục phân tích trong bước chuẩn bị kiểm toán, số lượngcác khách hàng không thường xuyên, các ước tính dự phòng phải thu khó đòi…
- Rủi ro kiểm soát (CR): Rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phải thu khách
hàng là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng không hoạt động hoặc hoạtđộng không có hiệu quả do đó không phát hiện và ngăn chặn được các sai phạm đối vớikhoản mục này KTV đánh giá rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phải thu khách hàngthông qua việc tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng đối với khoản mục này như vềmôi trường kiểm soát, trình độ của đội ngũ kế toán thanh toán và bán hàng, việc thiết lập
và thực hiện các quy trình chung về bán hàng, quy chế đối chiếu số dư công nợ cuối kỳ…
- Rủi ro phát hiện (DR): Rủi ro phát hiện đối với khoản mục phải thu khách
hàng là khả năng xảy ra sai sót hay gian lận đối với khoản mục này mà không được ngănngừa hay phát hiện bởi hệ thống KSNB và KTV cũng không phát hiện được ra trong quátrình thực hiện các bước công việc kiểm toán Rủi ro này có thể xảy ra do KTV thực hiệncác bước công việc kiểm toán không thích hợp hoặc thực hiện không đầy đủ các bướccông việc đó Ví dụ như KTV không gửi thư xác nhận độc lập mà tin tưởng tuyệt đối vào
Hệ thống KSNB của khách hàng Từ một mức rủi ro kiểm toán mong muốn cùng mức rủi
ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng KTV đã đánh giá ở trên, KTV sẽ tính ra được rủi ro pháthiện đối với khoản mục phải thu khách hàng theo mô hình dưới đây, từ đó KTV ướclượng được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp để đưa ra ý kiến chính xác đối vớikhoản mục phải thu khách hàng
Mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trong giai đoạn lập kế hoạchkiểm toán theo mô hình sau:
DAR = IR*CR*DR hay DR =
Trong đó: DAR : Rủi ro kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 320, mức độ trọng yếu và rủi ro có mốiquan hệ ngược chiều nhau, nghĩa là khi mức độ trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toáncàng thấp và ngược lại Trên cơ sở cân nhắc mối quan hệ này, KTV sẽ xác định được nộidung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp Vì vậy, KTV cầnhiểu sâu sắc mối quan hệ này để thu thập được các bằng chứng kiểm toán có giá trị cao,
Trang 28giảm rủi ro phát hiện xuống đến mức có thể chấp nhận được Trên thực tế, việc xác địnhtrọng yếu và rủi ro kiểm toán là thủ tục phức tạp đòi hỏi trình độ cũng như kinh nghiệmphán đoán của KTV Hiện nay ở AASC cũng đã xây dựng được quy trình ước lượngtrọng yếu và rủi ro kiểm toán tuy nhiên mô hình này còn rất đơn giản và chủ yếu đượcước lượng bởi sự xét đoán của KTV
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và số lượng bằng chứng kiểm toán
Bước 6: Tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: “KTV phải có đủ hiểu biết về hệthống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng để lên kế hoạch kiểm toán và xây dựngcách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNBcủa khách hàng đối với khoản mục phải thu khách hàng là bước công việc hết sức quantrọng mà KTV cần thực hiện khi tiến hành kiểm toán khoản mục này không chỉ để xácđịnh tính hữu hiệu của hệ thống KSNB mà còn làm cơ sở xác định phạm vi thực hiện cácthử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị Nếu hệ thống KSNB đối vớikhoản mục này hoạt động có hiệu quả tức là rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức thấpthì số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập sẽ giảm và ngược lại Khi đó, KTV sẽ tậptrung và các thử nghiệm kiểm soát và giảm các thử nghiệm cơ bản
