Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, Quy chế này chưa đáp ứng được tình hình thực tế, nhiều vấn đề chưa được quy định, cụ thể là: Quy chế mới chỉ quy định những nội dung liên quan tới
Trang 1đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CễNG KHAI KẾT QUẢ KIỂM TOÁN
VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾT LUẬN, KIẾN
NGHỊ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
Trang 2CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG KHAI KẾT
QUẢ KIỂM TOÁN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán
và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
4
1.1.1 Khái niệm công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến
nghị của Kiểm toán Nhà nước
4
1.1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực
hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
6
1.1.3 Nội dung, phạm vi, hình thức và thời hạn công khai kết quả kiểm toán và
kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
10
1.1.4 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng công khai kết quả kiểm
toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
15
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm
toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
18
1.2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về công khai kết quả kiểm toán và kết
quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
18
1.2.2 Đánh giá chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết
luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
21
1.2.3 Kinh nghiệm về công khai kết quả kiểm toán của một số nước trên thế giới 26
CHƯƠNG II NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG KHAI KẾT QUẢ
KIỂM TOÁN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
2.1 Quan điểm nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả
thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
29
2.1.1 Quán triệt và thể chế hóa các quan điểm của Đảng về phát triển Kiểm toán
Nhà nước và công khai kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
29
2.1.2 Công khai kết quả kiểm toán phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng kiểm
toán
30
2.1.3 Công khai kết quả kiểm toán phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các
chuẩn mực và thông lệ quốc tế, tôn trọng pháp luật và phù hợp với đặc điểm xã
hội Việt Nam
32
2.1.4 Việc công khai kết quả kiểm toán phải đảm bảo bí mật nhà nước 33
2.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết
quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
34
2.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Kiểm toán Nhà nước, trong đó có pháp
luật về công khai kết quả kiểm toán
34
Trang 32.2.3 Tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về công khai kết
quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
37
2.2.4 Nâng cao trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước và các tổ chức có liên quan
trong tổ chức công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị
của Kiểm toán Nhà nước
2.2.8 Phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về
công khai kết quả kiểm toán
48
KẾT LUẬN
50
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định tại Điều 58, Điều 59 của Luật Kiểm toán nhà nước: Báo cáo kiểm toán năm, báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước sau khi trình Quốc hội và Báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán sau khi phát hành được công bố công khai theo quy định của pháp luật Việc công khai kết quả kiểm toán cũng được quy định tại Luật Ngân sách nhà nước (Điều 13), Luật Kế toán (khoản 3 Điều 32) và Luật Phòng, chống tham nhũng (Điều 12 và khoản 2 Điều 20) Tuy nhiên, Luật Kiểm toán nhà nước và các luật có liên quan không quy định cụ thể về nội dung công khai, hình thức công khai và thời điểm công bố công khai kết quả kiểm toán; đồng thời cũng chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể và đầy đủ về công khai kết quả kiểm toán, do vậy, việc tổ chức thực hiện công khai kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước gặp nhiều khó khăn
Thực hiện quy định tại Điều 58, Điều 59 của Luật Kiểm toán nhà nước, ngày 26 tháng 7 năm 2007 Tổng Kiểm toán Nhà nước đó ký Quyết định số 03/2007/QĐ-KTNN ban hành Quy chế công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, Quy chế này chưa đáp ứng được tình hình thực tế, nhiều vấn đề chưa được quy định, cụ thể là: Quy chế mới chỉ quy định những nội dung liên quan tới việc công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước; thiếu quy định về trách nhiệm công khai kết quả kiểm toán của các cơ quan, đơn vị, tổ chức đó được kiểm toán; thiếu quy định về xử lý vi phạm đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Để khắc phục những tồn tại trên đây
Trang 5của Quyết định số 03/2007/QĐ-KTNN, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động kiểm toán, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngày 18/8/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2008/NĐ-CP về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước Đây là văn bản QPPL về công khai kết quả kiểm toán có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay, tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực cụng khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước; đồng thời, góp phần bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện Nghị định số 91/2008/NĐ-CP của Chính phủ cũng gặp một số khó khăn, tồn tại như: việc theo dõi, kiểm tra việc công khai kết quả kiểm toán của các cơ quan, đơn vị, tổ chức đã được kiểm toán, việc xử lý các hành vi vi phạm về công khai kết quả kiểm
toán Do vậy, việc nghiên cứu ”Những giải pháp nâng cao chất lượng công
khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước” là vấn đề có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn, nhất là
trong điều kiện thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước và Luật Phòng, chống tham nhũng, góp phần thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về công khai kết quả kiểm
toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác công khai kết quả kiểm toán
và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả công tác công khai kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
Trang 63 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu công tác công khai kết quả kiểm toán và kết quả
thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh
5 Đóng góp của đề tài
Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công khai
kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán
Nhà nước
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày thành 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
Chương 2: Những giải pháp nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG KHAI KẾT QUẢ KIỂM TOÁN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾT
LUẬN, KIẾN NGHỊ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
1.1.1 Khái niệm công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường, yêu cầu về công khai, minh bạch về thông tin tài chính trở thành sự quan tâm thường trực của mọi chủ thể quản lý Điều đó thúc đẩy sự hình thành thị trường kiểm toán, thúc đẩy sự gia tăng những đòi hỏi khắt khe về độ trung thực, khách quan đối với mọi thông tin được công bố, đặc biệt là các thông tin về thực trạng tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Các báo cáo minh bạch của doanh nghiệp niêm yết là căn cứ
để các nhà đầu tư chọn lựa và ra quyết định Như vậy trong điều kiện kinh tế thị trường, việc công khai kết quả kiểm toán đã góp phần đáp ứng kỳ vọng của các nhà đầu tư và của công chúng Điều đó đồng nghĩa với việc hiện thực hoá các chức năng của kiểm toán: kiểm tra, xác nhận và tư vấn, làm cho kiểm toán thực sự là công cụ hữu hiệu của mọi chủ thể quản lý Kết quả kiểm toán được công bố công khai - thước do tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán NSNN cũng như tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý,
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
Ở nước ta, vấn đề công khai nói chung và công khai kết quả kiểm
