Cho tới nay, Thị trường chứng khoán phát triển rất mạnh và trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường và nhất là n
Trang 1«CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC TRIỂN KHAI VÀ PHÁT TRIEN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM”
Hà Nội 12/1999
3650
1Uf PLAN
Trang 21 Lịch sử ra đời và các nguyên tác hoạt động
2 Vai trò của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế
3 Các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán
H Chứng khoán
_1 Khái niệm chung
2 So sánh cổ phiếu và trái phiếu:
HIL Các khái niệm cơ bản về thị trường tài chính và thị trường
chứng khoán
1 Tài chính và thị trường tài chính
2 Thị trường sơ cấp và việc phát hành chúng khoán
3 Thị trường thứ cấp
4 Các nguyên tắc hoạt động của TTCK
Chương 1I: TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI XÂY DỰNG TTCK Ở VIỆT NAM
I Tinh tất yếu và sự cần thiết khách quan hình thành TTCE
Việt Nam
1 Tổng quan kinh tế Việt Nam
2 Thực trạng thị trường vốn Việt nam
Trang 3_————_—
3 Sự cần thiết khách qưan thành lập thị trường chúng
II Lựa chọn mô bình va thuc tién thanh Jap FTCK Việt Nam 44
d Hình thành và phát triển các tổ chức trung gian 63
PHAT TRIỀN TTCK Ở VIỆT NAM
1 Chiến lược xây dựng và phát triển TC Việt Nam 79
2 Sự cần thiết phải trang bị hệ thống tin học ngay tir 72
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Ở mỗi quốc gia, vốn đầu tư là một trong những tiên để không thể thiếu được trong quá trình phát triển, nó là nhân tố quyết định tới hoạt động và hiệu quả phát triển các nghành kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật v.v Có thể nói vốn đầu tư là một trong những công cụ quan trọng trong việc tăng cường tiểm lực tài chính, đảm bảo sự ổn định tăng trưởng kinh tế, đồng thời góp phần củng cố và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Chính vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới rất coi trọng việc huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả
Một trong những biện pháp huy động vốn đầu tư hữu hiệu nhất cho
nền kinh tế của các nước là huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Hiện nay, ngay một số nước trong khu vực Châu á - Thái bình
dương đang gặp khủng hoảng tài chính -tiền tệ, nhưng thị trường chứng
khoán vẫn hoạt động rất sôi động
Tại Việt nam, Đại hội Đẳng toàn quốc lần thứ VI đã chủ trương đổi mới cơ chế kinh tế, chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng -
Xã hội chủ nghĩa Nước ta đã có những bước tăng trưởng kinh tế ban đầu đáng khích lệ Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là một đất nước đã phải chịu nhiều cuộc tan phá trong
chiến tranh như Việt nam, thì việc xây dựng và phát triển đất nước sẽ đồi
hỏi ngày cang phải có nhiều vốn hơn nữa
Nhận định được: tầm quan trọng của vốn trong việc phát triển kinh
tế đất nước, trong Nghị quyết Đại hội Đẳng toàn quốc lần thứ VIII, Đẳng
ta đã xác định rõ: "Vốn là chìa khoá để thực hiện công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước" Cụ thể, để đạt được mục tiêu là phải giữ tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân từ 8-!0% năm, thu nhập GDP trên đầu người tăng gấp đôi, chúng ta cần phải có khoảng 55 tỷ USD Trong khi đó, theo thống kê trong 5 năm 1991-1995, tổng số vốn đầu tư cả nước mới chỉ đạt
15 tỷ USD Vì vậy, vấn để đặt ra là chúng ta phải tận dụng triệt để mọi nguồn lực trong nước cũng như từ nước ngoài cho sự phát triển kinh tế
đất nước trong những năm tới
Trong nhiều năm qua, để có vốn, chúng ta vẫn chỉ dừng lại ở các
hình thức huy động như: huy động vốn tiết kiệm trong dân thông qua các
hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, nhận tiền gửi tiết kiệm có lỳ hạn hoặc không kỳ hạn thông qua hệ thống
ngân hàng và huy động vốn đầu tư bằng các hình thức tổ chức các
Trang 5đoanh nghiệp liên doanh, hợp đông hợp tác kinh doanh, đoanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và các loại viện trợ khác Fuy nhiên, kết quả đạt được hết sức khiêm tốn, hiệu quả thấp, chưa kiểm soát được đầy
đủ và chặt chẽ Điều đó phản ánh trình độ phát triển của thị trường vốn của nước ta còn thấp
Đề có thể tăng khả năng huy động được vốn tiết kiệm trong dân, thu hút vốn từ nước ngoài vào đầu tư và tận dụng triệt để các nguồn lực
khác, đã đến lúc chúng ta phải đẩy nhanh tiến trình xây đựng thị trường
chứng khoán Việc hình thành thị trường chứng khoán sẽ khắc phục được những khiếm khuyết mà các hình thức huy động vốn biện nay dang tồn tại, góp phần giải quyết các yêu cầu ngày càng tăng về vốn của các ngành
kinh tế-xã hội
Đề tài ”' Các giải pháp tiếp tục triển khai và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam ” được thực hiện nhằm nục tiêu hệ thống hoá một số vấn để lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán, phân tích thực
trạng thị trường vốn và thực tế quá trình xác lập thị trường chứng khoán ở
Việt Nam để từ đó để xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục triển khai và
phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trong quá trình triển khai, Ban chủ nhiệm để tài đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, cộng tác và tham gia nhiệt tình của các, Anh, Chị trong
và ngoài cơ quan Chúng tôi xin chân thành cấm ơn và mong tiếp tục
nhận được những giúp đỡ và những đóng góp quí báu trong thực tiễn
Ban chủ nhiệm đề tài
Trang 6CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Lịch sử phát triển và những đặc trưng của thị trường chứng khoán
1 Lịch sử ra đời và các nguyên tắc hoạt động
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất
sơ khai Vào giữa thế kỷ 15, ở những thành phố trung tâm buôn bán phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để trao đổi việc mua bán các vật phẩm hàng hoá Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, sau
đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ 15, để thuận
tiện hơn cho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ
thống nhất các quy ước và đân dân các quy ước được sửa đổi hoàn chỉnh
thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung cho mọi thành viên tham
gia " thị trường”
Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Tại đó có một bảng hiệu hình ba túi đa với một từ tiếng Pháp là "Bourse” tức là "mậu dịch thị trường” hay còn gọi là "Sở giao dich"
Vào năm 1547, thành phố 6 Bruges (Bi) mất đi sự phồn thịnh do eo
biển Even bị cát lấp, mậu dịch thị trường bị sụp đổ và được chuyển qua
thị trấn Auvers (Bi) Tai day, thi trudng phát triển rất nhanh và giữa thế
kỷ 16, một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến quan sát và về thiết lập một mậu dịch thị trường tại London (Anh), nơi mà sau này được gọi
là Sở giao địch chứng khoán London Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu
Thị trường ngày càng phát triển cả về lượng và chất với số thành
viên tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, theo tính chất tự nhiên, nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như:
Thị trường giao dịch hàng boá, thị trường bối đoái, thị trường giao dịch: các hợp đồng tương lai và thị trường chứng khoán
Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tự phát cũng tương tự ở Pháp, Hà lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây âu và Bắc Mỹ
Trang 7wer — ——¬
Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra sơ khai ngay cả
khi ở ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận
lệnh của khách hàng Ở Mỹ cho đến năm 1921, khu chợ này được chuyển
