Một kế hoạch, chương trình hoạt động quản lý nhà nước chỉ có khả năng thực tế tạo ra được các quá trình tiến bộ xã hội khi chủ thể quản lý đánh giá đúng thực tế tình hình phát triển của
Trang 1THANH TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO”
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đinh Văn Minh,
Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra
Thư ký đề tài: ThS Nguyễn Tuấn Khanh
Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học, VKHTT
Trang 2DANH MỤC CÁC CHUYÊN ĐỀ
1 Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước và hoạt động ban hành văn bản
quản lý nhà nước 1
Người thực hiện: PGS TS Đinh Văn Mậu, PGĐ Học viện HCQG
2 Hoạt động quản lý nhà nước - đối tượng chủ yếu của công tác thanh tra 18
Người thực hiện: Vũ Văn Chiến, Tổng Biên tập Tạp chí Thanh tra
3 Các loại văn bản quản lý nhà nước và cơ chế kiểm tra, đánh giá tính hợp
pháp, hợp lý của các văn bản quản lý nhà nước hiện nay 27
Người thực hiện: PGS.TS Vũ Thư, Viện NN&PL
4 Tính hợp pháp, hợp lý của văn bản quản lý nhà nước- nhìn tự thực tiễn công
tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 54
Người thực hiện: TS Trần Văn Sơn, Văn phòng Chính phủ
5 Tính hợp pháp, hợp lý của văn bản quản lý nhà nước- nhìn tự thực tiễn công
tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 67
Người thực hiện: TS Trần Đức Lượng, Phó Tổng Thanh tra
6 Trình tự thủ tục tiến hành các cuộc thanh tra và yêu cầu về việc đánh giá tính
hợp pháp, hợp lý của các văn bản quản lý nhà nước trong quá trình tiến hành thanh tra 73
Người thực hiện: ThS Nguyễn Tuấn Anh, Vụ II, TTCP
7 Thực tiễn ban hành văn bản quản lý nhà nước, công tác kiểm tra, đánh giá
tính hợp pháp, hợp lý của các văn bản quản lý nhà nước và việc xử lý vi phạm 90
Người thực hiện: ThS Nguyễn Tuấn Khanh, Viện KHTT
8 Tính hợp pháp và cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản quản lý ở
Việt Nam 103
Người thực hiện : ThS Lê Thị Thuý, Viện KHTT
9 Về quền tự quyết của cơ quan hành chính và công chức trong hoạt động hành
chính 112
Người thực hiện: ThS Nguyễn Hoàng Anh
10 Khái niệm văn bản hành chính ở Trung Quốc và mối quan hệ của nó với đối
tượng của kiểm tra 124
Người thực hiện: Trương Quốc Hưng, Viện KHTT
Trang 311 Yêu cầu đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của văn bản quản lý trong hoạt động
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo 134
Người thực hiện: ThS Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện KHTT
12 Ban hành văn bản quản lý và yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý của văn bản
quản lý 143
Người thực hiện: ThS Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện KHTT
13 Một số quan niệm hiện nay về tính hợp pháp, hợp lý của văn bản quản lý từ
thực tiễn hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo……… 152
Người thực hiện: ThS Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện KHTT
Trang 4Chuyên đề 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
PGS.TS Đinh Văn Mậu Học viện Hành chính Quốc gia
I - KHÁI LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
1.1 Quản lý nhà nước mang bản chất xã hội của nhà nước và thực hiện chức năng xã hội của nó
Quản lý là một dạng lao động, là hoạt động có ý thức, có mục đích nhằm thỏa mãn một nhu cầu vật chất hay tinh thần của con người Khi nhu cầu được đáp ứng, mục đích được thực hiện, quá trình lao động đã đạt được kết quả Có được kết quả, con người phải chi phí cho quá trình lao động đó Tỷ lệ giữa kết quả lao động
và chi phí cho kết quả ấy là hiệu quả của lao động, là một chỉ số cơ bản đánh giá kết quả của một quá trình lao động Về bản chất, ý nghĩa của quá trình tái sản xuất
xã hội và điều kiện sống của con người nằm trong vấn đề hiệu quả lao động
Quản lý là lao động khác biệt Quản lý không trực tiếp sản sinh các giá trị vật chất hay tinh thần Do vậy không thể trực tiếp lấy các giá trị do kết quả lao động tạo ra để đánh giá hiệu quả quản lý
Quản lý là tác động mang tính tổ chức và điều chỉnh Những tác động ấy là lao động quản lý Do vậy, tác động quản lý trước hết là tạo ra tổ chức bằng thiết kế mô hình quan hệ và đặt con người vào các quan hệ đó; đồng thời là sự điều chỉnh các chủ thể tham gia quan hệ thực hiện các hành vi giao tiếp theo các chuẩn mực, quy định có tính bắt buộc chấp hành và hướng dẫn các chủ thể tự vận động phù hợp với mục đích đã định Tác động tổ chức và điều chỉnh không có mục đích tự thân mà được thực hiện vì lợi ích của cả chủ thể và khách thể tham gia trong một quan hệ quản lý Quản lý phát sinh và tồn tại vì nhu cầu lao động hợp tác và suy cho cùng là
Trang 5vì sự tồn tại và phát triển của xã hội Số lượng và chất lượng sản phẩm là những yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất, song, đối với quản
lý, số lượng và chất lượng ấy chưa nói được nhiều điều, mà phải đánh giá sản phẩm làm ra đã được sử dụng như thế nào, được xã hội tiếp nhận ra sao, để lại những hậu quả gì trong đời sống xã hội và đã góp phần như thế nào đối với quá trình tái sản xuất xã hội và điều kiện sống cho con người v.v… Những điều kể trên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước
Xuất hiện và tồn tại của quản lý nhà nước không phải để cho chính bản thân nhà nước; tức là không dành cho sự tồn tại của các cơ quan nhà nước Mỗi một cơ quan nhà nước được thành lập là để phục vụ một quá trình phát triển xã hội, đáp ứng một nhu cầu của xã hội Mỗi hoạt động quản lý nhà nước đều chứa đựng những nội dung xã hội và đều mang ý nghĩa xã hội, cho dù hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành trên lĩnh vực nào và nói tổng quát là có bản chất xã hội, chức năng xã hội Trong kinh tế, hiện nay, có một nghịch lý là của cải càng nhiều, lòng tham cũng tăng và hiện tượng ăn cắp, biển thủ phát triển Vì thế lợi ích xã hội bị xâm phạm Đương nhiên, quản lý nhà nước phải chống lại những hiện tượng đó để bảo vệ lợi ích của xã hội Việc lựa chọn và sử dụng các biện pháp cưỡng chế và giáo dục phải nhằm đạt mục đích sao cho của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn và các biểu hiện tiêu cực trong xã hội không theo đó mà phát sinh, phát triển
Hệ thống cơ quan nhà nước được lập ra để thể hiện bản chất xã hội của nhà nước và thực hiện chức năng xã hội của quản lý nhà nước Cơ quan nhà nước thực hiện chức năng để đáp ứng nhu cầu xã hội, được biểu hiện khi cơ quan đó tiến hành các hoạt động chức năng trong thực tiến và xã hội chỉ thừa nhận các hoạt động ấy khi nó tạo ra được ảnh hưởng thực tế đến quá trình xã hội Bởi vậy, thực tiễn cho thấy nhiều kế hoạch, chương trình nhà nước cũng như các quyết định quản lý nhà nước được luân chuyển từ cơ quan này đến cơ quan khác, từ Trung ương xuống địa phương và phát sinh ra các hội nghị, hội họp to nhỏ kèm theo mittinh, tuần hành
Trang 6Nhưng kết quả là, như người dân hay nói, tình hình vẫn "mới như xưa" Như vậy,
có tổ chức hoạt động như không tạo ra được tác động quản lý nào có hiệu quả và
xã hội Không nhận được thêm lợi ích gì từ hoạt động ấy Nói gọn lại, sự quản lý này thiếu tương tác có hiệu quả thì nó mất ý nghĩa trước xã hội
1.2 Những đặc trưng cơ bản của quản lý nhà nước
Thứ nhất, quản lý nhà nước phụ thuộc vào mục đích xã hội
Cơ sở của các mục tiêu quản lý là các quy luật khách quan của đời sống xã hội, là nhu cầu, đòi hỏi khách quan về sự tiến bộ xã hội Mục đích xã hội của quản
lý nhà nước được kế hoạch hóa và chương trình hóa quá trình hành động quản lý nhà nước
Kế hoạch, chương trình hoạt hành quản lý nhà nước là sự thống nhất giữa điều kiện khách quan của xã hội và yếu tố chủ quan của cơ quan nhà nước và các nhà lãnh đạo; là sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước và các nhà lãnh đạo; là sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể trong quản lý nhà nước Một kế hoạch, chương trình hoạt động quản lý nhà nước chỉ có khả năng thực tế tạo ra được các quá trình tiến bộ xã hội khi chủ thể quản lý đánh giá đúng thực tế tình hình phát triển của xã hội, cảm nhận được những hiện tượng mới và những mối quan hệ xã hội mới phát sinh trong quá trình phát triển xã hội
Kế hoạch, chương trình quản lý nhà nước còn phản ánh tính hiện thực và xu hướng phát triển xã hội trong tương lai Phát triển xã hội là một quá trình liên tục
mà con người chỉ có thể nhận thức được các hiện tượng xã hội sau khi nó đã xảy ra Bởi vậy, kế hoạch, chương trình luôn dựa vào kết quả phân tích những hiện tượng
đã qua, còn quá trình xã hội vẫn tiếp tục về phía trước; khi đưa các quyết định quản
lý vào thực hiện thì các tình huống đòi hỏi phải quản lý là cơ sở của các quyết định quản lý mà đã thay đổi Vì vậy, không thể có một kế hoạch, chương trình thích hợp với mọi giai đoạn, không thể có một quyết định đúng đắn ở các giai đoạn khác Do
đó, quản lý nhà nước còn được đánh giá ở chỗ: hoạt động quản lý đã định ra được
Trang 7kế hoạch của nó đã dự báo ra sao về các quan hệ sẽ phát sinh trong tương lai… Sẽ
