1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng

87 504 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 735,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, nhà nước cũng có thể tác động đến thị trường sản phẩm công nghệ cao bằng nhiều công cụ chính sách khác nhau như hỗ trợ về khoa học và công nghệ đối với các doanh nghiệp sản xuấ

Trang 1

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO THUỘC DANH MỤC SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO ĐƯỢC KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN

Chủ nhiệm Đề án: Nguyễn Quang Tuấn

9425

Hà Nội, tháng 12 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Mục tiêu nghiên cứu 6

Phương pháp nghiên cứu 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO 7

1.1 Quan niệm về kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao 7

1.2 Một số nội dung cơ bản của một kế hoạch Nhà nước 11

1.3 Một số vấn đề lý luận khác liên quan đến phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao

13

1.4 Một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển sản phẩm công nghệ cao 16

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO Ở NƯỚC TA 26

2.1 Cơ chế, chính sách Nhà nước liên quan đến phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao 26

2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển 34

2.3 Đề xuất sản phẩm công nghệ đưa vào sản xuất 55

Chương 3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO 64

3.1 Mục tiêu 66

3.2 Nhiệm vụ 69

Trang 3

3.3 Giải pháp 71

3.4 Tổ chức thực hiện 74

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.

Trang 4

MỞ ĐẦU

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo nên bộ mặt mới của nền kinh tế, trong đó công nghệ cao và các ngành công nghiệp công nghệ cao đóng vai trò trụ cột Việc làm chủ các lĩnh vực công nghệ cao là nhân tố góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng năng lực cạnh tranh kinh tế quốc gia Bởi vậy, các nước đều theo đuổi một chiến lược phát triển công nghệ cao Căn

cứ vào xu thế phát triển chung của thế giới, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mình, mỗi nước có danh mục các sản phẩm công nghệ cao riêng cần phát triển Đối với một nước đang phát triển như nước ta, khả năng tiếp nhận và thích nghi hóa công nghệ cao còn hạn chế cộng với điều kiện cơ sở hạ tầng sản xuất yếu kém rất cần phải cân nhắc kỹ lưỡng và có bước đi cụ thể để có thể tiến hành sản xuất một số sản phẩm công nghệ cao phù hợp được lựa chọn Trong dự thảo

“Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển” do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì biên soạn, số lượng sản phẩm đó là 76 Cho dù con số này không lớn so với Trung quốc, Nga và các nước OECD, song nếu không chuẩn bị năng lực sản xuất, thích nghi (đồng hóa), thiếu sự liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp thì chắc sẽ khó có thể đạt hiệu quả mong muốn khi tổ chức sản xuất các sản phẩm thuộc danh mục nói trên Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng một kế hoạch phát triển các sản phẩm này là hết sức cần thiết Đề án nếu được thực hiện thành công sẽ tạo tiền đề cho việc tổ chức sản xuất các sản phẩm công nghệ cao được lựa chọn, đồng thời góp phần hình thành

và phát triển thị trường công nghệ trong lĩnh vực công nghệ cao, thúc đẩy việc

áp dụng các sản phẩm công nghệ cao này (với tư cách là công cụ sản xuất tiên tiến) trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước

Phát triển công nghệ cao với tư cách là công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

và yêu cầu của quá trình CNH-HĐH đất nước là chủ trương nhất quán của Đảng

Trang 5

và Nhà nước ta Để hiện thực hóa chủ trương đó, ngay từ đầu thập niên 90 trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về công nghệ cao từ các khái niệm cơ bản, bài học kinh nghiệm quốc tế đến việc triển khai các mô hình tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) các lĩnh vực công nghệ cao, xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm, vườn ươm công nghệ và khu công nghệ cao, phát triển một số ngành kinh tế - kỹ thuật trong các lĩnh vực công nghệ cao được lựa chọn Thời gian này có các công trình sau: Nguyễn Văn Học (1992) với công trình “Làng khoa học - hình thức liên kết hiệu quả nghiên cứu - đào tạo - sản xuất”; Nguyễn Văn Học và Nguyễn Đức Khiển (1994) với đề án “Xây dựng Khu Công nghệ cao Hà Nội”; Nguyễn Văn Học và Nguyễn văn Trọng (1994) với đề án “Xây dựng Khu Công nghệ cao Thủ Đức”; Vũ Cao Đàm và Nguyễn Thanh Hà (1994) với đề án “Xây dựng Khu Công nghệ cao Nam Thăng Long”;

Tạ Ngọc Hà và cộng sự (1999) với đề tài “Cơ chế chính sách phát triển các lĩnh vực công nghệ cao tại Khu Công nghệ cao Hòa lạc” Các tác giả như Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Hà, Hoàng Xuân Long đã có nhiều công trình liên quan đến phát triển vườn ươm công nghệ cao, vườn ươm doanh nghiệp, quy hoạch và phát triển các khu công nghệ cao Trần Ngọc Ca và cộng sự (2005) -

Cơ chế và chính sách phát triển công nghệ cao và một số ngành công nghiệp công nghệ cao của Việt nam Đỗ Văn Lộc (2008) - Phát triển các sản phẩm công nghệ cao ở các nước OECD và ở Trung quốc

Nhìn chung, các tác giả đều tập trung làm rõ cơ sở khoa học của công nghệ cao, phân tích bản chất của công nghệ cao, vai trò của công nghệ cao trong việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, an ninh quốc phòng, phương pháp

tổ chức phát triển công nghệ cao, cơ sở lý luận, thực tiễn của các khu công nghệ cao, cơ chế chính sách cho phát triển công nghệ cao Tuy nhiên, còn để ngỏ những vấn đề mang tính “kỹ thuật” thiết thực cho việc tổ chức sản xuất các sản phẩm công nghệ cao xét cả về mặt kinh nghiệm quốc tế, trong nước với các điều kiện cần và đủ Chẳng hạn như việc lựa chọn danh mục sản phẩm, các biện pháp

Trang 6

tổ chức phát triển: bảo đảm pháp lý, bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, các cân đối

và bước đi cụ thể v.v…

Xét theo phương diện bảo đảm pháp lý, từ đầu những năm 90 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động phát triển công nghệ cao của nước ta Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao được ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP năm 1997, Quyết định số 53/2004/QĐ-CP năm 2004 và Nghị định số 99/2003/NĐ-CP năm

2003 quy định các cơ chế tổ chức và hoạt động và khuyến khích các hoạt động phát triển công nghệ cao trong các khu công nghệ cao

Vào giữa thập niên 2000 đến nay, nhiều Luật về các lĩnh vực công nghệ cao đã được ban hành: Luật công nghệ thông tin, Luật thương mại điện tử, Luật công nghệ sinh học và gần đây Luật chuyển giao công nghệ và Luật công nghệ cao (năm 2008) Luật công nghệ cao là đạo luật duy nhất về công nghệ cao tồn tại trên thế giới hiện nay Nó thể hiện mức độ quan tâm sâu sắc của Việt nam đến phát triển công nghệ cao nói chung và việc hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao nói riêng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Đề án "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng kế hoạch phát

triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển” nhằm góp phần triển khai trong thực

tế việc tổ chức thực hiện các Luật và Nghị định của Chính phủ có liên quan nói trên, từng bước hình thành năng lực sản xuất, tổ chức sản xuất các sản phẩm công nghệ cao trước mắt các sản phẩm thuộc danh mục ưu tiên do Chính phủ định kỳ công bố

Trang 7

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành kế hoạch sản xuất một số sản phẩm công nghệ cao thuộc danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển của nước ta

Phương pháp nghiên cứu

Số liệu của Đề án được thu thập thông qua phiếu hỏi đến các doanh nghiệp tới các tỉnh thành trong cả nước, bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ Nội dung của mẫu phiếu hỏi được chỉ rõ trong Phụ lục 1 của báo cáo Cùng với việc thu thập số liệu băng phiếu hỏi, Đề án cũng tiến hành phỏng vấn sâu và trao đổi với một số doanh nghiệp tại các tỉnh/thành phố trên

Cùng với việc thu thập số liệu băng phiếu điều tra, Đề án cũng tiến hành toạ đàm trao đổi với các chuyên gia của các Bộ, ngành như các cuộc phỏng vấn sau bán cấu trúc với nội dung trao đổi được gửi tới trước cho các Bộ, ngành (Phụ lục 2)

Để hoàn thiện số liệu của Đề án Tháng 10/2011, Đề án đã gửi Công văn

do lãnh đạo Bộ ký yêu cầu tất cả các Sở khoa học và công nghệ trong cả nước

hỗ trợ Đề án thống kê doanh nghiệp có tiềm năng sản xuất sản phẩm công nghệ cao trên địa bản tỉnh Đồng thời cũng gửi tới các doanh nghiệp mẫu phiếu đề xuất sản xuất sản phẩm công nghệ cao (Phụ lục 3)

