1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long

92 242 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 711,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi đang được đặt ra hiện nay tại các NHTM Việt Nam là làm thế nào để tăng cường huy động vốn, đặc biệt là huy động tiền gửi khách hàng – một nguồn huy động chiếm tỷ trọng lớn, là cơ

Trang 1

MỤC LỤC

2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn 39

2.1.4.2 Hoạt động sử dụng vốn 40

2.1.4.3 Hoạt động kinh doanh ngoại hối 41

2.1.4.4 Hoạt động dịch vụ khác 42

2.1.4.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 43

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn 39

2.1.4.2 Hoạt động sử dụng vốn 40

2.1.4.3 Hoạt động kinh doanh ngoại hối 41

2.1.4.4 Hoạt động dịch vụ khác 42

2.1.4.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 43

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu tiếp tục sa lầy mà lối thoát thì chưa thực sự rõ ràng, kinh tế Mỹ, Nhật Bản đều không mấy khả quan Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil… đều không còn giữ được phong độ tăng trưởng lạc quan như khoảng 3 – 5 năm trước Nhìn chung

là tăng trưởng kinh tế chậm lại, thất nghiệp tăng cao, sức mua hạn chế, nợ công nhiều hơn

Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt với những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại như lạm phát, thâm hụt cán cân thương mại, thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm Để có thể giữ ổn định kinh tế vĩ mô, hộ trợ các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩu trong điều kiện kinh tế suy thoái thì một nguồn lực có ý nghĩa quyết định không thể thiếu được đó chính là vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn

Trước tình hình đó, hệ thống Ngân hàng Việt Nam, với vai trò là huyết mạch cho các doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình phát triển từ khâu khởi sự,

đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế… phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn 20 năm đổi mới Câu hỏi đang được đặt ra hiện nay tại các NHTM Việt Nam là làm thế nào để tăng cường huy động vốn, đặc biệt là huy động tiền gửi khách hàng – một nguồn huy động chiếm tỷ trọng lớn, là cơ sở đáp ứng nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh doanh, cho nhu cầu mở rộng triển khai các dịch vụ mới và áp dụng công nghệ hiện đại hoá Ngân hàng

Xuất phát từ lý do trên cùng với khoảng thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thăng Long, được tiếp cận và tìm hiểu nhu cầu, thực trạng về huy động tiền gửi khách hàng tại đây, em nhận thấy quy mô huy động tiền gửi khách hàng còn chưa tương xứng với tiềm lực của Chi nhánh, do đó em lựa chọn đề tài “Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình

Trang 5

Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động tiền gửi của

NHTM

Chương II: Thực trạng huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Quân

đội – Chi nhánh Thăng Long

Chương III: Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tại Ngân hàng

TMCP Quân đội – Chi nhánh Thăng Long

Về nội dung, với phạm vi một chuyên đề tốt nghiệp, bài viết này trình bày chung về hoạt động huy động vốn từ tiền gửi của NHTM, phân tích thực trạng công tác huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thăng Long Qua đó đánh giá thực trạng huy động tiền gửi tại Chi nhánh đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác huy động tiền gửi tại Chi nhánh trong thời gian tới

Với vốn kiến thức ít ỏi và còn nhiều bỡ ngỡ do đó chuyên đề này của

em chắc chắn sẽ còn nhiều sai sót, do vậy em rất mong tiếp tục nhận đc sự chỉ bảo của thầy cô để em tiếp tục hoàn thiện đề tài của mình Thông qua đây em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo - Tiến sĩ Lê Thanh Tâm – Giáo viên trực tiếp hướng dẫn em, và các anh chị tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thăng Long Em xin cám ơn mọi người đã giúp đỡ em trong thời gian qua

Trang 6

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY

ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NHTM

1.1 Tổng quan về nguồn vốn của NHTM

1.1.1 Khái niệm nguồn vốn của NHTM

Vốn của các NHTM phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong sản xuất kinh doanh được gửi vào Ngân hàng với những mục đích khác nhau Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế

để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vốn và các hoạt động về huy động vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM Vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM

Cơ cấu vốn của NHTM bao gồm:

• Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là vốn tự có của Ngân hàng, nó là vốn điều lệ khi Ngân hàng mới đi vào hoạt động và được bổ sung thường xuyên Vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định do Ngân hàng Nhà nước quy định Vốn điều lệ quy định cho một Ngân hàng sẽ tuỳ thuộc vào quy mô và hoạt động của nó Tuỳ theo loại hình Ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành có thể khác nhau Vốn điều lệ của Ngân hàng có nguồn gốc hình thành do ngân sách Nhà nước cấp phát ban đầu nếu là NHTM quốc doanh còn nếu là Ngân hàng TMCP thì sẽ do các cổ đông đóng góp

Các quỹ dự trữ của NHTM được coi là nguồn vốn tự có và được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận ròng của Ngân hàng Theo khoản 1 điều 87 luật các tổ chức tín dụng thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy định về việc lập các quỹ từ lợi nhuận, các NHTM phải tiến hành trích lập các quỹ:

- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Được trích lập hàng năm theo tỷ lệ

5% trên tổng lợi nhuận sau thuế hàng năm tới mức tối đa do Ngân hàng Nhà nước quy định

- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Để dự phòng và bù đắp thiệt hại có nguy

cơ ăn mòn vốn do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, các Ngân hàng được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm theo tỷ lệ 10% cho tới khi

Trang 7

Vốn riêng của Ngân hàng được dùng để mua sắm tài sản cố định, các phương tiện cần thiết cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng nhưng không quá 50% vốn tự có, để tài trợ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ Ngân hàng và được sử dụng để hùn vốn liên doanh, mua cổ phần.

Vốn tự có và các quỹ so với tổng số vốn hoạt động của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ

• Vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng

Đây là khoản vốn hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong nguồn vốn Tuy nhiên một bộ phận đáng kể trong vốn tiền gửi này luôn luôn biến động do vậy khi sử dụng Ngân hàng luôn phải dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của những khoản tiền gửi, tiền gửi của khách hàng có 2 loại:

- Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của

người gửi tiền mà không quan tâm một kỳ hạn ký thác nào Đây là khoản tiền gửi thường xuyên biến động, Ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý, Ngân hàng có thể tận dụng ở một mức độ cho phép Mục đích của người gửi tiền là sử dụng những dịch vụ trung gian thanh toán của NHTM như giữ hộ, thu chi hộ… Ngân hàng không phải trả lãi hoặc có trả lãi nhưng với mức lãi suất rất thấp, chỉ mang tính tượng trưng Kinh nghiệm trong quản lý Ngân hàng cho thấy mặc dù tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của từng khách hàng có biến động do khách hàng thường xuyên có những khoản thu và những khoản chi nhưng trên tài khoản tổng hợp luôn có số dư có bình quân tương đối ổn định Vì vậy Ngân hàng có thể động viên những khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản không kỳ hạn làm nguồn vốn kinh doanh

Trang 8

- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra

khi đến thời hạn quy định Đây là bộ phận tiền huy động mang tính chất ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền huy động từ khách hàng Ngân hàng sử dụng chủ yếu để cho vay có kỳ hạn Chính điểm thuận lợi này mà Ngân hàng phải trả lãi cao vì mục đích của người gửi tiền là lợi nhuận

Ngoài việc huy động tiền gửi theo các hình thức truyền thống, ngân hàng thương mại có thể bổ sung vốn hoạt động của mình bằng cách đi vay từ các tổ chức và các tầng lớp dân cư thông qua phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu ngân hàng, nhưng phải được ngân hàng Nhà nước chấp nhận, Kỳ phiếu ngân hàng được phát hành rộng rãi Những người mua kỳ phiếu ngân hàng sẽ trực tiếp cho ngân hàng vay với lãi suất cố định thông báo trước Các tờ giấy nhận nợ này sẽ được ngân hàng thanh toán khi tới hạn ghi trên mặt kỳ phiếu Ngoài ra ngân hàng thương mại còn có thể vay ở ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các thương phiếu chứng từ có giá Vay của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng Ngân hàng thương mại cũng có thể vay ở ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài Vậy các ngân hàng thương mại đi vay khi nào?

