Lập dự án xây dựng điểm trung chuyển ga Hà Nội
Trang 1MỤC LỤC Chương 1 Cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá tính khả thi
của dự án xây dựng công trình giao thông: 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Tổng quan về dự án đầu tư 7
1.1.1.1 Khái niệm 7
1.1.1.2 Các đặc trưng cơ bản và phân loại dự án đầu tư 8
Bảng (1.1): Phân loại dự án đầu tư 9
1.1.1.3 Vai trò và yêu cầu đối với dự án đầu tư 9
1.1.1.4 Các giai đoạn của một dự án đầu tư 10
1.1.1.5 Trình tự, nội dung của quá trình lập dự án đầu tư 13
1.1.2 Dự toán xây dựng công trình 26
1.1.2.1 Khái niệm dự toán xây dựng công trình 26
1.1.2.2 Các thành phần chi phí của dự toán công trình 26
1.1.2.3 Phương pháp xác định dự toán công trình 27
1.1.3 Sơ lược về điểm trung chuyển 31
1.1.3.1 Khái niệm điểm trung chuyển: 31
1.1.3.2 Cơ cấu điểm trung chuyển 32
1.1.3.3 Phân loại điểm trung chuyển 32
1.2 Các tiêu chỉ đánh giá tính hiệu quả dự án xây dựng công trình 33
1.2.1 Khái niệm hiệu quả, các nguyên tắc xác định và sự cần thiết đánh giá tính hiệu quả của dự án : 33
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả: 33
1.2.1.2 Sự cần thiết đánh giá hiệu quả KT – XH của dự án đầu tư: 34
1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả KT - XH của dự án 34
1.2.2.1 Chỉ tiêu hiệu số thu chi 34
1.2.2.2 Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR 35
1.2.2.3 Chỉ tiêu tỷ số thu chi 36
1.2.2.4 Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá 36
Chương 2 Phân tích cơ hội đầu tư 38
2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội 38
2.1.1.1 Vị trí 38
2.1.1.2 Địa hình 38
2.1.1.3 Khí Hậu 39
Trang 22.1.1.4 Sông ngòi 39
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội thành phố Hà Nội 40
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế 40
2.1.2.2 Dân số, y tế, giao dục 40
2.2 Hiện trạng giao thông thành phố Hà Nội và khu vực nghiên cứu 41
2.2.1 Hiện trạng giao thông thành phố Hà Nội 41
2.2.1.1 Hiện trạng giao thông nói chung 41
2.2.1.2 Hiện trạng giao điểm trung chuyển 45
2.2.1.3 Định hướng quy hoạch giao thông thành phố Hà Nội đến năm 2020 47
2.2.2 Hiện trạng giao thông khu vực Ga Hà Nội 48
2.2.2.1 Mặt bằng khu vực nghiên cứu 48
2.2.2.2 Lưu lượng giao thông 49
2.2.3 Điều tra nhu cầu đối với vận tải buýt khu vực ga Hà Nội dự báo cho năm tương lai 54
2.2.3.1 Phương thức điều tra, dự báo 54
2.2.3.2 Kết quả điều tra 55
2.2.3.3 Kết quả dự báo 57
2.3 Các dự án quy hoạch có liên quan 58
2.4 Kết luận và đưa ra quyết định 58
2.4.1 Những bất cập cần được giải quyết 58
2.4.2 Những điều kiện thuận lợi 59
2.4.3 Đưa ra quyết định 59
Chương 3 Lập báo cáo kinh tế kỹ thuật, phân tích lợi ích, đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp kèm theo 60
3.1 Lập báo cáo kinh tế kỹ thuật (báo cáo đầu tư) 60
3.1.1 Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư 60
3.1.1.1 Căn cứ pháp lý 60
3.1.1.2 Căn cứ kinh tế kỹ thuật 60
3.1.2 Lựa chọn quy mô đầu tư, hình thức đầu tư 61
3.1.3 Các phương án vị trí, địa điểm xây dựng công trình 63
3.1.3.1 Đề xuất phương án vị trí xây dựng: 63
3.1.3.2 Lựa chọn phương án: 64
3.1.4 Phân tích phương án thiết kế các hạng mục công trình 66
3.1.4.1 Các hạng mục thuộc công trình điểm trung chuyển ga Hà Nội 66
3.1.4.2 Phương án thiết kế các hạng mục công trình phần xây dựng 66
3.1.5 Phân tích kế hoạch thực hiện xây dựng dự án 73
Trang 33.1.6 Tính toán tổng mức đầu tư và phân tích kế hoạch đầu tư 75
3.2 Phân tích lợi ích 76
3.2.1 Lợi ích của chủ đầu tư 76
3.2.1.1 Lợi ích do giảm chi phí khai thác vận hành 76
3.2.1.2 Lợi ích do gia tăng hành khách 76
3.2.1.3 Lợi ích tăng thêm do các dịch vụ kèm theo (quảng cáo, bán hàng ) 78
3.2.2 Lợi ích xã hội 78
3.2.2.1 Lợi ích do tiết kiệm thời gian đi lại của hành khách 79
3.2.2.2 Lợi ích do giảm chi phí đi lại 80
3.2.2.3 Lợi ích do bảo vệ môi trường 81
3.2.2.4 Lợi ích giảm tai nạn và ùn tắc giao thông 82
3.2.2.5 Các lợi ích khác 83
3.3 Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng điểm trung chuyển ga Hà Nội 83
3.3.1 Phân tích các khoản thu, khoản chi đầu tư xây dựng và khai thác dự án 83
3.3.1.1 Các khoản thu: 83
3.3.1.2 Các khoản chi: 84
3.3.1.3 Tổng hợp dòng thu chi 84
3.3.2 Đánh giá hiệu quả của dự án bằng các chỉ tiêu 84
3.3.2.1 Chỉ tiêu hiệu số thu chi 84
3.3.2.2 Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn 85
3.3.2.3 Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại 86
3.3.2.4 Chỉ tiêu tỷ số thu chi 86
3.4 Đề xuất giải pháp kèm theo 87
Trang 4Phần mở đầu.
1 Sự cần thiểt nghiên cứu.
Trên các trục đường đô thị Việt Nam đặc biệt là các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tình trạng ùn tắc giao thông xảy ra thường xuyên với thời gian dài đã làm thiệt hại cho nền kinh tế cũng như ảnh hưởng tới môi trường Các nguyên nhân có thể kể đến đó là tình trạng cơ sở vật chất yếu kém, cơ cấu phương tiện của dòng giao thông phức tạp, ý thức tham gia giao thông của người dân và việc tổ chức giao thông của
cơ quan quản lý
Việc tổ chức giao thông được thể hiện qua các công việc cụ thế như bố trí hệ thống biến báo, biến chỉ dẫn đường, cấm đường, bố trí các khu vực đỗ xe, điểm dừng đỗ và điểm trung chuyển
Trên địa bàn Hà Nội tình trạng bố trí không hợp lý các điểm dừng đỗ bắt gặp nhiều, điều này dẫn đến việc vào bến không hiệu quả (không có người lên và không có người xuống) của xe buýt xảy ra thường xuyên Một số điểm trung chuyển mới được xây dựng nâng cao khả năng phục vụ như điểm trung chuyển Long Biên, điểm trung chuyển Cầu Giấy Cũng có những khu vực cần xây dựng điểm trung chuyển nhưng chưa có dự án xây dựng, cần xem xét và thực hiện đầu tư, khu vực ga Hà Nội là một ví dụ
Ga Hà Nội là khu vực có luồng hành khách tham gia giao thông đông đúc (có tới
5125 PCU giờ cao điểm sáng và 8536 PCU giờ cao điểm chiều).Ga Hà Nội đang được cải thiện về các dịch vụ và cơ sở hạ tần nên lượng hành khách phục vụ luôn tăng hàng năm (tính đến năm 2008 lượng phục vụ của ga Hà Nội là 2801125 hành khách với mức tăng hàng năm là 5.3%) Khách đến ga không chỉ là khách sử dụng vận tải đường sắt mà
có cá lượng hành khách phát sinh như người đưa đón Hiên đang có dự án đường sắt đô thị đoạn Nhổn - ga Hà Nội dự kiến hoàn thành năm 2020 sẽ tạo nên một lượng thu hút lớn đối với vận tải hành khách công cộng Trong khi đó điểm dừng xe buýt tại khu vực
ga Hà Nội lại bố trí cách khá xa (cách 200m từ 2 phía trên trục đường Lê Duẩn) làm giảm khả năng tiếp cận đối với phương tiện buýt của hành khách, diện tích không gian điểm dừng hẹp, không xây dựng nhà chờ Khảo sát tại 2 điểm dừng này cho thấy hoạt động của phương tiện buýt tại đây ảnh hưởng rất nhiều đến dòng giao thông cụ thế như sau: Vận tốc dòng giao thông giảm khi có phương tiện buýt vào bến đón trả khách, hiện tượng phương tiện buýt của các tuyến tới điểm dừng cùng lúc đã gây nên tắc ghẽn làm xáo trộn dòng giao thông (tại điểm dừng 124 Lê Duẩn vào giờ cao điểm chiều 52 xe buýt của 9 tuyến buýt đi qua thì có tới 7 lần phương tiện các tuyến đến cùng lúc) Cần nghiên cứu xây dựng và tổ chức giao thông điểm trung chuyển tại khu vực ga Hà Nội để năng
Trang 5cao khả năng thông qua của phương tiện và tăng sự liên kết giữa vận tải buýt với vận tải sắt đồng thời giảm mức tối đa tác động của xe buýt tới dòng giao thông.
2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp lập và phân tích hiệu quả một dự án xây dựng điểm trung chuyển vận tải hành khách công cộng
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lập và phân tích tính khả thi dự án xây dựng điểm trung chuyển vận tải hành khách công cộng tại khu vực ga Hà Nội, địa phận Quận Đống Đa
- Thời gian nghiên cứu và đánh giá từ năm 2000 - 2008, chiến lược phát triển phục vụ nhu cầu đến năm 2015 định hướng 2020
4 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Lập dự án xây dựng điểm trung chuyển vận tải hành khách công cộng tại khu vực ga
Hà Nội đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai (tính đến năm 2015)
- Đánh giá tính hiệu quả khi lập dự án, xác định lưu lượng thu hút phát sinh khi hoàn thiện dự án
- Đề ra các giải pháp kèm theo nhằm nâng cao khả năng phục vụ của vận tải hành khách công cộng
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu: Các tài liệu về tiêu chuẩn thiết kế, các tài liệu về dự án và một
số dự án đã được xây dựng
- Điều tra khảo sát thu thập số liệu thực tế:
• Đếm lưu lượng thông qua tại mặt cắt, lượng hành khách lên xuống tại các điểm dừng khu vực ga Hà Nội: Đếm trực tiếp tại hiện trường vào 2 giờ cao điểm, sử dụng mấu đếm lưu lượng của Trung tâm tư vấn và phát triền giao thông vận tải Hà Nội (phụ lục 1.1)
• Đo vận tốc dòng giao thông tại các thời điểm trong ngày, sử dụng phương pháp đi cùng dòng giao thông và đo thời gian chạy xe trên 1 đoạn đường
• Kháo sát mặt bằng diện tích và các công trình quanh ga Hà Nội
- Thu thập thông tin, sử dụng các hàm thống kê và công cụ tin học Excel, project, phần mền dự toán G8 để xử lý số liệu
Trang 6Giao diện phần mềm dự toán G8.
