TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI Bước sans thế kỉ 21, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại bên cạnh việc đem lại cho nhân loại ngày càng nhiều cơ hội phát triển văn minh vật chấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
ĐỂ TÀI N G H IÊN CỨU K HOA HỌC CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
ÚNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC
DẠY ịiọc MÔN Cơ s ơ VĂN HOÁ VIỆT NAM
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ- ĐHQG HÀ NỘI
MÃ SỐ: Q N 02,02 CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC
CHỦ NHIỆM ĐẾ TÀI:
TS CHU THỊ THANH TÂM ị
Bộ môn Ngôn ngữ & Vãn hoá Việt nam
Trang 2M ỤC LỤC
Trang
PH ẦN M Ở ĐẦU
I Tính cấp thiết cùa đề tài 1
II Lịch sử vấn đề 4
III Mục đích của đề tài 5
IV Nhiệm vụ chính của đề tài - 7 6
V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
VI Ý nshĩa của đề tài 8
VII Phương pháp nghiên cứu 9
VIII Bố cục của đề tài 10
PH Ầ N NỘI DƯNG C h ư ơ n g I: Vai trò của Công nghệ thông tin trong giáo dục đại học 11
I Vai trò của Cõng n ghệ thông tin trong giáo dục đại h ọc 11
1.1 Sự ra đời và phát triển của c ỏ n s nghệ thôns tin 11
1.2 Côns nghệ M ultimedia 13
1.3.Vai trò của cõng nghệ Multimedia tronơ siáo dục đại h ọ c 16
II Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Cơ sở Văn hoá Việt N am ở trường Đ H N N - Đ H Q G H 21
II 1 Những ưu thế của công nghệ thông tin trong giảno dạy môn Cơ sở Văn hoá Việt N a m 21
II 2 Những điều kiện để thực hiện giảng dạy môn Cơ sở Văn hoá Việt Nam với sự hỗ trợ của công nghệ M ultim edia 23
II 3 Khả năng ứng dụng cônơ nshệ Multimedia trong giảng dạy
Trang 3môn Cơ sờ Văn hoá Việt Nam tại trường ĐHNN- ĐHQGHN 26
II 4 ứns dụng công nghệ thông tin vào 6 bài giảng mẫu 27
C ác khái niệm cơ bản về văn hoá Bo Nhập môn 28
B l Định nghĩa về văn hoá 29
B2 Đặc trưng và chức năng của văn hoá 35
B3 Cấu trúc văn hoá 36
Thành lố văn hoá B I6 Văn hoá nshệ thuật 37
T iểu k ết 42
Chương II: Bài 2Íảng điện tử (57 trang) C h ư ơ n g IU : Kết quả hướng dẫn học tập với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (360 trang) PH Ấ N K ẾT L U Ậ N 43
TÀ I LIỆU TH AM K H Ả O 45
Trang 4P H Ầ N M Ở Đ Ầ U
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Bước sans thế kỉ 21, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện đại bên cạnh việc đem lại cho nhân loại ngày càng nhiều cơ hội phát triển văn minh vật chất song cũng làm cho các nước trên thế giới, nhất là với những
Nước ta có theo kịp bước tiến của toàn_c_ầu hoá kinh tế, có giành được thế chủ động trong cạnh tranh xã hội quyết liệt hay không, trên một ý nghĩa nào đó, được quyết định bởi sự cạnh tranh về nhân tài Nhưng làm thế nào để có được nsuồn nhân tài điều đó là mối quan tâm hàng đẩu trong giáo dục đại học Bài phát biếu của GS Triệu Ngọc Lan- Đại học Bắc Kinh tại Hội thảo Đ ô n ? Á của bốn trường Đại học Quốc gia tổ chức vào ngày 24-25 tháng 10 nãm 2001 ở Hà Nội đã đề cập:
“Trước hết cần khẳng định ràng, giáo dục đạo đức với nội dung là vãn hoá truyền thốna dân tộc ưu tú phương Đ ô n ° là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng trons việc tiến hành giáo dục tố chất học sinh Nhân tài kiểu mới với tố chất cao mà các nước Đông Á đang cần khônơ chỉ cần có đủ giáo dưỡng
cơ bản về văn hoá truyền thống phương Đ ô n s m à còn phải có được tinh thần
dám tìm tòi và luôn sáng tạo Cần phải tiếp thu nguồn dinh dưỡnơ bổ ích của văn hoá phươns Tây và không ngừns hoàn thiện bản thân mình.” Ô no còn nói
“Trons thời đại ngày nay, người giáo viên đại học không chỉ cần có tri thức chuyên môn phonơ phú, đạo đức làm thầy cao đẹp, m à còn cần phải luôn luôn tiếp thu cái mới đổi mới tri thức.” Theo ông, cần thiết k ế lại chươn" trình và nội dung học luôn luôn đổi mới quan điểm, caỉ cách phirơns pháp trono mô
Trang 5hình giáo dục đại học, tận dụng đúng mức thôna tin mạng, kết hợp một cách hữu cơ giáo dục trí lực và giáo dục đạo đức
Tư tườns chỉ đạo của Đại học Quốc gia Hà Nội là một ví dụ: Sự hiểu biết về Công nghệ thông tin là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá trình độ của 2Íảng viên đại học hiện nay.