Đối với việc đánh giá hệ thống KSNB khoản mục phải thu khách hàng, KTV thựchiện qua bốn bước cơ bản như sau:
Thứ nhất, Thu thập hiểu biết về hệ thống KSNB đối với khoản mục phải thu
khách hàng và mô tả chi tiết hệ thống KSNB trên giấy tờ làm việc dựa trên: môi trườngkiểm soát, hệ thống thông tin các khoản phải thu khách hàng, các thủ tục kiểm soát và hệthống KSNB
Trang 29Thứ hai, Đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát và các khoản phải thu khách
hàng Nếu hệ thống KSNB với khoản mục này được thiết kế và vận hành hữu hiệu thì rủi
ro kiểm soát được đánh giá là thấp và ngược lại Việc đánh giá rủi ro kiểm soát được tiếnhành thông qua việc nhận diện các mục tiêu kiểm soát với khoản mục phải thu kháchhàng (sự đồng bộ của sổ sách kế toán, việc đánh số thứ tự trước các chứng từ,…), nhậndiện các quá trình kiểm soát đặc thù, đánh giá nhược điểm của hệ thống KSNB, so sánhtương đối giữa mục tiêu đề ra đối tượng với hệ thống KSNB Mức rủi ro này có thể đượcKTV đánh giá cao, trung bình, thấp hoặc theo tỷ lệ phần trăm,
Thứ ba,Thực hiện thủ tục kiểm soát nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán về sự
hiện hữu của hệ thống KSNB để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụcác khoản mục phải thu khách hàng Đối với các bằng chứng để lại “dấu vết” thường sửdụng phương pháp kiểm tra tài liệu liên quan hoặc thực hiện các thủ tục kiểm soát Cònđối với các bằng chứng không để lại “dấu vêt” thì tiến hành quan sát, phỏng vấn các thủtục có liên quan
Cuối cùng, KTV lập bảng đánh giá hệ thống KSNB gồm: Mục tiêu kiểm toán,
thông tin mô tả thực trạng khoản phải thu khách hàng, bản chất và tính hệ trọng của cácrủi ro tương ứng, nguyên tắc thiết kế và vận hành các thủ tục kiểm soát, đánh giá hệthống KSNB KTV có thể dựa vào một số tiêu chí như: Sự tồn tại và hoạt động liên tụccủa quy trình các thủ tục kiểm toán được thống nhất thành văn bản, các thủ tục kiểm soáthoạt động có hiệu quả không, các số liệu có chính xác không, các chứng từ có được phêduyệt theo quy định không,…
Sau khi đánh giá tồn tại và hữu hiệu của hệ thống KSNB, KTV sẽ tiến hành lập kếhoạch kiểm toán tổng quát và thiết kế chương trình kiểm toán
1.3.1.2 Thiết kế chương trình kiểm toán đối với khoản mục phải thu khách hàng
Thiết kế chương trình kiểm toán chi tiết đối với từng khoản mục được xem là mộtbước hết sức quan trọng trong mỗi cuộc kiểm toán Đây là cơ sở để kiểm toán viên thựchiện công việc kiểm toán BCTC của khách hàng Chương trình kiểm toán nếu được thiết
kế phù hợp và hiệu quả sẽ giúp KTV thu được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thíchhợp phục vụ cho việc đưa ra ý kiến của mình
Hiện nay, ở AASC đã thiết kế sẵn chương trình kiểm toán chi tiết cho tất cả cáckhoản mục trên BCTC Tuy nhiên đối với mỗi khách hàng, dựa vào thông tin, tài liệu đãthu thập được, KTV sẽ lập kế hoạch kiểm toán chi tiết hơn cho từng khoản mục với cácbước công việc cụ thể
Trang 30Trong chương trình kiểm toán của AASC đối với khoản mục phải thu khách hàngnói riêng và các khoản mục khác trên BCTC nói chung đều được xác định rõ rang cácmục tiêu và các công việc cần thực hiện để kiểm toán khoản mục đó (các thủ tục phântích, thử nghiệm cơ bản, quy mô mẫu chọn… áp dụng cho từng khoản mục) Mỗi khoảnmục trên BCTC đều được đánh giá rủi ro, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để phát hiện
