Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển...”2 Trên cơ sở nghiên cứu nội hàm của các TPKT theo quan điểm của Đảng tại C
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
B¸o c¸o tæng hîp kÕt qu¶ nghiªn cøu khoa häc
Đề tài cấp Bộ
ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG PHÂN LOẠI THÀNH PHẦN
Chủ nhiệm: TS Đỗ Thức
Phó Chủ nhiệm: CN Trần Tuấn Hưng
ThS Đinh Thị Thúy Phương
Thư ký: CN Nguyễn Thị Hà
ThS Nguyễn Đình Khuyến
9510
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Trang 2THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ 9
5 Kinh tế tư bản nhà nước 31
PHẦN II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÂN LOẠI THÀNH PHẦN
I TỔNG QUAN CÁC VĂN BẢN VỀ ÁP DỤNG PHÂN LOẠI TPKT
1 Quyết định số 147 TCTK/QĐ ngày 27/12/1993 34
2 Công văn số 231 TCTK/PPCĐ ngày 17/4/2002 35
II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÂN LOẠI TPKT TRONG CÔNG
TÁC THỐNG KÊ
36
1 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong thu thập số liệu 37
2 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong tổng hợp, biên soạn và công
III ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÂN LOẠI
Trang 31 Nguyên tắc, căn cứ xác định nội dung phân loại thống kê theo TPKT 56
2 Tiêu thức phân loại 59
4 Đề xuất phân loại thống kê theo TPKT và áp dụng thử nghiệm 64
Trang 4DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 1: Quan hệ phân loại TPKT (Quan điểm của Đảng) và LHKT áp
Bảng 2: Chỉ tiêu thống kê thu thập thông tin áp dụng phân loại theo 5
LHKT
42
Bảng 3: Chỉ tiêu thống kê tổng hợp, biên soạn và công bố thông tin áp
dụng phân loại theo 5 LHKT/TPKT
Bảng 6: Danh mục phân loại thống kê theo TPKT 66
Bảng 7: Tổng hợp sắp xếp các đơn vị, cá nhân pháp lý tham gia quá trình
Bảng 9: Đề xuất phân loại thống kê TPKT 74
Bảng 10: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia áp dụng theo LHKT/TPKT 77
Bảng 11: Kết quả thử nghiệm đề xuất phân loại thống kê TPKT trong điều
Bảng 12: Áp dụng thống kê phân loại TPKT đối với doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp và dự án có vốn ĐTNN 84
Trang 5KTTN Kinh tế tư nhân
KTCVĐTNN Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
DN Doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
PPCĐ&CNTT Phương pháp Chế độ và Công nghệ thông tin
NXB Nhà Xuất bản
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuất phát một trong các chức năng của Tổng cục Thống kê là tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật1, trong đó có các thông tin liên quan đến thống kê theo phân loại thành phần kinh tế, đồng thời một trong những định hướng của sự phát triển thống kê trong điều kiện hiện nay là phản ánh được các đặc điểm của nền kinh tế ở Việt Nam, mà Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991) đã xác
định: Phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng
cố và mở rộng Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định Phát triển kinh
tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập Các hình thức sở hữu hỗn hợp
và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh”
Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011, dự thảo Cương lĩnh 2011) đã khẳng định lại và phát triển Cương
lĩnh 91 về thành phần kinh tế (TPKT), trong đó chỉ rõ “…Phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều TPKT, hình thức tổ chức
kinh doanh và hình thức phân phối Các TPKT hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển ”2
Trên cơ sở nghiên cứu nội hàm của các TPKT theo quan điểm của Đảng tại Cương lĩnh 91 và Dự thảo Cương lĩnh 2011, đồng thời xuất phát từ vai trò cung cấp thông tin thống
kê kinh tế - xã hội cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật và để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ đánh giá thực hiện kế hoạch
1
Quyết định số 54/2010/QĐ-TTg ngày 24/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ;
2 Dự thảo Cương lĩnh 2011
Trang 7phát triển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, như đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-20103 “Những kết quả về tăng trưởng đi đôi với phát triển bền
vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu TPKT và xây dựng nội dung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 về khuyến khích phát triển các TPKT ”, do vậy việc
“Nghiên cứu áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê Việt Nam” là cần thiết
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
1 Phương pháp thu thập thông tin, nghiên cứu quan điểm của Đảng và một số tài liệu khác liên quan đến phân loại TPKT;
2 Phương pháp phân tích thống kê: Phương pháp phân tổ thống kê;
3 Phương pháp thử nghiệm áp dụng đề xuất phân loại TPKT trong công tác thống kê (điều tra thống kê);
4 Phương pháp chuyên gia
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: (i) Đề xuất bảng phân loại theo TPKT phù hợp quan điểm của Đảng và có tính khả thi trong công tác thống kê; (ii) Đề xuất áp dụng phân loại trong công tác thống kê Việt Nam
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nội dung chính nghiên cứu ĐTKH gồm:
i Cơ sở lý luận và thực tiễn về áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê;
ii Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê;
iii Đề xuất phân loại và áp dụng TPKT trong công tác thống kê Việt Nam
Sau hai năm nghiên cứu với sự hợp tác của một số đơn vị trong và ngoài cơ quan TCTK như: Văn Phòng Trung ương Đảng; Viện Khoa học Thống kê; Vụ Phương pháp Chế
độ Thống kê và Công nghệ thông tin; Vụ Thống kê Tổng hợp; Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ; Vụ Thống kê Công nghiệp; Vụ Hệ thống Tài khoản Quốc gia; Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Vụ Thống kê Dân số và Lao động; Cục Thống kê Bắc Ninh và các
3 Chỉ thị số: 751/CT-TTg, ngày 03/06/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 8cộng tác viên tham gia nghiên cứu ĐTKH4, Đề tài đã hoàn thành nội dung nghiên cứu qua
17 chuyên đề khoa học5 Dựa vào các kết quả nghiên cứu, Ban Chủ nhiệm ĐTKH tổng hợp
và hệ thống hóa thành: Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu ĐTKH Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, kiến nghị và phụ lục, kết cấu ĐTKH gồm các phần chính như sau:
Phần I “Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê”,
đề cập tới nội dung nghiên cứu khái niệm về TPKT; Nội hàm khu vực thể chế (theo quan điểm của Hệ thống tài khoản quốc gia 2003), quan điểm của Đảng về TPKT theo Cương lĩnh 91 và những phát triển theo Dự thảo Cương lĩnh 2011
Phần II “Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê”, đề cấp tới nội dung nghiên cứu thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê theo hai giai đoạn: (i) Thu thập số liệu thống kê (qua điều tra thống kê và báo cáo thống kê); (ii) Tổng hợp, biên soạn và công bố thông tin thống kê
Phần III “Đề xuất phân loại thống kê thành phần kinh tế”, trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê kết hợp với quan điểm của Đảng về TPKT theo Dự thảo Cương lĩnh 2011, Đề tài đề xuất danh mục và nội dung năm phân loại thống kê theo TPKT, gồm: (i) TPKT nhà nước; (ii) TPKT tập thể; (iii) TPKT tư nhân; (iv) TPKT tư bản nhà nước; (v) TPKT có vốn đầu tư nước ngoài và “Áp dụng thử nghiệm đề xuất phân loại TPKT trong công tác thống kê”
Việc nghiên cứu áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê Việt Nam là một vấn đề khó, nội dung nghiên cứu rộng, việc thể chế hoá các quan điểm của Đảng về TPKT còn chậm, chưa chỉ rõ nội hàm các TPKT hay xác định rõ các tiêu chí đối với các TPKT, đồng thời hạn chế nguồn tài liệu tham khảo về kinh nghiệm nước ngoài áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê Do vậy trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chắc chắn kết quả
đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, Ban Chủ nhiệm đề tài mong nhận được ý kiến góp ý
để chúng tôi hoàn thiện kết quả nghiên cứu
Ban chủ nhiệm đề tài
4 Phụ lục 1 Danh sách cộng tác viên tham gia nghiên cứu đề tài;
5 Phụ lục 2: Danh sách các chuyên đề khoa học
Trang 9PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÂN LOẠI
THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Trước khi tiến hành nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về TPKT,
cần thiết phải tìm hiểu một số khái niệm có liên quan
Về quan điểm
Theo Từ điển Tiếng Việt, quan điểm là điểm xuất phát quy định phương hướng suy
nghĩ, cách xem xét và hiểu các hiện tượng, vấn đề 6
Vấn đề sở hữu: xuất phát điểm của TPKT là vấn đề sở hữu Đại hội X của Đảng đã
khẳng định “trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều TPKT ”7
Sở hữu là vấn đề hết sức cơ bản, có vị trí hết sức quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn, hiện nay còn nhiều tranh luận Tuy nhiên với góc độ nghiên cứu để vận dụng trong công tác thống kê TPKT, xin được đề cập ở mức độ quan điểm của Đảng
Sở hữu là khái niệm ban đầu được sử dụng trong quan hệ pháp lý dùng để chỉ các quan hệ tài sản, sau đó được các nhà khoa học kinh tế sử dụng như một phạm trù kinh