Như vậy, tất cả các nguồn số liệu của Đề án bao gồm các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, các văn bản liên quan đến phát triển công nghệ cao của Nhà nước, các số liệu điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi và các cuộc phỏng vấn sâu và trao đổi bàn tròn với đại diện của các Bộ, ngành và địa phương có liên quan

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO

1.1 Quan niệm về kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao

Trong từ điển tiếng Anh, kế hoạch (plan) có nhiều nghĩa, có thể là:

(1) Một lịch trình, chương trình, hoặc phương pháp được xác định trước cho việc hoàn thành mục tiêu đặt ra;

(2) Một dự án được đề xuất hoặc là một tập hợp hành động;

(3) Một sự bố trí có hệ thống các thành tố hoặc các bộ phận quan trọng; (4) Một biểu đồ chỉ ra cấu trúc hoặc sự bố trí nào đó; và

(5) Một chương trình hoặc một chính sách quy định một dịch vụ hoặc lợi ích

Theo Ngô Thắng Lợi (2009), “hiểu theo một cách chung nhất, kế hoạch là

sự thể hiện mục đích, kết quả cũng như cách thức, giải pháp thực hiện cho một hoạt động tương lai” (tr.10) Theo góc độ thời gian, tác giả này đã chia kế hoạch

ra thành nhiều loại: kế hoạch dài hạn (10 năm), kế hoạch trung hạn (3 - 5 năm)

và kế hoạch ngắn hạn (1 năm và dưới 1 năm)

Tổng hợp các diễn giải trên về kế hoạch, nghiên cứu này cho rằng kế

hoạch là một tập hợp các hành động có chủ đích trong tương lai nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian đã được ấn định Nó

giải thích một cách chi tiết cần phải làm gì, thời gian thực hiện, thực hiện như thế nào và ai thực hiện Kế hoạch được đề ra cũng có thể bao gồm những kịch bản về trường hợp tốt nhất, trường hợp mong đợi và các kịch bản xấu nhất

Trang 9

Đối với kinh tế thị trường, kế hoạch là một công cụ can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường Quan niệm thế nào về kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao? Trên quan điểm quản lý nhà nước, nhà nước có thể ban hành một kế hoạch phát triển sản xuất như vậy để can thiệp vào thị trường sản phẩm công nghệ cao Song sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm, sản xuất như thế nào lại do doanh nghiệp và thị trường quyết định

Bằng các công cụ chính sách khác nhau, nhà nước cũng có thể can thiệp vào việc sản xuất sản phẩm công nghệ cao Ví dụ, nhà nước có thể đưa ra chính sách mua một sản phẩm công nghệ cao nào đó phục vụ cho các chức năng quản

lý nhà nước Trong trường hợp này, nhà nước đã trở thành một bên mua của thị trường và trực tiếp tác động vào “cầu” của thị trường Ngoài ra, nhà nước cũng

có thể tác động đến thị trường sản phẩm công nghệ cao bằng nhiều công cụ chính sách khác nhau như hỗ trợ về khoa học và công nghệ đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, áp dụng các công cụ thuế, tín dụng v.v…

Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, các nguồn lực sẽ hướng vào việc tạo ra các sản phẩm và hàng hoá nhiều lợi nhuận

và mang tính ngắn hạn Vì vậy, kế hoạch là một công cụ của nhà nước để phân

bổ các nguồn lực thực hiện các mục tiêu ưu tiên Kế hoạch cũng là một công cụ của nhà nước để thu hút các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu Đây cũng là những điểm chung của các khái niệm chiến lược, quy hoạch và kế hoạch Về bản chất, kế hoạch hay kế hoạch hoá đều là công cụ, là sự tác động có chủ ý của nhà nước vào thị trường nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra

Với các phân tích trên, trong Đề án này đưa ra khái niệm về kế hoạch phát

triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao là công cụ quản lý và điều hành kinh tế

vĩ mô, sự can thiệp của nhà nước vào thị trường sản phẩm công nghệ cao; đó

là tập hợp các biện pháp, chính sách của nhà nước nhằm đạt được các mục

Trang 10

tiêu cụ thể về phát triển sản phẩm công nghệ cao trong khoảng thời gian nhất định

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như ở Việt Nam, khi nói về một kế hoạch Nhà nước về phát triển sản xuất một sản phẩm nào đó cần hiểu đó là một bản kế hoạch mà Nhà nước có vai trò thúc đẩy là chủ yếu; Nhà nước can thiệp vào thị trường mà không thay thế thị trường Một bản

kế hoạch phát triển sản xuất của nhà nước cũng có thể coi là một kế hoạch “thúc

đẩy” sản xuất

Một câu hỏi được đặt ra ở đây là sản phẩm công nghệ cao nào là đối tượng của một bản kế hoạch nhà nước? Theo Luật công nghệ cao 2008

(CHXHCNVN, 2010), công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên

cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, có tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ

hiện có Sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất

lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường (Điều 3)

Trên thực tế, còn rất nhiều tranh cãi về khái niệm công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao Khi trao đổi với các chuyên gia của Khu công nghệ cao Thái Lan (Thailand Science Park – TSP) Điểm quan tâm nhất của TSP là hàm lượng R&D của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó muốn vào TSP Trong khi

đó, một số chuyên gia trong nước lý luận rằng, công nghệ cao hay sản phẩm công nghệ cao có thể là “cao” so với các điều kiện của Việt Nam và “không cao” so với các điều kiện của nước ngoài Một số chuyên gia cho rằng, tạo ra giá trị gia tăng cao đó là công nghệ cao

Trang 11

Để xác định thế nào là công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao, nhiều nhà quản lý và khoa học trong nước cho rằng cần có một bộ tiêu chí xác định công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao ở Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu này phục vụ triển khai Luật công nghệ cao đã được Nhà nước ban hành năm

2008 sẽ không đi sâu vào các tiêu chí xác định công nghệ cao cũng như sản phẩm công nghệ cao Công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao được xác định theo Điều 3 của Luật công nghệ cao

Với khái niệm sản phẩm công nghệ cao được xác định như trong Luật công nghệ cao đã nêu trên, trong thực tế sẽ có rất nhiều sản phẩm được coi là sản phẩm công nghệ cao Tuy nhiên, nhà nước khó có thể tác động vào thị trường để thúc đẩy phát triển tất cả các sản phẩm công nghệ cao Vì vậy, Nhà nước cần có sự chọn lựa và đặt mối quan tâm của nhà nước vào một số sản phẩm cụ thể nào đó Trong Đề án này, những sản phẩm được xem xét là đối tượng của Kế hoạch là những sản phẩm được xác định trong Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển (sau đây viết là Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg)

Để làm rõ hơn khái niệm về kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao, việc làm rõ sự khác biệt giữa kế hoạch và kế hoạch hoá cũng cần thiết

Thuật ngữ kế hoạch và kế hoạch hoá, trong một số trường hợp có sự nhầm lẫn,

thậm trí một số người còn đồng nhất hai khái niệm này Song về bản chất, đây là hai khái niệm khác nhau Theo Ngô Thắng Lợi (2009), kế hoạch hàm chứa những dự định về kết quả và giải pháp thực hiện trong tương lai, nhưng việc xây dựng kế hoạch không thể được coi là mục đích của kế hoạch hoá, nó chỉ được coi là bước đầu tiên của quy trình kế hoạch hoá Mục đích của kế hoạch hoá là tìm cách để thực hiện được các mục tiêu đặt ra trong kế hoạch, biến các biện pháp, các hành động thành thực tế Như vậy, nói đến kế hoạch hoá tức là nói đến việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch

Trang 12

Với những khái niệm tổng quát trên về “kế hoạch”, phần tiếp theo của nghiên cứu này sẽ xem xét những nội dung cụ thể của một kế hoạch phát triển ở tầm quốc gia, ngành

1.2 Một số nội dung cơ bản của một kế hoạch Nhà nước

Hiện nay ở nước ta, Nhà nước đã xây dựng rất nhiều kế hoạch phát triển khác nhau Một trong những kế hoạch phổ biến được biết đến là các kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội Ví dụ, Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội

2011 - 2015 được phê duyệt tại Nghị quyết số 10/2011/QH13 bao gồm một số nội dung chủ yếu sau: (1) mục tiêu; (2) các chỉ tiêu; (3) định hướng nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 - 2015; và (4) tổ chức thực hiện

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2015 đã đưa ra mục tiêu phát triển rất tổng quát, ví dụ, “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với đổi mới

mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh… Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,… tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đi theo mục tiêu tổng quát, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2015 đã đề ra một số chỉ tiêu khá cụ thể: Ví dụ, GDP bình quân 5 năm tăng khoảng 6,5 – 7%; tỷ trọng đầu tư toàn xã hội 5 năm 2011 – 2015 khoảng 33,5 – 35% GDP…

