/z/..., bên cạnh những biến thể được phát âm như tiếng Việt toàn dân dưới đây sẽ gọi là các biến thể không mang tính đánh dấu còn có những biến thể mang đặc trưng ngữ âm địa phương mà d
Trang 1BIEN THE NGON NGU MANG TINH DANH DAU
VA VIEC SU DUNG CHUNG TRONG CAC PHUONG NGU VIET HIEN NAY
(Nghiên cứu trường hợp các biến thé ctia /e/ va /o/
6 huyén Quynh Phu, tinh Thai Bình)
Trịnh Cam Lan’, Dang Thị Lan Anh”
1 CANH QUAN NGON NGU XÃ HỘI HUYỆN QUỲNH PHỤ
Quỳnh Phụ là huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Bình, diện tích 205,
6 km2, dân số 252 nghìn người (theo số liệu thông kê năm 2010) Đây vốn được coi
là một huyện lớn và có dân số đông nhất Thái Bình Cùng với đó, sự phát triển
mạnh mẽ về các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội đã thúc đẩy quá
trình giao lưu tiếp xúc với các vùng khác trong cũng như ngoài tỉnh Bộ mặt nông
thôn ngày một đổi mới, các công trình điện, đường, trường, trạm, điện thoại, công
trình phúc lợi công cộng vẫn đang tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên, nhiều lao động được bố trí việc làm Về giáo dục, toàn huyện đã phổ cập giáo dục hết cấp II Số người biết chữ chiếm khoảng 96%, số người không biết chữ khoảng 4% (số liệu thống kê năm 2010) Đời sống tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, trẻ em đến trường ngày một nhiều
Do quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa của huyện với các vùng lân cận ngày
càng phát triển nên quá trình tiếp xúc ngôn ngữ cũng được đây mạnh Qua quan
sát, chúng tôi không chỉ thấy những đặc điểm mang tính đặc trưng trong phát âm
"PGS.TS, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Emai: tclan70@yahoo.com
`_SV K53 ĐCQT, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội
700
Trang 2BIẾN THỂ NGÔN NGỮ MANG TÍNH ĐÁNH DẦU VÀ VIỆC SỬ DUNG CHUNG
của người đân Quỳnh Phụ so với phát âm ở các địa phương khác và với tiếng Việt toàn dân, mà còn thấy những đặc điểm riêng của từng xã, từng thôn ngay trong
chính địa bàn Quynh Phu Chang hạn, một số âm vị như /£/, /2, / /z/ , bên cạnh những biến thể được phát âm như tiếng Việt toàn dân (dưới đây sẽ gọi là các biến thể
không mang tính đánh dấu) còn có những biến thể mang đặc trưng ngữ âm địa phương (mà dưới đây sẽ gọi là biến thể mang tính đánh dấu) Còn nữa, việc phát âm lệch chuẩn mà chúng ta thường gọi là hiện tượng “nói ngọng” giữa // và /r cũng
tồn tại một cách phổ biến trong toàn huyện Ở một số xã, phụ âm đầu /t/ được phát
âm gần như // (“trâu trắng” gần như thành “tâu tắng”), một số xã khác thì lại xuất hiện hiện tượng phát âm quặt lưỡi, rung lưỡi như một số địa phương miễn Trung
khi phát âm các phụ âm /, /§/ và /z/ Hiện trạng này tạo nên một cảnh quan ngôn ngữ xã hội cực kì phong phú nhưng phức tạp, thể hiện rõ đặc trưng Quỳnh Phụ Mặc dù cảnh quan ngôn ngữ ở địa bàn này rất đa dạng nhưng trong khuôn