Từ cách nhìn nhận mới về khoa học xã hội, GS Trần Quốc Vượng cũng khẳng định: “Với thời đại tin học, gọi sử là “Science de Mémoire” là sai, ra đề
thi bắt sinh viên không được giở sách tham khảo là dở Vấn đề là đề thế nào
để sinh viên phát huy ý thức độc lập sáng tạo, say mê, tự tin” - Văn hoá trong việc dạy việc học và làm bài thi ở bậc đại học, Tạp chí Khoa học và Tổ Quốc
số 13 (147)5-7-2000
Vào ngày 25 và 26 tháng 3 năm 2004 đã diễn ra Hội nghị quốc tế lần
thứ hai tại 11 Lẻ Hồng Phons, Hà Nội với chủ đề Hội thảo/ Triển lãm ứng
dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục Ô n ° Patrick j McGovern, Nhà sáng lập và Chủ tịch Tập đoàn dữ liệu Quốc tế- IDG cho biết Thị trường CNTT trono siáo dục ờ nước ta đã lấy được 900 triệu USD từ ngân sách nhà nước trong năm 2004 Và ông cho rằng con số đó không dừng lại ở những năm tiếp theo
Trong hệ thốns các trường đại học ở Việt Nam, ĐHNN- Đ H Q G là một tnrờna sớm có nhất phòng Multimedia với mục đích ban đầu chuyên dùng để dạy và học ngoại ngữ, nay lại có thêm 4 phòno truy cập Internet Sự cấp tiến của lãnh đạo nhà trường cũng như sự nhiệt tình, tràn đầy sức trẻ và sán? tạo của Phòng Quản lý khoa học và Bồi dưỡnơ đã khơi dậy và thúc đẩy sự tiên phons đôỉ mới trong tất cả các môn học, trong đó có những môn dạy ở Hội trường bằng tiếng Việt ( những lớp có số lượng sinh viên trên 100 )
hệ đề tài nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy tại các trườns Đại học hiện nay ở Việt Nam mà trường ĐH N N là nơi có điểu kiên để thực hiện
Trang 6hình 2Ìáo dục đại học, tận dụng đúng mức thôns tin mạng, kết hợp một cách
hữu cơ giáo dục trí lực và giáo dục đạo đức
Tư tưởng chỉ đạo của Đại học Quốc gia Hà Nội là một ví dụ: Sự hiểu biết về Công nghệ thông tin là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá trình độ của aiảng viên đại học hiện nay.
Từ cách nhìn nhận mới về khoa học xã hội, GS Trần Quốc Vượng cũng khẳng định: “Với thời đại tin học, gọi sử là “Science de Mémoire” là sai, ra đề thi bát sinh viên không được aiở sách tham khảo là dở Vấn đề là đề thế nào
để sinh viên phát huy ý thức độc lập sáng tạo, say mê, tự tin”- Văn hoá tronơ việc dạy việc học và làm bài thi ở bậc đại học, Tạp chí Khoa học và Tổ Quốc
số 13 (147)5-7-2000
Vào ngàv 25 và 26 tháng 3 năm 2004 đã diễn ra Hội nghị quốc tế lần
thứ hai tại 11 Lẽ Hồng Phong, Hà Nội với chủ đề Hội thảo/ Triển lãm ứng
dụng Công nghệ thông tin trons eiáo dục Ông Patrick j McGovern Nhà sáng lập và Chủ tịch Tập đoàn dữ liệu Quốc tế- IDG cho biết Thị trường CNTT
trong năm 2004 Và ông cho rằng con số đó không dừng lại ở những năm tiếp theo
Trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam, ĐHNN- Đ H Q G là một trườna sóm có nhất phòng Multimedia với mục đích ban đầu chuyên dùnơ để dạy và học ngoại ngữ, nay lại có thêm 4 phòna truy cập Internet Sự cấp tiến của lãnh đạo nhà trường cũng như sự nhiệt tình, tràn đầy sức trẻ và sáng tạo của Phòns Quản lý khoa học và Bổi dưỡno đã khơi dậy và thúc đẩy sự tiên phong đôỉ mới trona tất cả các môn học, trong đó có những môn dạy ở Hội trường bằng tiếns Việt ( những lớp có số lượng sinh viên trên 100 )
ứng dụns CNTT vào giảng dạy một môn học là việc làm tất yếu trono
hệ đề tài n°hiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy tại các trường Đại học hiên nay ở Việt Nam m à trường Đ HN N là nơi có điều kiện để thực hiện
Trang 7Trong quá trình giảng dạy và nshiên cứu, chúng tôi thấy môn Cơ sở
Văn hoá việt Nam là môn học đòi hỏi sự hỗ trợ cùa CNTT nhiều nhất, bởi vì:
- Là môn lý thuyết liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học như Ngôn ngữ, Vãn chương, Nghệ thuật, Kiến trúc, Sử, Địa.v.v Lượns kiến thức rộns
do tích hợp đa chiều trong thực tế và sách vờ.
- Giáo trình viết theo các quan điểm khác nhau và số lượng tài liệu tham khảo để giảng dạy và học tập cực lớn.
- Môn học đòi hỏi nhiều tư liệu minh hoạ bằng âm thanh, m àu sắc và
hình ảnh động.
- Nói đến văn hoá ai cũng nshĩ đó là bề dày của lịch sử dàn tộc là
đẵng” , làm thế nào truyền tải trong giới hạn 3 đơn vị học trình để đạt được mục tiêu đề ra của môn học?