từ ngoài trời vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán chính thức được thành lập
Ngày nay, theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phương
thức giao dịch ở các Sở giao dịch chứng khoán cũng được cải tiến dần nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch Các Sở giao dịch đã
dan dan six dung ky thuật vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyển
dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn
hệ thống giao dịch điện tử
Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán Thế giới trải qua một
sự phát triển thăng trầm lúc lên xuống Vào những năm 1875 -1913, thị trường chứng khoán Thế giới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng
trưởng của nên kinh tế Thế giới lúc đó Nhưng "ngày thứ năm đen tối", ˆ
tức ngày 29/10/1929, đã làm cho thị trường chứng khoán Tây, Bắc âu và
Nhật bản khủng hoảng Cho mãi tới chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, các thị trường chứng khoán hồi phục dần và phát triển mạnh Đến năm
1987, các thị trường chứng khoán Thế giới lại điên đảo với "ngày thứ hai đen tối" đo: hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đương được yêu cầu của giao dịch, sụt giá chứng khoán ghê gớm, mất lòng.tin và phản ứng dây chuyển và hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm
1929 Theo quy luật tự nhiên, sau gần hai năm mất lòng tin, thị trường
chứng khoán Thế giới lại đi vào giai đoạn ổn định và phát triển đến ngày
nay Cứ mỗi lần khủng hoảng như vậy, giá chứng khoán của tất cả các thị trường chứng khoán trên Thế giới sụt giá kinh khủng tuy ở mỗi khu vực
và mỗi nước ở những mức độ khác nhau gây ra sự ngừng trệ cho thị
trường chứng khoán toàn cầu và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế mỗi nước
Cho đến nay Thế giới đã có khoảng trên 160 Sở giao dịch chứng
khoán phân tán khấp các châu lục bao gồm cả các nước trong khu vực
Đông Nam Á phát triển vào những năm 1960 -1970 và ở các nước ở Đông Âu như Ba Lan, Hunggari, Séc, Nga, và Châu Á như Trung Quốc vào những năm 1980 - đầu năm 1990
Tuy nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên Thế giới cho thấy phần lớn các thị trường chứng khoán sau khi thiết lập đều hoạt động có hiệu quả, ổn định và nhanh chóng phát triển vững chấc nhờ sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt về hàng hoá, luật pháp, con người , bộ máy quản lý và đặc biệt sự giám sat và quản lý nghiêm
4
Trang 8wee '
ngặt của Nhà nước Song, cũng có một số thị trường chứng khoán có sự trục trặc ngay từ ban đầu như thị trường chứng khoán Thái Lan, Inđônêsia, hoạt động trì trệ một thời gian dài do thiếu hàng hoá và do
không được quan tâm đúng mức Thị trường chứng khoán Philippine kém
hiệu quả đo thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất hoạt động của 2 Sở
giao dịch chứng khoán (Makita và Manila) Thị trường chứng khoán Ba Lan, Hungari gặp trục trặc do việc chỉ đạo giá cả quá cao hoặc quá thấp Nhưng dù sao, xét về toàn cầu thì hoạt động của thị trường chứng khoán quốc tế vẫn luôn luôn tăng trưởng
Việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Thế giới cho thấy rằng thị trường chứng khoán phát sinh, phát triển do những yêu cầu thiết yếu lịch sử và từ những đồi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường
Cho tới nay, Thị trường chứng khoán phát triển rất mạnh và trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường và nhất là những nước đang phát
triển đang cần thu hút luồng vốn lớn, đài hạn cho nên kinh tế quốc dân
2 Vai trò của thị trường chứng khoán trong nên kinh tế Không có nền kinh tế thị trường nào phát triển thịnh vượng mà không có đóng góp của thị trường chứng khoán Vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện ở những điểm chính sau đây:
- Thị trường chứng khoán cho phép thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp dài hạn qua việc thoả mãn các nhu cầu đối ngược nhau của các nhà đầu tư bằng việc tạo khả năng thanh khoản cao Hơn nữa, sự tồn tại của thị trường chứng khoán là yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì các nhà đầu tư nước ngoài thường coi hoạt động của thị trường chứng khoán nước đó như một yếu tố quan trọng để đưa ra quyết định
Trang 9- Thị trường chứng khoán là một phần quan trọng không thể thiếu
được và có phần quan trọng của thị trường tài chính, nó có thể làm tăng
tốc sự phát triển của ngành tài chính đất nước
- Thị trường chứng khoán tạo thói quen về đầu tư Sự phát triển của thị trường chứng khoán có sức hấp dẫn và tạo thói quen cho mọi người tham gia vào hoạt động của thị trường
- Thị trường chứng khoán điều tiết việc phát hành cổ phiếu Vai trò điều tiết của thị trường chứng khoán còn có thể hướng các đơn vị kinh
tế đầu tư vào các ngành hay lĩnh vực được khuyến khích bằng cách phát hành cổ phiếu của những đơn vị đã được đánh giá tương đối chính xác
- Thị trường chứng khoán là nguồn thu hút ngoại tệ qua việc bán chứng khoán cho các nhà đầu tư nước ngoài hay đầu tư gián tiếp của người nước ngoài có thể ở bất cứ số ngoại tệ nào mà họ có hay họ muốn
bỏ ra để mua cổ phần không nhất thiết phải đòi hỏi một mức vốn nhất
định như đầu tư trực tiếp vào một dự án
3 Các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán
Người đầu tư chứng khoán:
Là những người mua bán chứng khoán, gồm có: Các doanh
nghiệp, các công ty đầu tư tài chính, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các Quỹ đầu tư, Quỹ hưu trí và lực lượng rộng rãi nhất là tầng lớp dân chúng
Người phát hành chứng khoán:
Là người huy động vốn bằng cách in và bán các chứng khoán cho
người đầu tư Các chủ thể phát hành có thể là Chính phủ, các doanh nghiệp và một số tổ chức khác theo quy định
Người kinh doanh chứng khoán:
' Là người được pháp luật cho phép thực hiện các nghiệp vụ kinh
đoanh chứng khoán, bao gồm môi giới chứng khoán (nhận mua hệ và bán
hộ để hưởng hoa hồng), bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, mua và bán chứng khoán
cho chính mình để hưởng chênh lệch giá
w
Người tổ chức thị trường :
Trang 10Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việc mua
bán chứng khoán - hay còn gọi là Sở giao địch chứng khoán
Người quản lý và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán:
Tức là Nhà nước, người bảo đảm cho thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư, bảo đảm việc mua bán chứng khoán được công bằng, công khai, tránh
những tình trạng tiêu cực có thể xảy ra
Ngoài những đối tượng nêu trên, còn có các đối tượng tương hỗ quan trọng khác hoạt động trên TTCK, như:
Các tổ chức thanh toán bù trừ và lưu giữ chứng khoán, tổ chức
dịch vụ sang tên và đăng ký lại quyên sở hữu chứng khoán, trung tâm đào tạo người hành nghề chứng khoán, hiệp hội các nhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh đoanh chứng khoán
H Chứng khoán
1 Khái niệm chung
Nhìn chung, chứng khoán được định nghĩa là bằng chứng về quyển
sở hữu vốn hoặc bằng chứng nợ Trên cơ sở đó, có thể phân loại chứng
khoán thành hai loại: chứng khoán vốn và chứng khoán nợ Các chứng
khoán thể hiện quyển sở hữu bao gồm: cổ phiếu thường, chứng quyền,
bảo chứng phiếu và cổ phiếu ưu đãi Chứng khoán nợ là trái phiếu và các công cụ tín dụng khác do chính phủ hoặc công ty phát hành
a Chứng khoán vốn: chủ yếu là cổ phiếu
Cổ phiếu là một chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu
cổ phần của cổ đông đối với công ty phát hành Cổ phiếu có thể phân loại