là phản khoa học, thiếu khách quan, nếu chỉ say sưa coi những quyết định hiện tại
là chân lý không cần xem xét lại; thậm chí không được "viết" và "nói" ngược lại với nó Cho nên, để hiệu quả của quản lý cần tiếp tục xem xét các quá trình xã hội diễn ra trong hiện tại dưới tác động của những quyết định hiện tại; đồng thời, dự báo được các quá trình trong tương lai, chuẩn bị những tiền đề cho những quyết định quản lý mới
Thứ hai, quản lý nhà nước có ý nghĩa xã hội và phục vụ lợi ích của sự phát triển xã hội
Các nhu cầu xã hội luôn là động lực của hoạt động quản lý nhà nước Sự hình thành và phát triển các nhu cầu xã hội là nội dung thực chất các quá trình xã hội Nhu cầu phát sinh trong đời sống xã hội vừa là mục đích xã hội của quản lý nhà nước, vừa là nội dung của hoạt động quản lý nhà nước Nhu cầu xã hội luôn khách quan Quản lý nhà nước không thể thay đổi được các quy luật khách quan của cuộc sống, nhưng nếu biết khai thác và sử dụng được các yếu tố khách quan trong các tác động quản lý, sẽ có thể đạt được mục đích của quản lý bằng phương pháp và phương tiện khác nhau Mục đích xã hội của quản lý nhà nước quy định việc sử dụng các phương tiện và biện pháp trong các tác động quản lý Chẳng hạn,
để chống lại những ăn cắp, có người kiến nghị phải sử dụng những biện pháp khốc liệt Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta đã loại trừ được tệ nạn đó Trên thế giới, cũng đã từng có những trường hợp như vậy Theo kinh thánh Cô - ran của đạo I-slam, kẻ ăn cắp lần thứ nhất sẽ bị chặt một cánh tay; lần thứ hai sẽ chặt nốt cánh tay còn lại Với hình phạt như vậy, có thể tạo ra một tâm lý sợ hãi, và do đó, có thể
có tác dụng ngăn ngừa trong một chừng mực nhất định Thế nhưng, sau đó, những người đã bị chặt mất cánh tay sẽ có thái độ như thế nào đối với xã hội? Xã hội phải chấp nhận trong lòng nó những người tật nguyền mất khả năng lao động và với một mối oán thù sâu sắc… Trong xã hội đương thời vẫn sử dụng biện pháp thô bạo nhằm điều chỉnh một số hành vi trong xã hội Để "chống" lại tóc dài và cái quần loe
Trang 8ống mà một thời được thịnh hành trong lối sống của thanh niên, người ta đã tổ chức các cuộc "săn" những cái đầu và cái ống quần đó trên đường phố Thậm chí, một vài cơ quan còn đề biển: "Ở đây không tiếp những nguồi để tóc dài" ! Rất dễ nhận thấy việc áp dụng các biện pháp như vậy nhằm điều chỉnh lối sống của thanh niên bằng sự thiếu hiểu biết về quyền công dân và không có khái niệm về nhân cách! Rõ ràng là mỗi biện pháp, phương tiện tác động quản lý nhà nước, đều gây ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực để lại những dấu vết trong quan hệ xã hội; tạo ra sự thúc đẩy lành mạnh các quá trình xã hội hoặc kìm hãm và làm trì trệ các quá trình ấy Hiệu quả của quản lý nhà nước được xem xét ở chỗ các tác động quản lý đã mang lại một ý nghĩa xã hội như thế nào
Việc lựa chọn và sử dụng các biện pháp, phương tiện để thực hiện các tác động quản lý phụ thuộc vào khả năng hiểu biết và sử dụng vị trí pháp lý và thẩm quyền một cách chính xác và sau nữa phụ thuộc vào tài năng và sự thông minh của các nhà quản lý
Thứ ba, tổ chức và hoạt dộng của cơ quan nhà nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý nhà nước
Chất lượng tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước cũng là những yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý nhà nước Sự tương quan giữa vị trí pháp lý và thẩm quyền của cơ quan nhà nước là điều kiện về mặt tổ chức tạo ra khả năng hoạt động bình thường và chứng minh về sự cần thiết của nó đối với xã hội Hiệu quả quản lý của những cơ quan nhà nước không thể nằm ngoài nhu cầu xã hội Sự hình thành một cơ quan nhà nước đồng thời cũng làm xuất hiện lợi ích của riêng nó và
nó được thực hiện thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước Nhưng, lợi ích của
cơ quan nhà nước chỉ có thể được bảo đảm bằng những hoạt động gây được ảnh hưởng đến các quá trình phát triển xã hội Nói một cách khác, cơ quan nhà nước chỉ thực hiện lợi ích của nó, nếu như lợi ích của cơ quan nhà nước là một bộ phận gắn
bó hữu cơ với lợi ích của xã hội Trong trường hợp mà sự tồn tại của cơ quan nhà nước và sự hoạt động của nó không gây được ảnh hưởng đến các quá trình phát
Trang 9triển xã hội, thì điều này có nghĩa là xã hội phải gánh chịu một chi phí không có khả năng bù đắp Các quá trình tái sản xuất xã hội sẽ như thế nào nếu xã hội cứ phải gánh chịu những chi phí không được bù đắp? Do đó, tính khách quan và tính hiện thực của bộ máy quản lý nhà nước và hoạt động của nó là những yếu tố rất quan trọng khi xem xét hiệu quả của quản lý nhà nước
Tính tổng hợp của hoạt động quản lý nhà nước
Quyết định quản lý là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức về
xã hội, bao gồm: triết học, xã hội học, chính trị, kinh tế, pháp lý, tâm lý học v.v… Khi phân tích một hiện tượng xã hội, có thể tách chúng thành những mặt, những yếu tố để nghiên cứu; tìm ra những mặt, những yếu tố không cân đối gây cản trở cho sự phát triển và do đó, dẫn đến những tác động bổ sung mang tính điều chỉnh Điều đó không làm ảnh hưởng đến tính tổng hợp của quyết định quản lý Bởi vì, những tác động điều chỉnh bổ sung chỉ có mục đích bảo đảm sự cân đối trong hoạt động quản lý và các quá trình xã hội chỉ đạt được sự tiến bộ thật sự trong sự phát triển cân đối những yếu tố của nó Mặt khác, điều đó cũng chứng tỏ rằng, khi xem xét quản lý nhà nước với tính cách là kết quả tổng hợp của tác động quản lý, khoa học quản lý nhà nước còn xem xét quản lý nhà nước với tính cách là một hoạt động tích cực của bản thân cơ quan nhà nước và của các nhà quản lý
Từ cách xem xét các đặc trưng của quản lý nhà nước, khoa học quản lý nhà nước chia quản lý nhà nước thành 3 cấp độ: Tác động quản lý nhà nước đối với xã hội nói chung để tạo ra các quá trình xã hội trong từng giai đoạn phát triển của nó; Quản lý nhà nước được thực hiện bằng hệ thống các cơ quan nhà nước và do đó, là
sự đánh giá mức độ xây dựng và tổ chức của chính bộ máy nhà nước; Quản lý nhà nước được thực hiện ở từng cơ quan nhà nước và các nhà chức trách, được thể hiện
ở từng văn bản quản lý, ở ý nghĩa xã hội trong từng tác động quản lý
Các cấp độ đánh giá hiệu quả có liên quan với nhau chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau Song, mỗi cấp độ còn có phạm vi, giới hạn riêng Nếu không đánh giá
Trang 10đúng hiệu quả ở từng cấp độ hoạt động quản lý nhà nước sẽ không có phương hướng phát triển, các tác động quản lý sẽ không có mục tiêu cụ thể
1.3 Bản chất, chức năng xã hội của quản lý nhà nước đòi hỏi tác động quản lý có hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội chung được đánh giá bằng kết quả thực hiện các mục đích,
kế hoạch, chương trình và nhiệm vụ của quản lý nhà nước trong đời sống xã hội nói chung
Cơ sở để đánh giá tác động quản lý có hiệu quả - hiệu quả xã hội, trước hết
là ở mục đích xã hội của quản lý nhà nước, tức là phải xem xét những vấn đề xã hội được đặt ra và đã được thực hiện Mặt khác, hiệu quả xã hội được cảm nhận từ những biến đổi trong từng mặt, từng yếu tố, từng lĩnh vực của đời sống xã hội, mà tổng hòa của những biến đổi ấy tạo ra được khuôn vẻ, sắc thái, chất lượng mới trong cuộc sống xã hội Đồng thời, cơ sở đánh giá hiệu quả xã hội còn căn cứ vào đặc điểm và tính đến tính tổng hợp của nó
Hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước được xác định từ hiệu quả của các vấn đề có liên quan Bởi vì mỗi một tác động quản lý nhà nước, dù chỉ nhằm vào một mặt, một lĩnh vực nào đó, thì sự biến đổi trong lĩnh vực ấy cũng không thể là một hiện tượng xã hội biệt lập, mà tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Mặt khác, mối liên hệ biện chứng giữa các hiện tượng xã hội không chỉ được ghi nhận ở thời điểm xuất hiện sự biến đổi, mà còn được xem xét ở những khoảng thời gian trong tiến trình phát triển lịch sử của nó Bởi vậy, khi chuẩn bị những quyết định quản lý, cũng như xem xét hiệu quả quản lý nhà nước, phải tính đến những ảnh hưởng của
nó ở những giai đoạn về sau Điều đó có nghĩa là: những tác động quản lý nhà nước phải bảo đảm được hiệu quả xã hội trong triển vọng của lịch sử Hiệu quả xã hội trong tương lai là yếu tố cấu thành tính tổng hợp của hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước
Trang 11Để đánh giá được hiệu quả, phải xác định các tiêu chuẩn Xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước là vấn đề phức tạp của khoa học quản lý nhà nước Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả quản lý, trước hết và chủ yếu không phải
là những chỉ số, mà là những mặt, những yếu tố cấu thành chất lượng mới của tập hợp các hiện tượng xã hội xuất hiện dưới ảnh hưởng của những hoạt động quản lý nhà nước Những mặt và những yếu tố này lại là kết quả của nhận thức trừu tượng