- Ngân hàng vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh khoản của ngân hàng: Vì hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng là nhận tiền gửi

và với trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng Do vậy có những trường hợp số tiền dự trữ và số tiền mà ngân hàng nhận được trước đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút ra thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng, nghĩa là ngân hàng thiếu tiền trả cho khách hàng.Vậy ngân hàng phải đi vay

- Ngân hàng vay hộ cho khách hàng: Vì hoạt động cơ bản của ngân hàng là tài trợ cho nền kinh tế nên khi có khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân hàng và đảm bảo các yêu cầu mà ngân hàng đề ra thì ngân hàng sẽ cho vay Tuy nhiên, với những khoản vay với số lượng lớn, thời gian dài mà ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ số tiền mình có để đầu tư cho dự án này (vì rủi ro cao) vì như thế sẽ mất đi toàn bộ những cơ hội đầu tư khác Vì vậy

Trang 9

ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng phát hành trái phiếu nhằm thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ cho dự án Người ta chỉ phát hành trái phiếu vừa

đủ số tiền mà dự án cần dùng và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của

dự án

- Ngân hàng vay để cho vay: Hầu như toàn bộ số tiền trong lưu thông

đã trở thành tiền gửi tại các ngân hàng, nghĩa là các ngân hàng chia nhau nắm giữ lượng tiền trong lưu thông Để tăng lượng tiền gửi của mình, các ngân hàng thường tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi ở các ngân hàng khác chảy về Nhưng thực tế khi một ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi, để tránh sự chảy vốn các ngân hàng khác cũng sẽ đồng loạt tăng lãi suất lên làm chi phí ngân hàng tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi không đáng kể Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà ngân hàng cho là có hiệu quả thì ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi vay Do tính chất hoạt động không đồng đều giữa các ngân hàng về huy động vốn và sử dụng vốn nên những ngân hàng thiếu vốn có thể vay vốn ở những ngân hàng thừa vốn chưa sử dụng hết Mặt khác khi ngân hàng dự đoán được sự gia tăng về nhu cầu tín dụng trong tương lai mà nguồn vốn thì có xu hướng tăng không đáp ứng đủ nhu cầu vốn sử dụng trong thời kỳ tới thì ngân hàng cũng sẽ đi vay

- Ngân hàng vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau: Vào cuối kỳ hạch toán, nếu các chủ ngân hàng dự tính được thu nhập của kỳ đó lớn nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều Nếu họ cũng dự tính được kỳ sau

họ sẽ có những khoản chi phí lớn thì họ có thể phát hành kỳ phiếu nhắn hạn trả lãi trước nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau

• Vốn tiếp nhận

Ngày nay, hệ thống ngân hàng thương mại được tổ chức theo mô hình của tổng công ty và các công ty con gồm ngân hàng mẹ và hệ thống các chi nhánh ngân hàng trực thuộc Có một phương thức huy động vốn được sử dụng rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển nguồn vốn điều hoà Do tình hình kinh tế xã hội của các vùng hoạt động của ngân hàng chi nhánh là khác nhau Những chi nhánh ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên ngân hàng mẹ và xin được nhận một lượng vốn điều hào cần thiết cho hoạt động sử dụng vốn của mình Những

Trang 10

ngân hàng mà khả năng huy động vốn vượt quá khả năng sử dụng vốn thì đầu

kỳ cũng lập kế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về ngân hàng mẹ để được hưởng một lãi suất điều hoà Như vậy ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh ngân hàng trong nền kinh tế Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà thấp hơn chi phí nguồn vốn huy động nhưng tại sao các ngân hàng đều nhận nguồn vốn điều hoà sau khi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ sau, bởi vì tính độc lập của nó với ngân hàng mẹ Đây là một phương thức huy động vốn rất hiệu quả được áp dụng nhiều trên thế giới hiện nay

• Vốn uỷ thác đầu tư

Một số ngân hàng con thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại lý Khi đó trong cơ cấu vốn của ngân hàng con còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu

tư Khoản vốn này hình thành chủ yếu hình thành là do các tổ chức tài chính nước ngoài, trong nước uỷ thác cho ngân hàng một khoản tiền để ngân hàng thực hiện cho vay các dự án của mình Có thể là các khoản vay của Chính Phủ được uỷ thác

Trên đây là cơ cấu vốn chính của các ngân hàng thương mại Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng vốn Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo luật định về mức vốn huy động tối đa không vượt quá hai mươi lần vốn thuộc sở hữu của ngân hàng và phải chấp hành tốt các quy định về tỷ lệ dự trữ

1.1.2 Đặc điểm vận động của nguồn vốn NHTM

Ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc “đi vay để cho vay” Do đó khi huy động vốn, giữa Ngân hàng và các tổ chức kinh tế hình thành một quan hệ tín dụng thông qua vận động giá trị tiền gửi, vốn huy động được vận động trên cơ sở hoàn trả và có lãi Quá trình đó được thể hiện ở các giai đoạn sau:

- Giai đoạn tập trung nguồn vốn vào Ngân hàng: Ở giai đoạn này tiền

được chuyển từ các tổ chức kinh tế, dân cư, người cho vay sang Ngân hàng là người đi vay Như vậy ta thấy rằng đặc điểm cơ bản khác với việc đu mua bán hàng hoá là giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại Người bán và người mua đều

có một giá trị như trước, giá trị này mà họ đã nhượng đi, người thứ nhất

Trang 11

nhượng đi dưới hình thức hàng hoá, người thứ hai nhượng đi dưới hình thức tiền tệ, trong việc cho vay thì chỉ có một bên nhận được giá trị và chỉ có một bên nhượng đi giá trị.

- Giai đoạn sử dụng vốn: Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất sau khi

huy động vốn ngân hàng (người đi vay) được quyền sử dụng vốn đó để thoả mãn những nhu cầu về vốn nhất định ở giai đoạn này nguồn vốn huy động được sử dụng tham gia trực tiếp vào sản xuất hoặc đáp ứng những nhu cầu về tiêu dùng của người đi vay Tuy nhiên người đi vay không có quyền sở hữu

về giá trị các khoản vay đó mà chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định

- Giai đoạn hoàn trả: Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của

nguồn vốn huy động Sau khi vốn mà Ngân hàng đã huy động tham gia hoàn thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì Ngân hàng hoàn trả cho các tổ chức kinh tế và dân cư

Như vậy hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của nguồn vốn tín dụng Mặt khác sự hoàn trả của mỗi nguồn vốn huy động là quá trình quay trở về giá trị Hình thái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thức giá trị tuy nhiên sự vận động đó không phải với tư cách là phương tiện lưu thông mà với tư cách là một lượng giá trị vận động Chính vì lý do đó sự hoàn trả luôn được bảo tồn về mặt giá trị và phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức Ngay cả trong điều kiện lạm phát sự hoàn trả về mặt giá trị cũng phải được bảo đảm và tôn trọng thông qua cơ chế điều tiết bằng lãi suất

1.1.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM

• Huy động tiền gửi

Muốn làm ngân hàng cần có vốn riêng, tuy nhiên số vốn riêng lẻ chỉ là một tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà Ngân hàng cho vay Số vốn riêng của Ngân hàng thường chỉ để mua sắm, trang bị trụ sở Ngân hàng Trong thực tế, số tiền

mà Ngân hàng cho vay có nguồn gốc chủ yếu từ tiền gửi của khách hàng Do

đó huy động vốn tiền gửi là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM,

là mối quan tâm của các Ngân hàng

Tiền gửi là tiền mà Ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới danh nghĩa nào dù phải trả lãi hay không phải trả lãi, với quyền sử

Trang 12

dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả vào thời điểm mà người gửi yêu cầu (đối với các loại tiền gửi không kỳ hạn hoặc vào ngày đáo hạn đối với loại tiền gửi có kỳ hạn) Các khái niệm về tiền gửi theo quy định có mỗi liên quan mật thiết với tài khoản của khách hàng tại Ngân hàng Người gửi có thể lựa chọn một hoặc nhiều sản phẩm tiền gửi và có thể làm cho tài sản bằng tiền sản sinh ra lãi theo các dự đoán của mình.

- Huy động vốn trung và dài hạn: Muốn huy động vốn trung và dài hạn

(3,5 hay 10 năm) các NHTM có thể phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu NHTM phát hành giấy tờ có giá theo 3 phương thức là phát hành giấy tờ có giá ngang giá, phát hành giấy tờ có giá chiết khấu và phát hành giấy tờ có giá phụ trội

Về trả lãi phát hành giấy tờ có giá thường áp dụng 3 hình thức là trả lãi trước, trả lãi sau và trả định kỳ

Đặc điểm của nguồn vốn này là lãi suất rất cao nhưng tính chất ổn định cũng khá cao, không được rút trước hạn với bất cứ lý do nào, muốn rút vốn chỉ có thể bán lại trên thị trường thông qua nghiệp vụ chiết khấu Do vậy nguồn vốn này chủ yếu là dùng vào đầu tư trung và dài hạn

• Đi vay

- Vay của Ngân hàng Nhà nước: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu

cầu cấp bách trong chi trả của các NHTM Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ, NHTM thường vay Ngân hàng Nhà nước Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn Thông thường, Ngân hàng Nhà nước chỉ chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của Ngân

Trang 13

hàng Nhà nước trong từng thời kỳ Trong điều kiện chưa có thương phiếu, Ngân hàng Nhà nước cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.