6 Nội dung báo cáo: 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá tính khả thi của dự án xây dựng công trình giao thông
- Chương 2: Phân tích Cơ hội đầu tư
- Chương 3: Lập báo cáo kinh tế kỹ thuật, phân tích lợi ích, đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp kèm theo
Trang 7Chương 1 Cơ sở lý luận và các chỉ tiêu đánh giá tính khả thi
của dự án xây dựng công trình giao thông:
1.1 Cơ sở lý luận.
1.1.1 Tổng quan về dự án đầu tư.
1.1.1.1 Khái niệm.
a, Sự cần thiết phải đầu tư theo dự án.
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị thi công, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với đất bao gồm dưới mặt đất, trên mặt đất, dưới mặt nước, trên mặt nước được xây dựng theo thiết kế
Như vậy sản phẩm xây dựng mang các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật sau:
- Sản phẩm xây dựng được liên kết định vị với đất, nơi sản xuất cũng là nơi tiêu thụ
- Sản phẩm xây dựng mang tính chất độc nhất và cả biệt cao: không sản phẩm nào giống sản phẩm nào, đặc biệt là về vị trí
- Sản phẩm xây dựng chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố tự nhiên (môi trường tự nhiên: địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn )
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, chi phí xây dựng lớn, kỹ thuật phức tạp, thời gian xây dựng và khai thác dài
- Sản phẩm xây dựng thường được xây dựng theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành nghề kinh tế - kỹ thuật trong suốt quá trình từ khi hình thành ý tưởng đến khi đưa vào khai thác sử dụng
- Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế - xã hội, văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc, quốc phòng
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận và là các hoạt động cho tương lai Hoạt động đầu tư xây dựng công trình là hoạt động bỏ vốn để thực hiện xây dựng mới hay cải tạo công trình nhằm phục
vụ những mục đích của con người trong khoảng thời gian xác định
Do tính chất của công trình xây dựng đã nêu trên nên hoạt động đầu tư xây dựng công trình có tính chất ổn định tam thời, mang tính chất lưu động cao, chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường đâu tư (gồm: môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội ) Dẫn đến những rủi ro bất ngờ không lường trước được do đó cần phải lập kế hoạch thực hiện đầu tư dựa trên những phân tích các yếu tố có thế xã ra bằng việc thu thập các thông tin liên quan nhằm giảm thiếu những rủi ro và đạt hiệu quả đầu tư cao nhất Kế hoạch này được tạm gọi là dự án
Trang 8Do đặc thù đa dạng và cá biệt của công trình xây dựng nên không thể áp đặt những kế hoạch của công trình này vào công trình khác Vì vậy nhất thiết phải đầu tư theo dự án.Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam (tiêu chuẩn Việt Nam ISO 900:2000) thì dự án được
định nghĩa như sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có
phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
b, Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình (theo luật xây dựng)
Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn nhất định
1.1.1.2 Các đặc trưng cơ bản và phân loại dự án đầu tư.
a, Đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư :
- Dự án có mục đích mục tiêu rõ ràng: Mỗi dự án là một hoặc một tập hợp nhiệm vụ cần
được thực hiện để đạt được một kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó Dự án đến lượt mình cũng là một hệ thống phức tạp nên có thể được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để quản lý và thực hiện nhưng cuối cùng vẫn phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và chất lượng
- Dự án co chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn Nghĩa là dự án cũng trãi qua các
giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý
chức năng với quán lý dự án.
Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hưu quan như chủ đầu tư, người thụ hưởng
dự án, nhà thầu, các nhà tư vẫn, các cơ quan quản lý Nhà nước… Tuỳ theo tính chất dự án
và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau Ngoài ra, giữa các bộ phận quản lý chứa năng và nhóm quản lý dự án thường phát sinh các công việc yêu cầu sự phối hợp thực hiện nhưng mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau
Vị mục tiêu của dựn án, các nhà quản lý dự án cần duy trì mối quan hệ với các bọ phận quản
lý khác
- Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo.
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, sản phẩm của dự án không phải là sản phẩm hang loạt mà có tính khác biệt ở một khía cạnh nào đó Kể cả một quả trình sản xuất liên tục cũng có thể được thực hiện theo dự án… Sản phẩm của những dự án này dù được sản xuất hàng loạt nhưng vẫn có điểm khác biệt ( về đơn đặt hàng, về chất lượng sản
Trang 9phẩm…) Có thế nói, sản phẩm hoặc dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn với những nhiêum vụ không lặp lại.
- Dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực.
Giữa các dự án luôn luôn có quan hệ chia nhau các nguồn lực khan hiếm của một hệ thống (một cá nhân, một doanh nghiệp, một quôc gia…) mà chúng phục vụ Các nguồn lực
đó có thể là tiền vốn, nhân lực, thiết bị…
- Dự án luôn có tính bất định và rủi ro.
Một dự án bất kỳ nào cũng có thời điểm bắt đầu và kết thúc khác nhau, đôi khi là một khoảng cách khá lớn về thời gian Mặt khác, việc thực hiện dự án luôn luôn đòi hỏi việc tiêu
tốn các nguồn lực Hai vẫn đề trên là nguyên nhân của những bất định và rủi ro của dự án
b, Phân loại dự án:
Dự án có thể phân lại theo nhiều tiêu chí khác nhau Dưới đây là bảng phân loại dự án
Bảng (1.1): Phân loại dự án đầu tư.
1 Theo cấp độ dự án Dự án thông thường, chương trình, hệ thống
3 Theo lĩnh vực Xã hội, kinh tế, kỹ thuật, tổ chức, hỗn hợp
4 Theo loại hình Giáo dục đào tạo, nghiên cứu và phát triển, đổi mới, đầu tư, tổng hợp
5 Theo thời hạn Ngắn hạn (1-2 năm), trung hạn (3-5 năm), dài hạn (trên 5 năm)
6 Theo khu vực Quốc tế, quôc gia, vùng, miền, liên ngành, địa phương
7 Theo chủ đầu tư Là Nhà nước, là doanh nghiệp, là cả thể riêng lẻ
8 Theo đối tượng đầu
tư Dự án đầu tư tài chính, dự án đầu tư đối tượng vật chất cụ thể
9 Theo nguồn vốn
Vốn ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn tín dụng, vốn tự huy động của doanh nghiệp Nhà nước, vốn liên doanh với nước ngoài, vón góp của dân, vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh, vốn FDI…
1.1.1.3 Vai trò và yêu cầu đối với dự án đầu tư.
a, Vai trò của dự án đầu tư.
Dự án đầu tư có vai trò quan trọng sau:
- Là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư
- Là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ cho vay vốn
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi đôn đốc quá trình thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện dự án
- Văn kện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư
Trang 10- Căn cứ quan trọng nhất để theo dõi đánh giá và điều chỉnh kịp thời những tồn đọng và vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình.
- Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) có tác dụng tích cực để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến thực hiện dự án
- Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) là căn cứ để xem xét, xử lý hài hoà mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước Việt Nam
Và đây là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh
- Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) còn là căn cứ quan trọng để xấy dựng hợp đồng liên doanh, soạn thảo điều luật của doanh nghiệp liên doanh
Với vai trò quan trọng như vậy không thể coi việc xây dựng một dự án đầu tư là việc làm chiếu lệ để tìm đối tác, xin cấp vốn, vay vốn, xin giấy phép mà phải coi đây là một công việc nghiên cứu nghiêm túc bởi nó xác định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của chính bản thân đơn
vị lập dự án trước Nhà nước và nhân dân
b, Yêu cầu đối với dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư để đảm bảo tính khả thi cần đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Tính khoa học và hệ thống: Đòi hỏi những người soạn thảo phải có một quá trình nghiên cứu thật tỉ mỉ và kỹ càng, tính toán cẩn thận chính xác từng nội dung cụ thể của dự
án Đặc biệt có những nộii dung rất phức tạp như phân tích tài chính, phân tích kỹ thuật…đồng thời rất cần sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn về dịch vụ đầu tư giúp đỡ
- Tính pháp lý: Các dự án đầu tư có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phải phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước Do đó, trong quá trình soạn thảo các văn bản dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước và các văn bản quy chế liên quan đến hoạt động đầu tư
- Tính đồng nhất: Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Đối với các dự án quốc
tế còn phải tuân thủ những quy định chung mang tính quốc tế
- Tính hiện thực (tính thực tiễn): Để đảm bảo tính thực tiễn các dự án phải được nghiên cứu và xác định trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động đầu tư Việc chuẩn bị kỹ càng, có khoa học sẽ giúp thực hiện dự án có hiệu quả cao nhất và giảm tới mức tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư
1.1.1.4 Các giai đoạn của một dự án đầu tư.
a, Các giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư
Chu kỳ của một dự án đầu tư bao gồm các giai đoạn, các bước mà một dự án phải trải qua Các giai đoạng mà một dự án đầu tư phải trải qua được tính từ khi chủ đầu tư có ý đồ
Trang 11về dự án đầu tư đến khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư khai thác vận hành dự án cho đến khi dự án chấm dứt hoạt động Có thể mô tả chu kỳ dự án dạng sơ đồ sau:
Hình (1.1): Sơ đồ chu kỳ dự án đầu tư
Như Vậy sau khi có ý đồ đầu tư, chủ đầu tư tiến hành chuẩn bị đầu tư để đến quyết định đầu tư, sau khi có quyết định đầu tư, tiến hành giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành khai thác kết quả đầu tư Đến khi dự án đầu tư kết thúc thời hạn hoạt động hoặc không còn khả năng khai thác thì quá trình lặp lại từ đầu nếu chủ đầu tư còn muốn đầu tư Tuỳ theo quy mô và tình chất của dự án mà các giai đoạn xảy ra dài hay ngắn, đơn giản hay phức tạp Song quá trình này xảy ra đối với tất cả các dự án Nội dung các giai đoạn này không giống nhau nhưng bổ sung cho nhau
b, Nội dung các giai đoạn của dự án đầu tư:
Nội dung các giai đoạn của dự án đầu tư nói chung và đầu tư xây dựng các công trình giao thông vận tải được thể hiện trong bảng sau:
Ý đồ đầu tư
Chuẩn
bị đầu tư
Thực hiện đầu tư
Khai thác vận hành
Kết thúc dự án, hình thành
ý đồ đầu tư mới (nếu có)
Trang 12Bảng(1.2): Các giai đoạn của dự án đầu tư
Chuẩn bị đầu tư Nghiên cứu cơ hội đầu tư để hình thành dự án
Điều tra khảo sát và dự kiến chọn địa điểm xây dựngLập và thẩm định dự án đầu tư
Quyết đinh đầu tư làm công việc chuẩn bị triển khai dự ánThực hiện dự án Đàm phán ký kết hợp đồng
Thiết kế và thẩm định thiết kếThi công xây dựng, giám sát thi côngKết thúc xây dựng, bàn giao sử dụngKhai thác vận hành dự án Khai thác vận hành công trình đến khi dự án chấm dứt hoạt độngCác công việc được tiến hành theo tuần tự nhất định nhưng chúng liên quan chặt chẻ với nhau, không biệt lập nhau mà đan xen gối đầu cho nhau
Trong ba giai đoạn thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là tiền đề và mang tính quyết định cho thành bại của hai giai đoạn sau và toàn bộ công trình đầu tư
Chẳng hạn: Đối với công trình xây dựng cầu, nếu ở giai đoạn lập dự án đầu tư khi chọn địa điểm xây dựng công trình không đúng dẫn đến là tăng nhu cầu đầu tư hoặc dẫn đến việc
tổ chức tuyến vận tải sau này không hợp lý làm giảm hiệu quả kinh tế xã hội của dự án
Trên thực tế không ít các công trình cảng song ở một số thành phố đã được xây dựng do khi chọn điạ điểm xây dựng không hợp lý, sau một thời gian khai thác đã gây ùn tắc giao thông trong nội thành, ảnh hưởng đến môi trường nên phải có kế hoạch di dời đến vị trí khác gây lãng phí đất đai và chi phí khai thác, làm ảnh hướng đến kết quả khai thác Một số công trình cầu, đường khác do khâu thu thập và dự báo khối lượng vận tải ở giai đoạn lập dự án đầu tư không đáng tin cậy nên khi dự án hoàn thành hoặc có rất ít phương tiện lưu thông hoặc chỉ sau thời gian ngắn lại xảy ra tình trạng tắc nghẽn giao thông
Đối với dự án sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm cũng vậy, nếu chọn địa điểm xây dựng đặt ở gần khu dân cư đến lúc đưa dự án vào khai thác mới phát hiện phải xử
lý ô nhiểm môi trường quá tốn kém làm chi phí đầu tư vượt quá nhiều so với dự kiến đầu tư ban đầu Nếu không có nguồn vốn bổ sung phải ngừng hoạt động hoặc ít ra nó cũng làm tăng giá thành sản phẩm làm giảm hiệu quả của dự án Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư thường chiếm khoản từ 0,5 đến 10% tổng vốn đầu tư của dự án Vì vậy, làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt số vốn đầu tư còn lại ở giai đoạn triển khai thực hiện đầu tư đồng thời dự án cũng phát huy hiệu quả ở giai đoạn vận hạnh khai thác, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi
Trong giai đoạn hai các bước công việc cũng không kém phần quan trọng, nó quyết định đến tình trạng kỹ thuật, tuổi thọ của dự án và chất lượng khai thác của dự án Mặt khác ở giai đoạn này, khoảng 90% - 95% số vốn đầu tư được thực hiện nên thời gian triển khai triển khai thực hiện dự án là vấn đề cần được quan tâm đúng mức vì trong thời gian này vốn đầu
Trang 13tư bỏ ra không sinh lợi Thời gian triển khai càng lớn thì thời gian ứ đọng vốn càng nhiều gây tổn thất càng lớn.