và hợp quy luật về các khía cạnh triết học, chính trị, kinh tế, pháp lý, tâm lý và xã hội học v.v… Do đó, tiêu chuẩn hiệu quả quản lý nhà nước được hiểu hiện như là những quan điểm chuẩn về các khía cạnh ấy ở một giai đoạn cụ thể trong tiến trình
có tính lịch sử của xã hội
Mục đích xã hội của quản lý nhà nước được biểu hiện ở các kế hoạch, chương trình hoạt động quản lý nhà nước, bởi vậy, trong thực tế, người ta thường đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước thông qua các chỉ tiêu kế hoạch Tất nhiên, các chỉ tiêu kế hoạch có vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động quản
lý nhà nước, song chúng chỉ là những căn cứ để đánh giá chứ không phải là những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước Bởi vậy, khi xem xét hiệu quả
xã hội quản lý nhà nước, khoa học quản lý nhà nước đưa ra 3 nguyên tắc chung làm
cơ sở xác định tiêu chuẩn hiệu quả trong đánh giá hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước"
Một là, hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước là hiệu quả xã hội thực tế của các hoạt động quản lý nhà nước
Hiệu quả quản lý nhà nước được xác định bởi tác động quản lý có ảnh hưởng thực tế đến đời sống xã hội, tạo ra biến đổi thực tế đối với sự phát triển xã hội mà ảnh hưởng và biến đổi thực tế trong sinh hoạt xã hội bao giờ cũng được biểu hiện trong hình thức xã hội cụ thể, mà con người có thể cảm nhận được ở từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội Đó còn là sự đáp ứng thực tế các nhu cầu cụ thể của xã hội ở thời điểm mà hoạt động quản lý nhà nước tiến đến mục tiêu của
Trang 12nó Bởi vậy, khi xem xét hiệu quả xã hội, trước hết phải đánh giá được hiệu quả thực tế của hoạt động quản lý nhà nước ở từng lĩnh vực cụ thể
Các lĩnh vực của đời sống xã hội liên hệ biện chứng với nhau tạo nên đời sống xã hội, do đó, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước ở từng lĩnh vực là một bộ phận gắn bó hữu cơ của hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước
Trong thực tế, đã và đang có nhiều cách xem xét, đánh giá hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước các hoạt động kinh tế Một số nhà kinh tế lấy chỉ số lợi nhuận làm thước đo đánh giá hiệu quả và từ chỉ số lợi nhuận để lý giải các vấn đề có liên quan Đương nhiên, chỉ số lợi nhuận có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả một quá trình sản xuất kinh doanh; song đối với xã hội, ngoài những lợi ích
mà nó nhận được từ lợi nhuận trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội còn phải trả giá cho những món lợi nhuận ấy, cả hiện tại và trong tương lai; và, nếu như tổng số chi phí và lợi nhuận đã thu được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thì quá trình tái sản xuất xã hội sẽ ra sao ở những giai đoạn tiếp theo?
Mỗi một sản phẩm không chỉ là kết quả của một quá trình sản xuất vật chất,
mà còn mang một ý nghĩa xã hội Điều chủ yếu là phải xét xem sản phẩm ấy được
xã hội tiêu dùng (sử dụng) như thế nào Bởi vì, chỉ trong quá trình sử dụng, chất lượng về mặt xã hội của sản phẩm mới được biểu hiện, ý nghĩa xã hội của sản phẩm mới được đánh giá là tích cực hay tiêu cực đến đời sống xã hội Nhìn chung,
để đánh giá hiệu quả xã hội thực tế của sản phẩm, người ta xem xét nó trong cả 3 giai đoạn: a) giai đoạn thiết kế, b) giai đoạn sản xuất, và c) giai đoạn sử dụng Cả 3 giai đoạn này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, khâu thiết kế và khâu sản xuất quy định việc sử dụng sản phẩm Nếu sản phẩm không đạt được hiệu quả mong muốn, tức là sản phẩm không làm phát sinh được hiệu quả trong giai đoạn sử
dụng, điều đó có nghĩa là: thứ nhất, hoặc ở giai đoạn thiết kế đã không phản ánh được nhu cầu xã hội, chất lượng thiết kế kém Thứ hai, hoặc ở giai đoạn sản xuất,
do chất lượng nguyên liệu kém, quy trình công nghệ lạc hậu, giá thành cao, chất lượng hàng hóa thấp… Như vậy, mỗi một sản phẩm có một điều kiện để sử dụng
Trang 13mà nếu vi phạm điều kiện đó thì cả khâu thiết kế và khâu sản xuất đều không thể hoạt động được Nói một cách khác, không thể làm ra sản phẩm bằng bất kỳ giá nào Sản phẩm chỉ bước vào giai đoạn sử dụng khi xã hội chấp nhận nó, tức là khi
nó đã có một ý nghĩa xã hội thực tế
Mọi sự vi phạm đến hiệu quả xã hội thực tế, nhất định sẽ phải trả giá, không hôm nay thì ngày mai, không ở thế hệ này thì sẽ ở thế hệ sau Có thể 1 sân Golf đem lại lợi nhuận gấp nhiều lần trồng lúa Song không phải vì thế mà biến hàng trăm ha ruộng trồng lúa thành sân Golf Cũng như vậy, có thể phá rừng trồng cây lương thực hoặc hồ tiêu cho lợi nhuận cao hơn Thế nhưng, điều gì sẽ xảy ra khi rừng bị chặt, phá? Rõ ràng là xã hội sẽ phải chịu những hậu quả xã hội của việc phá ruộng lúa, phá rừng, chứ không chỉ hưởng hiệu quả kinh tế do nó đem lại… Điều này, không chỉ ở lĩnh vực kinh tế Trong lĩnh vực giáo dục cũng vậy, hiệu quả
xã hội thực tế không chỉ căn cứ ở những con số hàng chục nghìn, trăm nghìn thanh, thiếu niên được đến trường; được tốt nghiệp trung học, đại học trong những ngôi trường mà chất lượng giáo dục ngày càng đi xuống nghiêm trọng Bởi vậy, cần phải xem xét, nghiên cứu tỷ mỷ, thận trọng và thật sự nghiêm túc trong việc đánh giá hiệu quả xã hội trên cơ sở hiệu quả xã hội thực tế của hoạt động quản lý nhà nước Trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, đây còn là một vấn đề rất quan trọng, bởi
vì chi phí cho sản xuất, văn hóa, giáo dục… xã hội đều phải gánh chịu Nếu hiệu quả sử dụng thấp hơn chi phí sản xuất và thiết kế, thì điều đó có nghĩa là không còn khả năng tái sản xuất xã hội Tài nguyên của đất nước không phải là vô tận, sự khai thác không có tính toán ngày hôm nay sẽ để lại cho con cháu mai sau một đất nước nghèo kiệt Dù trong tình huống nào, ở cấp nào, cũng không thể quản lý nhà nước bằng tâm lý của người tiểu chủ Tính toán hiệu quả xã hội thực tế trong mỗi hoạt động của quản lý nhà nước, đó là một công việc đầy trách nhiệm
Hai là, hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước được biểu hiện ở sự giải quyết thực tế các vấn đề xã hội trong từng quyết định, từng tác động của quản lý nhà nước
Trang 14Quản lý nhà nước dù ở trên lĩnh vực nào cũng đều có một mục đích chung - mục đích xã hội Mỗi một tác động tổ chức và điều chỉnh của quản lý nhà nước đều hướng tới việc giải quyết những vấn đề thực tế do xã hội đặt ra
Những vấn đề thực tế do xã hội đặt ra không chỉ là những vấn đề nhỏ nhặt,
cụ thể ở từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực; mà bao gồm những vấn đề có quy mô toàn xã hội Chẳng hạn, giữa vấn đề phát triển lực lượng sản xuất và vấn đề thiết lập quan hệ sản xuất mới trong kinh tế thị trường có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau theo cả 2 chiều tích cực và tiêu cực Cho nên, khi quản lý nhà nước đã không nhằm vào việc giải quyết các vấn đề thực tế do
xã hội đặt ra thì cũng không thể nói đến hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước
Xã hội còn đặt ra những vấn đề có tính thực tế trong tương lai, đòi hỏi quản
lý nhà nước phải tạo ra những tiền đề để giải quyết trong hiện tại Sự phát triển của
xã hội là một quá trình liên tục và có tính kế thừa; sự phân đoạn quá trình xã hội tuy chỉ mang ý nghĩa tương đối, nhưng đối với quản lý nhà nước, nó giúp cho việc xác định được mục tiêu, và do đó, vạch được kế hoạch, chương trình hoạt động quản lý nhà nước có ý nghĩa thực tế trong từng giai đoạn Các giai đoạn trong quá trình xã hội có mối liên hệ biện chứng: mỗi giai đoạn sau là kết quả vận động của giai đoạn trước và có những tiền đề từ giai đoạn trước Đó là những yếu tố cấu thành mô hình sơ khởi của giai đoạn sau được tạo ra từ giai đoạn trước và sẽ phát triển đầy đủ như một bộ phận cơ cấu của giai đoạn sau để tạo ra chính giai đoạn ấy Trong hoạt động quản lý nhà nước, những yếu tố như vậy không nảy sinh một cách ngẫu nhiên, tự phát: nó được dự báo một cách khoa học trên cơ sở phân tích những điều kện cụ thể, nhu cầu cụ thể và xu hướng phát triển nó trong tương lai Có thể nói là hiệu quả của quản lý nhà nước ở giai đoạn sau đã được chuẩn bị từ giai đoạn trước Chẳng hạn, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, trên cơ sở dự báo về nhu cầu phát triển của một ngành khoa học nào đó trong tương lai, quản lý nhà nước tiến hành những hoạt động chuẩn bị những điều kiện vật chất cho sự phát triển của
nó ở giai đoạn sau từ trong giai đoạn hiện tại, mặc dù những tác động tổ chức như
Trang 15vậy của quản lý nhà nước có vẻ như không nhằm vào việc giải quyết những vấn đề thực tế của đời sống xã hội hiện tại Cho nên, có thể việc thành lập một cơ sở nghiên cứu khoa học nào đó "hình như" chưa phù hợp với nhu cầu xã hội hiện tại, nhưng đối với tương lai, với giai đoạn phát triển sau, nó lại trở thành cái rất cần thiết Vấn đề là hiệu quả của một quyết định như vậy phụ thuộc vào tính thực tế trong khả năng dự báo về triển vọng của quản lý nhà nước
Ba là, bảo đảm tính bền vững của hiệu quả xã hội trong quản lý nhà nước
Hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước là kết quả của các tác động quản lý mang tính tổ chức và điều chỉnh, không phải là những hành động tùy tiện, ngẫu hứng mà là kết quả của quá trình nhận thức, phân tích, đánh giá các quy luật khách quan, nhu cầu khách quan của xã hội Trên cơ sở đó, các cơ quan nhà nước và các nhà quản lý đặt ra mục đích, nhiệm vụ cho quản lý; vạch ra kế hoạch, chương trình hành động quản lý; xây dựng các quan hệ tổ chức; xác lập quy trình vận động và thực hiện sự điều chỉnh trong quá trình vận động của đối tượng nhằm tiến đến mục đích quản lý đã đặt ra… Mỗi một quá trình quản lý nhà nước như vậy bao gồm một
tổ hợp các hoạt động có ý thức và phụ thuộc vào năng lực của con người Đó là những hoạt động có ý thức và năng lực của các cơ quan nhà nước và nhà quản lý Cho nên, khi xem xét hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước, cần đánh giá từ những hoạt động mang tính tích cực của cơ quan nhà nước và nhà quản lý Bởi vì, trong thực tế có những hiệu quả đạt được không phải từ những hoạt động tích cực của người quản lý, hoặc chủ yếu không phải từ những hoạt động tích cực ấy Chẳng hạn, được mùa có thể là do thời tiết thuận hòa, nhưng gặp khi thời tiết không thuận thì sao? Ngày nay, sức mạnh của tự nhiên vẫn còn lớn hơn ý chí của con người, nhưng nếu biết khai thác, lợi dụng sức mạnh ấy một cách thông minh, con người vẫn có thể gặt hái được những mùa màng tốt tươi trong những điều kiện thiên nhiên khác nhau Điều đó, lại một lần nữa phụ thuộc vào yếu tố năng lực của người quản
lý Bởi vậy, khi xem xét, đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý, cần phải loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên đã tham gia tạo nên hiệu quả ấy Có nhận rõ được những
Trang 16yếu tố ngẫu nhiên và mức độ của nó trong việc tạo ra hiệu quả của quản lý, mới đánh giá được thực chất các ảnh hưởng thực tế do các hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước và các nhà quản lý thực hiện
Hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước cũng không chỉ được tạo ra ở riêng một yếu tố nào, khâu nào trong một hoạt động quản lý nhà nước ; nó chỉ có thể là kết quả tổng hợp của tất cả các yếu tố, các mặt, các khâu của quá trình quản lý; từ việc xác định mục đích quản lý, vạch ra kế hoạch, chương trình hoạt động quản lý đến việc xây dựng các quan hệ tổ chức, xác lập quy trình vận động và thực hiện sự điều chỉnh… Có thể nói, các yếu tố tạo ra hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước đã nằm ngay trong các mặt, các khâu của một quá trình quản lý nhà nước, trong đó, tính mục đích xã hội của quản lý xuyên suốt quá trình hoạt động quản lý nhà nước Chẳng hạn, có thể xây dựng được một kế hoạch quản lý nhà nước rất chặt chẽ, rất hay; nhưng nếu kế hoạch ấy không phản ánh được những nhu cầu thực tế của xã hội, không phản ánh được mục đích xã hội ở giai đoạn mà quản lý nhà nước phải thực hiện, thì kế hoạch đó cũng không thể thực hiện được, không thể tạo ra được những hiệu quả thực tế Hoặc nữa, có thể xây dựng được hệ thống các quan
hệ tổ chức rất chặt chẽ, rất khoa học, và nhờ đó có thể đạt được những hiệu quả riêng biệt nhất thời nào đó, nhưng nếu những hiệu quả riêng biệt ấy không phản ánh được mục đích xã hội chung của quản lý nhà nước, thì điều đó chỉ có nghĩa là quản lý nhà nước đã bắt đầu đi chệch hướng; tính đồng bộ trong sự phát triển xã hội bị vi phạm; các mặt, các yếu tố tạo nên một chất lượng mới của sự tiến bộ bị chia cắt và tách rời nhau Điều này thường hay xảy ra trong lĩnh vực kinh tế, khi một hình thức tổ chức sản xuất được thiết lập chỉ để đáp ứng những lợi ích riêng, lợi ích nhất thời của lĩnh vực kinh tế Bởi vậy, khi quản lý nhà nước nhằm đến hiệu quả xã hội chung thì đòi hỏi có tính khách quan là, các cơ quan nhà nước và các nhà quản lý phải thiết kế được các yếu tố của hiệu quả ấy ở từng khâu, từng mặt trong một tổng hợp của hoạt động quản lý nhà nước
Trang 17Tính vững chắc của hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước còn phải được bảo đảm ở chỗ: các hoạt động quản lý nhà nước phải là kết quả của sự nỗ lực chủ quan của cơ quan nhà nước và nhà quản lý, trên cơ sở những khả năng và điều kiện vốn có của nó Nói một cách khác, hoạt động quản lý nhà nước vừa phải bảo đảm hiệu quả xã hội ở giai đoạn này, đồng thời phải bảo đảm tái sản xuất được hiệu quả
xã hội ở giai đoạn sau Muốn vậy, quản lý nhà nước không những phải loại trừ được những yếu tố vay mượn, yếu tổ giả tạo, hoặc là sự ngộ nhận về những khả năng và điều kiện trong hoạt động quản lý nhà nước Bởi vì, trong thực tế, đã có trường hợp để chứng minh hiệu quả của một mô hình tổ chức sản xuất nào đó, người ta đã đầu tư cho nó những máy móc tốt nhất, vật tư tốt nhất và những điều kiện về tài chính được ưu đãi nhất… rồi tổ chức tham quan giới thiệu rất ồn ào, nhưng rồi mô hình mẫu vẫn chỉ là "mẫu" và không thể xây dựng nổi một chiếc thứ hai Kết quả là ngay cả cái "mẫu" ấy cũng không thể phát triển được, khi nó không còn những điều kiện ưu đãi mà người ta đã dành cho nó, tức là khả năng tái sản xuất hiệu quả xã hội của quản lý nhà nước, trong những trường hợp như thế, cũng không còn nữa Và, sẽ là điều nguy hại nếu những nhà quản lý lại ngộ nhận những kết quả nhất thời nào đó, nhờ vào những điều kiện ưu đãi mang lại, để đi đến kết luận về một sự quản lý "sáng tạo", "tài giỏi" Tính thiếu trung thực bao giờ cũng làm kẻ thù của quản lý nhà nước
NÓ TRONG THỰC TIỄN XÃ HỘI
2.1 Nhận diện quyết định quản lý nhà nước
Quyết định quản lý nhà nước là sản phẩm thể hiện ý chí của cơ quan nhà nước được thông qua để thực hiện một mục đích, công việc nhất định, theo một trật
tự nhất định, có ý nghĩa bắt buộc, bao gồm: các mục đích và phương tiện nhằm thực hiện các mục đích đó; tổ chức hoạt động của các chủ thể và khách thể quản lý; thiết lập các mối quan hệ xã hội nhất định; điều chỉnh các hành vi xử sự của con người trong các quan hệ ấy
Trang 18Quyết định quản lý, đó là sự giải quyết của người quản lý trước một tình huống đang đặt ra; là phản ứng của cơ quan nhà nước hoặc người quản lý đối với các tình huống đã và đang xảy ra
Căn cứ vào tính chất, người ta phân loại các quyết định theo những tiêu
thức khác nhau
Thứ nhất, dựa vào phương pháp thông qua các quyết định quản lý, người ta
chia ra thành các quyết định thông qua theo chế độ tập thể và các quyết định thông
qua theo chế độ thủ trưởng
Thư hai, dựa vào thời hạn có hiệu lực của quyết định, người ta chia ra thành các quyết định có hiệu lực lâu dài, có hiệu lực trong thời gian nhất định và
có hiệu lực một lần
Các quyết định có hiệu lực lâu dài là những văn bản không nêu rõ thời hạn
có hiệu lực mà nó được sử dụng cho tới khi có văn bản khác thay thế
Các quyết định có hiệu lực trong thời gian nhất định là những quyết định chỉ rõ thời hạn có hiệu lực, tùy thuộc vào những sự kiện xảy ra trong thời hạn đó, thí dụ các quyết định thông qua trong thời gian chiến tranh, khi có tình huống khẩn cấp Đó là những quyết định có liên quan tới một sự kiện nhất định và tồn tại tới khi sự kiện đó kết thúc
Các quyết định có hiệu lực một lần là những quyết định được thông qua cho trường hợp cụ thể
Thứ ba, căn cứ vào hình thức biểu thị của quyết định người ta chia ra quyết định thể hiện dưới hình thức văn bản và quyết định bằng lời nói Trong quản lý nhà
nước, các quyết định không nhất thiết phải thể hiện dưới hình thức văn bản, mà còn thể hiện dưới hình thức nói trực tiếp cho người thực hiện hoặc qua phương tiện truyền thông Các quyết định nói trong quản lý nhà nước cũng có giá trị như các quyết định viết và cũng bắt buộc phải thực hiện
Trang 19Thứ tư, căn cứ vào nội dung và tính chất pháp lý, người ta chia ra loại văn bản mang tính chất quy phạm pháp luật (văn bản pháp quy) và những văn bản riêng biệt
Các văn bản pháp quy có hiệu lực trong thời gian dài, trên một quy mô lớn, tác động đến một số lượng đông đảo những người thực hiện Trong trường hợp các
sự kiện cần phải có sự điều chỉnh pháp lý, thì nhất thiết phải sử dụng những văn bản quy phạm pháp luật Cần phân biệt hai loại: một là các đạo luật và văn bản có tính chất luật (luật pháp); hai là các văn bản quản lý hành chính nhà nước là những văn bản pháp quy dưới luật do các cơ quan hành pháp ban hành (lập quy)
Các văn bản riêng biệt quy định các quan hệ pháp luật cụ thể giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cụ thể ấy Các văn bản này áp dụng phổ biến trong hoạt động thực tế của các cơ quan quản lý nhà nước Quyết định riêng biệt chỉ rõ đối tượng hoặc người phải thực hiện và thiết lập các mối quan hệ pháp luật cụ thể giữa cơ quan ban hành văn bản và các bên hữu quan
Thứ năm, căn cứ vào tính chất mệnh lệnh, các quyết định được chia ra thành quyết định cấm đoán, bắt buộc, và tạo khuôn khổ Các văn bản pháp quy và