Bảng 1 Mẫu và nội dung cơ bản của một số văn bản kế hoạch của Nhà nước

Tên văn bản Quan

điểm

Mục tiêu

Chỉ tiêu

Nội dung

Định hướng

Giải pháp

Tổ chức

TH

Kinh phí

Nghị quyết số

Trang 13

Một điểm chung trong tất cả các văn bản kế hoạch của Nhà nước kể trên

đó là có nội dung mục tiêu riêng biệt Điều này cũng phù hợp với khái niệm về

kế hoạch của nhà nước như đã đề cập ở phần trên Một điểm chung khác của kế hoạch là phần tổ chức thực hiện cũng được xác định rõ và được bố trí một phần riêng biệt trong kế hoạch

Nhìn chung, tất cả các kế hoạch của Nhà nước đều có phần giải pháp thực hiện Tuy nhiên, có những văn bản có thể bố trí giải pháp thực hiện như là một nội dung riêng biệt của bản kế hoạch; có văn bản bố trí chung tất cả các phần chỉ

Trang 14

tiêu, định hướng nhiệm vụ và giải pháp đưa vào một phần chung gọi là “nội dung” kế hoạch Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển được thiết kế

ở những chương tiếp theo trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế cũng như hiện trạng phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao ở nước ta

Theo nội dung của một số kế hoạch nhà nước như đã trình bày trên, cấu trúc của Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được khuyến khích phát triển sẽ bao hồm những nội dung chính sau: (1) Mục tiêu của Kế hoạch; (2) Nhiệm vụ chủ yếu của Kế hoạch; (3) Giải pháp thực hiện; và (4) tổ chức thực hiện Cấu trúc của Kế hoạch sẽ không có sự khác biệt lớn so với cấu trúc của các văn bản kế hoạch Nhà nước đã trình bày tại Bảng 1 Thuật ngữ “phát triển sản xuất” ở đây không có nghĩa là Nhà nước Việt Nam sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển sản xuất của doanh nghiệp Nhìn lại cơ sở lý luận đã trình bày, Nhà nước ban hành Kế hoạch như là một công cụ quản lý của nhà nước để tác động vào thị trường Vì vậy, bản Kế hoạch phát triển sản xuất ở đây được hiểu như là một Kế hoạch [thúc đẩy] phát triển sản xuất Kế hoạch sẽ đề ra các biện pháp, hành động cụ thể của Nhà nước để khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao

1.3 Một số vấn đề lý luận khác liên quan đến phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao

Một số lý luận cơ bản liên quan đến sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường

Như trên đã trình bày, kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ

cao là sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường Trong đó, thị trường được hiểu

và diễn giải với nhiều khái niệm khác nhau Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (NISTPASS, 2003) đã đưa ra một loạt các khái niệm về thị trường: từ thị trường là chợ, là tập hợp người mua, cho đến là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế

Trang 15

Một trong những cách diễn giải về thị trường phổ biến trong cuộc sống đó

là nơi mà những người mua và người bán tiến hành các giao dịch (Speser, 2006)

Hồ Đức Việt (2006) cũng đưa ra một khái niệm tương tự về thị trường, đó là

“một không gian, nơi có sự tập hợp, trình diễn và thực hiện sự thoả thuận giữa người bán và người mua để trao đổi hàng hóa và dịch vụ” “Không gían” hoặc

“nơi” ở đây không nhất thiết phải là địa điểm có tọa độ địa lý Mạng internet và các sàn giao dịch, mà trong đó các giao dịch được tiến hành trực tuyến và nơi

mà người mua và người bán không bao giờ gặp nhau, cũng là các thị trường Cách diễn giải về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về phát triển hệ thống, mạng lưới dịch vụ và thương mại của từng quốc gia, vùng cụ thể

Thị trường cũng có thể xem như là phương tiện phân bố các nguồn tài nguyên (means of allocating resources) (Pearce & Jeremy, 1993; McAfee & Stanley, 2006) Cách hiểu về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững (e.g., Pearce & Jeremy, 1993)

mà ở đó trọng tâm là sự quan tâm về phân bố hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững

Đề án này sẽ không đi sâu vào phân tích về lý luận của thị trường mà chỉ

đề cập đến một vài lý do cơ bản cho sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường sản phẩm công nghệ cao Sản phẩm công nghệ cao thường gắn với quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D), mà theo Arrow (1962), khi doanh nghiệp đầu

tư cho R&D họ không thu được hết doanh số bán hàng mà doanh nghiệp đáng được nhận từ kết quả đầu tư đó, bởi vì một doanh nghiệp cạnh tranh có thể dễ dàng bắt trước sản phẩm khi sản phẩm đó có mặt trên thị trường Hơn nữa, đầu

tư cho R&D của doanh nghiệp không mang lại lợi nhuận ngay lập tức, nó thường mang lại lợi nhuận sau từ 3 đến 5 năm (Jyrki & Maliranta, 2006) Đây là một trong những nguyên nhân trọng yếu khiến cho doanh nghiệp không có động lực đầu tư cho R&D Đây có thể coi là một hiện tượng thất bại thị trường Để

Trang 16

hạn chế thất bại thị trường trong trường hợp thị trường sản phẩm công nghệ cao,

sự can thiệp của nhà nước bằng một kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao là trường hợp của nghiên cứu Đề án này

Liên quan đến sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường công nghệ và sản phẩm công nghệ cao ở Việt Nam, ngày 30 tháng 08 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thị trường công nghệ Tới đây, Thủ tướng Chính phủ sẽ phê duyệt Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2020 Cả hai đề

án phát triển thị trường công nghệ trên và nhiều đề án khác có liên quan đến công nghệ cao của Chính phủ đã và sẽ ban hành cũng là các công cụ của nhà nước tác động đến thị trường sản phẩm công nghệ cao ở nước ta

Lý luận liên quan đến cơ chế hợp tác công tư

Hiện nay, thuật ngữ hợp tác công tư (Public Private Partnership - PPP) được dùng khá phổ biến ở nước ta Tuy nhiên cho đến nay, thế nào là hợp tác công tư, phân biệt hoạt động nào là hợp tác công tư và hoạt động nào không phải

là hợp tác công tư, vẫn chưa có những nghiên cứu nào chỉ ra những nội dung cụ thể đó Theo Nguyễn Võ Hưng (2011), hợp tác công tư hiểu theo nghĩa chung nhất là việc lôi kéo khu vực tư nhân vào thực hiện những công việc trước đây chi do nhà nước đảm trách

Nếu hiểu theo nghĩa này, việc lôi kéo khu vực tư nhân vào nghiên cứu và phát triển (R&D) chính là một cơ chế hợp tác công tư ở nước ta vì rằng việc tiến hành các hoạt động R&D ở Việt nam, từ trước đến nay, chủ yếu là do Nhà nước đảm nhiệm Nếu mở rộng ngữ nghĩa của thuật ngữ này, có thể xem sự hỗ trợ của Nhà nước cho R&D của khu vực tư nhân cũng là một cơ chế hợp tác công tư

Việc hỗ trợ của nhà nước cho các hoạt động R&D của khu vực tư nhân đã trở thành một chính sách phổ biến ở các nước trên thế giới (Audretsch, 2003) Như trên đã trình bày, khi thất bại thị trường là nguyên nhân dẫn đến nhà nước

Trang 17

hỗ trợ khu vực tư nhân trong các hoạt động R&D Chính sự hỗ trợ của Nhà nước cho khu vực tư nhân trong các hoạt động R&D có tác động như là đòn bảy gia tăng đầu tư của khu vực tư nhân vào R&D Kết quả của quá trình này là đầu tư của toàn xã hội cho R&D sẽ đạt (thậm trí có thể vượt qua) mức đầu tư cho R&D tối ưu mà xã hội mong muốn

Hiện nay, trong các hội thảo khoa học do Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ tổ chức vẫn còn chưa thống nhất được khái niệm về cơ chế hợp tác công tư Một số ý kiến cho rằng, cách hỗ trợ của Nhà nước cho doanh nghiệp như tinh thần của Nghị định 119/1999/NĐ-CP là một cơ chế hợp tác công tư Có những ý kiến cho rằng, nội dung hỗ trợ của Nhà nước cho doanh nghiệp như Nghị định 119/1999/NĐ-CP không thể liệt vào cơ chế hợp tác công

Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao không có mục đích phân tích kỹ khái niệm về cơ chế hợp tác công tư Kế hoạch cho rằng sự tham gia của cả khu vực nhà nước và tư nhân vào nghiên cứu và phát triển một sản phẩm nào đó là một cơ chế hợp tác công tư Như vậy, Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao sẽ được nhìn nhận như là một cơ chế hợp tác công

1.4 Một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển sản phẩm công nghệ cao

Một trong những chương trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển các sản phẩm có tiềm năng thương mại nổi tiếng trên thế giới là Chương trình đổi mới kinh doanh nhỏ (Small Business Innovation Research – SBIR) của Mỹ

