Tuy nhiên, một báo cáo khác cũng thuộc phạm vi của để tài trên có nhan dé “Đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh tiểu học và trung học cơ sở theo chương trình và sách giáo
Trang 1THÁI Độ CỦA 6IÁ0 VIÊN ĐỐI VÚI VIỆC DẠY -
HOC MON TIENG VIET THEO CHUUNG TRINH
VA SACH GIAO KHOA HIEN HANH
Vé Thi Thanh Huong’
1 DAT VAN DE
Quốc hội khoá X đã ra Nghị quyết 40 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là “xây dựng chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển
nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với
thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các
2,21)
nước phát trién trong khu vuc va thé gidi”’
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá X, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban
hành chương trình các môn học bậc Tiểu học (2001), Trung học cơ sở (2002) và
Trung học phổ thông (2006) Theo đó, các sách giáo khoa tương ứng cũng đã được
biên soạn, được dạy thí điểm, được chỉnh sửa và hiện đang được triển khai dạy đại
trà ở tắt cả các cấp học phổ thông
Sau khi chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) Tiểu học (TH) và Trung
học cơ sở (THCS) được triển khai đại trà, Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục đã có một đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (2004) về “Nghiên cứu đánh giá chất lượng và hiệu quả triển khai đại trà chương trình, sách giáo khoa mới bậc
Tiểu học và Trung học cơ sở trong phạm vi cả nước” với mục tiêu là đánh giá khách quan, khoa học mức độ đáp ứng của CT và SGK mới đối với yêu cầu nêu ra
trong Nghị quyết 40/2000/QH10 Theo kết luận của báo cáo “Khảo sát thực trạng tổ
PGS.TS, Viện Ngôn ngữ học, Email: huongttv@yahoo.com
'- Nghị quyết số 40/2000/QH10
173
Trang 2Vũ Thị Thanh Hương
chức dạy học theo chương trình, sách giáo khoa mới ở trường Tiểu học và trường
Trung hoc co so”, bản thân CT, SGK mới không gây quá tải, quá sức đối với học
sinh cả ở TH lẫn THCS, được giáo viên đánh giá cao và đón nhận đầy tâm huyết
Tuy nhiên, một báo cáo khác cũng thuộc phạm vi của để tài trên có nhan dé
“Đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của học sinh tiểu học và trung học cơ sở
theo chương trình và sách giáo khoa mới”, dựa vào bài kiểm tra trắc nghiệm khách
quan đối với các môn Toán, tiếng Việt ở TH; Toán, Ngữ văn, Lịch sử và Vật lí ở
THCS, đã đưa ra kết luận rằng vấn đề vận dụng kiến thức của học sinh chưa được
thực sự quan tâm, và càng lên lớp trên thì vẫn đề càng trở nên trầm trọng
Trong xã hội, dư luận thời gian gần đây đặc biệt quan tâm đến chất lượng
của giáo dục nói chung, của CT và SGK nói riêng Trong số các môn học ở phổ
thông, môn Tiếng Việt nằm ở tâm điểm của sự chú ý chính bởi vì tầm quan trọng
của nó trong nhà trường Dư luận về CT, SGK môn Tiếng Việt/Ngữ văn đi theo
nhiều hướng khác nhau, khen cũng nhiều mà chê cũng không ít Dư luận đặc biệt
quan tâm và bức xúc vì năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh vẫn chưa có gì
được cải thiện, nếu không nói là ngày càng có nhiều biểu hiện yếu kém hơn