và phòng ngửa các rủi ro còn tiềm ẩn trong BCTC
Chương trình kiểm toán chi tiết này được lập phù hợp với chương trình kiểm toántiên tiến nhất đang được áp dụng thống nhất trong Công ty nhằm đảm bảo cho việc thựchiện kiểm toán đạt được hiệu quả cao nhất
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, Công ty AASC không lập chương trìnhkiểm toán riêng cho khoản mục này mà chỉ lập chương trình kiểm toán chi tiết cho khoảnmục phải thu, được trình bày ở bảng dưới đây
Trang 31Bảng 1.4: Chương trình kiểm toát chi tiết áp dụng đối với kiểm toán khoản mục
phải thu khách hàng tại AASC
1.3.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Sau khi thiết kế chương trình kiểm toán chi tiết, nhóm kiểm toán được phân côngthực hiện kiểm toán tại khách hàng sẽ tiến hành đến đơn vị khách hàng và thực hiện kiểmtoán theo đúng chương trình đã lập Đối với KTV chịu trách nhiệm thực hiện kiểm toánđối với khoản mục phải thu khách hàng sẽ tiến hành theo các bước đã được mô tả cụ thểtrong chương trình kiểm toán của công ty nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán Ởgiai đoạn này công việc của KTV có thể khái quát thành hai giai đoạn chính đó là thuthập các bằng chứng kiểm toán có hiệu lực và xem xét, xử lý các kết quả kiểm toán pháthiện được
Bước 1: Thu thập các bằng chứng kiểm toán có hiệu lực
Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Công việc đầu tiên là KTV sử dụng các thử nghiệm kiểm soát (trong đó chủ yếuthông qua Bảng câu hỏi tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng) để phân tích môitrường kiểm soát chung, xem xét hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát hiện đang đượcthực hiện ở khách hàng Việc thực hiện công việc này giúp kiểm toán viên có những đánhgiá ban đầu về mực độ tin cậy của hệ thống KSNB, việc tuân thủ các chế độ, chuẩn mực
kế toán cũng như các quy định của Luật kế toán… của khách hàng đối với khoản mụcphải thu khách hàng từ đó có thể xác định được các thử nghiệm cơ bản cần thiết Bằngviệc kết hợp các phương thức như điều tra, phỏng vấn, thực hiện lại, kiểm tra ngược lại…KTV tiến hàng thực hiện các thử nghiệm nhằm đánh gúa các mục tiêu kiểm soát đối vớikhoản mục phải thu khách hàng Các thủ tục tương ứng với từng mục tiêu sẽ được trìnhbày trong bảng cùng các thủ tục kiểm tra chi tiết dưới đây
Thực hiện thủ tục phân tích đối với cái cái khoản phải trả nhà cung cấp
Thủ tục phân tích không chỉ được áp dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
mà cả trong giai đoạn thực hiện kiểm toán Trong quá trình kiểm toán khoản phải trả nhàcung cấp, thủ tục phân tích vẫn tiếp tục được KTV sử dụng để đánh giá tính hợp lý chungcủa các con số, tính trọn vẹn của các nghiệp vụ phát sinh, số dư tài khoản và phân tíchnguyên nhân của các chênh lệch, đánh giá tình hình biến động cũng như tính chất trọngyếu của khoản mục Trước khi thực hiện các thủ tục phân tích, KTV cần rà soát một cách
Trang 32sơ lược tình hình hoạt động, ngành nghề kinh doanh của khách hàng để nắm bắt được xuthế và tình hình thực tế của toàn ngành làm căn cứ cho các phán đoán và phân tích
Mục tiêu của bước công việc này nhằm xem xét, kiểm tra tính hợp lý của khoảnphải thu khách hàng và lập dự phòng phải thu khó đòi Hai thủ tục phân tích cơ bản được