các văn bản riêng biệt đều có thể mang nội dung cấm đoán hoặc cho phép thực hiện những quan hệ, những hành vi nhất định
Thứ sáu, căn cứ vào thẩm quyền ra quyết định, người ta phân ra thành:
- Đạo luật, pháp lệnh và các văn bản pháp quy khác của quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và của cơ quan thường trực của cơ quan đó
Trang 20Việc phân loại quyết định theo những tiêu thức trên giúp cho việc nghiên cứu, chuẩn bị và thông qua các quyết định quản lý nhà nước được chính xác và có hiệu quả
2.2 Yêu cầu đối với quyết định quản lý nhà nước
Để các quyết định quản lý bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý, cần phải tuân thủ các yêu cầu:
Thứ nhất, thẩm quyền của cơ quan hoặc cá nhân ra quyết định
Mỗi một quyết định quản lý nhà nước chỉ được thông qua trong giới hạn thẩm quyền của một cơ quan nhà nước tương ứng và phản ánh những mục đích mà pháp luật quy định Vì vậy, mỗi cán bộ, công chức quản lý nhà nước, đặc biệt là những cán bộ lãnh đạo cần phải hiểu rõ thẩm quyền, nhiệm vụ và mục đích đặt ra cho mình Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước xuất phát từ chức năng và quyền hạn của các cơ quan đó Các quyết định ban hành ngoài thẩm quyền của cơ quan đều là những văn bản không có giá trị về mặt pháp lý
Thứ hai, trình độ kiến thức và khả năng chuyên môn
Mỗi cán bộ quản lý phải nghiên cứu, nắm được các quy luật phát triển khách quan để làm tốt việc ra quyết định Cùng với việc hiểu biết các quy luật kinh
tế, quy luật tâm lý - xã hội, quy luật chính trị - tư tưởng và cơ chế tác động giữa các quy luật đó, cán bộ quản lý phải hiểu biết mức độ mà các quy luật đó phản ánh và tác động đến con người để có sự điều chỉnh phù hợp
Nguồn thông tin về các hiện tượng, quá trình, các quan hệ muốn tổ chức điều chỉnh có một ý nghĩa quan trọng Không ít trường hợp các quyết định quản lý được đưa ra trên cơ sở các nguồn thông tin không chính xác, không rõ ràng và không đầy đủ, cho nên các quyết định đó không thực hiện được chức năng tổ chức
và điều chỉnh Do đó, cán bộ quản lý phải có những thông tin kịp thời và chính xác
để xây dựng các quyết định đúng đắn và có chất lượng
Thứ ba, sự tham gia cuả nhân dân vào việc xây dựng các quyết định quản lý
Trang 21Để các quyết định có được nội dung phong phú, cần phải lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia vào chuẩn bị, thảo luận và xây dựng các dự thảo quyết định trước khi ban hành
Thứ tư, tính kịp thời, phù hợp và nhất quán của quyết định quản lý
Các quyết định quản lý chỉ có ý nghĩa và chỉ có thể thực hiện được vai trò
tổ chức, điều chỉnh khi nó được thông qua một cách linh hoạt đối với các tình huống, sự kiện xảy ra Trong thực tế có những trường hợp sự kiện đã xảy ra, nhưng quyết định chưa được thông qua, dẫn đến tình trạng có những sự kiện và tình trạng
xã hội không được điều chỉnh Tính kịp thời trong việc ra quyết định có ý nghĩa rất quan trọng Nếu quyết định thông qua chậm so với sự kiện thì không phát huy được vai trò điều chỉnh Nhưng ngược lại, nếu quyết định quá sớm thì vai trò của nó cũng bị giảm đi
Muốn điều chỉnh các quá trình xã hội, không phải chỉ một quyết định là giải quyết được mà có thể phải ban hành quyết định ở các cấp khác nhau, vì vậy, những quyết định phải quản lý về một vấn đề nào đó phải ăn khớp, phù hợp với nhau trong một chu kì, tức là các quyết định phải quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành một thể thống
Thứ sáu, chấp hành nghiêm ngặt mọi thủ tục ban hành quyết định
Mọi quyết định đều cần được chuẩn bị, xây dựng, ban hành theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định Pháp luật chỉ rõ những cơ quan nào có quyền
ra những loại văn bản quyết định nào, ai có quyền xây dựng các quyết định, trật tự xây dựng, những biện pháp được áp dụng, phải tham khảo ý kiến và bàn bạc với ai khi xây dựng dự thảo quyết định; những dự thảo nào phải đưa ra trưng cầu ý kiến
Trang 22nhân dân, thời gian xây dựng và thảo luận, hình thức thông qua theo chế độ tập thể hay chế độ thủ trưởng
Đối với mỗi loại văn bản quyết định đều có một thủ tục ban hành nhất định, nên cán bộ quản lý cần phải hiểu và chấp hành thủ tục đó
2.3 Ra quyết định quản lý nhà nước
Ra quyết định quản lý nhà nước là một quá trình gồm nhiều giai đoạn
Thứ nhất, xác định mục tiêu
Xác định mục tiêu là sự bắt đầu của việc xây dựng quyết định Đây cũng là công việc quan trọng và phức tạp, vì nó đòi hỏi sự phân tích tình hình đầy đủ và sâu sắc Xác định mục tiêu là xác định phương hướng của quyết định nhằm điều chỉnh mối quan hệ xã hội nào đó, trong mối liên hệ ràng buộc với các mục tiêu khác Trong công tác quản lý, có nhiều loại mục tiêu khác nhau, cho nên có nhiều loại quyết định phục vụ cho các mục tiêu đó:
a) Những quyết định giải quyết những mục tiêu cụ thể
b) Những quyết định chỉ ra trình tự các mục tiêu, thực hiện mục tiêu này là tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu khác
c) Những quyết định trung gian chỉ ra mục tiêu trung gian để thực hiện mục tiêu chính
d) Những quyết định giải quyết những mục tiêu nhỏ là những bộ phận của mục tiêu chính
Có những loại quyết định chấp hành và điều hành thực hiện các mục tiêu do cấp trên đề ra
Mục tiêu của quyết định là hướng của hành động, vì vậy, mục tiêu phải được xác định rõ ràng, cụ thể Các quyết định không thể dùng các từ ngữ chung chung như :"tăng cường", "hạn chế", "kiên quyết", "tích cực", v.v… mà phải cụ thể
Cơ quan ra quyết định phải chỉ ra được hướng hoạt động cụ thể, các hành vi cụ thể thực hiện mục tiêu đó Căn cứ vào mục tiêu, người ta có thể thấy phương hướng
Trang 23chính trị - xã hội, thấy trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa của người lãnh đạo và cũng qua đó có thể đánh giá người lãnh đạo hiểu biết vấn đề đến mức độ nào
Thứ hai, xây dựng dự thảo các quyết định quản lý
Xây dựng các dự thảo bắt đầu từ việc phân tích tình hình, đánh giá những kết quả và tồn tại của vấn đề cần giải quyết Khi xây dựng dự thảo quyết định, cần
so sánh các tình huống, các biện pháp của dự thảo, đề ra nhiều phương án khác nhau và cuối cùng chọn phương án tối ưu Mặt khác, phải nắm vững các văn bản hiện hành và thẩm quyền của cơ quan ra quyết định, phải xem dự thảo có phù hợp với pháp luật không Nếu thấy chưa đủ cơ sở pháp lý thì không thể ban hành quyết định được
Việc tìm kiếm, phân tích và lựa chọn phương án là khâu rất quan trọng trong quá trình xây dựng các dự thảo quyết định Để thực hiện việc đó, người lãnh đạo phải sử dụng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về từng lĩnh vực
Tìm kiếm và phân tích phương án và giai đoạn có tính sáng tạo Nó đòi hỏi năng lực, trí tuệ của mỗi cán bộ quản lý Năng lực và trí tuệ thể hiện sự nhạy bén trước các vấn đề, khả năng tư duy nhanh chóng, tìm ra được bản chất của vấn đề, nhìn nhận phát hiện những điều bất ngờ, dự đoán được sự tiến triển của tình hình Trong giai đoạn tìm kiếm và phân tích này, thông tin được đóng vai trò quan trọng, nó cho phép người lãnh đạo đối chiếu, so sánh với giai đoạn trước để tìm ra phương án tối ưu cho hiện tại
Thứ ba, ra quyết định là giai đoạn chọn lấy một trong những phương án đã
được phân tích Đây là công việc quan trọng nhất đối với người lãnh đạo Để ra quyết định được chính xác, người lãnh đạo cần tranh thủ ý kiến của tập thể, các chuyên gia, sử dụng các cán bộ pháp lý
Hình thức của quyết định cũng phải tuân theo những thủ tục nhất định Thông thường các quyết định quản lý gồm hai phần: phần viện dẫn và phần quyết định
Trang 24Phần viện dẫn là phần phân tích các sự kiện, các mối quan hệ xã hội cần
thiết cho việc thông qua quyết định quản lý Có phần viện dẫn đề cập đến những kết quả kiểm tra, đánh giá hoạt động của một cơ quan quản lý nhà nước, chỉ ra nguyên nhân tồn tại, các nhược điểm; cũng có phần viện dẫn nêu rõ chỉ thị của cấp trên Điều quan trọng là phần viện dẫn phải chính xác, cụ thể, có căn cứ, phản ánh các hiện tượng, các sự kiện về đối tượng của việc ban hành các quyết định quản lý
Phần quyết định giữ vai trò rất quan trọng Nó xác định đối tượng cần phải
thực hiện quyết định Phần này chỉ ra một cách chính xác, cụ thể bản chất và yêu cầu nội dung quyết định quản lý và nêu lên những biện pháp cụ thể để thực hiện quyết định đó
Trong quyết định quản lý, cần chú ý đến mặt ngôn ngữ của nó Các quyết định quản lý là những văn bản pháp lý Xét về tính chất, nội dung thì chúng quy định các quy tắc về hành vi hoạt động của con người ; quy định các mối quan hệ nhất định ; quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào mối quan hệ đó; đưa ra các chỉ thị có tính chất bắt buộc về một vấn đề nhất định Do đó, các quyết định phải được diễn đạt bằng một ngôn ngữ chính xác, rõ ràng, đúng ngữ pháp, theo một lối hành văn chặt chẽ Ngôn ngữ của quyết định phải là ngôn ngữ mang tính chất hành chính - pháp lý làm cho người đọc dễ hiểu và hiểu đúng tinh thần và nội dung của nó, không thể hiểu cách này hay cách khác đều được Để bảo đảm yêu cầu đó, người soạn thảo quyết định phải có kiến thức ngôn ngữ hành chính