- Càna nsày vai trò của Văn hoá càns được n h ậ n thức lạ i, rõ hơn sâu hơn, cụ thể hơn và n h ậ n thứ c thêm
Nước ta đang trong quá trình hội nhập Nếu coi Vãn hoá là động lực của
sự phát triển thì tron® hoàn cảnh hiện nay ( đổi mới ), văn hoá càng đặc biệt coi trọns việc cập nhật thôn? tin để “tiếp thị đất nước” , “Sáp xếp tươn° lai” ( chữ dùna của Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên ) Văn hoá được xây dim s bans kinh nshiệm của người lớn tuổi và bằna nỗ lực xông pha của người trẻ tuổi cho nén việc dạy môn học nhằm trans bị kiến thức nền cho những người trẻ tuổi, trunơ tâm là sinh viên ( đối tượns trẻ tuổi có học ) xây d im s và hoàn thiện nhân cách cho lớp người vừa có tài vừa có đức, nhữns nsười làm chủ tương lai đất nước là vô cùng quan trọng, việc chọn lựa phươno pháp mới , có
sự hỗ trợ của Công nghệ thông tin là vô cùns cần thiết Giáo điều, độc thoại trong siảng dạy tạo nên nhĩmơ sản phẩm giống nhau hàne loạt là nên tránh
Sự hỗ trợ của Cônơ nghệ thông tin kết họp với cách dạy truyền thống sẽ đem lại hiệu quả cao cho người học trons thời đại hiện nay Riêng với trường
Trang 8Ngoại ngữ có rất nhiều thuận lợi để thực hiện học tập theo hướng này vì hầu hết sinh viên đẻu biết tiếng Anh, bên cạnh những ngoại ngữ khác theo chuyên ngành của họ
Trong niên luận của mình, sinh viên Phạm Thị Lan Hương PI K37 Ngoại ngữ đã đưa ra nhận xét về vai trò của CNTT đối với dạy và học: “ Với vai trò như vậy, những trường học có ứng dụng CNTT vào việc dạy và học luôn được sinh viên đánh giá cao, 97% sinh viên có nhu cầu học tại trường này Bời theo họ, chất lượng đào tạo ở trường này cao hơn trường khác, tạo điều kiện tốt nhất cho họ học tập và bắt kịp với xu hướng của thời đại.”
_ Với tất cả những lý do trên, chúng tôi quyết tâm chọn đề tài nghiên cứu
“ ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc dạy học môn Cơ sở Văn hoá Việt
ngừns nâng cao chất lượng giảng dạy, đem lại hiệu quả cho chương trình đào tạo cử nhân nsoại ngữ chất lượng cao của nhà trường
II LỊCH SỬ VÃN ĐỂ
ứng dụns CNTT trong giáo dục trên thế giới, đối với các nước tiên tiến
là điều quá quen thuộc, với ngay như một số nước Đ ô n s iNam Á cũn? khá phát triển Hai nước mạnh nhất về CNTT trên thế giới hiện nay là MT và Ân Độ Ảnh hưởng đầu tiên trên thị tnrờno phục vụ giảng dạy và học tập ở Việt Nam
là máv tính và các phần mềm CD ROM Sau đó là thiết bị dùng cho văn phòno hội thảo, giảng dạy, học tập của nhiều Công ty và Tập đoàn khác nhau như đã triển lãm trong Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về ứng dụng CNTT trong siáo dục
Cũng trons Hội nohị đó, chúns tôi đã được xem một số nhà giáo giới thiệu về việc ứns dụns; CNTT vào một bài giảng cụ thể đối với các môn lịch
sử, toán học, ám nhạc Nói chung, họ được trực tiếp, chủ động điều khiển các thiết bị ở đó, khôns như cách đây 2 năm chúnơ tôi trình diễn 2 tiết dạy môn
Trang 95.2 Mã hoá và lưu giữ tư liệu lấy từ thực tế và nhờ công n°hệ thông tin theo các định hướng sau ( sinh viên làm dưới sự hướng dẫn của giảng viên ):
- Thực hành khảo sát, miêu tả bằng hình ảnh, ghi chép từ 1 đến 2 Lễ
- Sưu tập băng đĩa về các di sản văn hoá thế giới ở Việt Nam
- Sưu tầm tục ngữ, ca dao địa phươns
- Nghe siảna viên nước ngoài giảng một vài giờ về văn hoá ngoại ngữ
mình học
- Thu hoạch sau khi nghe biểu diễn nshệ thuật truyền thống như Tuồng, Chèo, Rối nước
- Thử thiết kế một tour du lịch văn hoá trong phạm vi Hà Nội
6 Kháng định tầm quan trọng của việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy môn lý thuyết ở hội trường Tuy nhiên không làm mất đi tính nhân văn
lịch sử, làns nghề, giao lưu văn hoáv.vv
V ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nhữno khả năng ứng dụns của CNTT vào việc giảng dạy môn
Cơ sở văn hoá Việt Nam
- Những nội dung trong bài siảng đòi hỏi phải thể hiện bằng sư
hỗ trợ của CNTT
2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 10- Về nội dung ứng dụng để giảno dạy:
+Soạn toàn bộ bài giảng trong máy tính, thể hiện bằng Overhead
+Soạn trong PowerPoint toàn bộ đề cươna bài giảng
+ Hướng dẫn học tập có sự hỗ trợ của CNTT
+ Soạn giảng mẫu sử dụns Projector cho 6 tiết ứng với 2 buổi
theo lịch trình
Khâu kiểm tra đánh giá học tập cùa sinh viên cũng rất quan trọng Có
thể nói nó chính là một trong nhữns thước đo kết quả việc giảng dạy của
ớ trirờns ta Nhưng phạm vi hạn hẹp của đề tài không cho phép tiến hành
nghiên cứii ngay Chúng tôi hi vọns sẽ được nghiên cứu riêng vấn đề này
trong một dịp khác
VI Ý NGHĨA CỨA ĐỂ TÀI
1 Về lí luận:
Bước đầu hình thành cơ sờ lý thuyết khoa học của việc tư duy
một vấn đề thuộc khoa học xã hội và nhân văn có sự hỗ trợ của côns nghệ
thông tin - một bước đột phá so với cách tri nhận kiến thức cổ điển cũns như
xử lý một vấn đề theo phươns pháp cũ (truvền miệns: phiến diện, chủ quan,
thiếu dẫn chứna cụ thể, sinh động )
2 Về thực tiễn:
nghiên cứu và siảng dạy, đang tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau về giáo
trình, về kiến thức vãn hoá
r o n g
Trang 11- Đổi mới phương pháp giảng dạy Bài giảng trờ nên sinh độns, hấp dẫn hơn, gây hứng thú cho người học.