sử dụng là phân tích ngang và phân tích dọc – là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ tương quan của khoản phải thu khách hàng với các khoản mục khác Từ việc phântích trên, KTV sẽ thấy được những biến động bất thường của khoản phải thu khách hàngnăm nay so với các năm trước, của khoản phải thu khách hàng so với doanh thu, lập dựphòng phải thu khó đòi…từ đó xác định được các thủ tục kiểm toán cần tập trung để pháthiện sai sót Một số chỉ tiêu phân tích thường được sử dụng là:
- So sánh tỷ lệ khoản phải thu khách hàng trên doanh thu năm nay so với năm trước
- Sánh sánh tỷ lệ khoản lập dự phòng phải thu khó đòi cho các khoản nợ khó đòitrên doanh thu hay các khoản phải thu năm nay với năm trước hay trong cùng ngành
- So sánh vòng quay khoản phải thu với năm trước hay trong cùng ngành
Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục phải thu khách hàng
Sau khi thực hiện các thủ tục phân tích, KTV sẽ tiến hành thực hiện các thủ tụckiểm tra chi tiết với khoản mục này để thu thập các bằng chứng kiểm toán cần thiết phục
vụ cho quá trình kiểm toán và đi đến kết luận về khoản mục Kiểm tra chi tiết là việc ápdụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm trực tiếp số
dư để kiểm tra từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên các khoản mục phảithu khách hàng Các biện pháp này bao gồm: so sánh, tính toán, xác nhận, kiểm tra thực
tế và quan sát, soát xét lại chứng từ, sổ sách Việc thực hiện kiểm tra chi tiết các nghiệp
vụ phát sinh được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp chọn mẫu KTV chọn mẫuphải đảm bảo rằng mẫu được chọn mang tính đại diện Thông thường, mẫu được chọnchủ yếu được dựa trên xét đoán nghề nghiệp của các KTV bao gồm các nghiệp vụ có nộdung kinh tế bất thường, và các nghiệp vụ có số phát sinh lớn mà không thực hiện kiểmtra chi tiết đối với các nghiệp vụ
Bảng 1.5: Thử nghiệm kiểm soát và thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục phải
thu khách hàng trong kiểm toán BCTC
Trang 33Bước 2: Xem xét và xử lý các phát hiện trong kiểm toán
Sau khi thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết, thu thập được các bằng chứng kiểmtoán về khoản mục phải thu khách hàng, KTV sẽ xem xét giấy tờ làm việc, đánh giá xemliệu bằng chứng thu thập được có đầy đủ và thích hợp để hình thành ý kiến kiểm toán haykhông Thông qua đó, KTV cũng đánh giá xem BCTC của đơn vị có sai sót trọng yếu haykhông, Nếu có chênh lệch, KTV sẽ điều tra, tìm hiểu rõ nguyên nhân và tính chất củachênh lệch, đánh giá tính trọng yêu và mức độ ảnh hưởng của nó lên BCTC Đối với cácchênh lệch, sai phạm trọng yếu thì KTV sẽ đưa ra bút toán điều chỉnh Còn đối với cácchênh lệch nhỏ, KTV sẽ lập bảng tổng hợp các chênh lệch này để đánh giá Nếu trọngyếu thì tiếp tục đưa ra các bút toán điều chỉnh
1.3.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán
Giai đoạn cuối cùng của cuộc kiểm toán khoản nợ phải trả nhà cung cấp gồm haibước công việc chủ yếu sau:
Bước 1: Tổng hợp và phát hành báo cáo kiểm toán, thư quản lý (nếu có)
Sau khi xem xét, KTV sẽ giải trình các khoản phải thu khách hàng với trưởngnhóm kiểm toán Nhóm trưởng kiểm tra và tổng hợp các sai phạm để trao đổi, thảo luậnvới khách hàng về những vấn đề phát hiện được để đi đến thống nhất đưa ra kết luận cuốicùng về tính trung thực và hợp lý trong việc ghi nhận các khoản phải thu khách hàng nóiriêng và BCTC nói chung
Ngoài ra, KTV còn phải kiểm tra các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ
kế toán do nó có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của đơn vị được kiểm toán Đối vớikhoản mục phải thu khách hàng thì một số sự kiện có thể phát sinh sau ngày kết thúc niên
