1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu giữa cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước trong kiểm toán ngân sách địa phương

40 569 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở pháp lý và bản chất của việc đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong báo cáo quyết toán ngân sách địa phương a Khái niệm về của quyết toán ngân sách n

Trang 1

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC IV

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG PHẦN MỀM ĐỐI CHIẾU SỐ LIỆU GIỮA CƠ QUAN TÀI CHÍNH VÀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG KIỂM TOÁN

NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CNĐT : HOÀNG BỔNG

9417

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

MỞ ĐẦU

Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Kiểm toán quyết toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ trọng tâm của cơ

quan Kiểm toán Nhà nước khu vực

Để đánh giá tính chính xác của Báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

(tỉnh - thành phố, quận - huyện), cần phải xác định sự khớp đúng, thống nhất về

số liệu của 2 cơ quan: Tài chính địa phương (Sở Tài chính, Phòng Tài chính, là

cơ quan quản lý ngân sách, có nhiệm vụ lập báo cáo quyết toán ngân sách) và

Kho bạc Nhà nước địa phương (Kho bạc Nhà nước tỉnh - thành phố, Kho bạc

Nhà nước quận - huyện, là cơ quan quản lý quỹ ngân sách và kế toán ngân sách)

theo quy định của luật ngân sách nhà nước

Hiện nay, việc đối chiếu số liệu giữa 2 cơ quan này được thực hiện bằng

thủ công, trên cơ sở báo cáo đã được in ra giấy Người kiểm toán viên khi thực

hiện kiểm toán phải sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá sự khớp đúng

giữa các khoản mục trên số liệu báo cáo của 2 cơ quan Tài chính và Kho bạc

Nhà nước (Kho bạc nhà nước) bằng mắt thường Do đó, thời gian để thực hiện

kéo dài, độ chính xác không cao

Trong những năm qua, các cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước đã

thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách bằng phần mềm máy tính Số

liệu quyết toán ngân sách, ngoài việc thực hiện in trực tiếp ra giấy, các chương

trình này đều có thể xuất số liệu dưới dạng cơ sở dữ liệu (database) để gửi lên cơ

quan cấp trên

Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm toán, cùng với yêu cầu

hiện đại hóa phương pháp kiểm toán trong môi trường công nghệ thông tin, cần

thiết phải có chương trình phần mềm để tận dụng dữ liệu đã có trên hệ thống

chương trình quản lý ngân sách của cơ quan Tài chính và trên hệ thống kế toán

của Kho bạc nhà nước, để áp dụng vào nội dung kiểm toán đối chiếu số liệu

quyết toán ngân sách giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước

Mục tiêu nghiên cứu

Theo Quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước được ban hành kèm theo

Quyết định số 08/1999/QĐ-KTNN ngày 15/12/1999 của Tổng Kiểm toán Nhà

nước, khi kiểm toán ngân sách địa phương, phải thực hiện đối chiếu số liệu

quyết toán thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách địa phương giữa 2 cơ quan

Tài chính và Kho bạc Nhà nước để đảm bảo tính khớp đúng về số liệu quyết

toán

Trang 3

Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác đối chiếu số liệu quyết toán trong

kiểm toán ngân sách địa phương chưa được các đoàn kiểm toán quan tâm đúng

mức, do công việc này làm mất nhiều thời gian, công sức nhưng kết quả đạt

được không cao

Mục tiêu của đề tài là xây dựng phần mềm hỗ trợ việc đối chiếu số liệu

giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán ngân sách địa

phương, giúp kiểm toán viên đưa ra kết luận một cách nhanh chóng về tính

chính xác, khớp đúng của số liệu quyết toán ngân sách, tìm ra các sai lệch để xác

định rõ nguyên nhân

Đối tượng nghiên cứu

Quy trình kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc

Nhà nước trong kiểm toán ngân sách nhà nước, quy định tại điểm 2.2.1 khoản 2

mục I và điểm 2.2.1 khoản 2 mục II chương III Quy trình kiểm toán ngân sách

nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 08/1999/QĐ-KTNN ngày

15/12/1999 của Tổng Kiểm toán Nhà nước

Phạm vi nghiên cứu

Số liệu quyết toán thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách địa phương

của ngân sách các cấp tỉnh, huyện trong quy trình kiểm tra, đối chiếu số liệu

giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước trong kiểm toán ngân sách địa

phương

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và 2 chương, Đề tài còn một phụ lục gồm

hai phần và 01 bộ đĩa cài đặt

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng phần mềm đối chiếu số

liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong báo cáo quyết toán ngân

sách địa phương

Chương 2: Xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính

và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Phụ lục: Hướng dẫn cài đặt và sử dụng chương trình