- Tích luỹ được nhiều tư liệu phục vụ cho tìms bài giảna một cách nhanh nhất, thuận tiện nhất
- Hình thành và từng bước nâng cao kĩ năng tin học trong việc
soạn giảng theo đặc thù của môn học
- Các thao tác giảng bài trở nên khoa học chính xác, nghệ thuật
và hấp dản cả về hình thức lẫn nội duns, góp phần đổi mới tư duy, khắc phục tác phona luộm thuộm, để thời gian chết và động tác thừa
- Nâng cao tinh thần chủ động, độc lập, sáng tạo cho sinh viên
trong quá trình học tập môn học trong thời đại bùns nổ thôns tin, sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật
VII P H Ư ƠN G PHÁP N G H I Ê N c ứ u
1 Đặc biệt chú trọng tính hệ thống của vấn đề nhất là mối quan hệ siữa
nội dung và hình thức, cụ thể là giữa nội duns các bài giảnơ với các hình thức thể hiện được lựa chọn từ Cống nơhệ thõng tin Tuy đề tài chủ yếu
khôn? vì thế mà lạm dụn°, bỏ qua nhữns phươnơ pháp truyền thốns
2 Triệt đê sử dụng phươns pháp miêu tả , so sánh và cách trình bày theo
sơ đồ, bản? , biểu, minh hoạ bằns âm thanh, hình ảnh độns
3 Khôn° phải chỉ n “hiên cứu việc íms dụng cỏ n ơ nghệ thòns tin vào việc
trong quá trình nghiên cứu đề tài và cách trình bày đề tài (VD: Cách lấy tài liệu trên mạng, tập hợp tài liệu theo thư mục hay mã hoá, trao đổi thòng tin qua thư điện tử, sử dụns chương trình PowerPoint để soạn bài siáng và cuối cùng là lưu lại trên USB )
Trang 124 Điền dã để lấy tư liệu cho nội duns nahiên cứu nhàm bổ sun° và minh chứng những gì còn chưa đủ và khác biệt với thôna tin trong sách vờ và trên mạn 2.
5 Vận dụns những tri thức về Mĩ thuật, điện ảnh, âm nhạc, nahệ thuật nói chung
6 Thiết kế bài giảng mẫu cùng với nhữns giải trình
7 Sử dụng những thiết bị bổ trợ cho quá trình nshiên cứu như chụp ảnh, quay camera, in ấn, photocopy
Ngoài phần mờ đầu và kết luận, nội dung đề tài 2ồm các phần sau:
*Chươns 1: Vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục đại học
và khả năng ứng dụng trong giảng dạy môn Cơ sở vãn hoá Việt Nam ở trường Ngoại ngữ
*Chưưn 2 2: Bài giảng điện tử
*Chươn 2 3: Kết quả hướng dân học tập với sự hỗ trợ của còng nghệ
thõng tin
*Phụ lục: Bài giảng minh hoạ ghi trong USB
*Tài liệu tham khảo
Trang 13P H Ẩ N N Ộ I D U N G
CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA CÔNG N G H Ệ T H Ô N G TIN T R O N G GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VÀ KHẢ NĂ N G ỎNG DỤN G T R O N G GIẢ N G DẠY
M Ô N c ơ SỞ V Ã N HOÁ VIỆT NAM ở TRƯỜNG N G O Ạ I N G Ữ
I Vai trò của còng nghệ thông tin trong giáo dục đại học
1.1 S ự ra đời và p h á t triển của công ng h ệ th ô n g tin
Vào những năm giữa thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời một côns nshệ mới mẻ và vào thời kỳ đó bản thán nó cũng chưa hình dung ra được những ứng dụng kỳ diệu của nó trong xã hội hiện đại Đó chính là công nshệ thông tin
là chiếc máy điện tử ENIAC được thiết kế vào năm 1948 Từ đó đến nay nhiều thế hệ máy tính đã ra đời và nơày một hoàn thiện hon M áy tính hiện nay đã có thể thực hiện được hàng tỉ phép tính trong một giây Hiệu quả sử dụng của máy tính vốn được mệnh danh là máy thông minh đã cho phép nó chiếm siữ được một vị trí không gì thay thế nổi trona mọi lĩnh vực xã hội
Trang 14Tin học hoá xã hội đã trờ thành một xu thế không thể đảo nơược nó kéo theo biết bao những đổi thay không phải chỉ hiện thời trước mắt mà còn
cả lâu dài, mà hệ thống giáo dục cùng với nội dưng và các phươnơ pháp oiảno dạy, đào tạo cũng không thê nàm nsoài xu hướng đó.