Chương trình SBIR được khởi nguồn từ Quỹ Khoa học Quốc gia (National Science Foundation - NSF) của Mỹ vào năm 1977 Khi đó mục đích của Chương trình là khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ tham gia vào nghiên cứu do NSF tài trợ, đặc biệt là những nghiên cứu có tiềm năng thương mại Do

sự thành công của Chương trình, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật phát triển đổi

Trang 18

mới kinh doanh nhỏ (Small Business Innovation Development Act) năm 1982 Như vậy, chương trình SBIR được xem như chính thức ra đời năm 1982 Luật

1982 quy định, tất cả các bộ và cơ quan thuộc chính phủ của Mỹ với các chương trình nghiên cứu ngoài trường đại học có kinh phí trên 100 tỷ USD, cần phải thành lập chương trình SBIR riêng của mình và dành một lượng kinh phí bằng 0.2% tổng kinh phí của các chương trình nghiên cứu thuộc các bộ và cơ quan thuộc chính phủ cho SBIR

Luật 1982 đã đưa ra 4 mục tiêu của chương trình SBIR như sau: (1) khuyến khích đổi mới công nghệ; (2) sử dụng các doanh nghiệp nhỏ để đáp ứng các yêu cầu về nghiên cứu và phát triển của Liên bang; (3) nuôi dưỡng và khuyến khích sự tham gia của những người thiểu số và thiệt thòi trong đổi mới công nghệ; và (4) gia tăng thương mại hoá các kết quả đổi mới có được từ R&D

do Liên bang tài trong khu vực tư nhân

Năm 1987, tỷ lệ dành cho SBIR tăng lên đến 1.25% Luật 1982 được thay thế bằng Luật sửa đổi chương trình nghiên cứu đổi mới kinh doanh nhỏ 1992 và

tỷ lệ dành cho SBIR tăng lên đến 1.5% Từ năm 1997, các cơ quan phải dành ra một tỷ lệ là 2.5% cho SBIR Với quy định dành kinh phí cho R&D của doanh nghiệp, chương trình SBIR của Mỹ trở thành một chương trình đổi mới công nghệ lớn nhất nước Mỹ

Để nhận được tài trợ từ chương trình SBIR, doanh nghiệp phải có ít nhất 51% vốn sở hữu của Mỹ, vận hành vì lợi nhuận, và có số nhân viên dưới 500 người Tài trợ được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn nghiên cứu khả thi, giai đoạn phát triển sản phẩm và giai đoạn thương mại hoá Giai đoạn I kiểm tra tính khả thi của các ý tưởng đề xuất và kéo dài trong khoảng từ 6 đến 12 tháng Kinh phí tài trợ cho giai đoạn I từ 100000 đến 150000 USD cho mỗi dự án Giai đoạn

I là giai đoạn có tỷ lệ thất bại cao; tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đạt được kết quả tích cực, họ có đủ điều kiện để đăng ký vào Giai đoạn II tài trợ phát triển sản phẩm Kinh phí tài trợ đối với mỗi dự án của Giai đoạn II lên tới khoảng 750000

Trang 19

USD trong thời gian 02 năm Cái gọi là Giai đoạn III, doanh nghiệp không nhận được tài trợ của chương trình SBIR mà tìm tài trợ từ các nguồn khác, ví dụ quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc là các nguồn tài trợ khác trong khối tư nhân cho việc thương mại hoá sản phẩm

Việc thu hút các dự án cần nhận tài trợ tại các bộ và cơ quan thuộc chính phủ

Mỹ cũng có một số điểm khác biệt nhất định Bộ Quốc phòng Mỹ, là cơ quan lớn nhất tham gia vào chương trình SBIR Tổ chức điều hành chương trình SBIR của Bộ Quốc phòng nằm trong Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chương trình SBIR của Bộ Quốc phòng thu hút các đề cương dự án xin tài trợ 02 lần trong một năm Viện Sức khoẻ Quốc gia (National Institutes of Health – NIH) là cơ quan lớn thứ hai

và là cơ quan dân sự lớn nhất của Mỹ tham gia vào Chương trình SBIR Phần lớn ngân sách của NIH tài trợ cho các tổ chức khoa học và công nghệ như các trường đại học, các viện nghiên cứu về sức khoẻ và phòng thí nghiệm trên toàn nước Mỹ Từ chính sách dành 2.5% tỷ lệ ngân sách cho SBIR, năm 2008, ngân sách dành cho chương trình SBIR tại NIH lên tới trên 500 triệu USD (NIH, 2009) Hàng năm, mỗi

cơ quan thuộc NIH thu thập danh mục các giải pháp công nghệ cần nghiên cứu và đưa ra danh mục các chủ đề R&D Doanh nghiệp có thể chọn các chủ đề trong danh mục và gửi đề cương xin tài trợ đến NIH Mẫu đề cương của các cơ quan thuộc NIH cũng không giống nhau; các cơ quan của NIH cũng có những hệ thống đánh giá và tuyển chọn đề cương khác nhau (Ege, 2009)

Một chương trình khác của Mỹ và cũng là khởi nguồn của một số chương trình phát triển sản phẩm của các nước trên thế giới đó là Chương trình hợp tác khuyến công (Manufacturing Extension Partnership Program – MEP) Chương trình này được hình thành vảo năm 1988, đặt tại Viện Quốc gia về Tiêu chuẩn

và Công nghệ (National Institute for Standards and Technology – NIST) của

Mỹ Chương trình có mục tiêu là nâng cao năng suất và đổi mới công nghệ, củng cố năng lực cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong

Trang 20

ngành sản xuất chế tạo; tạo việc làm mới, duy trì việc làm của ngành sản xuất chế tạo của Mỹ

NIST đã hình thành mối liên kế với 60 tổ chức phi tại tất cả các bang của

Mỹ và Puerto Rico - gọi là các trung tâm MEP Có thể nói MEP là một sự điển hình về cơ chế hợp tác công tư Theo báo cáo của NIST, Chương trình MEP đã rất thành công Trong năm tài chính 2009, các Trung tâm MEP đã hỗ trợ được 32.000 doanh nghiệp với hơn 7.100 doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật sâu (GAO, 2011)

Theo GAO (2011), trong giai đoạn 2006 – 2010, Chính phủ liên bang của

Mỹ đã chi cho MEP một lượng kinh phí là 530 triệu USD, nguồn kinh phí này bằng khoảng 10% tổng kinh phí để phát triển các sản phẩm Từ nguồn kinh phí tài trợ của Liên bang, các bang, các tổ chức khác và của bản thân doanh nghiệp trong giai đoạn 2006 – 2010, các doanh nghiệp đã thu được 15,8 tỷ USD doanh thu mới (in new sales), 19 tỷ USD doanh số bán lẻ (in retained sales), 5,2 tỷ USD từ chi phí và tiết kiệm đầu tư (in cost and investment savings), 7,5 tỷ USD

từ đầu tư mới (in new investment) và tạo ra 234.687 việc làm cho ngành sản xuất chế tạo GAO cũng đã báo cáo việc đầu tư của Chính phủ Liên bang Mỹ đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ví dụ, một Trung tâm MEP cho biết năng suất lao động của doanh nghiệp tham gia vào MEP tăng từ

25 – 30%, giảm chi phí tồn kho 3 triệu USD, giảm thời gian chuyển giao giữa các khâu sản xuất (lead time) là 44%

Sự hợp tác của các Trung tâm MEP và các doanh nghiệp thể hiện trên nhiều khía cạnh như: tìm kiếm công nghệ (technology scounting), thiết kế và phát triển sản phẩm, đào tạo thiết kế sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, tiếp thị và phát triển thị trường

Nhật bản, chương trình SBIR của Mỹ là một ví dụ điển hình cho các nước

trên thế giới trong hỗ trợ khu vực tư nhân đổi mới công nghệ Nhiều nước trên thế giới đã có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tương tự như của Mỹ Theo

Trang 21

Branstetter & Sakakibara (1998), Liên doanh nghiên cứu Nhật Bản (Japanese research consortia) trong công nghiệp công nghệ cao nhận được trung bình 2/3 chi phí của dự án nghiên cứu từ chính phủ Nhật Bản Một số dự án có thể được chính phủ Nhật Bản tài trợ toàn bộ chi phí Các tác giả trên cũng cho biết, doanh nghiệp tham gia vào liên doanh nghiên cứu chi nhiều tiền hơn cho R&D so với những doanh nghiệp không tham gia vào liên doanh Có thể thấy, việc hỗ trợ của nhà nước Nhật góp phần thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới công nghệ

Ngoài sự thành công của Mỹ và Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ - một nước đang phát triển, cũng đã có thành công trong tài trợ cho R&D của doanh nghiệp Ozcelik & Taymaz (2008) chỉ rõ, mặc dù tổng kinh phí cho R&D của Thổ Nhĩ