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng phần mềm đối

chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong

báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

1.1 Công tác đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc

nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

1.1.1 Cơ sở pháp lý và bản chất của việc đối chiếu số liệu giữa cơ quan

Tài chính và Kho bạc nhà nước trong báo cáo quyết toán ngân sách địa

phương

a) Khái niệm về của quyết toán ngân sách nhà nước, quyết toán ngân

sách địa phương

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm

để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội

đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Quyết toán ngân sách nhà nước là khâu cuối cùng trong một chu trình

ngân sách nhằm tổng kết, đánh giá việc chấp hành ngân sách nhà nước cũng như

các chính sách tài chính ngân sách của năm ngân sách đã qua

Hiểu theo cách khác, quyết toán ngân sách nhà nước có thể xem là việc

tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách và chính sách tài chính ngân sách

của quốc gia cũng như xem xét trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước

khi sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia để thực hiện các chức năng nhiệm vụ

của nhà nước trong một năm tài chính, được Quốc Hội phê chuẩn

Tương tự, quyết toán ngân sách địa phương là việc tổng kết, đánh giá

việc thực hiện ngân sách và chính sách tài chính ngân sách của địa phương, cũng

như xem xét trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước của địa phương khi

sử dụng nguồn lực tài chính để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của địa

phương trong một năm tài chính, được Hội đồng nhân dân phê chuẩn

Như vậy, quyết toán ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách địa

phương trở thành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ

đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan quản lý ngân sách, cơ quan kiểm tra, kiểm

Trang 5

soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia là Quốc hội và

của địa phương là Hội đồng nhân dân

b) Cơ sở pháp lý và bản chất của việc đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài

chính và Kho bạc nhà nước trong báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 do Quốc hội Khoá XI, kỳ họp

thứ hai thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 quy định trách nhiệm của cơ quan

Tài chính, Kho bạc Nhà nước trong việc hạch toán kế toán và quyết toán ngân

sách nhà nước như sau:

- Khoản 2 Điều 61: "Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế

toán ngân sách nhà nước; định kỳ báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi ngân

sách cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước hữu quan"

- Khoản 1 Điều 65" "Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương thẩm định

quyết toán thu, chi ngân sách của các cơ quan cùng cấp và quyết toán ngân sách

cấp dưới, tổng hợp, lập quyết toán ngân sách địa phương trình Uỷ ban nhân dân

cùng cấp để Uỷ ban nhân dân xem xét trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê

chuẩn, báo cáo cơ quan hành chính nhà nước và cơ quan tài chính cấp trên trực

tiếp"

Tại Chương V của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Ngân sách Nhà nước

cũng quy định như sau:

- Về công tác kế toán Ngân sách Nhà nước - Khoản 1 Điều 64 quy định:

"Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế toán thu, chi ngân sách Nhà

nước, định kỳ hàng tháng, quý, năm báo cáo việc thực hiện dự toán thu, chi cho

cơ quan tài chính cùng cấp, Kho bạc Nhà nước huyện lập báo cáo thu, chi ngân

sách của từng xã, phường, thị trấn gửi Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn,

thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên hoặc đột xuất cho cơ quan tài chính theo

quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính."

- Về công tác quyết toán Ngân sách Nhà nước - Khoản 2 Điều 63 quy

định: "Cơ quan Tài chính phải lập báo cáo quyết toán ngân sách của Chính

quyền cùng cấp."

- Về trách nhiệm của cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước trong việc

lập báo cáo quyết toán ngân sách - Khoản 6 Điều 68 quy định: "Kho bạc Nhà

nước các cấp có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi cơ quan Tài chính

cùng cấp để cơ quan tài chính lập báo cáo quyết toán Kho bạc Nhà nước xác

nhận số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp,

đơn vị sử dụng ngân sách."