khổ của một nghiên cứu trường hợp, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các biến thể của hai âm vị nguyên âm chính là /e/ và /2/ và việc sử dụng chúng trong cộng đồng ngôn từ Quỳnh Phụ vào thời điểm hiện tại nhưng hi vọng kết quả nghiên cứu có
thể trở thành những dự báo có cơ sở cho diện mạo phát triển trong tương lai của
tiếng Việt ở Quỳnh Phụ nói riêng và các phương ngữ Việt nói chung
2 NHUNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Biến thể ngôn ngữ
Trong trạng thái hành chức của mình với tư cách là một công cụ giao tiếp, cái gọi là ngôn ngữ như chúng ta thường gọi và biết đến, chẳng hạn tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp chỉ tồn tại dưới dạng các biến thể Như vậy, biến thể (uariant, 0ariation) là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ trong lời nói ở những cảnh huống giao tiếp nhất định Biến thể ở đây có thể là dạng thức ngôn ngữ được xem là ngén
ngữ “chuẩn”, có thể là những dạng thức ngôn ngữ khu vực hoặc xã hội mà chúng
ta vẫn gọi là phương nsữ, hay là dạng thức biểu hiện trong lời nói của một đơn vị
nào đó của hệ thống ngôn ngữ như một thành tố ngữ pháp, một yếu tô từ uựng, một
âm vi
Một đơn vị ngôn ngữ có thể có một hay nhiều biến thể Chẳng hạn, âm vị // trong tiếng Việt có hai biến thể là [I]-0 được phát âm là [l]trong “cây lúa”, được coi
là chuẩn toàn dân, và [I]-1 được phát âm là [n] trong “cây núa”, bị coi là lệch chuẩn toàn dân Cũng như vậy, thanh điệu /ngã/ trong tiếng Việt ở 2 địa phương Quảng
Bình và Hà Nội cũng có hai biến thể: biến thể [ngã]-0 phát âm là [ngã], là biến thể địa phương Hà Nội và biến thể [ngã]-1 phát âm giống như [nặng], là biến thể địa
phương Quảng Bình Âm vị /2⁄/ ở một số địa phương ở Bắc Bộ có hai biến thể: [a]-0
được phát âm như biến thể toàn dân trong “con bò” [kan1ba2] với một nguyên âm
Trang 3Trịnh Cẩm Lan, Đặng Thị Lan Anh
/2/ có âm sắc cố định; và [a]-1 được phát âm như một biến thể địa phương
[kuon1buo2] với một nguyên âm /2/ gần như /u2/ và với âm sắc không cố định °
- Biến thể ngôn ngữ mang tính đánh dẫu
Biến thể ngôn ngữ mang tính đánh dấu hay biến thể ngôn ngữ bị đánh dấu (marked variation) lan dau tién được Nikolay Trubetzkoy (1890-19380), một nhà ngôn ngữ
học thuộc trường phái Praha đưa ra và được ứng dụng trước hết trong âm vị học
để chỉ những khác biệt lưỡng phân liên quan đến khả năng có hay không có
thuộc tính x của một cặp đối lập: không có thuộc tính x - không đánh dấu
(unmarked) va có thuộc tính x - bị đánh dẫu (marked) (Dẫn theo Nguyễn Hồng Cén
[2]) Chẳng hạn, các cặp đoing/doin:, call/calls, là những cặp đối lập giữa không
đánh dẫu/ đánh dẫu (hay bị đánh dấu) Sau đó, khái niệm này được dùng với nghĩa rộng hơn để chỉ cả những khác biệt về mức độ đánh dấu nhiều hơn (more marked) hay ít hơn (less marked) Không những thế, nó còn được mở rộng cả về