- Vay từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn các

Ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng Các Ngân hàng đang có lượng dự trữ vượt yêu cầu sẽ

có thể sẵn lòng cho các Ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại các Ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời

để đảm bảo thanh khoản Như vậy nguồn vay các Ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ Ngân hàng Nhà nước

- Vay trên thị trường vốn: Đây là nguồn vốn Ngân hàng huy động một

cách chủ động trên thị trường tài chính Là trung gian tài chính, phải luôn đáp ứng nhu cầu về vốn, do vậy việc Ngân hàng thiếu vốn là điều không thể tránh khỏi Trong những trường hợp này, Ngân hàng có thể sử dụng nghiệp vụ huy động vốn trên thị trường tài chính như phát hành giấy tờ có giá trị như các giấy tờ vay nợ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Việc chuyển nhượng các giấy tờ trên từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác phụ thuộc vào thoả thuận giữa Ngân hàng và khách hàng Ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu Trái phiếu là một giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ Ngân hàng với cam kết thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do Ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của Ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh doanh

• Nguồn khác

Ngoài các nguồn trên, Ngân hàng còn thực hiện huy động vốn thông qua nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán và một số nguồn khác

NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu

tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác tại Ngân hàng Ngoài ra các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả,

Trang 14

tiền ký quỹ để mở L/C…) Các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả… cũng góp phần làm tăng nguồn huy động trong công tác huy động vốn của NHTM.

1.1.4 Vai trò của vốn trong NHTM:

Như mọi đơn vị kinh doanh khác, muốn hoạt động kinh doanh được tiến hành cần phải có tư liệu sản xuất Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên phải có tiền mới có thể hoạt động kinh doanh được Hoạt động tìm kiếm tư liệu sản xuất của ngân hàng thương mại là hoạt động huy động vốn Như vậy, huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, vốn là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải

có vốn, vì vốn phản ánh năng lực kinh doanh Điều này thể hiện ở vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay của ngân hàng Nếu vốn tự có giữ vai trò quan trọng trong việc thành lập thì sau khi đi vào hoạt động, vốn huy động quyết định tới quy mô đầu tư, cho vay nên sẽ ảnh hưởng tới thu nhập của ngân hàng

Vậy, nếu ngân hàng không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động kinh doanh Bởi vì, với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu Trên thực

tế, ngân hàng nào có khối lượng vốn lớn hơn thì ngân hàng đó có thế mạnh cạnh tranh trong kinh doanh

Thứ hai: Vốn ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của ngân

hàng thương mại

Vốn của ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh toán của các ngân hàng thương mại Thông thường so với các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng lớn có những khoản mục về đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi

và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng lớn hơn Trong khi các ngân hàng lớn hoạt động trên phạm vi toàn thế giới thì các ngân hàng nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong một khu vực nhỏ, trong nước Nếu khả năng về vốn của ngân hàng đó dồi dào thì ngân hàng có thể mở rộng được

Trang 15

các hoạt động của mình và đáp ứng được nhu cầu về vốn của khách hàng về cho vay, bảo lãnh, đầu tư

Ví dụ như :

- Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không quá 50% vốn tự có

- Cho vay đối tượng ưu đãi không quá 5% vốn tự có

- Cho vay tối đa một khách hàng không quá 15% vốn tự có

- Kinh doanh ngoại hối không quá 30 lần vốn tự có

Bên cạnhvốn lớn hay nhỏ thì chúng ta không thể coi nhẹ vai trò của tính ổn định của vốn Một ngân hàng có lượng vốn ổn định thì sẽ dễ dàng trong việc hoạch định việc cung ứng đầu tư cho vay Ngân hàng đó có thể dự kiến tương đối chính xác lượng vốn cung ứng, cho nên sẽ dự kiến được lợi nhuận trong tương lai khá chính xác

Thứ ba: Vốn giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh.

Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán Bởi vì khi đi vay vốn để thực hiện các hoạt động của mình, ngân hàng sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào đối tượng cho vay về thời hạn vay, số lượng vay và chi phí vay cao Do đó có thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh Ngược lại, ngân hàng có lượng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình, không phụ thuộc vào ai, không bị bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Nguồn vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động của ngân hàng như chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lợi

Thứ tư:Vốn giúp ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo

uy tín của mình trên thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín của mình trên thị thường là điều quan trọng Uy tín đó trước hết được thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng càng lớn Mặt khác, uy tín của ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng (ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án

Trang 16

lớn, thời hạn dài nếu như ngân hàng có nguồn vốn lớn) Điều này phụ thuộc vào hoạt động huy động vốn của ngân hàng Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả; vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thị trường.

Bên cạnh đó, một trong những công cụ lớn nhất của vốn tự có là tạo sự

uy tín trong công chúng Một ngân hàng có trụ sở là tài sản riêng càng đồ sộ chừng nào thì càng dễ gây tín nhiệm của dân chúng từng nấy Vốn tự có của ngân hàng càng lớn thì sức chịu đựng của ngân hàng càng mạnh khi mà tình hình kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của ngân hàng trải qua giai đoạn khó khăn

Thứ năm: Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Quy mô, trình độ cán bộ, công nhân viên, phương tiện kỹ thuật hiện đại của ngân hàng là tiền đề thu hút vốn Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế cả về quy mô tín dụng, lẫn việc chủ động về thời hạn cho vay và thậm chí trong khi quyết định lãi suất phù hợp với khách hàng Điều này sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với mình, nghĩa là doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên trong tương lai và ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh Hơn nữa, vốn của ngân hàng lớn sẽ giúp cho ngân hàng có đủ năng lực tài chính kinh doanh đa năng trên thị trường không chỉ cho vay mà còn đầu tư trên thị trường tiền tệ, liên doanh, liên kết, thực hiện dịch vụ thuê mua Và chính sự đa dạng hoá hoạt động sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo lợi nhuận cho ngân hàng, đặc biệt là tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngoài vốn chủ sở hữu (Thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn) các ngân hàng phải chú trọng tới việc tăng trưởng nguồn vốn nghĩa là phải làm tốt công tác huy động vốn

1.2 Huy động tiền gửi của NHTM

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Các khái niệm cơ bản

Thuở sơ khai (thế 16-17), những nghiệp vụ đầu tiên mà các ngân hàng

Trang 17

thực hiện đó là lưu giữ các vật có giá như tài sản bằng vàng bạc bởi vì trong giai đoạn này công chúng rất lo ngại về tình trạng mất mát tài sản do an ninh hoặc chiến tranh Những nhà buôn cũng cảm thấy an toàn hơn khi để tài sản của họ ở ngân hàng hơn là mang theo trong những chuyến đi Người chủ bảo quản phải đảm bảo trả lại chính những tài sản mà họ được giao bảo quản Tất nhiên trong những điều kiện như vậy, người bảo quản không thể tiến ahành các nghiệp vụ cho vay những đồng tiền bảo quản đó và không thể thu lợi nhuận Dần dần xã hội phát triển đã tạo điều kiện mà người gửi tiền không yêu cầu phải trả lại chính những đồng tiền họ gửi mà chỉ cần trả lại đủ số tiền

đó là được Thời hạn bảo quản cũng kéo dài thêm và khi đó xuất hiện khả năng sử dụng số tiền vay mượn để cấp tín dụng và thu lợi tức Nếu như trước

đó việc cấp tín dụng chỉ dựa vào vốn tự có thì bây giờ còn có thể sử dụng vốn vay mượn, đồng thời phải chú ý tới những điều kiện gửi tiền

Đối với người gửi tiền, ý nghĩa tiền gửi phụ thuộc vào mục đích gửi của họ Có thể là khách hàng mở tài khoản để hưởng các lợi ích từ công cụ thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho họ như séc chẳng hạn Hoặc có thể khách hàng gửi tiền vào để hưởng lãi cũng như gửi vào tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản định kỳ nhưng đổi lại họ không thể sử dụng các công cụ thanh toán của ngân hàng

Đối với ngân hàng, cho vay được coi là hoạt đồng sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tháng, nhiều năm và đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao Như vậy các loại tiền gửi đã tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Ở các nước đang phát triển, người ta định nghĩa tiền gửi là tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới hình thức nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền của người gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng hay bất cứ cách nào khác cũng

Trang 18

thâu nhập vào khoản tiền gửi của mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho người gửi Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng.