thành nhiều tiêu chí khác nhau Nếu căn cứ trên quyền lợi cổ đông thì có
thể phân cổ phiếu thành 3 loại: Cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu thường: Cổ phiếu thường thể hiện quyền sở hữu được bỏ phiếu của một công ty cổ phần Mỗi cổ phiếu thường thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong công ty Số lượng cổ phiếu mà cổ đông nắm càng nhiều, quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty càng lớn Việc trả cổ
‡
7
Trang 11———— —— '-
tức, mức chia cổ tức cho loại cổ phiếu thường phải được Hội đồng quản
trị và nhiều khi đo Đại hội cổ đông công ty cổ phần quyết định tuỳ thuộc
vào từng công ty
Cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu ưu đãi cũng thể hiện quyền sở hữu trong một công ty Nó được gợi là cổ phiếu ưu đãi vì những cổ đông nắm loại
cổ phiếu này được hưởng một số ưu đãi hơn so với những cổ đông thường Những cổ đông ưu đãi có thể có quyền nhận cổ tức trước cổ đông
thường hay có quyền ưu tiên được nhận tài sản trước trong trường hợp
công ty bị giải thể
Tuy nhiên, không giống với các cổ đông thường, các cổ đông ưu
đãi thường không được bỏ phiếu bầu ra HĐQT và quyền hưởng lợi tức cổ phần bị giới hạn theo một số lượng nhất định
Cổ phiếu ưu đãi cũng được phân thành nhiều loại khác nhau:
Cổ phiếu ưu đãi tham dự và không tham dự chia phần:
Cổ phiếu ưu đãi không tham dự chia phần là loại chỉ được hưởng
lãi cổ phần ưu đãi, ngoài ra không được hưởng thêm bất cứ phần lợi
nhuận nào Ngược lại, cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần thì cổ đông
được hưởng một phần lợi tức phụ trội theo quy định khi công ty làm ăn
có lãi cao
Cổ phiếu ưu đãi tích lũy và không tích lũy:
Cổ tức trên cổ phiếu ưu đãi cũng có thể được tích lũy hoặc không
tích lũy Một cổ phiếu ưu đãi được tích lũy có nghĩa là nếu cổ tức không được công bố trả trong một năm nào đó thì cổ tức này sẽ được tích lũy hay cộng đồn Cổ tức gộp này phải được trả trước khi công bố trả cổ tức
cho các cổ phiếu thường Mặt khác, nếu cổ tức không được tích lũy và
công ty đã bỏ qua cổ tức của một năm nào đó thì cổ tức đó không phải
cộng thêm trước khi cổ tức thanh toán cho những cổ phiếu thường
Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi:
Là loại cổ phiếu ưu đãi có quyền chuyển sang một loại chứng
khoán khác của chính công ty đó Công thức để thực hiện việc chuyển
đổi cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi sang cổ phiếu thường do công ty quy định tại thời điểm cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi được phát hành
%
Trang 12Đi kèm với cổ phiếu còn có một số chứng khoán có nguồn gốc từ
cổ phiếu như:
Chứng quyền (RighÐ:
Chứng quyền là một quyên mua hay đặt mua cổ phiếu mới được phát hành tại một giá xác định (thường thấp hơn giá thị trường hiện hành) theo tỷ lệ thuận với số cổ phiếu mà họ đang sở hữu Chứng quyền thường
có thời hạn ngắn từ 2 tuần đến 30 ngày Trong thời gian đó người có
chứng quyển có thể sử dụng để mua cổ phiếu mới hoặc bán nó trên thị
trường chứng khoán
Thí dụ: Một công ty có 100.000 cổ phần nay muốn phát hành thêm
10.000 cổ phiếu mới Khi đó có tỷ lệ chuyển đổi là 1/10 - tức là cứ có 10
cổ phiếu cũ thì được mua 1 cổ phiếu mới Nói cách khác, có thể đùng 10 quyền mua để mua 1 cổ phiếu mới
Chứng khế ( hay trái quyén Warrant):
Một chứng khế gắn với một chứng khoán cho phép người giữ nó được quyển mua cổ phiếu thường theo một giá nhất định Giá xác định
trên chứng khế cao hơn giá thị trường hiện hành của cổ phiếu thường
Ví dụ: Một công ty A có cổ phiếu thường đang lưu hành với giá là
40$/1cổ phiếu Chứng khế phát hành cho phép người giữ nó mua cổ phiếu của công ty A với giá là 60§/lcổ phiếu vào bất kỳ thời điểm nào
cho đến ngày 31/12/2000 Nếu công ty A đang rất có triển vọng và người
ta đự đoán đến năm 2000 giá cổ phiếu của công ty có thể vượt mức 60$ ' thì chứng khế sẽ rất hấp dẫn Bởi vậy, người ta thường sử dụng chứng khế
đi kèm với trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi để làm cho việc chào bán lần đầu trở nên hấp dẫn hơn
Hợp đồng kỳ hạn:
Là một hợp đồng tài chính, trong đó hai bên cam kết chắc chắn mua hoặc bán một công cụ tài chính vào một thời điểm trong tương lai với giá được xác định trước vào thời điểm ký hợp đồng Người mua hoặc người bán phải gánh chịu mọi rủi ro hoặc mọi khoản lãi tuỳ thuộc vào khả năng phân tích, đánh giá thị trường
_ Hop déng lua chon:
Trang 13Theo hợp đồng lựa chọn, người mua quyền lựa chọn có quyền được
thực hiện quyền lựa chọn đó bằng cách trả cho người bán một khoản tiền
đặt cược Đổi lại, người bán phải gánh chịu mọi rủi ro do biến động giá của thị trường gây ra Còn người mua chỉ chịu rủi ro trong giới hạn đặt cược Quyền lựa chọn bao gồm quyền lựa chọn mua và quyền lựa chọn bán
Nhìn từ giác độ quản lý, chứng khoán vốn mang đặc điểm đặc
trưng là thể hiện quyền sở hữu công ty và việc phát hành, chuyển nhượng
nó đồng nghĩa với việc thành lập, phát triển công ty hay chuyển nhượng
sở hữu công ty Quản lý được chứng khoán vốn là đã quản lý được phần chính công ty Chính vì thế, những khía cạnh đòi hỏi có sụ quản lý của
Nhà nước là hình thức của chứng khoán vốn, các điều kiện cần ghi rõ trên
chứng khoán vốn, số lượng phát hành, mệnh giá, các điều kiện và các yêu
cầu về chuyển nhượng
b Chứng khoán nợ: Trái phiếu
Nếu như chứng khoán vốn mang đặc điểm thể hiện sở hữu công ty
như đã nói ở trên, thì chứng khoán nợ lại mang tính chất của một hợp đồng vay nợ Chính vì lẽ đó, sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền lại phải tập trung vào những khía cạnh bảo đảm pháp lý và tính thực thi nghiêm túc của hợp đồng đó Đó là: thời hạn của trái phiếu, lãi suất, phương thức trả lãi, yếu tố đảm bảo quyển và nghĩa vụ của người phát hành và cầm giữ trái phiếu Chứng khoán nợ có thể được phân thành hai loại chính là trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ
b.1 Trái phiếu công ty:
Là một chứng thư xác nhận nợ của một công ty đối với chủ nợ trong một thời hạn nhất định với lãi suất Trái phiếu công ty thường có thời hạn trung và ngắn hạn, được phát hành nhằm tăng vốn kinh doanh Trái phiếu công ty có nhiều loại như sau:
Trái phiếu vô danh
Tên trái chủ của trái phiếu vô danh không được đăng ký tại công ty
phát hành Trái phiếu này được thanh toán cho những ai mang nó, tức là
người chủ sở hữư trái phiếu đó Trái phiếu vô danh có gắn các cuống phiếu trả lãi, trái chủ cắt một cuống phiếu vào ngày trả lãi và gửi cho đại
lý của công ty để thanh toán
Trái phiếu ghi tên _
10
Trang 14were
Tên của trái chủ được đăng ký tại công ty phát hành Người có trái phiếu này không phải gửi các cuống phiếu cho đại lý thanh toán để nhận phần lãi của mình Mà thay vào đó, vào ngày đến hạn, người đại lý sẽ tự động gửi cho anh ta một tờ séc trả cho khoản lãi đó
Trái phiếu có thể thu hồi
Một số công ty có quy định trong trái phiếu một điều khoản cho phép họ mua lại trái phiếu trước khi đến hạn Thông thường, công ty chấp nhận trả cho người có trái phiếu theo giá gia tăng (tức là, lớn hơn mệnh giá của trái phiếu) khi công ty muốn mưa lại trái phiếu đó
Trái phiếu có thể chuyển đổi Trái phiếu chuyển đổi cho người sở hữu quyền đổi trái phiếu của mình sang một loại chứng khoán nào đó Chứng khoán này có thể là cổ
phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường của công ty phát hành
Trái phiếu bảo đảm
Cũng như những người đi vay khác, công ty thường đưa ra một thứ
có giá trị làm vật bảo đảm cho các khoản vay Khi công ty thực hiện điều này, ta nói rằng nó đã phát hành một trái phiếu có bảo đảm Có một số