phạm vi ứng dụng, không chỉ ứng dụng trong âm vị học mà còn ứng dụng cả
trong hình thái học và cú pháp học
Sau này, các nhà phương ngữ học và ngôn ngữ học xã hội cũng dùng khái
niệm fính đánh dấu trong tổ hợp biến thể ngôn ngữ mang tính đánh dấu (marked
variation) để chỉ những biến thể khác biệt của một đơn vị ngôn ngữ nào đó (âm vị,
từ, ngữ ) về mặt khu vực hay xã hội Tính đánh dấu về mặt khu vực hay xã hội
của một biến thể ngôn ngữ nào đó cho ta biết biến thể đó được dùng phổ biến ở
địa phương nào, bởi nhóm xã hội nào (theo giới, tuổi, nghề nghiệp, thành phần xuất thân ) Chẳng hạn, trong các biến thể của âm vị /r có [n]-0 được phát âm là
[n] trong “Hà Nội và [n]-1 được phát âm là [I] trong “Hà Lội” thì biến thể [n]-1
được coi là biến thể bị đánh dấu về mặt xã hội, thường chỉ được dùng ở nhóm xã hội có học vấn thấp; trong các biến thể của âm vị /e/ có [e]-0 được phát âm là [e]
trong “lèm bèm” và [e]-1 được phát âm như [ie] trong “liềm bièm” thì biến thể [e]-1
được coi là biến thể bị đánh dấu về mặt khu vực, thường chỉ được dùng ở một số vùng nông thôn Bắc Bộ
Đây là các khái niệm cơ bản mà chúng tôi sử dụng để gọi các biến thể ngữ âm
của /e/ và /2/ trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh Phụ Những biến thể mang đặc
trưng ngữ âm địa phương sẽ được coi là những biến thể mang tính đánh dấu,
những biến thể được phát âm như tiếng Việt toàn dân sẽ được coi là những biến
thể không mang tính đánh dấu
? Chúng tôi áp dụng qui tắc ký hiệu phiên âm ngữ âm - âm vị học, theo đó, âm vị được đặt giữa hai dấu
gạch chéo theo phiên âm âm vị học (ví dụ âm vị /e/ và /2/) còn các biến thể, về bản chất là các âm tố
nên được đặt giữa hai dấu ngoặc vuông theo phiên âm ngữ âm học (ví dụ biến thé [e]-1 và [9]-1
702
Trang 4BIEN THE NGÔN NGỨ MANG TÍNH ĐÁNH DẦU VÀ VIỆC SỬ DỤNG CHÚNG
Dựa trên sự quan sát thực tế sử dụng các biến thể mang tính đánh dấu và không mang tính đánh dấu ở một số địa phương, cụ thể trong bài viết này là việc sử dụng các biến thể của /e/ và /2/ trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh Phụ, bằng phương pháp định lượng, chúng tôi muốn tìm câu trả lời cho một số
câu hỏi sau đây:
(1) Hai âm chính /e/ và /2/ trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh Phụ có bao nhiêu biến thể? Đặc trưng ngữ âm của chúng ra sao? Biến thể nào mang tính đánh dấu và biến thể nào không mang tính đánh dấu? Bản chất của mối quan hệ giữa hai loại biến thể ấy là gì?
(2) Việc sử dụng các cặp hay chùm biến thể trong thế đối lập bị đánh dấu/ không bị đánh dẫu đó có mỗi tương quan nào với các đặc điểm xã hội của người nói như giới
tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ giáo dục, khả năng tiếp xúc với các cộng đồng
ngôn từ khác hay không? Có mối tương quan nào giữa việc bị đánh dấu về mặt khu vực và bị đánh dẫu về mặt xã hội không?