Trang 6

1.1.2 Mục tiêu, yêu cầu, của việc đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài

chính và Kho bạc nhà nước trong báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Việc đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong

quá trình lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách địa

phương nói riêng nhằm đảm bảo tính chính xác giữa số liệu kế toán do Kho bạc

nhà nước hạch toán trên cơ sở chứng từ gốc phát sinh và số liệu quyết toán do cơ

quan tài chính lập trên cơ sở số liệu kế toán thu, chi ngân sách do Kho bạc nhà

nước cung cấp

Theo quy định tại khoản 13 mục I Thông tư số 01/2005/TT-BTC ngày

17/11/2005 của Bộ Tài chính "Hướng dẫn công tác khoá sổ kế toán cuối năm và

lập, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm" yêu cầu, khi thực hiện

công tác khóa sổ cuối năm để lập báo cáo quyết toán, các cơ quan Tài chính,

Thuế, Hải quan và Kho bạc nhà nước phải thực hiện đối chiếu số thu ngân sách

nhà nước phát sinh trên địa bàn và số thu, chi ngân sách các cấp (kể cả số thu,

chi bổ sung giữa ngân sách các cấp và số thu trái phiếu, tín phiếu của ngân sách

trung ương) đảm bảo khớp đúng cả về tổng số và chi tiết theo Chương, Loại,

Khoản, Mục và Tiểu mục của Mục lục ngân sách nhà nước trước khi khoá sổ kế

toán cuối năm

1.1.3 Nguyên tắc tổ chức đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và

Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Kiểm toán viên phải đối chiếu số liệu giữa báo cáo thu ngân sách nhà

nước, chi ngân sách địa phương của Kho bạc nhà nước với số liệu trên báo cáo

quyết toán ngân sách do cơ quan tài chính lập để xác định tính chính xác và mức

độ tin cậy của số liệu báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước Số liệu

trên báo cáo quyết toán do hai cơ quan lập phải khớp đúng về tổng số và chi tiết

theo mục lục ngân sách nhà nước

Trong quá trình đối chiếu, nếu có sai lệnh số liệu, kiểm toán viên phải

xác định rõ nguyên nhân để có đánh giá phù hợp

Số liệu quyết toán sau khi được đối chiếu sẽ là cơ cở để đưa ra các đánh

giá, kết luận về công tác kế toán, công tác khóa sổ và lập quyết toán ngân sách

nhà nước theo quy định của luật NSNN

1.1.4 Quy trình, phương pháp đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính

và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa

phương

Theo quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết

định số 08/1999/QĐ-KTNN ngày 15/12/1999 của Tổng Kiểm toán Nhà nước,

công tác đối chiếu số liệu quyết toán được nêu trong các quy trình về kiểm toán

thu, chi ngân sách nhà nước như sau:

Trang 7

- Đối với kiểm toán tổng hợp thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà

nước, công tác đối chiếu số liệu quyết toán thu ngân sách được quy định tại

điểm 2.2.1 khoản 2 mục I chương III Nội dung này yêu cầu kiểm toán viên khi

thực hiện kiểm toán phải đối chiếu số thu trong báo cáo quyết toán thu của cơ

quan tài chính với số của kho bạc, cơ quan thuế

- Đối với kiểm toán tổng hợp chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà

nước, công tác đối chiếu số liệu quyết toán chi ngân sách được quy định tại điểm

2.2.1 khoản 2 mục I chương III Nội dung này yêu cầu kiểm toán viên khi thực

hiện kiểm toán phải đối chiếu số chi ngân sách nhà nước trên báo cáo quyết toán

do Kho bạc nhà nước lập với số chi ngân sách nhà nước do cơ quan Tài chính

lập để xác định tính chính xác và mức độ tin cậy của số liệu báo cáo quyết toán

chi ngân sách

Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán khi thực hiện công tác đối

chiếu là thực hiện so sánh số liệu giữa 2 báo cáo quyết toán do 2 cơ quan lập

theo tổng số và theo từng cấp, chương, loại, khoản, mục và tiểu mục Nếu có sự

sai lệch về số liệu giữa 2 bên, kiểm toán viên phải kiểm tra hồ sơ, chứng từ để

xác định nguyên nhân dẫn đến chênh lệch và là cơ sở để kiểm toán viên kết luận

về tính chính xác, trung thực và hợp lý của số liệu quyết toán ngân sách của địa

phương được kiểm toán

1.1.5 Hồ sơ, biểu mẫu sử dụng để đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài

chính và Kho bạc nhà nước trong báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

Hồ sơ, biểu mẫu làm căn cứ khi thực hiện đối chiếu số liệu là các biểu

mẫu về quyết toán thu, chi ngân sách do Bộ Tài chính ban hành, cụ thể:

- Đối với cơ quan Tài chính là các biểu mẫu quy định tại Thông tư số

59/2003/TT-BTC ngày 23 tháng 6 năm 2003 của Bộ Tài chính "Hướng dẫn thực

hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước", gồm: Quyết toán

thu ngân sách nhà nước theo mục lục ngân sách nhà nước (biểu số 04 - phụ lục

số 08), Quyết toán chi ngân sách nhà nước theo mục lục ngân sách nhà nước

(biểu số 05 - phụ lục số 08)