Trái phiếu có tài sản cầm cố: một trái phiếu có tài sản cầm cố là việc công ty phát hành thế chấp bất động sản để đảm bảo khả năng thanh
toán nợ
Trái phiếu có tài sản thế chấp: công ty phát hành đưa ra các chứng
khoán dễ chuyển nhượng mà công ty sở hữu của người khác để bảo đảm
cho việc phát hành trái phiếu
Trái phiếu không bảo đảm Một công ty có khả năng tín dụng cao có thể phát hành trái phiếu chỉ trên uy tín của mình Những trái phiếu này được gọi là giấy nhận nợ
và công ty không phải thế chấp tài sản làm đảm bảo cho nó
Trang 15phát hành trái phiếu chính phủ thường theo những quy định riêng biệt,
không có nhiều yêu cầu khất khe như việc phát hành trái phiếu công ty
Việc bán trái phiếu chính phủ được thực hiện dưới hính thức đấu thầu
Trái phiếu chính phủ chuyển nhượng dé dang, thường có thời hạn dài và
giá cả ổn định Trái phiếu chính phủ có thể được phân thành nhiều loại:
Công trái: Là loại trái phiếu đo chính phủ phát hành để trực tiếp vay của dân
Trái phiếu kho bạc: là những chứng thư xác nhận khoản nợ của kho bạc đối với những ai cho kho bạc vay
Kỳ phiếu kho bạc: Phổ biến nhất là các loại 3 tháng và 6 tháng, các
kỳ phiếungắn hạn là những công cụ chiết khấu, thường không có mức lãi
suất cố định Các kỳ phiếu ngắn hạn thường được mua bằng một số tiền
và người mua sẽ nhận được một số tiền lớn hơn (bằng mệnh giá) khi đến
hạn Khoản chênh lệch giữa hai số tiền trên gọi là khoản chiết khấu, lãi
suất thu được chính là lãi suất chiết khấu
2 So sánh cổ phiếu và trái phiếu:
Biểu so sánh cổ phiếu và trái phiếu:
- Thể hiện quan hệ sở hữu: người phát
hành cổ phiếu bán quyền sở hữu công ty
Các cổ đông là người sở hữu công ty
- Người mua cổ phiếu nhằm mục đích
hưởng phần giá trị tăng lên của công ty
- Chỉ được hưởng lợi tức cổ phần sau khi
Hội đồng quản trị quyết định
- Không có kỳ hạn, người phát hành cổ
phiếu không phải trả vốn gốc
- Người sở hữu cổ phiếu có quyền bỏ
- Thể hiện quan hệ chủ nợ, con nợ: người
phát hành vay tiền từ các nhà đầu tư, tạo thành quan hệ chủ nợ, con nợ
- Người mua trái phiếu nhằm mục đích hưởng lãi suất
- Hưởng lãi suất cố định thanh toán theo từng bán niên
- Có kỳ hạn, đến kỳ trái phiếu được thanh toán theo mệnh giá
- Người sở hữu trái phiếu không có quyền
bỏ phiếu
4
12
Trang 161U Các khái niệm cơ bản về thị trường tài chính và thị trường chứng khoán
1 Tài chính và thị trường tài chính
a Tài chính
Về bản chất, tài chính được nhận biết bên ngoài như những ngưồn tài chính Những ngưồn lực tài chính bao gồm giá trị của cải xã hội ở đạng vật chất và tiềm năng
Chức năng của tài chính: tài chính có 2 chức năng cơ bản sau:
1 Chức năng phân phối
2 Chức năng giám đốc
b Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là tổng hợp các mối quan hệ mà qua đó ngưồn tài chính được chuyển từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn
Chức năng cơ bản nhất của thị trường tài chính là dẫn vốn từ người
dư thừa vốn tới người cần vốn, ngoài ra nó còn thể hiện chức năng giám
sát thông qua sự vận động của các ngưồn tài chính
c Phân loại thị trường tài chính
Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có thể phân loại thị trường tài chính như sau:
c.1 Dựa vào cách thức huy động vốn trên thị trường tài chính và
căn cứ cách thức sử dụng các công cụ tài chính ta có thị trường vốn nợ
Trang 17- Công cụ nợ dài hạn: là công cụ nợ có thời gian đáo hạn trên LÔ
năm
+ Thị trường vốn cổ phần
Là thị trường trong đó người cần vốn huy động vốn bằng cách phát
hành phát hành cổ phần thông qua việc bán các cổ phiếu Các cổ phiếu
này là quyền được chia phần trên lãi ròng và tài sản của các công ty phát
hành cổ phiếu
c.2 Căn cứ vào bản chất, chức năng và phương thức hoạt động của các chủ thể tài chính và các công cụ tài chính giao dịch trên đó, hệ thống tài chính được phân làm 3 thị trường co bản: Thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường vốn
+ Thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ là thị trường phát hành và mua bán lại các công
cụ tài chính ngắn hạn, thông thường dưới một năm như tín phiếu kho bạc, khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng, thỏa thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu
+ Thị trường hối đoái:
Tương tự như thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái là nơi giao dịch
các công cụ tài chính tương đối ngắn hạn, nhưng chúng được định giá bằng các loại đồng tiền khác nhau, và ở thị trường hối đoái cũng chỉ có
các giao dịch giữa các đồng tiền khác nhau mới được thực hiện
+ Thị trường vốn (Thị trường chứng khoán):
Thị trường vốn là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ tài chính có kỳ hạn trên ! năm hay chính là nơi giải quyết quan hệ cung- cầu về vốn dài hạn
Ba loại thị trường trên hình thành hệ thống thị trường tài chính Hoạt động của mỗi thị trường có ảnh hưởng, tác động tới các thị trường
kia Thị trường tiền tệ và Thị trường vốn muốn hoạt động có hiệu quả và phát triển thì phải có Thị trường hối đoái, ngược lại hai thị trường kia
phát triển và mở rộng sẽ thúc đẩy thị trường hối đoái hoạt động sôi động
hơn Ngoài ra, sự phát triển của Thị trường tiền tệ Hà cơ sở cho sự phát
14
Trang 18—
triển của thị trường chứng khoán, cũng như một Thị trường chứng khoán
phát triển tạo điều kiện cho Thị trường tiền tệ phat triển lên theo
c.3 Dựa vào quá trình lưu chuyển chứng khoán người ta chia
làm thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2
+ Thị trường cấp 1 (thị trường sơ cấp): là thị trường tài chính trong đó những phát hành mới của chứng khoán được tổ chức phát hành bán cho người mua đầu tiên
+ Thị trường cấp 2 (thị trường thứ cấp): là thị trường tài chính nơi diễn ra các hoạt động mua bán lại các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường cấp 1
Dựa vào phương thức giao dịch trên thị trường tài chính, thị trường
cấp 2 được chia làm 2 loại: Sở giao dịch và thị trường phi tập trung
2 Thị trường sơ cấp và việc phát hành chứng khoán
a Thị trường sơ cấp Các chứng khoán lần đầu tiên được bán ra thị trường được gọi là chứng khoán mới phát hành Thị trường mua bán chứng khoán mới phát hành được gọi là thị trường sơ cấp
Nếu đợt phát hành chứng khoán mới là đợt phân phối cổ phiếu lần đầu tiên của một công ty bán cho công chúng thì gọi là Chào bán cho Công chúng Lần đầu (initial Public Offering-IPO) Nếu đợt phát hành chứng khoán mới của một công ty là đợt phát hành chứng khoán bổ sung thì gọi là tần bán sơ cấp hay lần phân phối sơ cấp
b Phát hành chứng khoán
Việc phát hành chứng khoán được chia làm hai loại:
Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng Nói cách khác, việc phát
hành phải đạt tới một mức phát hành nhất định và một số lượng cổ đông nhất định mới được coi là phát hành ra công chúng
4
15
Trang 19Phát hành chứng khoán riêng lẻ: là việc phát hành chỉ được thực
hiện trong khuôn khổ một số nhà đầu tư nhất định, không tiến hành một
cách rộng rãi ra công chúng
Nhìn chung, việc phát hành chứng khoán ra công chứng phải chịu
sự chỉ phối của Luật chứng khoán và việc xin phép phát hành phải do cơ quan quản lý thị trường chứng khoán cho phép Sau khi phát hành trên thị trường sơ cấp, các chứng khoán có thể sẽ được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán theo quy định của Luật chứng khoán Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng được gọi là công ty đại chúng và phải chịu một chế độ báo cáo, chế độ cung cấp thông tin công khai và chế độ giám sát riêng theo quy định của Luật Chứng khoán Riêng phát hành chứng khoán riêng lẻ sẽ chịu sự điều tiết của Luật Công ty và không phải