Đánh giá tình hình thực hiện CT và SGK trong nhà trường là một việc làm
cần thiết nhưng không dễ Cho đến nay chưa có nhiều, nếu không muốn nói là chưa có những nghiên cứu chuyên sâu tìm hiểu tình hình dạy - học tiếng Việt trong nhà trường Nghiên cứu này của chúng tôi là một cỗ gắng nhỏ để góp phan làm phong phú thêm những hiểu biết hiện còn rất hạn chế của chúng ta về vấn đề nay Tinh hinh day - hoc tiếng Việt có thể được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau
và bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó tìm hiểu thái độ của các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình dạy - học là một hướng đi không mới nhưng có
nhiều triển vọng
Nghiên cứu này tiếp cận thái độ từ quan điểm tinh thần luận, theo đó thái độ
của một cá nhân đối với một đối tượng/hiện tượng được xem là quyết định ứng xử
của cá nhân đối với đối tượng/hiện tượng đó, và để đo thái độ, cần để nghị cá
nhân thông báo lại thái độ của mình (đo trực tiếp) hoặc suy diễn từ hành vi (đo
gián tiếp) (chỉ tiết hơn về nghiên cứu thái độ nói chung và thái độ ngôn ngữ nói
riêng xin xem Vũ Thị Thanh Hương, 2005)
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số kết quả nghiên cứu liên
quan đến tình hình đạy - học tiếng Việt theo CT và SGK hiện hành thông qua
phân tích thái độ của giáo viên đang dạy môn Tiếng Việt/Ngữ văn ở cả 3 cấp TH, THCS và THPT Ngoài phần Mở đầu/Vẫn đề, Phương pháp nghiên cứu, và Kết
luận, phần Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày 4 nội dung chính, đó là: a) Đánh giá
? Bộ GD & ĐT, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, để tài KHCN độc lập cấp Nhà nước 2004/23;
2006
174
Trang 3THAI BO CUA GIÁO VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC DẠY - HỌC MÔN TIENG VIET
của giáo viên về kết quả học môn Tiếng Việt của học sinh theo CT và SGK hiện
hành; b) Đánh giá của giáo viên về khả năng thực hiện CT và dạy - học theo CT và SGK hiện hành; c) Thái độ của giáo viên đối với CT và SGK hiện hành, và d) Đánh
giá của giáo viên về những khó khăn và nhu cầu bồi dưỡng
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Có 307 giáo viên dạy môn Tiếng Việt/Ngữ văn ở các trường TH, THCS và
THPT tại 4 tỉnh/thành phố là Ninh Bình (đại điện cho khu vực nông thôn miễn
Bắc), Thanh Hóa (đại điện cho khu vực thành thị), Quảng Trị (đại điện cho khu
vực miền Trung) và Điện Biên (đại diện cho khu vực miễn núi phía Bắc) tham gia
vào nghiên cứu này Tư liệu được thu thập chủ yếu bằng phỏng vấn có sử dụng bảng hỏi được cấu trúc hóa Một số buổi phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng
được thực hiện tại thành phố Thanh Hóa Trong số 307 giáo viên này có 91 người đang dạy ở TH (chiếm 31,2%), 131 người đang dạy THCS (chiếm 42,5%), 80 người đang dạy THPT (chiếm 26,3%), và 68 người là giáo viên nam (chiếm 22,5%) Đa số các giáo viên (44,2%) có thâm niên giảng dạy từ 5-10 năm và phần lớn có trình độ
đào tạo đại học sư phạm (43,1%) hoặc cao đẳng sư phạm (47,9%), tức là đạt chuẩn
quốc gia về chuyên môn, và hơn nửa trong số họ (54,7%) đang dạy tại các trường ở
