1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án : Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

116 602 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 808,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, các chính sách về BHXH, BHYT đã có nhiều thay đổi, Luật Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện từ 2 năm nay, Luật Bảo hiểm y tế đã được Quốc hội thông qua nên cần khảo sát đánh giá

Trang 1

Bảo hiểm x∙ hội việt nam

Đề án

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền bảo hiểm x∙ hội,

bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Chủ nhiệm đề án: Cử nhân - Đoàn Phú Nho - P Trưởng ban Tuyên Truyền

Thư ký: Thạc sỹ - Trần Quốc Tuý - P Trưởng phòng NVTT

9450

Hà Nội - 2010

Trang 2

Môc lôc Trang

2.1 Kh¸i qu¸t sù h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn c«ng t¸c th«ng tin

tuyªn truyÒn cña B¶o hiÓm x· héi ViÖt Nam

PhÇn ®iÒu tra kh¶o s¸t vÒ c«ng t¸c th«ng tin

tuyªn truyÒn t¹i mét sè BHXH tØnh, TP

86

1 Nguyªn t¾c chän mÉu ®iÒu tra kh¶o s¸t 86

Trang 3

Những từ viết tắt trong đề án

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BHYT : Bảo hiểm y tế

BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp

TNLĐ - BNN : Tai nạn lao động bệnh nghề gnhiệp

Website : Trang thông tin điện tử trên internet

Trang 4

Danh mục các biểu

3.1 Ma trận kế hoạch tuyên truyền giai đoạn 2010 - 2015 75

3.2 Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát về hình thức tiếp nhận

thông tin BHXH, BHYT, BHTN của NLĐ làm ở các cơ

quan, doanh nghiệp

93

3.3 Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát về hình thức tiếp nhận

thông tin BHXH, BHYT, BHTN của nhân dân

94

3.4 Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát về hình thức tiếp nhận

thông tin BHXH, BHYT, BHTN của học sinh sinh viên

95 3.5 Kết quả tuyên truyền năm 2006 tại một số địa phương 98 3.6 Kết quả tuyên truyền năm 2007 tại một số địa phương 99 3.7 Kết quả tuyên truyền năm 2008 tại một số địa phương 100 3.8 Tổng hợp kết quả tuyên truyền của 6 BHXH tỉnh, Thành

phố: TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Bắc Cạn,

3.10 Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát nhận thức của NLĐ ở

các cơ quan, doanh nghiệp về BHXH, BHYT, BHTN

105

3.11 Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát nhận thức của nhân dân

về BHXH, BHYT, BHTN

106

3.12 Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát nhận thức của học sinh

sinh viên về BHXH, BHYT, BHTN

107

3.13 Tổng hợp kết quả điều tra khảo sát các cơ quan, đơn vị sử

dụng lao động về tổ chức thực hiện BHXH, BHYT, BHTN

Trang 5

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề án

Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tác động đến đời sống kinh tế

và chăm sóc sức khoẻ của hầu hết các thành viên trong xã hội Nó mang tính trụ cột trong hệ thống chính sách về an sinh xã hội Mục tiêu của Đảng và Nhà nước

về đổi mới chính sách BHXH, BHYT và chiến lược phát triển ngành BHXH là thực hiện chế độ BHXH cho mọi người lao động ở tất cả các thành phần kinh tế

và tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Đây là nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi hệ thống BHXH Việt Nam ngoài việc thực hiện tốt công tác chuyên môn nghiệp vụ cần

đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để mọi tầng lớp nhân dân hiểu được và tích cực tham gia

Trong những năm qua hệ thống BHXH Việt Nam từ Trung ương đến địa phương đã thường xuyên liên tục tuyên truyền Luật BHXH, chính sách BHYT và kết quả tổ chức thực hiện Qua đó đã tác động tích cực đến ý thức trách nhiệm của các chủ sử dụng lao động, người lao động trong việc thực hiện các chính sách BHXH, BHYT và nhận thức của các cấp uỷ Đảng chính quyền về BHXH, BHYT Tuy nhiên, công tác tuyên truyền vẫn cần phải đẩy mạnh, nhất là Luật BHYT

được Quốc hội thông qua tháng 12/2008 và quá trình tổ chức thực hiện phát sinh những khó khăn, bất cập, cần phải tuyên truyền phổ biến và giải thích Mặt khác các phương tiện thông tin truyền thông ngày càng đa dạng và phong phú đòi hỏi việc tổ chức tuyên truyền cũng phải đổi mới cả về nội dung và hình thức để phù hợp với sự phát triển chung

Vì vậy, việc điều tra khảo sát, tổng kết đánh giá thực tiễn và đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền thông qua Đề án:

“Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền bảo hiểm x∙ hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” là rất cần thiết

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu

Trong khoảng 15 năm thực hiện BHXH, BHYT theo cơ chế mới đã có một

số công trình nghiên cứu về các lĩnh vực này Tuy nhiên, việc nghiên cứu về công tác thông tin, tuyên truyền BHXH mới chỉ có một số công trình sau:

- Chuyên đề: “Những giải pháp thực hiện công tác tuyên truyền chính sách BHXH trên địa bàn Hải phòng” do cử nhân Nguyễn Xuân Đoá làm chủ

chuyên đề, nghiên cứu và bảo vệ năm 2000

- Đề tài: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về BHXH hiện nay” do Thạc sỹ Trần Xuân Vinh nghiên cứu và bảo vệ năm 2001

- Chuyên đề: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền khu vực BHYT tự nguyên” do cử nhân Phạm Văn Cảnh làm chủ đề tài,

nghiên cứu và bảo vệ năm 2004

Các công trình trên đã đề cập đến một số mặt cơ bản về lý luận và thực tiễn của công tác tuyên truyền, tuy nhiên mới chỉ phù hợp với thời điểm nghiên cứu Hiện nay, các chính sách về BHXH, BHYT đã có nhiều thay đổi, Luật Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện từ 2 năm nay, Luật Bảo hiểm y tế đã được Quốc hội thông qua nên cần khảo sát đánh giá toàn diện đầy đủ các mặt của công tác thông tin tuyên truyền, nhất là mô hình bộ máy tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền

ở BHXH các địa phương

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề án

Mục đích:

Khái quát hoá cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng và đưa ra các giải

pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền của hệ thống

BHXH Việt Nam

Nhiệm vụ:

- Khái quát những lý luận cơ bản, khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng việc

tổ chức công tác thông tin tuyên truyền của hệ thống BHXH Việt Nam trong những năm gần đây để tìm ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

Trang 7

- Đề xuất các biện pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền của hệ thống BHXH Việt Nam

4 Đối t−ợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối t−ợng nghiên cứu: đối t−ợng tham gia BHXH, BHYT, BHTN, chủ sử

dụng lao động, các cơ quan hữu quan, công tác tổ chức tuyên truyên ở BHXH các

Trang 8

Chương 1

Một số lý luận cơ bản

về công tác thông tin tuyên truyền

1.1 Khái niệm thông tin, truyền thông và tuyên truyền

1.1.1 Khái niệm thông tin

Thuật ngữ “Thông tin” được bắt nguồn từ chữ La tinh informetio, thuật ngữ này được giải thích theo hai nghĩa: thứ nhất, đó là một hành động cụ thể để tạo ra hình thái; thứ hai, đó là sự truyền đạt một ý tưởng hay một biểu tượng

Theo quan điểm triết học, thì thông tin là một hiện tượng vốn có, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Mặt khác, thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Phản ánh là năng lực của hệ thống vật chất này tái hiện trong nó những

đặc điểm, thuộc tính của hệ thống vật chất khác khi nó chịu tác động của hệ thống vật chất ấy Về mặt nhận thức luận, thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất, nhưng không phải ngay từ đầu con người đã nhận thức ở cấp độ khái niệm Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập tới trong lý thuyết báo chí vào những năm 20-

30 của thế kỷ XX Từ đây, khái niệm thông tin đã đi vào khoa học hiện đại, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: điều khiển học, lý thuyết thông tin và tin học; đồng thời có thể phân biệt các loại thông tin như thông tin kinh tế, thông tin văn hoá xã hội, thông tin khoa học kỹ thuật

Theo Từ điển tiếng Việt (NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học - năm 2000) thì thông tin là truyền tin cho nhau, nhờ thông tin cuộc sống của loài người được nâng cao, giúp cho loài người ngày càng vươn tới văn minh, vươn tới sự hoàn thiện

Theo tác giả cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Báo chí Tuyên truyền, nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản năm 1999,thì “thông tin được sử dụng với những ý nghĩa

Trang 9

khác nhau trong các tình huống cụ thể khác nhau Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo, hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người, ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt

động thông tin phức tạp của các loài động vật khác nhau”

Trong xã hội hiện đại ngày nay, thông tin được coi là một nhu cầu bức thiết, là công cụ để điều hành quản lý chỉ đạo của mỗi cơ quan, đơn vị; nó còn là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết của mỗi quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế xã hội

Như vậy, khái niệm “thông tin” có thể được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản thông tin được hiểu theo hai nghĩa: đó là nội dung thông tin, đó là phương tiện chuyển tải, thông báo, báo tin

* Thông tin Báo chí:

Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại, báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề,

sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội

Theo tác giả E.P.Prôkhôrốp viết trong cuốn "Cơ sở lý luận của báo chí" phát hành năm 2001, từ "Thông tin" trong ngành báo chí cũng được sử dụng theo nhiều nghĩa, từ lâu nó đã được dùng trong ba nghĩa có quan hệ mật thiết với nhau: đó là các thông báo ngắn không bình chú về những tin tức nóng hổi của đời sống trong nước và quốc tế; là danh mục nhóm thể loại tin tức (các loại hình thông tin: tin ngắn, báo cáo, tường thuật, phỏng vấn); cuối cùng "Thông tin" đôi khi được hiểu là thể loại tin ngắn"

Trang 10

Theo quan niệm của tác giả Phạm Thành Hưng, trong cuốn “Thuật ngữ Báo chí - Truyền thông”: “Trong báo chí học và nghiên cứu truyền thông, thông tin đồng nghĩa với những số liệu, kết luận hàm súc, có một hình thức dường như không cần bình luận, bàn cãi về các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội cụ thể”.[10]

Khái quát lại, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất,

đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo hoặc sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người Thứ hai, đó

là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng

1.1.2 Khái niệm truyền thông

Truyền thông (Communication) là thuật ngữ bắt nguồn từ chữ la tinh: COMMUNIA Truyền thông là một quá trình chia sẻ thông tin, là một kiểu tương tác xã hội trong đó có ít nhất hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ những quy tắc và tín hiệu chung ở dạng giản đơn, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận; ở dạng phức tạp các thông tin trao đổi liên kết người gửi với người nhận

Truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin, diễn ra thường xuyên liên tục và phát triển không ngừng Từ những hình thức truyền thông đơn giản, người ta đi đến những hình thức hiện đại và phức tạp như truyền hình, Internet các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại trở thành những cái không thể thiếu được để đảm bảo sự hoạt động ổn định của mỗi nền kinh tế cũng như mỗi chế độ xã hội Mặt khác, truyền thông còn nhằm thỏa mãn nhu cầu tự nhận thức của con người Mỗi cá nhân trong xã hội đều cần có sự bộc

lộ những khía cạnh khác nhau của đời sống tinh thần, cần hiểu biết tâm tư, tình cảm, thái độ của mọi người trước mỗi sự kiện để tự điều chỉnh hành

động của mình sao cho hợp lý Chính quá trình truyền thông đã giúp con người hiểu mình đầy đủ hơn, nắm bắt được những gì liên quan giữa mình và

Trang 11

cuộc sống phong phú xung quanh, đánh giá được khả năng, xác định đúng cách thức, phương hướng cho những hành vi và hoạt động tiếp theo

Truyền thông có hiệu quả sẽ làm cho con người hiểu nhau; những chủ trương, đường lối, mệnh lệnh, chỉ thị, thông tin v.v được truyền đạt một cách nhanh chóng, chính xác, lấp được khoảng cánh giữa con người với con người, khoảng cánh giữa kinh tế, kỹ thuật và cơ chế quản lý xã hội Vòng tròn khép kín và mối quan hệ qua lại bởi thông tin nhiều chiều giữa nhà nước, các phương tiện thông tin và các tầng lớp xã hội có tác dụng thúc đẩy xã hội tiến lên, đó chính là quá trình vận động tất yếu của truyền thông

Hiện nay có nhiều cách hiểu về lĩnh vực truyền thông, trong đó có: truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời, truyền thông bằng hình

ảnh, biểu tượng, truyền thông cá nhân, truyền thông đại chúng Dù cách hiểu như thế nào thì truyền thông vẫn bao gồm ba phần cơ bản sau: nội dung, hình thức và mục tiêu Nội dung truyền thông là các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên, lời khuyến cáo hay mệnh lệnh Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như: động tác, điệu bộ, bài phát biểu, bài viết hay bản tin truyền hình Mục tiêu là cái đích của nguời truyền thông điệp hướng tới, có thể là của các tổ chức, cá nhân, các cơ quan,

đơn vị hay của Đảng và Nhà nước

1.1.3 Khái niệm tuyên truyền

Công tác tuyên truyền có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Nó là một hình thái của công tác tư tưởng, đối tượng là ý thức xã hội và ý thức con người Thông qua tuyên truyền, tác động lên trạng thái và quá trình vận động của

ý thức xã hội nhằm định hướng nhận thức, giải quyết mâu thuẫn tư tưởng, phát triển tiềm năng sáng tạo trong lĩnh vực tinh thần; đồng thời, dự báo xu hướng phát triển của diễn biến tư tưởng và các vấn đề lý luận nảy sinh

Theo một số tài liệu nghiên cứu, tuyên truyền với tư cách một hoạt động xã hội xuất hiện khá sớm trong lịch sử xã hội loài người nhằm truyền bá những kinh

Trang 12

nghiệm lao động và đấu tranh mà con người đã tích luỹ được trong quá trình cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội Tuy nhiên, thuật ngữ "Tuyên truyền" lại chỉ mới xuất hiện cách đây độ bốn trăm năm và được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến nhận thức, thái độ của con người và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định

Trong tiếng La tinh, thuật ngữ "tuyên truyền" (Propaganda) được giải nghĩa là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Trong đại bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền được giải thích theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về triết học, chính trị, khoa học, nghệ thuật nhằm biến những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm hình thành ở công chúng thế giới quan

và những chuẩn mực, những định hướng giá trị nhất định; kích thích, cổ vũ tính tích cực của con người trong các hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội

Khái niệm “Tuyên truyền” có thể được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, nhưng đơn giản và cụ thể là cách hiểu của Hồ Chí Minh: "Tuyên truyền là đem một việc nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm", trong tác phẩm "Người tuyên truyền và cách tuyên truyền"

1.2 Các yếu tố của công tác tuyên truyền

Tuyên truyền là một hoạt động xã hội đặc biệt Hoạt động này bao gồm các thành tố: chủ thể và khách thể (đối tượng), mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và hiệu quả tuyên truyền

1.2.1 Chủ thể tuyên truyền

Chủ thể tuyên truyền là những tập đoàn xã hội mà lợi ích của họ gắn liền

với tuyên truyền Trong tuyên truyền chính trị, chủ thể tuyên truyền là một giai cấp, một chính Đảng, một Nhà nước; các thiết chế xã hội được các giai cấp, chính Đảng, Nhà nước đó tổ chức, thành lập để truyền bá cương lĩnh, đường lối chính trị của họ và các nhà tuyên truyền (gồm người tuyên truyền chuyên nghiệp

và bán chuyên nghiệp)

Trang 13

Đối với tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN khi xây dựng lực lượng tuyên truyền có thể vận dụng các quan điểm trên Về cơ bản các lực lượng tham gia tuyên truyền BHXH, BHYT, BHTN bao gồm:

- Các tổ chức Đảng và Nhà nước, trước hết là các tổ chức Đảng và Nhà nước trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác BHXH, BHYT, BHTN Đây không chỉ

là lực lượng trực tiếp làm công tác tuyên truyền BHXH, BHYT, BHTN mà còn là lực lượng có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo công tác BHXH, BHYT, BHTN và công tác tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN

- Các cơ quan và cán bộ có chức năng chuyên trách công tác tuyên truyền

về BHXH, BHYT, BHTN Đây vừa là lực lượng trực tiếp tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN, vừa là lực lượng tham mưu cho các cấp ủy Đảng và các cơ quan BHXH về công tác này

Các cơ quan và cán bộ BHXH không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn

về BHXH, BHYT, BHTN mà còn phải tham gia tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT, BHTN và mục đích, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình, góp phần phát huy ảnh hưởng của tổ chức mình trong xã hội, đồng thời góp phần giác ngộ, động viên mọi người, mọi tổ chức tự nguyện tham gia BHXH, BHYT, BHTN Thủ trưởng cơ quan BHXH phải trực tiếp chỉ đạo công tác này

- Những người có năng lực, sở trường về công tác tuyên truyền, có hiểu biết về BHXH, BHYT, BHTN

Trong thực tiễn tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN, cần có cơ chế để thu hút và phối hợp với các cơ quan và cán bộ tuyên truyền vận động trong toàn xã hội, các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, những cán bộ về hưu, những nhà hoạt động chính trị và xã hội… tham gia tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN Thực hiện xã hội hoá công tác tuyên truyền BHXH, BHYT, BHTN

1.2.2 Đối tượng tuyên truyền

Đối tượng của tuyên truyền (khách thể tuyên truyền) là các đối tượng mà chủ thể tuyên truyền tác động đến để nhằm đạt mục đích đặt ra

Trang 14

Những đối tượng mà tuyên truyền BHXH, BHYT, BHTN cần tác động đến là:

- Những người, những tổ chức tham gia BHXH, BHYT, BHTN (bao gồm những người, những tổ chức sử dụng lao động và người lao động)

- Các nhà lãnh đạo, người tham gia hoạch định chính sách (cán bộ lãnh

đạo Đảng, Nhà nước, các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, cán bộ đoàn thể quần chúng, những người có uy tín trong xã hội như chức sắc các tôn giáo, thủ lĩnh các nhóm xã hội…) Việc tác động vào đối tượng này nhằm mục đích thay

đổi các chính sách hoặc những cam kết thực hiện đúng chính sách BHXH, BHYT, BHTN

- Toàn thể nhân dân lao động nói chung Việc tác động đến đông đảo nhân dân lao động về BHXH, BHYT, BHTN là nhằm tạo lập dư luận xã hội đúng về BHXH, BHYT, BHTN, huy động sự ủng hộ của toàn dân đối với công tác BHXH

1.2.3 Mục đích tuyên truyền

Mục đích tuyên truyền là sự phản ánh kết quả của quá trình tuyên truyền

dự kiến sẽ đạt tới, là sự dự báo có tính khoa học về những kết quả của toàn bộ hoạt động tuyên truyền do chủ thể tiến hành

Tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN có mục đích là:

- Cung cấp cho đối tượng tuyên truyền những nhận thức mới về BHXH, BHYT, BHTN

- Thay đổi thái độ của đối tượng tuyên truyền đối với công tác BHXH

- Động viên, cổ vũ nhân dân lao động và các tổ chức tham gia BHXH, BHYT, BHTN

1.2.4 Nội dung tuyên truyền

Nội dung tuyên truyền là nội dung các hoạt động mà chủ thể tuyên truyền xác định để chuyển tải đến đối tượng nhằm đạt được mục đích đặt ra Nội dung tuyên truyền do đối tượng, mục đích và điều kiện cụ thể của hoạt động tuyên truyền quy định

Tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN có các nội dung sau:

Trang 15

- Đường lối, chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về BHXH, BHYT, BHTN

- Các chế độ về BHXH, BHYT, BHTN và hướng dẫn việc thực hiện chế độ BHXH, BHYT, BHTN

- Hoạt động của ngành BHXH, đặc biệt là các kinh nghiệm hoạt động hay, các điển hình tiên tiến về thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN

- Giới thiệu kinh nghiệm của các nước trên thế giới về BHXH, BHYT, BHTN

- Các vấn đề liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN, v.v…

1.2.5 Phương pháp tuyên truyền

Phương pháp tuyên truyền là con đường, cách thức mà chủ thể tuyên

truyền sử dụng để chuyển tải thông tin, qua đó đối tượng tuyên truyền lĩnh hội, tiếp nhận dễ dàng và nhanh nhất Phương pháp tuyên truyền trước hết do đối tượng qui định, đồng thời còn do mục đích và nội dung tuyên truyền qui định Phương pháp tuyên truyền rất phong phú, đa dạng, nhưng có thể phân loại chúng như sau:

- Nếu phân loại theo cách sử dụng các phương tiện tác động đến đối tượng

có các phương pháp sau:

+ Nhóm các phương pháp dùng lời nói bao gồm các phương pháp độc thoại như giảng bài, báo cáo, thuyết trình, kể chuyện, nói chuyện thời sự - chính sách và các phương pháp đối thoại như trao đổi, toạ đàm, tranh luận, hỏi - đáp

+ Nhóm các phương pháp trực quan bao gồm các phương tiện tượng trưng như sơ đồ, bản đồ, biểu bảng , phương pháp sử dụng các phương tiện tạo hình như tranh ảnh, panô, áp phích, biểu ngữ, mô hình, phim đèn chiếu, triển lãm và phương pháp sử dụng các phương tiện in ấn như sách, báo, tạp chí, tờ rơi, tờ gấp, truyền đơn

- Nếu phân loại theo cách thức tổ chức đối tượng tuyên truyền, có các phương pháp tuyên truyền đại chúng (cho đông người), tuyên truyền nhóm (cho một nhóm người) và tuyên truyền cá biệt (cho một người)

Trang 16

1.2.6 Hình thức tuyên truyền

Hình thức tuyên truyền là biểu hiện bề ngoài, là cách thức sắp xếp nội

dung và tổ chức hoạt động giữa chủ thể và đối tượng tuyên truyền Hình thức tuyên truyền cũng hết sức đa dạng, phong phú và đòi hỏi cán bộ tuyên truyền phải có tính sáng tạo cao trong việc sử dụng Có thể phân chia các hình thức tuyên truyền thành hai nhóm sau:

- Hình thức tổ chức các lớp học; các buổi nói chuyện thời sự - chính sách, các cuộc hội nghị, hội thảo, các cuộc thi

- Hình thức tổ chức các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa, văn nghệ, nhân đạo từ thiện, các phong trào thi đua và nhiều hoạt động mang tính tập thể khác

Trong tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN có thể vận dụng các hình thức trên, nhất là nhóm các hình thức thứ nhất Trong số nhóm các hình thức thứ hai thì hình thức văn hóa - văn nghệ là hình thức hay được sử dụng và có thể mang lại hiệu quả cao Văn hóa - văn nghệ là hình thức khai thác, sử dụng các yếu tố tích cực của các loại hình văn nghệ (trước hết là văn nghệ truyền thống) vào công tác tuyên truyền để chuyển tải nội dung, chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước đến đối tượng

Tuy nhiên, khi sử dụng văn hóa - văn nghệ như một hình thức tuyên truyền phải phân biệt chương trình văn nghệ mang tính tuyên truyền với chương trình văn nghệ mang tính nghệ thuật Một chương trình văn nghệ tuyên truyền phải

được "tuyên truyền hoá", nghĩa là nó vừa phải thể hiện rõ nét nội dung tuyên truyền, vừa hấp dẫn, gây được không khí thoải mái, nhẹ nhàng có tác động cổ vũ con người hành động theo chủ đề, nội dung tuyên truyền Các thể loại văn nghệ thường dùng trong tuyên truyền là tấu, hát, ngâm thơ, ca dao, hò, vè, hoạt cảnh, kịch ngắn, dân ca

1.2.7 Phương tiện tuyên truyền

Phương tiện tuyên truyền là những vật mang nội dung và phương pháp tuyên truyền, là những công cụ mà chủ thể tuyên truyền sử dụng để truyền đạt và

Trang 17

đối tượng sử dụng để lĩnh hội, tiếp nhận nội dung Phương tiện tuyên truyền ngày càng phát triển phong phú tuỳ theo sự phát triển của nền kinh tế và những tiến bộ khoa học - kỹ thuật Ngày nay, khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, các phương tiện tuyên truyền ngày càng được các quốc gia hiện đại hoá ở nước ta, trong thực tiễn tuyên truyền vận động, người ta phân loại các phương tiện tuyên truyền theo cách dưới đây (có tài liệu gọi là kênh tuyên truyền):

- Các phương tiện thông tin tuyên truyền đại chúng (sách, tạp chí, báo in, phát thanh, truyền hình, hãng thông tấn, phim tài liệu - thời sự, băng hình, đĩa CD ROM, mạng Internet )

- Tuyên truyền miệng và hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên

- Hệ thống nhà trường

- Sinh hoạt, hội họp của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, kinh tế

- Các thiết chế văn hóa - văn nghệ và hoạt động của chúng

Mỗi phương tiện trên đây đều có ưu thế và hạn chế nhất định Khi sử dụng các phương tiện tuyên truyền không nên đề cao hay coi nhẹ một phương tiện nào

đó Vấn đề là ở chỗ phải kết hợp hợp lý các phương tiện sao cho chúng phát huy tối đa ưu thế, hạn chế đến mức tối thiểu nhược điểm, sao cho công tác tuyên truyền đạt hiệu quả cao nhất Kinh nghiệm cho thấy, trong tuyên truyền việc sử dụng đa phương tiện (đa kênh) thường cho hiệu quả cao hơn

1.2.8 Hiệu quả tuyên truyền

Hiệu quả tuyên truyền là sự so sánh giữa kết quả tuyên truyền đạt được và mục đích đặt ra có tính đến những chi phí về nhân lực, kinh phí cho một kết quả

mà công tác tuyên truyền đạt tới Hiệu quả tuyên truyền được xác định thông qua

sự thay đổi trong ý thức và hành động hay trong nhận thức, thái độ và hành vi của

đối tượng

Tất cả các yếu tố trên tác động qua lại và qui định lẫn nhau, thống nhất biện chứng với nhau trong một chỉnh thể và hình thành hệ thống tuyên truyền của một chủ thể nhất định Tính khoa học và nghệ thuật tuyên truyền phụ thuộc vào

Trang 18

khả năng nhận thức và vận dụng, tác động và điều chỉnh các mối quan hệ giữa các yếu tố đó nhằm đạt hiệu quả tuyên truyền cao nhất

1.3 Lập kế hoạch tuyên truyền

Kế hoạch có thể hiểu là một tập hợp những phương pháp, cách thức để hoàn thành mục tiêu Để thực hiện một công việc hay nhiệm vụ gì thì khâu lập kế hoạch là khâu quan trọng hàng đầu Khi lập kế hoạch thì tư duy quản lý sẽ được

hệ thống hơn, có thể tiên liệu được các tình huống sảy ra, phối hợp được các nguồn lực, tổ chức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp tiến công và hoàn thành mục tiêu đề ra Bên cạnh đó, nhà quản lý dễ dàng kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện công việc hoặc nhiêm vụ

Kế hoạch tuyên truyền là văn bản trong đó trình bày một cách có hệ thống những công việc dự định phải làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành cụ thể

Để có kế hoạch tuyên truyền, phải tiến hành 2 bước:

Bước 1: Chuẩn bị lập kế hoạch tuyên truyền

- Xây dựng, thử nghiệm thông điệp và tài liệu tuyên truyền

- Lập thời gian biểu và phân bố nguồn lực

- Thực hiện và giám sát

- Đánh giá và duy trì

Trang 19

Phân tích thực trạng là bước đầu tiên trong tiến trình lập kế hoạch tuyên truyền Nó bao gồm 2 hoạt động: phân tích vấn đề và phân tích tổ chức

Phân tích vấn đề: là quá trình xác định những vấn đề lớn, ưu tiên của

tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN cho các nhóm đối tượng trong điều kiện

cụ thể của nơi diễn ra kế hoạch tuyên truyền Để tìm ra những vấn đề ưu tiên cần phải can thiệp bằng tuyên truyền thì mới giải quyết được vấn đề, cách tốt nhất mà các nhà nghiên cứu tuyên truyền xây dựng các tiêu chuẩn xác định Dưới đây là các tiêu chuẩn để xác định vấn đề ưu tiên tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN

Lập thời gian biểu và phân bổ nguồn lực Thực hiện và giám sát

Đánh giá và duy trì

Trang 20

Biểu 1.2: cách xác định vấn đề ưu tiên

Nhu cầu

và điều kiện địa phương

Tính phổ biến

Tính Bức xúc

Tính khả

thi

Tính cộng

Phân tích tổ chức: là việc khảo sát những đặc trưng nội lực và ngoại lực

của cơ quan, tổ chức thực hiện tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN:

- Phân tích nội lực (thuận lợi và khó khăn):

+ Bộ máy tổ chức của cơ quan tuyên truyền (bao gồm bộ máy tham mưu, giúp việc, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và bộ máy trực tiếp tiến hành các hoạt động tuyên truyền ) đã được xây dựng chưa?

+ Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Cán bộ tuyên truyền đủ hay thiếu; năng lực cao hay thấp, đã được đào tạo về lý thuyết, kỹ năng tuyên truyền

về BHXH, BHYT, BHTN chưa; đã có hay chưa có kinh nghiệm tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN; khả năng thiết lập các mối quan hệ và giao tiếp với đối tượng; khả năng quản lý, chỉ đạo, giám sát, nghiên cứu và đánh giá chương trình; tinh thần trách nhiệm và sự tận tuỵ trong công việc

+ Trang thiết bị, phương tiện tuyên truyền hiện có trong tổ chức

+ Các nguồn tài chính sẵn có và khả năng tạo ra các nguồn lực khác của cán bộ thực hiện kế hoạch

Trang 21

+ Các mối quan hệ đã có và sẽ có của cơ quan thực hiện kế hoạch tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN với các tổ chức, cơ quan khác trong cộng đồng

+ Các phương tiện tuyên truyền hiện có ở nơi diễn ra kế hoạch tuyên truyền

+ Nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng và những nhân tố tác động

đến sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi đó

1.3.1.2 Phân tích đối tượng

Phân tích đối tượng là quá trình xác định, phân loại các nhóm đối tượng chính để tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN và những đặc điểm của đối tượng có liên quan đến quá trình thực hiện kế hoạch Kết quả phân tích về nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng là cơ sở để xác định mục tiêu, thiết kế thông điệp và lựa chọn phương pháp, phương tiện tuyên truyền Phân tích đối tượng vừa đóng vai trò là một nghiên cứu khởi điểm, vừa là một nghiên cứu cần thiết cho việc đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch

Trong quá trình nghiên cứu đối tượng, cần thiết phải xác định đối tượng ưu tiên và chia nhóm đối tượng Căn cứ để xác định đối tượng ưu tiên là vấn đề ưu tiên tuyên truyền và các số liệu nghiên cứu về đối tượng Căn cứ chia nhóm đối tượng là thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng Căn cứ vào mục tiêu tuyên truyền người ta còn chia đối tượng thành đối tượng trực tiếp và đối tượng gián tiếp (hay đối tượng liên quan) Đối tượng trực tiếp là những người là mục tiêu tác động trực tiếp của tuyên truyền Đối tượng gián tiếp là những người

có khả năng tác động và gây ảnh hưởng đến quá trình thay đổi hành vi của đối

tượng trực tiếp

1.3.2 Lập kế hoạch tuyên truyền

1.3.2.1 Xác định mục tiêu tuyên truyền

Mục tiêu tuyên truyền là những dự định, mong muốn mà đối tượng có thể thay đổi sau khi được tuyên truyền, nói cách khác, mục tiêu tuyên truyền là những hành vi mong đợi ở đối tượng sau khi được can thiệp tuyên truyền

Các loại mục tiêu:

Trang 22

- Mục tiêu trước mắt: là mục tiêu được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu các nhóm đối tượng cụ thể, trong từng giai đoạn cụ thể, ngắn hạn, trước mắt

và trong những điều kiện cụ thể Nó được xem là mục tiêu thực tế nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng

- Mục tiêu dài hạn: là mục tiêu được hình thành trên cơ sở chính sách, chương trình tuyên truyền mang tính quốc gia Mục tiêu dài hạn là cơ sở để xác

định mục tiêu ngắn hạn, trước mắt

Mục tiêu tuyên truyền gồm 4 thành phần: nhóm đối tượng cụ thể của tuyên truyền; loại hành vi mong muốn thay đổi; các chỉ số để đo đạc thành công của kế hoạch; khi nào và ở đâu kế hoạch đó diễn ra Đồng thời mục tiêu được xây dựng trên cơ sở trả lời 4 câu hỏi:

- Sự thay đổi đó ở Ai?

- Kế hoạch tuyên truyền muốn thay đổi Cái gì, Điều gì?

- Thay đổi đến Mức độ nào?

- Kế hoạch tuyên truyền được triển khai Khi nào? ở đâu?

1.3.2.2 Lập ma trận đối tượng, mục tiêu và các hoạt động tuyên truyền

Sau khi phân tích đối tượng, xác định mục tiêu tuyên truyền, người lập kế hoạch cần lập ma trận kế hoạch Ma trận này phản ánh các nhóm đối tượng chủ yếu, nhu cầu thông tin của mỗi nhóm, hình thức và kênh chuyển tải thông điệp, cơ quan thực hiện và phối hợp, thời gian, kinh phí cho mỗi hoạt động

Cơ quan/

người phối hợp

Thời gian (bắt đầu - kết thúc)

Trang 23

- Biên tập nội dung tài liệu tuyên truyền:

Khi biên tập nội tài liệu tuyên truyền, cán bộ tuyên truyền phải trả lời được các câu hỏi sau đây:

+ Tài liệu xây dựng cho đối tượng nào? Họ sử dụng tài liệu như thế nào? + Tài liệu đến với đối tượng bằng cách nào?

+ Thông điệp được thiết kế bằng phương pháp, quy trình nào? Thử nghiệm như thế nào?

+ Đã lựa chọn kênh tuyên truyền để sử dụng tài liệu chưa? Tại sao chọn kênh đó?

+ Có đủ điều kiện về nhân lực, tài chính và trang thiết bị để sản xuất tài liệu chưa?

+ Đã có cơ chế thu nhận thông tin phản hồi về sử dụng tài liệu chưa?

+ Nội dung của từng thông điệp?

+ Thông điệp xây dựng cho loại hình tuyên truyền nào?

+ Khuôn khổ thông điệp ra sao?

+ Khi nào các thông điệp được hoàn thành?

+ Các điều kiện cần và đủ cho việc hoàn thành các thông điệp?

- Thiết kế phác thảo đầu tiên của tài liệu

Sau khi nội dung tài liệu tuyên truyền được biên tập, có một công việc hết sức quan trọng, quyết định chất lượng tài liệu, đó là chọn ai, cơ quan nào sản xuất tài liệu Cơ quan thực hiện kế hoạch tuyên truyền có thể tự sản xuất tài liệu không, nếu không thì ký hợp đồng với một cơ quan, nhóm nghiên cứu khác

Quyết định chọn ai, cơ quan nào thiết kế tài liệu dựa trên việc trả lời các câu hỏi:

Trang 24

+ Họ có trình độ chuyên môn hay kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế tài liệu không?

+ Họ đã tham gia thiết kế một tài liệu nào gần giống như tài liệu này chưa? + Họ có thể hoàn thành tài liệu đúng thời hạn không?

+ Họ có chấp nhận mức chi phí như quy định không?

+ Tài liệu do họ thiết kế có đảm bảo chất lượng, hiệu quả tuyên truyền không?

- Thử nghiệm tài liệu

Mọi tài liệu đã được phác thảo (sách, tờ rơi, chương trình phát thanh, truyền hình ) đều được thử nghiệm ở đối tượng để đánh giá sự phù hợp và chất lượng của chúng trước khi quyết định sản xuất, phân phối Kết quả thử nghiệm tài liệu là cơ sở để điều chỉnh nội dung, hình thức tài liệu và quyết định việc sản xuất tài liệu hàng loạt Thử nghiệm tài liệu tránh được việc lãng phí do sản xuất tài liệu không phù hợp với đối tượng Tài liệu tuyên truyền tốt, phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả tuyên truyền

1.3.2.4 Lập thời gian biểu và phân bổ nguồn lực

*Lập thời gian biểu kế hoạch tuyên truyền:

- Mỗi kế hoạch tuyên truyền đều diễn ra trong một khung thời gian nhất

Trang 25

+ Động viên tinh thần của các cá nhân, nhóm, tổ chức

+ Phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các cá nhân, nhóm, tổ chức

+ Phân bổ kinh phí hợp lý cho các hoạt động và tranh thủ tài trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

+ Mua sắm tài liệu, thiết bị, phương tiện hỗ trợ cần thiết

1.3.2.5 Giám sát và đánh giá

- Giám sát là một hoạt động thường xuyên của quản lý nhằm xem xét, phát hiện việc thực hiện toàn bộ hay một phần kế hoạch hoạt động đã được hoạch định

để giúp nhà quản lý luôn luôn bám sát kế hoạch đề ra, thực hiện tốt mục tiêu của

kế hoạch Trong hoạt động giám sát, cán bộ quản lý công tác tuyên truyền cần tiến hành các nội dung sau:

+ Giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch trong thực tế so với dự kiến trong kế hoạch (nhanh, chậm hay đúng tiến độ)

+ Giám sát các điều kiện thực hiện kế hoạch (điều kiện tài chính, nhân lực, trang thiết bị) có đảm bảo thực hiện kế hoạch đúng tiến độ hay không

+ Giám sát kết quả các hoạt động có khả năng đạt được mục tiêu của kế hoạch không

- Đánh giá thực hiện kế hoạch

Đánh giá là hoạt động định kỳ của quản lý nhằm so sánh kết quả đạt được với mục tiêu mà kế hoạch đặt ra và xác định tính hợp lý, kết quả, hiệu quả của kế hoạch tuyên truyền Khi đánh giá, nhà quản lý tuyên truyền thực hiện các nội dung sau (nội dung đánh giá):

+ Đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu trong kế hoạch tuyên truyền

+ Đánh giá số lượng và chất lượng các hoạt động được xác định trong kế hoạch

+ Đánh giá tiến độ, thời gian thực hiện

1.3.2.6 Duy trì kế hoạch tuyên truyền

Duy trì là các công việc phải thực hiện tiếp theo của một kế hoạch tuyên truyền để đảm bảo tính diễn tiến của kế hoạch, làm cho kế hoạch tuyên truyền

Trang 26

không phải là một hoạt động nhất thời, hay một "giải pháp chớp nhoáng" Duy trì cho phép kế thừa một phần những nguồn lực đầu tư cho kế hoạch lần này được phát huy hiệu quả ở những kế hoạch tiếp theo, nhằm giữ vững và phát huy hơn nữa tác động của một kế hoạch đối với việc giải quyết vấn đề trong tương lai Để duy trì một kế hoạch tuyên truyền về BHXH, cần tiến hành các hoạt động sau:

+ Xây dựng một kế hoạch tuyên truyền mới giải quyết ở tầm cao hơn những mục tiêu tuyên truyền đặt ra hoặc mở rộng mục tiêu của kế hoạch đến lĩnh vực khác, đối tượng khác

+ Kết nối, lồng ghép các vấn đề truyền thông về BHXH với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tài chính

+ Đào tạo cán bộ và những người trong cộng đồng về năng lực thực hiện và quản lý kế hoạch tuyên truyền về BHXH

+ Tổ chức các hoạt động gây quĩ hoặc huy động các nguồn lực từ xã hội

nhằm đảm bảo những hỗ trợ cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch tuyên truyền

về BHXH trong tương lai

Trang 27

Chương 2:

Thực trạng công tác thông tin tuyên truyền

của hệ thống BHXH Việt Nam

2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển công tác thông tin tuyên truyền của Bảo hiểm x∙ hội Việt Nam

Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 19/CP ngày

16 tháng 02 năm 1995 của Chính phủ, tại Nghị định này đã quy định công tác tuyên truyền là một trong những nhiệm vụ của BHXH Việt Nam: “ Tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, giải thích các chế độ, chính sách về BHXH” Quy chế về tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 606/QĐ - TTg ngày 26/9/1995 của Thủ tướng Chính phủ cũng xác định chức năng của công tác tuyên truyền là: “Tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, giải thích các chế độ, chính sách về BHXH”

Ngay sau ngày thành lập, BHXH Việt Nam rất chú trọng đến công tác tuyên truyền, song đây là một lĩnh vực mới không chỉ đối với lãnh đạo mà còn cả với đội ngũ cán bộ thực hiện Bởi trong một thời gian dài nhà nước bao cấp gần như toàn bộ chính sách BHXH, công tác tuyên truyền hầu như bỏ ngỏ Thời kỳ này, Phòng Thông tin - Tuyên truyền được thành lập là một phòng chức năng của Trung tâm Thông tin - Khoa học Đây mới là giai đoạn chuẩn bị, công tác thông tin tuyên truyền thực hiện hai nhiệm vụ chính là: nghiên cứu và thực hiện chức năng chỉ đạo BHXH các địa phương thực hiện công tác tuyên truyền Tuy vậy, cũng đã ra mắt được những bản tin nhanh với tính chất thông báo hoạt động của nội bộ ngành

Sau gần hai năm hoạt động, tháng 01 năm 1997 đã xuất bản được cuốn Thông tin BHXH với nội dung phong phú hơn, ngoài các thông tin hoạt động nội

bộ còn có các thông tin khoa học và kinh tế xã hội Thực tiễn tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền BHXH, bên cạnh chức năng tuyên truyền đã xuất

Trang 28

hiện thêm chức năng báo chí Trước yêu cầu đó, BHXH Việt Nam đã xin phép thành lập Tạp chí BHXH và được Bộ Văn hoá - Thông tin cấp phép thành lập tháng 01 năm 1999 Đến tháng 7 năm 2001, tạp chí BHXH được tách ra khỏi Trung tâm Thông tin - khoa học, hoạt động độc lập theo Luật Báo chí Phòng Thông tin - Tuyên truyền vẫn thuộc Trung tâm Thông tin - Khoa học với chức năng chuyên môn hoá tuyên truyền về BHXH và thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu tham mưu giúp Giám đốc Trung tâm Thông tin - Khoa học

đề xuất với Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về định hướng và các biện pháp tuyên truyền BHXH theo hướng phát triển lĩnh vực tuyên truyền thông qua hình thức Tạp chí và Báo

- Xây dựng kế hoạch tuyên truyền hàng năm của BHXH Việt Nam và BHXH các địa phương

- Tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền về BHXH sau khi Tổng Giám đốc phê duyệt, theo các hình thức:

+ Phối hợp với các cơ quan truyền thông ở Trung ương (các cơ quan báo viết, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam) thường xuyên tuyên truyền về BHXH

+ Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác thông tin tuyên truyền đối với BHXH các địa phương

+ Xây dựng và phát hành các ấn phẩm tuyên truyền của ngành

+ Tổ chức các đợt tuyên truyền theo kế hoạch và đột xuất

+ Tổ chức các nhiệm vụ tuyên truyền khác theo chỉ đạo của Tổng Giám

đốc BHXH Việt Nam

Về mặt tổ chức tại thời điểm này: ở BHXH Việt Nam có hai đầu mối chính thực hiện công tác thông tin tuyên truyền là Tạp chí BHXH và Trung tâm Thông tin - Khoa học (Phòng Thông tin - Tuyên truyền) ở BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không có phòng Thông tin - Tuyên truyền và cũng chưa

có cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên truyền Công tác tuyên truyền được

Trang 29

giao cho một cán bộ thuộc Phòng Tổ chức - Hành chính kiêm nhiệm

Thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy của Chính phủ phù hợp với Luật

Tổ chức Chính phủ mới và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

IX, ngày 24 tháng 01 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ- TTg, chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam quản lý Tiếp sau đó ngày 06 tháng 12 năm 2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức cử BHXH Việt Nam Theo cơ cấu tổ chức mới, Ban Tuyên truyền BHXH và Báo BHXH được thành lập Phòng Thông tin Tuyên truyền thuộc Trung tâm Thông tin - Khoa học trước đây được tách ra và trực thuộc Ban Tuyên truyền BHXH

Ban Tuyên truyền BHXH là đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam, có chức năng giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về BHXH, BHYT Cơ cấu tổ chức gồm hai phòng: Phòng

Kế hoạch - Tổng hợp và Phòng Nghiệp vụ tuyên truyền Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Tuyên truyền BHXH được Tổng Giám đốc quy định như sau:

- Nghiên cứu, xây dựng trình Tổng Giám đốc ban hành các văn bản chỉ

đạo trong ngành về công tác tuyên truyền BHXH phù hợp với yêu cầu, mục tiêu

và phương hướng, nhiệm vụ của ngành

- Xây dựng trình Tổng Giám đốc phê duyệt kế hoạch tuyên truyền hàng năm của toàn ngành; tổ chức thực hiện kế hoạch được phê duyệt

- Làm đầu mối quan hệ với các cơ quan báo chí và xây dựng đội ngũ cộng tác viên để thực hiện công tác tuyên truyền

- Nghiên cứu, đề xuất, phối hợp với các đơn vị trực thuộc biên tập các ấn phẩm truyền thông thực hiện các hình thức tuyên truyền trên các kênh truyền thông phù hợp khác

- Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ; kiểm tra đánh giá việc tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền đối với BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Theo dõi, tổng hợp, phân tích thông tin trên báo chí và dư luận xã hội về BHXH để phục vụ công tác quản lý, điều hành của Tổng Giám đốc; kịp thời đề

Trang 30

xuất các giải pháp tuyên truyền phù hợp

- Phối hợp với các đơn vị trực thuộc và BHXH các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương để cung cấp thông tin cần thiết cho Tổng Giám đốc trả lời báo chí về vấn đề dư luận quan tâm phục vụ công tác tuyên truyền

- Hướng dẫn công tác truyền thống của ngành

- Thực hiện thống kê, tổng hợp, báo cáo theo quy định

- Quản lý công chức, viên chức theo phân cấp và tài sản được giao

Đến năm 2008, căn cứ vào Nghị định số 94/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ, quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã ban hành Quyết

định số 4799/QĐ-BHXH ngày 08 tháng 10 năm 2008, quy định chức năng nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tuyên truyền Theo đó Ban Tuyên truyền BHXH được đổi tên thành Ban Tuyên truyền, cơ cấu tổ chức gồm 2 phòng là: Phòng Nghiệp vụ Tuyên truyền và Phòng Thông tin - Truyền thông (Phòng

Kế hoạch - Tổng hợp trước đây không còn tồn tại nữa)

Có thể nói, đến thời điểm này về cơ cấu tổ chức bộ máy chưa có gì thay

đổi lớn, song nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Tuyên truyền được mở rất rộng hơn rất nhiều đó là: tham mưu giúp Tổng Giám đốc chỉ đạo, định hướng và quản lý Báo Bảo hiểm xã hội, Tạp chí BHXH thực hiện đúng mục đích, nhiệm

vụ của ngành và quy định của Luật Báo chí Tổ chức hoạt động tư vấn, giải

đáp chính sách BHXH, BHYT nhằm thông tin tuyên truyền, phổ biến chế độ chính sách BHXH, BHYT Tham mưu giúp Tổng Giám đốc quản lý website của ngành và các địa phương Hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác truyền thống của Ngành

2.2 Thực trạng công tác thông tin tuyên truyền của hệ thống BHXH Việt Nam

2.2.1 Đối tượng, nội dung tuyên truyền

Nói đến công tác tuyên truyền phải xác định được những tác động trong việc tuyên truyền đến với ai, nhằm mục đích gì, đó chính là xác định đối tượng

Trang 31

tuyên truyền và nội dung cần tuyên truyền Đối với lĩnh vực BHXH, BHYT công tác tuyên truyền được tiến hành thường xuyên liên tục trong nhiều năm qua, đối tượng tuyên truyền và nội dung cần tuyên truyền đã xác định như sau:

2.2.1.1 Đối tượng tuyên truyền của BHXH, BHYT, BHTN

Chính sách BHXH, BHYT, BHTN là những chính sách xã hội quan trọng,

nó tác động đến đời sống kinh tế và chăm sóc sức khoẻ của hầu hết các thành viên trong xã hội Mục tiêu của Đảng và Nhà nước về đổi mới chính sách BHXH, BHYT và chiến lược phát triển ngành BHXH là thực hiện chế độ BHXH cho mọi người lao động ở tất cả các thành phần kinh tế và tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Như vậy, đối tượng tiếp nhận các thông tin BHXH, BHYT, BHTN hiện nay ở nước ta phải là tất cả mọi người trong xã hội Thực tế hiện nay chưa có thể áp dụng hình thức thức tuyên truyền chung đến với mọi tầng lớp trong xã hội, mà tập chung vào các nhóm đối tượng chính sau:

a) Đối với lãnh đạo Đảng và Nhà nước:

Việc tuyên truyền với đối tượng là lãnh đạo Đảng và Nhà nước rất quan trọng Những thông tin đầy đủ về kết quả thực hiện chính sách, những khó khăn trong quá trình quản lý thực hiện cần tháo gỡ, những bất cập của chính sách đối với các bên tham gia BHXH, BHYT, BHTN, giúp cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nghiêm các chính sách về BHXH, BHYT, BHTN

b) Đối với lãnh đạo các cấp, ngành:

Để cho những đối tượng này nắm bắt được chủ trương của Đảng, Nhà nước

về chính sách BHXH, BHYT, BHTN, mục đích, nội dung các biện pháp thực hiện trong từng thời kỳ, giai đoạn của ngành BHXH từ đó chỉ đạo các đơn vị thuộc phạm vi mình phụ trách thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người lao động Khi tuyên truyền đến đối tượng này cần chỉ ra được cụ thể kết quả, thuận lợi, khó khăn, những cách thức phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo để thực hiện tốt công tác

Trang 32

BHXH, BHYT, BHTN

c) Đối với CSDLĐ:

Tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN cho CSDLĐ là cực kỳ quan trọng vì đối tượng này là chủ thể tham gia và thực hiện các quy định về BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động Tuyên truyền cho đối tượng này nhằm mục đích nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN, hiểu về các quy định

cụ thể trong từng nội dung của pháp luật BHXH, BHYT, BHTN; quan trọng nhất

là trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ của mình với người lao động do mình quản lý; đồng thời giúp họ thấy rõ vai trò và quyền lợi của mình khi tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động

d) Đối với người lao động:

Hiện nay dân số Việt Nam là 85 triệu dân, trong đó lực lượng lao động là 46,61 triệu người, chiếm 54,8% Riêng số người lao động làm công ăn lương chiếm khoảng 26,31% lực lượng lao động xã hội Đây là đối tượng tuyên truyền rất lớn, mục đích tuyên truyền đến với đối tượng này là làm cho họ hiểu tính nhân văn trong chính sách lớn mà Đảng và Nhà nước dành cho NLĐ Giúp họ nhận thức được rằng từ lúc sinh đến lúc chết đi họ đều được hưởng quyền lợi trong các chế độ của chính sách BHXH, BHYT, BHTN Tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN đối với NLĐ còn giúp họ hiểu về trách nhiệm và quyền lợi của họ

từ đó giúp NLĐ có thể mạnh dạn đấu tranh với giới chủ để thực hiện trách nhiệm với mình Trong thực tế ở nhiều cuộc bãi công của NLĐ ở các doanh nghiệp, một trong những đòi hỏi của họ là yêu cầu giới chủ thực hiện cho họ về quyền lợi của người lao động Tuyên truyền cho đối tượng là người lao động phải mang tính liên tục bằng nhiều hình thức Xét về tính hiệu quả của công tác tuyên truyền thì tuyên truyền đối với đối tượng là người lao động là hiệu quả nhất vì khi mỗi người lao động hiểu biết về BHXH, BHYT, BHTN họ sẽ truyền bá lại cho người khác có nghĩa là sự truyền thông mang được tính xã hội hoá cao

e) Đối với lực lượng vũ trang:

Trang 33

Lực lượng vũ trang và những người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang (Bộ Quốc phòng, Bộ Công An, Ban Cơ yếu Chính phủ) là những đối tượng buộc phải tham gia BHXH, BHYT Từ trước tới nay, công tác tuyên truyền ít được quan tâm đối với đối tượng này

*Đối tượng này có đặc điểm khác với các đối tượng khác là:

- Là lực lượng có số lượng lao động lớn được đào tạo chính quy, hiện đại,

có hệ thống, được rèn luyện, thử thách, sẵn sàng chiến đấu, xả thân vì cách mạng

và tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh của chỉ huy và lãnh đạo các cấp

- Lao động trong lực lượng vũ trang là lao động chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, có mức độ nguy hiểm cao, nên được coi là lao động đặc biệt

- Trong lực lượng vũ trang còn có một bộ phận làm công tác phục vụ hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp làm nhiệm vụ quốc phòng, kinh tế - quốc phòng và kinh tế Những đơn vị này quản lý một số lượng lớn CNVC, lao động hợp đồng cũng luôn di, biến động do đặc thù tổ chức cũng như tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay

- Tính đặc thù trong lực lượng vũ trang còn thể hiện trên góc độ bí mật

- Địa bàn hoạt động của lực lượng vũ trang trải rộng từ biên giới đến hải

đảo, từ đồng bằng đến miền núi Do yêu cầu, nhiệm vụ công tác, lực lượng này luôn di, biến động cả về quy mô, cơ cấu nhân sự cũng như nhiệm vụ và địa bàn hoạt động

- Hầu hết đối tượng tham gia BHXH thuộc lực lượng vũ trang khi nghỉ hưởng BHXH không cư trú cùng địa bàn làm việc

*Trong đối tượng tham gia BHXH tại các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang khi tuyên truyền cần chú ý tới:

- Khối hưởng lương từ ngân sách Nhà nước:

+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan (hưởng lương), công an nhân dân, công chức viên chức quốc phòng và công chức viên chức công an nhân dân hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước

Trang 34

+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân hưởng sinh hoạt phí từ nguồn NSNN: Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đóng 2% mức tiền lương tối thiểu để thực hiện 02 chế độ BHXH: TNLĐ - BNN và tử tuất

- Khối doanh nghiệp:

+ Quân nhân, công an nhân dân, công nhân viên chức quốc phòng, công nhân viên chức công an nhân dân, lao động hợp đồng có thời hạn từ 03 trở lên làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang

+ Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân hưởng sinh hoạt phí: doanh nghiệp đóng 2% mức tiền lương tối thiểu để thực hiện 02 chế độ: TNLĐ-BNN và tử tuất

Vì vậy, tuyên truyền BHXH đối với lực lượng vũ trang phải chú trọng tính

đặc thù riêng của đối tượng này thì mới mang lại hiệu quả cao

g) Đối với nhân dân:

Đối tượng là nhân dân ở đây cần hiểu ở góc độ tương đối, bao hàm những người là nông dân, những người làm việc hoặc nghề nghiệp tự do ở thành thị… thuộc diện tham gia BHXH, BHYT tự nguyện Tuyên truyền đến đối tượng này

để họ hiểu được nội dung của chính sách, quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia Xuất phát từ hiểu biết về chính sách BHXH, BHYT người lao động sẽ tìm đến làm việc ở những thành phần kinh tế mà người lao động được tham gia BHXH, BHYT bắt buộc hoặc là căn cứ vào thu nhập của bản thân trong điều kiện lao

động thực tế họ có thể tham gia BHXH tự nguyện khi luật pháp cho phép

h) Đối tượng là khối học sinh, sinh viên:

Đây chính là lực lượng lao động có tri thức và CSDLĐ tương lai của xã hội, họ sẽ là đối tượng tham gia BHXH, BHYT Tuyên truyền đến đối tượng này

là hết sức cần thiết vì ở đó trước mắt họ có thể tham gia BHYT mà hiện nay BHXH Việt Nam đang tổ chức thực hiện và sau này khi đến với lao động họ hiểu ngay được BHXH là gì? sự cần thiết của chính sách này với bản thân và xã hội, ý thức được trách nhiệm của mình khi trở thành giới chủ quản lý lao động

Trang 35

Có thể kết luận rằng tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN phải biết tìm những đối tượng cụ thể để tuyên truyền, mục đích của công tác này là làm cho toàn xã hội hiểu được bản chất, tính xã hội - kinh tế, tính nhân văn của chính sách và chính sự hiểu biết của CSDLĐ, NLĐ tham gia BHXH, BHYT, BHTN nói riêng và toàn xã hội nói chung sẽ giúp cho chúng ta quản lý và thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, BHTN đối với NLĐ

2.2.1.2 Nội dung tuyên truyền của BHXH, BHYT, BHTN

Trong những năm qua, công tác tuyên truyền về BHXH, BHYT của Ngành BHXH tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:

- Tuyên truyền mục đích ý nghĩa, tính nhân văn, nhân đạo của chính sách BHXH, BHYT

- Tuyên truyền về vai trò của BHXH, BHYT đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Tuyên truyền về quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước

về chính sách BHXH, BHYT: các quan điểm, chủ trương này được thể hiện trong các Chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về chính sách BHXH, BHYT, quá trình thực hiện chính sách này trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tầm quan trọng của chính sách BHXH, BHYT đối với NLĐ và đối với sự phồn thịnh của quốc gia Nội dung tuyên truyền này có tính bao quát rộng lớn nhất vì đối tượng được tuyên truyền sẽ hiểu được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực này, hiểu được tính nhân văn và xã hội sâu sắc của chính sách BHXH, BHYT

- Tuyên truyền về nội dung các văn bản pháp quy về BHXH, BHYT: trong quá trình thực hiện các chính sách BHXH, BHYT ở nước ta từ trước tới nay luôn chắp vá, không đồng bộ Vì vậy, tuyên truyền về nội dung các văn bản pháp quy

sẽ giúp cho lãnh đạo các cấp, ngành hiểu được rõ hệ thống nội dung cơ bản về pháp luật BHXH, BHYT trong từng giai đoạn, quá trình tổ chức và thực hiện chính sách từ đó có sự chỉ đạo đến những chủ thể có liên quan đến lĩnh vực này phải thực hiện tốt quy định về BHXH, BHYT

Trang 36

Đặc biệt, tuyên truyền nội dung các văn bản pháp quy hết sức quan trọng

đối với CSDLĐ Vì chỉ có hiểu được nội dung về pháp luật BHXH, BHYT, những quy định về trách nhiệm khi quản lý NLĐ họ mới thực hiện tốt trách nhiệm của mình Tuyên truyền nội dung các văn bản pháp quy cũng cần phải xác định đối tượng nào cần thiết với nội dung gì của các văn bản pháp luật BHXH, BHYT

để họ hiểu được phạm vi mà mình phải chịu trách nhiệm do văn bản pháp quy BHXH, BHYT điều chỉnh để thực hiện tốt

Thực tế trong giai đoạn vừa qua tuyên truyền đến đối tượng là CSDLĐ tập trung phần lớn vào việc thực hiện nghĩa vụ mà không tuyên truyền về quyền lợi

được hưởng Quyền của CSDLĐ trong việc thực hiện BHXH, BHYT với NLĐ không mang tính vật chất trực tiếp Quyền lợi đó có được khi thực hiện nghĩa vụ tham gia BHXH, BHYT, thể hiện lúc NLĐ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN và những trường hợp vượt quá khả năng của CSDLĐ (ốm đau dài ngày, bệnh nghề, ) đã có cơ quan BHXH chịu trách nhiệm thay BHXH, BHYT xét về lâu dài là quyền lợi mà CSDLĐ được hưởng, là chỗ dựa vững chắc trong quá trình quản lý sản xuất kinh doanh Quan trọng hơn là NLĐ yên tâm làm việc và gắn bó với giới chủ, mang sức lao động của mình cống hiến giúp sản xuất kinh doanh

đạt hiệu quả cao

Ngoài ra, tuyên truyền về các văn bản pháp quy về BHXH, BHYT, BHTN

sẽ giúp cho CSDLĐ, NLĐ tham gia hiểu được vị trí quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN trong hệ thống pháp luật của nước ta

- Tuyên truyền các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện các chế độ BHXH, BHYT, BHTN:

Đối tượng tiếp nhận nội dung tuyên truyền này là lực lượng lớn nhất thể hiện ở các mặt:

+ Là đối tượng quản lý có trách nhiệm như cán bộ lãnh đạo, các chủ sử dụng lao động, cán bộ quản lý dưới quyền, lãnh đạo các tổ chức xã hội ở các cơ

sở như: mặt trận, công đoàn, đoàn thanh niên, các cán bộ có trách nhiệm cùng với ngành BHXH, UBND quận, huyện, thị trấn, ban đại diện chi trả thực hiện các

Trang 37

quy định trong các chế độ của BHXH, BHYT, BHTN những đối tượng này hết sức quan trọng vì là những người trực tiếp thực hiện các quy định trong việc tổ chức thực hiện các chế độ về BHXH, BHYT đối với NLĐ, người đang hưởng các chế độ BHXH dài hạn nên họ cần phải biết được các quy định, quy trình trong việc tổ chức thực hiện

+ Là người lao động đang tham gia BHXH, BHYT, BHTN Đối tượng này phải hiểu được các quy định, nội dung các chế độ, quyền và trách nhiệm khi tham gia BHXH, BHYT, BHTN

Như vậy tuyên truyền các văn bản về tổ chức thực hiện sẽ giúp cho những người quản lý, NLĐ tham gia BHXH, BHYT, BHTN hiểu và thực hiện tốt các quy định, đặc biệt là NLĐ khi đã hiểu họ có thể dám đấu tranh với giới chủ, buộc giới chủ phải thực hiện trách nhiệm đối với mình

+ Các đối tượng khác: Tuyên truyền tính nhân văn, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với NLĐ, tầm quan trọng của Quỹ BHXH, BHYT, BHTN đối với

sự nghiệp phát triển của đất nước để họ hiểu biết BHXH, BHYT, BHTN là gì? vai trò, vị trí trong hệ thống chính sách xã hội của đất nước

- Tuyên truyền về kết quả hoạt động của hệ thống BHXH Việt Nam

Tuyên truyền, quảng bá kết quả hoạt động của hệ thống BHXH là nội dung không thể thiếu của công tác tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN vì hiệu quả của nội dung này đến với toàn xã hội để lãnh đạo các cấp, ngành, CSDLĐ, NLĐ

và mọi người hiểu được vai trò, vị trí của BHXH Việt Nam trong bộ máy Nhà nước, trách nhiệm của hệ thống BHXH trong việc quản lý và thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN Tuyên truyền kết quả của hệ thống BHXH giúp lãnh

đạo các cấp hiểu và quan tâm chỉ đạo cũng như dành cho ngành BHXH những

điều kiện cần thiết trong quá trình quản lý, giúp cho CSDLĐ, NLĐ yên tâm trong quá trình quản lý và thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của mình được quy định trong chính sách BHXH, BHYT, BHTN