là đối tượng giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán
Trước khi phát hành, người phát hành phải đăng ký việc bán chứng khoán với Ủy ban Chứng khoán Quốc gia Hồ sơ xin phát hành phải ghi
rõ những thông tin về người phát hành và việc sử dụng tiền thu được từ việc bán chứng khoán
b.1 Hồ sơ xin phát hành gồm có:
Hồ sơ đăng ký:
+ Bản sao các chứng từ liên quan đến việc đăng ký kinh doanh của
tổ chức phát hành chứng khoán cũng như các chứng từ liên quan đế việc
thành lập tổ chức phát hành Trong trường hợp nhà phát hành là quỹ đầu
tư thì ngoài các chứng từ trên còn phải có các hợp đồng với các cổ đông của quỹ
+ Điều lệ của tổ chức phát hành
+ Các báo cáo tài chính đã được kiểm toán (Bảng tổng kết tài sản,
báo cáo thu nhập )
+ Bản sao các hợp đồng chính đã được tham chiếu trong bản cáo
bạch
Thông cdo phat hank: (Ban cdo bach)
i
16
Trang 20— Bản cáo bạch phải chứa đựng các thông tin đầy đủ, chính xác, rõ ràng, giúp cho các nhà đầu tư có thể đánh giá được về tài sản có, tài sản
nợ, lỗ lãi, tình trạng tài chính, kế hoạch hoạt động kinh doanh của công
ty cũng như nắm được các quyển của chứng khoán, thu nhập và rủi ro
trong quá trình đầu tư
Ngoài ra, các bản cáo bạch phải nêu rõ thủ tục liên quan đến việc phát hành, phân phối, thanh toán chứng khoán
Hồ sơ xin phát hành:
Đơn xin phát hành
Hợp đồng bảo lãnh phát hành hoặc hợp đồng đại lý ban
Nghị quyết của đại hội đồng cổ đông về việc phát hành
b.2 Điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng:
Mỗi nước có những điểu kiện riêng cho việc phát hành chứng
khoán ra công chúng Tuy nhiên, nhìn chung, việc phat hanh phai bao đảm một số điều kiện cơ bản sau đây:
+ Quy mô về vốn: phải đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ tối
thiểu ban đầu Trong đó phải đạt được một tỷ lệ phần trăm nhất định về
- Những điểm lợi:
17
Trang 21+ Có khả năng thu hút được nguồn vốn lớn
+ Cơ cấu tổ chức, tổ chức quản lý, khả năng lập báo cáo tốt hơn
+ Tăng khả năng hấp dẫn với công ty nước ngoài, đối tác liên doanh
+ Dễ dàng trong việc vay vốn ngân hàng hay phát hành trái phiếu + Uư đãi về thuế: 5-20% chênh lệch giữa công ty
- Những bất lợi:
+ Phân tán và giảm bớt quyền sở hữu của cổ đông sáng lập
+ Phải tuân thủ chế độ báo cáo và tiết lộ thông tin chặt chế, khó
thực hiện giao dịch nội gián hơn và bị giám sát chặt chẽ hơn
+ Chi phi phát hành và niêm yết tốn kém ( thường chiếm từ 8-10% khoản tiền huy động)
b.4 Xác định giá phát hành
Có 3 phương thức xác định giá phát hành như sau:
- Thỏa thuận giữa người bảo lãnh phát hành và người phát hành
trên cơ sở đánh giá tình hình thị trường, lợi ích của người phát hành và
- Xác định giá bình quân gia quyền giữa những người trúng thầu
- Thỏa thuận giữa người phát hành và người bảo lãnh phát hành những có tham khảo giá trị thực và giá trị tương đối của công ty Cụ thể cách xác định như sau:
Giá trị thực + giá trị tương đối Giá bảo lãnh phát hành = -~ ~-~~7~~T~~~~~~~T~~TT~~T~~T~TT~~~~r=r==~=TTr
giá trị tài sản + khả năng sinh lời
Trong đó: Giá trị thựC = -— ~-~~~~~~~~~T~~TT~~Tnr~rT~TTTTTTTTT—TTTTTTT——”
- giá trị tài sẵn: tài sản có ròng/ số cổ phiếu dự định phát hành
- khả năng sinh lời = lợi nhuận/tỷ lệ sinh lời(ãi suất lnăm* 1,5) - giá trị tương đối được tính trên cơ sở so sánh với công ty cùng Tĩnh vực kinh doanh *
18
Trang 22- giá trị tương đối=giá cổ phiếu công ty so sánh*[đãi trước thuế và vốn của công ty phát hành/công ty so sánh) + ( tài sản ròng của công
ty phát hành/công ty so sánh)]/2 -
b.5 Quá trình phát hành
Trong vòng 20 đến 45 ngày, Uy ban Chứng khoán Quốc gia sẽ có trả lời cho phép hay không cho phép phát hành Trong thời gian xem xét (Cooling-Off-Period), người phát hành phân phát Bản Thông cáo Phat hành có viền đỏ trên trang bìa (Bản Thông cáo Phát hành Chưa Chính
thức) để tập hợp người mua
Khi Ủy ban chứng khoán cho phép phát hành, một bản Thông cáo phát hành chính thức sẽ được và phải được công bố và phát hành trong vòng 25 ngày kể từ ngày có hiệu lực đối với những chứng khoán giao dịch tại Sở giao địch chứng khoán Đối với những chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết tại Sở thì thời hạn phân phối là 90 ngày (nếu phát
hành lần đầu) và 40 ngày (nếu là lần phát hành sau)
Việc phát hành chứng khoán mới trên thị trường sơ cấp được tiến hành thông qua một tổ hợp (Syndicate) các ngân hàng đầu tư chứng khoán Đó là những công ty khinh doanh chứng khoán lớn, có uy tín và
có đủ điều kiện, được Ủy ban Chứng khoán Quốc gia cho phép thực biện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán Ngân hàng đầu tư chứng khoán và tổ hợp ngân hàng đầu tư chứng khoán giữ vai trò rất quan trọng trong việc nối liền giữa người phát hành và người mua chứng khoán Nó giúp người phát hành xác định khối lượng phát hành và giá cả dự kiến, hướng dẫn các thủ tục phát hành theo đúng quy định và điều quan trọng hơn là giúp cho nhà phát hành phân phối một cách tốt nhất khối lượng chứng khoán phát hành
Bên cạnh những người bảo lãnh phát hành, có một nhóm các công
ty môi giới chứng khoán chuyên phụ trách khâu bán chứng khoán sau khi được ngân hàng bảo lãnh phân phối Nhóm này cùng được hưởng một phần chênh lệch giá gọi là phần nhượng lại cho việc bán hàng Trong khi
đó, ngân hàng bảo lãnh phát hành được nhận một khoản chiết khấu hay chênh lệch giá Mức chênh lệch cao hay thấp tùy thuộc vào uy tín của
w
19
Trang 23_—_—_—— ”'—
người phát hành và số lượng phát hành cũng như đó là lần phát hành đầu
tiên hay đã có bán trước
Có các hình thức bảo lãnh phát hành như sau:
- Bảo lãnh hoàn toàn: Tức là cam kết mua toàn bộ chứng khoán phát hành cho đù có phân phối hết hay không;
- Cố gắng cao nhất: Tức là cam kết phân phối đến mức tối đa Trường hợp không hết sẽ trả lại cho người phát hành;
- Tất cả hay không: Tức là trường hợp ngân hàng bảo lãnh phát hành không phân phối được đến mức yêu cầu thì toàn bộ số lượng chứng khoán (chưa phân phối hay đã phân phối) sẽ bị hủy bỏ
loại trái phiếu này là ở chỗ Trái phiếu chiết khấu không trả lãi định kỳ
Người sở hữu Trái phiếu chiết khấu sẽ nhận được cả vốn gốc và lãi tương đương với mệnh giá ghi trên trái phiếu Ngược lại, Trái phiếu trả lãi thanh toán lãi suất định kỳ, thường là 6 tháng một lần cho người sở hữu
Việc phát hành Trái phiếu chính phủ được tiến hành chủ yếu trên
cơ sở đấu giá lãi suất (mặc dù đối với Trái phiếu chính phủ Mỹ trước những năm 1974, Trái phiếu trả lãi chủ yếu được đấu giá trên cơ sở giá chứ không không phải trên cơ sở lãi suất) Giữa các loại trái phiếu có
định kỳ và thời điểm phát hành khác nhau Thí dụ, Trái phiếu kho bạc
loại 3 tháng đấu giá định kỳ 1 tuần 1 lần vào Thứ hai Trong khi đó, trái
w
20
Trang 24phiếu 2 năm đấu giá hàng tháng và trái phiếu trên 2 năm đấu giá định kỳ
Phương pháp đấu giá: Có hai phương pháp đấu giá:
- Đấu giá theo kiểu Mỹ;
- Đấu giá theo kiểu Hà lan
Sự khác nhau giữa hai phương pháp có thể minh họa bằng thí dụ đơn giản sau:
Tên người đăng Mức đăng ký Công dồn | Lãi suất đăng ký
Trang 25- Nếu khối lượng phát hành là 600 triệu đô la Mỹ thì các đơn vị A,
B và C là những đơn vị trúng thầu
- Nếu theo phương pháp Hà lan thì mức lãi suất cao nhất trong những người trúng thầu (7,57%) là mức lãi suất chung áp dụng cho tất cả
những người trúng thầu
- Nếu theo phương pháp của Mỹ, người A sẽ được thanh toán theo
