1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng trong các cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan

88 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 751,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quản lý thu thuế thì nguyên tắc này cần quán triệt trên các khía cạnh chủ yếu sau: - Phải đảm bảo tuân thủ theo đúng các quy định trong các văn bản pháp luật về thuế; thống nhất qu

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1- TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ SỰ CẦN

THIẾT XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TRONG LĨNH

VỰC QUẢN LÝ THUẾ

03

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý thuế 03

1.1.2 Yêu cầu quản lý thuế 06 1.1.3 Nguyên tắc quản lý thuế 06

1.1.3.1 Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ 06

1.1.3.3 Nguyên tắc phù hợp 07 1.1.3.4 Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả 07

1.1.4 Nội dung quản lý thuế 07

1.1.4.1 Xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý thuế 07

1.1.4.2 Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế 08

1.1.4.3 Xây dựng cơ chế quản lý thuế 08

1.1.4.4 Tổ chức triển khai thực hiện các Luật thuế 08

1.1.5 Hệ thống kiểm soát nội bộ của cơ quan quản lý thuế 12

1.2 Kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế 13

1.2.3.1 Đối với cơ quan thuế 14

1.3 Sự cần thiết phải xây dựng Quy trình và hệ thống hồ sơ mẫu

biểu kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế

21

Trang 2

Chương 2- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN TRONG

2.1.3 Về Quy trình kiểm toán về thuế và quản lý thuế 25

2.2 Những vẫn đề cần đặt ra cho việc hoàn thiện quy trình và hệ

thống hồ sơ mẫu biểu kiểm toán

25

Chương 3 - XÂY DỰNG QUY TRÌNH VÀ HỆ THỐNG MẪU

BIỂU KIỂM TOÁN ÁP DỤNG TẠI CƠ QUAN QUẢN LÝ THUẾ

3.1.1.2 Đảm bảo gắn với quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế 27

3.1.2 Nội dung cơ bản của Quy trình kiểm toán tại cơ quan quản lý

3.2.1.2 Đảm bảo phù hợp với phương thức quản lý thuế mới theo quy

định của pháp luật về thuế và quản lý thuế

42

3.2.1.3 Đảm bảo đơn giản, logic, dễ thực hiện 43

3.2.2.1 Các loại biểu mẫu cần sử dụng chung 43

3.2.2.2 Các loại biểu mẫu đặc thù đối với cơ quan hải quan 44

3.2.3 Mẫu biểu và cách thức lập các loại biểu mẫu 45

3.2.3.1 Các loại mẫu biểu 45

3.2.3.2 Phương pháp lập các loại biểu mẫu 45

KẾT LUẬN 46

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Các cuộc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong lĩnh vực thuế và hải quan trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định, như: kiểm tra, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước; kiểm tra, đánh giá việc quản lý thuế của cơ quan thuế và cơ quan hải quan (gọi chung là cơ quan quản lý thuế) trên một số chỉ tiêu tổng hợp về tình hình lập, thực hiện dự toán và việc theo dõi, quản lý nợ đọng thuế, tình hình xử phạt vi phạm, cũng như việc thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thuế Trong điều kiện cơ quan quản lý thuế áp dụng cơ chế quản lý tự kê khai thuế, tự nộp thuế, theo đó người nộp thuế tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, còn cơ quan quản lý thuế thực hiện việc hướng dẫn, kiểm tra, xử lý vi phạm (nếu có) đối với người nộp thuế và các đối tượng khác nếu vi phạm pháp luật về thuế và quản lý thuế Trong điều kiện ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế chưa cao, tình trạng gian lận, trốn thuế vẫn còn khá phổ biến; năng lực kiểm tra, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế còn bất cập, khả năng rủi ro cao đã đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật

và các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán từ bên ngoài trong việc thực thi nhiệm vụ của mình Trong điều kiện đó, để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán, cơ quan kiểm toán nhà nước cần phải xây dựng quy trình, nghiệp vụ kiểm toán; đồng thời, thiết lập hệ thống biểu mẫu có tính đặc thù áp dụng riêng đối với các cuộc kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế Vì vậy, việc

nghiên cứu đề tài “Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp

dụng trong cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan” có ý nghĩa

thiết thực cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu đề tài này là nhằm làm rõ hơn những vấn đề lý luận

về quản lý thuế gắn với quy trình kiểm toán việc tuân thủ pháp luật về thuế và quản lý thuế trong các cuộc kiểm toán ngân sách nhà nước để từ đó đề xuất hoàn thiện quy trình và hệ thống các biểu mẫu hồ sơ kiểm toán áp dụng cho cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc áp dụng cơ chế quản lý thuế đặt trong mối liên hệ với việc kiểm toán đánh giá tính tuân thủ pháp luật,

Trang 4

thông qua đó để đưa ra các luận cứ khoa học trong việc hoàn thiện quy trình kiểm toán và hệ thống các biểu mẫu kiểm toán đặc thù đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ kiểm toán nhằm đạt được yêu cầu, mục tiêu, trọng yếu kiểm toán

đề ra

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm toán trong các cuộc kiểm toán đã được thực hiện tại các cơ quan quản lý thuế trong các năm gần đây, trong đó chú trọng đến các cuộc kiểm toán áp dụng từ khi cơ quan quản lý thuế áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ thêm về một số vấn đề lý luận chung về quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp gắn với việc thực hiện nhiệm vụ kiểm toán của

cơ quan kiểm toán nhà nước; kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực hoạt động kiểm toán và hệ thống các loại biểu mẫu hồ sơ kiểm toán đặc thù áp dụng đối với các cuộc kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về quản lý thuế và sự cần thiết phải xây dựng quy

trình kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế

Chương 2; Thực trạng công tác kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế Chương 3: Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng tại cơ quan quản lý thuế

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ THUẾ

1.1 Tổng quan về quản lý thuế

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về quản lý và quản lý thuế

Quản lý được hiểu là tổng thể các hình thức và phương pháp tác động lên một hệ thống quản lý, đảm bảo cho hệ thống đó tồn tại và hoạt động phù hợp với quy luật có liên quan, nhằm thực hiện những lợi ích của con người

Quản lý là tổng thể các quy định, cách thức và phương tiện do chủ thể quản lý đề ra nhằm tác động vào đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu

Hiện nay khái niệm quản lý thuế được xem xét tiếp cận ở nhiều góc độ và bình diện khác nhau Theo nghĩa hẹp, khái niệm quản lý thuế được hiểu đồng nghĩa với khái niệm quản lý thu thuế Theo cách hiểu này, quản lý thuế là những biện pháp tác nghiệp của cơ quan thuế được thực hiện trong quá trình thu thuế, bao gồm các nội dung: xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp thu thuế và tổ chức bộ máy thu thuế

Song trên thực tế, khái niệm quản lý thuế thường được hiểu theo nghĩa rộng, tức đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính thuế Quản lý hành chính thuế được hiểu là chức năng, là hoạt động quản lý của cơ quan thuế đối với việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và được thực hiện bằng phương pháp hành chính Theo đó nội dung của quản lý thuế thường được đề cập trên hai phương diện cơ bản:

- Tổ chức bộ máy hành chính thuế: Có thể tổ chức theo đối tượng nộp thuế, theo sắc thuế hay theo chức năng của quản lý thuế hoặc tổ chức theo cấp quản lý hành chính và theo lãnh thổ

- Thủ tục và quy trình thu thuế: bao gồm đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm hành chính thuế… Với cách tiếp cận như vậy, quản lý thuế chính là quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động chấp hành và điều hành trong việc thực thi nghĩa vụ thuế Khái niệm này, đã phản ánh được nội dung cơ bản nhất của hoạt động quản lý thuế trong đó công cụ được sử dụng chủ yếu để quản lý thuế là công cụ hành chính

Ngoài hai cách tiếp cận trên, theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm quản lý thuế cũng cần được xem xét nhìn nhận ở góc độ và bình diện rộng lớn

Trang 6

hơn Cụ thể quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh của nhà nước lên các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ thuế, nhằm thúc đẩy các quan hệ xã hội đó phát triển theo những mục tiêu và định hướng nhất định Theo cách hiểu đó, nội dung quản lý thuế bao gồm:

- Hoạt động xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý thuế

- Tổ chức điều hành thực hiện hoạt động thu, nộp thuế: bao gồm tổ chức

bộ máy hành chính thuế; đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, thu thuế, quyết toán thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế, truy thu thuế, thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm hành chính thuế, khiếu nại, cưỡng chế thuế; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân…

Dù cách hiểu và cách tiếp cận có sự khác nhau, song quản lý thuế có các đặc thù cơ bản sau:

- Chủ thể quản lý thuế là nhà nước, bao gồm hệ thống các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước như hệ thống các cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu và xây dựng hệ thống pháp luật thuế; các cơ quan hành pháp với tư cách là người chỉ đạo, điều hành công tác quản lý thuế và kể cả hệ thống các cơ quan tư pháp

- Đối tượng quản lý thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ thuế

- Công cụ quản lý thuế chính là quản lý bằng hệ thống pháp luật và hệ thống các công cụ khác phục vụ quản lý

Với các đặc thù cơ bản đó, trước hết quản lý thuế là quản lý bằng pháp luật Quản lý thuế mang sắc thái là một thiết chế chặt chẽ, rõ ràng nằm trong

khuôn khổ thiết chế quản lý chung của nhà nước được xác lập trên cơ sở hệ thống các quy phạm pháp luật, các quy định đó được quy định chung trong hệ thống các luật thuế hoặc được quy định tại một Luật quản lý thuế riêng biệt Đặc điểm này bắt nguồn từ chỗ quan hệ thuế thực chất là quan hệ tài sản được hình thành trên cơ sở quyền lực của nhà nước Thuế hay thu ngân sách nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước, vì vậy có quan điểm cho rằng tính bắt buộc là bản chất của thuế Mặt khác đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân Vì vậy, đòi hỏi các quy định về thuế và quản lý thuế phải được thể chế bằng luật pháp để đảm bảo tính tuân thủ của các thành viên trong xã hội

Trang 7

Quản lý thuế là quản lý hành chính vì vậy quản lý thuế đặc biệt coi trọng phương pháp hành chính Phương pháp hành chính là hoạt động tổ chức và thực hiện quyền lực của nhà nước trong quản lý xã hội hay nói cách khác phương pháp hành chính là việc tổ chức, điều khiển các hoạt động kinh tế-xã hội, đưa pháp luật vào cuộc sống, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội Phương pháp hành chính trong quản lý thuế là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, là

sự thiết lập các mối quan hệ giữa con người, giữa cơ quan thuế với các tổ chức

và cá nhân trong xã hội Trong đó, chức năng tổ chức là hết sức quan trọng được thể hiện cụ thể ở việc thiết lập bộ máy quản lý, điều hành thuế Còn chức năng điều chỉnh là sự quy định về mặt pháp lý thể hiện bằng các quy định quản lý về quy trình thủ tục thu nộp thuế

Đặc điểm này của quản lý thuế thể hiện tính pháp lý thống nhất và quyền lực của chủ thể quản lý Đương nhiên, trong quản lý thuế cần phải kết hợp hài hoà nhiều phương pháp như tổ chức, hành chính, kinh tế… nhưng cần phải nhấn mạnh đến biện pháp này

Quản lý thuế mang tính chất quyền lực nhà nước Bản chất của quản lý là quyền lực, uy quyền, không có quyền lực, uy quyền thì không thể thực hiện quản lý, trong đó phục tùng là tiền đề là cơ sở của quyền lực Khi thực hiện quản

lý thuế làm nẩy sinh mối quan hệ giữa nhà nước mà cụ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các chủ thể có nghĩa vụ thuế Trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tư cách là chủ thể quản lý còn các chủ thể (các tổ chức,

cá nhân) có nghĩa vụ thuế là chủ thể bị quản lý Khi thực hiện quản lý các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đại diện cho nhà nước, nhân danh nhà nước, mang quyền lực nhà nước trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ về quản lý thuế - tất nhiên phải trong phạm vi pháp luật cho phép Còn các chủ thể có nghĩa

vụ thuế phải phục tùng, tuân thủ quyền lực của nhà nước thông qua các qui định của pháp luật thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế của mình

Ngoài ra, quản lý thuế nếu xét ở góc độ vi mô còn là hoạt động mang tính

kĩ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ Tính nghiệp vụ được thể hiện ở chỗ mọi hoạt động

quản lý thu thuế, thủ tục hành chính phải được thực hiện theo đúng quy trình cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng Tính nghiệp vụ kỹ thuật còn được thể hiện ở chỗ là toàn

bộ các công việc về quản lý thuế được chuyên môn hoá, tiêu chuẩn hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật mang tính thống nhất trên toàn quốc và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế

Trang 8

1.1.2 Yêu cầu quản lý thuế

Để quản lý thuế đạt được những mục tiêu nói trên thì cần thiết phải quán triệt các yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo luật định

Thứ hai, vận dụng thống nhất các văn bản pháp luật về thuế và xây dựng các biện pháp quản lý thu thuế phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, tạo thuận lợi cho người thu và nộp thuế, tối thiểu hoá chi phí hành thu Thứ ba, quản lý thu thuế phải gắn với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -

xã hội vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ

1.1.3 Nguyên tắc quản lý thuế

1.1.3.1 Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc chủ đạo trong quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) Quản lý thuế là một trong những nội dung quan trọng của quản

lý NSNN, quản lý thuế tác động đến mọi pháp nhân và thể nhân trong nền kinh

tế, nên việc xác lập và thực thi các biện pháp quản lý thuế phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc này Trong quản lý thu thuế thì nguyên tắc này cần quán triệt trên các khía cạnh chủ yếu sau:

- Phải đảm bảo tuân thủ theo đúng các quy định trong các văn bản pháp luật về thuế; thống nhất quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế và việc vận dụng văn bản pháp luật thuế trong công tác quản lý thu thuế;

- Thống nhất chỉ đạo quản lý thuế giữa cơ quan thuế cấp trên, chính quyền địa phương các cấp với cơ quan thuế cấp dưới;

- Dự toán thuế được lập từ cơ sở nhưng vẫn đảm bảo quyền chỉ đạo, hướng dẫn và xét duyệt dự toán của cơ quan thuế cấp trên;

- Quản lý thu thuế phải tôn trọng việc tự khai, tự tính thuế của đối tượng nộp thuế nhưng trên cơ sở tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết thoả đáng những kiến nghị, khiếu nại về thuế

1.1.3.2 Nguyên tắc công khai

Hoạt động thu thuế có tác động lớn đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của các tổ chức kinh tế và dân cư Do đó, cần phổ biến tuyên truyền trong dân cư về nội dung chính sách thuế, công khai cách tính thuế, căn cứ tính thuế, đối tượng nộp thuế và công khai các vấn đề về ưu đãi miễn giảm thuế Quán triệt nguyên tắc này mới phát huy vai trò kiểm tra, kiểm soát, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong ngành thuế và ở các đối tương nộp thuế

Trang 9

1.1.3.3 Nguyên tắc phù hợp

Quản lý thuế phải đảm bảo phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Thuế được động viên từ các hoạt động kinh tế - xã hội và các hoạt động kinh tế xã hội là cơ sở để xây dựng các văn bản pháp luật thuế và các biện pháp quản lý thu thuế phù hợp với thực tiễn, không gây cản trở đến quá trình sản xuất kinh doanh Trong xu thế hội nhập thì hệ thống thuế cần phải phù hợp với thông lệ quốc tế

1.1.3.4 Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Nguyên tắc này được đặt ra với công tác thu thuế là tất yếu khách quan Nguyên tắc này được đánh giá dựa trên các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế và số thuế được tập trung vào NSNN Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo chi phí phát sinh là thấp nhất, nhưng số thuế tập trung vào NSNN ở mức cao nhất và vẫn đảm bảo nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu; hạn chế được trốn thuế, lậu thuế, biển thủ tiền thuế… Nguyên tắc này đòi hỏi quy trình hành thu phải khoa học, hợp lý; cơ chế quản lý thuế phải tiên tiến hiện đại; bộ máy quản lý thuế phải tinh gọn trên cơ sở phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận và cá nhân trong công tác quản lý thuế

1.1.4 Nội dung quản lý thuế

1.1.4.1 Xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý thuế

Hiện nay, ở Việt Nam, hệ thống các văn bản pháp luật về thuế bao gồm từ văn bản có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp, tiếp đến là các Luật thuế (Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt.v.v), Luật quản lý thuế; Pháp lệnh thuế (Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Pháp lệnh thuế tài nguyên.v.v); Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Nghị quyết về việc ban hành Biểu khung thuế suất thuế nhập khẩu); Nghị định của Chính phủ (Nghị định quy định chi tiết thi hành các Luật thuế, Luật quản lý thuế); Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, của

Bộ Tài chính hoặc Thông tư của Bộ Tài chính.v.v

Các văn bản này là một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về chính sách thuế, thủ tục quản lý thuế Ví dụ như Điều 80 Hiến pháp 1992 quy định: “công dân có nghĩa vụ đóng thuế” Trên cơ sở quy định đó, Điều 7 Luật quản lý thuế quy định: người nộp thuế có nghĩa vụ: Đăng ký thuế, sử dụng mã

số thuế theo quy định của pháp luật; Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế; Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn,

Trang 10

đúng địa điểm; Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.v.v

1.1.4.2 Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế, gồm:

- Xây dựng mối quan hệ tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý thuế với Chính phủ: trên thế giới thường có nhiều mô hình khác nhau, đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ thu hoặc mô hình cơ quan quản lý thuế trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Tài chính

Hiện hành, Việt Nam dang áp dụng mô hình cơ quan quản lý thuế trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Tài chính

- Xây dựng mô hình tổ chức quản lý thuế của ngành hải quan gồm: Mô hình quản lý tập trung (mỗi công việc liên quan đến quản lý thuế đều tập trung

về một bộ phận) và mô hình quản lý theo chức năng (các chức năng khác nhau của quản lý thuế do các bộ phận khác nhau thực hiện); Mô hình kết hợp (tùy theo từng thời kỳ, đặc điểm công việc và phạm vi quản lý để thực hiện)

Hiện hành, Việt Nam đang áp dụng mô hình kết hợp (tùy theo từng thời

kỳ, đặc điểm công việc và phạm vi quản lý để thực hiện)

1.1.4.3 Xây dựng cơ chế quản lý thuế

Cơ chế quản lý thuế thường tồn tại theo hai mô hình:

- Cơ chế cơ quan quản lý thuế tính thuế và ra thông báo thuế;

- Cơ chế người nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế: Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó đối tượng nộp thuế căn cứ nghĩa vụ thuế được quy định tại Luật thuế, tự kê khai thuế chính xác và tự nộp thuế đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách Nhà nước theo số thuế kê khai Cơ quan thu thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế đó của đối tượng nộp thuế, nhưng nếu đối tượng nộp thuế không thực hiện việc kê khai và nộp thuế này, cơ quan thu thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế, kiểm tra

Hiện hành, theo quy định của Luật quản lý thuế, Việt Nam dang áp dụng

cơ chế người nộp thuế tự kê khai, tự nộp thuế

1.1.4.4 Tổ chức triển khai thực hiện các Luật thuế

Tổ chức thực hiện các luật thuế là nội dung quan trọng trong công tác quản lý thuế, đó là việc triển khai, đưa hệ thống pháp luật thuế vào cuộc sống bao gồm từ việc: Giải thích, tuyên truyền phổ biến, tư vấn, hỗ trợ đối tượng nộp thuế tuân thủ pháp luật thuế; lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo, điều hành thu và quản lý số tiền thuế đã thu, phải thu Một hệ thống thuế hiện đại phải được thể hiện ở quy trình quản lý thu thuế hiện đại, tối ưu

Trang 11

Nội dung cơ bản của việc tổ chức thực hiện các quy định của luật thuế, bao gồm:

- Giải thích, tuyên truyền phổ biến, tư vấn, hỗ trợ ngu?i nộp thuế tuân thủ pháp luật thuế

Pháp luật thuế là một bộ phận trong hệ thống pháp luật của nhà nước é?c trưng của thuế mang tính cưỡng chế Nội dung của các luật thuế khá nhạy cảm

vì nó liên quan trực tiếp đến việc điều tiết thu nhập của các thành viên trong xã hội Để quản lý thuế tốt, bên canh việc tăng cường các biện pháp tổ chức thực hiện, cơ quan quản lý thuế cần chú ý nâng cao tính tuân thủ cña người nộp thuế

Và để thực hiện tốt mục đích đó, nhà nước cần nâng cao sự hiểu biết của người nộp thuế về pháp luật thuế trong đó có quyền lợi, nghĩa vụ của họ Giải pháp để nâng cao sự hiểu biết của người nộp thuế là tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế với các hình thức, nội dung phong phú như tuyên truyền bằng tờ rơi, trên mạng, trên các phương tiện thông tin đại chúng, tại trụ sở cơ quan quản lý thuế, tại nơi công cộng

- Dự toán thu thuế: Dự toán thu thuế bao gồm lập dự toán, tổ chức thực hiện dự toán và đánh giá thực hiện dự toán Cơ quan quản lý thuế có thể lập dự toán ngắn hạn (1 năm, 1 quý, 1 tháng) hoặc dài hạn (dự toán có tính chiến lược cho một giai đoạn như dự toán kế hoạch thu 3-5 năm) Căn cứ để xây dựng dự toán thuế là nhiệm vụ kinh tế xã hội của Nhà nước, tình hình thực hiện dự toán thu năm trước, chính sách thuế hiện hành Lập dự toán thu được thực hiện theo trình tự: chuẩn bị lập dự toán, dự thảo dự toán, xét duyệt dự toán và giao dự toán

- Tổ chức thực hiện dự toán: Tổ chức thực hiện dự toán có tầm quan trọng quyết định để thực hiện chỉ tiêu dự toán được giao Khi tổ chức thực hiện dự toán, thông thường cơ quan quản lý thuế sẽ tiến hành đồng bộ các giải pháp nghiệp vụ như: thực hiện tốt quy trình quản lý thu, thực hiện tốt công tác kế toán, thống kê, kiểm tra thanh tra, theo dõi, đôn đốc nợ thuế chống nợ đọng trốn lậu thuế, cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho lãnh đạo quản lý Trường hợp nền kinh tế có nhiều biến động bất thường không mang tính quy luật có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế xã hội và thu ngân sách thì phải điều chỉnh dự toán thu (có thể từng phần hoặc toàn phần tùy theo mức độ biến động) cho phù hợp

Trang 12

- Đánh giá thực hiện dự toán sẽ giúp nhà nước đánh giá sự sát thực của dự toán và hiệu quả của các biện pháp thực hiện từ đó rút ra bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho lập dự toán năm sau với những biện pháp thực hiện tốt hơn

- Tổ chức thực hiện việc thu thuế và quản lý người nộp thuế: Tổ chức thực hiện việc thu thuế và quản lý người nộp thuế bao gồm một số công việc cơ bản sau:

- Đăng ký đối tượng nộp thuế: Để quản lý thuế, cơ quan quản lý thuế trước hết phải thực hiện tốt việc quản lý đối tượng nộp thuế nhu: Đăng ký mã số thuế và quản lý đối tượng nộp thuế theo hệ thống mã số, nắm bắt cập nhật các thông tin về đối tượng nộp thuế… Mục tiêu của việc kê khai đăng ký thuế là nhằm giúp cho cơ quan quản lý thuế quản lý chặt chẽ đối tượng nộp thuế, quản

lý hồ sơ đối tượng nộp thuế để lưu trữ, tra cứu, kiểm tra khi cần thiết

- Tiếp nhận, kiểm tra việc khai thuế: nội dung chủ yếu là xử lý kịp thời các thông tin về kê khai thuế phục vụ cho việc xác định chính xác số tiền thuế phải nộp, phát hiện và ngăn chặn vi phạm, cập nhật số liệu để cung cấp thông tin cho các bộ phận tiếp theo với độ tin cậy cao

- Ấn định thuế: Khi thực hiện cơ chế người nộp thuế tự tính tự khai, tự nộp, cơ quan quản lý thuế sẽ không tính thuế và ra thông báo thuế, người nộp thuế tự tính tự khai số tiền thuế phải nộp và tự nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước

Trường hợp người khai thuế dựa vào các tài liệu không hợp pháp để khai báo căn cứ tính thuế, tính và kê khai số thuế phải nộp; không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, chính xác các căn cứ tính thuế làm cơ sở cho việc tính thuế; Người khai thuế từ chối hoặc trì hoãn, kéo dài quá thời hạn quy định việc cung cấp các tài liệu liên quan cho cơ quan thuế để xác định chính xác số thuế phải nộp; cơ quan thuế có đủ bằng chứng về việc khai báo trị giá không đúng với trị giá giao dịch thực tế; hoặc người khai thuế không tự tính được số thuế phải nộp, thì cơ quan thuế sẽ ấn định thuế Căn cứ để ấn định thuế là số lượng, trị giá, mức thuế suất, phương pháp tính thuế; tài liệu và các thông tin khác có liên quan

- Kế toán và thống kê thuế:

+ Kế toán thuế là quá trình tổ chức hệ thống thông tin bằng số liệu để phản ánh, ghi chép số thuế đã thu, số thuế hoàn trả, số thuế còn phải thu, v.v

Để thực hiện tốt công tác kế toán thuế, việc ghi chép phản ánh việc thu nộp tiền thuế, ghi sổ v.v phải kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực; số liệu phải trùng khớp đúng với số liệu có liên quan của kho bạc và của cơ quan tài chính;