Giai đoạn ba: Khai thác vận hành kết quả đầu tư nhằm đạt được mục đích đầu tư Giai đoạn này có tính quyết định về hiệu quả của dự án Nếu tổ chức khai thác tốt sẻ phát huy hết năng lực của dự án Như vậy làm tốt công tác chuẩn bị và triển khai thực hiện tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức khai thác vận hành để phát huy hiệu quả của dự án đầu tư
1.1.1.5 Trình tự, nội dung của quá trình lập dự án đầu tư.
a, Các giai đoạn của quá trình lập dự án đầu tư
Quá trình lập dự án đầu tư trải qua ba giai đoạn nghiên cứu khác nhau theo hướng ngày càng chi tiết hơn và mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu càng cao hơn, những kết luật rút ra ở các giai đoạn ngày càng chuẩn xác hơn đối với mọi khía cạnh của dư án
Tuỳ theo quy mô của dự án đầu tư mà việc nghiên cứu lập dự án phải tiến hành theo các giai đoạn với các nội dung khác nhau Nhưng trình tự chung để tiến hành lập dự án gồm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu cơ hội đầu tư để xác định sự cần thiết phải đầu tư và hình thành dự án (giai đoạn áp dụng đối với tất cả các dự án)
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu lập dự án tiền khả thi (đối với các dự án nhóm A, B hoặc đặc biệt quan trọng)
- Giai đoạn 3: Nghiên cứu lập dự án khả thi (đối với tất cả các dự thuộc nhóm A, B, C).Đối với dự án đầu tư có quy mô vốn nhỏ, yêu cầu kỹ thuật giản đơn thì chỉ lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư (gọi là báo cáo đầu tư) thay cho dự án khá thi
Đối với dự án có quy mô vốn lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, chi phí điều tra, khảo sát thu thập số liệu và nghiên cứu lập dự án rất tốn kém Vì vậy để tiết kiệm chi phí người chia quá trình thành 2 giai đoạn: điều tra sơ bộ và nghiên cứu lập dự án tiền khả thi; điều tra chi tiết
và lập dự án khả thi Nếu kết quả dự án tiền khả thi đi đến kết luận cần thiết phải đầu tư thì mới tiến hành nghiên cứu lập dự án khả thi sẽ dừng lại Làm như vậy với mục đích để tiết kiệm thời gian và chi phí lập dự án
Như vậy, đối với các dự án nhóm A, và một số dự án nhóm B có yêu cầu kỹ thuật phức tạp, sau bước nghiên cứu cơ hội đầu tư thì phải tiến hành nghiên cứu lập dự án tiền khả thi Lập dự án khả thi chỉ được tiến hành sau khi có dự án tiền khả thi được duyệt
Đối với các dự án nhóm C và các dự án nhóm B còn lại, không phải nghiên cứu tiền khả thi mà tiến hành lập dự án khả thi
Đối với các dự án quy mô nhỏ (với quy mô vốn nhỏ hơn 3 tỷ đồng), yêu cầu kỹ thuật đơn giản, xử lý nền móng không phức tap như cầu, đương nông thôn… có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, cũng với mục đích trên nên để đơn giản hoá người ta chỉ tiến hành nghiên cứu lập báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư (gọi tắt là bảo cáo đầu tư) thay cho dự án khả thi
Trang 14Như vậy, lập dự án đầu tư là công việc cần thiết và bắt buộc đối với tất cả các công trình đầu tư Theo quy chế quản lý đầu tư và xây dựng được ban hành kèm theo NĐ.52/CP ngày 08/07/1999 quy định: Tất cả các công trình đầu tư xây dựng, trước khi đi vào thiết kế
kỹ thuật phải có dự án khả thi hoặc báo cáo kỹ thuật đầu tư (đối với đối với công trình quy
mô nhỏ) được duyệt
b, Nghiên cứu cơ hội đầu tư:
Nghiên cứu cơ hội đầu tư là việc chủ đầu tư nghiên cứu nhằm xác định những khả năng, những lĩnh vực mà chủ đầu tư có thể tham gia vào hoạt động để đạt được mục đích đầu tư Mục đích đầu tư của bước nghiên cứu này là xác định một số cách nhanh chóng nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư Nội dung nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành đầu tư, các kết quả và hiệu qủa đạt được nếu tiến hành đầu tư Cơ hội đầu tư chịu
sự phụ thuộc của các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong tác động vào quá trình đầu tư.Các yếu tố bên ngoài tác động đến quá trình đầu tư bao gồm: Các chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội có thuận lợi cho việc đầu tư hay không, khả năng cung cấp các nhu cầu về nguồn lực cho đầu tư, tình hình giá cả Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm mà dự án đầu tư sẽ cung cấp cho xã hội Đối với các công trình giao thông vận tải thì nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ở đây là nhu cầu đi lại nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách mà công trình xây dựng cần đáp ứng để phục vụ cho nhu cầu phát tiển kinh tế xã hội và nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng
Các yếu tố bên trong là khả năng về mặt kỹ thuật, tài chính hiện có, khả năng về tổ chức
và quản lý dự án và khả năng huy động các nguồn lực của chủ đầu tư cho việc hình thành, thực hiện và khai thác dự án Khi nghiên cứu cơ hội đầu tư, cần phải quan tâm đúng mức đến các vấn đề này
Nghiên cứu cơ hội đầu tư là một trong những bước quan trọng trong việc hình thành dự
án một cách có hiệu quả phù hợp với nhu cầu của xã hội trong thời điểm hiện tại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong tương lai Có 2 cấp độ nghiên cứu cơ hội đầu tư
Cơ hội đầu tư chung: Là cơ hội đầu tư được xem xét ở cấp độ nghành vùng hoặc cả
nước Nghiên cứu cơ hội đầu tư chung giúp cho ta thấy được những bộ phận hoạt động kinh
tế xã hội cần và có thế đầu tư trong quá trình của thời kỳ phát triển kinh tế nhằm phát hiện những lĩnh vực, những bộ phận hoạt động kinh tế xã hội mà chủ đầu tư có thế tham gia vào đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành, vùng của đất nước từ đó hình thành dự án sơ bộ Tuỳ theo địa hình của mỗi vùng mà hình thành nên những tiềm năng cụ thể để hình thành dự án sơ bộ Các ngành chức năng sẽ cùng nhau lựa chọn những dự án tối ưu nhất để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của tưng vùng, của từng đất nước hoặc chiến lược kinh doanh hứa hẹn một hiệu quả kinh tế khả quan
Trang 15Cơ hội đầu tư cụ thể: Là cơ hội đầu tư được xem xét ở cấp độ đơn vị sản xuất kinh
doanh dịch vụ nhằm phát triển những khâu, những giải pháp kinh tế kỹ thuật trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của đơn vị nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển của ngành, vùng đất nước
Căn cứ để phát hiện những cơ hội đầu tư:
- Các danh sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước ở thời kỳ hiện tại và tương lai
- Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của ngành, của vùng, của đất nước
- Hiện trạng kinh tế phát triển kinh tế của đất nước
- Nhu cầu của thị trường trong nước và trên thế giới
- Tiềm năng thị trường trong nước và quốc tế
- Khả năng về kỹ thuật, nhân lực, tài chính hiện có và khai thác dự án
Ưu điểm của việc nghiên cứu cơ hội đầu tư: Xác định nhanh chóng, ít tốn kém, dễ thấy
triển vọng về kết quả của dự án, từ đó xem xét và đi đến quyết định có triển khai nghiên cứu tiếp hay không
Kết quả của việc nghiên cứu cơ hội đầu tư cho ta thấy được những lĩnh vực có nhiều triển vọng cho việc đầu tư trong điều kiện hạn chế nguồn lực và khả năng của chủ đầu tư để làm
cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu tiếp theo
c, Nghiên cứu lập dự án tiền khả thi.
Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn với quy mô đầu tư lớn, phức tạp về kỹ thuật và thời gian thu hồi vốn lầu, có nhiều yếu
tố quyết định Trong bước nay, cần đi nghiên cứu sầu hơn các khía cạnh khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy chưa chắc chắn, tiếp tục sang lọc, lựa chọn cơ hội đầu tư hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư đã lựa chọn có đám boả tính khả thi hay không
Nội dung cơ bản của nghiên cứu tiền khả thi:
c1, Căn cứ xác định sự cần thiết phải đầu tư:
Các căn cứ đầu tư bao gồm các cắn cứ pháp lý, các căn cứ kinh tế, kỹ thuật để đầu tư.-Các căn cứ pháp lý gồm:
Các tài liệu quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, mục tiêu phát triển, quy hoạch và kế hoạch phát triển dài hạn của ngành
Các thông tư, văn bản pháp lý và các chủ trương của các cấp chính quyền có liên quan đến yêu cầu dự án đầu tư
- Các căn cứ kinh tế, kỹ thuật bao gồm:
Trang 16Căn cứ vào nhu cầu thị trường về tiêu thụ sản phẩm mà dự án dự kiến sản xuất ra Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông vận tải, nhu cầu thị trường ở đây là nhu cầu đi lại, nhu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách trong tương lai mà công trình xây dựng cần đáp ứng để phát triển kinh tế xã hội và sinh hoạt của cộng đồng.