độ mà KTV cần chú ý: ghi nhận các khoản dự phòng mới, ghi nhận các khoản phải thuphải trả mới…
Khi giai đoạn thực hiện kiểm toán kết thúc, trưởng nhóm kiểm toán sẽ lập Bảngtổng hợp ý kiến của tất cả các thành viên trong nhóm về các phần hành kiểm toán, trong
đó có phần hành phải thu khách hàng, tiến hành đánh giá kết quả thu được của cả nhóm
và lập dự thảo BCKT Trưởng nhóm kiểm toán sẽ chịu trách nhiệm về nội dung và tínhpháp ký của BCKT Các kết luận mà KTV đưa ra phải dựa trên các khía cạnh trọng yếucủa các khoản mục
Căn cứ vào các kết luận kiểm toán đối với khoản mục phải thu khách hàng nóiriêng và các khoản mục khác nói chung, KTV tiến hành phát hành BCKT Song song vớiquá trình này, KTV tiến hành lập thư quản lý, phục vụ công tác quản trị nội bộ gửi tớikhách hàng KTV chỉ ra những khuyết điểm của hệ thống kế toán cũng như các bộ phậnkhác có liên quan đến việc kiểm soát và ghi nhận khoản phải thu khách hàng Trong thư
Trang 34quản lý gửi cho khách hàng, KTV đưa ra những ý kiến đóng góp giúp đơn vị có phươnghướng để khắc phục nhược điểm và đề xuất những phương án giúp hệ thống KSNB củakhách hàng hoạt động có hiệu quả hơn.
Tất cả những tài liệu trong quá trình kiểm toán đều được soát xét ba cấp, bao gồmtrưởng nhóm kiểm toán, Trưởng phòng (Phó phòng nghiệp vụ) và Ban Giám đốc Việcsoát xét này phải được thực hiện một cách kỹ lưỡng để đảm bảo chất lượng cho cuộckiểm toán và đảm bảo ý kiến của KTV đưa ra là xác đáng và có căn cứ hợp lý, giảm thiểutối đa những rủi ro mà Công ty có thể gặp phải Theo đó, KTV sẽ đưa ra BCKT trình bàymột trong bốn loại ý kiến sau:
- Ý kiến chấp nhận toàn phần: được sử dụng khi BCTC được cho rằng đã phản
ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vịđược kiểm toán, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hoặc khi BCTC cónhững sai sót song đã được KTV phát hiện và điều chỉnh theo ý kiến của KTV
- Ý kiến chấp nhận từng phần: được sử dụng khi KTV cho rằng BCTC chỉ phản
ảnh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của đơn vị đượckiểm toán nếu không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tùy thuộc đưa ra trong BCKT
- Ý kiến từ chối đưa ra ý kiến: được sử dụng trong trường hợp không thực hiện
được kế hoạch hay hợp đồng kiểm toán do điều kiện khách quan mang lại, thiếu điều kiệnthực hiện, thiếu chứng từ, tài liệu kế toán khiến KTV không thể thu thập đầy đủ các bằngchứng kiểm toán để có thể đưa ra ý kiến
- Ý kiến không chấp nhận: được sử dụng khi KTV và Công ty kiểm toán không
thống nhất được với BGĐ hoặc liên quan đến một số lượng lớn các khoản mục tới mứcKTV cho rằng ý kiến chấp nhận từng phần là chưa đủ để thể hiện tính chất và mức độ saisót trọng yếu
Bước 2: Họp đánh giá kết quả kiểm toán
Sau khi cuộc kiểm toán kết thúc, nhóm kiểm toán cùng với lãnh đạo phòng vàthành viên BGĐ sẽ họp để đánh giá kết quả kiểm toán Mục đích của bước này là để rútkinh nghiệm từ những vấn đề của cuộc kiểm toán vừa hoàn thành, xem xét các vấn đề cầnlưu ý cho các cuộc kiểm toán sau để từ đó giúp ban lãnh đạo Công ty đề ra được chiếnlược nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán nói chung cho Công ty và chất lượng kiểmtoán khoản mục phải thu khách hàng nói riêng
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀO KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
VÀ KIỂM TOÁN THỰC HIỆN TẠI KHÁCH HÀNG
2.1 Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo cáo tài chính thực hiện tại Văn phòng Tổng Công ty ABC
2.1.1 Tổng quan về khách hàng ABC
ABC là một trong những khách hàng thường xuyên của AASC trong nhiều nămnay, do đó các thông tin chung về khách hàng đã được lưu giữ và cập nhật qua từng nămtrong hồ sơ kiểm toán chung Vì vậy, KTV không cần thu thập các thông tin chung vềkhách hàng trước cuộc kiểm toán mà sử dụng trực tiếp hồ sơ của khách hàng đã có Tuynhiên, khi thực hiện tại khách hàng, KTV vẫn cần phỏng vấn khách hàng về các thay đổicủa Công ty trong năm tài chính được kiểm toán Ví dụ như: Sự thay đổi về Ban giámđốc, giấy phép kinh doanh, các vấn đề liên quan đến vốn chủ sở hữu hay các sự thay đổicác chính sách kế toán… để cập nhật vào hồ sơ kiểm toán chung
ABC là một Tổng công ty tư vấn xây dựng thủy lợi - CTCP được chuyển đổi từDoanh nghiệp Nhà nước - Công ty Tư vấn Xây dựng Thủy lợi ABC theo Quyết định số2076/QĐ-BNN-ĐMDN ngày 10/1/2007 và Quyết định số 1307/QĐ-BNN-ĐMDN ngày09/06/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Với tổng số vốnđiều lệ theo đăng ký kinh doanh của Công ty là: 46.500.000.000 VND Tương đương46.500.000 cổ phần, mệnh giá một cổ phần là 10.000 VND
2.1.1.1 Lĩnh vực kinh doanh của Tổng Công ty ABC
- Lập dự án đầu tư quy hoạch xây dựng thủy lợi, thủy điện, lập tổng dự toán côngtrình xây dựng;
- Thiết kế bao gồm: Thiết kế công trình thủy lợi, thủy điện; Thiết kế hệ thống điệncông trình thủy lợi, thủy điện; Thiết kế công trình đường dây và trạm biến áp đến 110KV;Thiết kế lắp đặt thiết bị, công nghệ cơ khí công trình thủy lợi, thủy điện; Thiết kế cơ khícông trình thủy lợi, thủy điện; Thiết kế kiến trúc các công trình xây dựng;
- Giám sát thi công xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện, lĩnh vực chuyên môngiám sát: xây dựng và hoàn thiện, lắp đặt thiết bị; Giám sát thi công xây dựng công trình:lĩnh vực chuyên môn khảo sát địa chất, khảo sát trắc địa, khảo sát địa chất thủy văn;
- Khảo sát xây dựng các công trình bao gồm: khảo sát địa chất công trình, địa chấtthủy văn, khảo sát trắc địa, khảo sát địa vật lý, khảo sát thủy văn, môi trường;
- Tư vấn về lập dự án đầu tư, thiết kế, đấu thầu và hợp đồng kinh tế trong xây dựng;
Trang 36- Tư vấn về lập dự án đầu tư, thiết kế, đấu thầu và hợp đồng kinh tế trong xây dựng;
- Tham gia đào tạo bồi dưỡng các chức danh tư vấn xây dựng (chỉ hoạt động saukhi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép);
- Quản lý dự án, đầu tư và xây dựng công trình;
- Chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới vào thiết kếcông trình thủy lợi, thủy điện;
- Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án thủy lợi, thủy điện;
- Xây dựng thực nghiệm các công trình thuộc đề tài nghiên cứu chuyển giao côngnghệ: khoan, phụt, xử lý nền và thân công trình, sửa chữa xe, máy chuyên dùng và giacông cơ khí;
- Thí nghiệm đất, đá, nước, nền, móng, vật liệu, kết cấu xây dựng phục vụ thiết kế,kiểm tra chất lượng công trình, kiểm định chất lượng xây dựng, xác định nguyên nhân sự
cố công trình;
- In đồ án thiết kế, các tài liệu chuyên môn nghiệp vụ, tạp chí, sách báo theo quyđịnh và giấy phép của cơ quan có thẩm quyền; Xuất nhập khẩu, làm đại lý, dịch vụ,thương mại máy móc, thiết bị, vật tư in và tư vấn về in;
- Kinh doanh khách sạn, cho thuê bất động sản, văn phòng
Trang 372.1.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy
Bộ máy tổ chức tại Tổng Công ty ABC được tổ chức theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Tổng Công ty ABC
Ngoài ra Tổng Công ty ABC còn có 2 công ty
con, 2 công ty liên kết và 2 công ty liên doanh.
Công ty tư vấn 1 Công ty tư vấn 2 Công ty tư vấn 3 Công ty Tư vấn Địa kỹ thuật (4)
Công ty Khảo sát và Xây dựng 5
Công ty Khảo sát và Xây dựng 6
Công ty In Chinh nhánh Tổng công ty tại Đà Nẵng & Thành phố Hồ Chí Minh
ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Phòng Tổ chức nhân sự Phòng Kinh doanh Phòng Tài chính kế toán Văn phòng
Trang 38Như vậy qua sơ đồ trên đã thể hiện bộ máy của Tổng Công ty ABC khá là cồngkềnh với rất nhiều các đơn vị thành viên Tuy nhiên trong trường hợp này, em chỉ lấy ví
dụ về kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng tại văn phòng tổng công ty, còn các đơn
vị phụ thuộc khác (Các trung tâm) được thực hiện kiểm toán riêng, sau cùng KTV tổnghợp kết quả để đưa ra ý kiến cho toàn bộ khoản mục phải thu khách hàng
2.1.1.3 Chế độ và chính sách kế toán áp dụng tại Tổng Công Ty ABC
01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép, hạch toán kế toán lá đồng Việt Nam (VND)
Chế độ kế toán áp dụng: Chế độ Kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định
số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng bộ tài chính
Hình thức kế toán sử dụng: Công ty đang áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng,các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian đáo hạn không quá 03 tháng, có tính thanh khoảncao, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành các lượng tiền xác định và không có nhiều rủi
ro trong chuyển đổi thành tiền
Các khoản phải thu
Các khoản phải thu được trình bày trên Báo cáo tài chính theo giá trị ghi sổ cáckhoản phải thu khách hàng và phải thu khác sau khi trừ đi các khoản dự phòng được lậpcho các khoản nợ phải thu khó đòi
Dự phòng nợ phải thu khó đòi được trích lập cho từng khoản phải thu khó đòi căn
cứ vào tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ hoặc dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra
Hàng tồn kho
Hàng tồn kho được tính theo giá gốc Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiệnđược thấp hơn giá gốc thì hàng tồn kho được tính theo giá trị thuần có thể thực hiệnđược Giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liênquan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại
Giá trị hàng tồn kho được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền
Hàng tồn kho được hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập vào thời điểm cuối năm là số chênhlệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được
Trang 39Tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định
Tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình được ghi nhận theo giá gốc.Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình được ghi nhậntheo nguyên giá, hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại
Khấu hao được trích theo phương pháp đường thẳng Thời gian khấu hao đượcước tính như sau:
Các khoản đầu tư tài chính
Các khoản đầu tư vào các công ty con mà trong đó Công ty nắm quyền kiểm soátđược trình bày theo phương pháp giá gốc Các khoản phân phối lợi nhuận mà công ty mẹnhận được từ số lợi nhuận lũy kế của các công ty con sau ngày công ty mẹ nắm quyềnkiểm soát được ghi vào kết quả hoạt động kinh doanh trong năm của công ty mẹ Cáckhoản phân phối khác được xem như phần thu hồi của các khoản đầu tư và được trừ vàogiá trị đầu tư
Các khoản đầu tư vào các công ty liên kết mà trong đó Công ty có ảnh hưởng đáng
kể được trình bày theo phương pháp giá gốc Các khoản phân phối lợi nhuận từ số lợinhuận thuần lũy kế của các công ty liên kết sau ngày đầu tư được phân bổ vào kết quảhoạt động kinh doanh trong năm của Công ty Các khoản phân phối khác được xem nhưphần thu hồi các khoản đầu tư và được trừ vào giá trị đầu tư
Các khoản đầu tư tài chính tại thời điểm báo cáo, nếu:
- Có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua khoản đầu
tư đó được coi là "tương đương tiền";
- Có thời hạn thu hồi vốn dưới 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh được phânloại là tài sản ngắn hạn;
- Có thời hạn thu hồi vốn trên 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳ kinh doanh được phânloại là tài sản dài hạn
Dự phòng giảm giá đầu tư được lập vào thời điểm cuối năm là số chênh lệch giữagiá gốc của các khoản đầu tư được hạch toán trên sổ kế toán lớn hơn giá trị thị trường củachúng tại thời điểm lập dự phòng
Chi phí đi vay
Chi phí đi vay được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong năm khi phátsinh, trừ chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản
dở dang được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hoá) khi có đủ các điều kiện quyđịnh trong Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 16 “Chi phí đi vay”
Trang 40Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản
dở dang cần có thời gian đủ dài (trên 12 tháng) để có thể đưa vào sử dụng theo mục đíchđịnh trước hoặc bán thì được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hoá), bao gồm cáckhoản lãi tiền vay, phân bổ các khoản chiết khấu hoặc phụ trội khi phát hành trái phiếu,các khoản chi phí phụ phát sinh liên quan tới quá trình làm thủ tục vay
Chi phí trả trước
Các chi phí trả trước chỉ liên quan đến chi phí sản xuất kinh doanh của một nămtài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh được ghi nhận là chi phí trả trước ngắn hạn vàđược tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong năm tài chính
Các chi phí đã phát sinh trong năm tài chính nhưng liên quan đến kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của nhiều niên độ kế toán được hạch toán vào chi phí trả trướcdài hạn để phân bổ dần vào kết quả hoạt động kinh doanh trong các niên độ kế toán sau
Việc tính và phân bổ chi phí trả trước dài hạn vào chi phí sản xuất kinh doanhtừng kỳ hạch toán được căn cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí để chọn phươngpháp và tiêu thức phân bổ hợp lý Chi phí trả trước được phân bổ dần vào chi phí sảnxuất kinh doanh theo phương pháp đường thẳng
Chi phí phải trả
Các khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được trích trước vào chi phí sảnxuất, kinh doanh trong năm để đảm bảo khi chi phí phát sinh thực tế không gây đột biếncho chi phí sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu
và chi phí Khi các chi phí đó phát sinh, nếu có chênh lệch với số đã trích, kế toán tiếnhành ghi bổ sung hoặc ghi giảm chi phí tương ứng với phần chênh lệch
Vốn chủ sở hữu
Vốn đầu tư của chủ sở hữu được ghi nhận theo số vốn thực góp của chủ sở hữu.Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là số lợi nhuận từ các hoạt động của doanhnghiệp sau khi trừ (-) các khoản điều chỉnh do áp dụng hồi tố thay đổi chính sách kế toán
và điều chỉnh hồi tố sai sót trọng yếu của các năm trước Lợi nhuận sau thuế chưa phânphối có thể được chia cho các nhà đầu tư dựa trên tỷ lệ góp vốn sau khi được Đại hộiđồng cổ đông thông qua và sau khi đã trích lập các quỹ dự phòng theo Điều lệ Công ty vàcác quy định của pháp luật Việt Nam
Cổ tức phải trả cho các cổ đông được ghi nhận là khoản phải trả trong Bảng cânđối kế toán của Công ty sau khi có Nghị quyết chia cổ tức của Đại hội đồng cổ đôngCông ty
Các nghiệp vụ bằng ngoại tệ
Các nghiệp vụ phát sinh bằng các đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán củaCông ty (VND) được hạch toán theo tỷ giá giao dịch vào ngày phát sinh nghiệp vụ