lãi suất 7,55%; người B sẽ theo lãi suất 7,56% và người C sẽ theo lãi suất 1,57%
Bên cạnh phương pháp đấu giá (được coi là phương pháp chủ yếu) như đã trình bày ở trên, một số nước còn áp dụng thêm một số phương pháp phát hành khác như sau:
- Phát hành qua tổ hợp các ngân hàng đầu tư: Theo phương pháp này, một tổ hợp các ngân hàng đầu tư lớn nhất sẽ đứng ra thảo luận mức lãi suất với Ngân hàng Trung ương Sau đó, toần bộ khối lượng phát hành
sẽ được tổ hợp đảm nhận và phân phối;
- Phương pháp bán lẻ: Ngân hàng Trung ương sẽ đứng ra bán lẻ
cho các nhà đầu tư
Thí dụ:
- Đối với Mỹ, 100% trái phiếu được phát hành qua đấu giá;
- Đối với Nhật bản, 60% Trái phiếu Chính phủ được phát hành thông qua đấu giá 40% còn lại thông qua tổ hợp;
- Đối với Đức, loại trái phiếu đưới 5 năm chủ yếu được phát hành qua đấu giá Loại trên 10 năm thì 80% được phát hành qua tổ hợp và 20% được phát hành qua đấu giá
Tuy nhiên, dù phát hành bằng phương pháp gì tất cả các loại Trái phiếu Chính phủ ở các nước đều do Ngân hàng Trung ương làm đại lý thay mặt cho Kho Bạc đứng ra tổ chức phát hành
_ đ, Phát hành trái phiếu công ty
+ +
2
Trang 26_——Tr>~
Việc phát hành trái phiếu công ty phải được đăng ký và có sự chấp thuận của Uy ban Chứng khoán Quốc gia
Thủ tục phát hành trái phiếu công ty như sau:
* Lựa chọn Ngân hàng bảo lãnh trưởng và ngân hàng tín thác Ngân hàng bảo lãnh trưởng sẽ đứng ra lập 1 tổ hợp các ngân hàng bảo lãnh để giúp người phát hành phân phối khối lượng trái phiếu Ngân hàng tín thác có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ tín thác và quản lý thế chấp cũng như thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ nhà đầu tư
* Chuẩn bị hồ sơ đăng ký xin phép Ủy ban Chứng khoán Quốc gia
* Quyết định các điều khoản phát hành:
- Xác định độ tín nhiệm tín dụng;
- Xác định khối lượng dự kiến phát hành;
- Xác định giá trái phiếu
Trong quá trình phát hành trái phiếu công ty, việc xác định độ tín nhiệm tín dụng (hay xếp hạng tín dụng) là khâu đầu tiên rất quan trọng, đặc biệt là việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế Mỗi nước có những tổ chức chuyên xếp hạng tín dụng riêng Tuy nhiên, việc phát hành trên thị trường quốc tế phải được xếp hạng bởi những tổ chức mang tính chất quốc tế mà mọi người déu biét dén nhu Moody's, Standard and Poor's, Fich's Investment Service va Duff and Phelps., Inc Cac té chic này có đủ uy tín để xếp hạng tín dụng cho cả một quốc gia, các tổ hợp
Việc xếp hạng tín dụng cho một công ty hay một quốc gia sẽ mang
tại những lợi ích sau:
- Giúp cho các nhà đầu tư tin tưởng hơn đối với các nhà phát hành
mà họ không có sự hiểu biết đầy đủ Nhờ đó giúp cho nhà phát hành mở rộng hơn khả năng huy động vốn
- Giúp cho nhà phát hành có thể huy động vốn với giá rẻ hơn khi
chưa được xếp hạng
- Góp phần bảo vệ các nhà đầu tư khi đầu tư vào trái phiếu
Trong quá trình xác định uy tín tín dụng của một quốc gia, người ta
thường tập trung vào 2 nhóm rủi ro chính:
23
Trang 27- - Rủi ro chính trị: đề cập đến sự sẵn sàng của một quốc gia trong việc thanh toán khoản nợ đúng hạn, trong đó đề cập đến các yếu tố sau:
+ Hệ thống chính trị;
+ Quan hệ quốc tế;
+ Môi trường xã hội
- Rủi ro kinh tế: đề cập đến các yếu tố sau:
+ Tình trạng kinh tế đối ngoại; ,
+ Cán cân thanh toán;
+ Triển vọng kinh tế
+ Thực trạng quản lý kinh tế
+ Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng
Cu thé các thông tin sau đây các tổ chức xếp hạng sẽ xem xét:
Hệ thống chính trị:
— Hình thức nhà nước;
~ Cơ cấu lãnh đạo;
— Khả năng hòa nhập với cộng đồng quốc tế
Môi trường xã hội: — Mức sống và phân phối thu
Trang 28
— Tỷ lệ và hình thức tăng trưởng kinh tế
Rui ro kinh té: — Tình trạng tài chính đối ngoại;
- Mức độ và cơ cấu nợ nước
ngoài;
— Gánh nặng trả nợ;
— Dự trữ ngoại tệ quốc tế
Tiềm năng kinh tế: — Dự đoán kinh tế dài hạn;
— Cán cân thương mại
3 Thị trường thứ cấp
Sau khi các chứng khoán được bán ở thị trường sơ cấp, chúng sẽ
được mưa bán ở thị trường thứ cấp Trên thị trường thứ cấp, lợi nhuận thu
được từ việc bán chứng khoán thuộc về nhà đầu tư và những người buôn
bán chứ không thuộc về công ty phát hành chứng khoán
Thị trường thứ cấp bao gồm các Sở Giao dịch Chứng khoán (tại sàn hoặc không có sàn) và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) Sở Giao dịch Chứng khoán đại diện cho thị trường giao địch theo phương thức đấu giá trong đó những người mua và những người bán cạnh tranh giao dịch với nhau trên cơ sở đó hình thành giá cả cạnh tranh Thị trường
OTC dai dién cho một thị trường thương lượng, nơi mà một người bán
thương lượng với một người mua
a Sở giao dịch chứng khoán
a.1 Hình thức tổ chức của sở giao dịch chứng khoán
Hầu hết sở giao dịch chứng khoán của các nước được tổ chức đưới
hình thức một công ty cổ phần với sự tham gia của các công ty chứng
khoán thành viên, mặc dù rằng có một số ít nước trong thời gian đầu sở giao dịch chứng khoán do chính phủ sở hữu
:- a2, Thành viên của sở giao dịch chứng khoán
*
25
Trang 29Thành viên là các tổ chức hay cá nhân được Hội đồng quản trị của
SỞ giao dịch chứng khoán công nhận là thành viên của sở Mỗi sở có một
số quy định riêng về tiêu chuẩn thành viên, có sở công nhận cá nhân là thành viên, có sở quy định bắt buộc thành viên phải là pháp nhân
Thanh viên của sở giao dịch chứng khoán thường có hai loại chính,
đó là các nhà môi giới và các nhà giao dịch
a.3 Các quy định niêm yết chứng khoán
Các chứng khoán, sau khi được Ủy ban chứng khoán quốc gia cho phép phát hành, sẽ phải thực hiện thủ tực đăng ký niêm yết trước khi được giao dịch mua bán tại Sở giao địch chứng khoán Mỗi một sở giao dịch chứng khoán sẽ có một số tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán riêng
do Sở giao dịch chứng khoán ban hành trên cơ sở các tiêu chuẩn khung của Ủy ban chứng khoán quốc gia
a.4 Giao dịch trên sở giao địch chứng khoán
Dù cho mỗi sở có những đặc điểm và quy định riêng, nhưng nguyên tắc mua bán luôn luôn nhằm mục đích đảm bảo công bằng đối với tất cả những người tham gia giao dịch thông qua đấu giá công khai Tuy nhiên, các sở giao địch vẫn có những quy định riêng về giao dịch lô lớn để tránh gây những biến động giá cả bất thường- như cho phép các
bên mua bán tự thương lượng đối với những giao dịch có giá trị lớn hơn một giới hạn nào đó và sau đó chỉ cần thông tin qua sở giao dịch
Trên thế giới từ trước đến nay có hai hệ thống giao dịch là hệ thống đấu giá theo lệnh và hệ thống đấu giá theo giá:
- Hệ thống đấu giá theo lệnh:
Được áp dụng ở nhiều nước châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ và các nước châu Á như Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Nhật Bản Trong hệ thống này, người chuyên gia đấu giá cân đối các lệnh mưa và bán với giá định trước và sau đó công bố thị giá chính thức - đó gọi là so khớp lệnh Việc so khớp có thể theo phương thức liên tục hay gián đoạn tùy theo điều kiện của từng thị trường
`
26
Trang 30- Hệ thống đấu giá theo giá:
Hệ thống đấu giá theo giá liên quan đến hoạt động của những
người tạo thị trường Họ liên tục định ra giá đặt mua và giá chào bán mà
với những giá đó họ mua hay bán chứng khoán Khoản chênh lệch giữa
giá mưa và giá bán chính là lợi nhuận của những người tạo thị trường Để
đạt được lợi nhuận, những người tạo thị trường luôn phải cö sẵn tiền vốn
và nhiều khi họ phải chấp nhận rủi ro
b Thị trường phi tập trung
b.1 Địa điểm giao dịch
Khác với Sở giao dịch chứng khoán, thị trường phi tập trung không
