Tuy nhiên, do trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự và chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH được
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG QUI TRÌNH THAM GIA TỐ TỤNG
VÀ CHẾ TÀI XỬ PHẠT VI PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
CNĐT : LÊ QUYẾT THẮNG
9451
HÀ NỘI – 2009
Trang 21 Tính cấp thiết của đề án:
Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 1/1/2007 Theo đó, đã quy định các hành vi vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Ngày 18/2/2008, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lãi phát sinh
Như vậy, về lĩnh vực BHXH, chế tài xử lý vi phạm hành chính đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên quy định xử phạt vi phạm hành chính mức còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tính khả thi của biện pháp buộc trích tiền nộp chậm
và tiền lãi phát sinh không cao Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn tránh và nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp không giảm Việc nợ đọng BHXH với số tiền lớn đã gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, tới việc bảo toàn, tăng trưởng quỹ BHXH và thực hiện kế hoạch Nhà nước giao
BHXH một số địa phương sau khi kiểm tra, phát hiện các đơn vị nợ đọng tiền BHXH đã tiến hành đốc thu, nhắc nhở, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không có kết quả nên đã đứng đơn khởi kiện các doanh nghiệp Thực tế theo dõi tình hình tranh tụng trong thời gian vừa qua cho thấy với tư cách nguyên đơn, Tổ chức BHXH gặp nhiều vướng mắc về xác định thời hiệu khởi kiện, xác định hình thức sở hữu của quỹ bảo hiểm xã hội bị xâm hại… Đã có vụ kiện bị Toà án trả lại không thụ lý với lý do hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của Bộ Luật Lao động
Trang 3Trong quá trình thực hiện chính sách BHXH, BHXH một số địa phương thực hiện không đúng, bị các đơn vị sử dụng lao động, đối tượng tham gia, hưởng chế độ BHXH khiếu nại, khởi kiện ra Toà Với tư cách bị đơn, Tổ chức BHXH một số địa phương tham gia tố tụng tại Toà còn gặp vướng mắc trong việc thu thập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ đảm bảo tính pháp lý
để chứng minh và đã từng bị “thua kiện” Bên cạnh đó, hiệu lực pháp luật của các quyết định xử phạt hành chính và bản án chưa được đảm bảo thực hiện; việc thi hành án gặp rất nhiều khó khăn
Đối với lĩnh vực BHYT, các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng thẻ BHYT dẫn đến quỹ BHYT bị lạm dụng và quyền lợi của người có thẻ BHYT bị ảnh hưởng Đối tượng thực hiện hành vi vi phạm đa dạng, không chỉ từ phía cơ sở khám chữa bệnh, tổ chức BHXH, người tham gia BHYT mà còn từ phía những cá nhân, tổ chức khác Mặc dù Luật BHYT
đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, song hiện nay chúng ta vẫn đang chờ các Nghị định hướng dẫn trong đó có hướng dẫn về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT
Đối với bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), theo Luật BHXH, có hiệu lực từ 01/01/2009 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 127/2008/NĐ-CP (12/12/2008) về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN và Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH (21/01/2009) của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP Tuy nhiên, với những quy định của pháp luật về BHTN và tình hình lao động, việc làm ở Việt Nam như hiện nay đã cho thấy khả năng tiềm ẩn những vi phạm đối với việc thu, chi BHTN trong tương lai
Vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng đề án: "Xây dựng quy trình tham
gia tố tụng và chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp" là cần thiết
2.Mục tiêu của đề án:
Trang 4Sau khi đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT và những dự báo về vi phạm pháp luật BHTN, xác định nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT, mục tiêu chính mà đề án hướng tới là nghiên cứu nhằm hoàn thiện chế tài xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN và xây dựng quy trình tham gia khởi kiện của Tổ chức BHXH đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT và BHTN Đề án sau khi được nghiệm thu là một tài liệu hữu ích nhằm nâng cao nhận thức cho các cán bộ trong Ngành trong việc tiến hành kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật về lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN; đồng thời trang bị những kiến thức cơ bản khi tham gia tố tụng tại Toà án
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng vi phạm pháp luật và thực tiễn xử
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT đối với vi phạm do các đối tượng sau thực hiện:
Đề án được triển khai nghiên cứu có hệ thống các vấn đề liên quan đến
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH, BHYT từ năm 2004 đến năm 2008
và dự báo vi phạm về BHTN trên cơ sở pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN; pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật tố tụng và một số luật khác
Tuy nhiên, do trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án
về tranh chấp dân sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự và chế tài
xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH được quy định tại Nghị định số
Trang 5135/2007/NĐ-CP (16/8/2007) của Chính phủ nên trong phạm vi nghiên cứu,
đề án tập trung chủ yếu vào giải pháp nhằm hoàn thiện chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH, kiến nghị về chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT và BHTN; đồng thời xây dựng quy trình tham gia tố tụng các vụ án về tranh chấp dân sự trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN, trong đó tập trung chủ yếu vào việc xác lập hồ sơ, tài liệu, chứng cứ để tiến hành khởi kiện đối với một số hành vi vi phạm về lĩnh vực BHXH
4.Phương pháp nghiên cứu:
Đề án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu trong mối liên hệ giữa pháp luật và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này
phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
+Khảo sát thực tế (tại 4 địa phương)
+Hồi cứu số liệu
+Tổng hợp, phân tích
5 Nội dung nghiên cứu:
phụ lục đính kèm, đề án được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương I: Một số vấn đề chung về vi phạm pháp luật, chế tài xử phạt
Trang 6CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT, CHẾ TÀI XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC KHỞI KIỆN
1.1 Một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật
1.1.1 Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật
lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó vi phạm hành chính và vi phạm ở mức
độ bị coi là tội phạm là những loại vi phạm chủ yếu và cần phải điều chỉnh bằng những chế tài xử phạt từ thấp đến cao Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính cũng là hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời
Tiếp cận từ định nghĩa vi phạm hành chính nói chung lần đầu tiên được nêu ra trong Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày
là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Giáo trình Luật hành chính
Việt Nam năm 2008 đã đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau: “Vi
1 Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
Trang 7phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc
vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt hành chính”
Hiện nay chưa có định nghĩa chính thức về vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, phạm vi của hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH được quy định phải bị xử phạt hành chính, dựa vào định nghĩa chung về vi phạm hành chính như đã nêu trên và