Những ứng dụng thực hành trong suốt 20 năm vừa qua đòi hỏi cấp bách
đưa tin học vào trong qui trình giáo dục, đào tạo từ nhà trườns phổ thôns đến các trung tâm đào tạo đại học.
Không phải chỉ ở các nước công nghiệp phát triển mà nsay cả ở những nước đang phát triển việc đưa tin học vào trong lĩnh vực giáo dục đều luôn
được nhìn nhặn từ những năm 80 như một hiện tượng không thê không xảy ra
Thực tế các trường học buộc phải quan tàm khai thác những khả năng hỗ trợ của tin học trong hoạt động giảng dạy cùa mình vì 3 lý do.
• Do nhu cáu phát triển của chính hệ thốnọ siáo dục Giáo dục và đào tạo khôna
Bời vì nếu khôns khoang cách giữa nội duns giảng dạy và thực tế vốn đã lớn nay sẽ càns lớn thêm
cùa xã hội đans tìm cách xác định cho rõ những nãng lực, nhữna kiến thức cần thiết cho việc xử lý các thôna tin và đào tạo cũn° như bổi dưỡno thêm cho lớp trẻ nhĩrns phẩm chất tươna xúng với phươns thức sản xuất mới
• LÝ do thứ ba là việc phát triển giáo dục đào tạo cần phải naàv một mờ rộna đến mọi đỏi tượng trong xã hội, nên mô hình các lớp học sinh có trình độ đồns đểu như thườne có trước đây nay đang dần chuyển thành tình trạns trình độ hoc sinh trone lớp thường khôns còn đồns đều nữa Trước tình trạns đó, để có thể vẫn đảm báo được chất lượns đào tạo, nsười giáo viên đans có một đòi hòi những hỗ trợ hiìu hiệu cho phép tiến hành quá trình giáo dục, đào tạo mans tính
cá thể hoá Tin học với tất cả những tính năns kỳ diệu của nó được coi như là một hỗ trợ quan trọng đáp ứns thoả đáng đòi hỏi cấp thiết của ne ười giáo viên.Chính sự hỏ trợ ngày càns hiệu quả của máy tính cá nhãn đã giải thích
Trang 15vì sao số lượns các máy tính được sử dụng trong các 2Ìa đình trên thế oiới
trong một chục năm qua lại tăng nhanh đến thế Ngay ở Việt Nam số lượn°
máy vi tính được đưa vào sử dụng từ mấy năm nay cũnơ tăns một cách đáng
kể Bên cạnh K do vì nhu cầu cấp thiết của công việc, nhặn thức về tính hữu
ích của m áy tính ngày một nâng cao mà còn cần phải kê đến việc giá máy tính
mấy năm qua ớ nước ta cũng giảm đáns kể (ước tính mỗi tháng truna bình
giảm 5%) Giá thành một chiếc máy tính hiện đã nằm ở tầm mà nhiều sia đình
đã trang bị máv tính là không nhỏ Số lượna các gia đình ở nông thôn có máv
tính cũng đane tãng trong thời gian gần đây Hầu hết các trường học hiện nay
đều có trang bị máy tính và môn tin học đã được đưa vào giảng dạy tại tất cả
các trường Bẽn cạnh bộ môn tin học, các bộ môn khác cũng đều nghiên cứu
khai thác nhữns khả nâng hồ trợ của côns nghệ thông tin cho quy trình siảns
dạy bộ môn mình G iảns dạy có máy vi tính hỗ trợ đã trở thành một thực tế
Thậm chí có thế hình dung ràng giảng dạy đại học là mỏi trường có thể tận
dụng hết sức hữu hiệu công nghệ thông tin đặc biệt là côno nghệ Multimedia
thườns được £ỌÌ là cô n s nshệ đa phươns tiện, một côns nshệ có thể thoả mãn
được những Yéu cầu rất đa dạns của giáo dục đại học
1.2.1 Khái niệm Multimedia (Đa pììương tiện)
Cho "den nay Multimedia được hiểu như là sự kết hợp của 4 phương tiện
chính:
tương tác ĩiữa máy tính và ngưò'i sửdụns
Trang 16Kết hợp chặt chẽ những kỹ thuật trẽn, nsười giáo viên cũno như hoc viên có thể tổ chức được những lớp học sinh độns hấp dẫn tích cực Côno
những tài liệu đa dạng, phong phú hỗ trợ nghe nhìn và đặc biệt bài giản° cónội dung cập nhật nhờ khả năng hỗ trợ của côna nghệ mạng
1.2.2 Các hình thái phái triển của Multimedia
Cho đến nay người ta thường nhìn nhận những ứng dụng cùa công nghệ Multimedia trẽn hai khu vực : Multimedia trên mạng (Intranet, Internet, ) và multimedia ngoài mạng (CD ROM )
• Multimedia ngoài mạng.