Thứ tư, thông qua quyết định quản lý Tất cả các quyết định quản lý đều
được thông qua theo một thủ tục nhất định Nếu là quyết định tập thể thì phải được tập thể xem xét và thông qua theo đa số Để việc thông qua quyết định không mang tính hình thức, việc bảo đảm dân chủ đầy đủ để tập thể thảo luận là có ý nghĩa quan trọng Các quyết định của các cơ quan thẩm quyền chung có liên quan đến hoạt động của những cơ quan khác thì cần lấy ý kiến rộng rãi của những cơ quan hữu quan
Trang 25Các quyết định trong các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ thủ trưởng được thủ trưởng hoặc người được ủy quyền thông qua bằng hình thức ký quyết định hoặc phê chuẩn quyết định Tuy nhiên, trước khi thông qua các quyết định này cũng cần được tập thể thảo luận và thủ trưởng cơ quan phải xem xét những ý kiến đó trước khi thông qua để bảo đảm cho quyết định được chuẩn xác
Việc ký quyết định cũng phải tuân thủ quy định chung của luật pháp Các quyết định của cơ quan thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể thì người ký là người thay mặt tập thể đó và là người đứng đầu của cơ quan Nếu người phó ký thì phải là ký
"thừa ủy" quyền hoặc "ký thay" tùy theo vị trí của mình Các phó thủ trưởng chỉ có quyền "ký thay" và cấp dưới đó được ký "thừa lệnh" Những quyết định ký không đúng chức năng sẽ không có hiệu lực thực hiện
2.4 Thực hiện, kiểm tra, đánh giá quyết định quản lý nhà nước
Thực hiện quyết định quản lý nhà nước chính là việc biến các yêu cầu pháp luật, các điều kiện quy định, các quy tắc của nhà nước thành các tình huống quan
hệ xã hội trong thực tế đời sống ; đó là sự tác động quản lý lên các đối tượng bị quản lý Tính hiện thực của các quyết định quản lý được thể hiện ở hậu quả của việc thực hiện các quyết định đó Có những quyết định quản lý được thực hiện trong một quá trình dài, áp dụng nhiều phương tiện khác nhau Nhưng cũng có những quyết định ngay sau khi thông qua lập tức được thực hiện và kết thúc ngay
Để quá trình thực hiện quyết định tiến hành có hiệu quả, cần chú ý đến
những yếu tố sau đây:
1 Tổ chức triển khai quyết định nhanh chóng đến với người thực hiện
Các quyết định sau khi đã được thông qua, ký tên, đóng dấu thì phải lưu chuyển nhất định mới đến tay người thực hiện Qúa trình đó đòi hỏi phải có thời gian Nếu ở một khâu nào đó bị ách tắc, chậm trễ thì quyết định sẽ không được triển khai thực hiện kịp thời Vấn đề đặt ra không phải chỉ đơn giản về mặt thời
Trang 26gian mà quan trọng là các thủ tục ở các khâu phải được tiến hành nhanh gọn, chính xác phù hợp với yêu cầu thực hiện quyết định
2 Xác định vị trí, khối lượng công việc mà mỗi người thực hiện quyết định phải hoàn thành và những mối quan hệ giữa những người thực hiện Đồng thời, phải xác định thời hạn hoàn thành việc thực hiện quyết định đó
3 Trong thực tế có những quyết định được thực hiện một cách trực tiếp, nhưng cũng có những quyết định cần có những văn bản hướng dẫn, chi tiết hóa và
cụ thể hóa nội dung các nhiệm vụ thì mới thực hiện được Những văn bản hướng dẫn, cụ thể hóa quyết định của cấp trên cần được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tình hình, đặc điểm của địa phương và của ngành, từ đó đề ra những biện pháp thích hợp, chi tiết hóa từng nhiệm vụ cụ thể của mỗi đơn vị, mỗi con người
4 Thực hiện quyết định quản lý là biến các yêu cầu, các quy định, các nội dung trong quyết định thành các hành động thực tế Cho nên phải bảo đảm những điều kiện cần để quyết định được thực hiện Các phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính ghi trong quyết định đó, phải được giải quyết trên thực tế cho người thực hiện để họ hoàn thành nhiệm vụ
Việc thực hiện các quyết định có thể là sự chấm dứt, loại bỏ, triệt tiêu các quan hệ pháp luật đang tồn tại và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của đơn vị và cá nhân
Quyết định quản lý cũng có thể làm nảy sinh ra những quan hệ pháp luật mới, thí dụ quyết định về việc thành lập các cơ quan, đơn vị mới làm phát sinh những quan hệ mới trong thực tiễn
Khi đã quy định những quy phạm mới thì những quy phạm cũ được thay thế
; nếu không thì các quy phạm chồng chéo và mâu thuẫn nhau
Có những trường hợp các nội dung của quyết định chưa được thực hiện đầy
đủ và trọn vẹn, nhưng trên thực tế, các lý do để ban hành quyết định không tồn tại nữa, hoặc không cần thiết phải thi hành quyết định đó nữa thì vẫn xem như quyết định đó đã được thực hiện xong và chấm dứt sự tồn tại của nó
Trang 27Trong quá trình thực hiện quyết định quản lý nhà nước cần chú ý là trong nhiều văn bản, người ta quy định thời hạn hiệu lực và thời gian chấm dứt hiệu lực của nó Một khi thời hạn hiệu lực đã hết, mặc dù đối tượng điều chỉnh vẫn tồn tại, nhưng quyết định vẫn phải xem là không còn hiệu lực nữa
2.4.2 Kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý
Trước hết, cần phân biệt kiểm tra thực hiện các quyết định với kiểm tra pháp chế Kiểm tra pháp chế là công việc chung của nhà nước, được nhiều cơ quan
tổ chức thực hiện kiểm tra Còn kiểm tra thực hiện quyết định quản lý là công việc riêng của chính cơ quan ban hành quyết định quản lý đó, không một cơ quan nào khác có thể làm thay được Bởi vậy, các cơ quan ban hành quyết định quản lý phải
tự mình tổ chức hệ thống kiểm tra đối với việc thực hiện các quyết định của mình Kiểm tra là mối quan hệ ngược lại đối với các quyết định quản lý Trong quá trình kiểm tra, phải tìm được nguyên nhân của việc không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ các quyết định đó
Tiền đề của các mối quan hệ ngược lại trong kiểm tra đã được thể hiện ngay trong bản thân mỗi một quyết định quản lý Do đó, phải tiến hành kiểm tra ngay cả giai đoạn xây dựng dự án quyết định Phải xác định rõ là kiểm tra người phải thực hiện quyết định, xác định thời hạn phải thực hiện quyết định đó Thời hạn này phải phù hợp với thực tế, đủ điều kiện để cho người thực hiện hoàn thành nhiệm vụ Khi kiểm tra còn phải tính tới các phương tiện vật chất, kỹ thuật tổ chức bảo đảm cho việc thực hiện các quyết định theo đúng pháp luật nhà nước
Việc kiểm tra các quyết định quản lý phải được tiến hành ngay sau khi quyết định vừa được thông qua và trong suốt cả quá trình thực hiện Để tiến hành điều đó, việc tổ chức theo dõi, tập hợp thông tin thường xuyên để phân tích và kịp thời đưa ra những biện pháp hướng dẫn thực hiện có tác dụng rất quan trọng Có những quyết định trong quá trình thực hiện đòi hỏi phải được bổ sung thêm phương
Trang 28tiện, tăng cường cán bộ chuyên môn để thực hiện Nếu chỉ đợi đến khi quyết định thực hiện xong mới tiến hành kiểm tra thì không còn ý nghĩa nữa
Trong kiểm tra, việc tổ chức kiểm tra tại chỗ là rất cần thiết, cấp trên không thể chỉ dựa vào báo cáo của cấp dưới một cách thuần túy, vì cấp dưới có thể phản ánh không hoàn toàn và đầy đủ sự thật Và cuối cùng, trách nhiệm kiểm tra là trách nhiệm của thủ trưởng Khi hạ bút ký một quyết định quản lý là thủ trưởng cơ quan
đã phải xác định cho mình trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện quyết định đó Thủ trưởng không thể buông lơi, phó thác trách nhiệm đó cho bất cứ ai, mà phải tự mình tổ chức hệ thống kiểm tra đầy đủ
Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động quản lý là bảo đảm thực hiện được các quyết định đã thông qua Song nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa thật đầy đủ mà phải tính đến kết quả xã hội của việc thực hiện các quyết định quản lý đó Không phải bất cứ quyết định nào cũng đem lại kết quả tích cực mà có những quyết định đem lại hậu quả tiêu cực, không lường trước được Thí dụ, việc bắt tạm giam một người rồi người đó bị chết; điều đó sẽ dẫn đến hậu quả tiêu cực
Đánh giá một quyết định không thể chỉ dưới góc độ hệ quả pháp lý mà còn phải xem xét nó dưới góc độ hiệu quả kinh tế, xã hội và tâm lý Có nhiều quyết định sau khi thực hiện nhận được kết quả xấu vì không dự tính hết những điều kiện
cụ thể và đột biến Bởi vậy, không phải chỉ quan tâm đến việc quyết định có được thực hiện hay không, mà vấn đề quan trọng hơn là quyết định được thực hiện như thế nào, hiệu quả của nó ra sao? Cần quan tâm để các quyết định đạt được mục đích thúc đẩy sự phát triển xã hội Chỉ có xuất phát từ lợi ích đó mới có thể đánh giá được quyết định quản lý
Trong thực tiễn đổi mới, cải cách có nhiều quan hệ xuất hiện Nếu chỉ dùng biện pháp hành chính để xử lý các mối quan hệ này thì không thu được kết quả mong muốn Cho nên khi đánh giá các quyết định quản lý, phải xem xét một cách
Trang 29tổng hợp việc sử dụng các biện pháp hành chính, kinh tế, tâm lý - xã hội… để tìm
ra nguyên nhân thành bại và hiệu quả của quyết định
Việc đánh giá quyết định là cơ sở để ban hành các quyết định mới, cho nên
nó là một khâu không thể thiếu được trong quản lý
