Khái quát chung về công tác quản lý tài chính ngắn hạn Công tác quản lý tài chính doanh nghiệp thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và
Trang 1PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH NGẮN HẠN
I Công tác quản lý tài chính ngắn hạn
1 Vị trí của công tác quản lý tài chính ngắn hạn trong doanh nghiệp.
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong cả quá trình sản xuất của doanh nghiệp Để tiến hành sản xuất kinh doanh, nhà doanh nghiệp phải xử lý các quan hệ tài chính thông qua phương thức giải quyết ba vấn đề quan trọng sau đây:
Thứ nhất: nên đầu tư dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với loại hình
sản xuất kinh doanh lựa chọn Đây là chiến lược đầu tư dài hạn của doanh nghiệp,
là cơ sở để dự toán vốn đầu tư
Thứ hai: Nguồn vốn đầu tư mà doanh nghiệp có thể khai thác là nguồn nào? Thứ ba: Nhà doanh nghiệp sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào? Chẳng hạn việc thu tiền từ khách hàng và trả tiền cho nhà cung cấp? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ tới quản lý vốn, TSLĐ của doanh nghiệp.
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi vấn đề về tài chính doanh nghiệp nhưng đó là ba vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất Nghiên cứu tài chính doanh nghiệp thực chất là nghiên cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó
Trong các doanh nghiệp, nhà quản lý tài chính có trách nhiệm đưa ra lời giải cho ba vấn đề nêu trên Nhà quản lý tài chính không phải chỉ quan tâm đến việc sẽ nhận dược bao nhiêu tiền mà còn phải quan tâm tới việc khi nào nhận được và nhận được như thế nào Đánh giá quy mô, thời hạn và rủi ro của các dòng tiền trong
tương lai là vấn đề cốt lõi của quá trình dự toán vốn đầu tư Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần phải xử lý sự lệch pha của các dòng tiền Quản lý ngắn hạn các dòng tiền không thể tách rời vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Vốn lưu động ròng được xác
định là khoản chênh lệch giữa TSLĐ và nợ ngắn hạn Một số vấn đề về quản lý
Trang 2TSLĐ sẽ được làm rõ trong các phần sau như: Doanh nghiệp nên nắm giữ bao nhiêu tiền và dự trữ? Doanh nghiệp sẽ tài trợ ngắn hạn bằng cách nào? Mua chịu hay vay ngắn hạn và trả tiền ngay? Nếu vay ngắn hạn thì doanh nghiệp nên vay ở đâu và vay như thế nào?
2 Khái quát chung về công tác quản lý tài chính ngắn hạn
Công tác quản lý tài chính doanh nghiệp thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh
doanh; Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động vốn để đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp; Tổ chức sử dụng có hiệu số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp; Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp; Đảm bảo kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với hoạt động của doanh nghiệp, thực hiện phân tích tài chính doanh nghiệp; Thực hiện việc dự báo và kế hoạch hoá tài chính doanh nghiệp
Trong đó, công tác quản lý tài chính ngắn hạn là việc quản lý ngắn hạn các dòng tiền Sự vận động của tiền trong doanh nghiệp thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ vận động đơn giản của tiền
Có thể mô tả sơ đồ đó như sau:
TSCĐHao mòn TSCĐ
Tiền
NVL và lao động Phải trảSản phẩm
Phải thu
Tồn kho
Phải trả phải nộp khácVay, tự tài
trợ…
Trang 3- Công ty mua nguyên vật liệu để sản xuất, phần lớn những khoản mua này chưa trả ngay tạo những khoản phải trả người bán Phần còn lại có thể được trả ngay bằng tiền.
- Lao động được sử dụng để chuyển nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng
và thông thường tiền lương không được trả ngay vào lúc công việc được thực hiện
từ đó hình thành các khoản phải trả cán bộ công nhân viên
- Tiền được đầu tư để mua sắm TSCĐ có thể được thanh toán ngay hoặc trả chậm hình thành nên các khoản phải trả Hao mòn TSCĐ thể hiện giá trị TSCĐ chuyển vào sản phẩm
- Sản phẩm có thể chưa bán được ngay hình thành hàng tồn kho Khi bán một phần thu tiền ngay một phần bán chịu do đó tạo nên các khoản phải thu
Tại một thời điểm nào đó trong quá trình vận động nói trên, doanh nghiệp phải thanh toán những khoản phải trả, nếu những khoản thanh toán này được thực hiện trước khi thu được những khoản phải thu thì sẽ tạo ra những luồng tiền ra ròng Luồng tiền này phải được tài trợ bằng một nguồn tài trợ nào đó như từ bán hàng tồn kho hay giảm đầu tư ngắn hạn Ngoài ra, tiền của doanh nghiệp còn được hình thành từ các nguồn khác như đi vay ngân hàng, vay huy động qua phát hành cổ phiếu…hoặc tự tài trợ bằng các nguồn khác Nhưng tiền cũng được sử dụng để nộp ngân sách, trả đơn vị nội bộ hay các khoản phải trả, phải nộp khác…
Sơ đồ vận động miêu tả mối quan hệ giữa TSLĐ và nợ ngắn hạn trong doanh nghiệp, trong đó tương ứng với bên phải sơ đồ là nợ ngắn hạn và bên trái là TSLĐ Qua sơ đồ trên có thể thấy toàn bộ công tác quản lý tài chính ngắn hạn liên quan chủ yếu đến công tác quản lý TSLĐ và nợ ngắn hạn bởi đó là hoạt động tài chính hàng ngày của doanh nghiệp
Quản lý ngắn hạn các dòng tiền không thể tách rời quản lý hai khoản mục
có tính ngắn hạn trong doanh nghiệp là TSLĐ và nợ ngắn hạn Do đó, có thể nói công tác quản lý tài chính ngắn hạn có bản chất giống như quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp vì nó cũng liên quan đến TSLĐ và nợ ngắn hạn
Trang 4Nhưng quản lý vốn lưu động tập trung chủ yếu vào quản lý TSLĐ còn nợ ngắn hạn chỉ được xem xét như một nguồn hình thành vốn lưu động Quản lý tài chính ngắn hạn xem xét TSLĐ và nợ ngắn hạn trên góc độ ngang nhau và có mối quan hệ tác động lẫn nhau Không xem trọng quản lý TSLĐ hay nợ ngắn hạn mà xem xét chúng như hai hình thức biểu hiện của hoạt động quản lý tài chính trong ngắn hạn của doanh nghiệp Có thể nói công tác quản lý tài chính ngắn hạn và quản lý vốn lưu động là hai cách tiếp cận khác nhau đối với TSLĐ
và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
3 Tài sản lưu động
3.1 Tài sản lưu động là gì?
Đối tượng lao động (nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm…) và các tư liệu lao động là những điều kiện cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các TSLĐ còn về hình thái giá trị gọi là Vốn lưu động của doanh nghiệp
TSLĐ là những tài sản thuộc quyền sơ hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử
dụng, thu hồi, luân chuyển thường dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.Giá trị các loại TSLĐ của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chúng Quản lý và sử dụng hợp lý các loại TSLĐ có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp
3.2 Những thành phần trong tài sản lưu động
3.2.1 Tiền và các khoản tương đương tiền
Tiền mặt là một loại tài sản mà doanh nghiệp nào cũng có và sử dụng Tiền mặt bao gồm các khoản mục đặc thù như: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng, tiền đang chuyển… Tiền mặt có thể chuyển thành loại tài sản khác, dùng để mua hàng
Trang 5hoá hoặc để trả nợ dễ dàng hàng mọi tài sản có khác do vậy tiền mặt là tài sản có tính luân chuyển hay tính thanh khoản cao nhất.
Vì tiền mặt là phương tiện điển hình mà các công ty dùng để luân chuyển nên
nhà quản lý giỏi thường yêu cầu công ty nên có tiền mặt thặng dư Hơn nữa, biến
động có tính thời vụ của doanh số thường dẫn đến có tiền mặt thặng dư trong một
số tháng trong năm Thay vì phải đem số tiền mặt thặng dư này để vào tài khoản ở Ngân hàng có lãi suất rất thấp nhiều công ty đem đầu tư số tiền mặt thặng dư của
họ với hy vọng có được lợi nhuận cao hơn Có thể đầu tư tiền mặt thặng dư vào các tín phiếu của Nhà nước, trái phiếu của công ty hay cổ phiếu Nếu những khoản đầu
tư này có thể chuyển thành tiền mặt một cách nhanh chóng và nếu nhà quản lý có ý xem các khoản đầu tư này như là một nguồn tiền mặt để thoả mãn các nhu cầu
thanh toán ( các khoản tương đương tiền ) thì các khoản đầu tư này được gọi là đầu
tư ngắn hạn hay đầu tư tạm thời.