Công nshệ Multimedia ngoài mạng đầu tiên phải kê đến CD ROM CD ROM là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh Compact Disc Read Only Memory
chỉ một loại đĩa chứa đựng những thôns tin mà nsười ta chỉ có thể đọc được
Tuy mới ra đời vào nãm 1982 nhữns đến cuối năm 1991 trên thế aiới đã có trên 2 triệu đầu đọc CD ROM và có đến 12 triệu đĩa CD ROM trons đó chứa đựng 3500 phán mềm đang được thương mại ở cả các châu lục
CD ROM multimedia có nhữns ưu thế đặc biệt so với các kỹ thuật tin học khác Trước hết phái kê đến khả nãng lưu trữ to lớn của nó Mỗi đĩathườns có dune luợns 650 đến 700 MB - có nshĩa là một chiếc đĩa nhỏ bé vớiđườns kính 12 cm có thế chứa đựng được khoáng 250.000 trang văn bản có khổ A4 Chính khả năng lưu trữ kỳ diệu này đã cho phép gửi vào nó một số lượn2 to lớn các văn bản, hình ảnh, video, hoạt hình, âm thanh, các bản nhạc, lời nói Chính vì lẽ đó m à côns nghệ Multimedia kết hợp với nhỡn? khả
vào mọi lĩnh vực đời sons, xã hội, vãn hoá và giáo dục
Chi với khoàns hai chục đĩa CD ROM, người ta đã có thể lun trừ được thông tin của cá một thư viện với 17.000 cuốn sách dày chìma 300 trang
200 lài liệu âm thanh mà mỗi tài liệu có đô dài khoánc ba phút nrỡi
Trang 17Gần đây, một loại đĩa nữa mới ra đời với một kỹ thuật nén hình ành đặc biệt
ROM mặc dù kích cỡ của đĩa không thav đổi Đó chính là đĩa DVD Cả một cuốn
phim dài với hình ảnh, âm thanh chất lượng cao có thể đặt trọn trons một đến hai đĩa
và viễn thông Nhờ Internet người ta có thể trao đổi thông tin một cách nhanh chóng với những miền xa xôi, hẻo lánh Internet giúp chúns ta xoá bỏ khoảng cách, chỉ trong vài giây ta đã có thể kết nối với nhữns nguồn thông tin nằm khắp nơi trên trái đất này Có thế nói thư viện của toàn thế giới nằm naay trong tầm các bàn phím vi tính Các dịch vụ trên Internet hữu hiệu đến mức mà số lượng người sử dụng nó tãns không ngừng
• Nsôn ngữ được dụng để tạo nên trana mạng trên Internet cho đến nay thường là ngôn ngữ siêu văn bản HTM L (hypertext Mark Up Language) Naôn naữ siêu vãn bán cho chúns ta một kỹ thuật đọc hoặc viết một vãn bán có nhữns mối liên kết đa dạns với các văn bản khác Nó siúp chúns ta tổ chức các thôna tin không chì còn theo tuyến tính như trước đây mà còn tạo ra được nhữns mối liên kết đa chiều giữa nhữns thôna tin có cùng chủ điểm, cùng ngữ cánh Tại một văn bán-đans hiện trên màn hình máy tính, khi ta đưa con trỏ đến từ hoặc nhóm từ hay một hình ánh đã được thiết lập mối liên kết siêu văn bản thì con trỏ sẽ biến thành hình bàn tay với ngón trỏ; kích lén đó, ta có thể thâm nhập vào một trana mans mới, xem một tài liêu mới có thể nằm tại một máy chủ ở một nước xa xôi nào khác mà có những thông tin liên quan đến vấn đề ta quan tám Nhờ có kỹ thuật siêu văn bản mà ta có thể tìm kiếm những thỏna tin nhanh chóns ở nhiều thư mục khác, trang mạng khác thậm chí
ớ nhiều máy chú khác
Trang 181.3 Vai trò của còng nghệ Multimedia trong giáo dục đại học.
Thiết bị tin học multimedia có những khác biệt căn bản so với những thiết bị
chiếu, máy chiếu phim ra đời trước các phươns pháp Nghe nhìn Tát cả những thiết
bị dạy - học được sử dụng trước khi có thiết bị tin học multimedia ra đời được đánh giá có hiệu quả cho qui trình giảng dạy chương trinh hoá Tuy vậy các thiết bị này
thôi Một thiết bị phục vụ dạy học lý tưởns cần phải đàm nhiệm được 4 chức năns:
• Giới thiệu được nội dung môn học trona chương trình cho naười học
• Hiểu và lưu giữ được câu trá lời
• Phái đánh 2Íá và chữa được câu trả lời rày
Giáo cụ trực quan, mô hình, sa bàn, các thiết bị như máy shi âm, đèn chiếu, máy chiếu phim, rồi cá đầu bãng hình, máy vô tuyến truyền hình cho đến nay đều khôns đám nhiệm được đầy đù các chức năng này Nsược lại thiết bị tin học multimedia lại có thể thoả mãn được nhữna yêu cầu trên ở nhiều hoạt động, nhiều khâu trong quá trình dạy - học Có thể kể ra dưói đây 11 ưu thê của những thiết bị
multimedia tron 2 dạy - học.