- Đối với Kho bạc nhà nước là các biểu mẫu quy định tại Quyết định số

14/2007/QĐ-BTC ngày 15 tháng 3 năm 2007 của Bộ trường Bộ Tài chính "Về

việc ban hành hệ thống Báo cáo tài chính và Báo cáo kế toán quản trị áp dụng

trong chế độ kế toán ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ Kho bạc nhà

nước ban hành theo Quyết định số 24/2006/QĐ-BTC ngày 06/4/2006 của Bộ

trưởng Bộ Tài chính", gồm: Báo cáo thu ngân sách nhà nước theo mục lục ngân

sách (mẫu số B1-02/BC-NS), Báo cáo chi ngân sách nhà nước theo mục lục

ngân sách (mẫu số B2-03/BC-NS)

Trang 8

1.2 Thực trạng công tác đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và

Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa

phương

1.2.1 Thực trạng công tác đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và

Kho bạc nhà nước qua kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

của Kiểm toán Nhà nước khu vực;

Qua nhiều cuộc kiểm toán ngân sách địa phương trong các năm qua của

Kiểm toán nhà nước khu vực IV nhận thấy, công tác đối chiếu số liệu quyết toán

ngân sách của cấp ngân sách tỉnh - thành phố và quận - huyện còn tồn tại Phần

lớn báo cáo quyết toán do cơ quan Tài chính lập gần như đều có chênh lệch với

số liệu báo cáo của Kho bạc nhà nước, mà chủ yếu về chi ngân sách nhà nước

Một số địa phương qua kiểm toán quyết toán ngân sách những năm gần đây có

chênh lệch về số liệu với Kho bạc nhà nước (chủ yếu là chênh lệch về chi tiết

theo mục lục ngân sách nhà nước), đã được nêu trong báo cáo kiểm toán, như:

- Báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách năm 2004 của tỉnh Tiền Giang

có phát hiện chênh lệch chi tiết mục lục ngân sách nhà nước trong quyết toán thu

ngân sách nhà nước và quyết toán chi ngân sách địa phương với số liệu báo cáo

của Kho bạc nhà nước

- Báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách năm 2005 của tỉnh Bình

Dương có phát hiện chênh lệch trong báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước

về chi tiết mục lục ngân sách nhà nước; trong quyết toán chi NSĐP có chênh

lệch về tổng số chi và chênh lệch về mục lục ngân sách nhà nước

- Báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách năm 2005 của tỉnh Cà Mau có

phát hiện chênh lệch chi tiết mục lục ngân sách nhà nước trong quyết toán thu

ngân sách nhà nước và quyết toán chi ngân sách địa phương với số liệu báo cáo

của Kho bạc nhà nước

Nguyên nhân chênh lệch chủ yếu do công tác đối chiếu số liệu của 2 cơ

quan Tài chính và Kho bạc nhà nước chưa được tốt, do công tác đối chiếu được

thực hiện bằng thủ công (so sánh bằng mắt thường) trong khi số lượng chi tiết

các dòng đối chiếu quá nhiều, hoặc do không đủ thời gian để thực hiện công tác

đối chiếu

1.2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động

nghiệp vụ của hệ thống Tài chính, Kho bạc nhà nước thuộc Bộ Tài chính và

giữa cơ quan Tài chính với Kho bạc nhà nước ở địa phương

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, tính đến năm 2007, toàn ngành Tài chính

đang vận hành 46 chương trình ứng dụng hỗ trợ cho các nghiệp vụ quản lý tài

chính, ngân sách, trong đó có một số chương trình quan trọng, như:

Trang 9

- Chương trình Quản lý ngân sách nhà nước, áp dụng cho việc quản lý

ngân sách trung ương và ngân sách địa phương tại cả bốn cấp ngân sách trên

toàn quốc phục vụ cho công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước cũng

như nội bộ ngành Tài chính Song, các ứng dụng trong nhóm này mới chỉ hỗ trợ

chủ yếu cho các chức năng nghiệp vụ về kế toán, quyết toán; các lĩnh vực về dự

toán, kiểm tra giám sát chưa được ứng dụng hoặc ứng dụng không đầy đủ

- Chương trình đăng ký thuế và cấp mã số thuế: Cập nhật và lưu giữ toàn

bộ thông tin kê khai đăng ký thuế của đối tượng nộp thuế, đã trợ giúp các cơ

quan thuế tra cứu khai thác thông tin về đối tượng nộp thuế, kiểm soát tư cách

pháp nhân, hoạt động của đối tượng nộp thuế trên địa bàn cả nước

- Chương trình Quản lý thu thuế: Thực hiện tự động hoá những khâu xử

lý trọng tâm của quá trình quản lý thu thuế như: xử lý tờ khai tính thuế, tính nợ