quy định của pháp luật BHXH, có thể định nghĩa như sau: Vi phạm hành
chính trong lĩnh vực BHXH là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi
cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật liên quan đến BHXH mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt hành chính
Dấu hiệu mặt khách quan:
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là hành vi vi phạm hành chính được quy định trong văn bản pháp luật về xử phạt hành chính có liên quan Hay nói cách khác, hành vi mà
tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước
và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ ràng trong văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính liên quan đến
Trang 8BHXH, theo đó, pháp luật quy định những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính Khi xem xét, đánh giá hành vi của
cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính hay không, bao giờ cũng phải có căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi đó bị pháp luật quy định sẽ phải áp dụng biện pháp xử phạt hành chính Tránh tình trạng áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc “áp dụng tương tự pháp luật” trong việc xác định vi phạm hành chính đối với các tổ chức và cá nhân
Đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp riêng bởi vì BHXH liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đặc biệt liên quan đến pháp luật về lao động Chẳng hạn như hợp đồng lao động làm căn cứ đóng BHXH đối với người lao động hay các xác nhận của chính quyền địa phương, của người sử dụng lao động để người lao động được hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN
Dấu hiệu mặt chủ quan:
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH phải là hành
vi có lỗi thể hiện dưới dạng hành vi cố ý hoặc vô ý Nói cách khác người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó những vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý) Khi có đủ căn cứ để cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có vi phạm hành chính xảy ra
chính trong lĩnh vực BHXH, ở một số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Ví dụ như trong Nghị định số 38/CP ngày
Trang 925/6/1996 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật về lao động, Khoản 8 Điều 10 quy định hành vi gian lận, lừa dối để hưởng chế độ BHXH Hành vi gian lận, lừa dối ở đây phải nhằm mục đích hưởng các chế độ BHXH chứ không phải để hưởng chế độ khác
Dấu hiệu chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH:
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH có thể là cá nhân, tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính
Trong lĩnh vực BHXH, cá nhân có hành vi lừa dối để hưởng BHXH có thể là người lao động, người sử dụng lao động đang tham gia quan hệ lao động và thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện Bên cạnh đó còn các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc cấp các loại giấy chứng nhận về các điều kiện để làm căn cứ xác định cho người lao động hưởng các chế độ BHXH theo quy định
trong lĩnh vực BHXH trong mọi trường hợp khi có tham gia BHXH bắt buộc hoặc dưới hình thức tự nguyện
Như vậy, cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH theo pháp luật Việt Nam (trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác)
+ Tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
(bao gồm cả BHYT, BHTN) là đối tượng được quy định tại Điều 2 Luật BHXH bao gồm: cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân
có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan đến BHXH
Trang 10Dấu hiệu khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH:
Vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là hành vi vi phạm đã xâm hại đến quan hệ BHXH, được pháp luật hành chính và pháp luật BHXH bảo vệ Nói cách khác, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là hành vi trái với các quy định của pháp luật về BHXH, được quy định phải bị xử phạt hành chính trong văn bản pháp luật, cụ thể là Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH hoặc các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan khác
1.1.1.2 Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như:
- Căn cứ vào quan hệ đóng hưởng và phương thức thực hiện BHXH, có thể phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH thành ba loại như sau:
+ Hành vi vi phạm về nghĩa vụ đóng BHXH
+ Hành vi vi phạm về điều kiện hưởng BHXH
+ Hành vi vi phạm trong quản lý hoạt động BHXH
- Căn cứ vào nội dung các chế độ BHXH, có thể phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH thành các loại sau:
Trang 11- Căn cứ vào địa vị pháp lý của chủ thể vi phạm có thể chia vi phạm hành chính thành ba loại:
+ Hành vi vi phạm do người sử dụng lao động thực hiện
+ Hành vi vi phạm do người lao động thực hiện
1.1.2 Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm về BHXH
mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Vì thế, khi xử lý các vi phạm hành chính, cần đặc biệt lưu ý đến nhận biết các dấu hiệu để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình sự Trong nhiều trường hợp trên thực tế, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó xác định Vì vậy, nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề này rất dễ xảy ra tình trạng “để lọt tội phạm” hoặc “xử lý oan người vi phạm chưa đến mức phạm tội”
Dấu hiệu căn bản để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình
sự là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Hành vi vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn so với tội phạm hình sự Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật về BHXH ở mức độ tội phạm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và đánh giá
Ngoài mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vi phạm hành chính
và tội phạm còn phân biệt với nhau ở một số dấu hiệu pháp lý khác Tội phạm
là loại vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự và chỉ Quốc hội mới có quyền đặt ra các quy định về tội phạm và hình phạt Vi phạm hành chính được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền như luật, pháp lệnh và nghị định
Trang 12Vi phạm hành chính và tội phạm còn phân biệt với nhau ở yếu tố chủ thể Trong khi chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức, chủ thể của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự nước ta chỉ có thể là
cá nhân
Chính vì vậy, với quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành chưa có quy định về tội phạm cụ thể trong lĩnh vực BHXH mà chỉ quy định chung trong nhóm tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về chức vụ nên, có nhiều hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, gây hậu quả nguy hại cho
xã hội hiện nay khó áp dụng được chế tài hình sự để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm
1.2 Chế tài xử phạt hành chính trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN
của chủ thể vi phạm, khi tổ chức hay cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, về nguyên tắc Nhà nước sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định Việc làm này nhằm khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm hại đồng thời giáo dục tổ chức, cá nhân vi phạm cũng như toàn thể cộng đồng ý thức tuân thủ pháp luật Hậu quả pháp lý bất lợi mà tổ chức, cá nhân vi phạm phải gánh chịu thể hiện ở việc họ bị buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài
đã được quy định trong pháp luật Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật
là một hình thức trách nhiệm pháp lý nhất định Chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài hành chính do người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính, đó là những biện pháp buộc những đối tượng này phải chịu những hạn chế về quyền, tài sản hoặc tự
do
Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Việc
Trang 13quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở mục đích trừng phạt, việc xử phạt vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH nói riêng còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật về BHXH nói riêng
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các hình thức xử lý kỷ luật đối với công chức vi phạm kỷ luật và các trừng phạt cũng như quy định đối với công chức phạm hình luật đã được quy định trong Chương V Sắc lệnh
số 76-SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về quy chế công chức Việt Nam Đối với lực lượng lao động là công nhân trong các xí nghiệp của nhà nước và giúp việc Chính phủ cũng được quy định về ngạch bậc, lương bổng, phụ cấp trong Sắc lệnh số 77-SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước trong đó điều khoản về kỷ luật đối với các vi phạm được quy định tại chương VI của Sắc lệnh
Sau khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, để phòng ngừa và xử lý vi phạm hành chính, một vấn đề được đặt ra là việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này, ngày 27/5/1997, Chính phủ ban hành Nghị định 143/CP về Điều lệ
xử phạt vi cảnh Tiếp đó, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính được ban hành ngày 6/7/1995 và văn bản đang có hiệu lực pháp lý thi hành là Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính ngày 2/7/2002, được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2007 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/8/2008 Điều này cho thấy pháp luật về xử lý vi phạm hành chính luôn có những sự điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện
Khi Bộ Luật Lao động được ban hành, lần đầu tiên chế định BHXH đã được chính thức ghi nhận trong luật, tạo ra một hành lang pháp lý mới cho
Trang 14việc thực hiện BHXH Từ những quy định này, Chính phủ đã ban hành Điều
lệ BHXH kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 25/01/1995, trong đó có quy định việc xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự khi vi phạm pháp luật về BHXH Sau hơn một năm triển khai thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 25/6/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/CP quy định về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động trong đó đã cụ thể hoá một
Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động được ban hành, ngày 16/4 2004 Chính phủ ban hành Nghị định số 113/2004NĐ-CP quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động thay thế Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996 nêu trên
Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 1/1/2007,
từ điều 134 đến 137 đã quy định các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH Ngày 18/2/2008,
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lãi phát sinh
Nghị định số 135/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/8/2007 là văn bản đang có hiệu lực pháp lý thi hành về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BHXH Đối tượng áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi cố ý hoặc
Trang 15vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về BHXH mà không phải là tội phạm thì có thể bị áp dụng hình thức xử phạt, mức phạt theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền đồng thời có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo thủ tục xử phạt được quy định trong Nghị định 135/2007/NĐ-
CP Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm hành chính về pháp luật BHXH trong phạm vi nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng theo quy định tại Điều ước quốc tế
đó Đối với những hành vi vi phạm về lĩnh vực BHXH của cán bộ, công chức trong khi thi hành nhiệm vụ mà không phải là tội phạm thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức
Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính:
Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính về pháp luật BHXH là 12 tháng kể từ ngày có hành vi vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn nêu trên thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 7 Nghị định 135/2007/NĐ-CP Trong thời hạn 12 tháng mà cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực BHXH hoặc cố tình trốn tránh, trì hoãn việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu nêu trên; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn việc xử phạt
Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét
xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt hành chính nếu hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính, trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt là 3 tháng, kể từ ngày có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án
Trang 16Cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính về pháp luật BHXH nếu sau 12 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH
Đối với BHYT, Chính phủ ban hành Nghị định số 46/CP ngày 6/8/1996 quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước
về y tế, tại điều 12 quy định mức xử phạt vi phạm các quy định về BHYT Sau đó, ngày 6/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế thay thế Nghị định số 46/CP kể trên Tại văn bản này không còn quy định xử phạt vi phạm
về BHYT nữa Kể từ khi có Luật BHYT số 25/2008/QH 12 đến nay vẫn chưa
có Nghị định hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về BHYT
Đối với BHTN cũng chưa có quy định cụ thể về hành vi và mức xử phạt cụ thể nên về nguyên tắc phải áp dụng theo quy định chung của pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính Sự không cụ thể này dẫn đến những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHYT, BHTN
1.3 Trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án dân
sự (áp dụng trong trường hợp Tổ chức BHXH tham gia với tư cách nguyên
đơn)
1.3.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án cấp sơ thẩm
1.3.1.1 Những vấn đề chung
* Quyền khởi kiện vụ án:
Điều 161 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”
Khởi kiện vụ án dân sự là một trong những phương thức để các chủ thể yêu cầu Toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khi có tranh chấp xảy ra
Trang 17Quyền khởi kiện là quyền đầu tiên của chủ thể làm phát sinh vụ án dân sự tại Toà án Người khởi kiện có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp thực hiện việc khởi kiện Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau Ngược lại, nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng có thể khởi kiện một cá nhân hoặc một cơ quan, tổ chức
về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau
để cùng giải quyết trong một vụ án Trên cơ sở các quy định của pháp luật, có thể khẳng định rằng quyền khởi kiện chủ yếu là do cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện làm phát sinh vụ án dân sự tại Toà án Việc các chủ thể có thực hiện quyền khởi kiện hay không dựa trên sự cân nhắc mọi mặt của họ để đi đến quyết định nên có can thiệp của các cơ quan tư pháp vào việc thực hiện quyền khởi kiện sẽ làm ảnh hưởng đến quyền tự định đoạt của các đương sự
Việc thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện chủ yếu bởi các chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ một số trường hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Chẳng hạn, Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hơp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định Ngoài ra, cơ quan