Kỳ thấp hơn so với các nước công nghiệp phát triển và tài trợ cho R&D của doanh nghiệp dưới 10% tổng chi cho R&D của Thổ Nhĩ Kỳ, tài trợ từ ngân sách nhà nước cho R&D của doanh nghiệp là hữu ích và góp phần gia tăng đầu tư của doanh nghiệp cho R&D

Malaysia, từ những năm 80 của thế kỷ trước, chính phủ Malaysia đã xây

dựng hệ thống hỗ trợ tài chính cho các hoạt động khoa học và công nghệ Liên quan đến việc hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho R&D và phát triển sản phẩm, Chính phủ Malaysia đã thành lập một số định chế tài chính sau:

Quỹ tiếp thu và làm chủ công nghệ (Technology Acquisition Fund - TAF)

hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp Malaysia để nhập và làm chủ công nghệ của nước ngoài để có được các bí quyết, tài sản trí tuệ, hình mẫu công nghệ, thiết kế… thông qua hình thức li-xăng công nghệ, mua quyền sở hữu công nghệ

và các dịch vụ đào tạo Quỹ hỗ trợ một phần chi phí nhập một số đối tượng công nghệ chủ yếu (sáng chế, thiết kế, bí quyết kỹ thuật) và chi phí thuê chuyên gia của nước ngoài để đào tạo, tư vấn hỗ trợ chuyển giao công nghệ Mức hỗ trợ tối

Trang 22

đa là 2.000.000 RM1 hoặc 50% (tùy theo mức nào thấp hơn) chi phí mua công nghệ của nước ngoài Doanh nghiệp được hỗ trợ:

- Phải thành lập và hoạt động ở Malaysia;

- Cổ phẩn của Malaysia chiếm tỷ trọng ít nhất là 51%, nhà cung cấp công nghệ không được phép sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp có dự án xin hỗ trợ;

- Công nghệ đề xuất để làm chủ phải sẵn sàng ở giai đoạn mức độ khả thi

và đã được ứng dụng vào sản xuất (đã thương mại hóa) ở quốc gia mà công nghệ được tạo ra;

- Công nghệ được hỗ trợ phải thuộc các chùm lĩnh vực công nghệ (technology cluster) ưu tiên của quốc gia;

- Dự án xin hỗ trợ phải tạo ra được sản phẩm vật chất (tangible), không chỉ là các sản phẩm vô hình (tài sản trí tuệ);

- Công nghệ được hỗ trợ phải được doanh nghiệp ứng dụng ngay vào sản xuất; và

- Đội ngũ quản lý, tiếp thị và kỹ thuật của dự án phải có năng lực và kinh nghiệm

Chương trình hỗ trợ tài chính cho các dự án sản xuất công nghiệp công nghệ cao (Financing for High Tech Industries) Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào các dự án công nghệ cao (điện tử, công nghệ sinh học, tự động hóa, vật liệu mới, phần mềm, năng lượng tái tạo…) thông qua hình thức tín dụng ưu đãi với kinh phí cho vay tối đa 75% tổng vốn đầu tư của dự án dùng đề mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng Thời hạn cho vay có thể lên đến 8 năm, trong đó mỗi giai đoạn thanh toán không quá 3 năm, mức lãi suất là 5%/năm

1 1 Malaysian Ringgit (RM) vào khoảng 0,32 USD; 2.000.000 RM gần bằng 650.000 USD

Trang 23

Hàn Quốc, bắt đầu từ những năm 1980, Hàn Quốc chuyển sang giai đoạn

phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao trên cơ sở ưu tiên phát triển một

số ngành như điện tử, cơ khí chính xác, và các ngành tiết kiệm năng lượng… Trong giai đoạn 1980 – 1990, Hàn Quốc đã xây dựng 13 khu công nghiệp trên

cả nước Chính sách công nghiệp trong thòi kỳ này là chuyển dần từ hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp nhẹ sang các ngành công nghiệp CNC Nhu cầu về chính sách công nghệ cũng thay đổi để phù hợp với chính sách công nghiệp Một là, ban hành một số chính sách về li-xăng công nghệ Hai là, thúc đẩy R&D trong nước Chính phủ thành lập một số trung tâm CGCN nhằm cung cấp thông tin công nghệ và nhà cung cấp của nước ngoài, thương thảo hợp đồng Chính phủ cũng áp dụng nhiều biện pháp thúc đẩy R&D trong nước nhằm tăng cường năng lực tiếp thu, làm chủ và phát triển công nghệ của các doanh nghiệp trong nước

Cũng từ những năm 1980 trở lại đây, Chính phủ hàn Quốc đã xây dựng những chương trình liên kết nghiên cứu (Research Consortium) như là một cơ chế chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và doanh nghiệp nhằm tăng cường sự gắn kết nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh Kết quả của các chương trình này

là từ chỗ khu vực tư nhân chỉ đầu tư dưới 20% đến trên 80% tổng kinh phí đầu

tư cho R&D của Hàn Quốc vào năm 1990 (Lee & Hong, 2012) Giai đoạn từ những năm 1990 đến những năm 2000, là giai đoạn khuyến công nghệ của Hàn Quốc Chính phủ Hàn Quốc đã mở rộng các chương trình R&D thông qua Dự án Tiên tiến quốc gia (Highly Advanced National Project) năm 1992, thành lập một

số tổ chức khoa học và công nghệ như Trung tâm nghiên cứu khoa học (1992), Trung tâm nghiên cứu thiết kế (Engineering Research Center - 1992), Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc gia (the National Research Laboratory – 1999),… Theo Lee & Hong (2012), những nỗ lực này của chính phủ Hàn Quốc đã đã gia tăng

số tiến sĩ từ 3503 người dến 76480 người, số pa-tăng được Mỹ bảo hộ tăng từ

236 năm 1981 đến 23584 năm 2008 Những cố gắng đó của Chính phủ Hàn

Trang 24

Quốc góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao nói chung và sản phẩm công nghệ cao nói riêng

Đài Loan, năm 1986 Chính quyền đài Loan đã đưa ra kế hoạch phát triển

KH&CN giai đoạn 1986 – 1995, trong đó đặt ra chỉ tiêu chi cho R&D đạt 2% GDP vào năm 1995 Chỉ tiêu này đã được hoàn thành Từ năm 2001 đến nay, chi cho R&D của Đài Loan luôn ở mức trên 2% GDP: năm 2001 tổng chi cho R&D của Đài Loan đạt 2.08% GDP, năm 2008 lên đến 2.77% GDP; đồng thời

số pa-tăng công nghệ của Đài Loan được Mỹ bảo hộ cũng cũng đứng trong 10 nước dẫn đầu thế giới (ITRI, 2010)

Theo ITRI (2010), trong tổng cho ngân sách nhà nước của Đài Loan cho KH&CN (trừ chi cho KH&CN quốc phòng), Hội đồng Khoa học Quốc gia chi 43%, Bộ Kinh tế chi 30.8%, Viện Hàn lâm Sinica chi 11%, các bộ khác chi 15.2% Ngoài việc chi cho các tổ chức KH&CN, Đài Loan còn hình thành các chương trình KH&CN tài trợ cho khối doanh nghiệp Ví dụ, Bộ Kinh tế đã hình thành 05 chương trình lớn chi cho R&D của doanh nghiệp: Chương trình các trung tâm R&D đổi mới đa quốc gia (MICT), Chương trình ứng dụng công nghệ

và dịch vụ (ITAS), Chương trình các trung tâm R&D đổi mới nội địa (DMC), Chương trình nghiên cứu đổi mới kinh doanh nhỏ (SBIR), Chương trình phát triển công nghệ công nghiệp (ITDP) Trong đó, Chương trình SBIR của Đài Loan được tiếp nhận cảm hứng từ Chương trình SBIR của Mỹ

Để thúc đẩy phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao, từ những năm 1980 Chính quyền Đài Loan đã thúc đẩy phát triển các công viên khoa học (Science Parks) Hiện nay, trên toàn bộ lãnh thổ của Đài Loan đã có 13 công viên khoa học với tổng diện tích là trên 5650 ha Các chính sách đổi mới của Đài Loan đã gps phần thúc đẩy phát triển hàng loạt các sản phẩm công nghệ cao với các nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới như: WLAN, xDSL, SOHO Router, PND, DSC,…

Trang 25

Kết luận Chương 1

Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển là một công cụ quản lý của nhà nước Việt Nam nhằm can thiệp vào thị trường sản phẩm công nghệ cao

Kế hoạch của Nhà nước không đặt ra vấn đề sản xuất bao nhiêu sản phẩm (mặc

dù Nhà nước có thể tác động đến lượng sản phẩm đưa ra thị trường bằng các biện pháp kích/giảm cầu) và sản xuất như thế nào Những vấn đề này là những vấn đề của doanh nghiệp, của thị trường sản phẩm công nghệ cao