tế - chính trị, ám chỉ một nội hàm rộng lớn hơn, đó là quan hệ giữa người với người trong tổ chức sản xuất xã hội
Sở hữu có tính hai mặt, vừa là quan hệ pháp lý, vừa là quan hệ kinh tế (1) Về mặt pháp lý, sở hữu xác định quyền của người hoặc pháp nhân đối với tài sản, phân biệt các chủ thể, đặt họ đối lập nhau về quyền đối với tài sản Sở hữu về mặt pháp lý chính
Trang 10là điều kiện cần để các chủ thể thực hiện lợi ích kinh tế của mình thông qua việc khai thác tài sản sở hữu (2) Về mặt kinh tế, sở hữu được xác định thông qua lợi ích kinh
tế mà việc sử dụng quyền sở hữu mang lại cho chủ sở hữu, nghĩa là, về mặt kinh tế,
sở hữu được định nghĩa thông qua toàn bộ các quan hệ kinh tế được thực hiện trong quá trình sử dụng tài sản để đạt lợi ích mong muốn
Có thể nói rằng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận vị trí trung tâm của vấn đề sở hữu cả trong lý luận kinh tế cũng như trong thực tiễn Rõ ràng là, sở hữu quy định tính chất, mục đích của sản xuất; giữa quan hệ sở hữu với năng suất lao động
và sự phát triển kinh tế - xã hội có mối quan hệ nhân quả
Trong điều kiện đổi mới về kinh tế hiện nay ở nước ta, mà thực chất là chuyển đổi từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn
đề sở hữu đã được Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn và vận dụng sáng tạo trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế của Cương lĩnh 1991, cũng như các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc từ Đại hội VI (1986) đến nay9
Về thành phần kinh tế
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “TPKT: bộ phận của nền kinh tế quốc dân,
mà đại biểu của nó là một kết cấu kinh tế đặc biệt dựa trên một chế độ sở hữu nhất định
về tư liệu sản xuất và lực lượng sản xuất tương ứng với nó; TPKT chỉ cách phân chia nền
kinh tế quốc dân theo hình thức sở hữu, giúp ích cho việc hoạch định chính sách cụ thể,
sát đúng với mỗi thành phần và toàn bộ nền kinh tế ”10
- Theo Hệ thống Tài khoản Quốc gia năm 2003 “TPKT là khu vực kinh tế, là kiểu quan hệ kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư liệu sản xuất Từ các hình thức sở hữu cơ bản:
Sỡ hữu toàn dân, sở hữu tập thể hình thành nên nhiều TPKT với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp Hiện nay TPKT nước ta gồm: (i) Kinh tế Nhà nước: Dựa trên sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất; (ii) Kinh tế tập thể: Dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất; (iii) Kinh tế tư bản nhà nước: Dựa trên cơ sở hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và tư bản tư nhân nước ngoài; (iv) Cá thể tiểu chủ: Dựa trên sở hữu tư nhân quy mô nhỏ về tư liệu sản xuất; (v) Kinh tế tư bản tư nhân: Dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất; (vi) Có vốn đầu tư nước ngoài”
Trang 11- Khu vực thể chế: Tài khoản quốc gia 1993 chia nền kinh tế thành sáu khu vực thể chế: (i) Khu vực Phi tài chính; (ii) Khu vực Tài chính; (iii) Khu vực Nhà nước; (iv) Khu vực không vị lợi phục vụ hộ gia đình; (v) Khu vực hộ gia đình; (vi) Khu vực nước ngoài Nội hàm của từng khu vực thể chế áp dụng trong thống kê Tài khoản quốc gia Việt Nam như sau:
(i) Khu vực Phi tài chính bao gồm: Các doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã; Luật Doanh nghiệp; Luật đầu tư nước ngoài không kể các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng, bảo hiểm, xổ số;
(ii) Khu vực Tài chính bao gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính và cho thuê tài chính, các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, các công ty xổ số kiến thiết;
(iii) Khu vực Nhà nước bao gồm: Các cơ quan hành chính sự nghiệp, An ninh quốc phòng, các tổ chức chính trị - xã hội (Đảng cộng sản Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam…);
(iv) Khu vực không vị lợi phục vụ hộ gia đình bao gồm: Các Hiệp hội Từ thiện, Hữu ái, các tổ chức nhân đạo, các tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng;
(v) Khu vực hộ gia đình bao gồm: Các hộ gia đình thuần tuý tiêu dùng cuối cùng
và các hộ gia đình vừa sản xuất vừa tiêu dùng (TPKT cá thể tiểu chủ: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương, dịch vụ cá thể…);
(vi) Khu vực nước ngoài bao gồm: Các đơn vị thể chế không thường trú
II QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ THÀNH PHẦN KINH TẾ
Sau ngày hoà bình lập lại (1954), Đảng Lao động Việt Nam11 (sau đây gọi tắt là Đảng hoặc Đảng ta) đã chủ trương đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa để xây
dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cho rằng quan hệ sản xuất phải đi
trước một bước để mở đường, thúc đẩy sức sản xuất phát triển (Đại hội III và các Đại
hội IV, Đại hội V)
Bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta khẳng định chủ trương phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
11
Sau này đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 12Trong xây dựng quan hệ sản xuất, từ chỗ ban đầu chỉ chú trọng quan hệ sở hữu mà mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa (Đại hội III), tiến đến yêu cầu phải chú trọng cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới bao gồm cả ba mặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế
độ phân phối xã hội chủ nghĩa (Đại hội VI) Từ chỗ coi các hình thức sở hữu tồn tại biệt lập trong từng TPKT đến chỗ xác định rõ có ba hình thức sở hữu cơ bản, hình thành nhiều TPKT với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu
Quan niệm về sở hữu của Đảng cũng có những đổi mới rất căn bản Từ chỗ chỉ coi trọng sở hữu bằng hiện vật, từng bước tiến đến chú trọng sở hữu về giá trị, tiến thêm một bước về sở hữu trí tuệ; từ chỗ chỉ coi trọng quyền sở hữu, tiến đến có sự phân định trong mối quan hệ giữa quyền chủ sở hữu và quyền tài sản tại doanh nghiệp nhà nước
Trên cơ sở những đổi mới về tư duy lý luận - thực tiễn quan trọng về mối quan
hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, cũng như về bản thân nội dung quan
hệ sản xuất, đã từng bước hình thành những chủ trương, chính sách hết sức quan trọng của Đảng về các TPKT
Đổi mới tư duy lý luận - thực tiễn về chế độ sở hữu của Đảng
Về phân định chế độ sở hữu:
- Trước đổi mới: phân định rõ thành hai chế độ sở hữu tồn tại biệt lập và đối lập nhau
là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa và chế độ sở hữu phi xã hội chủ nghĩa Từ đó Ðảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa triệt để chế độ sở hữu phi xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản tư nhân thành các hình thức sở hữu khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa
-Trong quá trình thực hiện đổi mới, đã phân định thành ba hình thức sở hữu
cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân (từ ba hình thức sở hữu cơ bản hình thành nên các TPKT) Các hình thức sở hữu không tồn tại biệt lập, mà đan xen, hỗn hợp trong các loại hình sản xuất kinh doanh
Kế thừa các quan điểm về sở hữu và TPKT của các Đại hội IX, Đại hội X, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn có đa dạng hình thức sở hữu, nên nền kinh tế cũng bao gồm nhiều TPKT
Trang 13Trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI Đảng ta tiếp tục phát triển hoàn thiện thêm một số vấn đề về sở hữu: bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản như sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước , quy định rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với
xã hội
Đổi mới, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu toàn dân mà Nhà nước
là đại diện đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các loại tài sản công khác để tài nguyên, vốn và các tài sản công được quản lý, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí Đất đai, tài nguyên, vốn, tài sản do Nhà nước đại diện chủ sở hữu được giao cho các chủ thể thuộc mọi TPKT sử dụng theo nguyên tắc hiệu quả, thông qua cơ chế thị trường (cạnh tranh, đấu thầu, đấu giá ) Các chủ thể có quyền và nghĩa vụ như nhau trong sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước Tổng kết hoạt động của Tổng công ty Đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước; nghiên cứu hình thành các tổ chức quản
lý đầu tư, kinh doanh có hiệu quả các nguồn vốn, tài sản của Nhà nước; khắc phục tình trạng bộ máy quản lý hành chính tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh thông qua mệnh lệnh hành chính
Đổi mới tư duy lý luận - thực tiễn của Đảng về các TPKT
Về phân định các TPKT
- Trước đổi mới: phân chia thành hai thành phần kinh tế có tính chất hai cực đối lập
rõ ràng, với chính sách khác hẳn nhau Đó là: TPKT xã hội chủ nghĩa (bao gồm khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể) được ưu tiên, khuyến khích phát triển, và TPKT phi xã hội chủ nghĩa, vừa sử dụng vừa cải tạo, cải tạo để sử dụng, sử dụng để cải tạo tốt hơn trở thành kinh tế xã hội chủ nghĩa
- Từ Đại hội VI đến nay: đã phân chia thành nhiều TPKT và từng bước xoá bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử giữa các TPKT, đó là: kinh tế nhà nước (có lúc gọi là kinh tế quốc doanh, xí nghiệp quốc doanh); kinh tế tập thể (có lúc gọi là kinh tế hợp tác); kinh tế