toán nói riêng là vấn đề còn khá mới mẻ Hiện nay, trong các văn bản QPPL của Nhà nước ta chưa có quy định nào đưa ra khái niệm về công khai kết quả
Trang 8kiểm toán Để hiểu một cách tường minh, chính xác về công khai kết quả kiểm toán, trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm “công khai” Khái niệm
"công khai" được Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Viện ngôn
ngữ học xuất bản năm 2004 giải nghĩa như sau: "Công khai là không giữ kín
mà để cho mọi người biết" và Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Giáo sư
Nguyễn Lân do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2003 giải thích như sau:
"Công khai là cho mọi người biết, không giữ bí mật, không giấu giếm"
Tại điều 1 Quy chế công khai tài chính ban hành kèm theo Quyết định
số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ thì "Công
khai tài chính là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính; bảo đảm chế độ quản lý tài chính; bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệm chống lãng phí"
Như vậy, từ các khái niệm công khai và công khai tài chính nêu trên cho thấy một số khía cạnh sau đây:
- Công khai là việc không cần giữ kín;
- Mục đích của công khai là để cho mọi người đều có thể biết và thực hiện giám sát
- Để thực hiện công khai cần phải xác định được đối tượng, nội dung, hình thức và thời hạn công khai
Từ sự phân tích trên đây và từ thực tiễn hoạt động của KTNN có thể
rút ra khái niệm về công khai kết quả kiểm toán của KTNN như sau: Công
khai kết quả kiểm toán của KTNN là việc cơ quan KTNN và các cơ quan, đơn vị, tổ chức đã được kiểm toán chuyển tải các thông tin về kết quả kiểm toán của KTNN tới các đối tượng có liên quan và toàn xã hội thông qua các hình thức công khai do pháp luật quy định
Trang 91.1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
1.1.2.1 Mục đích của việc công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
Mục đích công khai kết quả kiểm toán nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, đoàn thể, tổ chức xã hội và nhân dân đối với hoạt động quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện
và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Đối với nước ta, vấn đề công khai nói chung
và công khai kết quả kiểm toán nói riêng là vấn đề còn rất mới mẻ, do vậy việc xác định rõ mục đích của công khai kết quả kiểm toán có ý nghĩa to lớn, tạo cơ sở thống nhất về nhận thức đối với vai trò, tác dụng của công khai kết quả kiểm toán; đồng thời đây còn là một yêu cầu quan trọng được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng
1.1.2.2 Ý nghĩa của việc công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
- Đối với đơn vị được kiểm toán: Kết quả kiểm toán là thẩm định,
đánh giá trách nhiệm công việc quản lý tài chính công của đơn vị được kiểm toán, giải toả trách nhiệm cho các nhà quản lý; là căn cứ để đơn vị được kiểm toán sửa chữa, khắc phục những sai sót, cải tiến hoạt động, chấn chỉnh, hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, tăng cường công tác quản lý tài chính Công khai kết quả kiểm toán giúp cho đơn vị được kiểm toán nhận thấy rõ trách nhiệm của mình, hướng tới công khai minh bạch trong các hoạt động Việc công khai kết quả kiểm toán đồng nghĩa với việc các thông tin về tính trung thực, tin cậy của báo cáo tài chính, ngân sách của đơn vị được kiểm toán sẽ được công bố rộng rãi đến các đối tượng sử dụng thông tin Các đối tượng sử dụng thông tin sẽ tạo áp lực tác động ngược trở lại đối với các hoạt
Trang 10động của đơn vị được kiểm toán Các cơ quan quản lý nhà nước căn cứ vào kết quả kiểm toán để ra quyết định quản lý điều chỉnh hoạt động của đơn vị được kiểm toán Các nhà đầu tư, các đơn vị có quan hệ kinh tế với đơn vị được kiểm toán sử dụng kết quả kiểm toán để đưa ra các quyết định kinh tế Các cơ quan bảo vệ pháp luật sử dụng kết quả kiểm toán trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và công chúng sử dụng kết quả kiểm toán trong việc thực hiện quyền giám sát đối
với đơn vị được kiểm toán
- Đối với các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ pháp luật:
Các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước thuận lợi hơn trong việc cập nhật các thông tin từ kết quả kiểm toán đã được công khai liên quan đến đơn vị được kiểm toán để tổng hợp, xử lý nhằm đưa ra các quyết định quản lý thích hợp, đồng thời đôn đốc, giám sát các đơn vị được kiểm toán thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị của KTNN Đối với các kết luận, kiến nghị liên quan đến việc ban hành các chế độ, chính sách hoặc công tác quản lý, điều hành của các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước thì các cơ quan này tổng hợp, nghiên cứu, đề xuất hoặc quyết định việc điều chỉnh, thay đổi, bổ sung, ban hành
các văn bản quản lý và phương pháp quản lý phù hợp với yêu cầu thực tế
Kết quả kiểm toán là một nguồn cung cấp thông tin tin cậy cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Việc công khai kết quả kiểm toán tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan bảo về pháp luật khai thác thông tin của đối tượng kiểm toán thông qua kết quả kiểm toán
- Đối với các đối tác của đơn vị được kiểm toán: Báo cáo tài chính,
tình hình hoạt động của một đơn vị có thể được rất nhiều cá nhân, đơn vị quan tâm sử dụng Người sử dụng thông tin cần có được những thông tin đáng tin cậy nhằm giúp họ đánh giá về thực trạng tài chính và tình hình hoạt động của đơn vị đó để ra các quyết định kinh tế Đặc biệt, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển tạo ra hệ quả là khả năng nhận được các thông
Trang 11tin tài chính kém tin cậy ngày một gia tăng Rủi ro về thông tin gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: Người sử dụng thông tin để ra quyết định (các nhà đầu tư, các chủ nợ, …) khó khăn trong tiếp cận nguồn thông tin tại đơn vị mà họ chọn đầu tư hay chọn làm đối tác kinh doanh Thay vào đó, họ phải sử dụng thông tin do đơn vị cung cấp Điều này làm tăng rủi ro có thông tin bị sai lệch khi đến tay những người sử dụng; người cung cấp thông tin thường trình bày thông tin theo hướng có lợi nhất cho mình Ví dụ khi doanh nghiệp bán cổ phần, các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, … có thể sẽ bị khai tăng giả tạo, hay không được cung cấp đầy đủ; lượng thông tin phải xử lý và độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế gia tăng, nhất là khi hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, quy mô các đơn vị
ngày càng lớn
Kiểm toán nhằm xác định tính trung thực của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Việc công khai kết quả kiểm toán giúp các đối tác của đơn vị được kiểm toán dễ dàng tiếp cận được thông tin một cách đầy đủ
và trung thực về tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán, từ đó có thể đánh giá được mức độ trung thực trong kinh doanh và mức độ lành mạnh về tài chính của đơn vị được kiểm toán để đưa ra các quyết định phù hợp trong quan hệ với đơn vị được kiểm toán
- Đối với quảng đại quần chúng nhân dân: Nhân dân là người trực
tiếp nộp thuế hình thành nên NSNN để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ chi Vì vậy, nhân dân có quyền được biết tiền mà họ đóng góp có được sử dụng hợp lý, đúng mục đích, có hiệu quả, có tiết kiệm hay không Đồng thời, nhân dân có quyền giám sát đối với các hoạt động của Nhà nước Tuy nhiên, việc thực hiện hai quyền trên bị hạn chế bởi các nguyên nhân thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác Việc công khai nhằm cung cấp cho nhân dân các thông tin về tính trung thực và tình hình quản lý sử dụng NSNN, giúp nhân dân có thông tin để thực hiện quyền giám sát của mình Đồng thời, công khai kết quả kiểm toán cũng tạo điều kiện cho nhân dân giám sát, kiểm
Trang 12tra lại hoạt động của KTNN nhằm ngày càng nâng cao chất lượng kiểm toán
cả các đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thể cập nhật thông tin
liên quan đến vấn đề cần quan tâm một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất
- Đối với kiểm toán viên và Kiểm toán Nhà nước: Kết quả kiểm toán