vùng sâu, vùng xa
Các kết quả thu được từ bảng hỏi được xử lí định lượng thông qua phần mềm thống kê SPSS, các tư liệu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được phân tích định tính theo nội dung chủ đề
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá của giáo viên về kết quả học môn Tiếng Việt của học sinh theo
CT và SGK hiện hành
Khi được để nghị đánh giá kết quả môn Tiếng ViệVNgữ văn của đa số học
sinh trong lớp mình đang dạy, 55% giáo viên cho rằng đa số học sinh lớp họ dạy
có kết quả trung bình; 22,8% cho rằng đa số học sinh lớp họ đạy có kết quả khá - giỏi; 20,4% cho rằng kết quả lẫn lộn giữa các mức và khó chỉ ra xu hướng; chỉ có 2% giáo viên cho rằng đa số học sinh lớp họ có kết quả học kém Tuy nhiên, kết quả đánh giá này có sự khác biệt đáng kể tuỳ theo khối lớp đang dạy, khu vực địa
lí của trường và thâm niên giảng dạy của giáo viên
3 Tư liệu sử dụng trong bài viết này được thu thập trong khuôn khổ của để tài khoa học cấp Bộ 2009-
2010 về “Giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường ở Việt Nam: Một số vấn đề chính sách và thực tiễn“ do
Vũ Thị Thanh Hương làm Chủ nhiệm, Viện Ngôn ngữ học là cơ quan chủ trì
175
Trang 4Vũ Thị Thanh Hương
Kết quả trình bày ở Bảng 1 (1-2) cho thấy, theo đánh giá của các giáo viên,
hoc sinh TH có kết qua hoc tốt hon hoc sinh THCS va THPT, va học sinh ở vung
thành thị cũng có kết quả học tập tốt hơn học sinh ở nông thôn va vùng sâu vùng
xa, thể hiện ở tỉ lệ đạt kết quả khá - giỏi cao hơn và tỉ lệ học sinh kém thấp hơn
Giữa học sinh THCS và THPT dường như cũng có sự khác biệt: tỉ lệ khá - giỏi của
học sinh THPT cao hơn tỉ lệ tương ứng của học sinh THCS Kết quả trình bày ở
Bảng 1-1 cho thấy theo CT và SGK hiện hành, học sinh THCS phần lớn chỉ đạt
được kết quả trung bình
Thâm niên giảng dạy của giáo viên cũng có ảnh hưởng đến kết quả học tập
của học sinh: giáo viên càng có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm thì càng có nhiều
học sinh đạt kết quả khá - giỏi Những giáo viên có thâm niên giảng dạy dưới 10
năm có xu hướng cho rằng đa số học sinh lớp họ đạy có kết quả trung bình hoặc
lẫn lộn (khó xác định xu hướng)
Bảng 1: Đánh giá của giáo viên về kết quả học môn Tiếng Việt của học sinh
1 Lớp đang dạy Kém TB Khá Giỏi Lẫn lộn
TH 0 32 (34,8%) | 27(29,3%) | 18(19,6) | 15 (16,3%)
THCS 2(1,6%) | 88 (68,8%) 7 (5,5%) 2 (1,6%) | 29 (22,7%)
THPT 4(515) | 44 (55,7) 14 (17,7%) 0 17 (21,5%)
2 Vung dia li Kém TB Kha Gidi Lan lộn
Thanh thi 1(19%) | 15 (28,3%) 9(17%) | 18 (34%) | 10 (18,9%)
Nông thôn 2 (2,5%) 47 (58%) 17 (%) 0 15 (18,5%) Vùng sâu 3 (1,8%) | 102 (61,8%) 21 (12,7%) 2 (1,2%) 37 (22,4%)
3 Tham nién Kém TB Kha Gidi Lan lộn
<5 nam 0 30 (69,8%) 3 (7%) 1 (2,3%) 9 (20,9%)
5 - 10 năm 4 3%) 81 (60%) 18 (13,3%) 0 32 (23,7%)
11 - 15 năm 0 16 (48,5%) 9(27,3%) 2 (6,1%) 6 (18,2%)
>15 năm 2 (2.4%) 34 (40%) 18 (21,2%) 17 (20%) 14 (16,5%)
x2 0,000
(X? la chỉ báo uề mức độ có ý nghĩa của các con số thống kê Nếu X? < 0,05 thì có thể kết luận sự khác biệt giữa các nhóm là có ý nghĩa uề mặt thống kê.)