Ở một mức độ nhất định, Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao này có sự tương đồng với một chiến lược, quy hoạch hay là một chương trình phát triển sản phẩm công nghệ cao của Nhà nước Tuy nhiên, kế hoạch phát triển sản phẩm công nghệ cao khác với chiến lược hoặc quy hoạch ở một số điểm: (1) kế hoạch có tính phân đoạn chặt chẽ, có khung thời gian rõ ràng; (2) tính định lượng cụ thể; và (3) kết quả và tính hiệu quả rõ ràng

Ở nước ta, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đều có những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngành và địa phương Tuy nhiên,

Đề án chưa tìm thấy một văn bản nào liên quan đến kế hoạch “phát triển sản xuất” do Nhà nước ban hành Nếu “kế hoạch” phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao được ban hành sẽ là một kế hoạch phát triển đầu tiên của Chính phủ

Vì vậy, chỉ nên coi “kế hoạch” như là một “chương trình”, một “bản quy hoạch” hoặc một “chiến lược” phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao

Đề án chưa tìm thấy một quốc gia nào trên thế giới xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao Song việc chính phủ của nhiều nước trên thế giới xây dựng các chương trình khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm là khá phổ biến Điển hình là

sự khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ Mỹ trong phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm công nghệ cao bằng các chương trình SBIR và MEP

Trang 26

Sự ra của các chương trình này, đặc biệt là chương trình SBIR của Mỹ đã lan toả

ra nhiều nước trên thế giới Để đưa một sản phẩm ra thị trường, sự hỗ trợ của nhà nước chia thành nhiều giai đoạn: nghiên cứu và phát triển, hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm, thương mại hoá sản phẩm Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 2441/2010/QĐ-TTg cũng đi theo hướng này

Sự hỗ trợ của chính phủ các nước trong phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm công nghệ cao còn thể hiện sự chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và doanh nghiệp Sự chia sẻ rủi ro này tạo động lực để doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong việc đẩu tư phát triển sản phẩm mới, sản phẩm công nghệ Đó cũng là đòn bảy của nhà nước thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư lớn hơn vào các hoạt động khoa học

và công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Ngoài việc thúc đẩy phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao bằng các biện pháp tài chính, chính phủ các nước còn đảm bảo cơ sở hạ tầng như xây dựng các công viên khoa học, khu công nghệ cao,… để phát triển sản phẩm công nghệ cao

Các chương trình KH&CN hỗ trợ phát triển sản phẩm của các nước đều bao gồm các thành tố “nghiên cứu” Ngay cả chương trình MEP do Bộ Thương mại của Mỹ quản lý cũng đều có các thành tố nghiên cứu hỗ trợ như “do thám” công nghệ, nghiên cứu thiết kế và phát triển sản phẩm,… mặc dù chương trình MEP không giống như một chương trình KH&CN Vì vậy, Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao do Bộ KH&CN chủ trì phải bao gồm thành tố

“nghiên cứu”, hơn nữa thành tố này phải là một trong các thành tố chủ chốt trong Kế hoạch

Trang 27

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO Ở NƯỚC TA

2.1 Cơ chế, chính sách Nhà nước liên quan đến phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao

Một số luật liên quan đến phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao

Luật Khoa học và Công nghệ 2000 đã quy định Nhà nước có chính sách

phát triển công nghệ cao, đầu tư có trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để nghiên cứu, phát triển công nghệ cao; xây dựng một số Khu công nghệ cao nhằm nâng cao năng lực công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao của đất nước (Điều 32)

Sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm; sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng ở Việt Nam; các hoạt động tư vấn khoa học

và công nghệ; chuyển giao công nghệ, thiết bị công nghệ cao nhập khẩu; xuất khẩu công nghệ được hưởng các ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật

(Điều 42)

Luật đầu tư 2005 quy định những ưu đãi trong việc việc sản xuất vật liệu

mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin (Điều 27)

Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 quy định việc Nhà nước có chính

sách ưu đãi đối với hoạt động chuyển giao công nghệ như ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển nguồn nhân lực công nghệ đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ; khuyến khích và thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; đẩy mạnh việc chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh (Điều 5)

Trang 28

Để thúc đẩy phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Công nghệ

cao 2008 Luật công nghệ cao 2008 đã quy định:

- Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động công nghệ cao (Điều 4), bao gồm:

Huy động các nguồn lực đầu tư, áp dụng đồng bộ các cơ chế, biện pháp khuyến khích, ưu đãi ở mức cao nhất về đất đai, thuế và ưu đãi khác cho hoạt động công nghệ cao nhằm phát huy vai trò chủ đạo của công nghệ cao trong phát triển khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Đẩy nhanh việc ứng dụng, nghiên cứu, làm chủ và tạo ra công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao; hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp công nghệ cao; nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao trong hệ thống cung ứng toàn cầu

Tập trung đầu tư phát triển nhân lực công nghệ cao đạt trình độ khu vực

và quốc tế; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài nước, lực lượng trẻ tài năng trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao và các hoạt động công nghệ cao khác

Khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cao, đầu tư phát triển công nghệ cao; tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hình thành mạng lưới cung ứng sản phẩm, dịch vụ phụ trợ cho ngành công nghiệp công nghệ cao

Dành ngân sách nhà nước và áp dụng cơ chế tài chính đặc thù để thực hiện nhiệm vụ, chương trình, dự án về công nghệ cao, nhập khẩu một số công

Trang 29

nghệ cao có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,

an ninh

- Khuyến khích chuyển giao công nghệ cao (Điều 13):

Tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển giao công nghệ cao phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan

- Biện pháp thúc đẩy đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển

công nghệ cao (Điều 33):

Trong quy hoạch sử dụng đất đai phải dành đất cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển công nghệ cao

Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất để xây dựng cơ sở nghiên cứu, đào tạo, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, cơ sở thử nghiệm, trình diễn, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, hạ tầng thông tin, giao thông, điện, nước, trụ sở điều hành, hệ thống xử lý chất thải trong khu công nghệ cao

Nhà nước hỗ trợ xây dựng hạ tầng thông tin, giao thông, điện, nước, trụ sở điều hành, hệ thống xử lý chất thải trong khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Ưu đãi khác do Chính phủ quy định theo thẩm quyền

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư vào khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Trang 30

Một số văn bản dưới luật liên quan đến phát triển công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao

Nghị định số 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KHCN quy định: Doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ, sản xuất ra sản phẩm từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho số thu nhập tăng thêm do các hoạt động này mang lại (Điều 42)

Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2004

về một số chính sách khuyến khích đầu tư tại Khu công nghệ cao quy định về vốn, tín dụng và bảo lãnh (Điều 5): Nhà đầu tư có dự án đầu tư sản xuất trong Khu công nghệ cao hoạt động theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước được Quỹ hỗ trợ phát triển xem xét cho vay tín dụng trung hạn, dài hạn với lãi suất ưu đãi, được bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định hiện hành; Nhà đầu tư được hưởng ưu đãi của Nhà nước về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu khi trực tiếp xuất khẩu sản phẩm và được áp dụng quy chế thưởng xuất khẩu theo quy định của pháp luật

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai quy định một số ưu đãi về Chế độ sử dụng đất phi nông nghiệp, đất Khu

công nghệ cao (Điều 85) Trong đó quy định: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ương giao đất một lần cho Ban Quản lý Khu công nghệ cao để

tổ chức xây dựng, phát triển Khu công nghệ cao theo quy hoạch đã được xét duyệt Ban Quản lý Khu công nghệ cao được giao lại đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều này

Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định:

Trang 31

- Thuế suất ưu đãi và thời gian áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi (Khoản 3 Điều 34)

* Mức thuế suất 10% áp dụng trong thời gian 15 năm, kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động kinh doanh đối với:

a) Hợp tác xã và cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

b) Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư

Trường hợp cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và có ảnh hưởng lớn về kinh tế, xã hội cần được khuyến khích cao hơn, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án

- Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư, cơ sở kinh doanh di

chuyển địa điểm được miễn thuế, giảm thuế như sau (Khoản 5 Điều 35):

Được miễn thuế 04 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ

dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục ngành nghề, lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc thực hiện tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

- Cơ sở kinh doanh đang hoạt động có đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất thì được miễn, giảm thuế cho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư này mang lại như sau (Khoản 6 Điều 36):

Được miễn 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi

Trang 32

đầu tư và thực hiện tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và thực hiện tại địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhà đầu tư góp vốn dưới các hình thức: Bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật

(Điều 40)

Quyết định số 2457/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020

Chương trình đã đề ra một số giải pháp phát triển công nghệ cao ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 (Điều 1):