là các ý kiến kết luận sau cùng về thông tin tài chính được kiểm toán, thể hiện trình độ, năng lực, sự tuân thủ quy trình, chuẩn mực kiểm toán, sự thành thạo của KTV trong công việc Đồng thời nó là sản phẩm của KTV cung cấp cho xã hội, tăng cường tính minh bạch tài chính nên họ phải chịu trách nhiệm về ý kiến của mình Việc công khai tạo điều kiện cho nhiều đối tượng tiếp cận thông tin kiểm toán và qua đó giám sát hoạt động kiểm toán
và đánh giá chất lượng kiểm toán Các ý kiến, dư luận của công chúng sau khi công khai kết quả kiểm toán như là sự phản biện đối với hoạt động kiểm toán, từ đó đòi hỏi kiểm toán phải đảm bảo tính đầy đủ và thuyết phục của
bằng chứng kiểm toán
Yêu cầu công khai đòi hỏi các công việc phải được KTV thực hiện một các độc lập, khách quan, trên cơ sở tuân thủ nghiêm các quy định của Nhà nước, thông qua các quy trình thủ tục chặt chẽ cho phép KTNN rà soát, thẩm định kết quả kiểm toán, qua đó đánh giá chất lượng kiểm toán, KTV,
đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng kiểm toán
Trang 131.1.3 Nội dung, phạm vi, hình thức và thời hạn công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
1.1.3.1 Nội dung và phạm vi công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
KTNN cần quy định nội dung công khai kết quả kiểm toán Báo cáo kiểm toán sau khi phát hành cần xác định các nội dung cần công khai Việc xác định nội dung công khai kết quả kiểm toán có ý nghĩa quan trọng nhằm chuyển tải thông tin đến người sử dụng ngắn gọn, rõ ràng, súc tích, phản ánh được toàn diện tình hình tài chính, ngân sách của đơn vị được kiểm toán
Nội dung công khai kết quả kiểm toán phải đảm bảo đầy đủ, rõ ràng, chính xác, thuận tiện và đúng đối tượng Nội dung công khai kết quả kiểm toán phải được lập và xét duyệt theo một quy trình được kiểm toán nhà nước quy định cụ thể Nội dung công khai kết quả kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu:
- Chính xác: Nội dung công khai phải chính xác về mặt số liệu, phần ý
kiến nhận xét của KTV phải dựa trên cơ sở những bằng chứng đáng tin cậy
mà KTV hiểu cặn kẽ, đánh giá và chấp nhận Nội dung công khai kết quả kiểm toán phải thuộc nội dung của báo cáo kiểm toán
- Rõ ràng, súc tích: Nghĩa là nội dung công khai phải diễn đạt ngắn
gọn, rõ ràng, không dùng lời văn mập mờ, vòng vo làm cho người đọc hiểu sai nội dung của vấn đề Nội dung công khai kết quả kiểm toán phải tổng hợp các vấn đề lớn, cơ bản được nêu trong phần kết quả kiểm toán và phần kết luận, kiến nghị của báo cáo kiểm toán
- Đảm bảo tính thống nhất: Những nội dung, ý kiến nhận xét, đánh giá
những khuyến nghị, từ ngữ sử dụng phải nhất quán không có mâu thuẫn giữa các phần, các chỉ tiêu trên dưới trong nội dung công khai và giữa nội dung công khai và nội dung báo cáo kiểm toán
Trang 14Về phạm vi công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
Phạm vi công khai kết quả kiểm toán là giới hạn những vấn đề cần phải được công khai Về nguyên tắc chỉ thực hiện công khai những thông tin không thuộc bí mật nhà nước quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật Thông thường phạm vi công khai bao gồm: tài liệu và số liệu về kết quả kiểm toán, kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và các phụ biểu kèm theo, trừ các tài liệu và số liệu thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật và bí mật nghề nghiệp của đơn vị được kiểm toán theo quy định của pháp luật
1.1.3.2 Hình thức và thời hạn công khai
Hình thức công khai kết quả kiểm toán là cách thức chuyển tải thông tin cần công khai đến người sử dụng thông tin theo quy định của pháp luật Việc công khai kết quả kiểm toán được thực hiện dưới các hình thức cơ bản sau đây:
a) Họp báo: Hình thức họp báo chỉ nên thực hiện đối với báo cáo
kiểm toán năm hoặc một số cuộc kiểm toán quan trọng Trình tự các bước tổ chức họp báo công khai kết quả kiểm toán gồm:
- Đề xuất sử dụng hình thức họp báo để công khai kết quả kiểm toán: Đối với báo cáo kiểm toán năm, hằng năm KTNN tổ chức họp báo để công khai kết quả kiểm toán Đối với từng cuộc kiểm toán, Vụ Tổng hợp nghiên cứu đề xuất với Lãnh đạo KTNN lựa chọn hình thức họp báo để công khai kết quả kiểm toán, chỉ tổ chức họp báo đối với những cuộc kiểm toán có phát hiện sai phạm lớn trong những đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn
- Chuẩn bị nội dung để công khai: Báo cáo kiểm toán được các đơn vị tham mưu thẩm định cả về nội dung, thể thức và tính pháp lý của các kết luận, kiến nghị và được Lãnh đạo KTNN xét duyệt vì vậy về nguyên tắc có thể công khai toàn bộ báo cáo kiểm toán Tuy nhiên, để nội dung công khai
Trang 15phù hợp với hình thức công khai và đảm bảo cung cấp thông tin cô đọng nhất đến người nhận thông tin thì KTNN cần chuẩn bị nội dung công khai (báo cáo ngắn) Đơn vị nào lập báo cáo kiểm toán thì đơn vị đó chuẩn bị nội dung công khai kết quả kiểm toán Các đơn vị kiểm toán chuyên ngành (hoặc khu vực) chuẩn bị nội dung công khai của từng cuộc kiểm toán, Vụ Tổng hợp chuẩn bị nội dung công khai đối với công khai kết quả kiểm toán năm của KTNN
- Thẩm định các nội dung cần công khai: Báo cáo kiểm toán đã được các đơn vị tham mưu thẩm định và Lãnh đạo KTNN xét duyệt vì vậy việc thẩm định nội dung công khai là việc xem xét các nội dung công khai có phù hợp với các kết quả kiểm toán được nêu trong báo cáo kiểm toán không, các nội dung công khai có đảm bảo tính đầy đủ, ngắn gọn, súc tích không Các đơn vị tham mưu thẩm định nội dung công khai kết quả kiểm toán Lãnh đạo KTNN xét duyệt nội dung công khai kết quả kiểm toán;
- Xác định thời gian họp báo: Sau khi xét duyệt nội dung cần công khai, Lãnh đạo KTNN xác định thời gian cụ thể cho việc họp báo để công khai kết quả kiểm toán đồng thời giao cho các đ¬n vị chuẩn bị các điều kiện cho buổi họp báo;
- Gửi Công văn đến Cục Báo chí Bộ Th«ng tin vµ TruyÒn th«ng xin cấp giấy phép họp báo;
- Mời các cơ quan thông tấn, báo chí đến tham dự họp báo (thông báo
về thời gian, địa điểm và nội dung họp báo);
- Chuẩn bị các điều kiện phục vụ cho buổi họp báo;
- Thành phần tham dự họp báo:
+ Chủ trì: Đại diện Lãnh đạo KTNN và đại diện Uỷ ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội;
+ Đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí;
+ Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc KTNN;
+ Khách mời
Trang 16b) Công bố trên công báo và phương tiện thông tin đại chúng: việc
công bố trên công báo và phương tiện thông tin đại chúng có thể thực hiện đối với tất cả các báo cáo kiểm toán Vì không thể đăng tải toàn bộ báo cáo cũng như toàn bộ kết quả kiểm toán, nên kết quả kiểm toán công khai theo hình thức này phải hết sức cô đọng, súc tích và mang tính đại diện
Trình tự các bước tổ chức công bố trên công báo và phương tiện thông tin đại chúng gồm:
- Các đơn vị kiểm toán chuyên ngành (hoặc khu vực) chuẩn bị nội dung công khai đối với công khai kết quả kiểm toán của từng cuộc kiểm toán, Vụ Tổng hợp chuẩn bị nội dung công khai đối với công khai kết quả kiểm toán năm của KTNN;
- Các đơn vị tham mưu thẩm định nội dung công khai kết quả kiểm toán;
- Lãnh đạo KTNN xét duyệt nội dung công khai kết quả kiểm toán;
- Nội dung công khai sau khi được lãnh đạo KTNN phê duyệt được gửi đến các đơn vị có liên quan để công bố trên công báo và phương tiện thông tin đại chúng
c) Đăng tải trên trang thông tin điện tử và các ấn phẩm của KTNN:
đây là hình thức thuận tiện và phù hợp nhất đối với KTNN, sử dụng hình thức đăng tải trên trang thông tin điện tử, KTNN có thể đăng toàn văn của báo cáo kiểm toán, kết quả kiểm toán có thể được công khai lâu dài và rất dễ dàng cho nhiều người khi khai thác sử dụng Việc đăng tải trên các ấn phẩm của KTNN cũng tương tự như việc công bố trên công báo và các phương
Trang 17tiện thông tin đại chúng khác KTNN cần có quy định hình thức đăng tải trên trang thông tin điện tử là hình thức bắt buộc đối với tất cả các báo cáo kiểm toán Việc đăng trên các ấn phẩm của KTNN tuỳ thuộc vào từng trường hợp
cụ thể và mức độ tác động của kết quả kiểm toán đến người sử dụng thông tin
Trình tự các bước tổ chức đăng tải trên trang thông tin điện tử và các
ấn phẩm của KTNN gồm:
- Báo cáo kiểm toán sau khi được Lãnh đạo KTNN xét duyệt được chuyển cho Ban biên tập Webside của KTNN (01 bản in có chữ ký của các đơn vị lập báo cáo và 01 bản điện tử) để thực hiện việc đăng tải;
- Các kiểm toán chuyên ngành (khu vực) chuẩn bị nội dung công khai đối với công khai kết quả kiểm toán của từng cuộc kiểm toán, Vụ Tổng hợp chuẩn bị nội dung công khai đối với công khai kết quả kiểm toán năm của KTNN;
- Các đơn vị tham mưu thẩm định nội dung công khai kết quả kiểm toán;
- Lãnh đạo KTNN xét duyệt nội dung công khai kết quả kiểm toán;
- Nội dung công khai sau khi được lãnh đạo KTNN phê duyệt được gửi đến các đơn vị có liên quan để đăng tải trên trang thông tin điện tử và các
ấn phẩm của KTNN
d) Gửi văn bản: báo cáo kiểm toán khi phát hành được KTNN gửi kèm
Công văn đến đơn vị được kiểm toán và các cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định như cơ quan quản lý cấp trên, Bộ Tài chính, … Hoặc trường hợp KTNN nhận được các yêu cầu, đề nghị về việc cung cấp kết quả kiểm toán cho
tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật thì KTNN gửi văn bản trả lời tổ chức, cá nhân có yêu cầu, đề nghị
đ) Niêm yết nơi quy định: hình thức này đơn vị được kiểm toán sử dụng
trong việc công khai kết quả kiểm toán của từng cuộc kiểm toán Đơn vị được kiểm toán có trách nhiệm công khai kết quả kiểm toán cùng với báo cáo quyết
Trang 18toán, báo cáo tài chính tại trụ sở cơ quan Đơn vị được kiểm toán sử dụng báo cáo ngắn để niêm yết công khai nơi quy định vì báo cáo đầy đủ có dung lượng khá lớn rất khó khăn trong việc niêm yết công khai
e) Xuất bản ấn phẩm: hằng năm KTNN xuất bản các ấn phẩm về kết quả
kiểm toán bao gồm kết quả kiểm toán năm, kết quả kiểm toán của từng cuộc kiểm toán cung cấp cho đối tượng sử dụng thông tin để đối tượng sử dụng thông tin có thể tiếp cận kết quả kiểm toán một cách hệ thống và đầy đủ
Việc thực hiện công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước dưới các hình thức nêu trên được thực hiện trong một thời hạn nhất định Thời hạn công khai kết quả kiểm toán là khoảng thời gian mà cơ quan Kiểm toán Nhà nước, đơn vị được kiểm toán phải công bố công khai kết quả kiểm toán theo quy định của pháp luật Để bảo đảm mục đích và phát huy tác dụng của công khai kết quả kiểm toán, pháp luật quy định cụ thể thời hạn công khai đối với từng loại đối tượng công khai (báo cáo kiểm toán) Đối với cáo kiểm toán năm, thời hạn công khai chính là khoảng thời gian mà báo cáo kiểm toán năm được công khai tính từ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua Báo cáo quyết toán Ngân sách nhà nước hàng năm Đối với báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán, thời hạn công khai chính là khoảng thời gian mà báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán phải công khai tính từ khi báo cáo kiểm toán đó được phát hành
Thời hạn công khai kết quả kiểm toán là khoảng thời gian mà theo đó việc công khai kết quả kiểm toán phải được thực hiện Thời hạn công khai kết quả kiểm toán đối với Báo cáo kiểm toán năm, Báo cáo thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán là khoảng thời gian nhất định được tính từ ngày Quốc hội thông qua Báo cáo quyết toán NSNN; thời hạn công khai kết quả kiểm toán đối với Báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán là khoảng thời gian nhất định được tính từ ngày Báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán được phát hành Việc ấn định rõ thời hạn công khai kết quả kiểm toán nhằm xác
Trang 19định trách nhiệm của các chủ thể có nhiệm vụ công khai kết quả kiểm toán; đồng thời bảo đảm tính kịp thời của thông tin về kết quả kiểm toán được công khai
1.1.4 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng công khai kết quả kiểm toán của KTNN
- Chất lượng của các văn bản QPPL quy định về công khai kết quả kiểm toán của KTNN
Để hoạt động công khai kết quả kiểm toán của KTNN có hiệu lực và hiệu quả, trước hết, cần phải có các văn bản QPPL về công khai kết quả kiểm toán của KTNN có chất lượng cao Các văn bản QPPL về công khai kết quả kiểm toán của KTNN có chất lượng cao phải đáp ứng các tiêu chí cơ bản là:
+ Về giá trị pháp lý: cần phải có các văn bản QPPL về công khai kết
quả kiểm toán của KTNN có giá trị pháp lý cao;
+ Về nội dung: cần có các quy định đầy đủ và đồng bộ về đối tượng,
phạm vi công khai; nội dung công khai; hình thức công khai; thời hạn công khai; thẩm quyền và trách nhiệm của Kiểm toán Nhà nước; các cơ quan, đơn
vị, tổ chức đã được kiểm toán; các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức công khai kết quả kiểm toán; xử lý vi phạm
pháp luật về công khai kết quả kiểm toán
- Ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động công khai kết quả kiểm toán
Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của
họ đối với các quy định của pháp luật Ý thức pháp luật càng được nâng cao,
mức độ hiểu biết pháp luật càng sâu sắc thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái
độ tự giác ứng xử theo yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật càng được bảo đảm Do đó, ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động công khai kết quả kiểm toán là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện pháp luật trong hoạt động kiểm toán nhà nước Pháp luật kiểm toán nhà nước
Trang 20nói chung và về công khai kết quả kiểm toán nói riêng chỉ có thể được thực hiện nghiêm chỉnh và chính xác khi các chủ thể tham gia hoạt động công khai kết quả kiểm toán nhà nước nắm vững, hiểu rõ, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh; đồng thời, không thực hiện những hành vi mà pháp luật ngăn cấm và tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật
- Chất lượng của hoạt động kiểm toán
Đối tượng công khai kết quả kiểm toán là báo cáo kiểm toán Do vậy, chất lượng của các báo cáo là vấn đề lớn ảnh hưởng đến hiệu quả của công khai kết quả kiểm toán Các báo cáo là đối tượng công khai chính là những văn bản do KTNN lập để phản ánh kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Báo cáo kiểm toán phải đáp ứng yêu cầu: chính xác về nội dung, số liệu; đồng thời phải cụ thể, rõ ràng, xúc tích; các vấn đề được sắp xếp có hệ thống logic, mạch lạc; mang tính thống nhất, tính xây dựng và tính hướng dẫn Để đảm bảo những điều kiện này, việc soạn thảo báo cáo phải tuân đầy đủ, khoa học những trình tự về quy định soạn thảo báo cáo Đồng thời phải nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán và
hiệu lực thực thi các kết luận, kiến nghị của KTNN
- Cơ chế phối hợp thực hiện công tác kiểm toán
Hoạt động kiểm toán của KTNN có phạm vi rộng, có liên quan đến tất
cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, do vậy, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa KTNN với các cơ quan có liên quan, với các cơ quan thông tin đại chúng trong việc công khai kết quả kiểm toán, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và kết quả hoạt động kiểm toán của KTNN
- Hoạt động kiểm tra, giám sát phòng ngừa và ngăn chặn những hành
vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kiểm toán
Hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; của các đơn vị chức năng thuộc KTNN có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi
Trang 21vi phạm pháp luật kiểm toán nhà nước; đồng thời, phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật để kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền söa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm loại bỏ những nguyên nhân
dẫn đến vi phạm pháp luật
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nâng cao chất lượng công khai kết
quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
1.2.1.1 Trước khi có Luật Kiểm toán nhà nước
Trước khi Luật KTNN ra đời, việc công khai kết quả kiểm toán rất ít được đề cập trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước hoặc đề cập một cách chung chung, thiếu cụ thể, như:
Điều 13, khoản 1, Luật NSNN năm 2002 “Dự toán, quyết toán, kết
quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước, ngân sách các cấp, các đơn
vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hỗ trợ phải công bố công khai.”
Điều 32, khoản 3, Luật Kế toán năm 2003 “Báo cáo tài chính của
đơn vị kế toán đã được kiểm toán khi công khai phải kèm theo kết luận của
tổ chức kiểm toán.” và điều 34, khoản 3 “Báo cáo tài chính đã được kiểm toán khi nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 31 của Luật này phải có báo cáo kiểm toán đính kèm.”
Chính vì chưa quy định cụ thể về đối tượng công khai, nội dung, hình thức, thủ tục công khai do đó việc công khai kết quả kiểm toán chưa thực hiÖn được Kết quả kiểm toán chủ yếu được báo cáo với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan chức năng có liên quan Báo cáo kiểm toán khi phát hành được lưu giữ với chế độ mật nên các kết quả kiểm toán cũng không
Trang 22được công khai rộng rãi
Do không thực hiện việc công khai kết quả kiểm toán dẫn đến kết quả kiểm toán chỉ một số ít đối tượng có thông tin về kết quả kiểm toán, thiếu sự giám sát kiểm tra, đôn đốc thực hiện, đặc biệt là sự giám sát, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền và của nhân dân nên đơn vị được kiểm toán có thể vì mục đích cá nhân hoặc lợi ích của một tập thể mà không điều chỉnh số liệu
và chấn chỉnh tình hình theo ý kiến kết luận, kiến nghị của KTNN hoặc chỉ điều chỉnh một số nội dung dễ thực hiện, ít ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, đơn vị được kiểm toán Không tạo được áp lực từ phía các cơ quan quản lý và dư luận của công chúng đối với đơn vị được kiểm toán để họ phải thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN một cách nghiêm túc Trong giai đoạn này, việc kiểm tra tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN chưa được thực hiện chặt chẽ và có hệ thống Khi phát hiện các trường hợp chưa thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN thì KTNN chỉ
đề nghị đơn vị tiếp tục thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN Khi tham gia đấu thầu (đối với đơn vị được kiểm toán là các doanh nghiệp) hoặc gửi báo cáo tài chính cho các cơ quan có liên quan thì không gửi báo cáo tài chính theo ý kiến điều chỉnh của KTNN và cũng không gửi báo cáo kiểm toán kèm theo báo cáo tài chính Điều này làm báo cáo tài chính không được phản ánh trung thực tình hình tài chính của đơn vị, đồng thời làm giảm hiệu lực của các kết luận, kiến nghị kiểm toán
Không công khai kết quả kiểm toán nên các cơ quan, đơn vị và nhân dân thiếu thông tin trong việc giám sát, kiểm tra lại hoạt động kiểm toán của KTNN Báo cáo kiểm toán sau khi phát hành thì ít khi được kiểm tra lại, điều đó gây nên tâm lý chủ quan đối với kiểm toán viên, tổ kiểm toán, đoàn kiểm toán, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng kiểm toán Việc xét duyệt báo cáo kiểm toán được tiến hành theo một quy trình khá chặt chẽ, được thẩm định bởi các cơ quan tham mưu có trình độ chuyên môn, tuy nhiên nếu
có sự giám sát, kiểm tra của bên thứ ba sẽ tạo áp lực đòi hỏi Kiểm toán viên
Trang 23(KTV) cẩn trọng hơn trong công tác kiểm toán, các bằng chứng kiểm toán sẽ được thu thập đầy đủ và lưu trữ có hệ thống góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN
1.2.1.2 Từ khi Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực đến nay
Điều 58 Luật KTNN về Công khai báo cáo kiểm toán năm và báo cáo
kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán quy định: “Báo cáo kiểm
toán năm và báo cáo kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước sau khi trình Quốc hội được công bố công khai theo quy định của pháp luật.”, Điều 59 về Công khai báo cáo kiểm toán của từng
cuộc kiểm toán quy định: “Báo cáo kiểm toán của từng cuộc kiểm toán sau
khi phát hành được công bố công khai cùng với báo cáo tài chính theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và Luật kế toán.”
Thực hiện quy định tại Điều 58, Điều 59 của Luật Kiểm toán nhà nước, ngày 26 tháng 7 năm 2007 Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ký Quyết định số 03/2007/QĐ-KTNN ban hành Quy chế công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, Quy chế này chưa đáp ứng được tình hình thực tế, nhiều vấn đề chưa được quy định, cụ thể là: Quy chế mới chỉ quy định những nội dung liên quan tới việc công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước; thiếu quy định về trách nhiệm công khai kết quả kiểm toán của các cơ quan, đơn vị, tổ chức đã được kiểm toán; thiếu quy định về xử lý vi phạm đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Để khắc phục những tồn tại trên đây của Quyết định số 03/2007/QĐ-KTNN, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động kiểm toán, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ngày 18/8/2008 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2008/NĐ-CP về công
Trang 24khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước Đây là văn bản QPPL về công khai kết quả kiểm toán có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay, tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước; đồng thời, góp phần bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
1.2.2 Đánh giá chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN
đề “Lần đầu tiên công khai báo cáo kiểm toán nhà nước” đã nhấn mạnh nội dung: “Doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hơn 1.000 tỷ đồng, chi mua sắm, xây dựng trụ sở tràn lan những việc làm trên khiến ngân sách nhà nước hụt thu 4.500 tỷ đồng” hay Báo điện tử Vietbao.vn “Báo cáo kiểm toán năm 2005 do KTNN công bố ngày 17/8/2006 đã chỉ ra thực trạng nghiêm trọng: Dự toán nhiều địa phương được lập và giao không sát thực tế; dự toán thu sự nghiệp thấp hơn nhiều so với thực hiện; hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước quá thấp; quản lý đầu tư xây dựng cơ bản lỏng lẻo… Nhưng vấn đề nghiêm trọng hơn là những bất cập, sai phạm tồn tại từ nhiều năm nay nhưng chưa có giải pháp để khắc phục cơ bản”; Báo Lao động điện
tử (Laodong.com.vn) cũng có bài, trong đó có nội dung: “Ngày 17.8,2006
Trang 25Kiểm toán Nhà nước lần đầu tiên tổ chức họp báo công khai kết quả kiểm toán năm 2005 Toát lên từ báo cáo này là kiểm đâu sai đó, thậm chí là nhiều điểm nóng sai phạm tài chính được phát hiện”
Kể từ lần họp báo công khai kết quả kiểm toán lần đầu tiên đến nay, KTNN đã ngày càng chú trọng nâng cao chất lượng công tác này hơn Các cuộc họp báo để công khai kết quả kiểm toán được thực hiện thường xuyên, nội dung công khai được chuẩn bị chu đáo, chi tiết Sau khi Nghị định số 91/2008/NĐ-CP ra đời, công tác công khai kết quả kiểm toán của KTNN ngày càng đa dạng và có chiều sâu hơn, không chỉ dừng lại việc công khai báo cáo kiểm toán năm mà còn công khai báo cáo kiểm toán của một số cuộc kiểm toán hoặc kết quả kiểm toán theo những vấn đề được dư luận quan tâm,
cụ thể:
Năm 2007, KTNN tổ chức họp báo công khai kết quả kiểm toán năm
2006 về niên độ ngân sách năm 2005 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán năm 2005 về niên độ ngân sách năm 2004 Kết quả kiểm toán việc quản lý và sử dụng kinh phí Đề án Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2005 Ngoài ra, có nhiều báo cáo kiểm toán của cuộc kiểm toán được trích đăng tải trên Tạp chí Kiểm toán của KTNN như: Kết quả kiểm toán chuyên đề Chi khoa học và công nghệ giai đoạn 2001-2005; Chương trình 135 giai đoạn II năm 2006; Bộ Xây dựng tỉnh Quảng Ninh; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam; Tổng công ty Viglacera; Tổng công ty xăng dầu Petrolimex
Năm 2008, KTNN tổ chức họp báo công khai kết quả kiểm toán 05
cuộc kiểm toán thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản và chương trình mục tiêu quốc gia (Dự án cơ sở hạ tầng nông thôn; Dự án Hàm Thuận - Đa My;
Dự án phát triển hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì; Chương trình 135 giai đoạn II; Chương trình nước sạch và Vệ sinh môi trường; Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục và Đào tạo) Họp báo công khai kết quả kiểm toán năm 2007 về niên độ 2006; kết quả kiểm toán một số cuộc kiểm toán
Trang 26thuộc lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước (Tổng công ty Khánh Việt; Tổng
công ty truyền thông đa phương tiện; Tổng công ty địa ốc Sài Gòn; Tổng
công ty hàng hải Việt Nam) Kết quả kiểm toán tập đoàn Điện lực Việt Nam,
Dự án hồ Tả Trạch – Thừa Thiên Huế; Việc mua sắm, quản lý và sử dụng tài
sản của các BQLDA thuộc một số Bộ, ngành, địa phương từ 2005- 2007
Đặc biệt KTNN phối hợp với Uỷ ban Dân tộc tổ chức họp báo CKKQKT
năm 2008 đối với Chương trình 135 giai đoạn II năm 2007
Năm 2009, KTNN đã tổ chức họp báo công khai kết quả kiểm toán
năm 2008 và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của KTNN năm 2007.
Tính đến hết tháng 11 năm 2009, KTNN đã triển khai 133/136 đầu mối kiểm
toán, bằng 97,8% kế hoạch năm, kết thúc 99 cuộc kiểm toán và phát hành 75
báo cáo kiểm toán KTNN sẽ hoàn thành toàn diện và đúng tiến độ đã đề ra:
Kết thúc các cuộc kiểm toán trước 15/12/2009, phát hành toàn bộ báo cáo
kiểm toán trước 30/01/2010 để tập trung kiểm toán Báo cáo quyết toán
NSNN năm 2008 và tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2009 về niên độ ngân
sách năm 2008 Theo tổng hợp kết quả kiểm toán từ 77 báo cáo kiểm toán đã
phát hành và trình phát hành đến 30/11/2009, KTNN đã phát hiện và kiến
nghị xử lý tài chính trên 6.566 tỷ đồng trong đó có 1.909 tỷ đồng từ các
khoản tăng thu; các khoản giảm chi là 2.488 tỷ đồng; các khoản nợ đọng
phát hiện tăng thêm 172 tỷ đồng; các khoản phải nộp, hoàn trả và quản lý
qua NSNN là 1.647 tỷ đồng và các khoản xử lý khác là 350 tỷ đồng
Ngoài việc công khai kết quả kiểm toán năm 2008, trong năm 2009,
KTNN đã công khai kết quả của bốn cuộc kiểm toán là Kiểm toán chương
trình 135 giai đoạn II năm 2009, Kiểm toán chuyên đề quản lý và sử dụng
kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2006 – 2008, Kiểm toán Chuyên đề
cấp bù lỗ mặt hàng xăng dầu tại các đầu mối nhập khẩu xăng, dầu giai đoạn
2006 – 2008 và Kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2008 của Tổng công ty
Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) Tại cuộc họp báo, các phóng
viên đặc biệt quan tâm tới Kiểm toán Chuyên đề cấp bù lỗ mặt hàng xăng
Trang 27dầu và Báo cáo tài chính năm 2008 của SCIC, những kiến nghị của KTNN đối với những tập thể và cá nhân có liên quan đến những sai phạm của các đơn vị cũng như việc xử lý của các cơ quan chức năng
Qua những báo cáo trên, có thể thấy rằng việc công khai kết quả kiểm toán cũng như kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán với những thông tin xác nhận tình hình và tính trung thực của báo cáo tài chính về các sai phạm được phát hiện, qua đó kiến nghị xử lý trách nhiệm cá nhân, tập thể
có liên quan đến sai phạm, kiến nghị xử lý tài chính làm tăng thu, giảm chi cho NSNN; đã giúp cho dư luận xã hội hiểu rõ hơn về hoạt động KTNN, đặc biệt thấy được vai trò quan trọng của KTNN trong việc góp phần làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia và trong công cuộc phòng chống tham nhũng
Ngoài hình thức công khai kết quả kiểm toán thông qua họp báo, KTNN còn tổ chức công khai dưới các hình thức khác theo quy định của pháp luật, như:
- Gửi báo cáo kiểm toán tới các cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước;
- Công bố trên Công báo và các phương tiện thông tin đại chúng;
- Đăng tải trên Trang thông tin điện tử và các ấn phẩm của KTNN: mở chuyên mục “Công khai kết quả kiểm toán” trên Trang thông tin điện tử của KTNN và trên Tạp chí Kiểm toán; hàng năm KTNN phát hành cuốn sách về Báo cáo kiểm toán của các cuộc kiểm toán được thực hiện trong năm theo quy định của pháp luật;
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, như cung cấp thông tin theo yêu cầu của Ủy ban kiểm tra Trung ương, của cơ quan bảo vệ pháp luật, của luật sư
Kể từ khi kết quả kiểm toán được công khai, hoạt động KTNN thu hút được sự quan tâm ngày càng cao của công chúng, xã hội Với những kết quả kiểm toán trong các lĩnh vực: Ngân sách Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước,
Trang 28Đầu tư xây dựng cơ bản, chương trình mục tiêu quốc gia … KTNN đã nhận được sự tin cậy của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và tạo được niềm tin trong nhân dân
Mặt khác, công khai kết quả kiểm toán góp phần quan trọng nâng cao tính hiệu lực của các kết luận, kiến nghị kiểm toán Hiệu lực thực hiện của kết luận, kiến nghị kiểm toán cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên khi các kiến nghị ấy được công khai, đương nhiên sẽ nhận được sự quan tâm, theo dõi sát sao của không chỉ các cơ quan chức năng mà còn của nhân dân và dư luận Chính vì vậy tính hiệu lực của các kiến nghị này sẽ được nâng cao và tâm huyết của KTNN cũng tăng khả năng thực hiện
1.2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế
a) Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề đặt
ra cần được giải quyết nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động công khai kết quả kiểm toán, cụ thể là:
Thứ nhất, việc tiếp nhận và đưa tin về công khai kết quả kiểm toán của
giới truyền thông còn nhiều hạn chế Đó là do hoạt động kiểm toán là hoạt động có tính chuyên môn cao trong lĩnh vực kinh tế tài chính Trong khi đó, các phóng viên của một số báo đài khi tác nghiệp lại chú trọng đến tốc độ đưa tin bài mà chưa nghiên cứu kỹ nội dung tin bài, dẫn đến việc đưa thông tin công khai kết quả kiểm toán sai lệch, gây phản cảm, làm ảnh hưởng không tốt đến hoạt động công khai kết quả kiểm toán cũng như ảnh hưởng đến đơn vị được kiểm toán
Thứ hai, đối với đơn vị được kiểm toán, khi KTNN công khai những
thiếu sót, sai phạm và kiến nghị xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân hay kiến nghị xử lý tài chính dưới góc độ nào đó sẽ là bất lợi cho đơn vị Do chịu áp lực đó, mà trong quá trình làm việc với Kiểm toán viên của KTNN, có nhiều
Trang 29tổ chức, đơn vị được kiểm toán hết sức thận trọng, thậm chí dè dặt trong việc cung cấp hồ sơ, số liệu, hạn chế trao đổi, giải trình, né tránh xác nhận số liệu
và tình hình kiểm toán làm hạn chế kết quả cũng như chất lượng kiểm toán
Thứ ba, chưa có sự theo dõi, kiểm tra, giám sát và hướng dẫn các đơn
vị được kiểm toán công khai báo cáo kiểm toán, biên bản kiểm toán theo quy định của pháp luật
Thứ tư, để tổ chức thành công họp báo công khai kết quả kiểm toán thì
khâu chuẩn bị nội dung, số liệu đòi hỏi nhiều thời gian công sức, nhiệm vụ này do Vụ Tổng hợp của KTNN thực hiện Tuy nhiên với đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn cũng như quy mô kiểm toán của KTNN theo từng năm càng ngày càng được mở rộng , thì những yêu cầu về trình độ cán
bộ thực hiện nhiệm vụ này với chuyên môn cao, am hiểu pháp luật cũng là một vấn đề mà KTNN cần chú trọng
b) Nguyên nhân của những hạn chế
+ Những hạn chế mà chúng ta đang gặp phải trong quá trình công khai kết quả kiểm toán là kết quả tất yếu của việc thực hiện hoạt động còn khá mới mẻ mới chỉ diễn ra trong hơn ba năm gần đây Nó cũng là hạn chế của thói quen “ngại công khai”, ngại giải trình của các đơn vị kiểm toán Chủ yếu đều chưa nhận thức được tầm quan trọng và tính tất yếu của công khai kết quả kiểm toán, vì thế chưa khai thác được tính tính cực từ hoạt động này đối với việc sử dụng ngân sách của đơn vị mình
+ Khuôn khổ pháp lý về hoạt động công khai kết quả kiểm toán của KTNN chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu chế tài xử lý đối với những trường hợp
vi phạm công khai kết quả kiểm toán trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, đơn vị được kiểm toán hay đối với chính những kiểm toán viên hoặc những cán bộ trực tiếp tham gia hoạt động công khai kết quả kiểm toán