Tiền mặt được giữ trong doanh nghiệp vì một số mục tiêu sau:
Đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày, những giao dịch này thường là thanh toán cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng, từ đó tạo nên số dư giao dịch
Bù đắp cho Ngân hàng về việc Ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp
Số dư tiền mặt loại này gọi là số dư bù đắp Đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra trong doanh nghiệp, loại tiền này tạo nên số dư dự phòng Hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng ( trả tiền ngay bao giờ cũng được ưu đãi ) loại tiền này tạo nên số
dư đầu cơ Hiệu quả trong sử dụng tiền mặt và lượng tiền mặt được giữ trong doanh nghiệp là bao nhiêu cho hiệu quả sẽ được trình bày ở phần sau
3.2.2 Các khoản phải thu
Các khoản phải thu được hình thành từ tín dụng thương mại của doanh
nghiệp Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là không thể thiếu, việc mua bán chịu ( TDTM ) hình thành các khoản phải thu và phải trả trong đó doanh
Trang 6nghiệp mua chịu khách hàng hình thành khoản phải trả và doanh nghiệp bán chịu
cho khách hàng hình thành khoản phải thu Khoản phải thu phản ánh nghĩa vụ đòi nợ của doanh nghiệp Tỷ lệ các khoản phải thu trong các doanh nghiệp có thể
khác nhau tuỳ từng loại hình và lĩnh vực hoạt động tuy nhiên chúng thường chiếm
từ 15% đến 20% trong tổng tài sản của doanh nghiệp
Các khoản phải thu bao gồm: Phải thu của khách hàng, trả trước cho người
bán, VAT được khấu trừ, phải thu nội bộ, phải thu khác, dự phòng phải thu khó đòi
Ngoài phải thu của khách hàng và trả trước cho người bán phản ánh quan hệ mua bán hàng hoá thì VAT được khấu trừ, phải thu nội bộ… mang bản chất là khoản phải thu vì nó phản ánh số nợ phải thu mà doanh nghiệp có quyền thu hồi
Dự phòng phải thu khó đòi dùng để bù đắp những khoản phải thu quá hạn trên 2 năm hoặc không thể thu được do khách hàng không có khả năng trả nợ Dự phòng phải thu khó đòi làm giảm các khoản phải thu vì nó được trích % từ khoản phải thu
và nếu thành nợ khó đòi thì không thể thu được
3.2.3 Dự trữ hàng tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp
Dự trữ, hàng tồn kho là tài sản mà doanh nghiệp tồn trữ để bán và sản xuất Hàng tồn kho được bán trong vòng 1 năm và được sử dụng vào quá trình sản
xuất trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh nên mang tính ngắn hạn
Dự trữ, hàng tồn kho có 3 loại chính: Nguyên vật liệu tồn kho phục vụ cho quá
trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang và thành phẩm tồn kho
Tuỳ theo ngành nghề kinh doanh mà tỷ trọng các loại dự trữ trên khác nhau Trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng tài sản tồn kho dự trữ sản xuất thường lớn Còn trong doanh nghiệp thương mại tồn kho chủ yếu là sản phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ Mức dự trữ tồn kho của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của nhiều
Trang 7nhân tố như quy mô sản xuất và nhu cầu nguyên vật liệu cho sản xuất, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, thời gian vận chuyển nguyên vật liệu, thời gian của một chu kỳ sản xuất, khả năng tiêu thụ sản phẩm…
Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng vì nó chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng tài sản (thường từ 15 đến 30%) và điều quan trọng là dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không thiếu sản phẩm hàng hoá để bán và sử dụng tiết kiệm, hợp lý đồng vốn bỏ ra
3.2.4 Tài sản lưu động khác
Ngoài những khoản mục trên TSLĐ còn bao gồm:
Tạm ứng: là khoản tiền hay vật tư mà doanh nghiệp giao cho cá nhân hay bộ
phận thuộc nội bộ doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ được giao
Chi phí trả trước: ( chi phí chờ phân bổ ) là những khoản chi phí thực tế đã
phát sinh nhưng chưa tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ này mà đựơc tính cho 2 hay nhiều kỳ hạch toán sau đó Như tiền thuê TSCĐ trả trước, lãi tiền vay trả trước…
Tài sản thiếu chờ xử lý: là những tài sản mất mát, thiếu hụt chưa rõ nguyên
nhân phải chờ người có thẩm quyền xử lý
4 Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là những khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng một chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm
Nợ ngắn hạn bao gồm: Vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả người
bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp, phải trả công nhân viên, phải trả đơn vị nội bộ, phải trả phải nộp khác
Trong đó các khoản phải trả, phải nộp trong doanh nghiệp bao gồm các
khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp, những khoản phải trả công nhân viên nhưng chưa đến kỳ trả, các khoản đặt cọc của khách hàng ( người mua trả tiền trước) và phải trả đơn vị nội bộ… là phần vốn không lớn lắm nhưng đôi khi nó giúp doanh
Trang 8nghiệp giải quyết những nhu cầu vốn mang tính chất tạm thời Nhìn chung các
nguồn này có ưu điểm là lãi suất cho vay là ưu đãi thường nhỏ hơn lãi suất cho vay
của thị trường, thời hạn trả có thể linh hoạt hơn bên ngoài tức là có thể kéo dài thời hạn trả mà không bị tính lãi do đó đây là nguồn vốn có hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, nhược điểm của các nguồn này là quy mô vốn vay phụ thuộc vào
chính sách của công ty trong từng thời kỳ nên không thể đáp ứng ngay lập tức nhu cầu vốn của doanh nghiệp Hơn nữa một số khoản không được hoàn trả đúng thời hạn có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vay ngắn hạn là loại vay mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong vòng
một chu kỳ hoạt động hoặc một năm vay ngắn hạn thường từ các nguồn như vay ngân hàng hoặc vay huy động từ bên ngoài ( phát hành trái phiếu …) Đối với vay Ngân hàng thì điều kiện tín dụng phức tạp hơn và chịu sự kiểm soát của ngân hàng
Có một số hình thức như vay theo hạn mức tín dụng, vay bằng cách thế chấp khoản
phải thu, thương phiếu… ưu điểm của nguồn này là đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho doanh nghiệp song nhược điểm chính của nguồn này là lãi suất tương đối cao,
điều kiện cho vay khắt khe, đồng thời quy mô và thời gian vốn vay ngắn
Nợ dài hạn đến hạn trả là số nợ dài hạn đến hạn thanh toán trong chu kỳ kinh
doanh
Phải trả người bán là nguồn tài trợ ngắn hạn được ưa chuộng của các doanh
nghiệp Cũng như các khoản phải thu, phải trả người bán được hình thành từ quan
hệ tín dụng thương mại và công cụ để thực hiện loại tín dụng này chủ yếu là thương
phiếu (kỳ phiếu, hối phiếu) Có ưu điểm là nguồn tài trợ tiệnlợi, linh hoạt cả về thời
gian thanh toán, điều kiện chiết khấu và qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp và khách hàng, rút ngắn chu
kỳ sản xuất kinh doanh ngoài ra còn có thể tạo vốn mới bằng cách chiết khấu
thương phiếu Nhược điểm là rủi ro trong quna hệ tín dụng thương mại sẽ cao khi
Trang 9quy mô tăng Là khoản phải trả người bán nên doanh nghiệp không được hưởng chiết khấu hay giảm giá do đó có thể làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên.
Phải trả phải nộp khác bao gồm các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, các
khoản thu hộ, giữ hộ, các khoản lãi phải trả các bên tham gia liên doanh, nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn… không mang tính chất trao đổi mua bán
II Hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn
1 Hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn nói chung
1.1 Hiệu quả kinh doanh
Để hiểu được hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn phải đặt trong tổng thể hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển theo chiều sâu, nó
phản ánh trình độ khai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là chỉ tiêu tương đối được biểu hiện bằng kết quả sản xuất
so với chi phí sản xuất và ngược lại Một cách khái quát thì: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu xác định.” Có thể
đánh giá hiệu quả kinh doanh nói chung bằng chỉ tiêu:
H =
KCTrong đó: K – Kết quả đạt được
C – Chi phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó
H – Hiệu quả kinh doanh
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là sử dụng hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, với chi phí không đổi, nhưng tạo ra được nhiều kết quả hơn Như vậy phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ làm giảm giá
thành, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Cần chú ý rằng, trình độ lợi
dụng các nguồn lực hay hiệu quả kinh doanh chỉ có thể được phản ánh bằng số tương
Trang 10đối hay các tỷ số
Hiệu quả kinh doanh có thể đánh giá ở các góc độ khác nhau, phạm vi khác
nhau và thời kỳ khác nhau Trên cơ sở đó hiệu quả kinh doanh được phân thành:
- Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và bộ phận: Hiệu quả kinh doanh tổng hợp
đánh giá khái quát hiệu quả cho cả doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh chỉ xét trên từng lĩnh vực cụ thể như: sử dụng lao động, hoạt động tài chính, sử dụng máy móc, tiêu thụ sản phẩm…
- Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và dài hạn: Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn
là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá trong từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm…(1 chu kỳ sản xuất kinh doanh ) Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét trong thời gian dài thường là vài năm gắn với các chiến lược và kế hoạch dài hạn của doanh nghiệp
Vì mục tiêu tối đa hoá giá trị của doanh nghiệp trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm và cạnh tranh ngày càng gay gắt phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Từ cách đánh giá hiệu quả kinh doanh bộ phận và trong ngắn hạn ta đi đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động bộ phận tài chính và trong ngắn hạn hay hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2 Hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn
Các chính sách tín dụng thương mại, hệ thống quản lý hàng tồn kho, mở rộng
sử dụng nợ và khả năng thanh toán… của doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Tiền mặt – các hình thức biến đổi theo thời gian của tiền mặt như hàng tồn kho, khoản phải thu…và quay trở lại thành tiền mặt-là mạch máu của mọi công ty Nếu dòng tiền bị tắc nghẽn nghiêm trọng hay thiếu hụt tạm thời cũng có thể dẫn tới phá sản một công ty Có một chân lý là một công ty đang làm ăn có lãi thì không có gì đảm bảo là công ty đó có khả năng thanh toán trong tương lai Đó là vấn đề liên quan đến công tác quản lý tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp
Trang 11Công tác quản lý tài chính ngắn hạn hiệu quả khi các luồng tiền của công
ty đáp ứng nhu cầu chi trả hay tài sản lưu động tài trợ được cho nợ ngắn hạn Mặt khác, hoạt động tài chính ngắn hạn hiệu quả khi lượng tiền mặt được duy trì ở một mức phù hợp Các khoản phải thu ở trong giới hạn an toàn và dự trữ
đủ cho sản xuất kinh doanh, thêm vào đó là một khoản nợ có khả năng chi trả, đáp ứng yêu cầu giảm chi phí nhưng không gây khó khăn cho việc thanh toán.
Hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn là phần quan trọng trong hiệu quả hoạt động tài chính nói chung vì đây là hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Dựa vào việc dánh giá hoạt động tài chính hàng ngày sẽ rút ra được những hạn chế cần khắc phục một cách kịp thời, dự báo những thay đổi trong tương lai, dự toán vốn đầu tư…Hoạt động tài chính hàng ngày có hiệu quả sẽ báo hiệu một tình hình tài chính có hiệu quả, nói là báo hiệu bởi tài chính luôn hàm chứa rủi ro
Tóm lại, công tác quản lý tài chính ngắn hạn hiệu quả khi tạo ra nhiều lợi nhuận nhất mà vẫn đảm bảo tính ổn định và an toàn Đó là khi đạt đến sự cân bằng, sự tự chủ về tài chính, khả năng thanh toán được đảm bảo và có hiệu quả kinh doanh.
2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn
Trang 12NWC có thể xảy ra 3 trường hợp sau:
- NWC < 0 : TSLĐ không đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán
cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một
phần nợ ngắn hạn để tài trợ cho TSCĐ Ta có sơ đồ sau:
Vì TSLĐ không đủ tài trợ cho nợ ngắn hạn nên tình hình tài chính ngắn hạn
của doanh nghiệp không lành mạnh hay không đạt hiệu quả Một doanh nghiệp lựa
chọn kế hoạch tài chính mạo hiểm sẽ duy trì tình trạng này tức là sử dụng nguồn
có chi phí thấp hơn và thời gian ngắn hơn để đầu tư vào TSCĐ với chi phí cao hơn
và thời gian dài hơn Tuy nhiên theo nguyên tắc thì không thể sử dụng nguồn ngắn hạn để đầu tư dài hạn do đó trong dài hạn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn
Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách tăng cường đầu tư vào TSCĐ và
giảm đầu tư dài hạn vào TSCĐ giảm mở rộng thị trường tăng doanh thu làm tăng tiền hoặc các khoản phải thu đưa TSLĐ đến cân bằng với nợ ngắn hạn
- NWC > 0 : TSLĐ lớn hơn nợ ngắn hạn do vậy TSLĐ có thể thanh toán được
cho nợ ngắn hạn làm cho doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt Ta có sơ đồ sau:
NWC Nợ dài hạn và VCSHTSCĐ
Tuy nhiên, giữ TSLĐ nhiều là không hiệu quả vì TSLĐ không sinh lãi hoặc
sinh lãi rất ít trong khi đó nợ dài hạn lại có chi phí lớn Nếu sử dụng một phần
TSCĐ NWC{ NWC
Nợ dài hạn và VCSH
Trang 13TSLĐ tài trợ cho nợ dài hạn sẽ khụng bự đắp được toàn bộ chi phớ Mặt khỏc, nợ ngắn hạn bao gồm một số khoản như : Phải trả người bỏn, phải trả cụng nhõn viờn, phải trả phải nộp khỏc nếu tận dụng được sẽ mang hiệu quả cao mà chi phớ lại rẻ hơn cỏc nguồn tài trợ khỏc Do đú NWC > 0 tuy cú đảm bảo khả năng thanh toỏn tốt hơn nhưng chỉ ỏp dụng đối với một kế hoạch tài chớnh thiờn về an toàn hơn vỡ lợi nhuận kỳ vọng sẽ khụng cao.
NWC = 0: TSLĐ đủ để thanh toỏn cỏc khoản nợ ngắn hạn và vốn dài hạn đủ
để tài trợ cho TSCĐ, đảm bảo nguyờn tắc cỏc nguồn dài hạn tài trợ cho đầu tư dài
hạn Khi NWC = 0 cỏn cõn thanh toỏn của doanh nghiệp ở trạng thỏi cõn bằng
Cú thể núi NWC = 0 là hiệu quả vỡ nú vừa đảm bảo an toàn trong thanh toỏn
vừa đảm bảo sinh lợi cho doanh nghiệp Tuy nhiờn, NWC > 0 vẫn hiệu quả nếu doanh nghiệp biết sử dụng linh hoạt cỏc quyết định tài chớnh và đặt trong điều kiện của doanh nghiệp mỡnh để đưa ra cỏc quyết định đú Bởi NWC=0 hầu như là khụng thể đạt được.
2.2 Cơ cấu TSLĐ và nợ ngắn hạn tổng tài sản hay nguồn vốn.
Cơ cấu TSLĐ và nợ ngắn hạn trong tổng tài sản và tổng nguồn vốn cú ý nghĩa trong việc nõng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ và nợ ngắn hạn vỡ một tỷ lệ phự hợp
sẽ phản ỏnh mức độ ổn định, lành mạnh và khả năng tự chủ về tài chớnh của doanh nghiệp Tuỳ từng loại hỡnh doanh nghiệp mà tỷ lệ này cú những giỏ trị khỏc nhau
Cơ cấu TSLĐ = Tổng TS TSLĐ
Hệ số này cho biết đồng tiền vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng có bao nhiêu
% đầu t vào TSLĐ và bao nhiêu % đầu t vào TSCĐ Hay tỷ trọng TSLĐ là bao nhiêu % trong tổng tài sản Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà tỷ lệ này đợc duy trì ở các mức khác nhau Chẳng hạn nh đối với một doanh nghiệp thơng mại dịch
Trang 14vụ, TSCĐ có giá trị không lớn, thì chủ yếu là TSLĐ; còn đối với một doanh nghiệp sản xuất trong ngành công nghiệp thì TSCĐ lại chiếm chủ yếu vì các máy móc phục
vụ cho quá trình sản xuất có giá trị lớn, do đó tỷ trọng TSLĐ nhỏ Tuy nhiên, đối với hầu hết các doanh nghiệp tỷ trọng TSLĐ thờng lớn hơn 50% Vì nói chung nếu một yếu tố nào đó xấu đi chẳng hạn nh doanh thu giảm đột ngột, khách hàng chậm trả, nguyên vật liệu thiết yếu giao nhận không dúng thời hạn (dự trữ không đủ) thì một công ty đầu t thấp vào TSLĐ sẽ gặp khó khăn hơn
Tơng tự tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn phản ánh cơ cấu vốn hay tình hình sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn thì tỷ lệ này cao còn chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, nhu cầu vốn ngắn hạn không cao thì tỷ lệ này nhỏ Cơ cấu nợ ngắn hạn/ tổng nguồn vốn hiệu quả khi nó tạo ra lợi nhuận trớc lãi và thuế trên vốn chủ sở hữu là lớn nhất Ta có:
Cơ cấu nợ ngắn hạn
= Nợ ngắn hạn Tổng nguồn vốn
Hệ số này phản ánh khả năng tài trợ của doanh nghiệp, hệ số này càng cao khả
năng tự tài trợ của doanh nghiệp kém và rủi ro càng lớn Tỷ suất nợ ngắn hạn càng
thấp, hệ số an toàn càng cao, các chủ nợ có cơ sở để tin tởng vào sự đáo nợ đúng hạn của doanh nghiệp, đồng thời cũng là cơ sở để thu hút các nhà đầu t Trị số của chỉ tiêu càng nhỏ mức độ độc lập tài chính càng cao, hiệu quả hoạt động tài chính càng lớn
2.3 Hiệu quả sử dụng tài sản lu động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ ngời ta sử dụng các chỉ tiêu nh:
*) Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản
phải thu
= Doanh thu thuần (DT bán chịu)
Khoản phải thu trong kỳ
Trong công thức trên có thể sử dụng doanh thu thuần hoặc doanh thu bán chịu bình quân tuy nhiên sử dụng doanh thu bán chịu hay hơn vì doanh thu bán chịu mới tạo ra các khoản phải thu của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu phản ánh tình hình các khoản phải thu của doanh nghiệp trong
kỳ, nó cho biết số vòng quay các khoản phải thu từ khi hình thành các khoản phải
Trang 15thu đến khi thu đợc tiền Chỉ tiêu này càng lớn càng phản ánh hiệu quả sử dụng
Một chu kỳ sản xuất kinh doanh có thể là một tháng, một qúy hay một năm
tuỳ từng doanh nghiệp và từng mục đích nghiên cứu để phân chia Đối với đa số các doanh nghiệp thì một chu kỳ sản xuất kinh doanh là một năm, ứng với 360 ngày Bởi các quy định về báo cáo kết quả kinh doanh của nhà nớc đối với doanh nghiệp cũng là một năm và một năm cũng là thời điểm tổng kết, đánh giá thực trạng hoạt
động của doanh nghiệp để rút kinh nghiệm cho các năm sau
*) Vòng quay dự trữ, tồn kho
Vòng quay dự trữ,
tồn kho
= Giá vốn hàng bán (Doanh thu)
Dự trữ, tồn kho bình quân trong kỳ (hoặc cuối kỳ)
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển hàng tồn kho trong một thời gian, thời kỳ nhất định
Tồn kho bình quân trong kỳ là bình quân số học của hàng hoá dự trữ, tồn kho
đầu kỳ và cuối kỳ Đối với hàng hoá có tính thời vụ và đa số các trờng hợp thì sử dụng dự trữ, tồn kho bình quân trong kỳ vì nó chính xác hơn tồn kho cuối kỳ, tuy nhiên nếu không có số liệu có thể sử dụng tồn kho cuối kỳ
Có thể thay giá vốn hàng bán bằng doanh thu nhng giá vốn hàng bán là phù hợp hơn doanh thu vì lợi nhuận cha đợc tính vào đó giá trị hàng tồn kho (doanh thu bao gồm cả lợi nhuận)
Số vòng quay hàng tồn kho càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao và mức độ dự trữ vật t hàng hoá càng hợp lý của doanh nghiệp.