Trang 13

số thuế thu phải được phản ánh tổng hợp và ghi chép theo đúng mục lục ngân sách Kế toán thuế phải được thống nhất từ trung ương đến địa phương

+ Thống kê thuế : Thống kê thuế bao gồm thống kê về người nộp thuế, thống kê nguồn thu (thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng ); thống kê theo chuyên đề (số tiền thuế nợ, tiền thuế ấn định, tiền phạt chậm nộp.v.v)

Thống kê thuế nhằm cung cấp hệ thống thông tin cần thiết một cách có hệ thống về diễn biến của công tác thu thuế để phục vụ cho việc lập dự toán, xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện chính sách Công tác quan trọng nhất trong thống kê thuế là phân tích thống kê Thông qua việc phân tích, cơ quan quản lý thuế đánh giá đúng thực trạng của quá trình quản lý thu thuế, rút ra xu hướng biến động, ưu, nhược điểm của quá trình quản lý và của chính sách để hoàn thiện chính sách và/hoặc tổ chức thực hiện

- Kiểm tra, thanh tra thuế:

Kiểm tra, thanh tra trong đó có kiểm tra thanh tra thuế là một hoạt động tất yếu của nhà nước để duy trì và kiểm soát hoạt động thực thi pháp luật do nhà nước ban hành, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, vì thuế là một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, do đó quá trình thực thi pháp luật thuế có nghiêm minh hay không sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng công cụ thuế Chính vì lẽ đó, kiểm tra, thanh tra thuế là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng của thuế đối với nền kinh tế Ngoµi ra,

do pháp luật nói chung, pháp luật thuế nói riêng của nước ta còn chưa hoàn thiện, do vậy cần kiểm tra, thanh tra để phát hiện thiếu sót nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời Trốn lậu thuế, lạm dụng chức quyền, xâm tiêu tiền thuế làm ảnh hưởng xấu môi trường kinh doanh, đội ngũ công chức; do vậy thông qua kiểm tra, thanh tra thuế sẽ phát hiện, ngăn chặn hành vi vi phạm, phát hiện ngăn chặn hiện tượng lạm dụng chức quyền, giữ vững kỷ cương, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ thuế Tùy theo giai đoạn kiểm tra, người ta chia kiểm tra thuế thành nhiều loại khác nhau, như: nếu căn cứ vào tình trạng hàng hóa đã hay chưa thông quan, người ta phân thành kiểm tra trước, trong và sau khi thông quan; nếu phân theo địa điểm tiến hành kiểm tra có kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp và kiểm tra tại cơ quan hải quan

So với kiểm tra thuế, thanh tra thuế có tính chất khác biệt hơn Thanh tra thuế không phân loại thanh tra trước, trong và sau khi thông quan, thanh tra tại

Trang 14

trụ sở doanh nghiệp và tại cơ quan hải quan, mà phân loại thành thanh tra người nộp thuế hoặc thanh tra cơ quan quản lý thuế

Về nội dung, kiểm tra, thanh tra thuế cơ bản là giống nhau (đều bao gồm thanh tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế, việc kê khai nộp thuế, việc lưu giữ chứng từ sổ sách kế toán, thanh tra việc thực hiện các nghiệp vụ quản lý thu thuế của cơ quan quản lý thuế.v.v)

- Cưỡng chế thuế và xử lý tố tụng về thuế: Cưỡng chế thuế là chế tài áp dụng trong trường hợp đối tượng nộp thuế cố tình không thực hiện nghĩa vụ thuế Thông thường cưỡng chế thuế (phong toả tài khoản, lệnh thu, tịch biên hay phát mại tài sản…) thường kèm theo tỉ lệ phạt chậm nộp về thuế Tỉ lệ phạt đó thường được tính trên cơ sở lãi suất ngân hàng cộng với một phần giá trị tăng thêm

Để đảm bảo tăng cường hiệu lực của luật thuế, các nước một mặt phải xây dựng trong luật một hệ thống chế tài cụ thể đối với các trường hợp vi phạm, mặt khác phải mở rộng quyền thi hành pháp luật, cưỡng chế thi hành luật của cơ quan quản lý thuế Đồng thời, với việc tăng cường tính pháp chế của luật, Nhà nước phải mở rộng quyền khiếu nại về thuế đảm bảo tính khách quan công bằng Thông thường việc khiếu nại về thuế ở một nước được xử lý chủ yếu theo các cấp: nơi giải quyết về việc, cấp trên của nơi giải quyết về việc và ý kiến của Bộ Tài chính là ý kiến quyết định cuối cùng Toàn bộ các cấp đó đều nằm trong hệ thống hành pháp giải quyết, do đó thường dẫn đến sự thiếu tin tưởng vào tính khách quan trong kết quả xử lý Do đó, cơ chế giải quyết khách quan hơn là người khiếu nại thuế sẽ lựa chọn hoặc theo “đường hành chính” thông thường như đã nêu ở trên hoặc theo “đường” toà án thuế (độc lập) Việc tách chức năng xét xử sang hệ thống tư pháp độc lập là hết sức quan trọng vì nó đảm bảo tính khách quan và công bằng của công tác quản lý thuế

1.1.5 Hệ thống kiểm soát nội bộ của cơ quan quản lý thuế

Kể từ khi Luật Hải quan và Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hình, nhìn chung, hệ thống kiểm soát nội bộ của cơ quan quản lý thuế tương đối đồng bộ, hoàn chỉnh nhằm thực hiện việc kiểm soát quá trình tuân thủ pháp luật thuế từ khâu lập kế hoạch thu thuế, tổ chức kê khai, nộp thuế, thanh tra, kiểm tra, xử lý

vi phạm, cưỡng chế thuế Hệ thống kiểm soát nội bộ tổ chức hoạt động có tính

hệ thống, với đội ngũ công chức được bố trí để thực thi nhiệm vụ quản lý thuế đảm bảo cho bộ máy vận hành tương đối đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về thuế và hải quan; hệ thống cơ sở dữ liệu được kết nối trong toàn ngành,

Trang 15

công tác kiểm tra, thanh tra nội bộ được ngành Hải quan, ngành Thuế chú trọng, tạo điều kiện cho việc kiểm tra, kiểm soát đạt kết quả Tuy nhiên, mặc dù hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tương đối hiệu quả, song do độ ngũ cán bộ, công chức được bố trí để thực thi nhiệm vụ thiếu ổn định, đặc biệt là lĩnh vực quản lý thuế tại các cục hải quan, cục thuế địa phương; các chỉ tiêu báo cáo thiếu chưa đảm bảo đầy đủ, toàn diện, thiếu tính hệ thống; hệ thống kế toán thuế và tổ chức bộ máy kế toán thuế thiếu tập trung từ cấp tổng cục đến cấp chi cục Ngoài

ra, năng lực thực hiện một số nghiệp vụ thuế chưa đáp ứng yêu cầu; công tác chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ thuế và quản lý thuế còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất, phối hợp chưa cao đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ

1.2 Kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế

1.2.1 Mục tiêu, yêu cầu kiểm toán

- Thông qua kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế, đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế, quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với người nộp thuế; chỉ ra các thiếu sót, sai phạm (nếu có) của người nộp thuế liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế

để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nh?m đảm bảo thu đúng, thu đủ và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật cho ngân sách Nhà nước

- Đánh giá tính hợp lý của dự toán và việc tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước về công tác lập và giao dự toán thu NSNN; xác nhận tính đúng đắn, trung thực của Báo cáo thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn năm ngân sách được kiểm toán thuộc phạm vi quản lý của cơ quan quản lý thuế

- Thông qua qua hoạt động kiểm toán, chỉ ra các bất cập, tồn tại về chính sách thuế và cơ chế quản lý thuế để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấn chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và quản lý thuế nhằm góp phần động viên đầy đủ, kịp thời và đúng đối tượng các nguồn thu cho NSNN

- Đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao đối với cơ quan quản lý thuế; chỉ ra các thiếu sót, sai phạm để xác định trách nhiệm của tập thể và cá nhân cú liên quan

Trang 16

1.2.2 Phương pháp kiểm toán

Tùy thuộc vào nội dung kiểm toán, các phương pháp kiểm toán được áp dụng cho phù hợp với từng cuộc kiểm toán, như: phương pháp kiểm toán cơ bản (đối chiếu, so sánh; điều tra; giải trình; phân tích đánh giá …) hay phương pháp kiểm toán tuân thủ (phân tích hệ thống cơ sở dữ liệu, sử dụng các thử nghiệm chi tiết đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của cơ quan quản lý thuế); đồng thời, kết hợp với các kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán để đánh giá việc chấp hành các Luật, chính sách, chế độ của Nhà nước về thuế và quản lý thuế

1.2.3 Nội dung kiểm toán

1.2.3.1 Đối với cơ quan thuế

- Kiểm tra, đánh giá các căn cứ về cơ sở lập dự toán thu; công tác phân bổ

và giao dự toán thu NSNN trên địa bàn của cơ quan thuế, trong đó tập trung phân tích:

+ Các chỉ tiêu về lập dự toán thu ngân sách; phân tích các chỉ tiêu của Báo cáo thu ngân sách năm trước, dự kiến khả năng thu của năm kế hoạch, đối chiếu với các quy định của pháp luật về thuế hiện hành để xác định khả năng thu phát sinh trên địa bàn;

+ Đối chiếu và so sánh các căn cứ xây dựng dự toán do cơ quan thuế các cấp lập so với tình hình thực hiện năm trước và số lượng đăng ký, cấp mới mã thuế của các đối tượng nộp thuế;

+ Phân tích khả năng phát sinh thu của các doanh nghiệp trên địa bàn và việc giao dự toán của cơ quan cấp trên về từng chỉ tiêu để đánh giá việc xây dựng và giao dự toán có sát với thực tế và các căn cứ để lập dự toán thu NSNN hay không?

- Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu, xác định nguyên nhân thực hiện không đạt hoặc vượt quá mức so với dự toán Đánh giá việc chấp hành dự toán thu NSNN trên các chỉ tiêu thu gắn với từng loại thuế, trong đó cần lưu ý xác định chính xác số phải thu, số đã thu và số còn phải thu; việc thực hiện điều tiết giữa các cấp ngân sách, việc phản ánh số thu ngân sách có kịp thời, đúng niên độ, đúng mục lục ngân sách theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn hay không?

- Kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực và hợp lý của Báo cáo thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn năm ngân sách được kiểm toán cần tập trung phân tích các nội dung, nhu:

Trang 17

+ Trên cơ sở tổng hợp kết quả kiểm toán của các khâu trong quy trình quản lý thuế, gắn với việc tuân thủ pháp luật về thuế và quản lý thuế của cơ quan quản lý thuế và của người nộp thuế để phân tích, xác định mức độ chính xác của từng chỉ tiêu số liệu; Phân tích các chỉ tiêu số liệu của các báo cáo thực hiện dự toán thu NSNN để đánh giá mức độ hợp lý, bất hợp lý của các chỉ tiêu thu, từ đó tìm nguyên nhân làm cơ sở kiểm tra, đối chiếu tình hình thực hiện các loại thuế gắn với từng đối tượng thực hiện nghĩa vụ thuế;

+ Kiểm tra xác định từng chỉ tiêu, theo từng sắc thuế cụ thể, chú trọng các khoản thu lớn như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp so sánh với các chỉ tiêu trong các báo cáo quyết toán thu ngân sách từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thu về phí và lệ phí Trong trường hợp có chênh lệch, hoặc có nghi vấn thì cần phải kiểm tra, đối chiếu với đối tượng nộp thuế hoặc Kho bạc Nhà nước về từng khoản thu có chênh lệch lớn

Trên cơ sở đó, đưa ra các nhận xét đánh giá về tình hình thực hiện, nguyên nhân chủ quan và khách quan đối với các khoản vu?t ho?c không đạt chỉ tiêu so với dự toán, trong đó: Đối với các khoản thu từ doanh nghiệp Nhà nước, trên cơ sở đối chiếu hồ sơ, số liệu kiểm toán tại cơ quan thuế, tiến hành so sánh

và đánh giá từng chỉ tiêu cụ thể, như: tổng hợp tự kê khai thuế, tự nộp thuế của từng đối tượng nộp thuế với quyết toán thuế để xác định số phải nộp, số đã nộp,

số còn phải nộp và số liệu theo dõi trên hồ sơ của cơ quan thuế, để đưa ra kết luận cho phù hợp; trường hợp kiểm tra, đối chiếu số liệu, hồ sơ, chứng từ có liên quan với đối tượng nộp thuế cần phải đưa vào kế hoạch kiểm toán chi tiết; Đối với các khoản thu từ khu vực ngoài quốc doanh, các hộ thu thuế theo phương pháp trực tiếp, tập trung kiểm tra công tác lập bộ, duyệt bộ thuế, quyết toán thuế (thuế môn bài, thuế GTGT và thuế TNDN), nhằm xác định tổng số đối tượng nộp thuế, số phải nộp, số đã nộp, số còn tồn đọng (theo từng loại thuế, từng đối tượng) cũng như mức độ hợp lý của việc phân loại xếp bậc môn bài và doanh thu tính thuế để ấn định thuế;