1.3.1- Chươnạ trình dạy - liọc sù dụng thiết bị tin học multimedia có s ổ lượnVÍIII bán phong phú iliông tin dư clạng
Việc dạy - học với các phương pháp khỏns có thiết bị multimedia hỗ trợ luôn sập phải một trớ nsại đó là các chương trinh này cuns cấp cho thầy cũng như trò một số lượng vãn bản và thôn° tin rất hạn chế Quả vậy nội dung chương trình vốn được trình bày một cách truyền thống trên giấv Kỹ thuật và giá thành in ấn, kích thước và trọns lượns của sách siáo khoa khôns cho phép nsưòi biẻn soạn viết những cuốn sách có nội duns phong phú, có nhiều tài liệu tham khảo, nhiều tranh ảnh minh hoạ màu Chưa kê nhữns phức tạp của những tài liệu ám thanh, hình ảnh động gãy khó khăn khi muốn đưa nó vào trong giáo trình Nếu cuốn sách giáo khoa nào cũng
có độ dày ít ra là 500 đến 600 trang thì người dạy và naười học gập nhiều phiền toái Tinh hình đó buộc na ười biên soạn phải chuẩn bị bài rất cô đọns không thể đưa vào
Trang 19nhiều bài báo, tạp chí, tài liệu tham khảo, mờ rộng, trong khi đó người học lại mong muốn có được những tài liệu phản ánh những khái niệm cung như thực tế cùa mọi khu vực, dãn tộc trên thế giới Trình bày, giới thiệu các nội dụng phản ánh những
hoàn cảnh, tình huống và những lĩnh vực khác nhau trong đời sống’xã hội vốn rất đa dạng, phong phú một cách tường tận, cụ thể, chi tiết đang là một vấn đề nan giải đối với người giáo viên khi trong tay chỉ có những phương tiện, thiết bị truyền thống Ngay cả việc để lấp các chỗ thiếu hụt, người giáo viên có cho học sinh danh mục sách tham khảo thì các cuốn sách đó vẫn luôn bị hạn chế bời vấn đề in ấn, trọng lượng
Một chiếc máy tính cá nhân với ổ đĩa cứng hiện nay thường là một vài chục GB
đã có thể chứa được một lượng thông-ún khổng lồ Một ổ đọc đĩa CD ROM cho phép ta khai thác đĩa CD ROM có đường kính chì 12 cm với dung lượng thường là
650 đến 700 MB đã có thể chứa trên nó khoảng 250.000 trang văn bản khổ A4.Với khả nãna lưu trữ to lớn như vậy, người học ngoài các bài học chính khoá còn có thể tham khảo các tài liệu hỗ trợ phong phú đa dạng, các từ điển bách khoa toàn thư multimedia trên ổ cứng, trên đĩa CD ROM hoặc trên Internet
thể cho phép nsười giáo viên cũng như học viên tổ chức hoạt động dạy - học theo những phương thức mới chủ độnơ hơn, phong phú hơn, tích cực hơn
1.3.2- Với công nghệ multimedia giáo viên và học viên có thể tạo ra những tài liệu
âm thanh chất lượng cao, dễ dàng lưu trữ và khai thác chúng
Trong các chương trình dạy - học không có sự hỗ trợ của công nghệ multimedia người ta có thể liệt kê ra được một số thiết bị hỗ trợ về âm thanh sau đây: băng từ với máy ghi âm, bãng hình với đầu phát hình, phim nhựa với máy chiếu phim Một thời kỳ khá dài các thiết bị này hỗ trợ đắc lực cho một số hoạt động dạy - học: một mặt vì giá thành thiết bị không quá cao, mặt khác nó cũng không đến nỗi quá khó sử dụng Hiện nay cần phải nói rằn° máy cassette với băng từ vẫn còn luôn được đánh giá tốt Tuy nhiên các thiết bị này còn có nhiều yếu điểm: Nó không dễ dàng cho ta
Trang 20trình sử dụng rất dễ làm hỏng các băng từ.
Với các thiết bị tin học multimedia, nhiều yếu điểm trên được khắc phục Chất
lượng ghi âm được cải thiện đáng kể Do lưu trữ trên đĩa cứng hoặc đĩa CD ROM, các tài liệu cho phép khai thác sử dụng nhiều lần mà khôna làm 'giảm chất lượng
Các trục trặc vốn thường gặp ờ các máy thông thường không phải multimedia hầu
như không còn thấy vói thiết bị tin học multimedia.
Quả vậy, nghe đi nghe lại một tài liệu âm thanh hàng vài chục thậm chí hàng trăm lần vói máy tính không hề có vấn đề gì nhưng với máy ghi âm thì rất dễ làm hỏng băng hoặc làm máy trục trặc Hơn nữa các đĩa cứng cũng như CD ROM có thể lưu giữ không hề khó khăn những tài liệu âm thanh lâu dài mà không tốn kém.
1.3.3- Thiết bị tin học clio phép truy-câp thông tin dễ dàng, nhanh chóng
Trong quá trình dạy - học không có sự hỗ trợ của công nghệ tin học multimedia,
học viên phải lật mở tùng trang sách để tìm đến bài cần học Nếu họ muốn tìm lời
giải thích cho một khái niệm, nếu không hỏi được giáo viên thường họ sẽ phải tra từ điển bách khoa toàn thư Khi cần những kiến thức đất nước học, văn hoá học viên phải tra cứu từ nhiều nguồn tài liệu Rõ ràng những việc trên buộc học viên tốn nhiều thời gian Chưa kể là học viên không dễ dàng có được các tài liệu đó sẵn sàng trên giá sách Nhiều học viên lúng túng hoặc nản lòng khi không đủ thời gian hoặc thiếu nguồn tài liệu tra cứu Tin học với công nghệ multimedia giúp người học tránh được đáng kể những khó khăn này
Những năm gần đây, nhờ những tiến bộ của tin học, người ta đã chế tạo ra được những bộ xử lý có thể thực hiện được hàng tỉ phép tính trong một giây Nó cho phép
xử lý thông tin với một tốc độ hết sức nhanh chóng Chỉ với một động tác kích chuột, học viên gần như tìm thấy ngay thông tin mình muốn Kể cả những thông tin còn đang nằm ờ một máy chủ nào đó trên thế giới thì thời gian cũng chỉ tính bằng phút thậm chí là giây thôi Truy cập thông tin dễ dàng, nhanh chóng giúp cho người học hào hứng, tiết kiệm thời gian và như vậy hiệu suất học tập nâng cao hơn
1.3.4- Với thiết bị tin học multimedia, người học có thể chủ động lựa chọn cấp độ
và liến độ học tập cho riêng mình
Trên thực tế thật khó có được một lớp học mà tất cả học sinh có trình độ đồng
Trang 21đều và khả năng tiếp thu như nhau Đây là một khó khăn đối với các giáo viên khi giảng dạy trên lớp theo phương pháp truyền thống Các phần mềm dạy - học với công nghệ tin học Multimedia cho phép khắc phục được khó khăn này Khi n°ười học mắc quá nhiều lỗi trong khi làm một bài tập, máy tính sẽ khuỳến cáo và đưa ra cho học sinh những bài tập có cùng nội dung nhưng dễ hơn và ngược lại Với khả năng độc lập làm việc, học sinh có thể tự chọn cho mình một nhịp độ làm việc thích ứng riêng cho mình Trong nhiều phần mềm dạy - học người ta còn đưa vào đồng hổ đếm thời gian cho phép học sinh theo dõi được tốc độ làm bài hoặc để khống chế thời gian làm bài Nhờ kỹ thuật này người học có thể định lượng được những tiến bộ của mình trong quá trình học tập.
1.3.5- Công nghệ tin học Multimedia cho phép người học chủ động lựa chọn thời gian liọc tập thích hợp nhất cho mình
Tận dụng sự tích hợp nhiều phương tiện trên cùng một máy vi tính, nhiều nhà giáo học pháp - lập trình đã thiết kế những chương trình dạy - học với nhiều hoạt động phong phú theo nguyên tắc hoạt động độc lập, tự học Với khả nãns lường trước được những khó khăn học sinh gặp phải khi tiến hành các hoạt động lĩnh hội kiến thức và luyện tập kỹ năng, các phần mềm đã đưa ra những lời giải thích, chỉ ra nguyên nhân mắc lỗi, đưa vào những phần hỗ trợ lý thuyết, các bài tập bổ trợ, cho phép siảm đến mức tối thiểu sự can thiệp trực tiếp của người giáo viên Do vậy, quá trình học tập cùa một người học sinh không còn hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự hiện diện bắt buộc cùa người giáo viên như trong các phương pháp truyền thống Tính ưu việt này càng được đánh giá cao đối với những học viên không có điều kiện theo học một cách đều đặn các buổi học trẽn lớp
1.3.6- Sự hố trợ của máy tính điện tử Multimedia cho phép người học chủ động lựa chọn dược phương pháp học thích hợp cho mình
Nhờ kỹ thuật tổ chức các ngữ liệu dễ dàng truy cập, quy trình học tập khôno nhất thiết phải được tiến hành theo một trình tự cố định Máy tính cho phép người học đồng thời tiến hành nhiều hoạt động luyện tập Vì vậy, người học có thể lựa chọn cho mình phươna pháp làm việc thích ứng và hữu hiệu nhất: Người học có thể đi từ các phươnơ pháp quy nạp đến diễn dịch hoặc
Trang 22ngược lại Kho tài liệu đa dạng, phong phú giúp cho người học dễ dàng thực hiện các phươna pháp hệ thống hoạ, phân tích để rút ra những nhận định chính xác về những vấn đề cần tìm hiểu, nghiên cứu.
1.3.7- Công nghệ Multimedia cho phép tạo ra nhiều hoạt động học tập hấp dẫn thu hút sự chú ý của người học
Do khả năng có thể cung cấp cho người học âm thanh rõ ràng, hình ảnh màu sắc tươi đẹp, hoạt hình sinh động, tương tác người - máy mau lẹ, các hoạt động học tập
trờ nên hấp dẫn, người học không cảm thấy bị tách biệt khỏi môi trường phản ánh những khái niệm vãn hoá Mỗi khi hoàn thành các bài tập, người học có thể nhận
được từ máy những lòi nhân xét chính xác, những lời khen, động viên khi kết quả
tốt, nhũng lời khuyên, chỉ dẫn khi kết quả chưa đạt yêu cầu
Hơn nữa nhiều hoạt động học tập có thể được thiết kế, trình bày, tổ chức như các dạng trò chơi, giải trí Nhờ vậy mà người học không cảm thấy gò bó, bắt buộc, thậm chí lại còn có tâm lý thoải mái, phấn khích học tập
1.3.8- Các phẩn mềm dạy học được hỗ trợ bằng công nghệ tin học Multimedia có tính linh hoạt cao, có khả năng đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của người học
Trong quá trinh học tập, tuỳ theo hoàn cảnh, điểu kiện, vốn kiến thức của từng người mà mỗi naười học thường có những nhu cầu hỗ trợ khác nhau Những nhà biên soạn đã đưa vào trong các phần mềm nhiều chương trình trợ giúp, nhờ đó người học có thể dễ dàns vượt qua được những khó khăn gặp phải
Đặc biệt với khả năng phong phú phát triển những kiến thức vãn hoá , đất nước học, các phần mềm dạy-học có thể đáp ứng được nhiều đối tượng với những nhu cầu rất khác nhau
1.3.91- Các phần mềm dạy - học luôn tận dụng một đặc tính quan trọng của công nghệ tin học đó là tính chính xác
ỏ các phương pháp truyền thống, việc chấm nhiều bài làm của học sinh thường
bị coi là một cõng việc cực nhọc và mất nhiều thời gian Giáo viên dễ dàng bỏ sót lỗi của học sinh khi chấm bài Máy tính có thể giúp giáo viên khắc phục được những hạn chế này Máy luôn cho ra những lời nhận xét chính xác và máy sẽ chẳng "mệt mỏi" khi phải chấm nhiều bài Tất nhiên, ưu điếm này chỉ phát huy được mạnh mẽ