+ Chất lượng công tác kiểm toán còn khoảng cách so với quy định của Luật Kiểm toán nhà nước Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị kiểm toán,
Trang 30nhất là việc xử lý trách nhiệm các tổ chức, cá nhân đối với các sai phạm chưa đầy đủ, nghiêm minh và kịp thời; việc khai thác, sử dụng kết quả kiểm toán phục vụ cho công tác quản lý, điều hành, kiểm tra, giám sát nhìn còn hạn chế
+ Tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ công chức của các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Tổng KTNN về công tác công khai kết quả kiểm toán chưa được quan tâm đúng mức, chậm được kiện toàn
1.2.3 Kinh nghiệm về công khai kết quả kiểm toán của một số nước trên thế giới
Theo thông lệ quốc tế, ở hầu hết các nước trên thế giới (không có sự phân biệt mô hình KTNN trực thuộc Quốc hội, Chính phủ hay độc lập), bên cạnh việc báo cáo cho các cơ quan lập pháp và hành pháp, Kiểm toán Nhà nước còn có nhiệm vụ công bố công khai kết quả kiểm toán cho dân biết Nhiệm vụ công bố công khai kết quả kiểm toán được quy định rõ trong Luật kiểm toán nhà nước của một số nước, cụ thể như sau:
- Theo quy định tại Điều 36 Luật kiểm toán Cộng hoà nhân dân Trung Hoa: Cơ quan kiểm toán có thể chuyển đến ngành hữu quan của Chính phủ hoặc công luận kết quả kiểm toán Khi công bố kết quả kiểm toán, cơ quan kiểm toán phải giữ kín các bí mật nhà nước và bí mật kinh doanh của đơn vị được kiểm toán và tuân thủ các quy định của Quốc vụ viện về việc này
- Theo quy định tại Điều 33 Luật kiểm toán Liên bang Nga:
+ Kiểm toán Nhà nước Liên bang thường xuyên thông báo cho các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động của mình
+ Kiểm toán Nhà nước liên bang xuất bản một ấn phẩm ra hàng tháng + Báo cáo năm về hoạt động của Kiểm toán Nhà nước liên bang được trình lên Hội đồng Liên bang và Viện Duma quốc gia và được công bố công khai
+ Các kết quả kiểm toán gắn liền với bí mật nhà nước được trình ra các
Trang 31Viện của Hội nghị Liên bang của Liên bang Nga tại các phiên họp kín
- Theo quy định tại Điều 11 Luật kiểm toán Cộng hoà Pháp: Hàng năm, KTNN báo cáo với Tổng thống cộng hoà và trình báo cáo này gồm những ghi nhớ và những kết luận rút ra từ kết quả kiểm toán của mình ra Nghị viện Báo cáo này kèm theo là ý kiến của các Bộ trưởng, đại diện các địa phương và các
cơ quan có liên quan, các công ty, các hiệp hội và các tổ chức khác được đăng Thông báo nhà nước của nước Cộng hoà Pháp
- Theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật kiểm toán Cộng hoà Séc: Chủ tịch Cục trình báo cáo năm lên Quốc hội và Chính phủ trong vòng 2 tháng sau khi kết thúc năm ngân sách và công bố nó trên “Thông báo của Cục” Theo quy định tại Điều 45 của Luật này quy định về Thông báo của Cục như sau:
+ Cục xuất bản một thông báo chính thức, ra 4 lần trong một năm + Thông báo của Cục đăng chủ yếu: Các quy chế làm việc của Đoàn chủ tịch Cục và của các Hội đồng Cục; Quy chế kỷ luật của Cục; Kế hoạch làm việc; Báo cáo năm và tất cả các báo cáo kiểm toán, trừ các dữ liệu thuộc
về bí mật nhà nước
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về công khai kết quả kiểm toán có thể rút ra một số nội dung chủ yếu sau đây:
Một là: Về nội dung công khai
Báo cáo kiểm toán sau khi trình cơ quan có thẩm quyền được công bố công khai Không công khai những nội dung thuộc bí mật nhà nước và bí mật kinh doanh của đơn vị được kiểm toán
Hai là: Về hình thức công khai
Chủ yếu là hình thức thông báo trên các phương tiện thông tin đại chóng; thông báo trên các ấn phẩm của cơ quan KTNN và phát hành ấn phẩm (in thành sách)
Ba là: Thời điểm công khai
Luật kiểm toán của nhiều nước quy định cụ thể về thời điểm công khai
Trang 32báo cáo kiểm toán, như xuất bản ấn phẩm ra hàng tháng; ra thông báo 4 lần trong năm…
Bốn là: Về cơ sở pháp lý cho việc công khai
Việc công bố công khai kết quả kiểm toán thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc quy định của cơ quan có thẩm quyền
Những nội dung trên đây là những bài học kinh nghiệm quý báu để nghiên cứu, vận dụng trong việc công khai kết quả kiểm toán của KTNN ở Việt Nam
Trang 33Chương 2 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG KHAI KẾT QUẢ KIỂM TOÁN VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾT LUÂN, KIẾN NGHỊ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
2.1 Quan điểm nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán
và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
2.1.1 Quán triệt và thể chế hoá các quan điểm của Đảng về phát triển Kiểm toán Nhà nước và công khai kết quả kiểm toán của KTNN
Để nâng cao hiệu quả công khai kết quả kiểm toán của KTNN, cần phải quán triệt và thể chế hoá các nghị quyết của Đảng về chủ trương phát triển KTNN, công khai kết quả kiểm toán của KTNN, cụ thể là:
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
đã chỉ rõ: "Đề cao vai trò của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm
toán mọi cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước Cơ quan Kiểm toán Nhà nước báo cáo kết quả kiểm toán cho Quốc hội, Chính phủ và công
bố công khai cho dân biết"
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Khoá
VIII tiếp tục nhấn mạnh: " tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài
chính - tiền tệ; thực hành triệt để tiết kiệm Thực hiện chế độ kiểm toán đối với các đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước"
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: " thiết
lập cơ chế giám sát tài chính - tiền tệ, nhằm đảm bảo an ninh tài chính Quốc gia, kiểm soát các nguồn vốn, các khoản vay nợ, trả nợ, mở rộng hình thức công khai tài chính Nâng cao hiệu lực pháp lý và chất lượng Kiểm toán Nhà nước như một công cụ mạnh của Nhà nước"
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở cũng
Trang 34đã chỉ rõ: "Thực hiện quy chế định kỳ kiểm toán nhà nước, công khai thu, chi
ngân sách cho dân biết"
2.1.2 Công khai kết quả kiểm toán phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng kiểm toán
Công khai kết quả kiểm toán là phơi bày trước công luận kết quả của hoạt động kiểm toán qua đó tạo nên áp lực đối với KTV và KTNN về chất lượng kiểm toán Vì vậy, nâng cao chất lượng kiểm toán là mục tiêu hàng đầu, nhằm đáp ứng nhu cầu công khai ngân sách ngày càng cao của Nhà nước và nhân dân, qua đó khẳng định được vị thế của KTNN trong nền kinh
tế quốc dân Chất lượng kiểm toán chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu sau:
a) Tính độc lập
Tính độc lập trong hoạt động kiểm toán được hiểu là cơ quan kiểm toán độc lập với đơn vị được kiểm toán và được bảo vệ loại trừ khỏi các ảnh hưởng từ bên ngoài trong quá trình thực hiện kiểm toán KTNN và KTV chỉ tuân thủ pháp luật, các chuẩn mực nghiệp vụ chuyên môn, có quan điểm vô
tư khi thực hiện các cuộc kiểm toán, đánh giá các kết quả và công bố báo cáo kiểm toán Nếu không có tính độc lập thì kết quả kiểm toán không tin cậy, chức năng kiểm toán không được thực thi trong thực tiễn Do vậy, tính độc lập của cơ quan kiểm toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm toán, là tiền đề cơ bản đảm bảo cho công tác kiểm tra tài chính công có hiệu lực và hiệu quả