+ Đối với các hộ thu thuế theo phương pháp khấu trừ phải tiến hành kiểm tra việc mở sổ, lập báo cáo kế toán và việc quản lý, sử dụng hoá đơn GTGT để

có cơ sở kết luận chính xác việc khấu trừ thuế và hoàn thuế GTGT theo quy định của pháp luật, sau đó so sánh với số liệu trên báo cáo thu thuế khu vực ngoài quốc doanh và báo cáo nợ đọng thuế để đưa ra kết luận về tính tuân thủ của công

Trang 18

tác lập bộ, duyệt bộ, quyết toán của cơ quan thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế

+ Đối với việc quản lý thu phí và lệ phí (gọi chung là phí): Kiểm tra số liệu trên báo cáo tình hình thu phí để xác định tổng số các loại phí đã thu với báo cáo quyết toán sử dụng biên lai thu phí của đối tượng, từ đó xác định số phải thu, số đã nộp và số còn phải nộp, sau đó so sánh với số liệu trên báo cáo đối chiếu số thu với Kho bạc Nhà nước để đưa ra ý kiến đánh giá và kết luận kiểm toán

+ Đối với các khoản thu có liên quan đến nhà, đất (thuế nhà, đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất…) cần tập trung kiểm tra, đánh giá tổng thể tình hình quản lý, theo dõi, đôn đốc việc thu nộp các khoản thu có liên quan đến nhà, đất của cơ quan thuế, như: số phải nộp, số đã nộp, số còn nợ,

+ Đánh giá việc thực hiện hợp đồng ủy nhiệm thu thuế và hoạt động của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường

- Kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật của việc cấp chứng nhận đăng

ký thuế, cấp mã số thuế; việc quản lý của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế sau khi cấp chứng nhận đăng ký thuế, cấp mã số thuế

- Về miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế: Kiểm tra hồ sơ xin miễn thuế, giảm thuế hoặc hoàn thuế (chủ yếu thuế giá trị gia tăng) của các đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế, phân loại miễn, giảm, hoàn, ưu đãi thuế đối với từng lĩnh vực, mặt hàng, để xác định mức độ hợp lý của từng hồ sơ; thẩm quyền quyết định việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế (chủ yếu về mặt thủ tục) Trên cơ sở

đó tiến hành kiểm tra tại các đối tượng nộp thuế (ĐTNT) đối với những hồ sơ miễn thuế, giảm thuế hoặc hoàn thuế có nghi vấn, để có kết luận cho phù hợp

- Về kiểm tra việc tổ chức theo dõi, quản lý, phân loại nợ thuế, trong đó tập trung xác định số nợ còn tồn đọng, như: phân tích thời hạn nợ, thực trạng nợ

có khả năng thu, nợ không có khả năng thu và nợ chờ xử lý

- Về xử lý vi phạm, xoá nợ thuế và giải tỏa cưỡng chế thuế: Cần kiểm tra, đối chiếu việc thực hiện các quyết định xử phạt, xoá nợ thuế và giải tỏa cưỡng chế thuế có đúng đối tượng, đúng thẩm quyền, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật không?

- Công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế Đối với công tác này cần tập trung kiểm toán việc chấp hành chế độ kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm sau kiểm tra, thanh tra, trong đó:

Trang 19

+ Về kiểm tra thuế: tập trung kiểm tra việc thực hiện quy trình, thủ tục, thẩm quyền, việc lựa chọn đối tượng kiểm tra có đảm bảo theo đúng quy định hay không? Trong đó lưu ý trọng tâm cần kiểm tra về hoàn thuế GTGT như các trường hợp hoàn thuế trước, kiểm tra sau; kiểm tra trước, hoàn thuế sau; tình hình xử lý sau kiểm tra thuế Qua đó, đánh giá việc chấp hành pháp luật về thuế, quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;

+ Về thanh tra thuế: tập trung kiểm toán việc xây dựng kế hoạch thanh tra thực hiện quy trình thanh tra, xử lý kết quả sau thanh tra có đảm bảo tuân thủ đúng quy định của Luật Quản lý thuế, Luật Thanh tra và các văn bản pháp luật

có liên quan

- Kiểm tra các tài khoản tạm thu, tạm giữ, trong đó cần chú ý đối chiếu số liệu giữa số báo cáo của cơ quan thuế và số liệu của Kho bạc Nhà nước; đánh giá việc xử lý, thực hiện nộp NSNN có đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật hay không? kiểm tra các khoản chi phí trong quá trình xử lý vi phạm

- Kiểm tra việc thực hiện ấn định các yếu tố liên quan đến việc xác định

số tiền thuế phải nộp của cơ quan thuế, trong đó trọng tâm cần kiểm tra là việc xác định đối tượng ấn định thuế và căn cứ ấn định thuế

- Kiểm tra, đánh giá việc in, phát hành, quản lý, sử dụng hóa đơn, ấn chỉ cần chú ý việc thực hiện chế độ in, phát hành (cấp, bán), sử dụng và quản lý hóa đơn; tình hình quản lý, sử dụng biên lai thu tiền xử phạt vi phạm hành chính, trong đó tập trung kiểm tra kết quả xử lý các trường hợp mất, hỏng, thất lạc và

sử dụng hóa đơn không đúng quy định đối với người nộp thuế của cơ quan thuế

- Đánh giá việc chấp hành kế toán thuế, trong đó chú ý đến việc thực hiện

tổ chức công tác kế toán của cơ quan thuế các cấp gồm: Tổng cục, Cục và Chi cục; công tác mở sổ theo dõi chi tiết các tài khoản thu NSNN, tình hình nợ thuế; tình hình thực hiện chế độ báo cáo thu nộp thuế, nợ thuế; thực hiện đối chiếu giữa cơ quan thuế và Kho bạc Nhà nước; phân tích khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng kế toán thuế (ghi đơn)

1.2.3.2 Đối với cơ quan hải quan

- Đánh giá tính hợp lý và việc tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước về công tác lập và giao dự toán thu NSNN các khoản thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và lệ phí hải quan do cơ quan hải quan thu; so sánh, đối chiếu với tình hình thực hiện năm trước, tình hình thay đổi cơ chế, chính sách có liên quan ảnh hưởng đến thu NSNN và số tự kê khai, tự nộp của người khai hải quan trên địa bàn

Trang 20

- Đánh giá khái quát tình hình thực hiện dự toán thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các khoản lệ phí hải quan cần phải kiểm tra từng chỉ tiêu cụ thể; đi sâu phân tích các chỉ tiêu thu đạt hoặc không đạt dự toán, chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan của tình hình trên; kiểm tra kết quả đối chiếu giữa cơ quan hải quan và KBNN về số thực nộp tại KBNN đối với từng khoản thu

- Đánh giá tính tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc lựa chọn hình thức kiểm tra và áp dụng chế độ miễn kiểm tra hải quan đối với các tờ khai hải quan (đồng thời cũng là tờ khai thuế) hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Theo

đó, căn cứ vào quy định điều kiện kiểm tra hải quan, cơ sở dữ liệu nghiệp vụ hải quan để cơ quan hải quan đánh giá mức độ tuân thủ của người khai hải quan (đồng thời là người nộp thuế) để đưa ra quyết định áp dụng hình thức kiểm tra (miễn kiểm tra, kiểm tra một phần hoặc kiểm tra toàn bộ lô hàng), cũng như áp dụng thời hạn nộp thuế đối với lô hàng đó Do vậy, cần kiểm tra việc đưa ra đánh giá mức độ tuân thủ và hình thức kiểm tra có phù hợp không? Có việc lợi dụng trong quá trình kiểm tra hải quan, chấp hành quy định về thời hạn nộp thuế hay không?

- Đánh giá việc tuân thủ quy trình, nghiệp vụ hải quan có liên quan đến các yếu tố để xác định số thuế phải nộp, gồm:

+ Về phân tích, phân loại hàng hoá: Cần kiểm tra để xác định việc phân tích, phân loại hàng hóa có tuân thủ các quy định, các nguyên tắc phân loại hay không? Việc hướng dẫn phân loại, áp mã số thuế của ngành Hải quan có phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và việc thực hiện cã đảm bảo đảm bảo thống nhất hay không? Việc lựa chọn mẫu kiểm toán áp mã số thuế, xác định thuế suất trên cơ sở lựa chọn các tờ khai hàng hóa nhập khẩu đối với những mặt hàng có thuế suất cao, dễ xảy ra gian lận, như: điện tử, điện lạnh, dược phẩm, thực phẩm bổ dưỡng, ô tô….Trong quá trình kiểm toán, đề nghị cơ quan hải quan cung cấp các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về phân loại hàng hóa

để đánh giá việc hướng dẫn phân loại có tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không? Việc thực hiện phân loại có thống nhất (so sánh trong cùng Chi cục, Cục Hải quan; giữa các cục hải quan với nhau ) mã số thuế đối với từng loại hàng hóa hay không?

+ Về xác định trị giá tính thuế (hay còn gọi là trị giá hải quan): Tập trung kiểm toán việc tuân thủ chế độ cập nhật và sử dụng thông tin về giá; quy trình kiểm tra trị giá, quy trình tham vấn và xác định trị giá phù hợp với các quy định

Trang 21

của pháp luật hay không?; kiểm tra quy trình luân chuyển hồ sơ xác định trị giá tính thuế từ Chi cục Hải quan làm thủ tục thông quan, đến việc tổ chức tham vấn giá và những hồ sơ chuyển cho Chi cục Kiểm tra sau thông quan… Trong đó, cần tập trung các mặt hàng nhạy cảm, nguy cơ gian lận giá tính thuế cao như: các mặt hàng ô tô, xe máy, điện, điện tử, điện lạnh, …) Trong quá trình kiểm toán, đề nghị cơ quan hải quan cung cấp các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, các cơ

sở dữ liệu về việc xác định trị giá tính thuế

Chú ý các trường hợp xác định trị giá tính thuế chưa đúng phương pháp, chưa tuân thủ đúng quy định về sử dụng thông tin về giá có liên quan để xác định trị giá tính thuế dẫn đến việc chấp nhận trị giá tính thuế hoặc xác định trị giá tính thuế thấp; việc không cập nhật kịp thời các thông tin tin cậy vào cơ sở

dữ liệu ảnh hưởng đến công tác xác định trị giá; không kiên quyết đấu tranh bác

bỏ trị giá khai báo thấp của người khai hải quan; bỏ sót các chi phí phải cộng vào trị giá hàng hóa khi xác định trị giá tính thuế Các trường hợp chuyển sang

bộ phận kiểm tra sau thông quan, cần kiểm tra việc cơ quan hải quan tiếp tục xử

lý vấn đề này như thế nào?

+ Về xác định xuất xứ của hàng hoá (C/O): Kiểm tra việc thực hiện các quy định về xuất xứ hàng hóa để thực hiện chính sách ưu đãi thuế Theo đó, cần kiểm tra các tiêu chí gắn với các điều kiện đối với từng loại Chứng nhận xuất xứ; việc tuân thủ các quy định về tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng thuế suất ưu đãi; kiểm tra việc tuân thủ việc xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ để hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt Lưu ý việc chấp nhận giấy chứng nhận xuất xứ không hợp lệ để được hưởng ưu đãi thuế quan gây thất thu thuế; kiểm tra tiêu chuẩn xuất xứ cú đảm bảo theo dỳng quy định hay không?