cá thể, tiểu chủ (có lúc gọi là kinh tế của người sản xuất hàng hoá nhỏ); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước (có lúc gọi là con đường phát triển của kinh tế tư bản tư nhân, là chế độ hoặc chủ nghĩa tư bản nhà nước); kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (có lúc xếp vào kinh tế tư bản nhà nước)
Trang 14Trong quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện đường lối chiến lược của Cương lĩnh 1991, trên cơ sở ba chế độ sở hữu, tuỳ thuộc vào nhiệm vụ trung tâm trong từng giai đoạn của công cuộc đổi mới, Đảng đã có sự nhạy bén sách lược về tư duy kinh tế, vì vậy có thời
kỳ cần nhấn mạnh thành phần kinh tế này, lại có thời kỳ cần tập trung vào thành phần kinh tế khác, cho nên số lượng, phạm vi, tên gọi các thành phần kinh tế trong từng nhiệm
kỳ Đại hội Đảng có khác nhau, nhưng luôn nhất quán là nền kinh tế nhiều thành phần Đến Đại hội X, và trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI, TPKT được tương đối ổn
định, thống nhất ở 5 TPKT: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu
chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn ĐTNN
Như vậy, những đổi mới tư duy lý luận - thực tiễn về các TPKT của Đảng thể hiện rõ ràng từ quan điểm đến chính sách phát triển từng TPKT Bên cạnh những điều chỉnh chính sách về phát triển TPKT nhà nước, Đảng đã không ngừng đổi mới về chính sách theo hướng ngày càng coi trọng và khuyến khích các TPKT khác phát triển, nhất là kinh
tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Vẫn coi kinh tế nhà nước (gồm tất cả các nguồn lực kinh tế của nhà nước) giữ vai trò chủ đạo, trong đó doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt, mở đường, dẫn dắt, hỗ trợ các TPKT khác cùng phát triển, nhưng đã có những đổi mới quan trọng đối với TPKT này Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, cơ cấu lại theo hướng tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với quá trình cạnh tranh và hội nhập; xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp, xoá bỏ mọi hình thức bao cấp đối với doanh nghiệp nhà nước Thực hiện quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, chuyển mạnh sang thực hiện chế độ công ty dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là nhà nước Củng cố các tổng công ty lớn chuyển sang thực hiện theo mô hình “công ty mẹ - công ty con”, xây dựng một
số tập đoàn kinh tế mạnh do các tổng công ty nhà nước làm nòng cốt, có sự tham gia rộng rãi của các TPKT trong và ngoài nước
Đối với từng TPKT
1 Kinh tế nhà nước
- Trước đổi mới: kinh tế quốc doanh, xí nghiệp quốc doanh được coi là lực lượng
nòng cốt, lãnh đạo, là hình thức cao nhất, độc quyền và phát triển với tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, hạn chế sự phát triển của kinh tế tư nhân; trong cải tạo xã hội
Trang 15chủ nghĩa đã có xu hướng quốc doanh hoá các xí nghiệp công tư hợp doanh và hợp tác xã.
- Thời kỳ đổi mới: trong quá trình đổi mới, nội dung vai trò nòng cốt lãnh đạo,
chủ đạo của kinh tế quốc doanh, xí nghiệp quốc doanh dần được xác định sáng tỏ hơn
Kinh tế nhà nước (bao gồm doanh nghiệp nhà nước và các nguồn tài nguyên, ngân sách, quỹ và các lực lượng vật chất khác thuộc về nhà nước) được đổi mới khá mạnh Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công
cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, có vai trò mở đường, dẫn dắt, hỗ trợ các TPKT khác cùng phát triển
Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá VI) xác định: “Kinh tế quốc doanh có vai trò chủ đạo, cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết chiếm
tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề”12
Đại hội VIII xác định: “Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước
để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội; mở đường hướng dẫn, hỗ trợ các TPKT cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” 13
Đại hội IX xác định: “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là
lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật” 14
Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, cơ cấu lại theo hướng tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Đã tiến hành cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước, thực hiện giao cho người lao động, bán, khoán kinh doanh, cho thuê một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ
Doanh nghiệp nhà nước không chỉ bao gồm doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước
mà cả doanh nghiệp có trên 50% vốn chủ sở hữu nhà nước Tùy theo mô hình tổ chức
Trang 16của doanh nghiệp nhà nước, chuyển mạnh sang thực hiện quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh theo chế độ công ty dưới hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước; các tổng công ty và công ty lớn chuyển sang tổ chức và hoạt động theo
mô hình công ty mẹ - công ty con; xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh do tổng công
ty nhà nước làm nòng cốt, có sự tham gia rộng rãi của các TPKT trong và ngoài nước
Hội nghị Trung ương khóa 6 (khóa VI) nói rõ, kinh tế quốc doanh “cần có lực lượng
đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề Những ngành nghề, hoạt động nào mà kinh tế hợp tác, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình ấy phát triển.” 15
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) đã xác định tập trung xây dựng doanh nghiệp nhà nước ở những ngành, những lĩnh vực, những khâu như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính - ngân hàng, bảo hiểm, một số cơ sở sản xuất và dịch
vụ trọng yếu, bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với hiệu quả cao Trong các lĩnh vực này, không loại trừ sự tham gia của các TPKT khác với hình thức và mức độ khác nhau.16
Đại hội IX xác định: “Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều
chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện
có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các TPKT”17
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) xác định xóa bỏ dần có qua làm thí điểm chế độ bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt xí nghiệp trung ương và xí nghiệp địa phương18
Đại hội IX xác định: “Phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
doanh nghiệp”; “quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp” gắn với việc chuyển sang thực hiện chế độ quản lý công ty
đối với doanh nghiệp nhà nước
Trang 17Đại hội IX đánh giá 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
(1991 – 2000) đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng:…Kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều Nền kinh tế từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế; từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ chỗ chỉ có hai TPKT là kinh tế nhà nước và kinh
tế tập thể đã chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.” 19
Đại hội X tiếp tục khẳng định:
“Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả Xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước có quyền tài sản, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên thị trường và trước pháp luật…
Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước…
Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư , trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối” 20
Đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước luôn là mối quan tâm lớn của Đảng suốt từ Đại hội III đến Đại hội X và các Hội nghị Trung ương bàn về kinh tế - xã hội Có thể nói đó là quá trình Đảng ta tìm tòi rút kinh nghiệm từ thực tiễn để có những chủ trương, giải pháp hết sức quan trọng nhằm phát huy tốt vai trò của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; đồng thời khuyến khích, thúc đẩy phát triển các TPKT khác cùng phát triển với tốc độ cao, nâng cao khả năng cạnh tranh, cải thiện đời sống Những chủ trương, chính sách đúng đắn đó đã góp phần quyết định đưa kinh tế nước ta phát
Trang 18triển liên tục suốt gần 20 năm đổi mới với tốc độ khá cao, làm thay đổi rất nhiều bộ mặt kinh tế - xã hội
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới của
Trung ương Đảng đã tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân cùng các giải pháp để tăng cường TPKT nhà nước Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI đã chỉ rõ:
Tổng kết hoạt động của Tổng công ty Đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước; nghiên cứu hình thành các tổ chức quản lý đầu tư, kinh doanh có hiệu quả các nguồn vốn, tài sản của Nhà nước; khắc phục tình trạng bộ máy quản lý hành chính tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh thông qua mệnh lệnh hành chính
Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước để giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Từng bước xây dựng các doanh nghiệp mang tầm khu vực và toàn cầu Xác định đúng đắn, cụ thể hơn quyền hạn, trách nhiệm của hội đồng quản trị và giám đốc doanh nghiệp đối với vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, vừa đảm bảo quyền chủ động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa bảo toàn, nâng cao hiệu quả