Trang 16Ngoài ra để thấy rõ thêm có thể tính đến chỉ tiêu số ngày tồn kho.
Số ngày tồn kho
= Số ngày của chu kỳ kinh doanh
Vòng quay dự trữ, tồn kho
Số ngày tồn kho cho thấy hàng hoá đợc lu kho bao lâu trớc khi đợc bán ra
Ng-ợc với số vòng quay hàng tồn kho, chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Chỉ số vòng quay càng lớn cho thấy tiền mặt đợc sử dụng linh hoạt vào quá trình sản xuất kinh doanh và vòng quay tiền lớn tính linh hoạt càng lớn nhng tính
an toàn không cao Đây là mâu thuẫn khó giải quyết của mọi doanh nghiệp trong
quá trình hoạt động kinh doanh Do đó rất khó xác định hiệu quả sử dụng TSLĐ thông qua hệ số này, tuy nhiên có thể sử dụng hệ số này để xem xét tình hình sử dụng tiền để có một cái nhìn khách quan hơn
*) Hiệu suất sử dụng TSLĐ
Hiệu suất sử dụng TSLĐ hay vòng quay TSLĐ là chỉ tiêu tổng hợp của các chỉ
tiêu về vòng quay tiền, vòng quay dự trữ, vòng quay khoản phải thu Để phục vụ
quá trình phân tích chỉ số này ta tính đến các chỉ tiêu trên để đa ra nhận xét một cách tổng quát
Hiệu suất sử dụng TSLĐ = Doanh thu thuần trong kỳ
Trang 17Đây là chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ vì nếu số vòng quay này nhỏ chứng tỏ tài sản lu động đã không đợc tận dụng hết khả năng
mà hiệu quả sử dụng là chỉ tiêu phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh Mặt khác nếu số vòng quay này nhỏ doanh nghiệp sẽ có chu kỳ sản xuất kinh doanh nhỏ và khả năng quay vòng vốn không cao, lợi nhuận tạo ra thấp
Ngoài ra, ta có thể tính độ dài bình quân một vòng quay TSLĐ
*) Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Đây là chỉ tiêu cuối cùng để đa ra kết luận về hiệu quả sử dụng TSLĐ
Hiệu quả sử dụng TSLĐ
(tỷ suất lợi nhuận của TSLĐ)
= Lợi nhuận sau thuế TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn TSLĐ Nó cho biết mỗi đơn
vị TSLĐ bỏ vào sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo ra đợc bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
Có thể sử dụng lợi nhuận trớc thuế để tính nhng nó không phản ánh thực chất hiệu quả sử dụng TSLĐ vì thuế là khoản doanh nghiệp không đợc sử dụng để tái
đầu t và là nghĩa vụ đối với nhà nớc của doanh nghiệp
Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp (trừ một số doanh nghiệp hoạt động công ích) do đó mỗi đơn vị TSLĐ bỏ vào sản xuất kinh doanh càng tạo ra nhiều lợi nhuận càng phản ánh hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp hay chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng TSLĐ càng cao
2.4) Hiệu quả sử dụng nợ ngắn hạn
Trang 18Nợ ngắn hạn đợc sử dụng hiệu quả khi với một lợng nhất định tạo ra nhiều lợi nhuận nhất và tổng số nợ phải trong khả năng chi trả của doanh nghiệp Cũng nh…hiệu quả sử dụng TSLĐ, hiệu quả sử dụng nợ ngắn hạn cũng đợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu nh:
*) Thời gian trả nợ (hệ số kiểm soát nợ)
Thời gian trả nợ
= Khoản phải trả khách hàng
Giá vốn hàng bán / 360
Cỏch tớnh phự hợp nhất của thời gian trả nợ là sử dụng doanh thu mua chịu bỡnh quõn trong ngày bởi vỡ chỳng tạo ra khoản phải trả Tuy nhiờn, cỏch tớnh gần đỳng nhất là sử dụng giỏ vốn hàng bỏn nếu khụng biết được doanh thu mua chịu.Chỉ tiờu này cho biết thời gian thanh toỏn đối với cỏc khoản nợ phải trả người
bỏn do đú thời gian trả nợ khỏch hàng càng thấp càng phản ỏnh khả năng trả nợ nhanh chúng của doanh nghiệp đối với cỏc khoản tớn dụng thương mại hay hiệu quả sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao.
Cỏc hệ số đú bao gồm: Hệ số chi trả lói vay, Hệ số chi trả nợ gốc và lói vay
Hệ số chi trả lói vay = EBIT
Chi phớ lói vay ngắn hạn
EBIT là thu nhập trước lói vay và thuế, sử dụng EBIT vỡ khoản trả lói là chi phớ trước thuế
Chỉ tiờu này cho biết mức độ thu nhõph trước thuế và lói vay đảm bảo khả năng trả lói vay hàng năm như thế nào Việc khụng trả được cỏc khoản lói vay này thể hiện tỡnh hỡnh tài chớnh của doanh nghiệp khụng lành mạnh Doanh nghiệp sử dụng nợ phải quan tõm đến chi phớ sử dụng nợ, nếu chi phớ này lớn hơn lợi nhuận
tạo ra thỡ việc sử dụng nợ là khụng hiệu quả, do đú tỷ lệ này càng cao thể hiện khả
Trang 19năng trả lãi vay của doanh nghiệp càng lớn và chỉ tiêu này càng >1 càng thể hiện hiệu quả của việc sử dụng nợ ngắn hạn.
Hệ số chi trả nợ gốc
và lãi vay =
EBIT Chi phí lãi vay +
Nợ gốc
1 – thuế suất
Khác với trả lãi vay, thanh toán nợ gốc là khoản phi phí không được khấu trừ thuế do đó phải lấy nợ gốc/(1-thuế suất) (gánh nặng trước thuế của khoản nợ gốc) Điều chỉnh trả nợ gốc theo cách này để tính ra khoản nợ gốc tương đương trước thuế Trong ngắn hạn, khoản nợ gốc được tính là khoản nợ ngắn hạn còn phải trả và
nợ dài hạn đến hạn trả đầu kỳ của doanh nghiệp
Tương tự với hệ số khả năng chi trả lãi vay, hệ số này cũng cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng chi trả lãi vay và nợ ngắn hạn như thế nào Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng chi trả càng cao và việc sử dụng nợ ngắn hạn càng hiệu quả và chỉ tiêu này >1 thể hiện lợi nhuận tạo ra có khả năng trả nợ gốc và lãi vay trong năm
Cả hai hệ số này đều quan trọng như nhau nhưng đối với một doanh nghiệp
mà vay nợ mới để thanh toán nợ gốc đã đến hạn thì nghĩa vụ tài chính chỉ là thanh toán lãi vay thì hệ số chi trả lãi vay quan trọng hơn Đối với những doanh nghiệp
mà không thể vay được khoản mới để thanh toán nợ cũ mà nghĩa vụ tài chính là thanh toán nợ gốc và lãi vay thì hệ số thứ hai là quan trọng hơn Việc sử dụng hệ
số nào là tuỳ từng doanh nghiệp.
Khả năng chi trả còn phản ánh khả năng huy động các nguồn vốn trong tương
lai của doanh nghiệp, nếu hiện tại doanh nghiệp không có khả năng chi trả lãi vay hàng năm thì trong tương lai doanh nghiệp khó có thể có thêm một khoản vay nào trừ những nhà đầu tư quá mạo hiểm
*) Hiệu quả sử dụng nợ ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng NNH = Lợi nhuận sau thuế
Nợ ngắn hạn
Trang 20Cũng như chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ, hiệu quả sử dụng nợ ngắn
cho biết một đồng nợ ngắn hạn được sử dụng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao thể hiện việc sử dụng nợ ngắn càng hiệu quả vì mỗi đồng nợ
ngắn hạn được sử dụng tạo ra được nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trong quản lý tài chính doanh nghiệp đây không là chỉ tiêu đáng quan tâm mà chỉ tiêu về khả năng chi trả lại đáng quan tâm vì mục đích của doanh nghiệp không chỉ là tôí đa hoá lợi nhuận mà phải đảm bảo khả năng chi trả, khả năng chi trả nếu không được đảm bảo doanh nghiệp có thể dẫn đến phá sản mặcdù vẫn đảm bảo lợi nhuận hàng năm
2.5 Hiệu quả sử dụng TSLĐ và nợ ngắn hạn
TSLĐ và nợ ngắn hạn không chỉ có mối liên hệ thông qua vốn lưu động ròng
mà còn liên hệ với nhau trong việc thể hiện khả năng thanh toán ( hệ số thanh
khoản) của doanh nghiệp Khả năng thanh toán ở đây khác với khả năng chi trả lãi
hay nợ gốc ở trên, khả năng thanh toán phản ánh việc sử dụng TSLĐ để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn còn khả năng chi trả chỉ là chi trả cho những khoản vay ngắn hạn phát sinh chi phí lãi vay
Yếu tố quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tính thanh khoản của các tài sản của doanh nghiệp Một tài sản có tính thanh khoản nếu nó dễ dàng chuyển thành tiền mặt trong khi một món nợ có tính thanh khoản nếu nó được thanh toán trong một tương lai gần Sẽ rất rủi ro nếu tài trợ cho các tài sản không có tính thanh khoản bằng các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ có tính thanh khoản, bởi vì các khoản nợ sẽ đến hạn thanh toán trước khi các tài sản tạo ra đủ iền mặt để trả nợ do đó sử dụng TSLĐ và nợ ngắn hạn để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Các chỉ số khả năng thanh toán bao gồm:
*) Khả năng thanh toán hiện hành.
Khả năng thanh toán hiện hành
Nợ ngắn hạn
Trang 21Là thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ đảm bảo của TSLĐ đối với nợ ngắn hạn vì TSLĐ là bộ phận có tính lỏng cao và dễ chuyển thành tiền để thanh toán cho các khoản nợ ngắn.
Trị số trên = 1 phản ánh doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
và tình hình tài chính bình thường Nếu khả năng thanh toán này <1 thì doanh nghiệp có tình hình tài chính không lành mạnh, doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn Khả năng thanh toán càng >1 phản ánh khả năng thanh toán càng cao nhưng lại không hiệu quả vì không đảm bảo khả năng sinh lợi
Do đó khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp ≥1 là tốt nhất Điều
này cũng thể hiện hiệu quả trong việc sử dụng TSLĐ và nợ ngắn vì mục tiêu hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp là đảm bảo khả năng thanh toán, có thể nói đây
là mục tiêu thường xuyên hơn cả mục tiêu lợi nhuận trong quá trình hoạt động, do
đó việc lợi dụng được bao nhiêu khả năng đảm bảo của TSLĐ cho nợ ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán càng hiệu quả
*) Khả năng thanh toán nhanh.
Nếu trị số này >0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả
quan, tiền và các khoản tương đương tiền có khả năng trả nợ ngắn hạn khi cần Do
đó khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp càng lớn hơn 0,5 càng tốt.
Nếu trị số này <0,5 doanh nghiệp có thể sẽ gắp khó khăn trong thanh toán, các khoản nợ sẽ không được thanh toán ngay mà phải đợi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ khác, lúc này dự trữ và hàng tồn kho được tính đến trong thanh toán
Trang 22*) Khả năng thanh toán tức thời
Ở Việt Nam hiện nay, hai chỉ tiêu khả năng thanh toán chung và khả năng thanh toán nhanh không có ý nghĩa bằng khả năng thanh toán tức thời Vì các khoản phải thu của doanh nghiệp rất khó thu hồi khi cần nên doanh nghiệp chỉ có duy nhất tiền mặt để đảm bảo thanh toán khi cần thiết
ngay lập tức của doanh nghiệp là không đảm bảo
*) Tỷ suất nợ phải trả trên nợ phải thu
Nợ phải trả phản ánh vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng và nợ phải thu phản ánh
doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn
Nếu tỷ suất này >1: doanh nghiệp sẽ có một lượng vốn nhất định phục vụ cho sản xuất kinh doanh do đi chiếm dụng
Nếu tỷ suất này <1: Vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng và phần bị chiếm dụng = nợ phải trả-nợ phải thu
Tỷ suất này ≈1 là hợp lý vì nếu doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn nhiều thì sẽ
ảnh hưởng đến hoạt động nhưng tỷ suất này lớn sẽ không tốt vì sẽ gây ra gánh nặng
nợ cho doanh nghiệp do chiếm dụng vốn nhiều
3) Các phương pháp phân tích
3.1 Kết hợp các chỉ tiêu
Phải sử dụng các hệ số này một cách có hệ thống trong công tác phân tích vì
các hệ số không có giá trị chính xác một cách độc lập mà nó có mối liên hệ với nhau Một hệ số được dánh giá là quá cao, quá thấp hay vừa phải đều đặt trong mối
quan hệ với các hệ số khác, đặc điểm của công ty và quan điểm chủ quan của người phân tích
Trang 23Có thể thấy qua ví dụ về hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn, từ quan điểm
của người cho vay ngắn hạn thì một chỉ số cao là hiệu quả nhưng đối với chủ doanh nghiệp khả năng thanh toán cao đồng nghĩa với việc TSLĐ của công ty đang được tài trợ quá mức cho nợ ngắn hạn do đó khả năng sing lợi không cao Do đó đặt tỷ lệ này trong mối liên hệ với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSLĐ hay hiệu quả sử dụng TSLĐ để vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa đảm bảo hiệu quả sử dụng TSLĐ
Do đó cách hiệu quả là sử dụng đồng bộ các chỉ tiêu có liên quan với nhau
trong việc phân tích
3.2 Sử dụng phương pháp so sánh các hệ số theo thời gian.
Có 3 phương pháp so sánh các hệ số: So sánh hệ số theo kinh nghiệm
So sánh theo trung bình ngành
So sánh các hệ số theo thời gian
Trong đó, so sánh hệ số của doanh nghiệp theo kinh nghiệm có ưu điểm là tính
toán đơn giản và dễ làm Tuy nhiên, các giá trị hệ số phù hợp cho một công ty phụ thuộc quá nhiều vào kinh nghiệm và quan điểm chủ quan của người phân tích nên cách so sánh này đôi khi không chính xác và không đánh giá bao quát được tình hình
So sánh những hệ số của công ty với những hệ số của bình quân ngành có thể
cung cấp những thông tin về mức độ cạnh tranh của công ty đối với các công ty trong cùng ngành, và vị thế của công ty trong ngành Nhưng sự khác nhau của những công ty đặc thù đối với các công ty khác có thể đưa đến các sai lệch hoàn toàn so với các chuẩn mực của ngành Và chuẩn mực của ngành chỉ có ý nghĩa đối với ngành đó còn doanh nghiệp lại được đặt trong một môi trường hoàn toàn rộng lớn nên nó không có ý nghĩa bao quát tình hình
Cách thường được sử dụng là phân tích xu hướng hay so sánh theo thời gian, đây là cách tính toán các hệ số cho doanh nghiệp trong vài năm, chúng chỉ ra
sự thay đổi các chỉ tiêu của doanh nghiệp theo thời gian Điều này giúp nhà phân
Trang 24tích có thể rút ra những kết luận chắc chắn hơn về sức khoẻ của doanh nghiệp và những biến động qua từng năm Có hai cách để phân tích xu hướng là tính tốc độ tăng trưởng và chênh lệch qua các năm.
Tốc độ tăng
trưởng
= Kỳ này- kỳ trước
Kỳ trước
Mức độ chênh lệch = kỳ này - kỳ trước
Thông thường thì số chênh lệch của các chỉ tiêu >0 và tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu>1 thì hiệu quả kỳ này lớn hơn kỳ trước và ngược lại (một số chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng <0 lại cho kết quả là hiệu quả kỳ này cao hơn kỳ trước)
Ngoài ra, để việc đánh giá và nhận xét đạt hiệu quả thì ta phải tính đến các vấn
đề thời gian, rủi ro, môi trường kinh doanh…và đặc thù riêng cua môic doanh nghiệp, đôi khi các nhân tố này lại tác động rất lớn đến kết quả quá trình phân tích
4) Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn.
4.1) Nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Có nhiều nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý tài chính ngắn hạn như: ngành nghề sản xuất kinh doanh, công nghệ, trình
độ cán bộ quản lý tài chính , lợi thế kinh doanh, thông tin, tình hình tài chính doanh nghiệp…trong đó một số nhân tố điển hình là:
*) Hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Theo hình thức pháp lý ở nước ta hiện nay có các hình thức doanh nghiệp như: DNNN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đặc điểm về hình thức pháp lý này ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn và sử dụng vốn của doanh nghiệp Một DNNN thì sẽ được ưu đãi hơn trong huy động vốn và được ngân sách nhà nước đầu
tư toàn bộ vốn điều lệ ban đầu Các ưu tiên khác như chậm trả, chậm nộp, xử lý nợ
và chính sách thuế…Còn công ty cổ phần thì có hình thức huy động vốn đa dạng
Trang 25ngoài các hình thức tín dụng còn được phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu Tương tự mỗi hình thức pháp lý đều có đặc thu riêng, ưu điểm và nhược điểm riêng trong qúa trình hoạt động và điều đó đều ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính ngắn hạn nói riêng.
*) Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc thù của từng doanh nghiệp
Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp cũng quyết định nhiều đến hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn vì tuỳ từng lĩnh vực hoạt động mà các chỉ tiêu có
những tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau Tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác
định ranh giới có hay không có hiệu quả Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn đều có các giá trị khác nhau, việc xác định giá trị nào là hiệu quả, giá trị nào là không hiệu quả thì phải so sánh với tiêu chuẩn hiệu quả Tiêu chuẩn hiệu quả này là tiêu chuẩn chung có tính đến đặc thù và loại hình hoạt động của từng doanh nghiệp, đôi khi sự khác nhau trong lĩnh vực hoạt động và đặc điểm kinh doanh dẫn đến sự khác nhau rất lớn trong tiêu chuẩn hiệu quả và do đó việc đánh giá hiệu quả cũng hoàn toàn sai lệch nhau Ảnh hưởng lớn nhất của lĩnh vực hoạt động hay ngành nghề kinh doanh thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Nó ảnh hưởng đến tỷ lệ hình thành và sử dụng vốn, từ đó ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn và thể thức thanh toán của doanh nghiệp
Lĩnh vực hoạt động cũng liên quan đến sản phẩm và thị trường của doanh
nghiệp Để đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn thì phải xem xét đến sản phẩm và thị trường của doanh nghiệp vì nếu một doanh nghiệp mà sản phẩm của nó
có tính thời vụ và chu kỳ mà ta lại đánh giá vào đúng thời kỳ thâm hụt hay thặng
dư của sản phẩm sẽ không chính xác
*) Trình độ của cán bộ quản lý tài chính.