176
Trang 5THÁI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC DẠY - HỌC MON TIENG VIET
3.2 Đánh giá của giáo viên về khả năng dạy - học theo chương trình và sách giáo khoa hiện hành
Một trong những mục tiêu của lần đổi mới CT và SGK vừa rồi là đổi mới
phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, với định hướng chung là chuyển đổi từ phương pháp dạy - học lấy giáo viên làm trung tâm sang phương pháp dạy - học lấy học sinh làm trung tâm; tăng cường tính tích cực, chủ động tham gia vào kiến tạo bài học của học sinh Các giáo viên đã được yêu cầu
ước lượng thời gian dành cho 6 hoạt động giảng dạy khác nhau trong một tuần
cho tiết học Tiếng Việt/Ngữ văn Bảng 2 dưới đây trình bày kết quả thu được Số liệu ở Bảng 2 cho thấy đa số giáo viên dành nhiều thời gian để thuyết giảng nội
dung bài học cho học sinh hoặc cho học sinh làm bài kiểm tra, và điều này đặc biệt
rõ nét ở các giáo viên THPT Gần 60% giáo viên THPT thông báo rằng họ dành
trên 50% thời lượng của môn Ngữ văn trong một tuần cho học sinh làm bài kiểm tra, chuẩn bị cho các kì thi Điều này có thể thấy thi cử cuối cấp là một áp lực tác
động rất lớn đến các hoạt động giảng dạy của giáo viên Các hoạt động khác như
cho cả lớp thảo luận chung dưới sự dẫn dắt của giáo viên, hay cho học sinh làm việc nhóm nhỏ, cho học sinh làm việc độc lập (cá nhân hóa các hoạt động học tập
của học sinh) cũng được các giáo viên dành một thời lượng vừa phải (từ 10 -50%
thời gian), đặc biệt là các giáo viên TH và THCS Rất ít giáo viên sử dụng thời gian cho các hoạt động ngôn ngữ như thuyết trình, trò chơi ngôn ngữ, những hoạt
động có vai trò quan trọng trong việc tăng cường tính chủ động, sáng tạo của học
sinh và được học sinh đón nhận tích cực Điều này cho thấy, mặc dù chương trình
chú trọng đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhưng thực tế các giáo viên vẫn sử dụng các phương pháp truyền thống, lấy giáo viên làm trung tâm và thuyết giảng làm hoạt động giảng dạy chủ yếu Nhiều giáo viên cho rằng với CT
và SGK hiện hành, họ không thể có thời gian để thực hành các phương pháp
giảng dạy tích cực ở trên lớp Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy xu hướng các giáo viên TH có sử dụng và dành nhiều thời gian cho các hoạt động nhóm nhỏ, hoạt
động ngôn ngữ nhiều hơn các giáo viên THCS và THPT
177
Trang 6Vũ Thị Thanh Hương
Bảng 2: Thời lượng trung bình trong một tuần dành cho các hoạt động giảng dạy trên lớp trong
giờ học Tiêng Việt/Ngữ văn
Hoạt động dạy - học TH THCS THPT
1 HS nghe thầy/cô thuyết giảng:
- ít (dưới 10%) 15 (17%) 7 (5,4%) 6 (7,8%)
- tương đối (10-50%) 33 (37,5%) 73 (56,6%) 39 (50,6%
- khá nhiễu (trên 50%) 40 (45,5%) 49 (38%) 30 (39%)
2 HS làm việc độc lập ca nhân:
- ͆ (dưới 10%) 5 (5,2%) | 27 (20,9%) 22 (29,3%)
- tương đối (10-50%) 50 (52,1%) | 78(60,5%) | 38 (50,7%)
- khá nhiêu (trên 50%) 41 (42,7%) 24 (18,6%) 15 (20%)
3 HS làm việc nhóm nhỏ:
- Íf (dưới 10%) 15 (15,8%) 38 (29,9%) 34 (45,3%)
- tương đối (10-50%) 55 (57,9%) 56 (44,1%) 31 (41,3%)
- khá nhiêu (trên 50%) 25 (28,3%) 33 (26%) 9(12%)
4 HS tham gia hoạt động ngôn ngữ:
- không bao giờ có 2(2,1%) | 10(7,8%) 15 (20%)
- Ít (dưới 10%) 52 (55,3%) 87 (68%) | 50 (66,7%)
- tương đối (10-50%) 29 (30,9%) 25 (19,5%) 8 (10,7%)
- khá nhiễu (trên 50%) 11 (11,7%) 6 (4,7%) 2 (2,7%)
5 HS thảo luận cả lớp:
- ͆ (dưới 10%) 12 (12,9%) 35 (27,6%) 21 (28,8%)
- tương đối (10-50%) 44 (47,3%) | 60 (47,2%) | 34 (46,6%)
- khá nhiễu (trên 50%) 36 (387%) | 31(24.4%) | 18 (24,7%)
6 HS làm bài kiếm tra:
- Ít (dưới 10%) 23 (25,6%) 15 (11,6%) 14 (18,9%)
- tương đối (10-50%) 26 (28,9%) | 43(33,35) | 16 (21,6%)
- khá nhiễu (trên 50%) 41(45,6%) | 71(55,0%) | 44 (59,5%)
Không chỉ không có đủ thời gian để sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực mà khi sử dụng, nhiều giáo viên cũng thông báo là họ gặp nhiều lúng túng, và
điều này có sự khác biệt đáng kể giữa giáo viên dạy ở các vùng, miễn khác nhau
Cụ thể, khi cho học sinh làm việc nhóm, có 30,5% giáo viên dạy ở vùng nông thôn,
32,3% giáo viên dạy ở vùng sâu vùng xa thừa nhận là họ có gặp khó khăn, trong
khi tỉ lệ này ở các giáo viên thành phố là 19,2% (X2 = 0,01) Tỉ lệ cũng gần tương tự khi giáo viên được hỏi về khả năng sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực
178
Trang 7THAI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC DẠY - HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
Đổi mới CT không chỉ hướng đến đổi mới phương pháp giảng dạy mà còn hướng đến đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh Trong 4 phương
pháp đánh giá được đưa ra để hỏi (kiểm tra, bằng trắc nghiệm khách quan, câu hỏi
tự luận, kiểm tra miệng, học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau), các giáo viên
của cả 3 cắp TH, THCS và THPT đều nhìn nhận là họ sử dụng phương pháp kiểm
tra bằng câu hỏi tự luận và kiểm tra miệng tương đối nhiều (1-3 lần/tháng) cho đến
khá nhiều (1-3 lần/tuần) Các giáo viên TH và THCS có xu hướng dùng nhiều
phương pháp đánh giá bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan hơn các giáo viên
THIPT Đặc biệt, các giáo viên TH đã sử dụng phương pháp cho học sinh tự đánh
giá và đánh giá lẫn nhau nhiều hơn hẳn các giáo viên THCS và THPT (Bảng 3) Nếu kiểm tra bằng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và phương pháp cho học sinh tự đánh giá cũng như đánh giá lẫn nhau là 2 phương pháp đánh giá của đường hướng học tập lẫy học sinh làm trung tâm, kết quả khảo sát chỉ ra rằng các giáo viên THPT vẫn còn chậm đổi mới so với yêu cầu đặt ra Để tìm hiểu kĩ hơn
nguyên nhân dẫn đến tình hình này, các giáo viên đã được yêu cầu đánh giá khả
năng sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau của mình Kết quả (Bảng 4) cho thấy có 25/2% giáo viên THCS va 25% giáo viên THPT cho rằng họ gặp khó