Căn cứ vào hiện trạng kỹ thuật của công trình và nhu cầu phục vụ của công trình trong tương lai
Căn cứ vào khả năng của xã hội đối với sản phẩm mà dự án dự kiến sản xuất ra Đối với công trình xây dựng giao thông phải căn cứ vào hiện trạng và khả năng phát triển khả năng đáp ứng nhu cầu vận chuyển của hệ thống giao thông trong khu vực của dự án, nhu cầu vận chuyển trong tương lai mà dự án cần đáp ứng Trên cơ sở nhu cầu thị trường và khả năng đầu tư, sơ bộ dự kiến lợi ích kinh tế xã hội mà dự án có thể đem lại
Dựa trên sự phân tích hai nhóm căn cứ cơ bản nêu trên để đi đến kết luận về sự cần thiết phải đầu tư
c2, Dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư.
Trên cơ sở mục tiêu của dự án, dựa và kết quả nghiên cứu nhu cầu thị trường về sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm (đối với các dự án xây dựng công trình giao thông cần điều tra nhu cầu
đi lại, nhu cầu vận chuyển hàng hoá, hành khách giai đoạn hiện tại và tương lai), dựa vào tiêu chuẩn, cấp hạng kỹ thuật để xây dựng các phương án về quy mô, cấp hạng kỹ thuật của công trình Sơ bộ phân tích các phương án sản phẩm và dịch vụ tương ứng với quy mô đầu tư
- Tính toán đề xuất quy mô đầu tư
- Đề xuất các phương án về hình thức đầu tư (cải tạo hoặc xây dựng mới)
c3, Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiến nhu cầu sử dụng đất xây dựng:
Phân tích, đề nghị khu vực địa điểm xây dựng và kiến nghị địa điểm cụ thể
Cần có 2 phương án trở lên để so sánh lựa chọn Mỗi phương án cần phân tích trên các mặt sau:
- Các mặt kỹ thuật của phương án địa điểm: Cac yêu cầu về mặt bằng, các đánh giá tổng quát về các yếu tố ảnh hưởng đến giá thành xây dựng và các yếu tố ảnh hưởng tới các chi phí trong qua trình khai thác Mỗi quan hệ trong quy hoạch phát triển tổng thể của ngành và vùng lãnh thổ
- Các mặt xã hội của phương án địa điểm: Những đặc điểm của chính sách liên quan đến đầu tư phát triển khu vực Hiên trạng địa điểm, Những thuận lợi khó khăn trong việc dùng đất đai, mặt bằng Những vẫn đề về phong tục tập quản liên quan đến việc quyết định địa điểm
c4, Các giải pháp về kỹ thuật, công nghệ.
c5, Phân tích lựa chọn sơ bộ các phương án xây dựng.
Trang 17c6, Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư nhu cầu nguồn lực để triển khai thực hiện dự
án, phương án huy động các nguồn vốn đầu tư, khả năng thu hồi vốn và khả năng trả
nợ, dự kiến thu lãi.
c7, Tính toán sơ bộ về hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế xã hội của dự án.
c8, Sơ bộ phân tích về tác động xã hội, môi trường và yêu cầu xứ lý.
c9, Kết luận và kiến nghị.
d, Nghiên cứu lập dự án khả thi:
Nghiên cứu khả thi được tiến hành đối với tất cả các dự án, trừ một số dự án có quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật đơn giản chỉ lập báo cáo đầu tư
Về mặt hình thức dự án nghiên cứu khả thi là một tập hồ sơ trình bày một cách chi tiết và
có hệ thống về tính vững chắc thực hiện của hoạt động đầu tư theo kía cạnh của thị trường
kỹ thuật, tài chính, tổ chưc quản lý, kinh tế xã hội
Nghiên cứu khả thi dưa vào kết quả nghiên cứu của cơ hội đầu tư hoặc nghiên cứu tiền khả thi đã được chấp nhận (đối với dự án cần phải lập dự án tiên khả thi)
Dự án khả thi phản ảnh đầy đủ các yếu tố đầu ra, đầu vào, các yếu tố thuận lợi khó khăn của dự án cũng như yếu tố vật chất
Dựa trên sự xem xét các số liệu đã tính toán cụ thể, chi tiết, các đề án kinh tế kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự án nhằm đi đến kết luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án trrước khi dưa ra quyết định đầu tư
Ý nghĩa tác dụng của nghiên cứu dự án khả thi:
Báo cáo nghiên cứu khả thi là tài liệu cơ sở để chủ đầu tư so sánh và lựa chọn phương án đầu tư để gửi lên cở quan thẩm định đầu tư do nhà nước cấp vốn đầu tư và trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét và quyết định
- Đối với nhà nước: Dự án khả thi là đối tượng để Nhà nước thẩm tra, giám sát phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư Nếu dự án do nhà nước cấp vốn đầu tư thì chỉ sau khi phê duyệt dự án khả thi thì mới đưa vào chính thức kế hoạch để dự trù vốn và tiến hành các bước sau
- Đối với ngân hàng: Dự án khả thi được duyết làm cơ sở cho ngân hàng lập kế hoạch cấp phát vốn đầu tư Chỉ sau khi dự án khả thi được phê duyệt Ngân hàng mới có thể cấp vốn hoặc tài trợ vốn
- Đối với nhà đầu tư: Dự án khả thi là căn cứ để nhà đầu tư xin giấy phép đầu tư, giấy phép xây dựng và các khoản ưu đãi…
Dự án khả thi được duyệt là cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư triển khai các công việc tiếp theo để triển khai thực hiện dự án
Những nội dung của nghiên cứu dự án khả thi:
d1, Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư.
Trang 18Để chứng tỏ sự cần thiết phải đầu tư, cần nêu rõ những căn cứ cơ bản sau đây.
- Căn cứ pháp lý:
Nguồn gốc và các tài liệu sử dụng
Tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, của địa phương
Quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành
Dự án tiền khả thi được duyệt (đối với các dự án có bước nghiên cứu tiền khả thi)
Các thông tư văn bản của cấp có thẩm quyền liên quan đến yêu cầu lập dự án đầu tư.Đối với các dự án phát triển các công trình giao thông vân tải các căn cứ pháp lý là tài liệu về quy hoạch phát triển kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu, quy hoạch và kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng GTVT của quốc gia và địa phương, quy hoạch xây dựng, quy hoạch các ngành sản xuất, quy hoạch sử dụng đất đai……
- Căn cứ kinh tế, kỹ thuật:
Các căn cứ về nhu cầu thị trường:
Căn cứ vào kết qủa điều tra kinh tế kỹ thuật và dự báo về khả năng cung cấp và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm mà dự án đầu tư dự kiến sản xuất ta trong giai đoạng hiện tại và tương lai.Các số liệu điều tra dự báo cần xác định được: Khả năng sản xuất hoặc cung cấp và nhu cầu sản phẩm cho thị trường, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường từ đó cân đối giữa khả năng sản xuất hoặc cung ứng với nhu cầu tiêu thụ ta xác định được nhu cầu thị trường cần cung cấp loại sản phẩm mà dự án dự kiến sản xuât ra
Đối với các dự án phát triển GTVT thì nhu cầu thị trường chính là nhu cầu đi lại, nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu
đi lại của nhân dân trong thời kỳ hiện tại và tương lai Phải xác định được nhu cầu căn bản của dự án đầu tư trong giao thông vận tải
Căn cứ về khả năng phát triển kinh tế, khả năng phát triển sản xuất trong tương lai
Căn cứ vào tình trạng kỹ thuật công trình (đối với công trình năn cấp cải tạo), hệ thống GTVT trong khu vực
d2, Lựa chọn quy mô dầu tư, hình thức đầu tư
Xác định quy mô đầu tư, công suất hoặc khối lượng sản phẩm hành năm mà dự án dự kiến sản xuất ra Đối với công trình giao thông vận tải, lưu lượng xe thông qua ngày đêm (hoặc năm)…
Hình thức đầu tư ở đây chính là hình thư3cs đầu tư cây dựng mới, dầu tư cải tạo nâng cấp công ảtình hiện có
Cần đua ra tất cả các phương páhp án vê quy mô đầu tư va fhình thức đẩu tư rồi từ đó so sánh lưcạ chọn phương án phợp lý
Trang 19d3, Chương trình sản xuất và các yêu cầu đáp ứng (đối với dự án có sản xuất)
Các giải pháp bố trí dây chuyền sản xuất
Tính toán các yếu tố đầu vào nguyên vật liệu, lắp đặt, sử dụng máy móc, các thiết bị nhập ngoại vật liệu phụ
Tình hình cung ứng
Yêu cầu vê nguyên liệu
Chương trình cung cấp nguyên liệu:
Nguyên vật liệu nội địa, nguyên vật liệu nhập ngoại, phương thức cung ứng mua theo hợ đồng vận tải Đối với vật liệu nhập ngoại phải xác định nguồn cung câp, hình thức nhập, điều kiện giao hàng, giá cả, phần tích các thuận lợi, hạn chế các ảnh hưởng bất lợi tìm giải pháp khắc phục
Lịch cung cấp
Các giải pháp đảm bảo kết cấu hạ tầng: điện nước, giao thông, kho bãi , thông tin, lán tri tạm, đường tạm, cầu tạm
d4, Các phương án vị trí, địa điểm xây dựng công tình
Cần nghiên cứu chi tiết để đưa ra tất cả các phương án có thể về địa điểm xây dựng công trình, không được bỏ sót phương an Tuỳ thuộc vào mục đích phục vụ của dự án, điều kiện
tự nhiên và điều kiện xã hội của khu vực nghiên cứ để phương án địa điểm đáp ứng yêu cầu
về mặt kỹ thuật, về mặt kinh tế và yêu cầu xã hội của dự án
Khi nghiên cứu lựa chọn phương án địa điểm xây dựng án công trình, cần đặc biệt quan tâm đến quy hoạc phát triển hệ thống giao thông, quy hoách xây dựng, quy hoặc sử dụng đất đai trong khu vực
Đối với công trình xây dựng giao thông như cầu, đường, nhà ga, bến xe, cảng sông, cảng biển,,, phương án địa điểm chính là vị trí xây dựng công trình trong tương lại nên cần chú ý đến mối quan hệ của dự án đối với hệ thống giao thông thống nhất trong khu vực Đối với
dự án về xây dựng đường bộ, đường sắt, phương án vị trí địa điểm chính là các phương án
về hướng tuyến, xác định các địa điểm không chế mà tuyến đường trong tương lai cần phải
đi qua
Đối với các công trình đầu tư nếu đã có bước nghiên cứu tiền khả thi thì chỉ cần chọn điạ điểm cụ thể Cần đưa ra ít nhất hai phương án về địa điểm để so sánh và lựa chọn Nhưng các phương án này phải thu thập số liệu điều tra cơ bản, tài liệu khảo sát đủ độ tin cậy Mỗi phương án cần phân tích các điều kiện cơ bản sau:
Điều kiện tự nhiên: Khí tượng, thuỷ văn, nguồn nước, địa chất, địa hình, hiện trạng đất đai và tài nguyên (có báo cáo tài nguyên) môi trường sinh thái
Trang 20Điều kiện xã hội và kỹ thuật: Tình hình phân bố dân cư, phong tục tập quản, hệ thống giao thông, điều kiện cơ sở hạ tầng, điện nước thông tin, cơ sở y tế, giáo dục, điều kiện phát triển kinh tế.