và tổ chức trong phạm vi quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân
sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách
Tóm lại, khởi kiện vụ án dân sự là quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết một vụ án dân sự do cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thực hiện nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, ta xác định tư cách, quyền khởi kiện của tổ chức BHXH đối với các đơn vị sử dụng lao động nợ tiền BHXH Thực tế pháp luật quy định việc tham gia BHXH cho người lao động là hành
Trang 18vi bắt buộc của người sử dụng lao động Hành vi không tham gia BHXH là xâm phạm lợi ích hợp pháp của người lao động, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội Hành vi không tham gia, tham gia không đúng mức quy định, tham gia không đủ số lao động thuộc diện bắt buộc, chậm đóng là hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của BHXH Việt Nam được giao hàng năm, ảnh hưởng đến việc bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH
Mặt khác, theo quy định tại điều 19 Luật BHXH quy định về quyền của
tổ chức BHXH:
+ Tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản theo quy định của pháp luật
+ Từ chối yêu cầu trả BHXH không đúng quy định;
+ Kiểm tra việc đóng BHXH và trả các chế độ BHXH
+ Kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách pháp luật về BHXH và quản lý quỹ BHXH
+ Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Điều 20 Luật BHXH quy định về trách nhiệm của tổ chức BHXH: “+ Thực hiện việc thu BHXH theo quy định của Luật này
+ Thực hiện các biện pháp bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH”
Với những căn cứ như trên, tổ chức BHXH đủ điều kiện là nguyên đơn khởi kiện doanh nghiệp vi phạm pháp luật về BHXH ra Toà án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người lao động cũng như lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước trong việc thực hiện an sinh xã hội
* Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn
Chủ thể tố tụng dân sự là những người tham gia vào quá trình giải quyết vụ, việc dân sự tại Toà án trên cơ sở có đơn khởi kiện hoặc yêu cầu của
cá nhân, tổ chức và được Toà án chấp nhận thụ lý theo quy định của pháp
Trang 19luật, để bảo vệ quyền, lợi ích của mình hoặc của người khác Điều kiện chung
để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự với cá nhân, tổ chức, cơ quan và các chủ thể đó phải có năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật
và năng lực hành vi tố tụng dân sự2
Đối với đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan
hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Toà án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại Toà án do người đại diện hợp pháp của
họ thực hiện
Đương sự là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng (Điều 57K7 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)
Tham gia tố tụng dân sự, các chủ thể có 2 nhóm gồm cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Người tham gia tố tụng gồm:
- Đương sự: trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Những người tham gia tố tụng khác
Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định khởi kiện
để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định
2
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của một người là khả năng của người đó được mang quyền và gánh chịu nghĩa vụ tố tụng dân sự theo luật định Chỉ đối với cá nhân mới có sự xác định riêng biệt năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự Còn đối với các tổ chức, cơ quan thì hai yếu tố đó phát sinh đồng thời
Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng của chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự một cách trực tiếp bằng chính hành vi của chủ thể đó hoặc uỷ quyền cho người khác
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân phát sinh từ thời điểm người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết Còn năng lực hành vi tố tụng của cá nhân phát sinh khi người đó đạt 18 tuổi Việc bảo vệ tại Toà án quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa đủ mười lăm tuổi và người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện
Trang 20khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn
nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng Cụ thể:
- Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;
không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, khiếu nại với Viện Kiểm sát về những chứng
cứ mà Toà án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu;
khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;
Toà án tiến hành;
mình;
- Tham gia phiên toà;
- Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
- Đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;
- Tranh luận tại phiên toà;
- Được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án theo quy định của
Bộ Luật này;
Trang 21- Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ
để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
- Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án;
- Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
- Nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
- Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
- Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định
Ngoài ra, theo quy định của điều 59 Bộ Luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn còn có các quyền và nghĩa vụ sau:
- Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện;
- Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia
tố tụng;
- Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Nguyên đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện
* Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân
Để thực hiện chức năng xét xử, Toà án được giao một khối lượng thẩm quyền nhất định Ở mỗi nước, thẩm quyền của Toà án được xây dựng theo những nguyên tắc phù hợp với hình thức tổ chức hệ thống toà án và đảm bảo đáp ứng các mục tiêu của pháp luật quốc gia Song theo cách hiểu chung, thẩm quyền của Toà án đều bao gồm quyền xem xét giải quyết các vụ việc thuộc phạm vi pháp luật quy định và quyền ra quyết định khi giải quyết các
vụ việc đó.Thẩm quyền dân sự của Toà án được hiểu là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền ra quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc
đó theo thủ tục tố tụng dân sự của Toà án
Trang 22Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, thẩm quyền dân sự của Toà án được căn cứ vào ba tiêu chí: thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp xét xử và theo lãnh thổ3
Các tranh chấp lao động cá nhân thường chỉ do Toà án giải quyết sau khi các cơ quan quản lý hay các tổ chức hoà giải thực hiện không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Riêng đối với một số tranh chấp về BHXH là một trong những tranh chấp mà Toà án có thẩm quyền giải quyết ngay không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở
Về thẩm quyền theo cấp xét xử, việc phân định thẩm quyền dân sự của Toà án theo cấp xét xử là phù hợp với yêu cầu khách quan của công tác tố tụng nhằm mục tiêu giải quyết vụ việc nhanh chóng, hiệu quả Có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân định thẩm quyền giữa các cấp Toà án, như giá trị tài sản tranh chấp, tính chất vụ việc, quốc tịch của đương sự
Hệ thống Toà án ở nước ta được tổ chức theo đơn vị hành chính-lãnh thổ Trong đó, thẩm quyền giải quyết sơ thẩm giao cho các Toà án cấp huyện