khăn khi sử dụng nhiều chiến lược đánh giá học sinh, trong khi tỉ lệ này ở giáo
viên TH là 6,5% Như vậy, việc các giáo viên THCS và THPT ít sử dụng các
phương pháp đánh giá mới là vì họ cảm thấy có khó khăn Mặc dù các giáo viên
thành phố có tỉ lệ sử dụng tốt các phương pháp đánh giá mới cao hơn so với tỉ lệ
này ở các giáo viên nông thôn và vùng sâu, nhưng tỉ lệ giáo viên gặp khó khăn ở
cả 3 vùng không có sự khác biệt đáng kể (17,6% giáo viên thành phố, 21% giáo viên nông thôn và 19% giáo viên vùng sâu gặp khó khăn khi sử dụng nhiều phương pháp đánh giá)
Bảng 3: Các chiến lược kiểm tra, đánh giá học sinh
Chiến lược đánh giá TH THCS THPT
1 Dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
- không bao giờ 0 0 6 (8,2%)
- it (1-4 lần/năm) 15 (17,2%) 35 (27,1%) 27 (37%)
- tương đối (1-3 lần/tháng) 31 (35,6%) 35 (27,1%) 27 (37%)
- khá nhiễu (1-3 lần/tuần) 41 (47,1%) 59 (45,7%) 13 (17,8%)
2 Dùng câu hỏi tự luận:
- không bao giờ 1 (1,1%) 0 0
- it (1-4 lần/năm) 17 (19,5%) 20 (15,7%) 15 (19,7%)
- tuong d6i (1-3 |an/thang) 28 (32,2%) 50 (39,4%) 40 (52,6%)
- khá nhiêu (1-3 lần/tuần) 41 (47,1%) 57 (44,9%) 21 (27,6%)
17g
Trang 8Vu Thi Thanh Hương
3 Kiém tra miéng:
- không bao giờ 0 0 1 (1,3%)
- ít (1-4 lần/năm) 2 (2.2%) 11 (8,7%) 11 (14,3%)
- tương đối (1-3 lần/tháng) 12 (13,2%) 15 (11,9%) 23 (29,9%)
- khá nhiêu (1-3 lằn/tuần) 77 (84,6%) 100 (79,4%) 42 (54,5%)
4 HS tự đánh giá lẫn nhau:
- không bao giờ 0% 6 (4,8%) 11 (14,9%)
- it (1-4 lan/nam) 2 (2,2%) 32 (25,6%) 29( 39,2%)
- tương đối (1-3 lần/tháng) 22 (23,7%) 52 (41,6%) 25 (33,8%)
- khá nhiêu (1-3 lần/tuần) 69 (74,2%) 35 (28,0%) 9(12,2%)
Két qua dugc trinh bay & Bang 4
180
Ngoài việc đổi mới phương pháp day học và phương pháp kiểm tra đánh
giá, CT hiện hành còn có một sO yêu cầu mới nữa so với CT cũ, đó là CT và SGK
hiện hành được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp các phân môn Tiếng Việt, Văn
học và Tập làm văn, giáo viên phải có khả năng sử dụng nhiều phương tiện dạy
học mới, và phải có khả năng cá nhân hóa việc day - học của học sinh (dạy lớp có
học sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau) Theo đó, các giáo viên được đẻ nghị
đánh giá khả năng dạy học của mình theo 4 thang đo: 1) không bao giờ thực
hiện/không thích hợp, 2) thực hiện nhưng có khó khăn, 3) làm được và 4) làm tốt
Bảng 4: Khả năng thực hiện chương trình mới tính theo cấp học
Các yêu cầu TH THCS THPT
1 Dạy tích hợp TV, VH và TLV:
- Có khó khăn 22 (23,7%) | 27 (21,1%) 13 (16,3%)
- Làm được 57 (61,3%) | 88 (68,8%) | 57 (71,3%)
- Làm tốt 8(86%) | 13(10,2%) | 9(11,3%)
2 Dạy lớp học sinh có nhiều trình độ:
- Không thích hợp 4(4,3%) |6(4,7%) | 4(5,1%)
- Có khó khăn 33 (35,1%) | 68 (53,5%) | 14 (25,2%)
- Làm được 43 (45,7%) | 43 (33,9%) | 35 (44,9%)
- Làm tốt 14 (14,9%) | 10(7,9%) | 5 (6,4%)
X? 0,105
3 Sử dụng nhiều chiến lược đánh giá:
- Không thích hợp 2(2,2%) |3(24%) |0
- Có khó khăn 6(65%) | 32(25,2%) | 19 (25%)
Trang 9