2 Kinh tế tập thể
hữu về tư liệu sản xuất và lối làm ăn cá thể thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho khuynh hướng tư bản chủ nghĩa phát triển” Từ quan điểm này, Nghị quyết 16 Trung
ương quyết định: “Cần phải cải tạo sản xuất cá thể thành nền sản xuất tập thể, chặn
đứng con đường tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, cứu nông dân khỏi nanh vuốt của chủ nghĩa tư bản, góp phần củng cố liên minh công nông… Ưu tiên kết nạp xã viên là bần cố
Trang 19nông, trung nông lớp dưới, sau đó mới kết nạp trung nông, không bố trí trung nông vào
vị trí chủ chốt” 21
Nghị quyết 10 - NQ/TW được coi là một mốc quan trọng mở đầu thời kỳ đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp với mục tiêu là phát triển sản xuất, quan tâm đến lợi ích chính đáng của xã viên, nên đã lôi cuốn được hàng chục triệu nông dân cả nước hăng hái lao động sản xuất, tạo nên những thành tựu có tính đột phá trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn trong những năm đầu của thập kỷ 90
Gắn với đổi mới quan điểm về mục tiêu phát triển, quan niệm về vai trò của kinh
tế tập thể cũng dần được đổi mới căn bản
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của kinh tế tập thể đã được Đảng
ta khẳng định với mức độ khác nhau tùy thuộc vào tình hình thực tiễn của từng thời kỳ, nhằm đảm bảo sự phù hợp với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất Đảng
đã xác định trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với 3 thành phần (quốc doanh, tập
thể và cá thể), thì chủ thể chính là quốc doanh và tập thể, trong đó kinh tế tập thể có vai
trò bổ sung; trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành
phần, thì vai trò của kinh tế tập thể ngày càng được chú trọng Hội nghị đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới xác định vai trò của kinh tế tập thể như sau: “Kinh tế hợp tác với nhiều hình thức phong phú và đa
dạng từ thấp đến cao, phù hợp với nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, kết hợp sức mạnh của tập thể và sức mạnh của hộ xã viên, làm cho kinh tế hợp tác trở thành một TPKT vững mạnh, cùng với kinh tế quốc doanh trở thành xương sống của nền kinh tế quốc dân”
Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tập thể và chủ trương:
“Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể.” đồng thời đề ra
phương hướng, giải pháp để thực hiện chủ trương đó:
“Tổng kết thực tiễn, sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản
21
Lịch sử Đảng, tập 10, NXB Sự thật, Hà Nội 1960, trang 87
Trang 20xuất kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới Chú trọng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cổ phần
Khuyến khích việc tăng vốn góp và các nguồn vốn huy động từ thành viên để tăng nguồn vốn hoạt động của hợp tác xã, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong hợp tác xã.
Hợp tác xã và các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động theo các nguyên tắc: hợp tác
tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng.” 22
Có thể nói rằng quá trình đổi mới về tư duy và nhận thức đối với kinh tế tập thể
mà nòng cốt là các hợp tác xã đều bắt nguồn từ tổng kết thực tiễn, tôn trọng quy luật phát triển khách quan của sự vật, vì lợi ích thiết thực của đông đảo nhân dân lao động, nên ngày càng xác định rõ hơn vai trò của hợp tác xã trong các TPKT và vì vậy TPKT này có điều kiện khách quan và chủ quan để phát triển
- Đổi mới về sở hữu tư liệu sản xuất trong hợp tác xã
Mối quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất trong hợp tác xã đã được Đảng ta nhận thức ngày càng rõ hơn và có những đổi mới quan trọng Từ chỗ tập thể hóa triệt để các tư liệu sản xuất chủ yếu trong hợp tác xã nông nghiệp, đã chuyển sang giao ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân, khuyến khích xã viên tự bỏ vốn mua sắm công cụ sản xuất, trong hợp tác xã đồng thời có nhiều loại hình sở hữu đối với tư liệu sản xuất: sở hữu của
xã viên (sử dụng riêng), vốn góp cổ phần của xã viên, sở hữu tập thể (quỹ không chia)
Đại hội VII khẳng định chủ trương giao ruộng đất cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài, và xác định rõ hợp tác xã chỉ giữ lại một phần ruộng đất để dùng chung trong hợp tác xã Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, năm 1993 Luật Đất đai được ban hành, trong
đó quy định hộ xã viên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn
định lâu dài và được hưởng 5 quyền về sử dụng đất nông nghiệp: chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp Dưới tác động của quan điểm của Đảng đổi mới
về chế độ sở hữu trong các hợp tác xã, các hợp tác xã không còn quản lý tập trung các tư liệu sản xuất như trước Ruộng đất và các tư liệu sản xuất quan trọng khác trước đây thuộc sở hữu tập thể của hợp tác xã, đến nay đã được chuyển giao về cho xã viên quản
22
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 85-86
Trang 21lý, sử dụng và một số công trình phúc lợi trước đây coi như hợp tác xã sở hữu, nay được chuyển giao cho Uỷ ban nhân dân xã quản lý, sử dụng
Tiếp đến Đại hội IX và các Nghị quyết của Trung ương, quan điểm đổi mới của Đảng
về sở hữu của hợp tác xã đã tiếp tục mở rộng phạm vi và đối tượng tham gia: sở hữu của hợp tác xã bao gồm sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể Sở hữu của các thành viên được xác định là vốn góp cổ phần vào hợp tác xã, kể cả góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng đất; còn sở hữu tập thể gồm chủ yếu là vốn không chia trong hợp tác xã, do để các quỹ, do tích lũy tái sản xuất, do Nhà nước, các tổ chức hỗ trợ Ngoài ra, còn cho các pháp nhân góp vốn tham gia hợp tác xã (Nghị quyết số 13 - NQ/TW Hội nghị Trung ương 5, khóa IX)
Như vậy, sở hữu tư liệu sản xuất trong hợp tác xã không còn đơn thuần là sở hữu của tập thể, mà còn có sở hữu của xã viên và các thành phần kinh tế khác là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (đa sở hữu, hay sở hữu hỗn hợp) mà hợp tác xã được quyền quản lý,
sử dụng Chính vì đổi mới về sở hữu và kết hợp được giữa quyền sở hữu và quyền
sử dụng như trên, mà vốn, quỹ của hợp tác xã cũng như hiệu quả quản lý và sử dụng
tư liệu sản xuất trong hợp tác xã được nâng lên
- Đổi mới về mô hình hợp tác xã
Về quy mô và hình thức tổ chức: Từ chỗ chủ trương hợp tác xã bậc thấp sẽ được chuyển lên hợp tác xã bậc cao, từ hợp tác xã quy mô nhỏ chuyển lên hợp tác xã quy mô lớn (tùy theo mức độ, quy mô tập thể hóa tư liệu sản xuất và hình thức phân phối), chuyển sang không phân biệt hợp tác xã bậc thấp, bậc cao, phát triển các hình thức đa dạng bao gồm các hợp tác xã và các tổ chức hợp tác giản đơn, điều chỉnh quy mô thích hợp; và mạnh hơn là đối với vùng cao, chỉ giữ lại những hợp tác xã làm ăn có hiệu quả, chuyển các hợp tác xã chỉ có hình thức sang các tổ vần công, đổi công hoặc sản xuất
cá thể (Nghị quyết 10-NQ/TW)
Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã:
Từ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã là dân chủ, bình đẳng, cùng có
lợi chuyển sang mở rộng và thiết thực hơn: “tự nguyện; dân chủ, bình đẳng và công
khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng.” 23
23
Nghị quyết số 13-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX)
Trang 22Từ đối tượng tham gia hợp tác xã chỉ là thể nhân (người lao động, hộ gia đình); chuyển sang bao gồm cả pháp nhân (các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia hợp tác xã); từ hợp tác xã nhất thiết phải bầu chủ nhiệm hợp tác xã, sang hợp tác
xã có thể thuê chủ nhiệm điều hành (chủ nhiệm có thể không phải là xã viên hoặc thành viên Ban quản trị)
Từ hợp tác xã chỉ tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, phục vụ xã viên trong hợp tác xã chuyển sang hợp tác xã có các đại lý, tổ, đội làm sản xuất, kinh doanh ngoài hợp tác xã như các doanh nghiệp khác và hợp tác xã được quyền liên kết, liên doanh với các thành phần kinh tế khác Hợp tác xã được thành lập doanh nghiệp trực thuộc theo
mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định của Luật Doanh nghiệp, hợp tác xã là chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Về quản lý:
Từ quản lý, điều hành tập trung thống nhất sản xuất trong hợp tác xã, chuyển sang hợp tác xã chỉ điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hợp tác xã, không điều hành sản xuất, kinh doanh của các thành viên; hợp tác xã chỉ quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn…của hợp tác xã, quản lý số lao động làm việc cho hợp tác xã
Về phân phối: Từ hợp tác xã bậc thấp, xã viên được hưởng một phần hoa lợi nhất
định về ruộng đất, nhưng phần hoa lợi chia cho ruộng đất phải thấp hơn phần chia cho lao động; chuyển lên hợp tác xã bậc cao, hợp tác xã phân phối chủ yếu theo lao động và bằng hiện vật trên cơ sở định mức công điểm hàng ngày; thu nhập của xã viên hoàn toàn