3 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Tư liệu nghiên cứu chủ yếu là nguồn tư liệu ghi âm lời nói của 34 cộng
tác viên (CTV) hay cũng có thể nói là 34 mẫu nghiên cứu thuộc cộng đồng ngôn từ Quỳnh Phụ Thông thường, các nhà biến thể học (variationists) hay còn gọi là
những người theo trường phái Labov chia phong cách ngôn từ thành ba loại:
phong cách quy thức (formal style), phong cách thận trong (careful style) va phong
cách phi quy thức (informal style hay casual style) Tư liệu về phong cách quy thức được thu thập bằng cách yêu cầu CTV đọc bảng từ hoặc các cặp từ tối thiểu, tư liệu
về phong cách thận trọng được thu thập bằng cách yêu cầu CTV đọc một đoạn văn, tư liệu về phong cách phi quy thức được thu thập trong lời nói tự nhiên* Việc phi âm của chúng tôi được thực hiện ở hai trong ba phong cách trên
đây: phong cách quy thức và phong cách thận trọng Dữ liệu thu được là 34 file
được ghi bằng máy ghi âm ki thuật số Ngoài tư liệu ghi âm, chúng tôi còn có nguồn tư liệu phỏng vẫn từ 34 phiếu điều tra được thiết kế sẵn, chủ yếu để khai thác những thông tin về đặc điểm xã hội của các mẫu nghiên cứu
Đặc điểm xã hội của các mẫu nghiên cứu có thể tóm lược trong bảng sau:
+ Dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2000), [1] hay [n] ở một lang quê Việt Nam: một quan sát từ góc độ ngôn
ngữ học xã hội, Ngôn từ, giới và nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
Trang 5Trịnh Cẩm Lan, Đặng Thị Lan Anh
Bảng 1: Các đặc điểm xã hội của mẫu nghiên cứu
Các đặc trưng Tan sé Tỉ lệ %
Giới tính
Tổng 34 100, 0
Trình độ
Phổ thông 26 76, 5%
Cao đẳng, đại học 8 23,5
Tổng 34 100, 0
Tudi
< 18 1 2, 9%
19 - 50 22 64,7
Nghề nghiệp
Nông dân 18 52.9%
Học sinh 1 3,4
Sinh vién 9
Tổng 34 100, 0
Tiếp xúc với cộn
đông ngôn từ khác
Có 14 41,2%
Không 20 58,8
4 KET QUA NGHIEN CUU VA BAN LUAN
704
3.2 Phương pháp nghiên cứu cơ bản mà chúng tôi áp dụng là phương pháp điều tra điển đã ngôn ngữ học Ngoài ra, trong quá trình xử lí tư liệu, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và miêu tả ngữ âm học để miêu tả đặc trưng ngữ âm của các biến thể Ngữ liệu điều tra được xử lí bằng phương pháp phân tích định lượng trên phần mềm thống kê SPSS 15.0
4.1 Các biến thể của hai âm vị /e/ và /2/ ở cộng đồng Quỳnh Phụ
a Âm vị /e/ trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh Phụ có ba biến thể sau đây:
Trang 6BIẾN THỂ NGÔN NGỮ MANG TÍNH ĐÁNH DẦU VÀ VIỆC SỬ DỤNG CHÚNG
- Biến thể [e]-0: được phát âm như biến thể toàn dân của âm chính /e/ trong
âm tiết tiếng Việt Biến thể này có đặc trưng là một nguyên âm bồng, âm sắc cố
định, âm lượng lớn, ở bậc cực lớn
- Biến thể [e]-1: đây là biến thể bị đánh dấu mang đặc trưng ngữ âm Quỳnh
Phụ Biến thể này cũng có đặc trưng là một nguyên âm bổng, nhưng âm sắc không
có định Nếu trên hình thang nguyên âm, ở hàng trước, ta thấy // là nguyên âm có
độ mở hẹp nhất, tiếp đó đến /e/ và sau đó mới là /e/ thì có thể nói biến thể [e]-1 được bắt đầu với độ mở hẹp gần như /, sau đó rộng dần và rộng nhất ở thời điểm kết thúc gần như /e/ Vì vậy, có thể nói, biến thể này mang âm hưởng gần như một nguyên âm chuyển sắc (nguyên âm đôi /ie/)
- Biến thể [e]-2: đây cũng là một biến thể không giống biến thể toàn dân của nguyên âm /e/ nhưng cũng không giống biến thể [e]-1 và chúng tôi gọi là [e]-2 Theo quan sát thực tế, bên cạnh [e]-1, [e]-2 cũng được dùng khá phổ biến trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh Phụ và cũng tạo nên sắc thái ngữ âm mang tính địa phương do nó được phát âm rất khác với biến thể toàn dân [e]-0 mà chúng tôi đã
mô tả Nếu biến thể [e]-1 khác biến thể toàn dân [e]-0 chủ yếu ở tính không cố định của âm sắc và độ mở rộng dần khi phát âm thì biến thể [e]-2 lại giống biến thể toàn đân [e]-0 ở âm sắc cố định, tuy nhiên, biến thể [e]-2 khác biến thể toàn dân ở chỗ nó có độ mở khá hẹp, gần như giữa // và /e/, thêm nữa, nó có cấu âm dường
như sâu hơn nên ta có cảm giác nó không hoàn toàn là nguyên âm hàng trước nữa
mà nó đã lùi gần vào hàng giữa Với đặc trưng này, biến thể [e]-2 đã bị trung hòa
hóa vì đã mất đi phần nào đặc trưng âm sắc bổng vốn có của /e/ trong hệ thống
nguyên âm làm âm chính
b Âm vị /2/ trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh Phụ có hai biến thể sau đây:
- Biến thể [a]-0: được phát âm như biến thể toàn dân của âm chính /2/ trong
âm tiết tiếng Việt Biến thể này có đặc trưng là một nguyên âm trầm, âm sắc cố
định, âm lượng lớn, ở bậc cực lớn
- Biến thể [s]-1: đây là biến thể bị đánh dấu mang đặc trưng ngữ âm Quỳnh Phụ Biến thể này cũng có đặc trưng là một nguyên âm trầm, nhưng âm sắc không
có định, được bắt đầu gần như [u] và chuyển dần sang [] vào thời điểm gần kết
thúc Trong âm tiết, biến thể này mang âm hưởng gần như một nguyên âm
chuyển sắc (nguyên âm đôi) Như vậy, về đặc trưng ngữ âm, hai biến thể [a]-0 và
[s]-1 khác nhau chủ yếu ở tính cố định và không cô định của âm sắc Với sự khác biệt này, hai biến thể được phát âm gần như hai nguyên âm khác nhau: một
nguyên âm đơn /2⁄/ và một nguyên âm đôi /ua/ làm nên tính đánh dấu của đặc trưng ngữ âm Quỳnh Phụ
Đặc điểm ngữ âm cơ bản các biến thể của hai âm vị /e/ và /2/ có thể hình dung
trên hình thang nguyên âm dưới đây (hình 1)
Trang 7Trịnh Cẩm Lan, Đặng Thị Lan Anh
Hình 1: Vị trí của các biến thể trên hình thang nguyên âm
{2]-l
Có thể thấy rằng sự xuất hiện cùng một lúc của 3 biến thể ngữ âm đối với âm
vị /e/ và 2 biến thể ngữ âm đối với âm vị /2/ cho thấy tiếng Việt ở huyện Quỳnh
Phụ có những khác biệt đáng kể so với tiếng Việt toàn dân (giả định rằng trong
tiếng Việt toàn dân, mỗi âm vị chỉ có một biến thể với đặc điểm ngữ âm được mô
tả như biến thể 0 của mỗi âm vị ở trên) Những khác biệt về đặc trưng ngữ âm giữa
các biến thể địa phương Quỳnh Phụ và các biến thể ngữ âm toàn dân ở đây rõ rệt đến mức hoàn toàn có thể cảm nhận bằng thính giác thường Sự khác biệt này tạo
cho các biến thể này đặc tính bị đánh dấu rất mạnh Với đặc tính đó, việc sử dụng