Các đặc điểm về quy hoạch và kế hoạch vùng
Quy hoạch về sử dụng đất
Các kết luận về điều kiện cơ bản, các bản vẻ, bản đồ khu vực và địa điểm theo tỷ lệ kèm theo
Phân tích kinh tế về địa điểm:
Hiện trạng mặt bằng và phương án giải phóng mặt bằng
Các chi phí về địa điểm liên quan đến đầu tư khảo sát ban đầu, đền bù, san lấp mặt bằng, thuê đất đường điện nước thi công, lán trại tận dụng cơ sở hạ tầng
Các chi phí liên quan đến chương trình cung cấp các yếu tố đầu vào
Phân tích các lợi ích và ảnh hưởng tới xã hội:
Những ảnh hưởng của dự án đến đời sống dân cư đặc biệt khi có thiên tai địch hoạ hoặc
do chất lượng công trình không đảm bảo
Những ảnh hưởng của dự án đối với an ninh quốc phòng, sinh hoạt văn hoá xã hội, phong tục tập quản
Những ảnh hưởng của dự án đầu tư đối với những vẫn đề tài nguyên như ảnh hưởng đến việc khai thác và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ cảnh quan môi trường, sinh thái, văn hoá, du lịch văn hoá lịch sử
Những biện pháp xử lý
Kết quả của bước này là so sánh lựa chọn được phương án vị trí, địa điểm xây dựng công trình hợp lý nhất về mặt kinh tế và kỹ thuật Trường hợp có nhiều phương án cạnh tranh cần phải sử dụng chúng để phân tích ở các bước tiếp theo
d5, Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ.
Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật công nghệ là nội dụng chủ yếu và quan trọng trong toàn bộ nội dung của dự án Cần đưa ra tất cả các giải pháp kiến trúc, giải pháp kỹ thuật, kết cấu của công trình tương lai để so sánh lựa chọn ra phương án hợp lý nhất Các phương án về kiến trúc xây dựng là các phương án về hình dáng, không gian kiến trúc, cac giải pháp tổng thể về mặt bằng, phổi cảnh Các phương án về kiến trúc của hạng mục công trình chủ yếu
Các giải pháp về kỹ thuật kết cấu là các giải pháp về cấu tạo chi tiết từng bộ phận công trình và toàn bộ công trình
Đối với công trình cầu: Các giải pháp kỹ thuật kết cấu là các giải pháp về chiền rộng cầu, chiều dài cầu, số nhịp, chiều dài mỗi nhịp, chiều cao cầu, kết cấu móng mố, trụ cầu, kích
Trang 21thức các bộ phận của mố cầu, trụ cầu, loại dầm và kích thước dầm cầu, kết cấu mặt cầu, đường vào cầu, các bộ phận đảm bảo an toàn giao thông
Đối với đường: Cấp hạng đường, hình dạng nền đường, lề đương, kết cấu mặt đường, kích thước và kết cấu giải phân cách, vỉa hè (nếu có)
Đối với dự án sản xuất kinh doanh: (nhà máy, phân xưởng sản xuất ) các giải pháp kỹ thuật công nghệ bao gồm:
Các giải pháp về mặt bằng, không gian kiến trúc, vị trí khu làm việc, khu sản xuất, kho chứa, khu vực cung cấp điện, nước , các giải pháp về kỹ thuật, kết cấu, kích thước, công trình nhà làm việc, nhà xưởng, giải pháp bố trí hệ thống dây chuyền sản xuất
Các phương án công nghệ chính, quá trình sản xuất có thể chấp nhận Mô tả phân tích đánh giá mức độ hiện đại, tính thích hợp kinh tế, các ưu việt và hạn chế của công nghệ lựa chọn (thông qua việc so sánh một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như quy cách, chất lượng, năng suất lao động, giá thành, vệ sinh công nghiệp, điều kiện ứng dụng )
Nội dung chuyển giao công nghệ và sự cần thiết phải chuyển giao, giá cả, phương thức thanh toán, các điều kiện tiếp nhận chuyển giao, cam kết
Các giải pháp về công trình phụ trợ
Lựa chọn quy mô và phương án cung cấp nước, thoát nước cho sản xuất
Phương án giải quyết thông tin
Phương án vận chuyển bên ngoài (từng phương án cần mô tả cơ sở tính toán và lựa chọn,
có sơ đồ kèm theo)
Chi phí đầu tư hỗ trợ
Các phương án về thiết bị:
Các phương án về thiết bị cần nêu được các nội dung sau:
+, Danh mục thiết bị, chia ra thiết bị sản xuất chính, thiết bị phục vụ, thiết bị hỗ trợ, phương tiện vận chuyển, phụ tùng thay thế, dụng cụ thiết bị văn phòng
+, Mô tả tính năng, thông số kỹ thuật, những đặc tính kỹ thuật chủ yếu, điều kiện bảo dưỡng, sữa chữa, thay thế, phương án lắp đặt, vận hành, đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật.+, Phân tích phương án mua sắm công nghệ thiết bị của phương án chọn, các hồ sơ chào hàng so sánh, đánh giá về trình độ công nghệ, chất lượng thiết bị
+, Xác định tổ chi phí mua sắm thiết bị và chi phí duy trì
Các giải pháp chống ô nhiễm bảo vệ môi trường sinh thái, điều kiện thực hiện và chi phí.Các giải pháp xử lý chất thải: Loại chất thải, chất lượng, số lượng phế thải, các phương tiện xứ lý, chi phí xứ lý
Kết quả bước này là lựa chọn được phương án hợp lý nhất
Trang 22Nếu có nhiều phương án kỹ thuật cạnh tranh, cần phải sử dụng để tiếp tục phân tích ở các bước tiếp theo.
d6, Phân tích phương án xây dựng và tổ chức thi công xây lắp.
Các giải pháp xây dựng:
Các phương án về tổ chức thi công từng hạng mục công trình và toàn bộ công trình.Các phương án bố trí mặt bằng thi công và phương án lựa chọn (có bản vẽ kèm theo).Các giải pháp xây dựng hạng mục công trình bảo vệ môi trường xử lý ô nhiễm
Lựa chọn giải pháp thi công hạng mục công trình và toàn bộ công trình trên cơ sở phân tích so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của từng phương án
Các phương án về tổng tiến độ thi công xây lắp (có sơ đồ kèm theo) phân tích so sánh và kết luận phương án hợp lý được lựa chọn
Xác định nhu cầu nguồn lực (yêu cầu máy móc thiết bị thi công, nhân lực, nhu cầu vật tư ) và phương án cung cấp
Các biện pháp phòng cháy chữa cháy, vệ sinh công nghiệp, an toàn lao động
d7, Các giải pháp về tổ chức khai thác và sử dụng lao động
Đưa ra phương án tổ chức, các bộ phận sản xuất, bộ phận tiêu thụ sản phẩm, xác định nhu cầu nguồn lực và thời kỳ huy động các nguồn lực cho sản xuẩt
Xác định các chi phí cho từng phương án bố trí sản xuất
So sánh lựa chọn phương án sản xuất
Đối với dự án xây dựng công trình giao thông vận tải, cần phân tích các giải pháp về tổ chức vận tải, giải pháp đảm bảo an toàn giao thông, giải pháp tổ chức quản lý, duy tu, sửa chữa nhằm duy trì khả năng khai thác của công trình
d8, Phân tích kinh tế tài chính
Phân tích kinh tế xã hội:
Phân tích kinh tế xã hội của dự án bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Xác định tổng vốn đầu tư cần thiết cho dự án:
Trên cơ sở phương án kỹ thuật, phương án tổ chức thi công xây lắp, phương án tổ chức sản xuất (tổ chức khai thác) ta có thể xác định được tổng mức đầu tư cho từng phương án.Tổng mức đầu tư bao gồm toàn bộ những chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn chuẩn bị xây dựng và xây dựng để tạo nên thực thể công trình đủ điều kiện đi vào khai thác, chi phí cho giai đoạn khai thác vận hành, vốn lưu động để đảm bảo huy động dự án vào hoạt động sản xuất theo đúng mục tiêu đề ra
+, Chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư: điều tra khảo sát, lập và thẩm định dự án đầu tư.+, Chi phí giai đoạn thực hiện bao gồm:
Trang 23Chi phí ban đầu về đất đai ( đền bù, giải phóng mặt bằng, quyền sử dụng đất)
Chi phí khảo sát thiết kế, lập và thẩm định thiết kế và tổng dự toán
Chi phí đấu thầu, hoàn tất thủ tục đầu tư (cấp giấy phép xây dựng, giảm định, kiểm định thiết bị…)
Chi phí xây dựng các công trình tạm, đường điện, nước, thi công, lán trại tạm phục vụ thi công
Chi phí xấy dựng: Là toàn bộ các chi phí cần thiết để xây dựng hoặc cải tạo công trình xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị hoàn chỉnh (theo hồ sơ thiết kế) đủ điều kiện đi vào khai thác, kể cả chi phí xây dựng hạ tầng như: cấp điện, cấp thoát nước, đường sá, tường rào, xử
lý chất thái
Chi phí quản lý giảm sát thực hiện đầu tư
Chi phí sản xuất thử và nghiệm thu bàn giao
Chi phí huy động vốn: Các khoản vay đầu tư đối với sử dụng vốn vay
+, Chi phí cho giai đoạn khai thác vận hành gồm:
Chi phí duy tu bảo dưỡng, chi phí sửa chữa thường xuyên, sửa chữa vừa, sửa chữa lớn.Chi phí bảo hiểm, chi phí dự phòng
Vốn lưu động ban đầu cho một chu kỳ sản xuất (đối với dự án sản xuất)
Xác định nguồn vốn và các phương án về vốn:
+, Nguồn vốn đầu tư cho các dự án thường gồm các loại sau:
Vốn tự có của doanh nghiệp
Tiến độ thực hiện chi phí vốn (huy động theo chương trình đầu tư)
Xác định các lợi ích kinh tế mà dự án đem lại:
Ở đây cần xác định đầy đủ lợi ích mà dự án mang lại Khi xác định lợi ích của dự án cần phân biệt lợi ích ở đây được so sánh trong 2 trường hợp: có dự án và không có dự án Lợi ích kinh tế của dự án có nhiều loại, khi phân tích cần xác định đầy đủ các loại lợi ích, phân biệt rõ các loại lợi ích mà các chủ thể được hưởng
Những lợi ích bao gồm: lợi ích trực tiếp, lợi ích gián tiếp, đem lại cho chủ đầu tư, lợi ích
mà xã hội được hưởng: lợi ích của người sử dụng, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, lợi ích trong ngành, lợi ích ngoài ngành Cần lưu ý rằng, các lợi ích có lợi ích có thể lượng hoá
Trang 24được (lợi ích tính được bằng tiền) và lợi ích không thể lượng hoá được bằng tiền (lợi ích
về văn hoá, xã hội ) Để đơn giản tính toán, trong phần này người ta chỉ xác định các loại lợi ích chủ yếu có thể lượng hoá được
Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông vận tải, người ta thường xác định nhưng lợi ích kinh tế xã hội như: Lợi ích do giảm chi phí duy tu sửa chữa, do giảm chi phí khai thác vận hành công trình, lợi ích do giảm thời gian vận chuyển, giảm tai nạn giao thông, lợi ích do có dự án mà năng lực vận chuyển của công trình tăng lên
Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế xã hội của dự án:
Để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư trong giao thông vận tải, người ta thường sử dụng những chỉ tiêu chủ yếu như: NPV, Thv, IRR
Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án:
Dựa vào kết quả các chỉ tiêu trên và các mặt lợi ích khác để đánh giá, từ đó đi đến kết luận: Dự án có khả thi hay không về mặt kinh tế xã hội
Phân tích tài chính của dự án
Đối với các dự án xây dựng công trình giao thông vận tải đánh giá về kinh tế xã hội là chủ yếu Chỉ tiến hành phân tích tài chính trong một số trường hợp:
Dự án đầu tư có sử dụng vốn vay và có thu phí hoàn vốn
Dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn của tư nhân, các tổ chức kinh tế, xã hội, hoặc nguồn vốn BOT, được phép thu phí hoàn vốn đầu tư
Dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước nhưng được phép thu phí (được cấp có thẩm quyền cho phép) để bù đắp một phần vốn đầu tư
Nội dung phân tích tài chính trong lập dự án đầu tư bao gồm:
Xác định các khoản chi, khoản thu tài chính của dự án
Xác định nguồn tài chính và các điều kiện đối với từng loại nguồn tài chính
Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (NPV, Thv, IRR, )
Kiểm tra mức độ an toàn về mặt tài chính của dự án (tính toán độ nhạy, mức độ rủi ro tài chính )
Kết luận tính khả thi của dự án về mặt tài chính
d9, Phân tích xã hội môi trường, các khía cạnh khác của dự án
Phân tích sự ảnh hưởng tốt, xấu của dự án đến đời sống xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường pháp luật v.v và đề ra biện pháp khắc phục
d10, Biện pháp tổ chức triển khai thực hiện
d11, Kết luận, kiến nghị.