Các khái niệm về tiền gửi ở trên có mối liên quan mật thiết với tài khoản của khách hàng tại ngân hàng Người gửi tiền có thể lựa chọn các loại hình tiền gửi theo mục đích của họ và được hưởng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp, được hưởng lãi suất đồng thời có nghĩa vụ để ngân hàng sử dụng số tiền gửi đó cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả đúng theo yêu cầu của khách hàng Ngày nay, khách hàng có nhiều cách gửi tiền và có thể làm cho tổng tài sản bằng tiền sinh ra lãi theo các dự đoán và tính toán riêng của chính họ

1.2.1.2 Đặc điểm của tiền gửi

- Tiền gửi phải được thanh toán khi có sự yêu cầu của khách hàng,

ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn Hoạt động nhận tiền gửi được nhìn nhận như là một nghiệp vụ kinh doanh của NHTM, với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng thông qua mở cho khách hàng một tài khoản như tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi tiết kiệm Giao dịch nhận tiền gửi của Ngân hàng được hiểu

là cam kết song phương giữa NHTM với khách hàng gửi tiền, thông qua việc giao kết hợp đồng tài khoản tiền gửi Giai đoạn đầu, nó chỉ đơn thuần là một hợp đồng dịch vụ gửi tài sản, theo đó Ngân hàng đóng vai trò là bên nhận gửi

để được nhận thù lao Về sau, do nhu cầu khách quan của hoạt động kinh tế, giữa Ngân hàng và khách hàng có thêm thoả thuận Ngân hàng có thể sử dụng chính số tiền này để đầu tư nhằm mục đích sinh lợi, với điều kiện là phải hoàn trả cho người sử dụng toàn bộ số vốn đã sử dụng kèm theo một khoản tiền lãi nhất định tuỳ thuộc vào thời gian mà Ngân hàng giữ khoản tiền đó Giao dịch nhận tiền gửi đã được nhìn nhận là hành vi vay tiền từ công chúng với cam kết đảm bảo an toàn cho số tiền gửi đó cùng với nghĩa vụ hoàn trả cả lãi và gốc Việc Ngân hàng giữ các khoản tiền gửi này cho khách hàng không đơn thuần là một nghiệp vụ giữ hộ tài sản hay quản lý tài sản để nhận thù lao mà quan trọng hơn nó là nghiệp vụ huy động vốn – nghiệp vụ đi vay của NHTM

từ nền kinh tế Do đó khi người gửi tiền yêu cầu thanh toán thì Ngân hàng

Trang 19

buộc phải thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng.

- Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác Thông thường

chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng Tiền gửi là nền tảng cho sự phát triển của Ngân hàng Đây là khoản mục duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận trong Ngân hàng

- Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc Đây là một trong những

công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ Chính vì thế nên chi phí tiền gửi cao hơn trả lãi cho tiền gửi Khi huy động tiền gửi, Ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, Ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại Hiện nay, hầu hết các nhà quản lý Ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi – nguồn vốn quan trọng nhất của Ngân hàng Một mặt ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng Mặt khác ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất quá cao bởi điều sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả đúng thời hạn cũng như làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng

1.2.1.3 Phân loại

1.2.1.3.1 Tiền gửi giao dịch

Một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một

cá nhân hay cho bên thứ ba, được chỉ rõ là người thụ hưởng Tiền gửi giao dịch bao gồm tiền gửi giao dịch hưởng lãi và không hưởng lãi

• Tiền gửi giao dịch không hưởng lãi

Kể từ khi đạo luật Glass-Steagall được thông qua năm 1933, các ngân hàng Mỹ không được phép chi trả lãi đối với các tài khoản phát séc thông thường Quốc hội Mỹ lúc đó lo ngại rằng chi trả lãi cho tiền gửi giao dịch sẽ gây nguy hiểm cho sự an toàn của ngân hàng Tuy nhiên tiền gửi giao dịch là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất ngân hàng và khó có thể dự

Trang 20

báo về quy mô tiền gửi giao dịch có thể huy động, đồng thời kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất bởi vì nó có thể rút ra mà không cần báo trước Phần lớn tiền gửi giao dịch không ảnh hưởng đến lãi do các hãng kinh doanh nắm giữ Tuy nhiên ngày nay rất nhiều khách hàng đã chuyển sang các loại hình tiền gửi phát séc có hưởng lãi.

• Tiền gửi giao dịch hưởng lãi (chủ yếu là các loại tiền gửi không kỳ hạn)

Là các loại tiền gửi hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi có quyền rút tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn Ngân hàng sẽ sắp xếp loại tiền gửi này vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời gian không xác định Người vừa mới gửi tiền vào sáng nay, nếu cần anh ta có thể rút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày Nếu không có nhu cầu sử dụng, anh

ta có thể để một thời gian sau mới rút Tính bất định về thời gian gửi, cùng với đặc điểm có thể rút ra bất cứ lúc nào đã làm cho loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu

Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong các tài khoản không kỳ hạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc chuyển nhượng khi cần Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền trong tài khoản séc Khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú trọng đến tiền lãi Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thức tiền tệ khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt Khả năng tiện lợi của tiền gửi không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM đã phát hành ra nó Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp nơi trên lãnh thổ thì séc do chủ tài khoản viết ra

có hiệu lực thanh toán và được chấp nhận nhanh chẳng kém gì tiền mặt Đó là

lý do để tiền gửi không kỳ hạn được xem là loại hình gần tiền mặt nhất trong tất cả các loại tiền gửi của NHTM Khả năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt

là nhanh nhất vào bất cứ lúc nào và vì thế ở các nước phát triển, người ta xem

nó như là một loại tiền mạnh Tuy nhiên nếu ngân hàng mà chúng ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh hoặc không quan hệ tốt với các ngân hàng khác thì séc

có thể được chấp nhận thanh toán ở vùng này nhưng chưa chắc đã được chấp nhận ở vùng khác, vì vậy ở các nước đang phát triển séc vẫn chưa được xem

Trang 21

1.2.1.3.2 Tiền gửi phi giao dịch

mà ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn Lý do ở đây là ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay với thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Vì thế tiền thù lao nó trả cho khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa Tuy nhiên từ nhiều năm nay, những người

Trang 22

giàu có và các doanh nghiệp được cung cấp tài khoản gửi kỳ hạn xác định thường là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng Gần đây, tiền gửi kỳ hạn được phát hành với lãi suất thay đổi định kỳ thường là 90 ngày Tiền gửi loại này có kỳ hạn tối thiểu là 7 ngày và không được rút trước thời hạn Tiền gửi

kỳ hạn này rất đa dạng về chủng loại như chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng, không thể chuyển nhượng… Tiền gửi có kỳ hạn cũng có nghĩa là khoản tiền được gửi sẽ có thời gian gửi tối thiểu theo thoả thuận giữa ngân hàng và thân chủ, không được rút ra trước thời hạn đã nói trên Nếu vì lý do đặc biệt phải rút tiền ra trước kỳ hạn, NHTM có một trong 3 cách xử lý Một

là từ chối, họ đã từng có quyền làm như vậy trước đây bởi vì việc gửi tiền của khách hàng là một hợp đồng cho vay với thời hạn đã thống nhất Khi khách hàng đòi lại trước thời hạn, điều đó sẽ gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên thông thường ngân hàng áp dụng 2 cách mềm dẻo hơn là yêu cầu khách hàng phải báo trước ít nhất một khoản thời gian nào đó về ý định rút tiền hoặc với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi khách hàng sẽ rất thấp do khách hàng phải chịu lãi suất phạt vì đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng Thực tế hiện nay do áp lực của cạnh tranh, ngân hàng thường cho phép khách hàng tút ra trước thời hạn với điều kiện ngân hàng giảm lãi suất tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngân hàng có thể cho vay bằng cách mở một tài khoản đặc biệt cho việc này trong giới hạn số dư tài khoản tiền gửi định kỳ của khách hàng

Tiền gửi định kỳ là tiền tạm thời chưa sử dụng hoặc là tiền để dành của

cá nhân Vì vậy mục đích gửi tiền vào ngân hàng là nhằm tím kiếm lợi tức Tiền gửi có kỳ hạn thường phụ thuộc vào các thông số chính là lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp, lãi suất của các loại hình đầu tư khác như trái phiếu,

cổ phiếu và thu nhập của nhân dân Thông số đầu tiên là quan trọng nhất vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suất như thế nào để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng quản trị của các NHTM Tiền gửi có kỳ hạn thường dưới các dạng:

- Các chứng chỉ tiền gửi

- Chứng thư tiết kiệm

Trang 23

- Trái phiếu tiết kiệm

- Tài khoản hưu trí cá nhân

• Tiền gửi tiết kiệm

Được lập ra để thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch Trong khi chi phí phải trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiết kiệm nói chung thấp

Một khoản ký thác dưới hình thức tiết kiệm rất đa dạng và phổ biến trong nền kinh tế được NHTM huy động là các khoản tiền tiết kiệm trong

xã hội Loại ký thác này có đặc điểm là người gửi tham gia gửi tiền vào ngân hàng rất đông nhưng số tiền gửi từng lần thường ít về số lượng tuyệt đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng trong cơ cấu vốn ký thác huy động được

1.2.2 Tầm quan trọng của huy động tiền gửi đối với NHTM

Trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng, bắt buộc các ngân hàng phải huy động thêm vốn từ bên ngoài Trong đó nguồn vốn tiền gửi thường chiếm tỷ trọng trên 50% trong nguồn vốn huy động của NHTM Vốn tiền gửi góp phần tạo nên nguồn vốn lớn của NHTM và nó là nguồn huy động truyền thống, cơ bản của NHTM Nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngân gàng Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định, tạo điều kiện chủ động trong hoạt động kinh doanh của NHTM, là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của mỗi NHTM Vốn tiền gửi trong NHTM lớn thể hiện uy tín và lòng tin đối với dân chúng của ngân hàng đó trên thị trường

• Đối với ngân hàng

- Vốn tiền gửi góp phần lớn vào tổng số vốn, là cơ sở để ngân hàng tổ

chức mọi hoạt động kinh doanh Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn bởi vì vốn phản ánh năng lực kinh doanh chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh Riêng đối với NHTM vốn

là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, một cách khác ngân hàng không có vốn thì không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh Với đặc trưng của hoạt động ngân hàng, vốn là đối tượng và là phương tiện kinh

Trang 24

doanh chủ yếu, ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường, những ngân hàng nhiều vốn là những ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh

- Vốn tiền gửi góp phần quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các

hoạt động khác của ngân hàng Quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối

lượng tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng Thông thường các ngân hàng có vốn lớn thì đủ khả năng đáp ứng, mở rộng hoạt động tín dụng, tăng cường cơ sở vật chất, mở mang các loại hình dịch vụ sản phẩm mới trong khu vực thậm chí trong nước và quốc tế, phản ứng nhạy bén với sự biến động về lãi suất, thị trường trong cạnh tranh Ngược lại các ngân hàng nhỏ, ít vốn chỉ thu hẹp phạm vi và quy mô hoạt động ở một khu vực nhất định, khả năng cạnh tranh và phản ứng với biến động của thị trường hạn chế

- Vốn tiền gửi góp phần quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy

tín của ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở

rộng quy mô hoạt động, đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín là hàng đầu Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với vốn khả dụng nói riêng Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, hiệu quả, giữ được chữ tín với khách hàng

- Vốn tiền gửi góp phần quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Thực tế đã chứng minh ngân hàng có nguồn vốn lớn thì có điều kiện mở rộng quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế cả về quy mô, khối lượng, thời hạn, lãi suất cho vay Điều đó sẽ thu hút thêm ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động tăng lên và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi, hiệu quả trong kinh doanh Đây cũng là điều kiện thuận lợi để bổ sung vốn tự có, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực như kinh doanh đa năng, mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua Các hình thức kinh doanh này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm nguồn vốn, tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

Trang 25

• Đối với khách hàng

Khách hàng khi tham gia vào hoạt động huy động tiền gửi dân cư của NHTM sẽ có được thu nhập sinh lợi của tài khoản tiền gửi Thay vì gửi ở nơi khác có thể không an toàn hoặc đồng tiền không sinh lời hoặc lựa chọn hình thức đầu tư khác thì họ đã bỏ lỡ cơ hội kiếm được một khoản tiền trong tương lai Khi tìm đến ngân hàng họ tiết kiệm được một khoản lãi và hơn hết là được hưởng các dịch vụ và tiện ích mà các NHTM mang lại

Nếu như NHTM nâng cao hiệu quả huy động nguồn tiền gửi của mình, đồng nghĩa với việc họ tập trung được nhiều vốn từ phía nền kinh tế Tức là

cá nhân, tổ chức kinh tế đã sử dụng ngày càng nhiều các dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ tiền gửi Điều này làm thay đổi thói quen tiêu tiền cũng như tích luỹ tiền của các cá nhân còn các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế sẽ

dễ dàng hơn trong việc giao dịch và thanh toán trong nước, đặc biệt là các giao dịch quốc tế sẽ trở nên thuận tiện hơn Ngoài ra việc nâng cao hiệu quả huy động nguồn tiền gửi của các NHTM sẽ khiến cho các khách hàng được hưởng những dịch vụ mới và ngày càng phong phú

• Đối với xã hội

Lượng tiền gửi tiết kiệm huy động từ dân cư được sử dụng để bổ sung lượng vốn lớn cho nền kinh tế Thay vì sử dụng nguồn vốn đó vào việc chi tiêu khác hoặc để không, ngân hàng đã thúc đẩy được quá trình sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống một bộ phận dân cư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có thể tiếp cận với các nguồn vốn kích thích sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

Hiệu quả huy động nguồn tiền gửi nói riêng và hiệu quả huy động vốn nói chung của các NHTM được nâng cao sẽ góp phần làm cho nền kinh tế lưu thông và chuyển động tốt Việc các NHTM tập trung vốn hiệu quả là một điều kiện tiên quyết cho hoạt động sử dụng vốn, phân bổ vốn, đặc biệt qua hình thức tín dụng ngân hàng được hiệu quả hơn Tốc độ tăng trưởng tín dụng phụ thuộc trực tiếp vào tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động Nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng tốt cho thấy hoạt động đầu tư của nền kinh tế đang tiến triển,

Trang 26

tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế gia tăng.

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá

1.2.3.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi huy động

Quy mô nguồn tiền gửi được phản ánh qua khối lượng tiền gửi huy động được Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì quy mô nguồn huy động

từ tiền gửi là chiếm tỷ trọng cao nhất, có vai trò quan trọng nhất Công tác huy động tiền gửi không thể có hiệu quả khi nguồn tiền huy động không đạt quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng hay không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh Quy mô tiền gửi lớn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình, ngược lại quy mô tiền gửi thấp sẽ hạn chế khả năng mở rộng dịch vụ và quy mô hoạt động của ngân hàng

Quy mô nguồn tiền gửi huy động được trong một kỳ kinh doanh phản ánh kết quả thực tế của hoạt động huy động nguồn tiền gửi của ngân hàng Bất kể ngân hàng nào cũng muốn khối lượng tiền gửi huy động được dồi dào

và tăng trưởng để đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng Sau khi đã huy động được một khối lượng tiền gửi thì cái mà ngân hàng quan tâm lúc này chính là tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nguồn tiền Tính ổn định trong huy động nguồn tiền gửi là rất quan trọng, để đo lường nó người ta dùng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi huy động được qua các năm

Tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi qua các năm được tính theo công thức:

V= (m2-m1)/m1*100 (%)

Trong đó:

V là tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi

m1 là khối lượng nguồn tiền gửi huy động được trong năm trước

m2 là khối lượng nguồn tiền gửi huy động trong năm nay

Nếu:

V > 0 : Nguồn tiền gửi năm nay huy động được tăng trưởng so với năm trước

V < 0 : Nguồn tiền gửi năm nay huy động được giảm so với năm trước

V = 0 : Nguồn tiền gửi không tăng trưởng

Trang 27

-Ý nghĩa: Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi cho biết tốc độ

tăng quy mô nguồn tiền gửi là nhanh hay chậm so với năm trước Tốc độ tăng trưởng dương và càng lớn thì tốc độ tăng là càng nhanh và ngược lại

1.2.3.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi

Mỗi nguồn tiền gửi đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng biệt trong khai thác và huy động nên cơ cấu tiền gửi biến đổi sẽ dẫn tới sự biến đổi trong

cơ cấu sử dụng nguồn tiền đầu ra như cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo

sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động kinh doanh Một số chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn huy động tiền gửi là:

- Tiền gửi không kỳ hạn/Tổng tiền gửi hoặc Tiền gửi có kỳ hạn/Tổng tiền gửi: Phản ánh tỷ trọng của nguồn tiền gửi theo kỳ hạn Nếu tỷ trọng nguồn tiền gửi có kỳ hạn lớn chứng tỏ sự ổn định về thời gian của nguồn tiền gửi là cao

- Tiền gửi dân cư/ Tổng tiền gửi hoặc Tiền gửi doanh nghiệp và tổ chức kinh tế/ Tổng tiền gửi: Phản ánh tỷ trọng của nguồn tiền gửi từ các thành phần trong xã hội trên tổng tiền gửi

- Nội tệ/Tổng tiền gửi hoặc Ngoại tệ/Tổng tiền gửi: Phản ánh tỷ trọng tiền gửi nội tệ và ngoại tệ trong tổng tiền gửi…

Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phụ thuộc không chỉ một phần kế hoạch của ngân hàng mà còn chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu tiếp cận thị trường để xây dựng

cơ cấu hợp lý

1.2.3.3 Chi phí huy động nguồn tiền gửi

Nguồn tiền gửi huy động hình thành nên nguồn vốn nợ của ngân hàng

Để huy động nó, ngân hàng phải bỏ ra một khoản chi phí gọi là chi phí huy động vốn Chi phí huy động vốn bao gồm chi phí trả lãi và các chi phí khác như chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí quản lý, chi phí cho hoạt động Marketing, dự trữ bắt buộc…Trong đó, chi phí trả lãi chiếm chủ yếu và phát sinh trực tiếp từ nguồn tiền gửi huy động

Chi phí trả lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là chi phí trả lãi dựa trên lãi suất danh nghĩa, lãi suất mà ngân hàng công bố cho khách hàng Chi

Trang 28

phí này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như kỳ hạn, loại tiền gửi, chiến lược kinh doanh từng thời kỳ của ngân hàng Tuy nhiên lãi suất thực tế của việc huy động nguồn tiền gửi đối với ngân hàng cao hơn bởi vì ngoài chi phí trả lãi, ngân hàng còn phải bỏ nhiều loại chi phí khác nữa.

Để đánh giá được chi phí hoạt động mà ngân hàng bỏ ra để huy động nguồn tiền gửi là hợp lý hay không, ta cần xem xét chỉ tiêu chi phí huy động nguồn tiền gửi qua công thức sau:

CP HĐTG = Chi phí trả lãi / Tổng NTG

Trong đó:

CP HĐTG : Chi phí huy động tiền gửi

Tổng NTG : Tổng nguồn tiền gửi

-Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho ta biết để huy động được một đồng tiền gửi,

ngân hàng phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí

Như vậy, khi xem xét hiệu quả huy động nguồn tiền gửi, chi phí cho một đồng tiền gửi phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí bỏ ra và có lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động nguồn tiền gửi càng có hiệu quả Tuy nhiên để giảm tỷ số này thì việc giảm chi phí trả lãi phải cân nhắc kỹ càng để không ảnh hưởng đến việc thu hút khách hàng gửi tiền, nếu không sẽ làm cho cả tổng nguồn tiền gửi huy động giảm theo

1.2.2.4 Hiệu quả sử dụng nguồn tiền gửi huy động

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn tiền gửi huy động vào việc cho vay bằng cách xét tỷ lệ dư nợ trên nguồn vốn tiền gửi huy động Thông thường khi nguồn tiền gửi huy động ở Ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so với tổng nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường gấp nhiều lần so với vốn tiền gửi huy động Nếu ngân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ nguốn vốn cấp trên thì không hiệu quả bằng việc sử dụng nguồn vốn huy động được Do vậy, tỷ lệ này càng gần 1 càng tốt cho hoạt động ngân hàng, khi đó ngân hàng sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn huy động được

Công thức:

Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động= Dư nợ/ Nguồn huy động * 100%

Trang 29

- Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia

vào dư nợ Nó còn cho biết khả năng huy động vốn tại địa phương của Ngân hàng Nếu chỉ tiêu này lớn thì khả năng huy động vốn của Ngân hàng thấp, ngược lại chỉ tiêu này nhỏ thì Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động không hiệu quả

1.2.3.5 Sự gia tăng số lượng khách hàng:

Không ngừng nâng cao và cải tiến ngân hàng bên cạnh duy trì tài khoản với khách hàng cũ thì họ còn tìm cách tìm kiếm các khách hàng mới Các ngân hàng thực hiện tăng cường huy động vốn tiền gửi thông qua nhiều hình thức, đa dạng các kỳ hạn gửi tiền, loại tiền gửi Mục tiêu là gia tăng số lượng khách hàng Để biết được kết quả huy động vốn người ta căn cứ vào số lượng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng Dân cư và các doanh nghiệp là đối tượng huy động vốn hiệu quả ngân hàng, đây là các thành phần chính tham gia vào sự phát triển của hoạt động kinh tế Nếu nhà nước kiềm chế lạm phát,

ổn định đồng tiền thì mức độ tăng trưởng huy động vốn tiền gửi của NHTM

tỷ lệ thuận với số khách hàng đến giao dịch

Tài khoản tiền gửi tiết kiệm có mục đích là tích luỹ cho tương lai, ở các nền kinh tế đang phát triển, thói quen dùng tiền mặt vẫn chiếm đa số thì việc

mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm với bộ phận dân cư có thu nhập nhàn rỗi vẫn

là ưu tiên hàng đầu Khi mà việc huy động vốn của các ngân hàng dành ưu tiên cho các tài khoản tiền gửi tiết kiệm thì việc mở rộng quy mô huy động vốn của ngân hàng cũng tỷ lệ thuận với số lượng tài khoản tiền gửi tiết kiệm được mở

1.2.3.6 Sự đa dạng và hiện đại của phương tiện thanh toán

Thực hiện thanh toán qua ngân hàng cho các cá nhân, doanh nghiệp là

xu hướng trong đại bộ phận dân cư hiện nay, thay thế cho thói quen sử dụng

và cất trữ tiền mặt Ngân hàng có chức năng tạo phương tiện thanh toán cho khách hàng Do đó việc tăng cường huy động tiền gửi dân cư theo cả hình thức mở tài khoản giao dịch hay tiền gửi tiết kiệm đều có chức năng tạo phương tiện thanh toán, tăng cường huy động tiền gửi để ngân hàngđể có thể cải thiện đáng kể nguồn vốn của mình, có đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn

Trang 30

1.3.1.2 Chính sách lãi suất của NHTM

Lãi suất được xem là giá cả của sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng Trong hoạt động huy động nguồn tiền gửi của các NHTM, chính sách lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó Đối với ngân hàng thì lãi suất huy động chính là chi phí huy động mà ngân hàng phải chịu Đối với khách hàng thì đó là phần lợi ích được hưởng Một mức lãi suất huy động đưa ra chịu sự ràng buộc của yếu tố chính sách luật pháp vừa phải đảm bảo tính cạnh tranh so với các ngân hàng khác để thu hút khách hàng, vừa phải đảm bảo tính hợp lý về chi phí huy động mà ngân hàng có thể gánh chịu được

Một lượng đáng kể nguồn vốn của ngân hàng là thu hút từ khu vực dân

cư, bộ phận khách hàng này gửi tiền vào ngân hàng với mục đích chính là để hưởng lãi vì vậy lãi suất là điều mà họ quan tâm và đây cũng là những đối tượng rất nhạy cảm với lãi suất

Hiệu quả của việc huy động nguồn tiền gửi liên quan trực tiếp đến việc

so sánh giữa kết quả với chi phí bỏ ra để có kết quả đó mà cơ sở để tính toán chi phí huy động nguồn tiền gửi phần lớn dựa vào lãi suất huy động nguồn tiền gửi của ngân hàng Vì thế các NHTM cần phải cân nhắc rất kỹ càng khi đưa ra chính sách lãi suất huy động cho mình để đảm bảo hài hoà giữa tính hợp lý về chi phí và tính cạnh tranh

Hiện nay, một số ngân hàng đã sử dụng chính sách lãi suất rất linh hoạt

Trang 31

để thu hút khách hàng gửi tiền như chia nhỏ lãi suất theo nhiều thời hạn khác nhau kể cả lãi suất cho tiền gửi 2 tháng ở các ngân hàng đầu tư và để không ứ đọng vốn thì họ phải giảm lãi suất cho vay, tuy nhiên sự tăng giảm này phải trong biên độ cho phép Các dịch vụ gia tăng giúp các khách hàng có sự lựa chọn đúng đắn khi gửi tiền.