Việc lựa chọn một chính sách tài chính hướng về mục tiêu an toàn hay lợi nhuận chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự bảo thủ hay phóng khoáng của nhà quản lý Một số nhà quản lý sẵn sàng sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho TSCĐ hoặc tăng các khoản phải thu nhằm chiếm dụng vốn và kỳ vọng vào lợi nhuận thu được trong
Trang 26tương lai Nếu nhà quản lý tài chính doanh nghiệp không có khả năng đánh giá, phân tích, dự báo tình hình tài chính để ra những quyết định tài chính hàng ngày thì hoạt động tài chính hàng ngày đó sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều mà thậm chí những ảnh hưởng đó còn có tác dụng lâu dài
Quản lý tài chính là một lĩnh vực giành cho những nhà lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp vì các quyết định tài chính thường quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn Do đó để có hiệu quả trong hoạt động tài chính ngắn hạn càng cần người quản
lý tài chính có trình độ, nhanh nhậy, quyết đoán và khả năng phân tích, ra quyết định một các chính xác
*) Hệ thống xử lý và trao đổi thông tin trong doanh nghiệp.
Một hệ thống thông tin chính xác, kịp thời và hoàn hảo sẽ hỗ trợ việc ra những quyết định tài chính hàng ngày một cách hiệu quả Các thông tin về khách hàng hỗ trợ việc cấp tín dụng thương mại, thông tin về thị trường giúp dự trữ tối ưu, thông tin về các nhà đầu tư giúp doanh nghiệp có một chính sách huy động vốn phù hợp, thông tin về nhu cầu thanh toán giúp dự trữ tiền mặt tối ưu và đảm bảo khả năng thanh khoản cho doanh nghiệp…Các thông tin này không chỉ cần thiết trong nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn mà còn giúp doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình một cách hiệu quả hơn
Trong kinh doanh nếu biết nắm bắt thông tin và xử lý các thông tin một cách chính xác, kịp thời sẽ nâng cao lợi thế trong cạnh tranh Sự phát triển của công nghệ thông tin đưa đến những hình thức xử lý thông tin nhanh chóng qua các chương trình máy tính hay sự cung cấp thông tin nhanh chóng qua các mạng thông tin toàn cầu Hoạt động tài chính ngắn hạn là việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ hàng ngày của doanh nghiệp do đó càng cần một lượng thông tin cập nhật thường xuyên và chính xác để các quyết định tài chính có hiệu quả hơn
*) Tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Như đã nói ở trên, tình hình tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp phải đặt trong tổng thể tình hình tài chính doanh nghiệp nói chung vì các quyết định tài
Trang 27chính có mối quan hệ với nhau Quyết định tài trợ bằng cách vay ngắn hạn phải đặt trong mối quan hệ với cơ cấu nợ/VCSH của doanh nghiệp Nếu cơ cấu này thấp thì không thành vấn đề còn nếu nó đã quá cao rồi thì việc vay ngắn hạn sẽ không có lợi hơn việc giảm hàng tồn kho hay giảm khoản phải thu để bù đắp nhu cầu của việc đi vay…
Tình hình tài chính của doanh nghiệp phản ánh bao quát các vấn đề tài chính, trong đó hoạt động tài ngắn hạn phản ánh hoạt động tài chính hàng ngày của doanh nghiệp do đó hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn chịu ảnh hưởng của các hoạtđộng tài chính khác trong tổng thể hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp
4.2) Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Mặc dù không có những tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn nhưng không thể không kể đến các nhân tố này vì đôi khi những thay đổi của nó lại gây ra những ảnh hưởng lớn đến hoạt động tài chính doanh nghiệp Các nhân tố bên ngoài như: môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường xã hội thậm trí cả môi trường tự nhiên như thiên tai, địch hoạ…cũng gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính ngắn hạn Trong phần này chỉ trình bầy hai nhân tố chủ yếu và tác động lớn nhất đến hoạt động tài chính hàng ngày của doanh nghiệp
*) Môi trường pháp lý
Bao gồm các văn bản pháp lý và các quy định của nhà nước liên quan đến hoạt động kinh doanh nói chung và tài chính nói riêng Vì môi trường pháp lý tạo sân và hướng dẫn hoạt động cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và khách hàng Một môi trường pháp lý lành mạnh sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả còn môi trường pháp lý không ổn định làm cho hoạt động của các doanh nghiệp rắc rối, chồng chéo, dễ dẫn đến xâm phạm lợi ích của nhau, cạnh tranh không lành mạnh…Một ví dụ về tác động của chính sách thuế đến vào chi phí nợ vay của doanh nghiệp Thuế suất cao sẽ khuyến kích doanh nghiệp sử dụng nợ, do phần tiết kiệm nhờ thuế, làm thay đổi cơ cấu đòn bẩy của doanh nghiệp Hay thuế và các khoản phải
Trang 28nộp là một phần trong các khoản phải trả của doanh nghiệp do đó việc nhà nước cho phép nộp chậm hay nộp ngay ảnh hưởng lớn đến luồng tiền vào ra của doanh nghiệp.
Đó chỉ là một ví dụ điển hình về tác động của môi trường pháp lý đến hoạt động tài chính ngắn hạn Một môi trường pháp lý có chất lượng sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động tuy nhiên cũng cần hải có sự chấp hành pháp luật nghiêm minh của chính doanh nghiệp để môi trường pháp lý hiệu quả hơn
*) Môi trường kinh doanh.
Môi trường kinh doanh luôn hàm chứa những rủi ro, rủi ro tác động rất lớn
đến hiệu quả công tác quản lý tài chính cả ngắn hạn và dài hạn bởi khi tất cả các yếu tố được tính đến thì rủi ro lại luôn nằm ngoài dự tính của con người Rủi ro trong kinh doanh làm giảm hiệu quả của hoạt động tài chính ngắn hạn và khi các rủi ro trong các hoạt động khác cộng hưởng thì có thể gây ra sự phá sản của một doanh nghiệp
Môi trường kinh tế còn bao gồm: môi trường đầu tư, sự biến động của cung cầu, sự thay đổi của thị hiếu tiêu dùng, sự thay đổi của tỷ giá, sự mất giá của đồng tiền (lạm phát) hay các đợt khủng hoảng kinh tế…tác động lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Nhất là sự thay đổi của thị trường tiền tệ tác động trực tiếp đến dòng tiền của doanh nghiệp, đó là hoạt động tài chính ngắn hạn Hay sự thay đổi của môi trường đầu tư rác động đến việc tìm kiếm nguồn vốn của doanh nghiệp Môi trường kinh tế cũng thay đổi từng ngày từng giờ và do đó nó cũng có tác động tương ứng lên hoạt động tài chính của doanh nghiệp Vì vậy nhà quản lý tài chính phải biết phân tích và dự đoán xu hướng phát triển của các yếu tố đó để tổ chức công tác quản lý tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp cho kịp thời, phù hợp
Trang 29PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH NGẮN HẠN
TẠI CÔNG TY KẾT CẤU THÉP CƠ KHÍ XÂY DỰNG I) GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY KẾT CẤU THÉP CƠ KHÍ XÂY DỰNG 1) Loại hình doanh nghiệp và những đặc điểm cơ bản của công ty.