thuế, tính phạt và theo dõi tình hình thu, nộp thuế của từng đối tượng nộp thuế;

in thông báo thuế; xử lý các kết quả quyết định miễn, giảm, hoàn thuế; cung cấp

một số thông tin hỗ trợ cho công tác kiểm tra, thanh tra thuế; xử lý giấy nộp tiền

thuế để chấm bộ thuế; tổng hợp lập các báo cáo kế toán thuế, thống kê thuế theo

chế độ quy định Chương trình đã được ứng dụng trong việc quản lý thu các sắc

thuế: thuế Giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Tiêu thụ đặc biệt,

thuế Tài nguyên, thuế Thu nhập cao, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế Nhà

đất, phí, lệ phí

- Chương trình quản lý ấn chỉ thuế: Theo dõi tình hình cấp phát, sử dụng

hoá đơn, ấn chỉ thuế trong từng đơn vị thuế; lập toàn bộ hệ thống sổ sách, báo

cáo về ấn chỉ; truyền nhận dữ liệu ấn chỉ giữa các cấp phục vụ tra cứu khai thác

số liệu ấn chỉ trên mạng máy tính toàn ngành

- Các chương trình Quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ nhà nước

và các quỹ tài chính khác của Nhà nước: Hỗ trợ hầu hết các nghiệp vụ quản lý

quỹ ngân sách nhà nước và phục vụ các yêu cầu kiểm soát thu chi của Kho bạc

Nhà nước Mức độ hỗ trợ chủ yếu tập trung vào những khâu xử lý tính toán trực

tiếp và phân nhỏ theo từng nhiệm vụ

- Chương trình Quản lý về lĩnh vực Hải quan: Các ứng dụng đã phát triển

như: Hệ thống thu thập và xử lý dữ liệu tờ khai Hải quan; Hệ thống quản lý theo

dõi nợ thuế, kế toán thu thuế xuất nhập khẩu; Hệ thống dữ liệu giá tính thuế; Hệ

thống quản lý hàng gia công

- Chương trình Quản lý tài sản nhà nước: Ứng dụng CNTT trong lĩnh vực

quản lý tài sản nhà nước đã được thực hiện từ năm 1998, phục vụ đồng bộ với

đợt tổng kiểm kê tài sản nhà nước trong các đơn vị hành chính sự nghiệp tuy

nhiên chương trình mới dừng ở mức thực hiện việc kiểm kê, quản lý tài sản từ

và hệ thống cơ sở dữ liệu về tài sản thu thập được để phục vụ yêu cầu phân tích,

tra cứu

Trang 10

Nhìn chung, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp

vụ quản lý ngân sách nhà nước của cơ quan Tài chính và kế toán ngân sách nhà

nước của Kho bạc nhà nước đã được triển khai thực hiện từ nhiều năm trước

Tuy nhiên, các chương trình nghiệp vụ trên được thiết kế và xây dựng riêng cho

từng cơ quan, mà chưa kết nối hoặc sử dụng cơ sở dữ liệu của nhau Mặt khác,

trong quá trình thực hiện công tác quyết toán ngân sách nhà nước, cơ quan Tài

chính và Kho bạc nhà nước của các địa phương chưa tận dụng cơ sở dữ liệu sẵn

có từ các chương trình nghiệp vụ của mình để phục vụ cho công tác đối chiếu số

liệu Việc thực hiện đối chiếu số liệu quyết toán của cơ quan Tài chính với số

liệu kế toán của Kho bạc nhà nước còn thực hiện bằng thủ công mà không tận

dụng cơ sở dữ liệu sẵn có trong các chương trình nghiệp vụ của mình để phục vụ

cho công tác trao đổi thông tin, đối chiếu số liệu giữa hai bên trong quá trình lập

báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước Chính vì vậy, qua kiểm toán các ngân

sách địa phương các năm qua của Kiểm toán nhà nước khu vực IV nhận thấy, số

liệu quyết toán ngân sách nhà nước giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước

hầu hết đều có sự chênh lệch

1.2.3 Thực trạng công tác đối chiếu số liệu trong kiểm toán báo cáo

quyết toán ngân sách địa phương của Kiểm toán Nhà nước khu vực

Hiện nay, việc thực hiện nội dung kiểm toán đối chiếu số liệu quyết toán

giữa cơ quan Tài chính với Kho bạc nhà nước được thực hiện bằng phương pháp

thủ công, trên cơ sở trên cơ sở số liệu báo cáo quyết toán của cơ quan Tài chính

và báo cáo thu, chi ngân sách của Kho bạc nhà nước đã được in ra giấy Khi

thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải so sánh bằng mắt giữa 2 báo cáo theo

từng chương, loại, khoản, mục, tiểu mục Chính vì vậy, nội dung kiểm toán đối

chiếu số liệu quyết toán của cơ quan tài chính với Kho bạc nhà nước hầu hết

không được các kiểm toán viên quan tâm thực hiện do các yếu tố sau:

- Thời gian thực hiện công tác kiểm toán tổng hợp tại cơ quan tài chính

và Kho bạc nhà nước bố trí không nhiều, trong khi để thực hiện đối chiếu số liệu

mất rất nhiều thời gian

- Việc đối chiếu bằng phương pháp thủ công rất khó khăn, khó phát hiện,

không đảm bảo tính chính xác cao

- Kết quả phát hiện thấp, không giúp được nhiều cho việc kiểm toán tổng

hợp

Trong những năm qua, việc thực hiện đối chiếu số liệu quyết toán chưa

được các tổ kiểm toán tổng hợp khi kiểm toán ngân sách cấp tỉnh, huyện thực

hiện hoặc chưa được các tổ kiểm toán hay kiểm toán viên được giao phân công

kiểm toán tại cơ quan Tài chính, Kho bạc nhà nước thực hiện thường xuyên (do

các hạn chế như phần trên đã nêu) để đảm bảo thực hiện theo đúng quy trình

kiểm toán ngân sách nhà nước, hoặc nếu có thực hiện thì kết quả không cao

Trang 11

hoặc không phát hiện được chênh lệch Do đó, trong hầu hết các báo cáo kiểm

toán quyết toán ngân sách quận - huyện, tỉnh - thành phố, nội dung kiểm toán

này rất ít được đề cập đến

1.3 Sự cần thiết và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ

đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm

toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương

1.3.1 Sự cần thiết xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu giữa cơ quan

Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán ngân

sách địa phương

Thực tế công tác kiểm toán các năm qua cho thấy, đối với nội dung đối

chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo

cáo quyết toán ngân sách địa phương, hầu hết các tổ kiểm toán, kiểm toán viên

đều thực hiện công tác đối chiếu bằng thủ công, thông qua số liệu báo cáo quyết

toán đã được in ra giấy mà chưa ứng dụng các chương trình, phần mềm tin học

vào công tác kiểm toán Nguyên nhân, do nhiều kiểm toán viên còn hạn chế về

trình độ tin học, hoặc chưa đi sâu nghiên cứu các phần mềm nghiệp vụ của các

cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước để có thể vận dụng công tác kiểm toán

nhằm rút ngắn thời gian hoàn thành công việc và đảm bảo mức độ chính xác

được cao hơn

Thực tế cho thấy, nếu thực hiện đối chiếu thủ công thông qua báo cáo

quyết toán của 2 cơ quan đã được in ra giấy thì thời gian để hoàn thành công

việc ít nhất là 2 ngày Nếu sử dụng cơ sở dữ liệu về quyết toán ngân sách nhà

nước đã có của cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước và sử dụng các phần

mềm quản lý cơ sở dữ liệu như Excel, Fox for Windows, Access thì thời gian

để xử lý cũng kéo dài từ 4-5 giờ, mặt khác việc thực hiện xử lý bằng các chương

trình trên đòi hỏi kiểm toán viên phải có một trình độ tin học nhất định

Do đó, cần thiết phải xây dựng chương trình phần mềm riêng để tận dụng

dữ liệu đã có sẵn của cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước phục vụ cho công

tác kiểm toán mà không đòi hỏi kiểm toán viên phải có trình độ tin học trong

lĩnh vực xử lý cơ sở dữ liệu

1.3.2 Khả năng và mức độ hỗ trợ của phần mềm đối chiếu số liệu giữa

cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán

ngân sách địa phương

Qua nghiên cứu cấu trúc các tập tin cơ sở dữ liệu kết xuất từ các phần

mềm quản lý ngân sách của cơ quan Tài chính và phần mềm quản lý nghiệp vụ,

kế toán của KBNN dùng để gửi báo cáo quyết toán thu, chi NSNN cho cơ quan

cấp trên của từng ngành, tác giả nhận thấy rằng, cấu trúc cơ sở dữ liệu của cả hai