THÁI ĐỘ CỦA GIÁO VIÊN ĐÓI VỚI VIỆC DẠY - HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
4 Sử dụng phương tiện dạy học mới:
- Không thích hợp 29 (31,5%) | 28 (22%) 3 (3,8%)
- Có khó khăn 32 (34,8%) | 54 (42,5%) | 19 (24,4%)
- Làm được 31 (33,7%) | 33 (26%) 50 (64,1%)
Kết quả cho thấy có 23,7% giáo viên TH; 21,1% giáo viên THCS và 16,3% giáo viên THPT có khó khăn khi dạy theo yêu cầu tích hợp của chương trình Nhiều giáo viên, đặc biệt là giáo viên THCS và giáo viên TH, cảm thấy có khó khăn khi
phải dạy lớp học có học sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau cũng như có khó
khăn khi sử dụng các phương tiện dạy - học mới Nếu tách số liệu theo vùng địa lí,
thì tỉ lệ các giáo viên đang dạy ở vùng sâu vùng xa gặp khó khăn trong các tiêu chí được hỏi là khá cao Cụ thể là có đến 26,7% giáo viên vùng sâu có khó khăn khi đạy tích hợp trong khi tỉ lệ này ở các giáo viên thành phố là 3,8% Tương tự như vậy, có đến 51,8% giáo viên vùng sâu và 45,5% giáo viên nông thôn cảm thấy có
khó khăn khi phải dạy những lớp có học sinh thuộc nhiều trình độ khác nhau,
trong khi tỉ lệ này ở các giáo viên thành phố là 25% Điều này phản ánh một thực
trạng là các giáo viên chưa được chuẩn bị sẵn sàng để đáp ứng các yêu cầu của chương trình hiện hành Thực tế là có 67,3% giáo viên TH cho rằng họ được tập huấn kĩ về phương pháp giảng dạy tích cực, tỉ lệ này ở các giáo viên THCS là 41,5% và chỉ có 28,9% giáo viên THPT được tập huấn kĩ Nhiều giáo viên đang dạy
ở các vùng sâu vùng xa cũng cho rằng họ chưa được tập huấn kĩ về phương pháp
đạy - học tích cực
3.3 Thái độ của giáo viên đối với chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt/Ngữ văn hiện hành
Để tìm hiểu thái độ của giáo viên đối với CT và SGK hiện hành, một số tuyên
bố đã được đưa ra để giáo viên đánh giá bằng cách lựa chọn một trong ba phương án: a) đồng ý, b) tạm chấp nhận, c) không đồng ý Kết quả trình bày ở Bảng 5 chỉ
ra một số xu hướng chính như sau:
3.3.1 Thái độ của giáo uiên đỗi uới chương trình
Giáo viên của cả 3 cấp học đón nhận CT môn Tiếng ViệVNgữ văn hiện hành
khá tích cực Đa số giáo viên khẳng định CT hiện hành có phát triển so với CT cũ, không quá khó so với trình độ của giáo viên, và thời lượng dành cho học trên lớp
là vừa phải Tuy nhiên, nếu như đa số giáo viên TH (54,3%) đồng ý với nhận định
rằng CT phù hợp với đa số học sinh của mình thì đa số giáo viên THCS và THPT chỉ tạm chấp nhận tuyên bố này Điều này cũng phù hợp với đánh giá của các giáo viên
về kết quả học môn Tiếng ViệVNgữ văn của học sinh, theo đó giáo viên TH cho rằng đa số học sinh của mình đạt kết quả khá - giỏi, còn giáo viên THCS thì lại cho rằng đa số học sinh của mình chỉ đạt kết quả trung bình
181
Trang 10Vu Thi Thanh Huong
3.3.2 Thái độ của giáo uiên đối uới sách giáo khoa
Đa số các giáo viên TH đồng ý với nhận định rằng SGK Tiếng Việt hiện hành
trình bày đẹp, ngôn ngữ trong sáng, các quy tắc ngôn ngữ trình bày đơn giản, ví