Loại hình doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức hay nguồn nhân lực của công ty có nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính của công ty Một doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bao giờ cũng có nhiều lợi thế hơn so với hầu hết các loại hình doanh nghiệp khác bởi đó là thành phần kinh tế chủ đao trong các thành phần kinh
tế ở nước ta Thành phần kinh tế nhà nước cũng đang là đối tượng được chú ý của quá trình đổi mới kinh tế hiện nay, thể hiện qua việc công ty hoá DNNN, chuyển DNNN thành công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần hay giải thể…để tạo
ra bước chuyển biến mới trong các thành phần kinh tế ở nước ta
Có thể nói công ty kết cấu thép cơ khí xây dựng ra đời trong thời kỳ mới,
thành lập ngày 28tháng 8 năm 2000 theo quyết định số 48/2000/QĐ-BCN của bộ trưởng bộ công nghiệp, mà mô hình được thành lập chủ yếu lúc bấy giờ chủ yếu là
công ty Các DNNN làm ăn không hiệu quả lúc bấy giờ đã chuyển dần từ nhà máy,
xí nghiệp (chủ yếu là sản xuất không cần lo đến tiêu thụ sản phẩm) sang hình thức công ty (vừa sản xuất vừa kinh doanh) tạo sự năng động hơn trong hoạt động
Công ty là hình thức kinh doanh tiên tiến nhất được áp dụng rộng khắp ở cả các
nước phát triển và đang phát triển Ưu thế nổi bật của hình thức công ty là tạo một
Trang 30pháp nhân kinh tế hoàn thiện thể hiện ở mối quan hệ giưa chủ sở hữu, người quản
lý công ty và người lao động được quy định rõ ràng, minh bạch Công ty được giao quyền tự chủ về tài chính, tự chủ trong tìm kiến nguồn hàng cũng như tiêu thụ sản phẩm, khác với các nhà máy xí nghiệp được nhà nước định giá sản phẩm, loại sản phẩm sản xuất và đặt sẵn trỗ tiêu thụ sản phẩm…
Công ty có văn phòng đại diện tại Thành phố Đà Nẵng và chi nhánh tại Tỉnh Hải Dương Tổng số cán bộ công nhân viên là 1281 người Vốn điều lệ tại thời điểm thành lập là: 27,095 tỷ đồng Ngoài ra công ty còn có các đơn vị thành viên hoạch toán phụ thuộc là:
∗ Nhà máy kết cấu thép-cơ khí Đông Anh, Hà Nội
∗ Nhà máy cơ khí Hồng Nam, Hà Nội
∗ Nhà máy quy chế cơ khí và xây dựng (tên cũ là xí nghiệp vật tư, thiết bị xây dựng Từ Liêm, Hà Nội)
∗ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và vật tư tổng hợp Đông Anh, Hà Nội
∗ Xí nghiệp kết cấu thép-cơ giới xây dựng, Thành phố Thái Nguyên
∗ Xí nghiệp xây lắp 5, Thành phố Thái Nguyên
∗ Trung tâm tư vấn xây dựng và thiết kế tại E1, Đường Giải Phóng, Quận Đống
Đa, Hà Nội
Công ty kết cấu thép cơ khí xây dựng được thành lập trên cơ sở tách một số nhà máy xí nghiệp thuộc công ty xây lắp và sản xuất công nghiệp, là một công ty
hoạt động theo mô hình tổng công ty bao gồm có một công ty bao trùm lên các
công ty thành viên, quản lý chủ yếu bằng quan hệ hành chính, tổng vốn bằng tổng vốn của các đơn vị thành viên và cơ cấu tài chính không có chiều sâu, ít hiệu quả
Điều này có ưu điểm là công ty có thể tổng hợp hoạt động của các đơn vị thành
viên và chi phối tình hình tài chính, đảm bảo ổn định về tài chính cho các đơn vị thành viên khi đơn vị này gặp khó khăn công ty có thể điều chuyển vốn từ các đơn
vị khác để hỗ trợ…Tuy nhiên, sự quá lệ thuộc vào công ty đầu não dẫn đến sự
Trang 31không chủ động trong hoạt động của các đơn vị thành viên, trách nhiệm tài chính sẽ tập trung vào công ty và khi công ty găp khó khăn sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của các đơn vị phụ thuộc.
Đến ngày 31 tháng 12 năm 2003, theo Quyết định số 241/2003/QĐ-BCN,
công ty kết cấu thép cơ khí xây dựng chuyển thành công ty cổ phần kết cấu thép
cơ khí xây dựng Việc chuyển đổi hình thức này tạo cho chủ sở hữu và các nhà
đầu tư yên tâm kinh doanh và đầu tư vào công ty Nó khắc phục được nhược điểm của hình thức DNNN là tài sản của nhà nước không có người làm chủ trực tiếp,
trách nhiệm và lợi ích không rõ ràng, không tích cực nâng cao hiệu quả sử dụng các
tài sản đó Nó khắc phụ được mặt chưa được của hình thức công ty trước kia là đã
xã hội hoá được tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất được xã hội hoá dưới hình thức phát hành cổ phiếu và bán cho người lao động cũng như người quản lý trong công
ty nhằm phát huy mọi nguồn lực, mở rộng khả năng huy động vốn…
Việc chuyển đổi hình thức này đã tạo ra một sự bình đẳng tương đối, buộc công ty phải thích nghi với sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh, trao cho công ty sự tự chủ về tài chính cũng là đặt công ty vào một môi trường đầy biến
động, nâng cao ý thức trách nhiệm tạo sự ổn định trong môi trường đó Nhược điểm của công ty là chịu thuế thu nhập cao hơn, lợi nhuận thu được có khi bị đánh
thuế hai lần (thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung) ngoài ra hình thức công ty cổ phần còn dễ dẫn đến sự tập trung quyền lực, thâu tóm hoạt động của công ty… nên đây là khó khăn và thách thức của công ty trong điều kiện nền kinh tế hiện nay
2) Cơ cấu tổ chức của công ty.
Công ty lựa chọn cơ cấu tổ chức theo hình tháp nón Đây là mô hình áp dụng
phổ biến ở các DNNN ở nước ta hiện nay Mô hình này bao gồm một người đứng đầu doanh nghiệp là giám đốc doanh nghiệp sau đó đến các đơn vị chức năng được
phân chia theo cấp bậc Mô hình này phát huy tốt vai trò của người quản lý trong
doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức đơn giản, rõ ràng, có tính trách nhiệm cao, cấp dưới chịu trách nhiệm với cấp trên và cấp trên lại chịu trách nhiệm với cấp quản lý cao
Trang 32hơn Có sự phối hợp tốt giữa các bộ phận, các cấp quản lý, tạo điều kiện kiểm tra,
giám sát đối phó với các vấn đề nảy sinh năng động hơn Tuy nhiên nhược điểm
của nó là hạn chế tính sáng tạo, nhiều cấp điều hành dễ phát sinh hiện tượng quan liêu trong tổ chức
Cơ cấu tổ chức của công ty được thể hiện qua sơ đồ trang bên
Sơ đồ
Trang 33Trong đó chức năng và quyền hạn của các bộ phận như sau:
Giám đốc công ty: Phê chuẩn quy chế tổ chức và kế hoạch hoạt động của
doanh nghiệp Quy định trách nhiệm, quyền hạn cũng như phân công các chức năng, tổ chức quản lý và sản xuất đối với các đơn vị thành viên Quản lý cán bộ công nhân viên, giải quyết các chế độ chính sách, thi hành kỷ luật đối với cán bộ thuộc diện quản lý Phê duyệt và ký các văn bản trong phạm vi thẩm quyền Giám đốc công ty vừa quản lý ở cơ quan công ty vừa quản lý đối với các đơn vị thành viên Là người ra quyết định và chịu trách nhiệm cao nhất đối với các quyết định của mình
Các phó Giám đốc theo chức năng và quyền hạn của mình giúp Giám đớc
trong việc quản lý công ty và góp ý kiến với Giám đốc trong việc ra quyết định Có
3 phó Giám đốc trực tiếp quản lý các hoạt động như sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật
và các hoạt động khác khi có yêu cầu
Phòng kế hoạch thị trường: Nghiên cứu, lập các kế hoạch sản xuất kinh
doanh, quản lý các dự án đầu tư, tổng hợp các kết quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và đề ra kế hoạch sản xuất đối với các đơn vị thành viên Điều tra khai thác thị trường nhằm mở rộng thị trường và danh tiếng của công ty Phòng này có mối quan hệ rộng rãi và chủ yếu với phòng kinh doanh xuất nhập khẩu và Phòng tài chính kế toán
Trang 34Phòng quản lý sản xuất: Quản lý nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản
xuất, đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra liên tục, quản lý nguyên vật liệu lưu trữ, sản phẩm…và quản lý thi công của các đơn vị thành viên
Phòng tổ chức lao động: Nắm bắt tình hình nhân sự tại công ty cũng như các
đơn vị thành viên, tổ chức đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm, sắp xếp lại nhân sự , bố trí và nâng bậc lương cho cán bộ công nhân viên công ty và các đơn vị thành viên
Kế hoạch tiền lương và chế độ chính sách đối với người lao động
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: Quản lý hoạt động kinh doanh của công ty
trong và ngoài nước Phòng kinh doanh đảm nhiệm từ khâu tìm kiếm nguồn hàng,
tổ chức mua bán vật tư và thiết bị đến giải quyết thủ tục xuất nhập khẩu và tiêu thu hàng hóa Giao dịch với khách hàng trong mua bán nguyên vật liệu, thi công lắp đặt
và trực tiếp tìm và nhận các công trình
Phòng kế toán tài chính: Quản lý tài chính, hoạch toán kế toán cho công ty và
các đơn vị thành viên hoạch toán phụ thuộc Cung cấp các Báo cáo tài chính và phân tích tài chính của công ty giúp Giám đốc ra quyết định Quản lý nguồn vốn, tài sản, phản ánh đầy đủ kịp thời tình hình nguồn vốn phục vụ việc tìm kiếm thị trường và thực hiện các dự án của công ty do đó phòng này có mối quan hệ với rất nhiều phòng ban khác vì phòng này trực tiếp trả lương, thu chi ngân quỹ của công ty
Phòng kỹ thuật cơ điện: Có nhiệm vụ quản lý về kỹ thuật nói chung và đặc
biệt là kỹ thuật cơ điện nên phòng này có nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo việc thi công các công trình đúng tiêu chuẩn kỹ thuật Ngoài ra phòng còn có chức năng thực hiện công tác cải tiến vệ sinh công nghiệp và kỹ thuật an toàn lao động
Văn phòng công ty: Giúp Giám đốc trong quản lý hoạt động hàng ngày của
công ty như tiếp khách, lập kế hoạch công tác, tổ chức công tác khen thưởng, hội họp, liên quan đến lĩnh vực hành chính Văn phòng công ty còn giúp Giám đốc trong việc phổ biến các văn bản cũng như quyết định của Giám đốc đến các đơn vị thành viên cũng như từng lao động trong công ty
Trang 353) Sản phẩm và thị trường của công ty.