1 Hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất thủ nghiệm, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao:

a) Tài trợ toàn bộ chi phí cho các dự án nghiên cứu công nghệ cao sau: đạt trình độ tiến tiến trong khu vực; có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm chủ lực của các ngành kinh tế; tạo ra dịch vụ công nghệ cao công ích, hình thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học; hình thành tập thể nghiên cứu khoa học mạnh; hợp tác với các cá nhân, tổ chức nước ngoài để nghiên cứu giải quyết các vấn đề thực tiễn có tác động quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội

b) tổ chức, cá nhân tự đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ cao được

hỗ trợ kinh phí để triển khai ứng dụng vào sản xuất và đời sống; sau khi có kết quả mang lại hiệu quả kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường thì được duyệt thông qua các dự án chương trình cụ thể để hỗ trợ chi phí nghiên cứu tự đầu tư

Trang 33

c) Hỗ trợ chi phí mua thông tin, công nghệ, máy móc thiết bị, sản phẩm mẫu, phần mềm, thuê chuyên gia tư vấn, sáng chế, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với các dự án hợp tác nghiên cứu công nghệ cao giữa các doanh nghiệp và tổ chức KH&CN

d) Hỗ trợ kinh phí thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao; …

2 Hỗ trợ và tạo điều kiện cho ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao

a) Đầu tư, hỗ trợ đầu tư các dự án ứng dụng, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao được ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển; xây dựng trung tâm tư vấn, đào tạo cho ứng dụng và phát triển công nghệ cao

b) Các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao có nhu cầu vay vốn nước ngoài được Chính phủ xem xét bảo lãnh vốn vay cho từng trường hợp cụ thể

c) Các tổ chức, cá nhân có dự án mua sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao thuộc Chương trình được vay vốn tín dụng Nhà nước từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định và được Chương trình hỗ trợ lãi suất vay

d) Hỗ trợ một phần kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước tham gia chợ, hội chợ, triển lãm, quảng bá sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao ở trong nước và nước ngoài

đ) Doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Chương trình được xem xét áp dụng chỉ định thầu hoặc giao thầu theo quy định của pháp luật hiện hành để thực hiện các dự án có sử dụng vốn ngân sách nhà nước

e) Hỗ trợ thử nghiệm kinh doanh đối với sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao mới

Trang 34

3 Hỗ trợ và tạo điều kiện xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao, đào tạo và sử dụng hiệu quả đội ngũ nhân lực công nghệ cao

a) Đầu tư, hỗ trợ đầu tư cơ sở nghiên cứu, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ phát triển công nghệ cao tại một số khu công nghệ cao, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khi công nghệ thông tin tập trung, khu công nghiệp, khu chế xuất, trường đại học

b) Đầu tư nâng cấp, xây dựng mới một số phòng thí nghiệm công nghệ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế Xem xét hỗ trợ đầu tư cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm công nghệ cao do các doanh nghiệp đầu tư, đặc biệt là các phòng thí nghiệm liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu, đào tạo Tạo điều kiện lập các cơ sở nghiên cứu của các công ty công nghệ cao hàng đầu thế giới tại Việt Nam

c) Đầu tư xây dựng một số cơ sở đào tạo nhân lực công nghệ cao đạt trình

độ tiên tiến trong khu vực Hỗ trợ tổ chức đào tạo ngắn hạn cho các lãnh đạo doanh nghiệp thuộc các ngành công nghệ cao về quản trị công nghệ, quản lý đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực công nghệ cao theo từng nhiệm vụ của Chương trình; tổ chức cho sinh viên nghiên cứu, thực tập tại các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ

4 Áp dụng một số cơ chế, chính sách ưu đãi

Các nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng, đào tạo, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất thử nghiệm, sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao thuộc Chương trình được:

a) Hưởng ưu đãi cao nhất về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy đinh của pháp luật

b) Vay tối đa 85% vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam và được Chương trình hỗ trợ toàn bộ lãi suất vay trong thời hạn 5 năm

Trang 35

c) Hỗ trợ chí phí nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm, xây dựng phòng thí nghiệm, xây dựng trung tâm thiết kế, sản xuất thử nghiệm, mưa sản phẩm mẫu, thiết bị và dây chuyền mẫu, thiết bị đo kiểm

d) Thực hiện quyết toán chi một lần đối với vốn ngân sách đầu tư, hỗ trợ đầu tư cho các nhiệm vụ của Chương trình sau khi nhiệm vụ kết thúc

đ) Điều chỉnh nội dung và kinh phí trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để đạt được mục tiêu và phù hợp với yêu cầu thực tế

2.2 Thực trạng phát triển sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển

Trong Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục 76 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển Các sản phẩm công nghệ cao trong Danh muc thuộc 04 lĩnh vực công nghệ ưu tiên

đó là thông tin - truyền thông (sản phẩm số 1 – 30), sinh học (sản phẩm số 31 – 41), cơ khí - tự động hoá (sản phẩm số 42 – 56) và vật liệu mới (sản phẩm số 57 – 76) Những phần tiếp theo của chương này sẽ trình bày thực trạng phát triển sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, chủ yếu dựa trên kết quả điều tra khảo sát của đề tài

Doanh nghiệp tiềm năng để sản xuất sản phẩm công nghệ cao

Để tìm kiếm và phát hiện các doanh nghiệp có tiềm năng tham gia kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao, Đề án đã gửi 250 phiếu hỏi đến các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh và Cần Thơ) có trên 100 doanh nghiệp đã trả lời phiếu hỏi Nhiều doanh nghiệp chỉ đơn thuần cung cấp thông tin chung về doanh nghiệp; số doanh nghiệp trả lời đầy đủ các câu hỏi trong phiếu hỏi rất ít Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn và thu được 30 phiếu hỏi với thông tin trả lời đầy đủ hơn để xử lý Ở đây, 30 doanh nghiệp trả lời phiếu hỏi này chưa thể đại diện cho tổng số 250 doanh nghiệp mà đề án đã gửi phiếu hỏi,

Trang 36

cũng không thể đại diện cho cộng đồng các doanh nghiệp trên địa bàn của các địa phưong kể trên Tuy nhiên, cũng có thể coi 30 doanh nghiệp này là những doanh nghiệp “tích cực” nhất trong việc tham gia vào sản xuất sản phẩm công nghệ cao của các địa phương Đề án coi 30 doanh nghiệp này nằm trong số các doanh nghiệp có “tiềm năng” nhất trong sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển

Mặc dù trả lời phiếu hỏi là những doanh nghiệp “tiềm năng” nhất của các tỉnh/thành phố được lựa chọn cho khảo sát, không có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng tham gia vào sản xuất sản phẩm công nghệ cao Trong trả lời câu hỏi liệu doanh nghiệp có dự kiến sản xuất các sản phẩm công nghệ cao hay không, 19/30 doanh nghiệp không có dự kiến sản xuất, 11/30 doanh nghiệp có dự kiến sản xuất sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục

Trong những doanh nghiệp trả lời có dự kiến sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được khuyến khích phát triển chỉ có 03 doanh nghiệp cho rằng họ có tiềm năng tham gia sản xuất sản phẩm công nghệ cao trong giai đoạn từ này đến năm 2015; còn lại 08 doanh nghiệp cho rằng họ

có thể sản xuất sản phẩm công nghệ cao trong giai đoạn 2016 - 2020

Kết quả khảo sát trên cho thấy, sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển là “quá cao” so với trình

độ sản xuất của các doanh nghiệp đã được tham gia khảo sát Thể hiện sự “quá cao” này, một doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh đã nêu ý kiến: “…Tôi xin lấy ví dụ, danh mục số 1 là các bộ vi xử lý, mạch tích hợp và bộ nhớ máy tính (trong và ngoài) có dung lượng cao; đây là sản phẩm mà các công ty lớn của nước ngoài đã sản xuất Chúng ta không thể đối đầu với các công ty lớn của nước ngoài (ví dụ như Intel); 50 năm nữa chúng ta cũng không thể cạnh tranh được với các công ty nước ngoài kiểu Intel” Cũng thể hiện trình độ chưa đủ của doanh nghiệp Việt Nam trong sản xuất các sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục, một doanh nghiệp khác trên địa bàn Đà Nẵng nhận định, “Nhà nước xây

Trang 37

dựng một kế hoạch phát triển sản phẩm công nghệ cao cần cân nhắc đến yếu tố địa lý Với Danh mục sản phẩm công nghệ cao này, các doanh nghiệp miền trung không thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp thuộc hai đầu tàu của đất nước”

Nguồn: Điều tra khảo sát của Đề án

Khi được hỏi về nhu cầu về cơ chế, chính sách hỗ trợ của Nhà nước để doanh nghiệp phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được khuyến khích phát triển Những cơ chế, chính sách hỗ trợ được nhiều doanh nghiệp doanh nghiệp quan tâm nhất phải kể đến như sau: (1) các chính sách hỗ trợ về thuế, ngân hàng; (2) hỗ trợ tìm kiếm thị trường; (3) hỗ trợ

về thông tin công nghệ; (4) tạo điều kiện hợp tác trong và ngoài nước (Hình 1)