Quảng bá kết quả của ngành BHXH đồng thời nêu rõ những khó khăn trong quá trình quản lý thực hiện để tranh thủ được sự ủng hộ và chỉ đạo của các

Trang 38

cấp có thẩm quyền để cho những bên có liên quan trong quá trình quản lý xác

định được những khó khăn nảy sinh trong quá trình quản lý, trách nhiệm thuộc

về ai để cùng sớm tìm ra những biện pháp khắc phục nhằm mục đích quản lý tốt hơn vì quyền lợi của NLĐ

- Tuyên truyền những mặt khác có liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN:

Đây là nội dung cần được chú ý trong quá trình tuyên truyền về BHXH, BHYT, BHTN được thể hiện ở các mặt:

+ Tuyên truyền về những bất cập của chính sách, những vấn đề cần sửa

đổi, bổ sung

+ Tuyên truyền kiến nghị của chủ thể tham gia quan hệ pháp lý về BHXH, BHYT, BHTN, nguyện vọng của NLĐ, của xã hội đối với chính sách này

+ Tuyên truyền vai trò của các cơ quan có liên quan trong quá trình quản

lý, tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN tinh thần trách nhiệm tốt, không tốt của các CSDLĐ trong lĩnh vực này

+ Tuyên tuyền, phổ biến gương người tốt việc tốt trong việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT

+ Tuyên truyền kinh nghiệm quản lý BHXH của các nước trên thế giới

2.2.2 Hình thức và phương tiện tuyên truyền

2.2.2.1 Hình thức và phương tiện tuyên truyền chủ đạo mà hệ thống BHXH Việt Nam sử dụng trong những năm qua:

a) Sử dụng hình thức tuyên truyền thông qua báo cáo gửi lãnh đạo các cấp, ngành có thẩm quyền tại các hội nghị, hội thảo Sử dụng hình thức tuyên truyền này hết sức quan trọng vì ở đây đối tượng được tuyên truyền phần lớn là lãnh

đạo, các nhà khoa học, quản lý chuyên môn tuy số đối tượng này trong xã hội là

ít nhưng lại mang ý nghĩa quyết định cho mọi công việc Thông qua các báo cáo, công văn, thuyết trình về BHXH, BHYT, BHTN những đối tượng này tiếp nhận thông tin và xử lý các thông tin bằng biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện

b) Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng:

Trang 39

- Báo hình: báo hình trung ương, báo hình địa phương với những phóng

sự, toạ đàm nội dung phong phú đa dạng về BHXH, BHYT đặc biệt là mang tính thời sự cao

Hiện nay trong các phương tiện thông tin đại chúng, báo hình là loại hình báo đặc biệt quan trọng Tính truyền thông của báo hình mang được những điểm mạnh: thông tin được chuyển tải nhanh nhất, đối tượng tiếp nhận thông tin rộng lớn nhất, các hình thức chuyển tải thông tin đến đối tượng trực tiếp thông qua hình ảnh và âm thanh

- Báo viết:

Đây là hệ thống báo ở trung ương và địa phương Báo viết hiện nay ở nước

ta phát triển rất mạnh, được thể hiện bằng nhiều hình thức: báo ngày, báo tuần, tháng (tạp chí, tin ), báo của các ngành, địa phương, tổ chức xã hội,

Nội dung của chính sách BHXH, BHYT, BHTN chứa đựng cả 2 yếu tố là xã hội và kinh tế cho nên có thể sử dụng được hầu hết các báo viết để tuyên truyền Một số hình thức đăng tải tin, bài về BHXH, BHYT, BHTN là:

- Đưa tin tức hoạt động, kết quả hoạt động;

- Bài viết theo nội dung chuyên đề;

- Phóng sự;

- Nghiên cứu, trao đổi, toạ đàm;

- Trả lời bạn đọc về chế độ, chính sách

- Báo nói: là phương tiện có đặc thù riêng, đó là thông qua việc nghe để

tiếp nhận thông tin Các hình thức tuyên truyền thể hiện trên phương tiện này cũng như các loại hình báo khác, chỉ có điều khi tiếp nhận thông tin chỉ thông qua đường thính giác nên khi biên tập cho báo nói cần kết hợp giữa nói và viết cho hợp lý Điểm mạnh nhất khi sử dụng báo nói là đến được vùng sâu, vùng xa

và nhanh nhất, tiện lợi khi sử dụng báo nói là nơi nào cũng sử dụng được mà các loại hình tuyên truyền khác không thể làm được Thông tin của báo nói đến với

đối tượng là lúc họ đang làm việc cho nên ngoài thói quen trong tác nghiệp họ dành thính giác để tiếp nhận

Trang 40

Phát huy thế mạnh của báo nói, hệ thống BHXH từ trung ương đến địa phương đã thường xuyên phối hợp phát sóng các tin, bài về BHXH, BHYT, BHTN, thông qua hệ thống đài phát thanh và cả hệ thống truyền thanh tại các xã (phường)

c) Phối hợp với các cơ quan định hướng và thực hiện tuyên truyền về BHXH, BHYT:

- Tại Trung ương: Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thường xuyên phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương định hướng cho các cơ quan báo chí tuyên truyền về việc thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT tại những buổi giao ban với các cơ quan báo chí Phối hợp với Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo để Lãnh đạo BHXH Việt Nam báo cáo trong sinh hoạt chuyên đề của Trung tâm

- Tại địa phương: BHXH tỉnh, TP phối hợp tuyên truyền với các cơ quan

Đảng, Công đoàn, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Y tế Tranh thủ sự chỉ

đạo của Tỉnh uỷ (Thành uỷ), UBND ban hành các chỉ thị tăng cường công tác BHXH, BHYT, trên cơ sở chỉ thị này tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân và các cơ quan đơn vị

d) Phát hành ấn phẩm:

Đây là hình thức tuyên truyền đặc thù vì chỉ có ngành BHXH mới có ấn phẩm chứa đựng nội dung chuyên sâu về BHXH, BHYT, BHTN Tuyên truyền bằng việc phát hành các ấn phẩm như: sách giới thiệu, văn bản pháp quy, chuyên

đề, đề tài khoa học, kinh nghiệm quản lý thực tiễn ấn phẩm phải có đặc điểm khác so với các ngành khác (thường gọi là điểm nhấn): logo, sản phẩm của Ngành, quà lưu niệm, phim ảnh

Hệ thống BHXH đã thực hiện tuyên truyền qua: Pa nô, áp phích; phát hành

tờ rơI, tờ gấp; lô gô biểu trưng của ngành; những điều cần biết khi khám chữa bệnh BHYT niêm yết tại các bệnh viện; những điều cần biết về BHXH bắt buộc, những điều cần biết BHXH tự nguyện, những điều cần biết BHYT tự nguyện; phát hành sách hỏi đáp về BHXH, BHYT và giới thiệu về BHXH qua sách “Một

số vấn đề cơ bản về BHXH”; xây dựng nội dung và làm bảng công khai thủ tục,

Ngày đăng: 19/03/2015, 00:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Thạc sỹ Trần Xuân Vinh (2001), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về BHXH hiện nay, Đề tài nghiên cứu và bảo vệ năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về BHXH hiện nay
Tác giả: Thạc sỹ Trần Xuân Vinh
Năm: 2001
14. Cơ sở lý luận báo chí (1999) Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
1. Ban Chấp hành Trung −ơng Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Chỉ thị số 15/CT/TW ngày 22/01 về tăng cườnglãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH Khác
2. Quốc hội (2006), Luật số 71/2006/QH11 ngày 29/6 về việc ban hành Luật BHXH Khác
3. Quốc hội (2008), Luật số 25/2008/QH12 ngày 14/11 về việc ban hành Luật BHYT Khác
4. Chính phủ (1995) Nghị định số 19/CP ngày 16 tháng 12 về việc thành lập BHXH Việt Nam Khác
5. Chính phủ (2002) Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Khác
6. Chính phủ (2008) Nghị định số 94/2002/NĐ-CP ngày 22/8 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Khác
7. Thủ tướng Chính phủ (1995) Quyết định số 606/TTg ngày 26/6về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam Khác
8. Thủ tướng Chính phủ (2009) Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg ngày 24/2 về việc phê duyệt Đề án Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao độngvà người sử dụng lao động trong á loại hình doanh nghiệp từ 2009 đến 2012 Khác
9. Ban Tuyên truyền (2006, 2007, 2008) Báo cáo tổng kết năm và ph−ơng h−ớng nhiệm vụ năm tiếp theo về công tác tuyên truyền Khác
10. Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng, Tỉnh Bình Định, Tỉnh Phú Yên, Tỉnh Thái nguyên, Tỉnh Bắc Cạn (2006, 2007, 2008) Báo cáo về công tác tuyên truyền Khác
10. Tạp chí BHXH (2008) số 8 ngày 24/10 mục nghiên cứu trao đổi Khác
12. Phạm Văn Cảnh (2004), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền khu vực BHYT tự nguyên, Chuyên đề nghiên cứu và bảo vệ năm 2004 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tin đơn vị thông báo - Đề án : Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Bảng tin đơn vị thông báo (Trang 93)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w