và cấp tỉnh Hiện nay, việc phân định thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ việc dân sự được thực hiện theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Toà án cấp huyện Theo đó, việc phân định thẩm quyền giữa Toà án cấp huyện với Toà án cấp tỉnh trong việc giải quyết các vụ việc dân sự căn cứ vào tính chất vụ việc Theo đó:
- Thẩm quyền của Toà án cấp huyện: Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả những tranh chấp về BHXH Tuy nhiên, Toà án cấp huyện không có
3
Những loại việc thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án theo pháp luật Việt Nam có thể chia làm bốn nhóm:
vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự; vụ việc về hôn nhân và gia đình; vụ việc về kinh doanh, thương mại và các vụ việc về lao động Đi sâu xem xét thẩm quyền dân sự của Toà án trong xét xử các vụ việc về lao động gồm: các tranh chấp lao động cá nhân, tranh chấp lao động tập thể và các yêu cầu về lao động trừ các yêu cầu về giải quyết đình công
Trang 23thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các yêu cầu về kinh doanh, thương mại và lao
Thẩm quyền dân sự của Toà án cấp tỉnh:
Theo quy định tại Điều 34 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Toà án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết đối với:
- Tất cả các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện
- Các yêu cầu về lao động;
Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ:
Thẩm quyền dân sự của Toà án theo lãnh thổ là thẩm quyền của Toà
án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự trên địa bàn Về thực chất đây là
sự phân định thẩm quyền giữa các Toà án cùng cấp trong việc giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm
Để tạo điều kiện cho nguyên đơn, người yêu cầu được thuận lợi tham gia tố tụng, Điều 36 Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định trong trường hợp có nhiều Toà án đều có điều kiện giải quyết một vụ việc dân sự thì nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn một trong các Toà án có điều kiện để giải quyết vụ việc
1.3.1.2 Tiến hành khởi kiện
- Gửi đơn khởi kiện đến Toà án:
Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Toà án nhằm giải quyết các vụ án dân sự Đơn khởi kiện phải thể hiện rõ nội dung và yêu cầu của người khởi kiện Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Toà
án xem xét quyết định thụ lý vụ án dân sự, đồng thời quyết định phạm vi tố tụng ban đầu trên cơ sở yêu cầu trong đơn
4 Toà án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết đối với những tranh chấp, yêu cầu của Toà án cấp huyện mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần có uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài(Điều 33k3 và Điều 34k1c Bộ Luật Tố tụng Dân sự)
Trang 24Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án và ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện xác định ý chí của mình về việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự
Đối với cơ quan, tổ chức tự mình khởi kiện nghĩa là người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ
cơ quan, tổ chức và họ tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan,
tổ chức đó Người đại diện hợp pháp là người đại diện theo pháp luật theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc theo điều lệ của tổ chức Người đại diện theo pháp luật cũng có thể uỷ quyền bằng văn bản cho các thành viên của cơ quan, tổ chức đó khởi kiện Đơn khởi kiện của cơ quan,
tổ chức có ký tên của người đại diện hợp pháp và đóng dấu
Việc ủy quyền hợp pháp cho người khác khởi kiện vụ án dân sự tại Toà
có được chấp nhận Người đại diện hợp pháp được cơ quan, tổ chức uỷ quyền
có thể là những cá nhân hoặc tổ chức khác có khả năng thực hiện việc khởi kiện như luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật hay những tổ chức khác có đủ khả năng thực hiện việc khởi kiện Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân
sự và Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán thì hình thức đơn khởi kiện vụ án như sau: nếu người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên, đóng dấu (Điều 163k2 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)
Các nội dung trong đơn khởi kiện được quy định tại Điều 164 Bộ Luật
Tố tụng Dân sự, cụ thể:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện
- Tên Toà án nhận đơn khởi kiện
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng (nếu có)
Trang 25- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan;
- Liệt kê các tài liệu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là
ó căn cứ và hợp pháp, cũng như các thông tin cần thiết khác
Kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Các chứng cứ hay tài liệu được gửi đến Toà án gắn với nội dung của yêu cầu trong từng vụ việc cụ thể Việc gửi đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo đến Toà án có thẩm quyền thông qua hai phương thức:
Trực tiếp nộp tại Toà án thì được người có trách nhiệm ghi ngày, tháng, năm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện vào sổ nhận đơn
Gửi qua đường bưu điện thì Toà án ghi ngày, tháng, năm nhận đơn do bưu điện chuyển đến và ngày, tháng, năm có dấu bưu điện nơi gửi đơn Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn hợp lệ tại Toà án có thẩm quyền hoặc ngày có dấu của bưu điện nơi gửi Khi nhận được đơn khởi kiện qua đường bưu điện, người có trách nhiệm nhận đơn của Toà án phải đính kèm phong bì người gửi, đây là căn cứ pháp lý để xác định việc khởi kiện khi còn thời hiệu hay đã hết thời hiệu khởi kiện Nếu không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu của bưu điện thì ghi chú trong sổ nhận đơn “không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện” và ngày khởi kiện được xác định là ngày Toà án nhận được đơn khởi kiện do bưu điện chuyển tới
Toà án phải ghi (hoặc đóng dấu nhận đơn có ghi) ngày, tháng, năm nhận đơn vào góc bên trái của đơn khởi kiện và cấp giấy báo nhận đơn khởi kiện cho người khởi kiện Nếu đơn khởi kiện gửi qua bưu điện thì Toà án gửi giấy báo nhận đơn khởi kiện để thông báo cho người khởi kiện biết
- Trường hợp Toà án thụ lý vụ án
Để tiến hành thụ lý vụ án, Toà án phải xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo Theo đó, thụ lý vụ án dân sự là việc Toà án chấp nhận đơn khởi kiện, vào sổ thụ lý để giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân
Trang 26sự Việc thụ lý vụ án dân sự là thủ tục đầu tiên của quá trình tố tụng dân sự, nếu không có việc thụ lý vụ án của Toà án có thẩm quyền thì không có cơ sở xác định trách nhiệm của Toà án và hàng loạt các hoạt động tố tụng tiếp theo
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện phải có một trong các quyết định sau đây:
- Tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đơn khởi kiện đảm bảo nội dung và hình thức Nếu đơn khởi kiện không đảm bảo nội dung được quy định tại Điều 164k2 thì Toà án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Toà án ấn định nhưng không quá 30 ngày, nếu có gia hạn thêm không được quá 15 ngày (Điều 169k1 Bộ Luật Tố tụng Dân sự) Thời gian thực hiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện
- Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án khác;
- Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện khi có một trong các căn cứ được quy định tại Điều 168, 169 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, cụ thể:
+ Thời hiệu khởi kiện đã hết: thời hiệu khởi kiện là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì người khởi kiện mất quyền khởi kiện Thời hiệu khởi kiện đối với từng loại tranh chấp được pháp luật quy định khác nhau Trường hợp đã hết thời hiệu khởi kiện mới yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp mà không đưa ra được các căn cứ để chứng minh là thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại hoặc có thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật thì Toà án trả lại đơn khởi kiện;
+ Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có năng lực hành vi tố tụng dân sự;
+ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp
vụ án mà Toà án xử bác đơn xin ly hôn, thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp
Trang 27dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;
+ Hết thời hạn được thông báo theo quy định tại Điều 171k2 Bộ Luật
Tố tụng Dân sự Theo quy định tại Điều này, người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà không đến làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp chứng minh bằng việc đưa ra các
+ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện (kể cả quy định
về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi thiếu một trong các điều kiện đó Chẳng hạn trường hợp người khởi kiện không gửi các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu
Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do Quy định này là cơ sở cho người khởi kiện thực hiện quyền khiếu nại của mình về việc trả lại đơn khởi kiện Theo quy định tại Điều 170 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện về việc trả lại đơn khởi kiện Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau: giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo để tiến hành vụ án Quyết định của Chánh án Toà án là quyết định cuối cùng, nếu người khởi kiện không đồng ý với quyết định đó cũng không có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên
1.3.2 Kháng cáo, kháng nghị Bản án và Quyết định của Toà án cấp
sơ thẩm
1.3.2.1 Quyền kháng cáo, kháng nghị
Trang 28Sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên thì bản án, quyết định
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn một thời hạn để các đương
sự có thể kháng cáo, viện kiểm sát có thể kháng nghị Mục đích của việc kháng cáo, kháng nghị là nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự được đúng đắn, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Pháp luật quy định cho các chủ thể như đương sự, người đại diện của đương sự và Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án dân sự Việc thực hiện quyền này của các chủ thể gọi là kháng cáo, kháng nghị vụ án dân sự
Kháng cáo là hoạt động tố tụng của đương sự và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật trong việc chống lại bản án, quyết định của Toà án cấp
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án dân sự
Kháng nghị là hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật trong việc phản đối bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị toà án có thẩm quyền xem xét lại vụ án
Kháng cáo bảo đảm cho các đương sự có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước toà án Kháng nghị bảo đảm cho viện kiểm sát thực hiện
có hiệu quả công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của toà án trong việc giải quyết các vụ án dân sự Ngoài ra, kháng cáo, kháng nghị tạo điều kiện để toà án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án Những bản án, quyết định sơ thẩm dù có sai lầm nhưng nếu không bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ
án cũng không được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại các Điều 243, 250 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, người có quyền kháng cáo, kháng nghị thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị đối với các bản án, quyết định sau đây:
- Các bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Trang 29- Các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
1.3.2.2 Đơn kháng cáo, kháng nghị: Việc kháng cáo phải được người có quyền kháng cáo thực hiện trong thời hạn luật định và bằng một đơn kháng cáo Đơn kháng cáo phải có các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
- Tên, địa chỉ của người kháng cáo;
- Kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
- Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;
- Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo
Đơn kháng cáo được gửi đến cho Toà án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Toà án cấp phúc thẩm thì Toà án cấp phúc thẩm phải chuyển lại đơn kháng cáo cho toà án cấp sơ thẩm để toà án cấp sơ thẩm tiến hành những thủ tục cần thiết trước khi hồ sơ vụ án được chuyển cho Toà án cấp có thẩm quyền phúc thẩm Đơn kháng cáo được gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu bổ sung nếu có để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp
Đối với kháng nghị, nếu Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị thì việc kháng nghị được thực hiện bằng quyết định kháng nghị Quyết định kháng nghị được lập thành văn bản Nội dung của quyết định kháng nghị phải có các nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
- Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
- Kháng nghị phần nào của bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
- Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
Trang 30- Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị
Viện kiểm sát phải gửi kèm theo quyết định kháng nghị các tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là
có căn cứ và hợp pháp
Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Toà án cấp sơ thẩm đã
ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để toà án sơ thẩm tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm
- Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm là 7 ngày, kể từ ngày người kháng cáo nhận được quyết định
Nếu người kháng cáo trực tiếp nộp đơn kháng cáo thì ngày kháng cáo được tính từ ngày nộp đơn Nếu đơn kháng cáo được gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính từ ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu trên phong
bì
Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào đúng mười hai giờ đêm của ngày hôm đó (khoản 5, 6 Điều 162 Bộ Luật Dân sự)
Về nguyên tắc, các chủ thể kháng cáo được thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định Nếu kháng cáo ngoài thời hạn quy định của pháp luật
là kháng cáo quá hạn Theo Điều 247 Bộ Luật Tố tụng Dân sự thì sau khi
Trang 31nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Toà án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình lý do kháng cáo quá hạn của người kháng cáo và tài liệu, chứng cứ nếu có cho Toà án cấp phúc thẩm Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo Toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm ba thẩm phán để xem xét việc kháng cáo quá hạn Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định Toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và Toà án cấp sơ thẩm Nếu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Toà án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự và gửi hồ sơ
vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 252 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, thời hạn kháng nghị đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án Thời hạn kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định
1.4 Tổ chức BHXH tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn
Tại điều 20 khoản 3, 4 Luật BHXH quy định về trách nhiệm của tổ chức BHXH ghi rõ “tiếp nhận hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH, thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp BHXH đầy đủ, thuận tiện và đúng kỳ hạn”, “cấp sổ BHXH đến từng lao động” Nếu vi phạm quy định trên thì cùng với việc bị xử phạt hành chính theo Nghị định 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007 của Chính phủ (Điều 31,32,33) tổ chức BHXH còn có thể bị người lao động tham gia BHXH, người thụ hưởng chế độ BHXH khiếu nại và khởi kiện ra Toà với tư
Trang 32cách là bị đơn phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 58 và Điều 60 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự
Khoản 3 điều 56 Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định: “bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức do
Bộ Luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó vi phạm”
Như vậy, bị đơn là chủ thể không thể thiếu trong quá trình Toà án giải quyết vụ án dân sự, bị đơn đi kèm cùng với nguyên đơn Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn là chủ động, còn bị đơn mang tính bị động, bắt buộc phải tham gia
1.5 Khởi tố hình sự
Đối với tội phạm trong lĩnh vực BHXH, có thể xảy ra trường hợp hành
vi phạm tội do cán bộ trong ngành BHXH thực hiện hoặc do các đối tượng ngoài ngành thực hiện, xâm phạm khách thể bảo vệ của Luật hình sự
Đối với những hành vi do cán bộ trong ngành BHXH thực hiện, có khả năng xảy ra một trong những trường hợp phạm tội được quy định tại các chương XIV, XVI, XX và XXI của Bộ Luật Hình sự, cụ thể:
- Các tội xâm phạm sở hữu
- Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
- Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
- Các tội phạm về chức vụ
Còn đối với những hành vi vi phạm pháp luật BHXH do các đối tượng ngoài ngành thực hiện hiện, đặc biệt là những hành vi vi phạm việc đóng BHXH, BHYT, BHTN hiện chỉ có thể xử lý về hành chính chứ không xử lý
về hình sự được do chủ thể vi phạm là pháp nhân Đây là một vấn đề bất cập hiện nay không chỉ đối với tội phạm trong lĩnh vực BHXH mà còn đối với các lĩnh vực khác như môi trường chẳng hạn, hiện chúng ta vẫn chưa có được giải pháp tối ưu để giải quyết những vi phạm mà chủ thể là pháp nhân
Trang 33Tội phạm trong lĩnh vực BHXH khi xảy ra cũng có bốn yếu tố cấu thành như các tội phạm thông thường khác, đó là khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm
bị tội phạm xâm hại Ở đây, đó chính là quan hệ về BHXH hình thành trong quá trình thực hiện chính sách BHXH bị xâm phạm Hành vi bị coi là tội phạm, theo Luật Hình sự Việt Nam, là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại hại cho một trong các quan hệ BHXH phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN Tuy nhiên, điều này không có nghĩa
là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội này trong mọi trường hợp đều bị coi là tội phạm mà chỉ những trường hợp nhất định, những trường hợp đã được cụ thể hoá trong những quy phạm pháp luật hình sự ở phần các tội phạm của Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 1999
Mặt khách quan của tội phạm chính là những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà chúng ta có thể nhận biết được, đó là: hành vi nguy hiểm cho
xã hội (làm giả hồ sơ), hậu quả nguy hiểm cho xã hội (hưởng quyền lợi bất hợp pháp từ quỹ BHXH), các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (phương tiện, thủ đoạn, thời gian) Tổng hợp những biểu hiện này tạo thành mặt khách quan của tội phạm, nó diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản Những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Không thể nói đến tội phạm cũng như những biểu hiện khách quan khác khi không có hành vi khách quan Với đặc điểm như vậy, hành vi khách quan được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Hành vi phạm tội trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN ở đây với nghĩa là vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN chính là vi phạm về nghĩa vụ đóng góp và mức độ thụ hưởng quyền lợi Hiện nay những vi phạm về đóng BHXH
vì nhiều lý do chưa thể xử lý được về mặt hình sự nếu chúng ta chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, hay đối với người đại diện theo pháp
Trang 34luật của các pháp nhân này cũng như vi phạm về việc cấp giấy chứng nhận để người lao động nghỉ hưởng các chế độ BHXH, biên bản giám định khả năng lao động làm cơ sở để giải quyết chế độ BHXH hay giấy xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền khác để người lao động hoặc thân nhân của họ hưởng chế
độ BHXH, BHYT
Chủ thể của tội phạm, theo pháp luật hình sự Việt Nam, hiện nay chỉ có thể là con người cụ thể Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự Tội phạm theo Luật Hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi Do vậy, chỉ những người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới là chủ thể của tội phạm và việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hình sự đối với những người này mới đạt được mục đích giáo dục, cải tạo Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định
và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
Mặt chủ quan của tôi phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại một cách độc lập mà gắn liền với mặt khách quan của tội phạm Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Trong Luật Hình sự Việt Nam, nguyên tắc có lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Người phải chịu trách nhiệm hình sự không phải chỉ đơn thuần vì người này đã có hành vi khách quan gây thiệt hại cho xã hội mà còn
vì đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó Nếu một người có hành vi làm giả hồ sơ (một phần hoặc toàn bộ) để hưởng BHXH thì phải xét đến tính có lỗi của hành vi này
1.6 Chế tài và việc xử lý vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN của một số nước trên thế giới
1.6.1 Đối với Campuchia:
Là một quốc gia ở Đông Nam Á, có chung đường biên giới với Thái Lan, Việt Nam và Lào, với diện tích 181.035km2 và dân số hơn 14 triệu
Trang 35người BHXH đã hình thành ở Campuchia từ năm 1955 theo quy định tại Nghị định 55 và 360 của Hoàng gia Trong các Nghị định này, đã có các điều khoản về trách nhiệm của chủ sử dụng lao động phải đóng góp vào Quỹ Liên ngành nghề quốc gia Quỹ này chỉ chi trả trợ cấp gia đình cho người lao động
và người làm thuê Các chế độ khác như hưu trí hoặc tai nạn lao động đang được soạn thảo Tuy nhiên, các chế độ an sinh xã hội đã bị ngừng thực hiện trong cuộc nội chiến từ năm 1975 đến năm 1979
Sau năm 1979, phần lớn hạ tầng cơ sở đều phải tái thiết lập Luật Lao động đầu tiên được thông qua năm 1992 Năm 1997, sau khi được sửa đổi, bổ sung, trong Điều 256 đã quy định: “một hệ thống bảo hiểm tai nạn bắt buộc sẽ được xây dựng Hệ thống này sẽ được Quỹ an sinh xã hội quốc gia quản lý” Năm 2002, Luật quy định, chương trình bảo hiểm hưu trí cho người lao động
có hiệu lực, người lao động thuộc khu vực chính thức là đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí, người lao động tự tạo việc làm trong khu vực phi chính thức
có thể tham gia chương trình bảo hiểm tự nguyện
Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp của Vương quốc Campuchia đã ghi nhận các vấn đề liên quan đến BHXH cho người dân Đối với khu vực công, năm
1985, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 150SSR về trợ cấp hưu trí và trợ cấp tàn tật cho công chức, viên chức Chính phủ Năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 245 về chính sách hỗ trợ xã hội cho công chức, viên chức chính phủ bị ốm đau, chết, tai nạn lao động hoặc thai sản Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 181 liên quan đến điều dưỡng, đào tạo nghề và sắp xếp lại công việc cho người bị tàn tật
Đối với khu vực tư nhân, theo Hiến pháp của Campuchia, tại Điều 75 quy định: “Nhà nước sẽ xây dựng hệ thống an sinh xã hội cho người lao động
và người làm thuê” Dự thảo Luật an sinh xã hội, trên thực tế đã được chuẩn
bị từ năm 1993 nhưng không thành công do khủng hoảng kinh tế và chính trị trong nhiệm kỳ thứ nhất của Chính phủ Hoàng gia Ngày 25/9/2002, Quốc hội mới thông qua Luật an sinh xã hội, phạm vi của Luật này áp dụng cho người
Trang 36lao động là đối tượng của Luật Lao động hiện hành Tuy nhiên, Luật này chỉ được triển khai từ năm 2007, sau khi Quỹ An sinh xã hội quốc gia được thành lập
Về mức xử phạt khi vi phạm các điều khoản của Luật An sinh xã hội, được quy định Chương V, Luật An sinh xã hội đối với người lao động có thể dẫn chiếu một số điều khoản cụ thể như sau:
Điều 34: Hành vi vi phạm những quy định của luật này sẽ bị phạt hoặc
bỏ tù hoặc cả hai
Điều 35: Mức phạt sẽ được tính dựa trên cơ sở lương công nhật
Điều 36: Việc vi phạm các quy định của Điều 6 và Điều 23 luật này sẽ
bị phạt từ 10 đến 30 ngày lương cơ bản, hoặc trong trường hợp tiếp tục tái phạm sẽ bị phạt từ 30 ngày đến 90 ngày lương cơ bản ngoại trừ trường hợp liên quan đến các khoản đóng góp và lỗi của chủ sử dụng lao động Mức phạt này có thể được áp dụng nhiều lần nếu như người lao động vi phạm các điều khoản của luật này,
Điều 37: Bất cứ chủ sử dụng lao động nào giữ lại trái phép khoản tiền trích nộp đóng bảo hiểm hưu trí của người lao động bằng cách khấu trừ lương của họ sẽ bị phạt tù từ một tháng đến một năm và một khoản phạt từ 120 đến
360 ngày lương cơ bản hoặc sẽ bị áp dụng cả hai hình phạt trên
Trường hợp tái phạm trong vòng 3 năm sẽ bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm và một khoản phạt từ từ 120 ngày đến 360 ngày lương cơ bản hoặc sẽ bị
Trang 37Như vậy, xét về chế tài xử phạt, những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH của Campuchia tương đối cụ thể, dễ áp dụng Pháp luật chuyên ngành
có quy định những quy phạm pháp luật hình sự để xử lý đối với những trường hợp vi phạm từ thấp (phạt tiền) đến cao (như phạt tù) Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc răn đe và phòng ngừa tội phạm cũng như vi phạm trong lĩnh vực BHXH
Là một nước ở Đông Nam Á, trải dài 1.210 km từ lục địa châu Á và gồm 7.107 hòn đảo được gọi là quần đảo Philippines, trong đó gần 700 đảo có người ở Philippine từng là thuộc địa của Tây Ban Nha trong hơn 350 năm và
là thuộc địa của Hoa Kỳ trong gần 50 năm
Về pháp luật BHXH, Luật BHXH được ban hành từ năm 1954, có thể
sau:
a) Người nào bị phát hiện tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc lừa dối, thông đồng, làm giả hay khai man trong bất kỳ một giao dịch nào với Hệ thống để có lợi cho mình hoặc cho những người khác, thì bị xử phạt bằng các hình phạt được quy định tại Điều 172 Bộ luật hình sự (đã được sửa đổi bổ sung)
b) Người nào không có quyền hưởng, mà lấy được hay nhận được tiền hoặc séc, nhưng lại viện dẫn một quy định nào tại luật này hay một thoả thuận nào với ý định lừa dối một thành viên Hệ thống, một người sử dụng lao động hoặc lừa dối Hệ thống hay một bên thứ ba nào đó thì bị phạt tiền không dưới
500 Pêsô và không quá 5.000 Pêsô, hoặc bị phạt tù không dưới 6 tháng và không quá 1 năm, hoặc cả hai, do Toà án quyết định
c) Người nào không tuân theo hoặc từ chối việc tuân theo các quy định tại Luật này hay các quy tắc, quy định do Hệ thống ban hành, thì bị phạt tiền
5 Bản dịch của tác giả Hà Ngọc Quế (Tài liệu nội bộ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Trang 38không dưới 500 Pêsô và không quá 5.000 Pêsô, hoặc bị phạt tù không dưới 6 tháng và không quá 1 năm, hoặc cả hai, do Toà án quyết định
d) Người thủ ngân, người viên chức tài vụ, người thủ quỹ, người viên chức giải ngân, hoặc một viên chức nào khác không khấu trừ hoặc từ chối khấu trừ hay để chậm quá 3 tháng mới khấu trừ các khoản đóng góp từ tiền lương của người viên chức, thì bị phạt tiền không dưới 1.000 Pêsô và không quá 5.000 Pêsô, hoặc bị phạt tù không dưới 1 năm và không quá 5 năm, hoặc
cả hai, do Toà án quyết định, và ngoài ra, còn bị mất tư cách để giải quyết các chức vụ công vụ, để làm một nghề nào đó hoặc để xin được giấy phép của Chính phủ
đ) Một viên chức hay một thành viên nào của Hệ thống nhận hay lưu giữ tiền quỹ hoặc tài sản thuộc về Hệ thống, để trả cho hay để chuyển cho Hệ thống, mà lại chiếm đoạt, lấy hoặc biển thủ hay sử dụng vào mục đích không được Luật nào cho phép, hoặc để cho người nào khác lấy, biển thủ hay sử dụng tiền quỹ hoặc tài sản đó với sự thuận ý rõ rệt của mình hay do mình bỏ lửng hoặc lơ là, hoặc đã phạm tội biển thủ dù là toàn bộ hay một phần tiền quỹ hay tài sản đó vì một lý do nào khác, thì bị xử phạt bằng các hình phạt quy định tại Điều 217 Bộ Luật Hình sự ( đã sửa đổi, bổ sung )
e) Người sử dụng lao động nào, sau khi đã khấu trừ khoản đóng góp hàng tháng hay tiền trả nợ dần từ tiền trả công của một thành viên Hệ thống,
mà không nộp khoản đó cho Hệ thống trong vòng 30 ngày kể từ ngày phải nộp theo Điều 6 (a), thì bị coi như đã biển thủ khoản tiền đóng góp hay tiền trả nợ dần đó, và bị xử phạt bằng các hình phạt quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự (đã sửa đổi bổ sung )
g) Các hành vi tội phạm nảy sinh từ việc vi phạm các quy định tại Luật này có thể bị Hệ thống hay một thành viên Hệ thống bị xâm hại khởi kiện theo Luật này hoặc, trong những trường hợp thích đáng, theo Bộ Luật Hình sự (đã sửa đổi, bổ sung )
Trang 39Như vậy, theo Luật An sinh xã hội của Philippines, các chế tài xử phạt cũng được quy định trong luật chuyên ngành liên quan đến BHXH và quy định cụ thể hành vi bị coi là tội phạm và phải bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt
bắc và đông bắc giáp Lào, phía đông nam giáp Campuchia Cơ quan BHXH cho các doanh nghiệp của Thái Lan (SSO) được thành lập năm 1990 theo điều luật về BHXH Luật BHXH lúc đầu áp dụng cho các doanh nghiệp có từ 20 công nhân trở lên, đến tháng 4/2002 thì mở rộng đến các doanh nghiệp có từ 1 lao động trở lên Hiện nay, người lao động tham gia BHXH được hưởng 7 quyền lợi: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất, tiền trợ cấp con
và BHTN (BHTN được thực hiện từ 01/01/2004) Có thể thấy trong chế định bảo hiểm về tai nạn lao động, đạo luật bảo hiểm về tai nạn cho người lao động
có quy định điều khoản về xử phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật
Hệ thống biện pháp xử phạt theo Đạo luật này áp dụng đối với các loại vi phạm:
tế cho người lao động bị tai nạn hoặc ốm đau hoặc không tuân thủ Điều 17,
44 hoặc 48 theo Đạo luật về bồi thường cho người lao động - phải chịu hình phạt tù trong thời gian không quá 6 tháng
đồng quản lý quỹ bồi thường tai nạn cho người lao động của Uỷ ban chăm sóc
y tế hoặc các tiểu ban hoặc của người có thẩm quyền hoặc không cung cấp các hỗ trợ thích hợp cho người có thẩm quyền đang thực thi công việc - sẽ chịu hình phạt tù trong thời hạn không quá một tháng hoặc bị phạt tiền không quá 2000 bạt hoặc cả hai
Trang 40(c) Bất kỳ người sử dụng lao động nào không trả khoản tiền theo lệnh của người có thẩm quyền phải chịu hình phạt tù có thời hạn không quá một năm hoặc bị phạt tiền nhưng tối đa không quá 20.000 bạt hoặc cả hai
Như vậy, có thể thấy, ở một số quốc gia gần Việt Nam, những quốc gia đang phát triển tuy có những đặc điểm về kinh tế xã hội cũng như chính trị, tôn giáo khác nhau nhưng pháp luật về BHXH, đều có những quy định cụ thể
về xử phạt hành chính và hình sự đối với những vi phạm xâm phạm đến những quy định của pháp luật về BHXH và đều được ghi nhận ở pháp luật chuyên ngành