Trong hoạt động quản lý, thường xuyên xuất hiện những quyết định quản lý mới và luôn luôn có quyết định đang dự thảo, có quyết định đang thảo luận, có quyết định đang thông qua, có quyết định đang thực hiện, có quyết định đang được kiểm tra và có quyết định đang được đánh giá Đó là quá trình liên tục của quản lý nhà nước Người lãnh đạo cần tổ chức tốt quá trình đó Người lãnh đạo muốn có các quyết định tốt thì phải nắm được và thực hiện toàn bộ các giai đoạn của việc ra quyết định quản lý Người lãnh đạo phải xem xét đầy đủ từ khâu ban đầu là kiểm tra việc thực hiện quyết định và đánh giá hiệu quả của nó Chỉ có như vậy, người lãnh đạo mới quản lý được toàn bộ quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước
Trang 30Chuyên đề 2 VĂN BẢN PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH - ĐỐI TƯỢNG CHỦ YẾU CỦA
HOẠT ĐỘNG THANH TRA
Vũ Văn Chiến Tổng Biên tập Tạp chí Thanh tra
I- Hệ thống văn bản pháp luật và văn bản pháp luật về hành chính
1 Hệ thống văn bản pháp luật:
Hệ thống văn bản pháp luật có thể được chia thành: các văn bản qui phạm pháp luật và các văn bản áp dụng pháp luật Việc phân chia này được dựa trên phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng, thời gian có hiệu lực và mục đích của việc ban hành
a- Văn bản qui phạm pháp luật
Điều 1 Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi,
bổ sung năm 2002) qui định: “Văn bản qui phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các qui tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội theo định hướng XHCN” Văn bản qui phạm pháp luật có những đặc điểm sau:
- Đó là văn bản do những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được pháp luật qui định ban hành
- Văn bản qui phạm pháp luật chứa đựng những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
- Văn bản qui phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống đối với những trường hợp có sự kiện pháp lý xảy ra
Trang 31- Sự thực hiện văn bản không làm chấm dứt hiệu lực của nó
- Tên gọi, nội dung và trình tự xây dựng, ban hành các văn bản qui phạm pháp luật được pháp luật qui định cụ thể
- Được Nhà nước bảo đảm thực hiện
- Điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng XHCN
Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật và thẩm quyền ban hành bao gồm:
- Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết
- Văn bản do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành: Pháp lệnh, nghị quyết
- Văn bản do những cơ quan có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành để thi hành văn bản qui phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: + Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
+ Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ
+ Quyết định, chỉ chị, thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ + Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
+ Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
+ Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị-xã hội
+ Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản qui phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên Văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Trang 32- Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân
Pháp luật có hình thức, cơ cấu riêng, đó là các bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật ở nước ta được chia thành các ngành luật (lĩnh vực pháp luật) Ngành luật, là tổng thể các qui phạm pháp luật và chế định pháp luật, điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội nhất định Mỗi ngành luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng Đối tượng điều chỉnh là phương thức, cách thức tác động của các qui phạm pháp luật lên quan hệ xã hội Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật phải xuất phát từ tính chất, nội dung, qui luật phát sinh, vận động, phát triển của các quan hệ xã hội được ngành luật đó điều chỉnh
Mỗi ngành luật gồm nhiều chế định pháp luật Chế định pháp luật tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm những quan hệ xã hội gần gũi, có liên hệ mật thiết
Đơn vị nhỏ nhất của hệ thống pháp luật là qui phạm pháp luật Qui phạm pháp luật gồm ba bộ phận: giả định, qui định và chế tài
Hệ thống pháp luật Nhà nước ta đã trải qua quá trình hình thành, phát triển ngày càng được bổ sung, hoàn thiện hơn Hệ thống pháp luật gồm các ngành luật
cơ bản sau:
1- Luật Hiến pháp: Là tổng thể các qui phạm pháp luật cơ bản, điều chỉnh các
quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quan hệ giữa Nhà nước và công dân, qui định vị trí, chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy nhà nước, các nguyên tắc tổ chức
và hoạt động của cơ quan nhà nước Tóm lại, Luật Hiến pháp là tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản xuất hiện trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và mối liên hệ giữa quyền lực nhà nước với xã hội dân sự
Trang 332- Luật hành chính: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước
Các qui phạm pháp luật Luật hành chính có trong các luật, pháp lệnh và văn bản qui phạm dưới luật Nó qui định vị trí pháp lý, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức các
cơ quan hành chính nhà nước, qui định quyền tham gia quản lý nhà nước của các tổ chức xã hội và công dân, qui định về thủ tục hành chính và kiểm soát đối với quản
lý hành chính nhà nước
Quan hệ quản lý nhà nước do Luật hành chính điều chỉnh gồm một bên htam gia quan hệ hành chính bao giờ cũng là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, mang tính quyền lực nhà nước và bên khác trực thuộc vào quyền lực ấy Cho nên, phương pháp điều chỉnh của Luật hành chính là mệnh lệnh, quyền lực - phục tùng
3- Luật dân sự: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài
sản và nhân thân trong giao lưu dân sự; quan hệ sở hữu, quan hệ nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dân sự, quan hệ thừa
kế, quan hệ nhân thân: danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu trí tuệ…
Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ xã hội kể trên theo phương pháp tự nguyện - chủ thể quan hệ tự quyết định việc tham gia quan hệ; bình đẳng - không được lợi dụng tình thế khó khăn hoặc ép buộc sự tham gia quan hệ dân sự; tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm với nhau và cùng nhau chịu trách nhiệm trước pháp luật Nội dung của Luật dân sự rất phong phú, bao gồm các chế định: sở hữu, thừa
kế, hợp đồng dân sự và trách nhiệm ngoài hợp đồng, quyền tác giả, phát minh, sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp, quyền người tiêu dùng và các chế định liên quan đến nhân thân của các cá nhân
4- Luật tố tụng dân sự: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ hình thành trong quá trình xét xử các tranh chấp dân sự và quá trình thực hiện các quyết định của tòa án giải quyết tranh chấp dân sự
Trang 345- Luật hình sự: Là tổng thể các qui phạm pháp luật qui định về tội phạm và
hình phạt, mức hình phạt cụ thể tương ứng với từng hành vi phạm tội Đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm
6- Luật tố tụng hình sự: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ trong điều tra, xét xử và kiểm sát việc điều tra, xét xử; điều kiện điều tra, xét xử và kiểm sát quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng hình sự
7- Luật hôn nhân và gia đình: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ hôn nhân và gia đình Đó là các qui phạm qui định các điều kiện, thủ tục kết hôn, ly hôn, nhận con nuôi, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng, bố mẹ và con do sự kiện kết hôn và ly hôn… Luật hôn nhân và gia đình nhằm mục đích bảo đảm hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ, một chồng, bình đẳng nam nữ, xây dựng gia đình hạnh phúc vì lợi ích của bà mẹ và trẻ
em
8- Luật đất đai: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội hình thành trong việc sử dụng và bảo vệ đất đai Nhà nước thống nhất quản lý đất đai, có thẩm quyền cấp đất, trưng dụng và thu hồi đất Người được cấp đất chỉ được giao quyền sử dụng theo đúng qui định của Nhà nước Cùng với Luật đất đai, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường, nguồn nước Nó qui định về quyền sở hữu đặc biệt của Nhà nước với các đối tượng trên, đồng thời qui định quyền sử dụng và bảo vệ chúng
9- Luật lao động: Là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động
Các quan hệ xã hội kể trên rất đa dạng nên nội dung của Luật lao động rất phong phú, bao gồm: hợp đồng lao động, thỏa ước lao động, việc làm, học nghề, thời gian lao động và thời gian nghỉ ngơi, trách nhiệm và kỷ luật lao động, an toàn
Trang 35lao động; qui định về lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ công đoàn, giải quyết tranh chấp lao động, quản lý
về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật lao động