có sàn giao dịch Thay vào đó, các công ty chứng khoán buôn bán chứng ©
khoán trên thị trường này tiến hành giao dịch với nhau thông qua mạng
lưới điện thoại và vi tính rộng lớn Tại một số nước mà thị trường phi tập
trung đã phát triển, tuy không có sàn giao dịch nhưng để thuận tiện, hiệp hội những nhà giao dịch chứng khoán quốc gia thường lắp đặt một hệ thống yết giá tự động cho các thành viên của mình
b.2 Quy mô của thị trường
Việc buôn bán chứng khoán trên thị trường phi tập trung được tiến hành trên nhiều địa điểm khác nhau nên người ta không thể biết chính
xác quy mô của thị trường Những giao dịch mua bán trên thị trường phi
tập trung thường là giao dịch có doanh số lớn giữa các ngân hàng, công
ty tài chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu
tư và một số tổ chức tài chính khác
b.3 Các loại chứng khoán được mua bán
Trên thị trường phi tập trung có nhiều loại chứng khoán được giao dịch hơn là trên Sở giao dịch chứng khoán, thậm chí các chứng khoán được niêm yết trên sở giao dịch cũng có thể được buôn bán trên thị trường phi tập trung Những chứng khoán được giao dịch trên thị trường
phi tập trung có thể bao gồm cổ phiếu của các công ty cổ phần, các
chứng khoán địa phương và Chính phủ, chứng khoán nước ngoài
27
Trang 31b.4 Thành viên của thị trường
Thành viên của thị trường phi tập trung có thể kinh doanh trên một lĩnh vực nhất định của thị trường phi tập trung hay hoạt động trên tất cả
các lĩnh vực Một công ty chứng khoán phi tập trung có thể là một trong các loại sau:
1 Ngân hàng đầu tư chứng khoán
2 Công ty trái phiếu
3 Công ty chứng khoán phi tập trung
4 Nhà môi giới trung gian
b.5 Các quy định trên thị trường phi tập trung
Mỗi công ty muốn giao dịch trên thị trường phi tập trung đều phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và phải cam kết thực hiện đúng các quy định Thông thường những thành viên tham gia giao dịch trên thị trường phi tập trung thành lập một hiệp hội riêng Mục đích của hiệp hội là ban hành, quản lý và củng cố các quy tắc để đảm bảo công bằng trong giao địch Một thành viên mới muốn tham gia hiệp hội thì phải đáp ứng các tiêu chuẩn do hiệp hội quy định và sẽ được sử dụng
hệ thống yết giá của hội cũng như được cung cấp các thông tin cần thiết khác
b.6 Giao địch trên thị trường phi tập trung
Việc buôn bán chứng khoán trên thị trường phi tập trung được tiến hành thông qua thương lượng, mặc cả giữa các bên
b.7 Yết giá trên thị trường phi tập trung
Giá yết của người tạo thị trường cho một loại chứng khoán gồm có
giá đặt mưa và giá chào bán Giá đặt mua là giá cao nhất mà người tạo thị
trường sẵn sàng trả cho một loại chứng khoán nhất định Giá chào bán là giá thấp nhất một người tạo thị trường sẽ bán một loại chứng khoán nhất định Chênh lệch giữa giá chào bán và giá đặt mua gọi là khoản chênh lệch giá
\
28
Trang 32c Thị trường kỳ hạn
Thị trường kỳ hạn xuất hiện do nhu cầu của kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường với nhiều rủi ro và bất trắc làm cho những nhà kinh doanh suy nghĩ đến một hình thức bảo hiểm tài sản và một số người thì lại nghĩ đến việc lợi dụng những rủi ro đó để kiếm lời, đó là giao dịch kỳ
hạn
c.1 Hợp đồng giao hàng
Một hợp đồng mua bán có kỳ hạn là một thỏa thuận giữa người mua và người bán cho một lần giao hàng trong tương lai, hợp đồng này quy định rõ giá cả và thời hạn giao hàng Như vậy, nó cho phép những người tham gia mua bán có cơ hội để lập kế hoạch trước
Các hợp đồng tài chính, đây là loại hợp đồng mua bán có kỳ hạn mới nhất, trong đó đối tượng của hợp đồng là các công cụ tài chính như
trái phiếu, cổ phiếu
c.4 Giao dịch mưa bán
\
29
Trang 33_—
——'
Một giao dịch mua bán có kỳ hạn diễn ra trong phạm vi một sở giao dịch, giữa những người môi giới Những người môi giới này là thành viên của sở giao dịch Người môi giới đại điện cho một người mua sẽ đưa
ra đề nghị với người môi giới đại diện cho người bán Một hợp đồng mua bán có kỳ hạn được ký kết khi hai người môi giới thỏa thuận được các
điều kiện
c.5 Những người sử dụng thị trường mua bán có kỳ hạn
Có hai người sử dụng thị trường mua bán có kỳ hạn là người đầu cơ
và người bảo hiểm vốn Người bảo hiểm vốn sử dụng thị trường để bảo
vệ giá cả cho tài -sản của họ trong khi ngừơi đầu cơ lại chấp nhận rủi ro
để kiếm lợi
c.6 Cơ quan quản lý nhà nước - Ủy ban giao dịch kỳ hạn
Ở một số nước, người ta nhập Ủy ban chứng khoán và Ủy ban giao dịch kỳ hạn làm một để quản lý cả thị trường chứng khoán và thị trường giao dịch có kỳ hạn nhưng cũng có những nước Ủy ban giao dịch chứng
khoán và Ủy ban giao dịch kỳ hạn được tách riêng
c.7 Hiệp hội của những nhà giao dịch trên thị trường kỳ hạn
Hiệp hội này do những nhà giao dịch chuyên nghiệp lập ra để bảo đảm trật tự và quy củ trong giao dịch
4 Các nguyên tác hoạt động cha TTCK
a Nguyên tắc công khai:
Tất cả các hoạt động trong lĩnh vực phát hành chứng khoán ra công chúng đều phải công khai Công khai về hoạt động của Nhà phát
hành, công khai về các loại chứng khoán được chào bán, chao mua, cong
khai về giá cả, số lượng chứng khoán được mua,bán
b Nguyên tắc trung gian mua bán:
-_ Mọi hoạt động mua, bán chứng khoán đều phải qua môi giới để
đắm bảo sự tin cậy của thị trường, tránh sự giả mạo, lừa đảo
‡
30
Trang 34c Nguyên tắc thị trường :
Mọi hoạt động mua, bán chứng khoán đã phát hành rộng rãi ra
công chúng phải được tập trung vào Sở giao dịch chứng khoán để bảo
đâm việc hình thành giá cả được công bằng, hợp lý
d Nguyên tắc đấu giá:
Mới việc mua bán chứng khoán đều phải theo nguyên tắc đấu giá
31
Trang 35-CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI XÂY DỰNG TTCK Ở VIỆT NAM
L Tính tất yếu và sự cần thiết khách quan hình thành TTCK Việt Nam
1 Tổng quan kinh tế Việt Nam
Trải qua hơn mười năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu hết sức to tớn, giải phóng được các nguồn lực phát triển và từng bước xây dựng cơ sở vững chắc cho tăng trưởng dài hạn Một trong những tiền đề quan trọng và cần thiết nhất trong giai đoạn hiện nay là huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất, muốn vậy phải thiết lập một hệ thống kênh trung gian tài chính đủ mạnh để chuyển vốn từ những người tiết kiệm sang khu vực kinh doanh Hệ thống kênh trưng gian này quan trọng nhất là các thị trường tài chính, bao gồm ba thị trường cơ bản: Thị trường tiền tệ, Thị trường hối đoái, và Thị trường chứng khoán
Việc phát triển và tăng cường khả năng của các thị trường tài chính
là hết sức quan trọng khi chúng ta bước vào thời kỳ mới công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước với nhu cầu hết sức lớn về vốn; tuy nhiên, tới
thời điểm này, Việt nam mới có thị trường tiền tệ và thị trường hối đoái ở
mức độ sơ khai và thị trường chứng khoán thì đang còn trong giai đoạn xây dựng
Xuất phát từ như cầu và thực tế, chúng tôi chọn nghiên cứu chương trình: “Những vấn đề cơ bản trong tổ chức và vận hành các thị trường tiền tệ, thị trường vốn đến năm 2000 ở Việt nam” nhằm phát huy những thành tựu đạt được và góp phần xây dựng một hệ thống tài chính đủ mạnh cho phát triển trong tương lai Điều này càng đặc biệt cần thiết khi xảy ra khủng hoảng tài chính ở khu vực Đông nam Á do việc xử lý các chính sách tài chính còn nhiều bất cập, như vậy con đường của Việt nam lại càng cần phải có những bước đi phù hợp, tránh sai lầm của các nước
Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước, Việt nam cần phải huy động được 40 đến 50 tỷ