b) Cơ cấu tổ chức, cơ chế phân công, phân cấp nhiệm vụ của KTNN
Cơ cấu tổ chức của một đơn vị chính là hệ thống trách nhiệm và quyền lực đang tồn tại Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải xác định rõ trách nhiệm, quyền lực và xác lập được mối quan hệ phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận Đặc biệt, đối với KTNN, đối tượng kiểm soát rất rộng và phức tạp, liên quan đến tất cả các lĩnh vực thu chi ngân sách nhà nước Nếu phân
Trang 35công, phân cấp nhiệm vụ không hợp lý sẽ tạo ra sự chồng chéo Một cơ cấu
tổ chức hợp lý trong đó cơ quan KTNN quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, phạm vi của các kiểm toán chuyên ngành, KTNN khu vực phân công nhiệm
vụ cụ thể cho từng phòng trực thuộc theo hướng chuyên môn hoá kiểm toán một số lĩnh vực, sẽ tạo điều kiện cho các bộ phận, các KTV có trách nhiệm
và khả năng phát huy hết năng lực của mình nâng cao được chất lượng, hiệu quả kiểm toán
c) Chính sách cán bộ bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nghiệp vụ, chế độ đề bạt, đãi ngộ cán bộ và kiểm toán viên
Chất lượng đội ngũ KTV phụ thuộc chủ yếu vào chính sách cán bộ KTNN phải có quy chế thích hợp về tuyển chọn đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nghiệp vụ, quy chế đề bạt KTV, đồng thời Nhà nước cũng phải đảm bảo cho KTV có mức thu nhập thích hợp để họ chí công vô tư khi thực hiện nhiệm vụ của mình Làm tốt những vấn đề này sẽ nâng cao được chất lượng KTV cũng như chất lượng kiểm toán
d) Các quy định về chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán
Các quy định này là hệ thống các nguyên tắc, yêu cầu, quy định, chỉ dẫn nghiệp vụ kiểm toán cho KTV, là căn cứ pháp lý cho hoạt động kiểm toán, đồng thời là căn cứ để kiểm soát chất lượng kiểm toán Do vậy, hệ thống chuẩn mực, quy trình kiểm toán, phương pháp kiểm toán, các quy chế hoạt động kiểm toán là cơ sở tạo nền nếp trong quản lý cũng như thực hiện kiểm toán và kiểm soát hoạt động kiểm toán, bảo đảm chất lượng kiểm toán
đ) Quy chế, thủ tục và hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán
Hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán muốn có chất lượng cao phải có căn cứ pháp lý hoạt động nghiệp vụ kiểm soát Căn cứ đó là quy chế, thủ tục kiểm soát Nó quy định trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân liên quan đến kiểm soát và cách thức, trình tự các bước công việc tiến hành kiểm soát Quy chế và thủ tục kiểm soát thích hợp được ban hành và tổ chức thực
Trang 36hiện tốt sẽ là yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng hoạt động kiểm soát và chất lượng kiểm toán
e) Đạo đức nghề nghiệp và trình độ, năng lực của KTV
KTV là một trong những nhân tố quyết định chất lượng kiểm toán Luật Đạo đức nghề nghiệp của INTOSAI đòi hỏi cao về mặt đạo đức đối với
cơ quan KTNN và KTV Đạo đức của cơ quan KTNN thể hiện ở sự tín nhiệm và tin cậy của người quan tâm đối với cơ quan kiểm toán và hoạt động kiểm toán Tất cả các công việc do cơ quan KTNN thực hiện phải có quy định về đạo đức nghề nghiệp bao trùm và phải chịu sự kiểm tra của các cơ quan Quốc hội, sự đánh giá của công chúng đối với tính đúng đắn và kiểm tra đối chiếu với luật nghề nghiệp
2.1.3 Công khai kết quả kiểm toán phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, tôn trọng pháp luật và phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam
Tuân thủ các chuẩn mực, tiếp thu có chọn lọc các thông lệ quốc tế phổ biến và những bài học kinh nghiệm của KTNN các nước trên thế giới, KTNN Việt Nam đã trở thành thành viên của các tổ chức kiểm toán quốc tế
Vì vậy, KTNN Việt Nam phải dựa trên nguyên tắc tuân thủ các chuẩn mực
và thông lệ quốc tế KTNN Việt Nam còn rất non trẻ so với lịch sử phát triển hàng trăm năm của kiểm toán thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu để vận dụng
có chọn lọc những bài học kinh nghiệm tiên tiến của các nước trên thế giới phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam là hết sức quan trọng và cũng
là một trong những điều kiện đưa hoạt động của KTNN Việt Nam hoà nhập vào hoạt động kiểm toán của các nước trong khu vực và trên thế giới, nhằm sớm đưa hoạt động của KTNN Việt Nam có trình độ khá trong khu vực
Tuân thủ pháp luật phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển từng bước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phù hợp với tiến trình, chủ trương cải
Trang 37cách hành chính nhà nước của KTNN; quán triệt nguyên tắc này nhằm bảo đảm tính khả thi trong quá trình công khai kết quả kiểm toán phù hợp với khả năng và nguồn lực của KTNN, đồng thời phù hợp với môi trường kinh
tế, pháp luật của Việt Nam trong từng giai đoạn theo chủ trương phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước; đảm bảo yêu cầu bảo mật và bí mật nhà nước theo quy định của pháp luât
2.1.4 Việc công khai kết quả kiểm toán phải đảm bảo bí mật Nhà nước
Công khai kết quả kiểm toán nhằm tăng cường tính hiệu lực của công khai các chính sách tài chính, số liệu về dự toán, quyết toán của các đơn vị, cung cấp thông tin xác thực và căn cứ quan trọng để Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng Nhân dân các cấp, cơ quan tư pháp và các cơ quan khác của Nhà nước sử dụng trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức Nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý, hoạt động của các cơ quan nhà nước, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, góp phần minh bạch hoá nền tài chính quốc gia
Tuy nhiên, việc công khai cần quy định cụ thể về nội dung, hình thức
và thời gian công khai, việc công khai không được làm tổn hại đến lợi ích Quốc gia Danh mục bí mật nhà nước được quy định tại Pháp lệnh về bảo vệ
bí mật nhà nước số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 12 năm 2000 của UBTVQH Theo đó: Bí mật nhà nước là những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước CHXHCNVN Cơ quan nhà nước, tổ chức chính
Trang 38trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo
Tóm lại, khi công khai kết quả kiểm toán, KTNN phải chủ động loại trừ những thông tin thuộc bí mật nhà nước; với các báo cáo của từng cuộc kiểm toán sẽ công khai cùng với báo cáo tài chính và phù hợp với quy định theo nguyên tắc nội dung nào báo cáo tài chính công khai thì báo cáo kiểm toán công khai nội dung đó
2.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước
2.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán nhà nước, trong
đó có pháp luật về công khai kết quả kiểm toán
Ở nước ta, Kiểm toán Nhà nước là cơ quan mới được thành lập, không
có tổ chức tiền thân và chưa có tiền lệ hoạt động, do vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ và toàn diện cho tổ chức và hoạt động của KTNN là điều cấp thiết, tạo cơ sở pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của KTNN và công khai kết quả kiểm toán của KTNN Pháp luật về Kiểm toán Nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Pháp luật
về Kiểm toán Nhà nước xác định địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, hoạt động