Các quan hệ lao động được điều chỉnh bằng phương pháp thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợpđồng, thoả ước lao động Các quan hệ xã hội liên quan đến lao động được điều chỉnh bằng cách Nhà nước qui định bắt buộc đối với người sử dụng lao động và người lao động
10- Luật kinh tế: Là tổng thể các qui phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý về tổ
chức và hoạt động kinh doanh Luật kinh tế sử dụng phương pháp xác lập quan hệ nhà nước với sản xuất-kinh doanh và phương pháp thỏa thuận trong các hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị sản xuất-kinh doanh
11- Ngoài những ngành luật của hệ thống pháp luật, Nhà nước ta còn một bộ phận pháp luật quốc tế có vị trí hết sức quan trọng Luật quốc tế bao gồm công
pháp quốc tế và tư pháp quốc tế
- Công pháp quốc tế là những nguyên tắc, chế định, qui định, qui phạm được các Nhà nước thỏa thuận ban hành hoặc công nhận Công pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực điều ước quốc
tế, ngoại giao và lãnh sự, dân sự, biển và đại dương, lãnh thổ quốc gia và quốc tế, ngăn ngừa và loại trừ vũ trang trong trường hợp có xung đột vũ trang, hợp tác kinh
tế giữa các quốc gia
- Tư pháp quốc tế là tổng thể các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản có tính chất quốc tế phát sinh trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hon nhân và gia đình, tố tụng dân sự Đó là các quan hệ: về địa vị pháp lý của người nước ngoài, về quan hệ tài sản có nhân tố quốc tế, về nghĩa vụ theo hợp đồng dân sự quốc tế, về quyền tác giả, phát minh, sáng chế có nhân tố quốc tế, về lao động quốc tế và về tố tụng dân sự quốc tế
Trang 36b- Văn bản áp dụng pháp luật:
Trong thực tế chấp hành pháp luật có những trường hợp nếu không có sự can thiệp của Nhà nước bằng hoạt động áp dụng pháp luật thì nhiều qui phạm pháp luật
sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng
Sự áp dụng pháp luật xảy ra trong các trường hợp sau:
- Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế do các chế tài pháp luật qui định đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
- Khi quan hệ pháp luật với những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được
- Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó, hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế Ví dụ: việc xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp…
áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước
Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật
áp dụng pháp luật có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà
nước Đặc điểm này biểu hiện ở các khía cạnh:
+ Đó là hoạt động chỉ do những cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền tiến hành Pháp luật qui định mỗi loại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện một
số hoạt động áp dụng pháp luật nhất định Trong quá trình áp dụng pháp luật, pháp luật là căn cứ pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình
Trang 37+ Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành theo ý chí đơn phương của các
cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị
Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động có hình thức, thủ tục được pháp luật
qui định chặt chẽ Pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình áp dụng pháp luật
Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các
quan hệ xã hội
Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo
Thứ năm, trong trường hợp thiếu pháp luật, để bảo vệ pháp luật, lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khoa học pháp lý đã đưa ra biện pháp áp dụng pháp luật tương tự
áp dụng pháp luật tương tự được chia làm hai loại: áp dụng tương tự qui phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật
áp dụng tương tự qui phạm pháp luật là sự giải quyết một vụ việc pháp lý cụ thể trên cơ sở qui phạm pháp luật không phải được tính cho trường hợp này mà cho một trường hợp tương tự
áp dụng tương tự pháp luật là sự giải quyết một vụ việc pháp lý cụ thể dựa trên nguyên tắc chung của pháp luật và ý thức pháp luật
Từ sự phân tích trên có thể khẳng định: áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua những cơ quan nhà
Trang 38nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những qui phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
Hình thức thể hiện cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật có một số đặc điểm sau:
- Văn bản áp dụng pháp luật do những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền, các tổ chức xã hội được trao quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước
- Văn bản áp dụng pháp luật có tính chất cá biệt Nó luôn hướng tới các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp cụ thể
- Văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế Nó phải phù hợp với luật và dựa trên những qui phạm pháp luật cụ thể Nếu không phù hợp thực tế thì nó sẽ khó được thực hiện hoặc thực hiện được nhưng kém hiệu quả
- Văn bản áp dụng pháp luật có những hình thức pháp lý nhất định như: bản
án, quyết định, chỉ thị…
Căn cứ vào nội dung và nhiệm vụ của văn bản áp dụng pháp luật, có thể chia chúng thành hai loại: văn bản xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý theo hướng tích cực và văn bản bảo vệ pháp luật
Như vậy, văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở những qui phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể mang tính tích cực của cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật
2- Hệ thống văn bản pháp luật về hành chính:
Trang 39Là hệ thống các văn bản pháp luật (bao gồm cả văn bản qui phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật) do các cơ quan hành chính nhà nước áp dụng, ban hành hoặc tổ chức thực hiện trong quá trình quản lý hành chính nhà nước (hay hành chính công)
Các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, các Bộ, UBND các cấp, các sở, phòng, ban, cục, vụ
Quản lý hành chính nhà nước là một loại hình hành chính gắn liền với hoạt động của các cơ quan thực thi quyền hành pháp
Hệ thống các văn bản pháp luật về hành chính bao gồm: Các văn bản qui phạm pháp luật (Hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định, chỉ thị, quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư, quyết định, chỉ thị của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị-xã hội; Nghị quyết của HĐND, quyết định, chỉ thị của HĐND và các văn bản áp dụng pháp luật dưới các hình thức: quyết định, thông báo, công văn… được ban hành trong quá trình quản lý hành chính nhà nước
II- Sự tác động của hoạt động thanh tra đối với các văn bản pháp luật hành chính
1- Cơ sở pháp lý để xác định sự tác động của hoạt động thanh tra:
Theo Luật Thanh tra năm 2004 đã qui định hai loại hình thanh tra hành chính
và thanh tra chuyên ngành
+ Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra hướng vào nội bộ các cơ quan nhà nước, thanh tra của các cơ quan cấp trên đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới nhằm xem xét, đánh giá hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua việc xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp luật, tinh thần trách nhiệm, chất lượng và hiệu
Trang 40quả công việc quản lý của các bộ phận, các cá nhân trong bộ máy nhà nước Đây chính là hoạt động thanh tra hành chính Mục tiêu của hoạt động thanh tra này là nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
+ Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra hướng đến các đối tượng bị quản lý ngoài xã hội nhằm bảo đảm cho các qui định của pháp luật trên mọi lĩnh vực phải được mọi doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tuân thủ và thực hiện Đây chính là hoạt động thanh tra chuyên ngành Mục tiêu của hoạt động thanh tra này là nhằm bảo đảm một môi trường pháp lý có kỷ luật, kỷ cương, công bằng, làm nền tảng cho sự phát triển của xã hội Theo tinh thần của Luật Thanh tra, các cơ quan Thanh tra theo cấp hành chính, bao gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện là những cơ quan Thanh tra thực hiện chủ yếu chức năng thanh tra hành chính Tại các Điều 15, 18 và 21 của Luật Thanh tra qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan Thanh tra đã thể hiện khá rõ ràng chức năng thanh tra hành chính của các cơ quan này
Điều 15 của Luật thanh tra qui định: Thanh tra Chính phủ thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Điều 18 Luật Thanh tra qui định: Thanh tra tỉnh thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của Giám đốc sở, Chủ tịch UBND quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh
Điều 21 Luật Thanh tra qui định: Thanh tra huyện thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của Trưởng phòng, ban thuộc huyện, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn
Như vậy, theo qui định của Luật Thanh tra, đối tượng chủ yếu của thanh tra hành chính là hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó có việc thực hiện và áp dụng pháp luật