hay không sử dụng chúng có thể sẽ là sự phản ánh những dấu hiệu xã hội, những đặc điểm tâm lí, những thói quen hành ngôn và thái độ ngôn ngữ của các chủ thể
sử dụng
4.2 Tần số sử dụng các biến thể của /e/ và /2/ ở cộng đồng Quỳnh Phụ
Như đã trình bày, tư liệu điều tra của chúng tôi được thực hiện trên hai
phong cách ngôn từ cơ bản: phong cách quy thức (formal style) được thực hiện với
10 từ và cụm từ trong đó có sự xuất hiện 11 lần của /e/ và 14 lần của /2/, phong cách thận trọng (careful style) được thực hiện trên một đoạn văn bản khoảng 100 từ với
sự xuất hiện 9 lần của /e/ và 16 lần của /2/ Khác với một số cộng đồng ngôn từ
khác, ở cộng đồng Quỳnh Phụ, chúng tôi không nhận thấy sự khác biệt về phong
cách ngôn từ trên ngữ liệu điều tra Cách đọc /e/ và /2/ ở cả hai phong cách ngôn từ
về cơ bản là như nhau Đối với cùng một âm, không có hiện tượng khác biệt trong
ngữ lưu và ngoài ngữ lưu Thực tế này có thế xuất phát từ hai nguyên nhân sau: (1) Nguyên nhân thứ nhất có thể là do hai phong cách mà chúng tôi sử dụng
để lấy tư liệu khá gần gũi, chúng đều khiến CTV phải có một mức độ thận trọng
nhất định trong sử dụng ngôn từ, mức độ thận trọng ấy, dù ít dù nhiều, cũng có thể làm cho sự khác biệt giữa hai phong cách trở nên rất tinh tế và hầu như rất khó
nhận ra, nhất là khi chúng được đọc liên tục như trên cùng một dòng ngữ lưu (2) Nguyên nhân thứ hai có thể là đo trong quá trình điều tra, chúng tôi luôn
có ý thức về việc không để các CVT biết chúng tôi chú ý đến điều gì trong ngôn từ của họ, nghĩa là họ hoàn toàn không biết những biến thể nào bị đánh dấu trên các
706
Trang 8BIẾN THỂ NGÔN NGỮ MANG TÍNH ĐÁNH DẦU VÀ VIỆC SỬ DỤNG CHÚNG
công cụ điều tra (bảng từ, văn bản) Để đảm bảo nguyên tắc này, trong thiết kế
nghiên cứu, CTV cũng được yêu cầu đọc văn bản trước rồi mới đọc bảng từ
Việc không có sự khác biệt phong cách trong ngôn từ của cộng đồng Quỳnh
Phụ có thể là do nguyên nhân thứ nhất, cũng có thể là do nguyên nhân thứ hai
hay cũng có thể là cả hai nguyên nhân Dù do nguyên nhân nào thì đó cũng là một bằng chứng khách quan mà chúng tôi thấy cần phải tôn trọng Và, với thực tế
này, việc khảo sát tần số xuất hiện của các biến thể dưới đây sẽ được thực hiện
trên ngữ liệu tổng của cả hai phong cách
/e/ trong văn bản xuất hiện 9 lần, trong bảng từ xuất hiện 11 lần, tổng là 20
lần xuất hiện Mỗi văn bản và bảng từ được tất cả 34 CTV đọc Suy ra tổng số lần xuất hiện của /e/ là 680 lần Trong đó:
- Biến thể [e]-0 xuất hiện 140 lần, tương ứng với 20, 6%
- Biến thể [e]-1 xuất hiện 340 lần, tương ứng với 50, 0%
- Biến thể [e]-2 xuất hiện 200 lần, tương ứng với 29, 4%
/s/ trong văn bản xuất hiện 16 lần, trong bảng từ xuất hiện 14 lần, tổng là 30
lần xuất hiện Với 34 CTV, tổng số lần xuất hiện của /2/ là 1020 lần Trong đó:
- Biến thể [2]-0 xuất hiện 600 lần, tương ứng với 58, 8%
- Biến thể [s]-1 xuất hiện 420 lần, tương ứng với 41, 2%
Dễ nhận thấy là, sự xuất hiện với tỉ lệ không quá thắp của [e]-0 (20, 6%) và tỉ