- Kiểm tra việc thực hiện chức năng điều tra chống buôn lậu của cơ quan hải quan có liên quan đến quản lý thuế cần tập trung kiểm tra việc thu thập thông tin, mua tin, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ về điều tra chống buôn lậu; việc xử lý theo quy định của pháp luật đối với các vụ việc mà cơ quan hải quan phát hiện hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện; kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu đối với công tác quản lý thuế

- Kiểm tra việc theo dõi, phân loại và xử lý nợ thuế Cần kiểm tra việc cho phép hưởng thêm thời hạn nộp thuế, việc ấn định thuế có đúng quy định, đúng thẩm quyền hay không? Việc không thực hiện cưỡng chế thuế đối với doanh

Trang 22

nghiệp nợ thuế, không thực hiện phạt chậm nộp thuế hoặc tính không đúng, đủ tiền phạt chậm nộp thuế đối với doanh nghiệp nợ thuế quá thời hạn nộp thuế, thực hiện chế độ bảo lãnh đối với hàng phải nộp thuế ngay; phân tích tình trạng

nợ, xoá nợ thuế, đặc biệt là các khoản nợ đọng quá hạn không có khả năng thu được trong đó cần lưu ý đến các đối tượng nộp thuế được phép gia hạn nợ, giải tỏa cưỡng chế làm thủ tục hải quan trái thẩm quyền, không đúng quy định

- Đánh giá việc quản lý, theo dõi, thanh khoản hàng hóa nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu; hàng tạm xuất, tái nhập; hàng tạm nhập, tái xuất; hàng hóa nhập chuyển cửa khẩu Đây là lĩnh vực rất phức tạp, có quy mô rất lớn, nhưng ở khâu này công tác quản lý, kiểm tra của cơ quan hải quan chưa được quan tâm đúng mức, như: tỷ lệ miễn kiểm tra nhiều, chưa quan tâm đến công tác xác định trị giá tính thuế, xác định mã số hàng hóa, chưa kiểm tra định mức, thanh khoản chủ yếu dựa vào kê khai của doanh nghiệp Do vậy, cần chú ý kiểm tra, đối chiếu giữa hàng hóa nhập khẩu theo các tờ khai nhập khẩu, định mức tiêu hao và tờ khai xuất khẩu, chênh lệch và xử lý chênh lệch (nộp các loại thuế theo quy định) Chú ý kiểm tra đối với các tờ khai hải quan hàng hoá nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu còn tồn đọng chưa thanh khoản, xác định nguyên nhân tồn đọng, như: Doanh nghiệp mất tích, phá sản, giải thể ngừng hoạt động; doanh nghiệp còn hoạt động nhưng chây ỳ không thanh khoản; doanh nghiệp đến đối chiếu thanh khoản nhưng chây ỳ trong việc giải quyết nguyên phụ liệu thừa; chưa thanh khoản được do thiếu chứng từ thanh toán hoặc vướng mắc về chứng từ thanh toán;…

- Đánh giá việc thực hiện chế độ hoàn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, ưu đãi thuế có đủ điều kiện, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền hay không?

- Về đánh giá tính tuân thủ pháp luật về kiểm tra sau thông quan:

Trên thực tế, khi áp dụng chế độ kiểm tra hải quan trên cơ sở đánh giá tuân thủ pháp luật, dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro, việc kiểm tra trước và trong khi thông quan ngày càng giảm dần, từ chỗ kiểm tra trước khi giải phóng hàng là chủ yếu, nay việc kiểm tra chỉ còn khoảng 20-25% đối với các lô hàng nhập khẩu (khoảng dưới 10% đối với các lô hàng xuất khẩu); số còn lại (khoảng 75-80%) được miễn kiểm tra hải quan Khâu kiểm tra sau thông quan chủ yếu là phúc tập hồ sơ, việc kiểm tra thực tế chỉ đạt khoảng dưới 5% Trong khi đó, ý thức tự tuân thủ pháp luật của người khai hải quan chưa cao thì rủi ro do thực hiện cơ chế này là rất cao, nguy cơ gian lận thương mại, trốn thuế là rất lớn Vì vậy, cần tập trung kiểm toán việc thực hiện kiểm tra sau thông quan như sau:

Trang 23

+ Đối với đối tượng đã kiểm tra trước và trong quá trình thông quan: Đối tượng này chỉ cần kiểm tra để đánh giá tuân thủ tính pháp luật của các khâu kiểm tra trước và trong quá trình thực hiện thông quan của người khai hải quan

và cơ quan hải quan Vì vậy, chỉ cần lùa chän các tiêu thức làm căn cứ kiểm tra đơn giản, mang tính soát xét lại các khâu nghiệp vụ quản lý khâu trước có liên quan đến nghĩa vụ thuế;

+ Đối với đối tượng chưa được kiểm tra trước và trong quá trình thông quan nhưng đã được kiểm tra sau thông quan: Việc kiểm tra chủ yếu tập trung vào việc thực hiện quy trình kiểm tra sau thông quan, chọn mẫu kiểm tra, cần lưu ý việc xử lý kết quả kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan;

+ Đối với đối tượng chưa kiểm tra trước và sau thông quan: Đối tượng này có số lượng tờ khai hải quan chưa được kiểm tra hải quan là rất lớn (khoảng 70-75%), vì vậy để có cơ sở đánh giá mức độ tuân thủ, cần xây dựng tiêu thức chọn mẫu kiểm toán thích hợp, như: chọn những lô hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn, thuế suất cao, thiết bị đồng bộ, rời, để kiểm tra Đối với trường hợp này cần bổ sung vào kế hoạch kiểm toán chi tiết Khi kế hoạch kiểm toán chi tiết

bổ sung được Trưởng đoàn kiểm toán nhà nước phê duyệt, tiến hành kiểm tra, đối chiếu giữa việc khai hải quan và thực tế nhập khẩu thông qua việc kiểm tra, đối chiếu trên hồ sơ lưu tại cơ quan hải quan, lưu tại doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan để đưa ra nhận xét, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế

- Đánh giá việc chấp hành chế độ kế toán thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, trong đó chú ý đến việc thực hiện chế độ tổ chức công tác kế toán của cơ quan hải quan các cấp gồm: Tổng cục, Cục và Chi cục; công tác mở sổ theo dõi chi tiết các tài khoản thu NSNN; tình hình thực hiện chế độ báo cáo thu nộp thuế, nợ thuế; thực hiện đối chiếu giữa cơ quan hải quan và Kho bạc Nhà nước

Từ việc kiểm tra, đánh giá trên đây, tình hình và kết quả kiểm toán cần phản ánh vào các mẫu biểu báo cáo (kèm theo); trong mỗi loại biểu mẫu cần phân tích, đánh giá, xác định nguyên nhân để làm cơ sở cho việc lập Biên bản kiểm toán và Báo cáo kiểm toán

1.3 Sự cần thiết phải xây dựng Quy trình và hệ thống hồ sơ mẫu biểu kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế

- Xuất phát từ yêu cầu của việc cụ thể hóa quy trình kiểm toán nhà nước vào các lĩnh vực kiểm toán chuyên ngành: Quy trình kiểm toán của Kiểm toán

Trang 24

Nhà nước ban hành theo Quyết định số 04/2007/QĐ-KTNN ngày 02/8/2007 của Tổng Kiểm toán Nhà nước, thay thế Quy trình kiểm toán nhà nước ban hành theo Quyết định số 03/1999/QĐ-KTNN ngày 06/10/1999 của Tổng Kiểm toán Nhà nước Quy trình này được xây dựng dựa trên cơ sở các quy định của Luật Kiểm toán nhà nước; chỉ quy định các nội dung mang tính chung nhất, bao quát nhất áp dụng đối với các cuộc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Để quy trình kiểm toán đảm bảo thích ứng với từng lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân sách nhà nước cần phải được cụ thể hóa, theo hướng cụ thể, thích ứng với quy trình nghiệp vụ tổ chức quản lý ngân sách nhà nước Ngoài ra, cần khắc phục các bất cập, tồn tại của quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước hiện hành về kiểm toán tại cơ quan thu NSNN, như: Quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước hiện hành ban hành theo Quyết định số 08/1999/QĐ-KTNN ngày 15/02/1999 của Tổng Kiểm toán Nhà nước không có nội dung kiểm toán tại cơ quan hải quan; một số quy trình thủ tục trong quản lý thuế có thay đổi so với quy trình thủ tục thuế và hải quan trước đây, những vấn đề mới này quy trình kiểm toán NSNN hiện hành chưa đề cập tới nội dung kiểm toán không đề cập đến việc xem xét các vấn đề của cơ quan thu với giác độ toàn ngành để tìm ra những vấn đề sai phạm, tồn tại chung, phổ biến

- Đảm bảo sự phù hợp với phương thức quản lý thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, theo đó, việc kiểm toán tại cơ quan thuế và hải quan có những đặc thù riêng đòi hỏi phải có sự phù hợp với phương thức quản lý thuế

theo quy định của Luật Quản lý thuế, như: hệ thống các văn bản quy phạm pháp

luật tương đối đầy đủ; tổ chức ngành thuế và hải quan đã có các đơn vị thực hiện chức năng quản lý, giám sát về hải quan, như: thanh tra hải quan, điều tra chống buôn lậu, kiểm tra sau thông quan, thanh tra, kiểm tra thuế,

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN TRONG LĨNH VỰC QUẢN

LÝ THUẾ

2.1 Đánh giá khái quát về tình hình thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực quản lý thuế

2.1.1 Về tổ chức hoạt động kiểm toán

- Đối với các cuộc kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế đã đặt mục tiêu, nội dung kiểm toán mang tính tổng hợp, toàn diện gắn với tất cả các khâu trong quy trình quản lý thuế; chú trọng từ khâu khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán tổng hợp, kiểm toán chi tiết; tăng số mẫu kiểm toán được chọn để phân tích, đánh giá toàn diện cả hệ thống Khi phát hiện có sự thiếu đồng bộ, thống nhất trong việc thực hiện từ kết quả kiểm tra, đối chiếu, thông qua hệ thống quản

lý của cơ quan quản lý thuế để xác định mức độ sai phạn của cả hệ thống Chính

vì vậy, kết quả các cuộc kiểm toán này đã đưa ra được các kết luận và kiến nghị sát thực, gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan quản lý thuế, từng đối tượng nộp thuế, cũng như của cả các cơ quan hướng dẫn chính sách thuế

- Đối với các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước và tại cơ quan kho bạc nhà nước, mặc dù phạm vi kiểm toán rộng, nội dung kiểm toán liên quan đến quản lý thuế chỉ tập trung ở các chỉ tiêu tổng hợp, thời hạn kiểm toán ngắn, nhưng thông qua việc phân tích các chỉ tiêu báo cáo thu ngân sách, bảng cân đối tài khoản của cơ quan kho bạc nhà nước cũng đã phát hiện các sai phạm, bất cập mang tính hệ thống, như: việc không thực hiện giảm thu ngân sách đối với số thuế giá trị gia tăng phải hoàn trả để giảm thu ngân sách trong năm ngân sách tương ứng đã làm cho việc phản ánh thiếu chính xác số thu của ngân sách nhà nước 1; thực hiện chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu không đúng quy định 2; việc thực hiện chính sách hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt không đúng quy định,

- Đối với các cuộc kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước tại địa phương có liên quan đến cơ quan quản lý thuế các cấp, khi xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng thể phải dựa vào mục tiêu, yêu cầu và quy mô của từng cuộc kiểm toán để xác định đối tượng, nội dung, phạm vi, giới hạn và phương pháp

Trang 26

kiểm toán cần áp dụng cho phù hợp với sự hướng dẫn nghiệp vụ kiểm toán đảm bảo sát với thực tế; kết quả kiểm toán phản ánh đầy đủ vào Báo cáo kiểm toán của ngân sách địa phương Với đặc điểm của ngân sách nhà nước Việt nam, việc tiếp cận kiểm toán ngân sách không thể tránh khỏi việc bỏ qua các sai phạm nếu không có sự kết hợp hài hòa giữa các cuộc kiểm kiểm toán, đặc biệt là các cuộc kiểm toán ngân sách trung uơng và ngân sách địa phương

Tóm lại, kết quả của việc đổi mới tổ chức hoạt động kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế đã góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả các cuộc kiểm toán, trong đó nổi bật là đã đánh giá tương đối toàn diện về tuân thủ pháp luật một số chỉ tiêu cơ bản về quản lý thuế; kiến nghị xử lý truy thu, xử phạt vi phạm, phạt chậm nộp thuế đối với các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật thuế và quản

lý thuế đã góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế và pháp luật về quản lý thuế; kiến nghị đối với cơ quan quản lý thuế

và các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và quản lý thuế cho phù hợp với các quy định của pháp luật và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Đặc biệt là

đã phát hiện và kiến nghị xử lý những sai phạm, tồn tại trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn và điều hành, sử dụng nguồn NSNN không đúng mục đích, nhiệm vụ được giao ở các cấp quản lý, kiểm toán việc thực hiện pháp luật về quản lý thuế dã đưa ra các kiến nghị truy thu và giảm chi có tác dụng ngăn chặn việc quản lý, sử dụng các khoản chi NSNN không đúng quy định; các khoản chi

dễ dẫn tới hiệu quả kém, thất thoát lãng phí NSNN Quá trình thực hiện nhiệm

vụ đã khai thác tập hợp được các bằng chứng có giá trị để tổng hợp, đưa ra các đánh giá, nhận xét, kiến nghị xác đáng, thuyết phục

2.1.2 Về hồ sơ, biểu mẫu kiểm toán

Về hồ sơ, biểu mẫu kiểm toán, các cuộc kiểm toán, ngoài việc phải sử dụng biểu mẫu hồ sơ kiểm toán theo Quyết định số 02/2007/QĐ-KTNN ngày 26/6/2007 của Tổng Kiểm toán Nhà nước, các cuộc kiểm toán về quản lý thuế