e, Lập báo các kinh tế kỹ thuật về đầu tư
Trang 25Đối với công trình đầu tư quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật giản đơn (có thiết kế mẫu, xử
lý nền móng không phức tạp ) thì phải lập Báo các kinhh tế kỹ thuật về đầu tư thay thế cho
dự án khả thi
Báo cáo kinh tế kỹ thuật về đầu tư được gọi tắt là “ Báo cáo đầu tư” được áp dụng đối với các dự án có mức vốn đầu tư dưới 3 tỷ đồng, các dự án xây dựng, sửa chữa, bảo trì sử dụng vốn sự nghiệp và các dự án của các ngành đã có thiết kế mẫu và tiêu chuẩn kỹ thuật được Bộ quản lý ngành phê duyệt trên cơ sở phù hợp với quy hoạch ngành, quy hoạch vùng hoặc kế hoạch trung hạn và dài hạn
Nội dung báo cáo đầu tư:
- Căn cứ pháp lý và sự cần thiết đầu tư:
Ghi rõ các căn cứ pháp lý như các quyết định của cấp trên, kế hoạch đã được phê duyệt.Giải trình tóm tắt lý do cần phải đầu tư công trình
- Tên dự án và hình thức đầu tư
Hình thức đầu tư cần được ghi rõ là xây dựng mới, cải tạo, mở rộng hay duy trì
- Chủ đầu tư:
(Ghi rõ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân là chủ đầu tư)
- Điạ điểm và mặt bằng
Ghi rõ tên xã (hoặc đường phố, phường) thuộc huyện (quận)
Đối với các dự án có kiến trúc xây dựng như trường học, trạm xá, nhà văn hoá cần ghi
rõ phần diện tích mặt bằng được phép sử dụng Đối với các dự án xấy dựng đường giao thông nông thôn cần ghi rõ vị trí địa điểm (điểm đầu, điểm cuối của đoạn đường, Nếu là cầu, cổng nhỏ nằm trên đường giao thông nông thôn thì cần mô tả vị trí cầu cống trên đoạn đường nào
- Khối lượng công việc: Khối lượng công việc đầu tư được ghi theo đơn vị thích hợp và được tính trên cơ sở định mức đơn giá do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành
- Vốn đầu tư và nguồn vốn
+, Tổng số vốn đầu tư
+, Nguồn vốn
Ngân sách cấp, trong đó phân rõ: vốn ngân sách Trung ương (nếu có nguồn tài trợ của nước ngoài cũng cần ghi rõ), vốn ngân sách địa phương
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Các nguồn vốn khác (nguồn vốn huy động từ các chủ phương tiện, của tổ chức kinh tế, xã hội, của nhân dân đóng góp )
Trang 26- Thời gian khởi công và hoàn thành.
Đối với các dự án sản xuất kinh doanh, ngoài những nội dung nên trên, cần bổ sung:+, Sản phẩm, (dịch vụ) và quy mô công suất
+, Thiết bị (ghi rõ giá trị và nguồn gốc cung cấp)
+, Nguồn cung cấp nguyên vật liệu
+, Khả năng trả nợ ( nếu có vốn vay) và thời hạn hoàn vốn
+, Biện pháp bảo vệ môi trường (nếu dự án có tác động xấu tới môi trường)
Đối với các dự án có quy mô đầu tư dưới 100 triệu đồng, tuỳ theo yêu cầu của dự án, không nhất thiết phải nêu chi tiết các mục kể trên
1.1.2 Dự toán xây dựng công trình.
1.1.2.1 Khái niệm dự toán xây dựng công trình.
Dự toán xây dựng công trình của dự án (gọi tắt là dự toán công trình) là toàn bộ chi phí cần thiết dự tính để đầu tư xây dựng được lập cho từng công trình, hạng mục công trình xây dựng cụ thể và là căn cứ để chủ đầu tư quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Đối vơi dự án có nhiều công trình, chủ đầu tư có thể xác đinh tổng dự toán của dự án để phục vụ cho việc quản lý dự án Tổng dự toán của dự án được xác định bằng cách cộng các
dự toán của các công trình thuộc dự án
Thực chất dự toán công trình (hoặc tổng dự toán) là giới hạn tối đa về vốn sử dụng cho công trình, là cơ sở để lập kế hoạch vốn đầu tư và quản lý sử dụng vốn đầu tư, là căn cứ để xác định giá xét thầu trong trường hợp đấu thầu và lựa chọn thầu xây dựng
Đối với công trình quy mô nhỏ chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật thì tổng mức đầu tư đồng thời là dự toán công trình
1.1.2.2 Các thành phần chi phí của dự toán công trình.
a, Các thành phần chi phí của dự toán xây dựng công trình.
Dự toán công trình được xác định trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẻ thi công
Dự toán công trình bao gồm:
Chi phí xây dựng (G XD ): Chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, bộ phận,
phần việc, công tác bao gồm: Chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng và chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
Chi phí thiết bị (G TB ): Chi phí thiết bị trong dự toán công trình bao gồm chi phí mua sắm
thiết bị kể cả chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có), chi phí lắp đặt thiết bị, chi phí thí nghiệm, hiệu chỉnh và các chi phí khác liên quan (nếu có)
Trang 27Chi phí quản lý dự án (G QLDA ): Chi phí quản lý dự án bao gồm các khoản chi phí cần
thiết để chủ đầu tư tổ chức thực hiện quản lý dự án
Chi phí tư vấn xây dựng (G TV ): Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm chi phí chi phí tư
vấn lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát, thiết kế, giám sát xây dựng, tư vẫn thẩm tra và các chi phí tư vấn khác
Chi phí khác (G K ).
Chi phí dự phòng (G DP ).
b, Cơ sở để lập dự toán công trình.
- Khối lượng xây lắp tính toán theo khối lượng công trình căn cứ vào các thông số tiêu chuẩn kết cấu trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình
- Đơn giá xây dựng công trình
- Định mức tỷ lệ cần thiết để thực hiện khối lượng, nhiệm vụ công việc đó
1.1.2.3 Phương pháp xác định dự toán công trình.
Dự toán công trình được xác định theo công thức
(
1
XD GTGT n
i
i XD
=Trong đó:
- i XD
G : Chi phí xây dựng thước thuế của bộ phận, phần việc, công tác thứ
i của công trình, hạng mục công trình
- XD GTGT
T : Mức thuế suất thuế giá trị gia tăng quy định cho công tác xây dựng
GXDLT: Chi phí xây dựng nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công, được xác định theo công thức
γ
*)1
(
1
XD GTGT n
i
i XD
=
Trang 28γ: là tỷ lệ quy đinh.
Đối với các công trình phụ trợ, các công trình tạm phục vụ thi công hoặc các công trình đơn giản, thông dụng thì dự toán chi phí xây dựng có thể được xác định bằng suất chi phí xây dựng trong suất vốn đầu tư xây dựng công trình hoặc định mức tỷ lệ
b, Xác định chi phí thiết bị.
Chi phí thiết bị được xác định theo công thức sau:
GTB = GMSTB + GDT + GLD
Trong đó:
GMSTB: Chi phí mua sắm thiết bị
GDT: Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có)
GLD: Chi phí lắp đặt và thí nghiệm, hiệu chỉnh (nếu có)
- Chi phí mua sắm thiết bị.
Chi phí mua sắm thiết bị được xác định theo trọng lượng, số lượng, chủng loại từng loại thiết bị hoặc toàn bộ dây chuyền công nghệ và giá một tấn, một cái hoặc toàn bộ dây chuyền thiết bị tương ứng theo công thức:
)1
(
1
TB GTGT i i n i i
- Qi: Trọng lượng (tấn) hoặc số lượng (cái) thiết bị (nhóm thiết bị) thứ i
- GTGT TB i
T − : Mức thuế suất thuế giá trị gia tăng quy định đối với từng loại thiết bị nhóm thiết bị thứ i
- Mi: Giá trị cho một tấn hoặc một cái (một nhóm) thiết bị thứ i, được tính theo công thức: M = Gg + Cvc + Clk + Cbq + T
Gg: Giá thiết bị ở nơi mua (nơi sản xuất, chế tạo hoặc nơi cung ứng thiết
bị tại Việt Nam) hay giá tính đến cảng Việt Nam (đối với thiết bị nhập khẩu) đã gồm cả chi phí thiết kế và giám sát chế tạo
Cvc: Chi phí vận chuyển một tấn hoặc một cái thiết bị (nhóm thiết bị ) từ nơi mua hay tư cảng Việt Nam đến công trình
Clk: Chi phí lưu kho, lưu bãi, lưu Container một cái thiết bị một tấn hoặc một cái thiết bị (nhóm thiết bị) từ cảng Việt Nam đối với thiết bị nhập khẩu
Cbq: Chi phí bảo quản, bảo dưỡng một tấn hoặc một cái thiết bị (nhóm thiết bị) tại hiện trường
- T: Thuế và phí bảo hiểm thiết bị (nhóm thiết bị)
Trang 29Đối với những thiết bị chưa xác định được giá trị có thể tạm tính theo báo giá của nhà cung cấp, nhà sản xuất hoặc giá nhưng thiết bị tương tự trên thị trường tại thời điểm tính toán hoặc của công trình có thiết bị tương tự đã thực hiện.