lệ tương đối cao của [a]-0 (58, 8%) cho thấy vào thời điểm hiện tại, Quỳnh Phụ
không phải là một địa bàn khép kín, ở mức độ nào đó, nó biểu hiện sự giao lưu với
các cộng đồng ngôn từ bên ngoài khá mạnh Điều đó có nghĩa là, nó hoàn toàn
không bao giờ tiềm tàng khả năng trở thành đảo thổ ngữ, đặc biệt là giờ đây, khi
sự giao tiếp, đi lại giữa các vùng miền đang diễn ra với một tốc độ khẩn trương, mạnh mẽ và vô cùng năng động Với một tốc độ phát triển như hiện tại, theo dự đoán của chúng tôi, những biến thể bị đánh dấu sẽ dần dần bị thu hẹp phạm vi sử dụng nhường chỗ cho những biến thể toàn dân và đến một thời điểm nào đó
trong tương lai, những biến thể bị đánh dấu đó có thể sẽ không còn hiện diện
trong ngôn từ của cộng đồng đã từng là chủ nhân của chúng nữa
Trong số 2 biến thể địa phương của /e/, theo sự mô tả ở 4.1.a., cũng như cảm nhận bằng thính giác thường, biến thể [e]-1 có đặc trưng ngữ âm khác với biến thể
toàn dân [e]-0 hơn nhiều so với [e]-2 Như vậy, theo chúng tôi, [e]-1 mang tính đánh dấu mạnh hơn so với [e]-2 Điều đó có nghĩa là việc dùng nhiều biến thể [e]-1
sẽ trở thành dấu hiệu thể hiện đậm nét hơn đặc trưng Quỳnh Phụ của người sử
dụng Ngược lại, việc không dùng [e]-1 mà dùng [e]-2 là một dấu hiệu làm cho đặc
trưng ấy mờ đi, và việc dùng hoàn toàn [e]-0 thay vì [e]-2 và [e]-1 sẽ chỉ ra rằng đặc
Trang 9Trịnh Cẩm Lan, Đặng Thị Lan Anh
trưng ấy đã mất hẳn Theo cách biện luận như vậy, nếu giả định rằng một người thuần Quỳnh Phụ (sinh ra, lớn lên trong cộng đồng Quỳnh Phụ, không giao tiếp
với cộng đồng ngôn từ nào khác ngoài Quỳnh Phụ) thì sẽ dùng hoàn toàn biến thể
[e]-1 và [s]-1 để giao tiếp và sự xuất hiện của [e]-2, []-0 và [0]-0 đã thể hiện rằng
cộng đồng ngôn từ này không còn “thuần” nữa Nó đang trên con đường “toàn
dân hóa”, tiếng nói của nó đang hòa vào tiếng Việt toàn dân theo quy luật phát
triển chung đã được dự báo của các phương ngữ Việt hiện đại
4.3 Tương quan giữa việc sử dụng các biến thể và các đặc điểm xã hội của
người nói
Kết quả phân tích định lượng:
Bang 2: Tình hình sử dụng các biến thể cua /e/ va /2/ trong tương quan với các biến xã hội
% dùng các biến thể
% dùng các biến thể của /e/ | Oo,
[e]-2 e}-1 | fe] | Tổng | I]-1 [o]-0 | Tổng
Giới tính
Nam 1.7 69,2 | 23,1 | 100, | 53,8 | 46,2 | 100,0
Nữ 42,9 |38,1 |19,0 |0 33,3 |66,7 | 100,0
100,
0, 082+ 0, 238 Trình độ
Phổ thông 38,5 |61,5 |0 100, |53,8 | 46,2 | 100,0
Cao đẳng, đạihọc | 0 12,5 |87,5s |0 0 100, | 100,0
= 0
0, 000** 0, 007**
Tuổi
<18 0 100, |0 100, |100,0 |0 100, 0
19 - 50 31,8 |9 31,8 |0 22.7 | 73,3 | 100,9
> 50 25,0 | 36.4 lo 100, | 72,7 | 27,3 | 100,0
= 100,
0
0, 057+ 0, 011
Nghề nghiệp | | | | |
5 p là độ khác biệt có ý nghĩa thống kê Theo quy ước chung của SPSS, mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê được tính là 95%, tức là khi giá trị của p = 0, 05 Tất cả mọi giá trị của p < 0,05 đều được xem như là đạt mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê và p > 0,05 được xem như là không đạt mức độ