3.1 Sản phẩm.
Sản phẩm chủ yếu của công ty là những nhà kết cấu thép, xây lắp nhà xưởng
và những thiết bị liên quan như điện, nước, cửa, máy móc…Đây là một lĩnh vực kinh doanh rất phù hợp trong điều kiện tốc độ công nghiệp hoá hiện nay ở nước ta
và có thể nói mức độ hoạt động của công ty liên quan đến sự vận động lên xuống của tốc độ công nghiệp hoá hiện nay Cụ thể lĩnh vực sản xuất và kinh doanh của công ty bao gồm:
*)Sản xuất các loại khung nhà thép, kết cấu các loại nhà công nghiệp và dân
dụng với kích thước theo yêu cầu Sản xuất các loại bông chứa, bao che và trang trí công trình như của sổ, của thông gió, máng nước…
*) Thi công, xây lắp các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng như:
đào đắp đất mặt bằng, mương, đê; thi côngvà gia cố nền móng công trình; đổ bê tông tại trỗ, đúc sẵn phục vụ xây dựng các khu nhà cao tầng và nhà máy công nghiệp; lắp đặt các thiết bị và hệ thống công nghiệp như máy móc, điện, nước, điện lạnh…; thi công các công trình đường dây và trạm biến áp đến 35kv…
*)Thiết kế, tư vấn xây dựng và lập dự toán các công trình xây dựng công
nghiệp và dân dụng, kiểm tra, thí nghiệm các chỉ tiêu kỹ thuật của các công trình…
*)Kinh doanh kim khí, vật tư tổng hợp và vật liệu xây dựng phục vụ xây dựng
các công trình
Các công trình công ty tham gia sản xuất, thi công, lắp đặt hay thiết kế được
chia làm 3 loại chính là: công trình công nghiệp, công trình dân dụng và công trình
điện thể hiện những sản phẩm chủ yếu của công ty như đã trình bày ở trên Cụ thể các công trình công ty đã tham gia thi công từ khi thành lập đến năm 2003 được thể hiện trong bảng sau:
1) Công trình công nghiệp
-Tổng giá trị thi công 79.502.523.000đ 63.614.131.000đ 111.438.157.000đ
Trang 36Nếu chia trung bình tổng giá trị hợp đồng cho số lượng hợp đồng có thể thấy
sản phẩm của công ty có giá trị lớn và giá trị hợp đồng tăng dần qua các năm
Trong đó một số công trình có giá trị lớn như công trình xây dựng nhà máy cán thép 30 vạn tấn/năm của công ty gang thép Thái Nguyên có giá trị là 25.286.859.000đ thực hiện năm 2003, hợp đồng cải tạo và mở rộng khu gang thép Thái Nguyên có giá trị 21.400.240.000đ năm 2001…
Các công trình công ty đã làm được chủ đầu tư đánh giá là phù hợp với yêu cầu sử dụng, đảm bảo tiện nghi và hình thức kiến trúc đẹp, theo kịp trình độ kiến trúc hiện đại tiến tiến Còn đối với hoạt động kinh doanh thì công ty luôn cung cấp hàng hoá theo yêu cầu của khách hàng một cách đầy đủ, nhanh chóng và với giá cả hợp lý
Công ty có khả năng tự sản xuất nguyên liệu cho quá trình thi công lắp đặt như sản xuất khung nhà thép cho thi công các công trình công nghiệp… và tự thiết
kế các công trình mà công ty đảm nhiệm Có thể nói đây là một quy trình khép kín
từ thiết kế đến sản xuất và thi công xây lắp Điều này giúp giảm đáng kể những chi phí trung gian nếu công ty phải mua ngoài hoặc thuê ngoài, tạo ra lợi thế kinh
Trang 37doanh cho công ty đồng thời giảm thời gian dự trữ lưu kho, nguyên liệu được sản xuất hay mua về theo nhu cầu thi công lắp đặt đã định trước.
3.2 Thị trường
Tuy công ty mới ra đời nhưng nếu kể đến quá trình hoạt động động của các
đơn vị thành viên trước khi công ty được thành lập thì công ty đã có một thị trường truyền thống ốn định và liên tục mở rộng thêm những thị trường mới Thị trường
truyền thống của công ty thể hiện ở hoạt động của các đơn vị thành viên trước khi công ty ra đời- từ năm 1960
Thị trường truyền thống của công ty là Thái Nguyên, Hà Nội và các tỉnh lân cận Đó là do các đơn vị thành viên của công ty được đặt tại Thái Nguyên và Hà Nội nên sản phẩm của công ty có một trỗ đứng vững vàng ở hai thị trường này Công ty đã nỗ lực tìm kiếm các thị trường mới ở các tỉnh có tốc độ công nghiệp hoá nhanh ở phía bắc, mở rộng thị trường vào miền trung và miền nam…Để thấy rõ về thị trường của công ty ta có hai bảng tổng hợp sau:
Bảng 1: Các công trình của công ty từ năm 1960 đến 1990
Thái Nguyên 14 32,56 Khu vực trung du miền núi phía bắc này
chiếm đến 81,39% thị trường của công ty
4 9,3 Khu vực miền núi Tây Bắc này chỉ chiếm
9,3% thị trường của công ty do điều kiện đường xá đi lại khó khăn và việc xây dựng các nhà máy công nghiệp chưa được chú trọng
Hà Tĩnh
Thanh Hoá
2 4,65 Cũng do điều kiện địa lý nên khu vực miền
trung này cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thị trường của công ty- 4,65%
Lào 1 2,32 Đây là công trình ở Sầm-Nưa và là công
Trang 38trình đầu tiên của công ty ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Bảng 2: Các công trình của công ty từ năm 1990 đến nay
Tỉnh/thành phố Số CT Tỷ lệ% Tỉnh/thành phố Số CT Tỷ lệ%
đã chú trọng đổi mới công nghệ, đầu tư thêm máy móc trang thiết bị từ sản xuất đến thi công, chú trọng mở rộng lĩnh vực sản xuất kinh doanh cho phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế giữa hai thời kỳ
Vùng đông bắc vẫn chiếm hơn 81% (81.21%) những đã mở rộng ra 15 tỉnh hơn trước 6 tỉnh lân cận Đây là những khu công nghiệp mới như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hải Dương, Lạng Sơn…đang được đầu tư xây dựng, điều này thể
Trang 39hiện sự nhạy bén của công ty trong việc tìm kiếm những thị trường phù hợp với ngành nghề kinh doanh của mình Ngoài ra công ty vẫn giữ được thị trường ở các tỉnh miền núi Tây Bắc và cũng đã phát triển đến các tỉnh khác tuy nhiên hướng đi này có vẻ không hiệu quả bởi miền núi này có tốc độ công nghiệp hoá chậm mà cơ
sở vật chất lại kém phát triển
Đặc biệt công ty đã thành công trong việc mở rộng thị trường vào miền trung
bằng việc mở một chi nhánh ở Thành phố Đà Nẵng đã làm cho số công trình mà công ty thi công tăng lên 13 công trình, tăng so với trước rất nhiều (2công trình) và chiếm 8,72% thị trường của công ty, đây là thị trường lớn thứ 2 của công ty sau các tỉnh phía bắc
Cũng bằng việc mở một chi nhánh ở Bình Dương năm 2002 công ty đã mở rộng thị trường ra các tỉnh phía nam như: Biên Hoà, Cần Thơ, An Giang… và TP
Hồ Chí Minh Đây là những khu công nghiệp mới ở phía nam, nhất là Biên Hoà và
Tp HCM, là những thị trường mới có tốc độ công nghiệp hoá và xây dựng nhanh trong tương lai
Tóm lại, sản phẩm của công ty là phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay và
có nhiều điều kiện để phát triển trong tương lai Công ty lại rất có lợi thế là các đơn
vị thành viên của công ty đảm nhiệm trọn gói các quy trình từ thiết kế đến sản xuất
và thi công lắp đặt Công ty có một thị trường truyền thống và thường xuyên ở các
tỉnh phía bắc, tạo trỗ đứng cho công ty trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, đó không những là thị trường ổn định mà các công trình còn có giá trị lớn mang lại nhiều nguồn thu cho công ty Ngoài ra, công ty cũng không ngừng tìm kiếm các thị trường tiềm năng ở các tỉnh miền trung và miền nam, việc xây dựng một thị trường tiềm năng tạo sự năng động trong kinh doanh của công ty và thể hiện sự tự chủ trong hoạt động
4) Tình hình tài chính của công ty
Nguồn thông tin quan trọng nhất để đánh giá tình hình tài chính của một công
ty là các báo cáo tài chính Các báo cáo tài chính của công ty được lập cho 3 năm
Trang 402001, 2002, 2003 trong đó có tính đến tỷ trọng các khoản mục trong tổng tài sản và
tỷ lệ tăng trưởng của các khoảm mục năm sau so với năm trước Bảng 3 là tổng hợp báo cáo kết quả kinh doanh của công ty trong 3 năm có lược bớt một số phần không cần thiết Bảng 4 là bản báo cáo kết quả kinh doanh đầy đủ của công ty trong năm 2003 Còn bảng 5 là bản cân đối kế toán ngắn gọn ngày 31/12 các năm 2001,
2002, 2003 của công ty
(Đơn vị tiền tệ trong các bảng đều là VND)
Bảng 3: Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh của công ty trong 3 năm
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002
Tỷ lệ tăng trưởng
Năm 2003
Tỷ lệ tăng trưởng 1) DT thuần 240,450,000,000 247,299,000,000 2.85 356,346,400,353 44.12 2) Tổng CP 240,324,000,000 246,251,000,000 2.47 354,620,206,641 44.02 4) TNTT 126,000,000 1,048,000,000 731.75 1,726,193,712 61.96
6) LNST 126,000,000 965,000,000 665.87 1,173,811,724 21.64