đã sử dụng các biểu mẫu báo cáo riêng gắn với các chỉ tiêu báo cáo và quy trình nghiệp vụ quản lý thuế đã góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả của cuộc kiểm toán Tuy nhiên, các biểu mẫu kiểm toán chủ yếu đang sử dụng các biểu mẫu kèm theo hướng dẫn của Kiểm toán Nhà nước dưới hình thức Công văn hướng dẫn nghiệp vụ mà chưa được chuẩn hóa để ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật nên hiệu lực pháp lý chưa cao Mặc khác, hệ thống các chỉ tiêu báo cáo của cơ quan quản lý thuế mang tính đặc thù hoặc còn thiếu

Trang 27

nhiều chỉ tiêu nên việc cung cấp cho cơ quan kiểm toán còn thiếu kịp thời, thiếu chính xác mà chưa có sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với cơ quan, đơn vị

cung cấp thông tin, số liệu

2.1.3 Về Quy trình kiểm toán về thuế và quản lý thuế

- Nhiều nội dung quy trình kiểm toán liên quan đến lĩnh vực thu ngân sách Nhà nước không còn phù hợp với thực tế kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, như: các bước khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán, việc thực hiện kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế chưa đặt trong mối quan hệ với việc tuân thủ của người nộp thuế và việc lựa chọn mẫu kiểm toán, theo đó chỉ tập trung việc kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế thông qua việc kiểm tra, đối chiếu hồ sơ, tài liệu liên quan đến

hồ sơ thuế mà chưa chú trọng đến việc kiểm tra, đối chiếu tính chính xác của việc kê khai, nộp thuế của người nộp thuế

- Một số nội dung quy trình kiểm toán không còn phù hợp với nghiệp vụ quản lý thuế đã được thay đổi khi thực hiện Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế, trong đó, nội dung thay đổi cơ bản nhất đó là việc đổi mới phương thức quản lý từ quản lý tuân thủ sang hình thức quản lý tự tuân thủ, tức là quản lý thuế dựa trên cơ sở áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, dựa trên cơ sở phân tích và đánh giá thông tin để đưa ra quyết định hình thức kiểm tra việc thực hiện đối với người nộp thuế Chính vì vậy, rủi ro kiểm toán không chỉ tồn tại ở hồ sơ thuế lưu tại cơ quan quản lý thuế mà xuất hiện tiềm ẩn từ hoạt động và hồ sơ lưu tại đối tượng nộp thuế

- Do quy trình kiểm toán còn thiếu các hướng dẫn cụ thể, chủ yếu thực

hiện loại hình kiểm toán tuân thủ; chưa sửa đổi, bổ sung cho phù hợp điều kiện

cơ quan quản lý thuế áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro, dựa trên cơ sở ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế nên việc kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế khó có thể phát hiện được các sai phạm của người nộp thuế vì các hồ sơ liên quan đến việc xác định chính xác nghĩa vụ thuế phải nộp chủ yếu lưu tại người nộp thuế

- Còn thiếu các biểu mẫu đặc thù hoặc biểu mẫu chưa phù hợp với đặc điểm của các cuộc kiểm toán để thu thập, xử lý thông tin từ khâu khảo sát, lập

kế hoạch kiểm toán để việc thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán

2.2 Những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện quy trình và hệ thống hồ

sơ mẫu biểu kiểm toán

- Công tác quản lý thuế và hải quan chịu sự điều chỉnh của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi rất rộng, được ban hành bởi nhiều cơ

Trang 28

quan, nhiều cấp khác nhau và gắn với hàng hóa trong quan hệ kinh tế đối ngoại nên việc xác định tính chính xác về nghĩa vụ thuế đối với người nộp thuế là công việc đòi hỏi phải có chuyên môn và khả năng bao quát rộng, cần phải có sự phối hợp giữa các bộ phận chuyên môn trong việc xác định các yếu tố tính thuế;

- Công tác quản lý thuế và hải quan liên quan trực tiếp đến việc giải quyết mối quan hệ quyền lợi giữa Nhà nước với cá nhân và doanh nghiệp, hai quyền lợi này luôn luôn xung đột, các đối tượng nộp thuế luôn tìm đủ mọi cách để đảm bảo lợi ích của mình vì vậy việc giải quyết mối quan hệ này phức tạp, đòi hỏi khả năng chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp (đạo đức) vững vàng của cán bộ quản lý

- Do tính chất nghiệp vụ về thuế và hải quan rộng và tương đối phức tạp, việc kiểm toán tại các ngành này yêu cầu tài liệu và phương pháp nghiệp vụ khác với việc kiểm toán khác cần phải có quy trình kiểm toán phù hợp mới có thể phát huy hiệu lực và hiệu quả hoạt đông kiểm toán

- Cùng với sự phát triển hoàn thiện của các phương pháp nghiệp vụ kiểm toán và sự phát triển hoàn thiện cơ chế quản lý của ngành Thuế và Hải quan, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng kiểm toán của ngành Kiểm toán Nhà nước và của công chúng đòi hỏi chất lượng kiểm toán nói chung và chất lượng kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế phải nâng lên Chính vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện quy trình kiểm toán đối với ngành thuế và hải quan để đáp ứng những đòi hỏi trên

Trang 29

Chương 3 XÂY DỰNG QUY TRÌNH VÀ HỆ THỐNG MẪU BIỂU KIỂM TOÁN ÁP

DỤNG TẠI CƠ QUAN QUẢN LÝ THUẾ

3.1 Xây dựng quy trình kiểm toán

3.1.1.2 Đảm bảo gắn với quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế

Với chức năng của kiểm toán là kiểm tra, đánh giá và xác nhận, đòi hỏi phải bám sát diễn biến sự việc từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Nghiệp vụ thuế gắn chặt chẽ với hai đối tượng chính là người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế

Cả hai đối tượng này đều phải thực thi chính sách pháp luật về thuế và quản lý thuế gắn với địa vị pháp lý của mình Do vậy, để có đủ thông tin, bằng chứng, kể

cả bằng chứng trực tiếp hoặc bằng chứng gián tiếp để đưa ra ý kiến của mình, quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong lĩnh vực thuế và quản lý thuế phải gắn với từng khâu, quy trình nghiệp vụ, với tư cách là kiểm tra từ bên ngoài đối với các đối tượng có liên quan trong việc thực thi pháp luật về thuế và quản

lý thuế Có như vậy, quy trình kiểm toán mới thực sự pháp huy tác dụng trong việc định hướng, hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cho kiểm toán viên thực hiện nhiệm vụ đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra, các kết quả kiểm toán đảm bảo bao quát đầy đủ, trung thực, khách quan

Trang 30

3.1.2 Nội dung cơ bản của Quy trình kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế

Trên cơ sở các bước trong quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, gồm: Chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập và gửi báo cáo kiểm toán và kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, việc kiểm toán tại cơ quan quản lý thuế cũng tuân thủ các bước, đó là:

Bước 1 CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN

Nội dung chuẩn bị cuộc kiểm toán cần thực hiện, như: Khảo sát thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, tình hình tài chính và các thông tin có liên quan về đơn vị được kiểm toán; Đánh giá các thông tin đã thu thập được về

hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán; Xác định trọng yếu và rủi

ro kiểm toán; Lập kế hoạch kiểm toán của Đoàn kiểm toán

- Về khảo sát, thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ về đơn vị được kiểm toán

+ Khảo sát, thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm: Môi trường kiểm soát: Quan điểm và cách thức điều hành của các nhà quản lý, thủ trưởng đơn vị; chính sách nhân sự, các quy định, quy chế nội bộ, cơ cấu tổ chức bộ máy, tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ ; Hoạt động kiểm soát và các thủ tục kiểm soát: trên cơ sở quy trình quản lý thuế để kiểm soát, cụ thể như: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra, thanh tra; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo; Chính sách kế toán và công tác kế toán: Hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thuế và thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chế độ thống kê và kế toán thuế; hệ thống kiểm soát nội bộ khác, như: Cơ quan hải quan có điều tra chống buôn lậu, kiểm tra thu thuế, kiểm tra sau thông quan theo hệ thống từ Tổng cục xuống, cơ quan thuế có thanh tra, kiểm tra nội bộ

+ Phương pháp thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, gồm: Cập nhật và đánh giá tài liệu của các lần kiểm toán trước; trao đổi, phỏng vấn; thu thập, nghiên cứu các tài liệu văn bản về điều lệ, quy chế hoạt động, hệ thống kiểm soát nội bộ của cơ quan thuế và hải quan;

Ngoài ra, trong đội ngũ kiểm toán viên có nhiều cán bộ đã từng công tác trong ngành thuế và hải quan hoặc các cơ quan có liên quan đến 2 ngành này nhiều có thể tham khảo kinh nghiệm của những cán bộ đó để thu thập thông tin

Trang 31

- Thu thập thông tin về tình hình quản lý thuế và các thông tin có liên

quan, gồm: các thông tin về cơ chế quản lý, chế độ và các văn bản quy phạm

pháp luật hiện hành; các quy định đặc thù áp dụng đối với đơn vị, như: Luật quản lý thuế, Luật hải quan, Luật thuế xuất nhập khẩu và các luật thuế hiện hành; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với ngành thuế và hải quan; những sai sót và gian lận được phát hiện từ những cuộc kiểm toán trước; các ghi nhớ từ các cuộc kiểm toán trước; Những vấn đề, nội dung thanh tra, kiểm tra đã có kết luận liên quan đến hoạt động thời kỳ kiểm toán; những khiếu kiện có liên quan đến đơn vị được kiểm toán Phương pháp thu thập thông tin thực hiện như xem xét, đối chiếu các tài liệu quy định về quản lý thuế; Trao đổi, phỏng vấn các nhà quản lý và nhân viên có trách nhiệm của đơn vị; Quan sát trực tiếp một số khâu trong các hoạt động của đơn vị; Nghiên cứu các tài liệu lưu trữ của Kiểm toán Nhà nước liên quan đến đơn vị được kiểm toán; Trao đổi với các cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan quản lý nhà nước cấp trên trực tiếp; Khai thác trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến đơn vị được kiểm toán

- Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và các thông tin đã thu thập về đơn

vị được kiểm toán, gồm: đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả và độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá mức độ tin cậy, tính hợp pháp và hợp lệ các thông tin thu thập được; đánh giá tổng quát về tình hình tài chính và hoạt động của đơn vị được kiểm toán Việc đánh giá nhằm phát hiện những điểm yếu cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ để xác định rủi ro kiểm soát, trọng yếu kiểm toán Phương pháp đánh giá chủ yếu là phân tích, so sánh, cân đối, thống kê, chọn mẫu Kiểm toán viên đánh giá những mặt mạnh, yếu kém và hiệu quả hoạt động, độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ Các cách thức tiếp cận gồm: Nhận biết những hình thức kiểm soát đang tồn tại; những hoạt động kiểm soát chính còn thiếu hụt; hậu quả có thể gây ra do thiếu hoạt động kiểm soát quan trọng; mức độ nghiêm trọng của yếu kém;

- Xác định trọng yếu và rủi ro kiểm toán:

+ Xác định trọng yếu của cuộc kiểm toán: Kiểm tra việc tuân thủ pháp

luật về chế độ thông tin, báo cáo; xem xét tính trung thực của các báo cáo về hoạt động nghiệp vụ thuế và hải quan; xác định mức độ sai sót của các chỉ tiêu báo cáo và tác động của nó đến công tác quản lý nhà nước về thuế và hải quan, đặc biệt là công tác quản lý thuế trong việc điều tiết hướng dẫn hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành Thuế và Hải quan và cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 32

quyền; Kiểm tra tính đầy đủ, chính xác, kịp thời, trung thực, khách quan của hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ thuế và hải quan; tác động của hệ thống thông tin đến kết quả thực hiện nhiệm vụ các khâu nghiệp vụ, đặc biệt là cơ sở

ra quyết định hình thức kiểm tra thuế và hải quan, xác định trị giá tính thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, điều tra chống buôn lậu, chống thất thu NSNN ; kiểm tra, đánh giá chấp hành chế độ miễn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xóa nợ thuế, giải tỏa cưỡng chế thuế và quản lý nợ thuế