hệ thống đều đảm bảo các chỉ tiêu cơ bản của một báo cáo quyết toán ngân sách

nhà nước như cấp, chương, loại, khoản, mục, tiểu mục từ đó hoàn toàn có khả

Trang 12

năng xây dựng một phần mềm để tiếp nhận, chuyển đổi, đồng nhất cấu trúc giữa

hai cơ sở dữ liệu, thực hiện so sánh để phát hiện chênh lệch, giúp cho công tác

kiểm tra, đối chiếu được dễ dàng hơn, đảm bảo tính chính xác cao hơn và tiết

kiệm thời gian hơn

Phần mềm sau khi được xây dựng sẽ hỗ trợ kiểm toán viên trong công tác

đối chiếu số liệu quyết toán ngân sách nhà nước giữa cơ quan Tài chính và Kho

bạc nhà nước

Trang 13

Chương 2 Xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài

chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết toán

ngân sách địa phương

2.1 Cơ sở và giải pháp thiết kế, xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu

giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo

quyết toán ngân sách địa phương

a) Nguyên tắc thiết kế, xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu quyết toán

giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước trong kiểm toán báo cáo quyết

toán ngân sách địa phương

Việc thực hiện đối chiếu số liệu giữa cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà

nước dựa trên cơ sở số liệu quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước được kết

xuất từ các phần mềm quản lý ngân sách nhà nước của cơ quan Tài chính và

phần mềm kế toán ngân sách nhà nước của Kho bạc nhà nước dùng để báo cáo

cho cơ quan quản lý cấp trên của minh như Bộ Tài chính, Kho bạc nhà nước

Trung ương

Số liệu trên các tập tin do chương trình phần mềm của 2 cơ quan Tài

chính và Kho bạc nhà nước đều có các thông tin giống nhau về số liệu quyết

toán theo hệ thống mục lục ngân sách nhà nước

Nguyên tắc thiết kế, xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu được thực hiện

trên những cơ sở sau:

- Mục tiêu của chương trình là đưa ra kết quả so sánh số liệu quyết toán

thu, chi ngân sách nhà nước của hai cơ quan Tài chính và kho bạc nhà nước theo

từng chỉ tiêu về Cấp, Chương, Loại, Khoản, Mục, Tiểu mục;

- Chương trình được xây dựng một cách dễ hiểu, dễ sử dụng và không đòi

hỏi trình độ hoặc kỹ năng sử dụng máy tính cao đối với người sử dụng;

- Chương trình được xây dựng tương thích với hệ điều hành thông dụng

hiện nay là Windows, từ phiên bản XP trở lên;

- Chương trình chạy ổn định, ít phụ thuộc vào sự thay đổi của hệ thống

b) Phân tích hệ cơ sở dữ liệu đầu vào

b.1 Đối với số liệu quyết toán của cơ quan Tài chính: Tập tin chứa số

liệu quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước do phần mềm quản lý ngân sách nhà

nước version 5.0 do cơ quan Tài chính kết xuất là tập tin cơ sở dữ liệu Fox for

Windows có dạng như sau:

Trang 14

- Về thu ngân sách nhà nước:

- Về chi ngân sách nhà nước:

Cấu trúc dữ liệu trên cụ thể như sau:

TT Tên trường

(Field)

Loại dữ liệu (Data type)

Độ rộng (ký tự) Diễn giải

I Về dữ liệu thu ngân sách nhà nước:

Trang 15

6 khoan Character 2 Khoản

II Về dữ liệu chi ngân sách nhà nước

Trang 16

21 lknsxa Numeric Lũy kế ngân sách xã

Khi thực hiện kết xuất số liệu gửi cấp trên, số liệu quyết toán thu ngân

sách nhà nước trên địa bàn (gồm thu ngân sách Trung ương, tỉnh, huyện, xã)

được chương trình quản lý ngân sách của cơ quan Tài chính kết xuất chứa trong

1 tập tin duy nhất (tên tập tin do chương trình đặt), có tên là "QTTHU_CD.dbf";

số liệu chi ngân sách địa phương (nếu là ngân sách tỉnh thì bao gồm ngân sách 3

cấp tỉnh, huyện, xã; nếu là ngân sách huyện thì bao gồm 2 cấp ngân sách huyện,

xã) chứa trong 1 tập tin duy nhất, thường có tên là "QTCHI_CD.dbf"

b.1 Đối với số liệu quyết toán của Kho bạc nhà nước: Tập tin chứa số

liệu báo cáo thu, chi ngân sách nhà nước do phần mềm kế toán ngân sách nhà

nước của Kho bạc nhà nước kết xuất là tập tin dạng văn bản như sau:

- Về thu ngân sách nhà nước:

- Về chi ngân sách nhà nước:

Trang 17

Mặc dù là tập tin kết xuất là văn bản, nhưng thể hiện dưới dạng cơ sở dữ

liệu (nhưng không có dòng tiêu đề), mỗi trường (field) được phân biệt bằng một

ký tự {Tab}, tập tin có cấu trúc (có thể hiểu) như sau:

TT Tên trường

(Field)

Loại dữ liệu (Data type)

Độ rộng (ký tự) Diễn giải

I Về dữ liệu thu ngân sách nhà nước:

chương, loại, khoản, mục, tiểu mục)

II Về dữ liệu chi ngân sách nhà nước

chương, loại, khoản, mục, tiểu mục)

Khi thực hiện kết xuất số liệu gửi cấp trên, số liệu quyết toán do chương

trình kế toán kho bạc nhà nước kết xuất được lưu trữ như sau:

- Về thu ngân sách nhà nước trên địa bàn (gồm thu ngân sách Trung

ương, tỉnh, huyện, xã): được chứa trong tập tin duy nhất (tên tập tin do người sử

dụng chương trình kế toán Kho bạc nhà nước khi kết xuất đặt) như

"QTTHU.txt", "BCQT_thu.txt",

- Về chi ngân sách nhà nước: số chi của mỗi cấp ngân sách được xuất ra 1

tập tin (với tên tập tin do người sử dụng chương trình kế toán Kho bạc nhà nước

khi kết xuất đặt) như: chi ngân sách cấp tỉnh có tên "QTChi_tinh.txt" hoặc

"chi312.txt"; chi ngân sách cấp huyện có tên "QTChi_huyen.txt" hoặc

"chi322.txt", chi ngân sách cấp xã có tên "QTChi_xa.txt" hoặc "chi332.txt"

Trang 18

Do đó, nếu đối chiếu số liệu chi ngân sách địa phương là tỉnh thì bao gồm

3 cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã; nếu là huyện thì bao gồm 2 cấp ngân sách

huyện, xã

c) Tổ chức hệ cơ sở dữ liệu đầu vào và dữ liệu lưu trữ

Trên cơ sở cơ sở dữ liệu của 2 cơ quan, phần mềm đối chiếu số liệu giữa

cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước tổ chức cơ sở dữ liệu lưu trữ là một tập

tin Access để nhận và lưu trữ dữ liệu đầu vào như sau:

TT Tên trường

(Field)

Loại dữ liệu (Data type)

Độ rộng (ký tự) Diễn giải

chương, loại, khoản, mục, tiểu mục)

d) Mô hình hóa các luồng thông tin và quy trình xử lý dữ liệu (đầu vào,

xử lý, lưu trữ, đầu ra, v.v)

Trang 19

d.1) Về thu ngân sách nhà nước

Số liệu quyết toán của cơ quan Tài

chính (database fox for windows)

tongso tieu_muc muc khoan loai chuong cql

Dữ liệu lưu trữ (Database Access)

cap chuong loai khoan muc

tm

tc

kb

cl loai = 'T'

Số liệu quyết toán của Kho bạc

nhà nước (text)

mlns psnstw dcnstw psnstinh dcnstinh psnshuyen dcnshuyen psnsxa dcnsxa

Dữ liệu đầu vào

Thực hiện xử lý dữ liệu

tc kb cl = tc-kb

Kết quả đầu ra Màn hình Máy in Excel Word AdobeCrobat

Trang 20

d.1) Về chi ngân sách nhà nước

Số liệu quyết toán của cơ quan Tài

chính (database fox for windows)

tongso tieu_muc muc khoan loai chuong cap

Dữ liệu lưu trữ (Database Access)

cap chuong loai khoan muc

tm

tc

kb

cl loai = 'C'

Số liệu quyết toán của Kho bạc

nhà nước (text)

mlns sops sodc

Dữ liệu đầu vào

Thực hiện xử lý dữ liệu

tc kb cl = tc-kb

Kết quả đầu ra Màn hình Máy in Excel Word AdobeCrobat

Ngày đăng: 19/03/2015, 01:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình và hộp lựa chọn loại số liệu quyết toán. - Xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu giữa cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước trong kiểm toán ngân sách địa phương
Hình v à hộp lựa chọn loại số liệu quyết toán (Trang 35)
Hình chiếc máy in ở thanh công cụ trên màn hình kết quả. - Xây dựng phần mềm đối chiếu số liệu giữa cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước trong kiểm toán ngân sách địa phương
Hình chi ếc máy in ở thanh công cụ trên màn hình kết quả (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w