Đối với các thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công thì chi phí cho các loại thiết bị được xác định trên cơ sở khối lượng thiết bị cần sản xuất, gia công và giá sản xuất, gia công một tấn (hoặc một đơn vị tính) phù hợp với tính chất, chúng loại thiết bị phi tiêu chuẩn và các khoản chi phí có liên quan như đã nói ở trên hoặc căn cứ vào hợp đồng sản xuất, gia công đã được ký kết hoặc căn cứ vào báo giá gia công sản phẩm của nhà sản xuất được chủ đầu tư lựa chọn
Trường hợp thiết bị được lựa chọn thông qua đấu thầu thì chi phí thiết bị là giá trúng thầu gồm các chi phí theo những nội dung như đã nói ở trên và các khoản chi phí khác nếu có được ghi trong hợp đồng
- Chi phí đào tạo, chuyển giao công nghệ C CN :
Chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ được tính bằng cách lập dự toán thuỳ theo đặc điểm cụ thể của từng dự án
- Chi phí lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh G LD :
Chi phí lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh (nếu có) bao gồm chi phí trực tiếp (vật liệu, nhân công, máy thi công, chi phí trực tiếp khác), chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng Chi phí này được lập dự toán như chi phí xây dựng
c, Xác đinh chi phí quản lý dự án G QLDA :
Chi phí quản lý dự án được tính theo công thức sau:
GQLDA = T*(GXDtt + GTBtt)
trong đó:
- T: Định mức tỷ lệ (%) đối với chi phí quản lý dự án, thường là 5% - 10% tổng mức đầu tư
- GXDtt: Chi phí xây dựng trước thuế
- GTBtt: Chi phí thiết bị trước thuế
d, Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng G TV :
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng được tính theo công thức sau:
)1
.(
)1
(
1 1
TV GTGT j m
j j TV
GTGT i n
+
Trong đó:
- Ci: Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ i tính theo định mức tỷ lệ
- Dj: Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng thứ j tính bằng lập dự toán
Trang 301(
1 1
K GTGT j m
j j K
GTGT i n
dự toán
f, Xác định chi phí dự phòng G DP :
Chi phí dự phòng được tính cho 2 trường hợp
- Trường hợp thời gian xây dựng ≤ 2 năm:
Chi phí dự phòng được tính bằng tỷ lệ phần trăm tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác được tính theo công thức:
GDP = TDP*(GXD + GTB + GQLDA + GTV + GK)
Trong đó TDP là định mức tỷ lệ (%) cho chi phí dự phòng
- Trương hợp thời gian xây dựng > 2 năm.
Trong trường hợp này chi phí dự phòng được xác định bằng 2 yếu tố: Dự phòng chi phí cho yếu tố khối lượng công việc phát sinh và dự phòng chi phí cho yếu tố trượt giá
Chi phí dự phòng đối với công trình có thời gian thực hiện trên 2 năm được tính theo công thức sau:
Trang 311.1.3 Sơ lược về điểm trung chuyển.
1.1.3.1 Khái niệm điểm trung chuyển:
a, Vị trí của điểm trung chuyển trong hệ thống giao thông vận tải đô thị:
Hệ thống giao thông vận tải đô thị là tập hợp hệ thống giao thông và hệ thống vận tải nhằm đảm bảo sự liên hệ giao lưu các khu vực khác nhau trong đô thị Giao thông vận tải giữ vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của thành phố hiện đại, chức năng của nó là đảm bảo sự liên hệ thường xuyên và thống nhất giữa các khu vực chức năng chủ yếu của đô thị với nhau như: Khu dân cư, khu hành chính, khu công nghiệp, khu thương mại và khu vui chơi giải trí …
Hình (1.2): Sơ đồ vị trí điểm trung chuyển trong hệ thống giao thông vận tải đô thị.
b, Khái niệm điểm trung chuyển:
Điểm trung chuyển là nơi dùng để chuyển tải hàng hoá và hành khách trong cùng một phương thức vận tải hoặc giữa các phương thức vận tải trong quá trình vận tải đa phương thức Trung các đô thị điểm trung chuyển vận tải hành khách nội đô có ý nghĩ rất quan trọng trong hệ thống giao thông tĩnh
Hệ thống giao thông vận tải đô thị
vận tải công cộng
vận tải cá nhân
Vận tải chuyên dụng
Gara, bải
đỗ xe
Các điểm đầu cuối
Các điểm dừng dọc đường
Các điểm trung chuyển
Các công trình khác
Trang 321.1.3.2 Cơ cấu điểm trung chuyển.
Các điểm trung chuyển của vận tải xe buýt được bố trí gần các đầu mối giao thông của nhiều phương thức vận tải Trong thực tế người ta thường bố trí các điểm trung chuyển giữa
xe buýt với các phương thức vận tải khác như: Troleybus, Metro, Tramway và vận tải liên tỉnh, cũng có thể bố trí điểm trung chuyển tại nơi có nhiều tuyến xe buýt đi qua
Về quy mô điểm trung chuyển thường có các dịch vụ phục vụ hành khách, dịch vụ phục
vụ phương tiện và dịch vụ phục vụ lái xe Tính toán điểm trung chuyển trung bình thường phục vụ cho khoảng 4 – 5 tuyến buýt hoặc giữa các tuyến buýt với các phương thức vận tải khác có diện tích từ khoảng 200 – 300 m2
Thông tin các điểm trung chuyển gồm: Lộ trình các tuyến, khoảng cách chạy xe của từng tuyến, giá vé và các điểm bán vé và các quy định trong trường hợp đặc biệt (ngày lễ, đối tượng ưu tiên…)
Điểm trung chuyển có vị trí quan trọng đối với vận tải hành khách công cộng, đối với toàn bộ mạng lưới nếu điểm trung chuyển được bố trí ở vị trí hợp lý sẽ có tác dụng làm giảm tải cho toàn bộ hệ thống đặc biệt vào giờ cao điểm tránh tình trạng các phương tiện phải nối đuôi nhau gây tắc nghẽn giao thông, bên cạnh đó tác dụng thiết lập và hoàn thiện các tuyến vận tải Đối với hành khách, việc bố trí hợp lý các điểm trung chuyển sẽ tạo điều kiện thực hiện các chuyến đi giảm thời gian chờ đợi và thời gian chuyển tuyển
Mục tiêu của việc xây dựng điểm trung chuyển cho xe buýt đó là:
Cải thiện chất lượng vận hành, tao sự liên thông cho các tuyến xe buýt, tạo điều kiện thuận lợi, an toàn cho hành khách tiếp cận xe buýt tại điểm trung chuyển
Nâng cao năng lực hoạt động của xe buýt và tổ chức hợp lý các tuyến xe buýt tại các điểm trung chuyển
Sử dụng không gian hợp lý, đảm bảo trật tự an toàn giao thông góp phần giảm thiểu ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông
Tổ chức cho xe buýt vận hành trong không gian nhất định, tách dòng xe buýt tránh tình trạng ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm khi xe buýt dừng đón, trả khách
1.1.3.3 Phân loại điểm trung chuyển.
Có cách phân loại điểm trung chuyển sau:
a, Phân loại theo đối tượng phục vụ:
- Điểm trung chuyển hành hóa: Nơi chuyển tải hàng hóa từ phương tiện này sang phương tiện khác của cùng 1 phương thức vận tải hoặc phương tiện của phương thức vận tải khách
Ví dụ như bãi container, cảng hàng hóa
- Điểm trung chuyển hành khách: Nơi chuyển tải hành khách từ phương tiện này sang phương tiện khác của cùng 1 loại phương thức vận tải hoặc phương tiện của phương thức khác Ví dụ: điểm trung chuyển Cầu giấy, điểm trung chuyển Long Biên
Trang 33- Điểm trung chuyển kết hợp giữa hàng hóa và hành khách: Phục vụ cho cả đôi tượng hàng hóa và hành khách.
b, phân loại theo phương thức vận tải:
- Điểm trung chuyển 1 phương thức: là điểm trung chuyển phục vụ cho 1 loại phương thức nhất định Ví dụ điểm trung chuyển Cầu Giấy chỉ phục vụ cho xe buýt
- Điểm trung chuyển đa phương thức: Phục vụ cho 2 phương thức trở lên
c, Loại theo khu vực xây dựng:
- Điểm trung chuyển nội đô
- Điểm trung chuyển kết nối ngoại thành và nội đô
- Điểm trung chuyển ngoại thành
d, Phân loại theo quy mô kiến trúc:
- Điểm trung chuyển đầy đủ: Điểm trung chuyển có đầy đủ các khu chức năng như khu thương mại, dịch vụ và thông tin khách hàng, bãi đỗ xe, xưởng sửa chữa phương tiện và cung cấp nhiên liệu, quản lý hàng hóa (đối với điểm trung chuyển có dịch vụ hàng hóa)
- Điểm trung chuyển nhỏ: Chỉ phục vụ luân chuyển hàng hóa hoặc hành khách, khu đỗ
xe, xưởng sử chữa và cung cấp nhiên liệu
1.2 Các tiêu chỉ đánh giá tính hiệu quả dự án xây dựng công trình.1.2.1 Khái niệm hiệu quả, các nguyên tắc xác định và sự cần thiết đánh giá tính hiệu quả của dự án :
1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả:
Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa lợi ích mà chủ thể nhận được và chi phí mà chủ thể bỏ ra để nhận được lợi ích đó trong những điều kiện nhất định
Xét theo góc độ chủ thể nhận được lợi ích và bỏ chi phí để nhận được lợi ích đó thì có khái niệm hiệu quả tài chính và hiệu quả KT - XH
Hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay hiệu quả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí kinh tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để nhận được lợi ích đó Hiệu quả tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, những nhà đầu tư Hiệu quả tài chính chỉ liên quan đến những lợi ích, chi phí trực tiếp
Hiệu quả KT - XH là hiệu quả tổng hợp được xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nó mô
tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế xã hội mà toàn bộ xã hội nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích đó Chủ thể của hiệu quả KT - XH là toàn bộ xã hội (Nhà nước, doanh nghiệp, người sử dụng) mà người đại diện cho nó là Nhà nước Vì vậy những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệu quả kinh tế xã hội xuất phát từ quan điểm toàn bộ xã hội, bao
Trang 34gồm những lợi ích, chi phí trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội (kinh tế, xã hội, môi trường, …) của tất cả các chủ thể trong xã hội.
1.2.1.2 Sự cần thiết đánh giá hiệu quả KT – XH của dự án đầu tư:
Đánh giá hiệu quả KT - XH của DAĐT là một nội dung cực kỳ quan trọng trong lập và thẩm định DAĐT Việc đánh giá này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước và các định chế tài chính
- Đối với chủ đầu tư: đánh giá hiệu quả KT - XH là căn cứ chủ yếu để nhà đầu tư thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án và thuyết phục các định chế tài chính (ngân hàng, các cơ quan việc trợ) cho vay vốn Nếu DAĐT không mang lại lợi ích cho xã hội thì dự án đó sẽ khó có thể được thực hiện
- Đối với Nhà nước: đây là căn cứ chủ yếu để quyết định có cấp giấy phép đầu tư hay không Đối với các nhà đầu tư, mục tiêu chủ yếu của họ là lợi nhuận Khả năng sinh lợi do một dự án nào đó mang lại chính là thước đo chủ yếu và là động lực thúc đẩy bỏ vốn của nhà đầu tư Song đối với Nhà nước, trên phương diện của một quốc gia thì lợi ích kinh tế xã hội mà dự án mang lại chính là căn cứ chủ yếu để xem xét và cấp giấy cho các nhà đầu tư Một dự án chỉ được cấp giấy phép khi nó thực sự có đóng góp cho nền kinh tế xã hội cũng như nó đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
- Đối với các định chế tài chính: đánh giá hiệu quả KT - XH cũng là căn cứ chủ yếu để các định chế tài chính quyết định có tài trợ vốn hay không Bất cứ một DAĐT phát triển nào muốn tìm đến sự tài trợ của các định chế tài chính quốc gia cũng như quốc tế (như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á,…) thì đòi hỏi đầu tiên là phải chứng minh được một cách chắc chắn dự án sẽ mang lại lợi ích cho nền KT-XH
1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả KT - XH của dự án.