Đôla từ nay đến năm 2000 Đây là một yêu cầu rất lớn bắt buộc chúng ta phải sớm gấp rút triển khai và phát triển hệ thống các thị trường tài chính
i 32
Trang 36Mức độ phát triển của hệ thống thị trường tài chính là dấu hiệu phát triển
miền kinh tế thị trường Các thị trường tài chính cùng với các công cụ tài
chính và các tổ chức tài chính được hình thành trong một hệ thống tài
chính thống nhất sẽ là tiền đề quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất
Hệ thống tài chính phát triển sẽ cho phép đa dạng hóa các công cụ đầu tư
và các hoạt động tài chính ở Việt nam, từ đó cung cấp cho người đi vay
các khoản vốn cần thiết và những điều kiện tài chính thích hợp với nhu
cầu và mục đích sử dụng của từng đối tượng, đồng thời cung cấp cho các
nhà đầu tư các kênh đầu tư khác nhau (gửi tiền tiết kiệm, đầu tư giấy có
giá ngắn hạn, đài hạn ) với những mức độ khác nhau về lãi suất, khả
năng thanh toán và độ an toàn Hệ thống thị trường tài chính sẽ góp phần
nâng cao tiết kiệm cho nền kinh tế, huy động tối đa các ngưồn vốn trong
va ngoài nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Từ đầu thập kỷ 90, nền kinh tế Việt Nam về cơ bản đã ra khỏi khủng
hoảng với mức tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm gần đây
Tăng trưởng kinh tế 1992-1998 (%)
Mức tăng trưởng cao, một mặt kéo theo sự tăng lên về nhu cầu vốn
đầu tự, tức là làm tăng mức cung về cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường
Mặt khác, tăng trưởng cao sẽ góp phần tăng mức tiết kiệm, đầu tư, trên cơ
sở đó tăng mức cầu về chứng khoán trên thị trường Đây là yếu tố cơ bản
đầu tiên quyết định sự thành công của thị trường chứng khoán
Bên cạnh yếu tố tăng trưởng cao, việc khống chế được tỷ lệ lạm
phát trong mức độ cho phép cũng như những thành công trong quá trình
ồn định tỷ giá hối đoái là những yếu tố rất quan trọng đối với việc triển
i
33
Trang 37khai thị trường chứng khoán ở Việt nam Rõ ràng lạm phát tăng sẽ làm
tăng giá cả tín dụng (do phải bù đắp sự mất giá của đồng tiền) và làm giảm giá chứng khoán, quá đó giảm cầu về chứng khoán Người đầu tự nếu có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào nhiều kênh khác nhau như gửi tiền tiết kiệm, mua vàng, đô la, đầu tư vào bất động sản và chứng khoán Nếu lạm phát tăng, tỷ giá biến động, người đầu tư sẽ bỏ tiền vào ngoại tệ, vàng hoặc bất động sản Xu hướng này sẽ làm suy yếu hoạt động của thị trường chứng khoán
Mục tiêu của nền kinh tế Việt nam đến năm 2000:
GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi năm 1990
Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 9 -10%
Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp khoảng 4,5 - 5%;
Công nghiệp 12 -13%
Xuất khẩu 28%
Tỷ lẹ đầu tư/ GDP khoảng 30%
Năm 2000, nông nghiệp chiếm khoảng 19 -20%, công nghiệp và xây dựng 34 - 35%, dịch vụ 45 - 46% GDP
Tăng nhanh tiêm lực và khả năng tài chính của đất nước, lành
mạnh hoá nền tài chính quốc gia; huy động 20 -21% GDP vào ngân sách Nhà nước trong đó huy động 20 -21% GDP thông qua thuế và phí, kiểm chế bội chi ngân sách nhà nước không quá 4,55% GDP; thực hiện cam kết trả nợ
Tiếp tục thực hiện các mục tiêu kiểm chế và kiểm soát lạm phát; loại trừ các nguy cơ tái lạm phát cao; giữ chỉ số tiêu dùng dưới 10%/năm Cải thiện cần cân thanh toán quốc tế
Phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn, hình thành và phát
triển từng bước thị trường chứng khoán Tăng khả năng chuyển đổg tiền
Việt nam, thu hẹp việc sử dụng ngoại tệ trong nước; ổn định tỷ giá hối
đoái phù hợp với sức mua thực tế của đồng tiền
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Mở rộng thị
trường xuất, nhập khẩu, tăng khả năng xuất khẩu của mặt hàng đã chế
biến, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ Kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng 28% (chưa kể phần xuất khẩu tại chỗ), nâng mức xuất
khẩu bình quân đầu người,năm 2000 lên 200 USD; phát triển mạnh du
;
34
Trang 38lịch và các dịch vụ thu ngoại tệ Kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân mỗi năm khoảng 24%
Tăng khả năng tiếp nhận vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài Phát triển và phát huy nhân tố tiểm lự khoa học và công nghệ, lựa chọn
và làm chủ các loại hình công nghệ nhập, tích cực chuẩn bị cho các bước phát triển cao hơn ở giai đoạn sau Tốc độ đổi mới công nghệ đạt 10%/ năm trở lên
Đối mới căn bản tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước Đổi mới và pphát triển đa dạng các hình thức
kinh tế hợp tác từ thấp đến cao mà nòng cốt là hợp tác xã Phát triển các hình thức liên doanh, liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản tư nhân,
cá thể và các công ty nước ngoài
Tạo việc làm nhiều hơn cho số lao động tăng thêm hàng năm, giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp, tiếp tục xoá đói, giảm nghèo, cải thiện điều kiện ăn ở, học hành, chữa bệnh, đi lại, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân đặc biệt là vùng miền núi, nông thôn Tới năm 2000, nhịp
độ tăng đân số đưới 1,8%; khắc phục tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ
em dưới 5 tuổi; thanh toán nạn mù chữ cho người trong độ tuổi15 -35,
phổ cập giáo dục tiểu học, tăng tỷ lệ lao độngqua đào tạo lên 22 - 25%;
ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường; đẩy lùi tiêu cực và các tệ nạn
xã hội
Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Việt nam trong giai
đoạn 1996 -2000 đòi hỏi vốn nguồn vốn đầu tư lớn, khoảng 40 đến 45 ty
USD, bình quân một năm phải đạt khoảng 8 tỷ USD để thúc đẩy công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm từng bước tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn
về kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, như Nghị quyết đại hội đảng đã nêu ra Đó cũng là chiến lược huy động vốn mà Đảng đặt
ra cho những năm trước mắt đối với đất nước cần phấn đấu và thực hiện
2 Thực trạng thị trường vốn Việt nam
a Tiết kiệm và đầu tư
Đầu tư là việc sử dụng một khoản tiền nhất định vào một việc nhất
định nhằm mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn
35
Trang 39Tiết kiệm là một phần thu nhập quốc dân chưa cần sử dụng cho nhu cầu hiện tại
- Phí cho thuê L« | GP |„ 7 Chtlêu của Chính phú i
- Lợi nhuôn chua trừ lương vờ cóc - Xuối khẩu thuồn †úy"
Cée tee aie Aichi 18i chink
b Luân chuyển và thực trạng thị trường vốn Việt Nam
Thị trường tài chính có ý nghĩa quan trọng trong việc phân phối các nguồn tài chính Thông qua hoạt động của các chủ thể trên thị trường
tài chính, các nguồn tài chính được luân chuyển để cung và cầu về vốn
gặp nhau Qua trình luân chuyển vốn trên thị trường tài chính làm tăng
quá trình chuyển các nguồn tiết kiệm thành đầu tư
Quá trình luân chuyển vốn trên thị trường tài chính thể hiện ở sơ
đồ sau:
36
Trang 40thị trường trực tiếp ẾC Cóc thị trường tồi chính `
Qua sơ đồ trên ta thấy được mức độ phát triển của thị trường tài
chính có ý nghĩa quan trong đối với việc khuyến khích tiết kiệm, khuyến
khích đầu tư và quá trình vốn hóa trong nền kinh tế Đặc biệt ở đây phải
kể đến vai trò của các tổ chức trung gian tài chính, bộ phận đã chuyển tải
một khối lượng đáng kể ngưồn tiết kiệm đưa vào đầu tư và góp phần tích
cực đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn
Sự tăng lên mạnh mẽ của tiết kiệm và đầu tư đã dẫn tới yêu cầu
chuyển giao các ngưồn vốn trong nền kinh tế, từ đó hình thành thị trường
vốn Hiện nay, ở Việt nam đang tồn tại hai hình thức huy động vốn chủ
yếu:
- b.1., Vay và cho vay qua hệ thống ngân hàng
37