+ Xác định rủi ro kiểm toán: Khả năng rủi ro về quản lý thuế trong hoạt động hải quan có phạm vi rất rộng, phụ thuộc nhiều yếu tố liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế phải nộp, như: mã số hàng hóa, phân tích, phân loại, xác định xuất xứ, trị giá tính thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, trong điều kiện cơ quan hải quan áp dụng cơ chế quản lý rủi ro (xác suất) trên tất cả các khâu nghiệp vụ, miễn kiểm tra đã được áp dụng trên diện rộng, nhưng ý thức tuân thủ của người khai hải quan chưa cao thì nguy cơ gian lận sẽ rất lớn Thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khÈu gắn với hàng hóa thông quan; việc kiểm tra hồ sơ có thể

sẽ khó phát hiện gian lận nếu không đủ thông tin cần thiết để chứng minh tính trung thực của nghiệp vụ kinh tế phát sinh, như: phụ thuộc vào việc thu thập thông tin liên quan đến quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài (ngoài phạm

vi lãnh thổ Việt Nam), quan hệ thanh toán, vận tải, bảo hiểm hàng hóa Ngoài

ra, do hệ thống kiểm tra sau thông quan chưa đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan nhằm đáp ứng với yêu cầu quản lý hải quan trong điều kiện tỷ lệ kiểm tra trước và trong thông quan giảm mạnh so với trước; tình trạng gian lận thương mại cao, các khâu nghiệp vụ khác, như: điều tra chống buôn lậu, phân tích, phân loại, giám sát quản lý, thanh tra thuế chưa có sự phối hợp đồng

bộ, hiệu quả hoạt động chưa cao dẫn đến việc phát hiện, xử lý gian lận, trốn thuế, chây ỳ thuế thiếu kịp thời

Đánh giá mức độ rủi ro thông qua việc phân tích xác định rủi ro tiềm tàng, như: Việc tổ chức, theo dõi nợ thuế, theo dõi, quyết toán hàng nhập khẩu sản xuất, gia công hàng xuất khẩu; xác nhận thực nhập, thực xuất; theo dõi miễn thuế, xét miễn thuế, xóa nợ thuế có nhiều sơ hở, không có số liệu báo cáo định

kỳ, đột xuất trong toàn ngành Hải quan cho thấy thiếu tính hệ thống trong việc kiểm tra, kiểm soát của hệ thống hải quan; rủi ro kiểm soát như không có số liệu báo cáo định kỳ, đột xuất theo các chỉ tiêu báo cáo cho nên chưa phát hiện kịp thời các gian lận, sai sót dẫn đến rủi ro kiểm soát cao

Trang 33

Từ các yếu tố rủi ro kiểm toán nêu trên, trong quá trình phân tích, đánh giá rủi ro kiểm toán tại các đơn vị kiểm toán, kiểm toán viên phải nhận biết được các mối quan hệ của các loại rủi ro kiểm toán; phải đánh giá được hệ thống kiểm soát nội bộ để ước lượng rủi ro kiểm toán làm cơ sở cho việc xác định phạm vi kiểm toán phù hợp, đồng thời xác định được phương pháp kiểm toán thích hợp

để lập kế hoạch kiểm toán chi tiết được sát thực, đảm bảo cho cuộc kiểm toán được hiệu quả

- Lập kế hoạch kiểm toán: Trên cơ sở khảo sát, thu thập và đánh giá thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, thông tin về tài chính và các thông tin khác về đơn vị được kiểm toán, Trưởng Đoàn kiểm toán lập kế hoạch kiểm toán Kế hoạch kiểm toán bao gồm các nội dung cơ bản sau:

+ Mục tiêu kiểm toán: Đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ

và quyền hạn được giao đối với cơ quan quản lý thuế; thông qua kiểm toán tại

cơ quan quản lý thuế, đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế, quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với người nộp thuế; chỉ ra các thiếu sót, sai phạm (nếu có) của người nộp thuế liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật cho ngân sách nhà nước; đánh giá tính hợp lý của dự toán và việc tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước về công tác lập và giao dự toán thu NSNN; xác nhận tính đúng đắn, trung thực của Báo cáo thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn năm ngân sách được kiểm toán thuộc phạm vi quản lý của cơ quan quản lý thuế

Thông qua kết quả kiểm toán, chỉ ra các thiếu sót, sai phạm (nếu có) để xác định trách nhiệm của tập thể và cá nhân có liên quan theo Công văn số 165/HD-KTNN ngày 06/3/2008 của KTNN hướng dẫn kết luận về trách nhiệm

và kiến nghị xử lý vi phạm theo kết quả kiểm toán; chỉ ra các bất cập, tồn tại về chính sách, cơ chế quản lý tài chính; chính sách thuế và cơ chế quản lý thuế để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấn chỉnh, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm góp phần động viên đầy đủ, kịp thời và đúng đối tượng các nguồn thu cho NSNN

- Phạm vi kiểm toán, gồm xác định rõ niên độ ngân sách hoặc khoảng thời gian cần thực hiện kiểm toán; xác định rõ số đơn vị cần tiến hành kiểm toán

Trang 34

- Giới hạn kiểm toán, gồm nêu những giới hạn không kiểm toán và lý do không thực hiện

- Thời hạn kiểm toán: Thời hạn kiểm toán của cuộc kiểm toán được tính

từ ngày công bố quyết định kiểm toán đến khi kết thúc việc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán

- Bố trí nhân sự kiểm toán: Trưởng đoàn phân Tổ kiểm toán, phân công

Tổ trưởng và bố trí Kiểm toán viên phù hợp với trình độ, năng lực đảm bảo nguyên tắc độc lập, khách quan

- Kinh phí và các điều kiện vật chất cần thiết cho cuộc kiểm toán: Kế hoạch kiểm toán phải xác định rõ kinh phí và các điều kiện cần thiết cho cuộc kiểm toán, như: Chi phí ăn, ở, đi lại và các phương tiện làm việc phục vụ cho hoạt động của Đoàn kiểm toán

- Xét duyệt kế hoạch kiểm toán, theo đó kiểm toán trưởng thẩm định kế hoạch kiểm toán, nội dung thẩm định kế hoạch kiểm toán bao gồm:

+ Việc tuân thủ quy định mẫu kế hoạch kiểm toán về kết cấu, nội dung kế hoạch kiểm toán;

+ Tính đầy đủ, hợp lý của các thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, tình hình tài chính và các thông tin khác; tính hợp lý trong việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và các thông tin thu thập được;

+ Việc tuân thủ hướng dẫn mục tiêu kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trong xác định mục tiêu, nội dung kiểm toán;

+ Tính phù hợp giữa mục tiêu, trọng yếu, nội dung, phương pháp kiểm toán với các thông tin thu thập và đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ, thông tin tài chính và các thông tin khác;

+ Tính hợp lý trong việc bố trí thời gian, lịch kiểm toán; bố trí nhân sự thực hiện kiểm toán;

Bộ phận thẩm định phải lập báo cáo thẩm định bằng văn bản nêu rõ kết quả thẩm định theo các nội dung nêu trên để trình Kiểm toán trưởng

Trên cơ sở dự thảo Kế hoạch kiểm toán do Kiểm toán trưởng trình, Lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước xét duyệt kế hoạch kiểm toán; Kiểm toán trưởng chỉ đạo Trưởng đoàn hoàn thiện kế hoạch kiểm toán theo kết luận của Tổng Kiểm toán Nhà nước hoặc người được Tổng Kiểm toán Nhà nước ủy quyền, ký, gửi các bộ phận có liên quan theo quy định

- Phổ biến quyết định, kế hoạch kiểm toán và cập nhật kiến thức cho thành viên Đoàn kiểm toán, theo đó, trưởng đoàn phổ biến quyết định, kế hoạch kiểm

Trang 35

toán, Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán nhà nước để thành viên Đoàn kiểm toán nắm vững và hiểu thống nhất về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phạm vi và thời hạn tiến hành cuộc kiểm toán; cập nhật kiến thức cần thiết cho thành viên Đoàn kiểm toán với những nội dung và hình thức chủ yếu, như: Báo cáo thực tế về tổ chức hoạt động, kinh nghiệm quản lý, kiểm soát nội bộ, nghiệp

vụ kế toán, phân tích hoạt động kinh tế của các chuyên gia trong và ngoài ngành; phổ biến cơ chế, chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán của Nhà nước mà đơn vị được kiểm toán phải tuân thủ hoặc được phép áp dụng Đặc biệt, phải cập nhật các quy định mới về tài chính, kế toán có liên quan đến hoạt động của ngành thuế và hải quan

- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho Đoàn kiểm toán, như: Tài liệu làm căn cứ pháp lý cho cuộc kiểm toán và các văn bản về chính sách, chế độ tài chính, kế toán cần thiết ; tài liệu về quá trình hoạt động của đơn vị được kiểm toán trong các năm trước, một số báo cáo kiểm toán lần trước; quy chế tổ chức

và hoạt động của Đoàn Kiểm toán Nhà nước và các văn bản hướng dẫn nghiệp

vụ của Kiểm toán Nhà nước; giấy tờ khác phục vụ cho liên hệ công tác trong quá trình kiểm toán; các phương tiện, thiết bị hỗ trợ kiểm toán

Bước 2 THỰC HIỆN KIỂM TOÁN

Trình tự, thủ tục bước thực hiện kiểm toán tại cơ quan thuế và hải quan được thực hiện cụ thể gắn với nội dung kiểm toán, như:

- Kiểm toán tính tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quản lý thu ngân sách như: Luật về quản lý thuế, Luật hải quan, các luật thuế, Pháp lệnh phí và lệ phí…Khi lập kế hoạch kiểm toán chi tiết cần lưu ý một số vấn đề sau:

+ Quy mô quản lý thu ngân sách của đơn vị, tổng kinh phí do đơn vị quản

lý sử dụng, số lượng các nghiệp vụ phát sinh;

+ Tính chất về nghiệp vụ của địa bàn quản lý như: hải quan ở cửa khẩu biên giới và hải quan trong nội địa; thuế ở địa bàn có nhiều doanh nghiệp khác với địa bàn có nhiều hộ cá thể…

+ Mức độ chi tiết, đầy đủ của các tiêu chí kiểm toán đã được xây dựng trong kế hoạch kiểm toán của Đoàn kiểm toán;

+ Quy trình quản lý thu thuế nội địa hoặc thuế xuết nhập khẩu theo luật và thực tế;

+ Các thủ tục kiểm toán chi tiết phải được thực hiện một cách nhất quán đối với những nội dung giống nhau giữa các tổ kiểm toán

Trang 36

- Kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn và trung thực của Báo cáo quyết toán thu NSNN của do ngành thuế và hải quan lập

Trên cơ sở các căn cứ kiểm toán, như: Luật NSNN, Luật kế toán và các

văn bản hướng dẫn thực hiện; các chế độ quản lý tài chính, kế toán của Nhà nước; báo cáo quyết toán ngân sách do cơ quan thuế và hải quan lập năm được kiểm toán và những năm trước sau có liên quan; các báo cáo kiểm toán, kết luận thanh tra, kiểm tra năm trước sau có liên quan đến năm được kiểm toán nội

dung kiểm toán chủ yếu kiểm tra tính hợp lý và việc tuân thủ các quy định hiện

hành của Nhà nước về công tác lập và giao dự toán thu NSNN; so sánh, đối chiếu với tình hình thực hiện năm trước, tình hình thay đổi cơ chế, chính sách có liên quan ảnh hưởng đến thu NSNN và số tự kê khai, tự nộp trên địa bàn; kiểm tra tình hình thực hiện dự toán thu thuế và các khoản lệ phí cần phải kiểm tra từng chỉ tiêu cụ thể; đi sâu phân tích các chỉ tiêu thu đạt hoặc không đạt dự toán, chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan của tình hình trên; kiểm tra kết quả đối chiếu giữa cơ quan thuế và hải quan và KBNN về số thực nộp tại KBNN đối với từng khoản thu; kiểm tra tình hình thu thập thông tin nghiệp vụ của ngành thuế

và hải quan, các cục thuế và hải quan địa phương; việc tổng hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin phục vụ hoạt động nghiệp vụ; kiểm tra, đánh giá tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tổng hợp toàn ngành thuế và hải quan về miễn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xóa nợ thuế, giải tỏa cưỡng chế thuế; thực hiện

chế độ ưu đãi thuế Những sai sót và gian lận thường gặp, như: Số liệu không

khớp đúng giữa báo cáo tổng hợp toàn ngành và báo cáo của các cơ quan thuế

và hải quan địa phương; số liệu giữa các chỉ tiêu, sắc thuế còn nhầm lẫn; số liệu không khớp đúng giữa báo cáo của cơ quan thuế và hải quan với KBNN, với báo cáo quyết toán thu NSNN của cơ quan tài chính cùng cấp; các cơ quan quản lý ngân sách các cấp điều chỉnh báo cáo cho số thu tăng lên hoặc giảm xuống nhằm mục tiêu hoàn thành dự toán thu để hưởng số trích thưởng, đầu tư hoặc giấu nguồn thu chuyển sang số thu năm sau; số tạm nộp, tạm thu, tạm giữ đến thời hạn xử lý nhưng chưa xử lý dẫn đến số thu không chính xác; dự toán thu NSNN xây dựng thấp, không báo quát hết nguồn thu; không dự đoán được những biến động về cơ chế, chính sách và tình hình kinh tế xã hội trong năm kế hoạch Phương pháp thu thập thông tin được áp dụng, như: Tập hợp thống kê tình hình số liệu, văn bản pháp quy; đối chiếu, so sánh; phân tích đánh giá; trao đổi, phỏng vấn các nhà quản lý và nhân viên có trách nhiệm của đơn vị, thu thập các giải trình của đơn vị; nghiên cứu các tài liệu lưu trữ của Kiểm toán Nhà nước