Đồ án chỉ đưa ra phương pháp đánh giá dự án với nhóm chỉ tiêu động trong trường hợp thị trường vốn hoàn hảo
Thị trường vốn được coi là hoàn hảo khi nó đảm bảo được các điều kiện sau đây:
- Nhu cầu về vốn luôn luôn được thoả mãn, không bị một hạn chế nào về khả năng vấp vốn
- Lãi suất phải trả khi vay vốn và lãi suất nhận được khi cho vay vốn là bằng nhau
- Tính thông suốt của thị trường về mọi mặt được đảm bảo
1.2.2.1 Chỉ tiêu hiệu số thu chi.
Chỉ tiêu hiệu số thu chi có thể quy về thời điểm hiện tại (NPW), quy về thời điểm tương lai (NFW) hoặc quy san đề hàng năm (NAW)
Sau đây là phương pháp xác định hiệu số thu chi quy về thời điểm hiện tại (NPW)
- Công thức:
Trang 35i
C i
B NPV
0
Trong đó:
Bt :Khoản thu năm t
Ct: Chi phí bỏ ra ở năm t, đây là chi phí vận hành chưa kể khấu hao
n: Tuổi thọ quy định của dự án
i: Suất chiết khấu
Trong công thức trên ta thấy rằng thực ra tại thời điểm t = 0 không có khoản thu nào, chỉ
có vốn đầu tư ban đầu V0 Ngoài ra tại thời điểm n, trị số SV phát sinh không phải từ hoạt động kinh doanh của dự án mà từ hoạt động bất thường (thanh lý tài sản) Nếu ta tách các giá trị V0 và SV ra thì dòng tiền còn lại là dòng thu chi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của
dự án Trị số NPW lúc này có thế xác định theo công thức sau:
t n
t t
i
SV i
C B V
NPV
)1()1(
)(
1 0
+
++
−+
1.2.2.2 Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại IRR.
Suất thu lợi nội tại (IRR) là mức lãi suát mà nếu dùng nó làm suất chiết khấu để quy đổi các dòng tiền tệ của phương án thì giá trị hiện tại của thu nhập PWB sẽ cân bằng với giá trị hiện tại của chi phí PWC, nghĩa là NPW = 0 Hay nói khác đi IRR là nghiệm của phương trình
0)1(IRR)
(1
B
0 t
t IRR
C NP
- Phương pháp xác định IRR.
Để tìm IRR ta dùng phương pháp nội suy gần đúng
Bước 1, chọn trị số i1 sao cho NPW1 >0 càng nhỏ càng tốt
Bước 2, chọn trị số i2 sao cho NPW2 <0 càng gần 0 càng tốt
Bước 3, xác định IRR bằng công thức:
2 1
1 1
2
NPW NPW
NPW i
i i
IRR
+
−+
=
- Đánh giá bằng chỉ tiêu IRR:
Trong trường hợp cần lựa chọn trong 2 phương án dưa ra
Trang 36Nếu vốn đầu tư ban đầu cho tài sản cố định là bằng nhau thì chọn phương án có IRR lớn hơn là phương án tốt nhất.
Nếu vốn đầu tư ban đầu khác nhau thì phải so sánh lựa chọn theo nguyên tắc “gia số đầu tư” Nghĩa là phương án có vốn đầu tư ban đầu lớn hơn được chọn là phương án tốt nhất nếu gia số đầu tư của nó đáng giá (tức là IRR∆ > MARR) Nếu gia số đầu tư của nó IRR∆ < MARR thì chọn phương án có vốn đầu tư nhỏ hơn
1.2.2.3 Chỉ tiêu tỷ số thu chi.
Phương pháp phân tích dựa trên tỷ số B/C được sử dụng phổ biến với các dự án phục vụ công cộng, các dự án mà Nhà nước không đặt ra mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận
Tỷ số lợi ích - chi phí (B/C) là tỷ số giữa giá trị tương đương của lợi ích trên giá trị tương đương của chi phí Các giá trị tương đương này có thể là PW, AW hay FW (giá trị FW ít được sử dụng nhất)
Công thức thông thường nhất của chỉ tiêu tỷ số thu chi có thể biểu diễn như sau:
B
0
0
)1
(
)1
(
Với dự án khi tỷ số
C
B
>1 thì dự án được coi là đáng giá về mặt kinh tế So sánh các
phương án khi sử dụng chỉ tiêu
C
B
cũng tương tự như đối với chỉ tiêu IRR Nghĩa là cũng
sử dụng nguyên tắc phân tích theo số gia đầu tư
Trường hợp 2 phương án có vốn đầu tư ban đầu bằng nhau và đã quy về cùng một thời điểm tính toán thì phương án nào có tỷ số
C
B
lớn hơn là phương án tốt hơn
Nếu vốn đầu tư khác nhau thì phải so sánh theo gia số đầu tư, nếu ( ∆ )
1.2.2.4 Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá.
Thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá THV là thời gian mà kể từ đó trở đi hiệu số thu chi quy về thời điểm hiện tại trở nên không âm Hay nói khác đi thời gian hoàn vốn tính bằng phương pháp hiện giá là nghiệm của phương trình NPW = 0 đối với ẩn thời gian tính toán
Trang 37Lập bảng hiện giá để nhận thấy thời gian mà kể từ đó giá trị quy về hiện tại bắt đầu dương Khi đó công thức tính THV được tính như sau:
12
)1(
12
*)1
t t
t HV
i N
NPW t
t: Năm bắt đầu có hiệu số thu chi dương
NPW(t-1): Giá trị quy về hiện tại của năm cuối cùng còn âm
Nt: Hiệu số thu chi năm thứ t Nt = Bt - Ct
Trang 38Chương 2 Phân tích cơ hội đầu tư.
2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội.
Hà Nội, hay còn được gọi là Thăng Long, mảnh đất rồng bay, được xây dựng vào năm
1010 sau công nguyên, trên bờ con sông Hồng nằm ngay giữa vùng đồng bằng phía Bắc Cái tên “Hà Nội” trên thực tế còn có nghĩa là “phía bên trong sông” Điều này cho thấy vị trí chiến lược của thành phố nằm dọc theo tuyến đường thủy quan trọng Hà Nội ngày nay đã trở thành thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật của cả nước Giữa năm 2008, Hà Tây và một số xã của Hòa Bình sát nhập vào Hà Nội khiến dân số thành phố tăng lên trên 6 triệu người với diện tích gần 3200m2 Với vị trí địa lí thuận lợi, Hà Nội được coi là đầu mối giao thông của các tuyến đường thủy, đường bộ, đường sắt và đường hàng không nối thành phố với các tỉnh của Việt Nam, nối Việt Nam với các nước khác trong khu vực và với toàn thế giới, đồng thời là trung tâm kinh tế, giao dịch quốc tế quan trọng của cả nước Ngoài ra, Hà Nội cũng là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam với hơn 50 trường đại học và cao đẳng Có thể nói, Hà Nội đang duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao và giữ vững được ổn định kinh tế xã hội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội.
2.1.1.1 Vị trí.
Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú Với vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn, đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
Chiều dài nhất từ phía bắc xuống phía nam là hơn 50 km
Chỗ rộng nhất từ tây sang đông 30 km
Cao nhất là núi Chân Chim: 462 m (huyện Sóc Sơn)
Thấp nhất thuộc xã Gia Thụy (huyện Gia Lâm), 12 m so với mặt nước biển
2.1.1.2 Địa hình.
Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội là đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bồi cao và các bậc thềm Xen giữa các bãi bồi đại và các bãi bồi cao còn có các vùng trũng với các hồ, đầm (dấu vết của các lòng sông cổ)
Trang 39Phần lớn diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao trung bình từ 15m đến 20m so với mặt biển
Còn lại chỉ có khu vực đồi núi ở phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20m đến hơn 400m, đỉnh Chân Chim cao nhất
Trung bình hằng năm, nhiệt độ không khí 23,6oC, độ ẩm 79%, lượng mưa 1245 mmMỗi năm có khoảng 114 ngày mưa Hà Nội có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Sự luân chuyển của các mùa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, đa dạng và có những nét riêng
Từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa hè: nóng và thi thoảng có mưa rào
Từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu Thời tiết khô ráo, trời cao, xanh ngắt, gió mát, nắng vàng
Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là mùa đông: Thời tiết lạnh, khô ráo
Từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa xuân: Cây cối xanh tốt với hàng ngàn loài hoa khoe sắc, mùa của những lễ hội truyền thống độc đáo, mở đầu là Tết nguyên đán, lễ hội lớn và quan trọng nhất của người Việt Nam
Đê sông Hồng được đắp từ năm 1108, đoạn từ Nghi Tàm đến Thanh Trì, gọi là đê Cơ Xá Ngày nay sông Hồng ở Việt Nam có 1267km đê ở cả hai bên tả, hữu ngạn
Độ cao mặt đê tại Hà Nội là 14m so với mặt nước biển
Trang 40Sông Hồng góp phần quan trọng trong sinh hoạt đời sống cũng như trong sản xuất Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình 100 triệu tấn/năm Phù sa giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châu thổ.
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội thành phố Hà Nội.
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế.
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn thành phố Hà Nội quý I năm 2008 tăng 10,7%
so cùng kỳ năm trước (là mức tăng khá nhất trong 5 năm gần đây) Ngành công nghiệp - xây dựng vẫn duy trì mức tăng khá với giá trị tăng thêm tăng 11,9% (đóng góp 5,7% vào mức tăng chung), các ngành dịch vụ có giá trị tăng thêm tăng 9,9% (đóng góp 5,0% vào mức tăng chung), ngành nông-lâm-thuỷ sản có giá trị tăng thêm tăng 0,4% (đóng góp 0,01% vào mức tăng chung)
Bảng (2.1): Tốc độ tăng GDP quý I so cùng kỳ của một số năm
“Nguồn: Tổng cục thống kê”
Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước tính cả năm 2008 đạt 67.430 tỷ đồng vượt 12% dự toán năm, trong đó thu nội địa là 54.420 tỷ đồng vượt 12,2% dự toán Tổng chi ngân sách địa phương năm 2008 là 20.499 tỷ đồng, vượt 3,1% dự toán, trong đó chi thường xuyênlà 9.247 tỷ đồng, vượt 16,6% dự toán, chi xây dựng cơ bản là 9.065 tỷ đồng, chỉ đạt 89,8% dự toán
Tổng nguồn vốn huy động đến hết tháng 12 năm 2008 là 428.092 tỷ đồng, tăng 6,45% so tháng trước và tăng 10,6% so cùng kỳ năm trước, trong đó tiền gửi dân cư tăng 15,34% và 15,8%, tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng 0,3% và 7,01% Tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng
12 năm 2008 đạt 258.869 tỷ đồng, tăng 23,48% so tháng trước và tăng 27% so cùng kỳ năm trước, trong đó dư nợ ngắn hạn tăng 19,81% và 25,03%, dư nợ trung và dài hạn tăng 29,22%