Cũng theo như Hình 1, một số cơ chế, chính sách hỗ trợ khác cũng được khá nhiều doanh nghiệp quan tâm là: (5) hỗ trợ rủi ro; (6) hỗ trợ đào tạo nguồn

Hỗ trợ

về thông tin công nghệ

Tạo điều kiện hợp tác trong

và ngoài nước

Tìm kiếm thị trường

Hỗ trợ chi phí cho hoạt động đổi mới

Hỗ trợ rủi ro

Các chính sách hỗ trọ về thuế, ngân hàng

Tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh

Tạo lập môi trường pháp luật thuận lợi

Trang 38

nhân lực chuyên môn nghiệp vụ; (7) tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh; (8)

hỗ trợ chi phí cho hoạt động đổi mới; và (9) hỗ trợ xây dựng tổ chức R&D của doanh nghiệp

Cơ chế “tạo lập môi trường pháp luật thuận lợi” không được nhiều doanh nghiệp quan tâm Qua đây cũng có thể nhận xét là hệ thống pháp luật của Việt Nam đã tạo ra môi trường tương đối thuận lợi cho sự phát triển sản xuất của doanh nghiệp; song cũng có thể cho rằng môi trường pháp luật của Việt Nam chưa được nhiều doanh nghiệp quan tâm

Ngoài những nhu cầu cơ bản về cơ chế, chính sách hỗ trợ cho sản xuất sản phẩm công nghệ cao như đã mô tả trong Hình 1, nhóm nghiên cứu còn tổng hợp được một số kiến nghị với Nhà nước từ phía doanh nghiệp:

- Doanh nghiệp tham gia sản xuất sản phẩm công nghệ cao kiến Nhà nước cho ưu tiên đấu thầu các công trình (3 doanh nghiệp) Thực ra, đây là cơ chế khuyến khích đã được Nhà nước ban hành Trong Quyết định số 2457/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/12/2010 phê duyệt Chương trình quốc gia

phát triển công nghệ cao đến năm 2020 đã chỉ rõ “Doanh nghiệp có dự án sản

phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao thuộc Chương trình được xem xét áp dụng chỉ định thầu hoặc giao thầu theo quy định của pháp luật hiện hành để thực hiện các dự án cơ sử dụng vốn ngân sách nhà nước” Quy định ưu tiên đấu

thầu đã được xác định trong Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao cần được áp dụng cho các doanh nghiệp tham gia vào Kế hoạch

- Doanh nghiệp đề nghị nhà nước cần hoàn thiện chính sách hợp tác công

tư để thúc đẩy phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao (1 doanh nghiệp) Đây cũng là một trong những định hướng nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam được thể hiện trong Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020, phê duyệt theo Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ ngày 11/04/2012 Chiến lược đã chỉ rõ, “Triển khai mô hình

hợp tác công tư trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; phát triển các hình thức

Trang 39

hợp tác nghiên cứu, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực giữa khu vực công và tư”

- Cần có cơ chế linh hoạt trong giải ngân, quyết toàn và vay vốn của Nhà nước Đây là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp cho rằng các thủ tục về tài chính quá phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt các cơ chế tài chính mới cho khoa học và công nghệ

- Việc phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao gắn liền với việc nhập khẩu công nghệ, thiết bị, máy móc Nhiều doanh nghiệp cho rằng thủ tục hải quan cần được đổi mới Thủ tục hải quan hiện nay gây khá nhiều phiền phức cho doanh nghiệp nhập khẩu Doanh nghiệp cho rằng họ phải đi lại nhiều lần và làm quá nhiều thủ tục để có thể nhập được một lô hàng phục vụ cho sản xuất kinh doanh Thủ tục hải quan phiền phức, trong một sô trường hợp, có thể làm mất cơ hội kinh doanh và giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Tiềm năng phát triển sản phẩm công nghệ cao qua ý kiến của các Bộ, ngành

Để xây dựng Kế hoạch, cùng với các tiếp cận từ dưới lên thông qua các doanh nghiệp, Đề án còn kết hợp với cách tiếp cận từ trên xuống trên cơ sở trao đổi, toạ đàm với các Bộ, ngành Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2010 đến tháng 04/2011, Đề án đã tổ chức các buổi toạ đàm khoa học, trao đổi với các chuyên gia của các Bộ, ngành về từng sản phẩm công nghệ cao cụ thể trong Quyết định số 49/2010/QĐ-TTg

Để thuận lợi cho các cuộc trao đổi/ toạ đàm khoa học, Đề án, với danh nghĩa của Bộ KH&CN đã gửi công văn của Bộ Khoa học và Công nghệ tới các

Bộ, ngành đề nghị làm việc về tiềm năng đưa vào Kế hoạch các sản phẩm công nghệ cao trong Danh mục Nội dung toạ đàm bao gồm:

- Dựa trên Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị các Bộ ngành lựa chọn một số sản

Trang 40

phẩm mà các Bộ, ngành cho rằng đó là những sản phẩm được ưu tiên nhất để đưa vào Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao;

- Các Bộ, ngành cho biết hiện trạng phát triển của các sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển;

- Cơ chế, chính sách cần thiết để phát triển các sản phẩm công nghệ cao;

- Sự phối hợp giữa Bộ KH&CN với các Bộ, ngành khác trong việc xây dựng và thực thi Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao

Đề án đã tổng kết ý kiến chuyên gia của các Bộ thông qua các cuộc toạ đàm, đưa ra danh mục sản phẩm công nghệ cao mà các Bộ, ngành cho rẳng cần thiết nhất hoặc có tiềm năng nhất để đưa vào Kế hoạch phát triển sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được khuyến khích phát triển

Bảng 2 Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch do Bộ Y tế đề xuất

TT Số SP Tên sản phẩm Hiện trạng sản phẩm

1 24 Phần mềm cho hệ thống ứng

dụng RFID, phần mềm xử lý thông tin y – sinh

Đã có nghiên cứu về sản phẩm này Tuy nhiên, hiện chưa rõ sản phẩm này

đã được ứng dụng hay chưa

dụng trong dược phẩm, thực phẩm, công nghiệp và xử lý môi trường

Đã có nghiên cứu về sản phẩm này Tuy nhiên, hiện chưa rõ sản phẩm này

đã được ứng dụng hay chưa

3 32 Vắc-xin AND tái tổ hợp,

vắc-xin protein tái tổ hợp dùng cho người, gia súc, gia cầm và thuỷ sản

Đã có nghiên cứu nhưng chưa đưa vào sản xuất Có hàng trăm loại vắc-xin ADN tái tổ hợp, tuy nhiên chỉ nên có một số là được ưu tiên

4 33 Bộ sinh phẩm chuẩn đoán các

loại bệnh, kiểm soát an toàn

KIT đã có 01 doanh nghiệp bên quân đội sản suất; KIT chuẩn đoán bệnh chỉ

Ngày đăng: 19/03/2015, 01:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mẫu và nội dung cơ bản   của một số văn bản kế hoạch của Nhà nước - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 1. Mẫu và nội dung cơ bản của một số văn bản kế hoạch của Nhà nước (Trang 12)
Hình 1. Nhu cầu chính sách hỗ trợ - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Hình 1. Nhu cầu chính sách hỗ trợ (Trang 37)
Bảng 2. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch do Bộ Y tế đề xuất - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 2. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch do Bộ Y tế đề xuất (Trang 40)
Bảng 2 tổng kết lại các sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ  cao được khuyến khích phát triển mà theo các chuyên gia của Bộ Y tế cho rằng  cần đưa vào Kế hoạch - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 2 tổng kết lại các sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển mà theo các chuyên gia của Bộ Y tế cho rằng cần đưa vào Kế hoạch (Trang 41)
Bảng 3. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 3. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch (Trang 43)
Bảng 3 tổng hợp kết quả rà soát của các chuyên gia thuộc ngành thông tin - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 3 tổng hợp kết quả rà soát của các chuyên gia thuộc ngành thông tin (Trang 45)
Bảng 4. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 4. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch (Trang 47)
Bảng 5. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 5. Sản phẩm công nghệ cao cần đưa vào Kế hoạch (Trang 48)
Bảng 8. Tổng hợp chung kết quả đề xuất của doanh nghiệp - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 8. Tổng hợp chung kết quả đề xuất của doanh nghiệp (Trang 57)
Bảng 9. Sản phẩm công nghệ cao do doanh nghiệp đề xuất - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 9. Sản phẩm công nghệ cao do doanh nghiệp đề xuất (Trang 60)
Bảng 10. kế hoạch đưa ra thị trường một số sản phẩm công nghệ cao - Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch chi tiết trong cuộc kiểm toán dự án đầu tư và xây dựng
Bảng 10. kế hoạch đưa ra thị trường một số sản phẩm công nghệ cao (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w