dụ rõ ràng, kiến thức tiếng Việt cung cấp trong sách cần thiết, giúp học sinh sử
dụng tiếng Việt tốt hơn, các chủ để và nội dung đa dạng, thiết thực Các giáo viên
TH cũng thừa nhận rằng SGK hiện hành có nhiều hoạt động thực hành, giúp giáo
viên tổ chức tốt các hoạt động học tập, khiến cho học sinh hứng thú học hơn, giáo viên thích dạy hơn và do đó giúp nâng cao chất lượng dạy học Hơn 85% giáo viên
TH được hỏi cũng cho rằng họ được tập huấn kĩ về cách sử dụng CT và SGK mới, tuy nhiên, chỉ có 51% thông báo rằng họ có đủ tài liệu để tham khảo về CT và SGK
hiện hành Mặc dù CT và SGK tiếng Việt TH được đa số giáo viên đón nhận tích
cực, đa số vẫn cho rằng sách có nhiều điểm về nội dung cần chỉnh sửa, và cho rằng ngoài giờ học chính khóa, học sinh của họ vẫn cần phải học thêm để đảm bảo nắm được kiến thức trong CT Kết quả này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của các
giáo viên và phụ huynh trong các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu Mặc dù
cha mẹ và giáo viên đều thừa nhận là học sinh TH ngoài giờ học ở trường (với
nhiều nơi là 2 buổi) thì về nhà các em vẫn phải dành nhiều thời gian làm bài tập,
và ngoài ra, muốn học tốt CT, các em cần phải học thêm môn Tiếng Việt
- Cũng giống như giáo viên TH, đa số các giáo viên THCS cho rằng SGK Ngữ
văn hiện hành trình bày đẹp, các kiến thức tiếng Việt cung cấp trong sách đều cần thiết để giúp học sinh sử dụng tiếng Việt tốt hơn Tuy nhiên, so với các giáo viên
TH, tỉ lệ giáo viên THCS đồng ý với các tuyên bố cho rằng SGK phù hợp với nhiều
loại trình độ của học sinh, rằng họ thích dạy theo CT và SGK mới, rằng học sinh
của họ thích học theo SGK hiện hành giảm đi đáng kể Chỉ khoảng gần một nửa
giáo viên THCS được hỏi cho rằng SGK hiện hành có ngôn ngữ trình bày trong
sáng, các chủ để và nội dung đa đạng, thiết thực, có nhiều hoạt động thực hành,
giúp cho giáo viên tổ chức tốt các hoạt động giảng dạy và do đó giúp nâng cao
chất lượng dạy - học môn Ngữ văn Hơn 60% giáo viên THCS cho rằng họ được
tập huấn tốt về CT và SGK hiện hành, nhưng lại thông báo rằng họ không có đủ
tài liệu để tham khảo khi cần thiết Đặc biệt, có đến 62% giáo viên THCS nhắn
mạnh rằng sách cần chỉnh sửa và cung cấp chỉ tiết những nội dung cần chỉnh sửa
trong các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Cũng giống như giáo viên TH,
đa số các giáo viên THCS khẳng định rằng học sinh của họ cần học thêm ngoài giờ học chính khóa để đảm bảo nắm vững các kiến thức cơ bản của CT
- Đa số các giáo viên THPT cũng cho rằng SGK hiện hành cung cấp các kiến thức tiếng Việt cần thiết cho học sinh, tuy nhiên nhiều người lại không cho rằng SGK hiện hành trình bày các kiến thức rõ ràng, hay sách phù hợp với nhiều loại
trình độ học sinh, hay học sinh của họ thích học theo CT và SGK mới, hay bản thân họ thích dạy theo CT và SGK mới Khác với các giáo viên TH và THC§, tỉ lệ
182