khác biệt có ý nghĩa thống kê Theo đó, dấu (*) thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, còn dấu (**) thể hiện sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê, còn dấu (+) thể hiện mức độ khác biệt gần đạt mức đáng kể thống kê mà trong một số trường hợp thì đây cũng là mức độ khác biệt đáng lưu ý
708
Trang 10BIẾN THỂ NGÔN NGỨ MANG TÍNH ĐÁNH DẤU VÀ VIEC SU DUNG CHUNG
Nông dân 27,8 |72,2 |0 100, | 100,0 |0 100, 0
Buôn bán 83,3 |16,7 |0 0 66,7 | 33,3 | 100,0
Học sinh 0 100, |0 100, |100,0 |0 100, 0
Sinh viên 0 0 100, ng 0 100, | 100,0
P 0 0 lo 0
100,
0
0, 000** 0, 001**
Tiếp xúc với công
đồng ngôn từ
khác 345.7 | 14,3 | 50,0 | 100, |0 100, | 100, 0
Có 25,0 |75,0 |0 0 70,0 |0 100, 0
Không 100, 30, 0
0, 000** 0, 000 Bàn luận:
Kết quả phân tích định lượng cho thấy có một mức độ khác biệt nhất định
trong sử dụng các biến thể của /e/ và /2/ giữa hai giới Theo đó, nữ có có thực tế sử
dụng các biến thể bị đánh dấu manh ([e]-1, [9]-1) ít hơn hẳn so với nam, tuy mức
độ khác biệt chỉ gần đạt mức đáng kể thống kê nhưng nó cũng đã tạo nên tính
khuynh hướng Tỉ lệ nữ sử dụng biến thể [e]-2 cao hơn nam tới 6 lần, biến thể [a]-0
cao hơn nam trên 20% và [s]-1 thấp hơn nam gần 20% cho thấy nữ Quỳnh Phụ đang có xu hướng rời bỏ dần những biến thể bị đánh dấu mạnh để dùng những biến thể không bị đánh dấu hoặc ít bị đánh dấu hơn trong khi nam không thể hiện
rõ ràng xu hướng đó Như vậy, kết quả này có sự tương ứng với kết quả nghiên
cứu ở các cộng đồng ngôn từ phương Tây Ở đó, các nhà nghiên cứu coi những biến thể bị đánh dấu kiểu này là những biến thể kém uy tín và phụ nữ phương Tây, do ý thức về sự thiếu hụt địa vị so với nam giới nên đã chú trọng vào việc sử dụng những biến thể có uy tín như một sự bù đấp phần nào sự thiếu hụt địa vị đó
Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của chúng tôi đối với cộng đồng Nghệ Tĩnh ở Hà
Nội [5] cũng ủng hộ xu hướng này trong khi kết quả đó lại trái ngược với các kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Hương [3] ở Vĩnh Tuy, Nguyễn Thị Thanh Bình [1] ở Hoài Thị Nếu Vũ Thị Thanh Hương cho rằng các biến thể phát âm lệch chuẩn của (]) và (n), tuy được coi là bị đánh dấu về mặt xã hội, nhưng lại không mẫn cảm với sự khác biệt giới, có thể do phụ nữ Việt Nam không bị coi và không
tự coi mình thấp kém về địa vị và uy tín xã hội như phụ nữ trong xã hội phương Tây thì chúng tôi, với kết quả đã nêu, lại cho rằng, phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là phụ
nữ nông thôn (chúng tôi muốn nhắn mạnh), luôn tự nghĩ rằng mình thấp kém hơn nam về địa vị và uy tín Bên cạnh đó, họ cũng lại khá chú ý đến những biểu hiện hình thức (trang phục, diện mạo, lời ăn tiếng nói ), những biểu hiện mà họ cho
rằng thể hiện phần nào đó địa vị và uy tín của mình Vì thế, họ, để mưu cầu một sự
đánh giá cao hơn về địa vị và uy tín, đã cố gắng hay ít nhất là có ý thức làm cho