Trang 37

liên quan đến đơn vị được kiểm toán; trao đổi với các cơ quan quản lý chuyên ngành, cơ quan quản lý nhà nước cấp trên trực tiếp; khai thác trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến đơn vị được kiểm toán

- Kiểm toán tính tuân thủ pháp luật của nhà nước trong quản lý thu ngân sách, theo đó: Kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc lựa chọn hình thức kiểm tra thuế và hải quan; kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ quy trình, nghiệp về thuế, liên quan đến căn cứ tính thuế, thuế suất áp dụng; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra của ngành thuế, điều tra chống buôn lậu của cơ quan hải quan có liên quan đến quản lý thuế; việc

xử lý theo quy định của pháp luật đối với các vụ việc mà cơ quan thuế và hải quan phát hiện hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện; kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu, chống thất thu thuế đối với công tác quản lý thuế; kiểm tra, đánh giá việc theo dõi, phân loại và xử lý nợ thuế Cần kiểm tra việc cho phép hưởng thời hạn nộp thuế, việc ấn định thuế có đúng quy định, đúng thẩm quyền hay không? Kiểm tra, đánh giá việc quản lý, theo dõi, thanh khoản hàng hóa nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu; hàng tạm xuất, tái nhập; hàng tạm nhập, tái xuất; hàng hóa nhập chuyển cửa khẩu; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chế độ hoàn thuế, xét miễn thuế, giảm thuế, ưu đãi thuế có đủ điều kiện, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền hay không? kiểm tra các tài khoản tạm thu, tạm giữ, trong đó cần chú ý đối chiếu số liệu giữa số báo cáo của cơ quan thuế, hải quan và số liệu của KBNN; đánh giá việc xử lý, thực hiện nộp NSNN có đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật hay không? kiểm tra các khoản chi phí trong quá trình xử lý vi phạm

Việc chọn mẫu kiểm tra, đối chiếu được áp dụng tại cơ quan thuế cần chọn một số doanh nghiệp có số nộp NSNN, miễn giảm, hoàn thuế, nợ thuế lớn; tại cơ quan hải quan cần chọn một số nhóm mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn, thuộc nhóm mặt hàng xuất khẩu có điều kiện như than, dầu thô Ngoài ra, khi kiểm toán tổng hợp và kiểm toán chi tiết tại các đơn vị được kiểm toán cần kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán các lần trước của Kiểm toán Nhà nước

Những sai sót và gian lận thường gặp, như: các vi phạm về thời hạn đăng

ký, kê khai, làm thủ tục; vi phạm về thủ tục tục thuế, hải quan: kê khai không đầy đủ, không đúng các nội dung trong hồ sơ; vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế…; vi phạm về chậm nộp tiền

Trang 38

thuế; kê khai gian lận nhằm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn; trốn thuế

Bước 3 LẬP VÀ GỬI BÁO CÁO KIỂM TOÁN

Lập và gửi báo cáo kiểm toán gồm các công việc, như: Lập báo cáo kiểm toán; kiểm toán trưởng xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán; lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán; Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực hoàn thiện dự thảo báo cáo kiểm toán, lấy

ý kiến tham gia của đơn vị được kiểm toán, thông báo kết quả kiểm toán; phát hành báo cáo kiểm toán

- Về lập báo cáo kiểm toán: Để tiến hành lập báo cáo kiểm toán cần tập

hợp các bằng chứng kiểm toán, kết quả kiểm toán Bằng chứng kiểm toán, kết

quả kiểm toán bao gồm: Các hồ sơ, tài liệu, số liệu đã được thu thập và đánh giá, xác minh trong quá trình kiểm toán để làm cơ sở chứng minh cho các ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến nghị của Kiểm toán viên, của Trưởng đoàn

về những vấn đề được kiểm toán; các bằng chứng thu thập được qua điều tra thực tiễn, qua các phỏng vấn và trao đổi trực tiếp đã được Kiểm toán viên xem xét, nghiên cứu; biên bản kết quả các cuộc làm việc với những người có trách nhiệm giải trình các vấn đề Kiểm toán viên yêu cầu phải làm rõ; bBáo cáo giải trình của đơn vị được kiểm toán đã được Kiểm toán viên kiểm tra; các tài liệu,

hồ sơ do bên thứ ba cung cấp đã được Kiểm toán viên xem xét, nghiên cứu; biên bản xác nhận tình hình số liệu kiểm toán của Kiểm toán viên, biên bản kiểm toán của các Tổ kiểm toán, nhật ký và tài liệu làm việc của Kiểm toán viên, Tổ kiểm toán; bảng tổng hợp kết quả kiểm toán theo từng nội dung từng chỉ tiêu kiểm toán đã được nêu trong quyết định kiểm toán

Ngoài ra, Kiểm toán viên còn phải hệ thống, tập hợp đầy đủ các văn bản pháp luật có liên quan làm căn cứ pháp lý cho các ý kiến kiểm toán; các tài liệu

cần thiết khác có liên quan đến cuộc kiểm toán Trưởng đoàn phải kiểm tra, rà

soát tính hợp pháp, hợp lệ của bằng chứng kiểm toán, kết quả kiểm toán Phân loại và tổng hợp bằng chứng kiểm toán, kết quả kiểm toán theo tiêu chí phù hợp với từng lĩnh vực kiểm toán, phù hợp với các nội dung, biểu mẫu báo cáo kiểm toán theo quy định của Kiểm toán Nhà nước

Trên cơ sở kết quả tổng hợp tình hình, số liệu kiểm toán, Trưởng đoàn lập

dự thảo báo cáo kiểm toán

Báo cáo kiểm toán phải bảo đảm các yêu cầu chung quy định tại Chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước và theo mẫu quy định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

Trang 39

Báo cáo kiểm toán gồm những nội dung cơ bản sau: Căn cứ để thực hiện cuộc kiểm toán, nội dung, phạm vi, giới hạn kiểm toán; kết quả kiểm toán về số liệu, nhận xét, đánh giá kiểm toán về các nội dung, mục tiêu, trọng yếu kiểm toán đã thể hiện trong kế hoạch kiểm toán; kết luận tổng quát về những việc đã làm được, những hạn chế, sai sót, sai phạm nổi bật được phát hiện qua kiểm toán; kết quả thực hiện các mục tiêu kiểm toán; kiến nghị xử lý số liệu phát hiện qua kiểm toán; các kiến nghị về chấn chỉnh, hoàn thiện công tác quản lý tài chính, kế toán với đơn vị được kiểm toán; các kiến nghị với các cơ quan chức năng có liên quan, Chính phủ, Quốc hội về những vấn đề cần xử lý, điều chỉnh, hoàn thiện trong quản lý kinh tế, tài chính, ngân sách, kế toán

- Thảo luận, lấy ý kiến thành viên Đoàn kiểm toán Theo đó, Trưởng đoàn

tổ chức thảo luận trong Đoàn kiểm toán để lấy ý kiến tham gia của các thành viên Đoàn kiểm toán về đánh giá, nhận xét, kết luận và kiến nghị trong dự thảo báo cáo kiểm toán Xem xét, tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thành viên trong Đoàn kiểm toán, hoàn chỉnh dự thảo báo cáo kiểm toán để trình Kiểm toán trưởng xét duyệt Việc thảo luận trong Đoàn kiểm toán về dự thảo báo cáo kiểm toán phải được lập thành biên bản theo mẫu quy định của Tổng Kiểm toán Nhà nước Trong trường hợp còn có các ý kiến khác nhau thì Kiểm toán viên được quyền bảo lưu ý kiến theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Kiểm toán Nhà nước

- Thời gian hoàn chỉnh dự thảo báo cáo kiểm toán của Trưởng đoàn Theo

quy định, chậm nhất 15 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị, Trưởng

đoàn phải hoàn thành dự thảo báo cáo kiểm toán trình Kiểm toán trưởng xét duyệt Phòng Tổng hợp hoặc các thành viên khác do Kiểm toán trưởng chỉ định

có trách nhiệm thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán, nội dung thẩm định gồm: Kết quả thực hiện kế hoạch kiểm toán đã được lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước phê duyệt về mục tiêu, trọng yếu, nội dung, phạm vi, giới hạn, đơn vị được kiểm toán, thời hạn kiểm toán; tính đầy đủ, thích hợp của các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho các nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến nghị kiểm toán; tính đúng đắn, đầy đủ và chính xác của số liệu; tính hợp lý, hợp pháp của những đánh giá, nhận xét, kết luận, kiến nghị và tính khả thi của những kiến nghị kiểm toán;vviệc tuân thủ các yêu cầu về báo cáo kiểm toán quy định trong chuẩn mực kiểm toán; tuân thủ mẫu báo cáo kiểm toán về kết cấu, nội dung báo cáo kiểm toán; tính hợp lý, chặt chẽ trong trình bày báo cáo, văn phạm và lỗi chính tả;

Trang 40

việc tuân thủ quy định về tài liệu, hồ sơ của cuộc kiểm toán: Bộ phận được giao thẩm định phải lập báo cáo thẩm định trình Kiểm toán trưởng

- Kiểm toán trưởng tổ chức họp xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán Theo đó, chậm nhất 5 ngày kể từ khi nhận được dự thảo báo cáo kiểm toán của Trưởng đoàn, Kiểm toán trưởng phải hoàn thành việc xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán Nội dung, kết quả họp xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán được phản ánh vào biên bản xét duyệt báo cáo kiểm toán theo mẫu quy định

Trưởng đoàn hoàn thiện dự thảo báo cáo kiểm toán theo kết luận của Kiểm toán trưởng tại cuộc họp xét duyệt báo cáo Trong trường hợp còn có các

ý kiến khác nhau thì Trưởng Đoàn kiểm toán được quyền bảo lưu ý kiến theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Kiểm toán Nhà nước

Kiểm toán trưởng trình lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước dự thảo báo cáo kiểm toán đã được hoàn chỉnh kèm theo các hồ sơ trình và tài liệu có liên quan theo quy định

- Lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán Theo đó, để giúp lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán, Tổng Kiểm toán Nhà nước giao cho các đơn vị tham mưu thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán, cụ thể, như: Kết quả thực hiện mục tiêu, trọng yếu, nội dung, phạm vi, giới hạn kiểm toán, đơn vị được kiểm toán trong kế hoạch kiểm toán; việc tuân thủ chuẩn mực về báo cáo kiểm toán; tính lôgíc, phù hợp giữa kết quả kiểm toán với nhận xét, kết luận, kiến nghị kiểm toán; tính đúng đắn, hợp lý của những ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận kiểm toán và tính khả thi của những kiến nghị kiểm toán; việc tuân thủ các quy định về hồ sơ kiểm toán, mẫu, thể thức trong việc lập báo cáo kiểm toán; tính hợp pháp của các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị kiểm toán trong dự thảo báo cáo kiểm toán; việc viện dẫn áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong kết luận, kiến nghị kiểm toán; những nội dung cần phải làm rõ để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị kiểm toán; các kết luận, kiến nghị cần

bổ sung để đảm bảo đúng quy định của pháp luật

- Lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước tổ chức họp xét duyệt dự thảo báo cáo

kiểm toán trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo báo cáo kiểm toán Địa điểm, thành phần họp xét duyệt dự thảo báo cáo kiểm toán do Tổng Kiểm toán Nhà nước quyết định

- Hoàn thiện dự thảo báo cáo kiểm toán, lấy ý kiến tham gia của đơn vị được kiểm toán Theo đó, Kiểm toán trưởng chỉ đạo Trưởng đoàn hoàn chỉnh dự

Ngày đăng: 19/03/2015, 01:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng biểu  I  Tại Tổng cục Hải quan - Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng trong các cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan
Bảng bi ểu I Tại Tổng cục Hải quan (Trang 49)
BẢNG TỔNG HỢP TÌNH HÌNH XOÁ NỢ THUẾ, XOÁ PHẠT CHẬM NỘP THUẾ NĂM 200… - Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng trong các cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan
200 … (Trang 54)
3  Bảng tổng hợp kết quả kiểm toán về hoàn thuế giá trị - Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng trong các cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan
3 Bảng tổng hợp kết quả kiểm toán về hoàn thuế giá trị (Trang 72)
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ  KIỂM TOÁN VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ  GIA TĂNG NĂM 200… - Xây dựng quy trình và hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng trong các cuộc kiểm toán tại cơ quan thuế và cơ quan hải quan
200 … (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w