1.3.1.3 Chính sách khách hàng của NHTM

Tuỳ từng đối tượng khách hàng mà ngân hàng có chính sách khác nhau,

có cách ứng xử phù hợp Với những khách hàng lâu năm, khách hàng giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn thì ngân hàng có chính sách khích lệ,

có thể về lãi suất, tiền mặt hoặc quà nhằm giữ chân khách hàng Hàng năm, một số ngân hàng tổ chức gặp gỡ khách hàng truyền thống của ngân hàng bao gồm khách hàng vay, khách hàng gửi,khách hàng thường xuyên giao dịch với ngân hàng nhằm làm tăng mối quan hệ tốt với khách hàng và gây thêm chú ý

về ngân hàng với dân chúng

1.3.1.4 Uy tín của NHTM

Uy tín là tài sản vô hình của ngân hàng, cũng là tài sản quý giá trong công tác huy động vốn, khi đó khách hàng sẽ tin tưởng vào ngân hàng, giúp ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn huy động, tiết kiệm chi phí huy động Ngân hàng có tiếng tăm dễ thu hút vốn hơn các ngân hàng khác kể

cả khi lãi suất tiền gửi họ đưa ra thấp hơn

Khi người dân gửi tiền vào ngân hàng, họ tin tưởng ngân hàng là nơi giữ tiền an toàn Nhưng do nền kinh tế có biến động trong quá trình phát triển,

có thể xảy ra những biến động xấu và ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng, ảnh hưởng tới tâm lý người dân Chính vì vậy việc bảo hiểm tiền gửi là điều hết sức cần thiết bảo về quyền lợi cho khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng

1.3.1.5 Hoạt động marketing của NHTM

Với hoạt động huy động nguồn tiền gửi của NHTM, hoạt động marketing đóng vai trò rất quan trọng Chính sách marketing của NHTM bao gồm chính sách sản phẩm giá cả, phân phối…sẽ tác động đến khả năng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng như thế nào, được khách hàng tiếp nhận ra sao

Trang 32

Bởi kết quả hoạt động huy động nguồn tiền gửi tốt tức là tối đa hoá được khối lượng huy động tiền gửi của mình Để nâng cao hiệu quả đó, đòi hỏi ngân hàng phải nghiên cứu từng nhu cầu của từng loại khách hàng khác nhau để đưa ra những sản phẩm thích hợp Một ngân hàng thiết kế nhiều sản phẩm huy động khác nhau với những mức lãi suất khác nhau, những tiện ích

đi kèm phong phú sẽ đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người gửi tiền hơn

Ngoài ra không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của ngành quảng cáo trong thời đại ngày nay Ngân hàng cần quảng cáo hình ảnh của mình trên áp phích, ấn phẩm của địa bàn nhằm đưa hình ảnh ngân hàng đến với công chúng nhiều hơn, qua đó công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ thuận lợi hơn

1.3.1.6 Chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên

Hoạt động huy động tiền gửi là hoạt động truyền thống, khách hàng có thể tìm kiếm dịch vụ này ở bất kỳ ngân hàng nào Hiện nay số lượng các NHTM rất lớn, khách hàng đứng trước sự lựa chọn sử dụng dịch vụ của các ngân hàng khác nhau Ngoài giá trị cốt lõi mà sản phẩm tiền gửi đem đến cho khách hàng thì chất lượng phục vụ là yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng về hình ảnh ngân hàng cũng như quyết định lựa chọn sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng

Công tác huy động có thành công hay không phụ thuộc vào chất lượng phục vụ mà chủ thể chính là con người Ngân hàng là một ngành có tốc độ đổi mới và cải tiến rất cao vì thế khả năng tự học, tự đào tạo của nhân viên sẽ có ý nghĩa quyết định với việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng Chất lượng phục vụ thể hiện qua thái độ nhiệt tình, nhẫn nại, cởi mở…của nhân viên đối với khách hàng, cùng với những thông tin mà nhân viên đem đến cho khách hàng không chỉ tạo ra văn hoá doanh nghiệp cho ngân hàng mà còn tác động tích cực đến hoạt động huy động nguồn tiền gửi nói riêng và các hoạt động khác nói chung Ngược lại nếu một ngân hàng bị khách hàng đánh giá là chất lượng phục vụ kém sẽ làm xấu đi hình ảnh của ngân hàng đó, làm giảm tính cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng

1.3.1.7 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin

Để thay đổi thói quen của khách hàng, khiến khách hàng ngày càng ưa

Trang 33

thích sử dụng dịch vụ của ngân hàng hơn thì ngân hàng phải làm cho việc tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ trở nên thuận tiện với khách hàng Ứng dụng tiến bộ công nghệ thông tin chính là công cụ giúp ngân hàng vươn dài hơn cánh tay của mình, đặc biệt đối với hoạt động huy động nguồn tiền gửi, việc ứng dụng các phần mềm ứng dụng rất cần thiết Ngân hàng cần trang

bị cơ sở vật chất, thiết bị máy móc phục vụ cho hoạt động kinh doanh tốt,

có phương tiện bảo vệ và vận chuyển tiền đảm bảo Hệ thống thông tin liên lạc, máy móc phục vụ cho hoạt động huy động tiền gửi đầy đủ Tổ chức cơ

sở vật chất, công nghệ hạ tầng hợp lý trên địa bàn dân cư giúp ngân hàng

có nhiều cơ hội để thu hút vốn hơn, giúp khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí để thực hiện giao dịch Mở rộng mạng lưới giao dịch tập trung chú trọng vào khu vực đông dân cư

Khách hàng sẽ đến gửi tiền nhiều hơn nếu như họ biết rằng thủ tục nhận tiền gửi rất nhanh chóng, việc rút tiền cũng tiện lợi, thời gian giao dịch nhanh thông qua các phần mềm xử lý của ngân hàng, những điểm rút tiền tự động Tính hiện đại, chuyên nghiệp trong công tác huy động tiền gửi sẽ củng

cố niềm tin của khách hàng và thu hút họ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn

1.3.2 Nhân tố khách quan

1.3.2.1 Môi trường kinh tế

Nền kinh tế là tấm phông mà hoạt động của NHTM diễn ra trên đó Tất yếu những biến động của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các NHTM cũng như những hoạt động của nó bao gồm cả huy động nguồn tiền gửi dân cư Việc khối lượng tiền gửi vào ngân hàng có tăng lên hay không tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của chính khách hàng có chọn kênh gửi tiền vào ngân hàng hay không bởi ngân hàng chỉ là một trong những kênh đầu tư trong nền kinh tế

Sức khoẻ của nền kinh tế biểu hiện ra thông qua các biến số cơ bản như

tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng…sẽ gây ra ảnh hưởng đến hiệu quả huy động nguồn tiền gửi của các NHTM Khi nền kinh tế phát triển tốt, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, tỷ lệ lạm phát được kiểm soát, thất nghiệp giảm thì lượng tiền gửi của các NHTM cũng sẽ dễ dàng được huy động hơn Ngược lại khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, các chỉ số trên xấu báo

Trang 34

hiệu mức sống trong dân cư giảm, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng bị ảnh hưởng xấu theo, người dân không tin tưởng gửi tiền vào ngân hàng còn các doanh nghiệp thì thu hẹp sản xuất dẫn đến lượng tiền gửi vào ngân hàng bị thu hẹp.

1.3.2.2 Môi trường văn hoá xã hội

Môi trường văn hoá là yếu tố quyết định đến tập quán, tâm lý và thói quen trong việc sử dụng tiền của dân cư và những tập quán tiêu dùng này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng

Những vùng mà người dân quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì việc huy động tiền gửi của ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn Mức độ chấp nhận rủi ro của xã hội, thói quen tích luỹ ảnh hưởng đến quyết định của những thành viên trong xã hội về phương thức tiêu dùng và tiết kiệm, giữ tiền ở nhà, gửi tiền ở ngân hàng hay đầu tư vào chứng khoán, bất động sản… Thêm vào đó là sự biến động vào ra của các nguồn tiền cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào rút ra, ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng

Ngoài ra các yếu tố như thu nhập, thời vụ chi tiêu, mức độ thường xuyên sử dụng các dịch vụ ngân hàng cũng có tác động nhất định đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huy động trong tương lai Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn của nguồn tiền Thời vụ chi tiêu ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền Ví dụ như vào dịp tết, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt vẫn là chủ yếu

1.3.2.3 Nhân tố pháp lý và chính sách nhà nước

NHTM là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt Do tính đặc thù này mà NHTM chịu sự quản lý từ phía chính phủ và của ngân hàng nhà nước rất gắt gao thông qua các chính sách, các quy định Hoạt động huy động nguồn tiền gửi của các NHTM cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các chính sách, các quy định ban hành Hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải có hệ

Trang 35

thống luật điều chỉnh thì mới có thể an toàn.

Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chủ trương công tác hoạt động của NHTM Trên cơ sở tuân thủ luật pháp và chính sách kinh tế vĩ

mô của nhà nước, chính sách tiết kiệm, chính sách lãi suất thì ngân hàng có thể xây dựng các chiến lược kinh doanh cho riêng mình Ngân hàng nhà nước điều hành chính sách tiền tệ hướng nâng cao năng lực hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với các chính sách vĩ mô tạo điều kiện phát triển thị trường chính sách tiền tệ và các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đây cũng là yếu tố làm giảm bớt tính chủ động của NHTM trong các hoạt động của mình bởi tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế nên nhà nước thường can thiệp vào hoạt động của các NHTM để điều khiển nền kinh tế theo chủ trương của mình Các quy định về lãi suất, về dự trữ cơ bản, về an toán vốn…thay đổi theo từng thời kỳ ứng với chu kỳ phát triển của nền kinh tế đất nước nếu được đưa ra một cách đột ngột, không hợp lý với vận động tự nhiên sẽ bóp méo nền kinh tế đất nước, ảnh hưởng xấu đến việc thu hút nguồn tiền gửi cũng như chất lượng nguồn tiền gửi huy động của các NHTM Ngược lại, những chính sách quy định được đưa ra hợp lý và đúng lúc sẽ góp phần làm cho hoạt động của NHTM nói chung và hoạt động huy động nguồn tiền gửi nói riêng được tăng cường

Trang 36

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI

TIẾT KIỆM TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI

CHI NHÁNH THĂNG LONG

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thăng Long

 Tập thể tiềm năng 2003

 Đơn vị xuất sắc toàn diện 2004

 Cờ luân lưu quý 3 năm 2005

 Đơn vị vững mạnh toàn diện 6 tháng năm 2006

 Đơn vị vững mạnh toàn diện 2008

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy

MB là một doanh nghiệp cổ phần quốc doanh với quy mô hoạt động lớn, bao gồm nhiều chi nhánh và có các công ty hạch toán độc lập Chi nhánh Thăng Long hiện là đại lý cấp 1 trực thuộc hệ thống MB Chi nhánh có 65 người trong đó có 1 Giám đốc, 1 Phó Giám đốc, và 63 nhân viên Bao gồm 4 phòng ban chính là các phòng: quản lý tín dụng, phòng tín dụng, phòng kế toán, và bộ phận văn phòng Trong mỗi phòng ban lại được chia ra làm nhiều

bộ phận hoạt động nhỏ chuyên sâu từng lĩnh vực

Trang 37

Thẻ

Tín dụng

DN vừa

và nhỏ

DN lớn

GIÁM ĐỐC

Bộ phận quản

lý tín dụng

Phòng tín dụng

Phòng kế toán Bộ phận văn phòng

hệ khách hàng

cá nhân

Bộ phận quan

hệ khách hàng doanh nghiệp

Phòn

g kho quỹ

Kế toán giao dịch

Kế toán nội bộ

Bộ phận chăm sóc khách hàng

Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của MB chi nhánh Thăng Long

Trang 38

2.1.3 Các hoạt động chính của chi nhánh

Các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng mà Chi nhánh cung cấp được thực hiện theo điều lệ của Ngân hàng TMCP Quân đội bao gồm:

• Mở tài khoản và nhận tiền gửi:

- Mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng VNĐ và ngoại tệ

- Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu…

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường

• Cho vay, bảo lãnh:

- Cho vay ngắn, trung, dài hạn bằng VNĐ và ngoại tệ

- Cho vay tài trợ, uỷ thác

- Cho vay tiêu dùng, cấp hạn mức thấu chi

- Cung cấp các dịch vụ bảo lãnh, bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng, bảo lãnh thanh toán…

• Dịch vụ thanh toán:

- Chuyển tiền trong nước và quốc tế

- Uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc

- Chi trả lương cho doanh nghiệp thông qua tài khoản và thẻ ATM

2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2012

Nằm trên quận Đống Đa, một trung tâm chính trị và văn hoá của thủ đô

Trang 39

Hà Nội, nơi đây phát triển sầm uất, có rất nhiều cơ quan hành chính, các đơn

vị sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước phát triển ổn định Điều này đã giúp cho Chi nhánh Thăng Long có những bước đệm ban đầu thuận lợi để cạnh tranh trên thị trường

Giai đoạn 2010-2012 là giai đoạn mà nền kinh tế nước ta có những biến động thăng trầm Chi nhánh Thăng Long cũng như các Chi nhánh, Ngân hàng khác cũng không ngừng thay đổi để đương đầu với thị trường, mở rộng quy

mô và nâng cao chất lượng dịch vụ

2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là hoạt động đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của Ngân hàng, là cơ sở để đánh giá uy tín hay mức độ rủi ro cao hay thấp của Ngân hàng đó

Chi nhánh Thăng Long cũng không ngoại lệ, trong thời gian qua hoạt động huy động vốn luôn được xem là điểm mạnh nhất của Chi Nhánh

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Chi Nhánh Thăng Long trong 3

(Nguồn: báo cáo tài chính 2010- 2012)

Hoạt động huy động vốn của Chi nhánh Thăng Long không ngừng tăng trưởng trong 3 năm qua Huy động vốn năm 2010 đạt 3.717 tỷ đồng, năm

2011 là 4.554 tỷ đồng và đến năm 2012 đã tăng đáng kể lên 6.696 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi so với năm 2010 Để có được con số tăng trưởng cao như vậy là nhờ Chi nhánh đã áp dụng hiệu quả các chính sách huy động vốn như

áp dụng các hình thức gửi tiết kiệm với lãi suất linh hoạt, chính sách chăm sóc khách hàng tốt thu hút thêm nhiều khách hàng gửi tiết kiệm

Về cơ cấu tiền gửi thì nhìn chung tỷ lệ tiền gửi qua các năm đều tăng

Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn năm 2012 giảm so với các năm trước nguyên

Trang 40

nhân là do năm vừa qua số lượng doanh nghiệp giảm mạnh do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, những doanh nghiệp còn lại không có nhiều số dư trên khoản, điều này đã làm Chi nhánh bị giảm một khoản lợi nhuận đáng kể.

Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của Chi nhánh Thăng Long trong 3 năm

(Nguồn: Báo cáo tài chính 2010-2012)

Trong cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh, mức độ huy động vốn từ doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế chiếm phần lớn ( khoảng 65%) và giữ tỷ trọng ổn định trong 3 năm 2010-2012

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010-2012)

Dựa vào bảng trên ta thấy dư nợ của khách hàng là doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ và có xu hướng tăng dần theo các năm Điều này cho thấy Chi nhánh khá quan tâm tới các doanh nghiệp, tạo điều

Ngày đăng: 19/03/2015, 08:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngân hàng Thương mại (Phan Thị Thu Hà), NXB Đại học Kinh tế quốc dân (2007) Khác
2. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Mishkin), NXB Khoa học và kỹ thuật (1995) Khác
3. Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại (Lê Văn Tư), NXB Tài chính (2005) 4. Báo cáo kết quả kinh doanh Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Thăng Long 2009 – 2012 Khác
7. Quy chế về tiền gửi (Ban hành kèm theo quyết định số 1160/2004/QĐ- NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) Khác
8. Luật bảo hiểm tiền gửi Luật số 06/2012/QH13 của Quốc hội 9. Một số trang web:www.gdtd.vn www.news.go.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của MB chi nhánh Thăng Long - Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của MB chi nhánh Thăng Long (Trang 37)
Bảng 2.3. Tình hình dư nợ cho vay của Chi nhánh trong 3 năm 2010-2012 - Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long
Bảng 2.3. Tình hình dư nợ cho vay của Chi nhánh trong 3 năm 2010-2012 (Trang 40)
Bảng 2.4:Tình hình dư nợ theo thời hạn - Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long
Bảng 2.4 Tình hình dư nợ theo thời hạn (Trang 41)
Bảng 2.6: Lợi nhuận của chi nhánh qua các năm 2010-2012 - Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long
Bảng 2.6 Lợi nhuận của chi nhánh qua các năm 2010-2012 (Trang 43)
Bảng 2.7. Nguồn huy động tiền gửi theo thời hạn - Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long
Bảng 2.7. Nguồn huy động tiền gửi theo thời hạn (Trang 54)
Bảng 2.8: Chi phí huy động tiền gửi giai đoạn 2009-2012 - Tăng cường hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP – Chi nhánh Thăng Long
Bảng 2.8 Chi phí huy động tiền gửi giai đoạn 2009-2012 (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w