phụ thuộc vào quyết định của ban quản trị hợp tác xã Nay chuyển sang “phân phối chủ
yếu theo lao động làm việc trong hợp tác xã và theo vốn đóng góp của xã viên, phần phân phối cho xã viên chỉ căn cứ vào vào mức độ xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã” 24
Trên cơ sở báo cáo của Trung ương về tổng kết 20 năm đổi mới, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI của Đảng về phần kinh tế tập thể đã nêu lên:
Chăm lo phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã Tổng kết tình hình phát triển các hợp tác xã và thực hiện Luật Hợp tác xã Khẩn trương hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc
ra đời, phát triển các hợp tác xã, các tổ hợp tác kiểu mới và các mô hình kinh tế tập
24
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) và Điều 37, Luật Hợp tác xã năm 2003
Trang 23thể khác theo nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi Đổi mới các hợp tác xã theo hướng thực
sự là các đơn vị kinh doanh, có chức năng kinh tế và xã hội Tạo điều kiện phát triển các trang trại ở nông thôn và hình thành hợp tác xã của các chủ trang trại
Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể được dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội
XI tập trung xây dựng chủ trương đổi mới các hợp tác xã theo hướng thực sự là các đơn
vị kinh doanh, nhưng vẫn có chức năng kinh tế và xã hội Để mở rộng kinh tế tập thể,
cần tạo điều kiện để hình thành hợp tác xã của các chủ trang trại Đó là bước cần thiết
để có thể hiện thực hoá việc mở rộng kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX, các hợp tác xã liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhất là với các doanh nghiệp nhà nước Khi hợp tác xã phát triển đến trình
độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, các liên hiệp hợp tác xã
Đây chính là hai vấn đề mới đối với kinh tế tập thể trong dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI.
3 Kinh tế tư nhân
cải tạo xã hội chủ nghĩa, sử dụng để cải tạo và cải tạo để sử dụng tốt hơn Kinh tế cá
thể được cải tạo thông qua hợp tác hóa, kinh tế tư bản tư nhân được cải tạo thông qua công tư hợp doanh; kinh tế tập thể và công tư hợp doanh rồi cũng tiến lên quốc doanh.
Thời kỳ trước đổi mới, Đảng cho rằng kinh tế tư nhân là đối tượng phải cải tạo Tuy vậy, trong thời kỳ này kinh tế tư nhân vẫn còn một bộ phận tồn tại và có những đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân
có chuyển biến mạnh mẽ, rất cơ bản Trong suốt quá trình đổi mới, Đảng ta ngày càng khẳng định rõ vị trí, vai trò quan trọng và sự phát triển, tồn tại lâu dài của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc; chủ trương phát triển mạnh kinh tế tư nhân gắn với dân chủ hoá nền kinh
tế, phát huy cao độ nội lực của đất nước, tạo cơ sở kinh tế cho thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc
Từ chỗ thực hiện chính sách sử dụng hạn chế, cải tạo, tiến tới thừa nhận sự tồn tại và quản lý, tạo điều kiện phát triển, kinh tế cá thể có thể hợp tác tự nguyện hoặc tồn tại độc lập, hoặc liên kết với các loại hình doanh nghiệp Từ chủ trương chỉ cho phép tư sản nhỏ hoạt động ở một số ngành nghề có giới hạn, xoá bỏ tư bản tư nhân trong lĩnh vực lưu
Trang 24thông, tiến đến thừa nhận và cho phép kinh doanh, được phát triển không hạn chế về quy
mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; từ chỗ được phát triển nhưng không được hỗ trợ, giúp đỡ, tiến tới được Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích, cổ vũ và tôn vinh; từ chỗ có những lĩnh vực chỉ có kinh tế nhà nước độc quyền đầu tư, thì nay chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế (trong đó có kinh
tế tư nhân) được tham gia đầu tư phát triển
Điểm “đột phá” đổi mới tư duy lý luận - thực tiễn của Đảng ta về kinh tế tư nhân là từ chỗ không thừa nhận đến chỗ thừa nhận sự tồn tại và quản lý, đến tạo điều kiện và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân
Đại hội lần thứ VI của Đảng khẳng định cần thiết phải chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với những hình
thức kinh doanh phù hợp và nhấn mạnh: “…đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm
vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.” 25
Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VI) đã nêu rõ quan điểm “Thực hiện nhất quán chính
sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất” 26 Nội dung chủ yếu là chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính qui luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật; các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật; cần xoá bỏ những định kiến, phân biệt đối xử không đúng và các hình thức độc quyền kìm hãm xu thế ấy; các hình thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong
cơ cấu nền kinh tế hàng hoá đi lên chủ nghĩa xã hội
Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VI) chỉ rõ: “Các hình thức kinh tế tư nhân, cá thể,
tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá đi lên chủ nghĩa xã hội” 27, tức là coi kinh tế tư nhân là một bộ phận của nền kinh tế hàng hoá
Trang 25Đại hội VII xác định: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản
xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của nhà nước; trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước …” 28 Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII) tiếp tục khẳng định kinh tế cá thể, tiểu chủ
là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng lâu dài; kinh tế tư bản
tư nhân ngày càng phát triển và có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng đất nước
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan
trọng lâu dài Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã
Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước, khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” 29
Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng lại một lần nữa khẳng định “Thực hiện
nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các TPKT kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài, Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác
tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn” 30
“Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên
Trang 26của Nhà nước,…; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước…” 31
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến
khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định: “Kinh tế tư nhân là bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn
đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế” 32 Trên cơ sở đánh giá tình hình, Nghị quyết đã xác định phương hướng,
giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân không hạn chế về quy mô, ở những ngành, những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất
là trên những lĩnh vực ưu tiên của nhà nước, đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với hoạt động của kinh tế tư nhân, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
Về sở hữu của của kinh tế tư nhân, quan điểm của Đảng nhất quán cho rằng sở hữu
của kinh tế tư nhân là hợp pháp và được nhà nước bảo hộ Đây là bước chuyển quan trọng quan điểm của Đảng về sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Đại hội VII của Đảng khẳng định: “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật,
được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật” 33
Đại hội VIII của Đảng khẳng định kinh tế tư bản tư nhân được “bảo hộ quyền sở hữu
và lợi ích hợp pháp” 34
Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mọi doanh nghiệp, mọi công dân được
đầu tư kinh doanh theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến
31
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.98;
32 Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khoá IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003, tr.57;
Trang 27khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” 35
Về cơ chế, chính sách đối với kinh tế tư nhân
Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới đến nay, từng bước, sự phát triển quan điểm của Đảng đối
với kinh tế tư nhân, được phản ánh rõ nét và tập trung trong cơ chế, chính sách đối với kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân được chính thức thừa nhận, được hoạt động hợp pháp, được đặt dưới sự quản lý của nhà nước Tiến thêm một bước, kinh tế tư nhân được tạo điều kiện giúp đỡ, được khuyến khích phát triển, được bình đẳng với các TPKT khác Về chuẩn mực giá trị xã hội, kinh tế tư nhân được đề cao, được tôn vinh Đó là sự đổi mới rất căn bản trong cơ chế, chính sách của Đảng đối với kinh tế tư nhân
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến
khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, đã chỉ rõ: “Nhà nước tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân; khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi và định hướng, quản lý sự phát triển của kinh tế tư nhân theo pháp luật, bình đẳng giữa các TPKT.
Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp của tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô, nhất là trên những định hướng ưu tiên của nhà nước; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước.
Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cả người lao động và người sử dụng lao động” 36
Hội nghị Trung ương 9 (khoá IX) chủ trương: “Khuyến khích các thành phần kinh tế
khác đầu tư vào các hoạt động công ích và dịch vụ công, tham gia nhiều hơn trong đầu
tư hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội và các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, thể dục thể thao
Tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc và có chính sách hỗ trợ về mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chuyển giao công nghệ mới, tiếp cận và mở rộng thị trường, đào tạo nguồn nhân lực để phát triển mạnh và có hiệu quả hơn nữa,
Trang 28kể cả các doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn; chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa” 37
Đại hội X chủ trương:
“Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân”.
Xoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh
tế mà pháp luật không cấm.” 38
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI trong phần đề cập về kinh tế tư nhân đã đánh
giá cao vai trò của kinh tế tư nhân là một trong những động lực phát triển nền kinh tế, đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập kinh tế quốc tế Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI chủ trương:
Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh
tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp chiến lược
và quy hoạch phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong nông nghiệp và khu vực nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế
Vai trò của kinh tế tư nhân trong dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI đã được
đề cao, quan điểm phát triển của Đảng đối với TPKT này là phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, các trang trại trong TPKT
tế tư nhân được chú ý đúng mức về mặt chính sách hỗ trợ để phát triển, vì đây chính là nơi sử dụng, tận dụng mọi nguồn lực từ lao động, tài nguyên, vốn trong dân cư để tạo
ra nhiều việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, tăng đóng góp cho ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội Quan điểm phát triển của Đảng trong lĩnh vực kinh tế tư nhân cho phép, tạo điều
Trang 29kiện để hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân, tức là không hạn chế quy mô doanh nghiệp thuộc TPKT tư nhân.
4 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Trước đổi mới, chưa hình thành quan điểm về thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài
bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, bắt đầu từ Đại hội VI, Đảng khẳng định sự cần thiết mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại, thu hút và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, của các nguồn lực
từ bên ngoài để giải phóng năng lực sản xuất trong nước, tăng nhanh sản phẩm xã hội, thực hiện mục tiêu ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tranh thủ tới mức cao nhất nguồn vốn bên ngoài và những thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý và công nghệ tiên tiến của thế giới bên ngoài, phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước39 Chủ trương tăng cường hơn nữa từ các hình thức gia công, đặt hàng, liên doanh đến đầu tư trực tiếp của nước ngoài; tăng cường quan hệ, liên kết trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất và khoa học giữa các tổ chức kinh tế, khoa học kỹ thuật của nước ta với các tổ chức tương ứng của các
nước xã hội chủ nghĩa anh em Đối với các nước khác “Cần công bố các chính sách
khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu” 40
Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI) đề ra chủ trương các cấp, các ngành phải khẩn trương nghiên cứu phương án, tập trung làm thử ở một số nơi, một số các địa phương
về mô hình thu hút, quản lý và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để từ đó rút kinh nghiệm, tạo điều kiện mở rộng và xây dựng các khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu công nghiệp Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài đã được ban hành năm 1987
Đại hội VII tiếp tục phát triển, cụ thể hóa các luận điểm về thu hút sử dụng vốn đầu
tư nước ngoài phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, xác định vấn đề tăng vốn đầu tư xã hội nói chung, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang nổi lên như một yêu cầu cấp bách, chủ trương phải tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, trước hết vào lĩnh vực sản xuất, dưới nhiều hình thức Các doanh nghiệp nhà
Trang 30nước có đủ điều kiện đều có thể được liên doanh bằng nhiều hình thức với tư nhân ngoài nước, hình thành loại doanh nghiệp thuộc thành phần tư bản nhà nước
Hội nghị Trung ương 7 (khóa VII) nhấn mạnh phải “tập trung mọi giải pháp về chính
sách để ưu tiên cho đầu tư trực tiếp, chú ý những công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia có tầm cỡ trên thế giới để tranh thủ chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý điều hành tiên tiến, mở lối thâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới” 41
Đại hội VIII và các Nghị quyết Trung ương tiếp theo là bước tiến mới về sự phát triển
và cụ thể hóa tương đối toàn diện về sự cần thiết phải thu hút nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả cao vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đại hội VIII xác định phải thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn bên ngoài để đưa tỷ lệ đầu
tư phát triển toàn xã hội năm 2000 lên khoảng 30% GDP, xây dựng một nền kinh tế mở,
hội nhập với khu vực và thế giới,42 yêu cầu việc sử dụng vốn vay và thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài phải tuân thủ theo qui hoạch, kế hoạch phát triển ngành và vùng lãnh thổ để hình thành một số ngành mũi nhọn Nhấn mạnh tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty đa quốc gia để tranh thủ công nghệ nguồn, các nước có nền công nghệ tiên tiến, có trình độ quản lý hiện đại, với các tổ chức và các nhà tài trợ quốc tế và khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia
bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh ở nước ta
Đại hội IX của Đảng khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xác định là
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh cùng phát triển lâu dài, chủ trương “phát huy
cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” 43
Nghị quyết Đại hội IX cũng đề ra những chủ trương, định hướng cơ bản cho việc thu hút, sử dụng và quản lý vốn đầu tư nước ngoài trong Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 10 năm (2001 - 2010) và nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm (2001 - 2005)
Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX) khẳng định chủ trương mới của Đảng: “Tạo
chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, nhất là của các
Trang 31tập đoàn xuyên quốc gia, hướng mạnh hơn vào những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn Mở rộng các hình thức đầu tư và đa dạng hóa các hình thức đầu tư nước ngoài phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế” 44
Đại hội X của Đảng chủ trương:
“Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài.
Cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng” 45
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI tiếp tục phương châm ra sức phát huy nội lực
để phát triển, đồng thời coi trọng thu hút nguồn lực bên ngoài, nhất là vốn, công nghệ cao và kinh nghiệm quản lý tiên tiến phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chủ trương tiếp tục thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài Tuy nhiên,
việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài cần phải phù hợp với chiến lược và quy
hoạch phát triển của đất nước
Như vậy, bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được hình thành và phát triển, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên rõ nét hơn trong từng bước phát triển, tăng trưởng của kinh tế nước ta Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là TPKT được chú trọng, được tạo điều kiện phát triển,
có quyền và nghĩa vụ bình đẳng như các TPKT trong nước
5 Kinh tế tư bản nhà nước
- Trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để
cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa và sản xuất nhỏ, xoá bỏ chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa, đưa nền kinh tế chủ yếu là dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể
- Sau đổi mới: Đại hội VI xác định: “kinh tế tư bản nhà nước là một TPKT trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, là hình thức kinh tế quá độ được tổ chức từ thấp đến cao,
từ đại lý cung ứng và tiêu thụ hàng hoá, làm gia công, cho đến hình thức cao là công tư hợp doanh với nhà nước” 46
Trang 32Đại hội VII, tiếp tục phát triển quan điểm này, chủ trương: “hướng kinh tế tư nhân
phát triển theo con đường kinh tế tư bản nhà nước, Nhà nước có thể liên doanh với tư nhân trong và ngoài nước” 47
Đại hội VIII đã xác định rõ hơn vị trí và các hình thức của kinh tế tư bản nhà nước:
“kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với không chỉ tư bản tư nhân trong nước mà cả với tư bản nước ngoài Kinh tế tư bản nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý…” 48
Như vậy, đến Đại hội VIII, hình thức liên doanh giữa kinh tế nhà nước với nhà đầu
tư nước ngoài được xếp vào TPKT tư bản nhà nước
Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định kinh tế tư bản nhà nước là một thành phần trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và nước ngoài, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh49
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XI chủ trương “tạo điều kiện để tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”, đó là bước phát triển mới, khi kinh tế tư nhân trong nước đã lớn mạnh, Đảng chủ trương phát triển kinh tế tư nhân không giới hạn về quy
mô, bằng chủ trương tạo điều kiện để tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà
nước, khuyến khích phát triển TPKT tư bản nhà nước
Tóm lại, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về TPKT:
Trong thời kỳ trước đổi mới: phân định rõ thành hai chế độ sở hữu tồn tại biệt lập
và đối lập nhau là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa và chế độ sở hữu phi xã hội chủ nghĩa
Từ đó Ðảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa triệt để chế độ sở hữu phi xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản tư nhân thành các hình thức
sở hữu khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa Với chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất chủ yếu, từ đó hình thành hai TPKT là kinh tế quốc doanh (với nòng cốt là các xí nghiệp quốc doanh) và
Trang 33kinh tế tập thể; các TPKT phi xã hội chủ nghĩa phải được cải tạo để dần dần trở thành TPKT xã hội chủ nghĩa
Thời kỳ đổi mới đến nay: với ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân) là cơ sở
căn bản để hình thành các TPKT Quan điểm của Đảng cho rằng các hình thức sở hữu không tồn tại biệt lập, mà chúng đan xen nhau, hỗn hợp trong các loại hình sản xuất, kinh doanh, và tương ứng với nó là hình thành nhiều TPKT Trong quá trình chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh 1991, quan điểm của Đảng nhất quán: trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu và nhiều TPKT Dự thảo Cương lĩnh 2011 cũng hoàn toàn nhất trí về TPKT như Cương lĩnh 1991 Các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng từ khoá VI đến khoá XI (dự thảo) đều cơ bản nhất trí nền kinh tế nước
ta có năm TPKT, đó là các TPKT: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá
thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Các TPKT trên cùng tồn tại lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời Đảng cũng xác định rõ vai trò của từng TPKT trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Cơ chế, chính sách đối với các TPKT cũng được hoạch định rõ, theo hướng các TPKT được khuyến khích phát triển, bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ, tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh của mình
Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ trên, về phía Chính phủ, việc chỉ đạo các cơ quan nhà nước thực hiện việc thể chế hoá các quan điểm của Đảng về TPKT còn chậm, chưa chỉ rõ nội hàm các TPKT hay xác định rõ các tiêu chí đối với các TPKT, vì vậy việc tổ chức thu thập thông tin thống kê về TPKT còn gặp nhiều khó khăn
Trang 34PHẦN II: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÂN LOẠI THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ
I Tổng quan các văn bản về áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê
1 Quyết định số 147 TCTK/QĐ ngày 27/12/1993
- Năm 1993 TCTK ban hành Hệ thống phân loại các khu vực và TPKT áp dụng trong
công tác thống kê theo Quyết định số 147 TCTK/QĐ ngày 27/12/1993, trong đó nêu rõ gồm
3 khu vực kinh tế và các TPKT hoạt động được đan xen trong các khu vực kinh tế, đó là:
A- KHU VỰC KINH TẾ TRONG NƯỚC
2 Liên doanh với TPKT Nhà nước
3 Liên doanh với TPKT tập thể
4 Liên doanh với TPKT tư nhân
5 Liên doanh với TPKT cá thể
6 Liên doanh với TPKT hỗn hợp
C- KHU VỰC KINH TẾ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI
1 TPKT Nhà nước
2 TPKT tập thể
3 TPKT tư nhân
4 TPKT hỗn hợp
Trang 352 Công văn số 231 TCTK/PPCĐ ngày 17/4/2002
TCTK ban hành Công văn số 231 TCTK/PPCĐ ngày 17/4/2002 về Danh mục đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp áp dụng trong điều tra và báo cáo thống kê, đối chiếu với phân
loại 5 TPKT (Quan điểm của Đảng), gồm: TPKT nhà nước; TPKT tập thể; TPKT tư nhân
(cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân); TPKT tư bản nhà nước và TPKT có vốn đầu tư nước ngoài Công văn số 231 TCTK/PPCĐ phân loại theo 3 loại hình kinh tế: Kinh tế nhà nước; Kinh tế ngoài nhà nước và Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (chế độ báo cáo nhanh) và 5
loại hình kinh tế: Kinh tế Nhà nước; Kinh tế Tập thể; Kinh tế Cá thể; Kinh tế tư nhân;
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (chế độ báo cáo chính thức 6 tháng và năm) áp dụng
trong điều tra và báo cáo thống kê So sánh với quan điểm của Đảng về TPKT, việc áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê chưa đáp ứng đủ nhu cầu thông tin về TPKT theo
quan điểm của Đảng (thiếu thông tin về TPKT tư bản nhà nước)
Áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê tại Công văn số 231 TCTK/PPCĐ
ngày 17/4/2002, nội hàm thống kê theo 5 LHKT như sau:
- Loại hình kinh tế nhà nước, bao gồm các đơn vị: DNNN; CTy TNHHNN;
CTCPNN; CQNN; ĐVSNC; ĐVSNBC; ĐVTCCT; ĐVTCCTXH; ĐVCNN
- Loại hình kinh tế tập thể, bao gồm các đơn vị: ĐVKTTT; ĐVSNDL; ĐVNNN
- Loại hình kinh tế cá thể, bao gồm các đơn vị: ĐVKTCT
- Loại hình kinh tế tư nhân, bao gồm các đơn vị: CTTNHHTN; CTCP khác; CTHD;
DNTN
- Loại hình kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, bao gồm các đơn vị: DN
100% VNN; LD giữa nước ngoài và DNNN; LD giữa nước ngoài với các đơn vị khác trong nước
5 TPKT theo quan điểm của Đảng (đề cập chi tiết tại phần I) với cách phân loại thống
kê theo 5 LHKT (nội hàm thống kê theo 5 LHKT) có mối quan hệ với nhau, tuy nhiên để xem xét mối quan hệ giữa TPKT và LHKT như thế nào ? thể hiện qua bảng số 1 như sau:
Trang 36BẢNG SỐ 1 QUAN HỆ PHÂN LOẠI TPKT (QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG)
VÀ LHKT ÁP DỤNG TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ
Phân loại TPKT (Đại hội
Đảng lần thứ X)
Áp dụng phân loại TPKT (Công văn số 231 TCTK/PPCĐ)
Ghi chú
1 TPKT nhà nước 1 Loại hình Kinh tế nhà nước Quan hệ tương thích
2 TPKT tập thể 2 Loại hình Kinh tế tập thể Quan hệ tương thích
3 TPKT tư nhân (cá thể,
tiểu chủ, tư bản tư nhân)
3 Loại hình Kinh tế tư nhân
4 Loại hình Kinh tế cá thể
Quan hệ tương thích
4 TPKT có vốn ĐTNN 5 LHKT có vốn ĐTNN Quan hệ tương thích
quan hệ trong công tác thống kê
Thực chất nội hàm giữa 3 TPKT (1; 2; 4) và 3 LHKT (1; 2; 5) có mối quan hệ tương thích với nhau, duy nhất TPKT (3) được tách bạch thành 2 LHKT (3; 4) cũng có mối quan
hệ tương thích, đồng thời không có LHKT nào tương thích với TPKT tư bản nhà nước
Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam ngày càng biến động lớn, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới, kéo theo đó là sự tham gia của các TPKT cấu thành trong tổng thể hoạt động của nền kinh tế quốc dân hoạt động theo nền kinh tế trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó việc áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê theo LHKT (đề cập tại Công văn số 231 TCTK/PPCĐ) trong công tác thống kê như thế nào,
sẽ được đề cập chi tiết tại phần tiếp theo
II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÂN LOẠI TPKT TRONG CÔNG TÁC THỐNG KÊ
Luật Thống kê nêu rõ “Hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, phân tích và công bố
các thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong
đánh giá thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê, Đề tài tiếp cận theo 2 giai đoạn chủ yếu của quá trình hoạt động thống kê, đó là: (i) Thu thập số liệu thống kê (điều tra thống kê và báo cáo thống kê); (ii) Tổng hợp, biên soạn (theo nhóm chỉ tiêu) và
công bố số liệu thống kê
50 Luật Thống kê số: 04/2003/QH11, ngày 17/6/2003
Trang 371 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong thu thập số liệu
1.1 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong điều tra thống kê
1.1.1 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong Tổng điều tra
Thực hiện Quyết định số 144/2008/QĐ-TTg ngày 29/10/2008 của Thủ tưởng Chính phủ ban hành Chương trình Điều tra Thống kê Quốc gia, quy định các cuộc Tổng điều tra và điều tra thống kê do Bộ Kế hoạch Đầu tư (TCTK) chủ trì và phối hợp thực hiện với một số
Bộ, ngành khác, trong đó có một số cuộc Tổng điều tra và điều tra thống kê thu thập thông tin liên quan đến áp dụng phân loại TPKT trong công tác thống kê
a Tổng điều tra Cơ sở kinh tế, hành chính và sự nghiệp
Tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp đối tượng điều tra là cơ sở vì vậy đối với doanh nghiệp, sự phân loại theo LHKT không chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp độc lập mà còn áp dụng đối với các chi nhánh phụ thuộc doanh nghiệp, đơn vị phụ trợ hoặc
văn phòng đại diện Các cơ sở này được phân loại theo đơn vị chủ quản Ví dụ 1 doanh
nghiệp nhà nước có nhiều chi nhánh, phân xưởng hoạt động trên các địa bàn khác nhau thì mỗi chi nhánh/ phân xưởng đều được phân loại theo LHKT nhà nước Ngoài ra đối với các
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các cơ quan đảng, đoàn thể, hiệp hội hoặc đơn vị sự nghiệp
được phân tổ theo loại hình riêng Ngoài khu vực sản xuất kinh doanh trong Tổng điều tra
các cơ sở kinh tế, hành chính và sự nghiệp còn phân loại đối tượng điều tra theo nhóm các
đơn vị hành chính hoặc sự nghiệp và chủ yếu dựa theo Bảng Danh mục Đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp áp dụng trong điều tra thống kê và báo cáo thống kê theo Công văn số 231 TCTK/PPCĐ ngày 17/4/2002 của Tổng cục trưởng TCTK, trong đó:
(1) Doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp nhà nước, gồm (trung ương và địa phương);
- Công ty trách nhiệm hữu hạn, gồm (nhà nước và tư nhân);
- Công ty cổ phần, gồm (nhà nước, khác);
- Công ty hợp danh;
- Doanh nghiệp, gồm (tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài, 100% vốn nước ngoài);
- Liên doanh (giữa nước ngoài với doanh nghiệp nhà nước và giữa nước ngoài với các đơn vị khác ở trong nước)
(2) Đơn vị kinh tế tập thể
(3) Đơn vị kinh tế cá thể
(4) Đơn vị hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể hiệp hội
Trang 384.1 Cơ quan nhà nước
4.2 Đơn vị sự nghiệp, gồm: Đơn vị sự nghiệp công; Đơn vị sự nghiệp bán công; Đơn
vị sự nghiệp dân lập
4.3 Đơn vị của tổ chức chính trị: Đơn vị của tổ chức chính trị - xã hội
4.4 Đơn vị của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, gồm: Đơn vị của Nhà nước; Đơn vị ngoài Nhà nước
4.5 Đơn vị của tổ chức xã hội và các đơn vị khác, gồm: Đơn vị của Nhà nước; Đơn vị ngoài Nhà nước
LHKT gồm: KTNN; KTTT; KTTN; KTCT và KTCVĐTNN
b Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và Thủy sản
Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản đối tượng điều tra là các hộ ở khu vực nông thôn và các hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở khu vực thành thị và áp dụng LHKT trong Tổng điều tra như sau:
- Loại hình kinh tế tư nhân: Là các hộ ở khu vực nông thôn và các hộ nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản ở khu vực thành thị, là một bộ phận cấu thành của TPKT tư nhân, trong Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản bao gồm các loại hộ xếp vào các ngành kinh tế
khác nhau như: Hộ Nông nghiệp; Hộ Lâm nghiệp; Hộ Thủy sản; Hộ Công nghiệp; Hộ Xây
dựng; Hộ Thương nghiệp; Hộ vận tải; Hộ dịch vụ khác; Hộ khác Ngoài ra các trang trại
theo tiêu chí qui định tại Thông tư số 74/2003/TT/BNN ngày 04/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì trang trại cũng là bộ phận của TPKT tư nhân hoạt động trong ngành Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
- Loại hình kinh tế tập thể: Là các hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thuỷ sản được thành
lập, tổ chức, hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2003 và các hợp tác xã nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản đã thành lập, tổ chức và hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 1996, nay chuyển sang hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2003 Các hợp tác xã nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là bộ phận cấu thành của TPKT tập thể
- Các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thuỷ sản hạch toán kinh tế độc lập gồm:
+ Doanh nghiệp nhà nước (trung ương, địa phương);
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước (trung ương, địa phương);
+ Công ty cổ phần, Công ty TNHH có vốn nhà nước ≥ 50%;
+ Công ty cổ phần, Công ty TNHH có vốn nhà nước < 50%;
Trang 39+ Công ty cổ phần không có vốn nhà nước;
+ Doanh nghiệp tư nhân;
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân;
+ Công ty hợp danh;
+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài;
+ Doanh nghiệp nhà nước liên doanh với nước ngoài;
+ Doanh nghiệp khác liên doanh với nước ngoài
bao gồm 5 LHKT: KTNN; KTTN; KTTT; KTCT; KTCVĐNN
1.1.2 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong các cuộc điều tra
Ngoài các cuộc Tổng điều tra, hàng tháng, quý và năm TCTK tiến hành thu thập thông tin qua một số cuộc điều tra toàn bộ kết hợp với điều tra chọn mẫu như sau:
- Điều tra doanh nghiệp hàng năm, gồm (điều tra toàn bộ doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp ngoài nhà nước có từ 10 lao động trở lên và điều tra mẫu khoảng 15% doanh nghiệp ngoài nhà nước dưới 10 lao động), các doanh nghiệp đang hoạt động trong tất cả các ngành của nền kinh tế thuộc các LHKT như sau:
+ Doanh nghiệp Nhà nước trung ương
+ Doanh nghiệp Nhà nước địa phương
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước trung ương
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn nước địa phương
+ Công ty cổ phần, Công ty TNHH có vốn nhà nước > 50%
+ Hợp tác xã
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty hợp danh
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Công ty cổ phần không có vốn nhà nước
+ Công ty cổ phần có vốn nhà nước ≤ 50%
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
+ Doanh nghiệp nhà nước liên doanh với nước ngoài
+ Doanh nghiệp khác liên doanh với nước ngoài
Trang 40Với các phân loại doanh nghiệp như trên, việc áp dụng TPKT trong điều tra doanh nghiệp theo các LHKT: KTNN; KTTT; KTTN; KTCVĐTNN
- Điều tra thống kê công nghiệp hàng tháng (Quyết định số 1288/QĐ-TCTK ngày
24/1/2006 của Tổng cục trưởng TCTK)
- Điều tra xây dựng quý (Quyết định số 1320/QĐ-TCTK ngày 08/12/2006 của Tổng
cục trưởng TCTK);
⇒ Hai cuộc điều tra mẫu Điều tra thống kê công nghiệp hàng tháng và Điều tra xây
dựng hàng quý đều phân loại thống kê theo 3 khu vực kinh tế: Kinh tế nhà nước (doanh
nghiệp nhà nước); Kinh tế ngoài nhà nước (doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ công nghiệp cá thể); Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
- Điều tra Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Quyết định số 410/QĐ-TCTK ngày
29/7/2003 của Tổng cục trưởng TCTK), đối tượng điều tra được phân loại như sau:
+ Doanh nghiệp tập thể
+ Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty hợp danh
+ Công ty cổ phần, công ty TNHH có vốn nhà nước <50%
+ Công ty cổ phần không có vốn nhà nước
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; Doanh nghiệp nhà nước liên doanh với nước ngoài; Doanh nghiệp trong nước khác liên doanh với nước ngoài
⇒ Đối chiếu với công văn số 231/TCTK-PPCĐTK, phân loại thống kê theo LHKT
gồm: KTTT; KTTN và KTCVĐTNN
- Điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể: Bao gồm toàn bộ các cơ sở sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp không thuộc đối tượng là doanh nghiệp thì đối tượng điều tra
đều được phân loại theo LHKT cá thể
- Điều tra thống kê Nông nghiệp và thủy sản (Quyết định số 329/QĐ-TCTK ngày
28/4/2009 của Tổng cục trưởng TCTK), việc áp dụng phân loại TPKT trong điều tra theo 5 LHKT: KTNN; KTTT; KTCT; KTTN; KTCVĐTNN
1.2 Thực trạng áp dụng phân loại TPKT trong báo cáo thống kê
Việc áp dụng phân loại TPKT trong các báo cáo thống kê được thực hiện theo các
LHKT như sau: