Các kết quả nghiên cứu của Đề tài đạt được trong hai năm 2008 -2009 đã xác định được các chỉ tiêu về mật độ nuôi, chất đáy và thức ăn bổ sung cho hải sâm cát nuôi làm cơ sở cho việc xây
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN III
**********************
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ NUÔI
THƯƠNG PHẨM HẢI SÂM CÁT HOLOTHURIA SCABRA
TRONG AO Ở QUY MÔ SẢN XUẤT TẠI MỘT SỐ TỈNH
DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Trang 2TÓM TẮT
Trên cơ sở những kết quả đạt được về sản xuất giống hải sâm cát trong những năm qua đã hình thành và phát triển nghề nuôi hải sâm cát tại Khánh Hòa và một số tỉnh lân cận Tuy nhiên, vẫn chưa có quy trình chuẩn cho nghề nuôi thương phẩm hải sâm cát cho người dân áp dụng một cách có hiệu quả và mang tính ổn định Do đó, năm 2008 Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã giao cho Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao ở quy mô sản xuất tại một số tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ nhằm phát triển nghề nuôi thương phẩm hải sâm cát ở quy mô sản xuất
Các kết quả nghiên cứu của Đề tài đạt được trong hai năm 2008 -2009 đã xác định được các chỉ tiêu về mật độ nuôi, chất đáy và thức ăn bổ sung cho hải sâm cát nuôi làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao Các mô hình nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao ở quy mô sản xuất tại Khánh Hòa, Phú Yên và Ninh Thuận với năng suất đạt được cho mô hình là >2.5 tấn/ hecta với tỉ lệ sống trên 80%, vượt chỉ tiêu đặt ra
Với kết quả trên đã khẳng định tính hiệu quả mà nghề nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao mang lại Đến nay, Việt Nam là nước đầu tiên thành công trong việc đưa đối tượng hải sâm cát nuôi ao ở quy mô sản xuất bên cạnh thành công trong sản xuất giống nhân tạo
Thành công trong nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao đất đã góp phần cải thiện đời sống, giải quyết công ăn việc làm cho người nuôi trong khi người nuôi đang gặp khó khăn trong nuôi trồng thủy sản Ngoài ra, việc tận dụng các diện tích các ao nuôi tôm không hiệu quả sang nuôi thương phẩm hải sâm cát giúp người dân có thêm
cơ hội trong việc lựa chọn đối tượng nuôi hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 3MỤC LỤC
1 Tình hình nghiên cứu về hải sâm trên thế giới 1
2 Tình hình nghiên cứu hải sâm ở Việt Nam 6 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 11 CÁCH TIẾP CẬN 12 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
1 Vật liệu nghiên cứu 13
1.1 Đối tượng nghiên cứu 13
1.2 Địa điểm nghiên cứu 13
1.3 Thời gian nghiên cứu 13 2 Nội dung nghiên cứu 13
2.1 Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao 13
2.2.Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát 13
trong ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80% 14
3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.1 Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao 14
3.2 Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80% 18
3.3 Phương pháp xử lý số liệu 20
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
1 Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao 22
1.1 Kết quả nghiên cứu chất đáy thích hợp 22
1.2 Kết quả nghiên cứu mật độ nuôi thích hợp 25
1.3 Kết quả nghiên cứu thức ăn bổ sung thích hợp 26
1.4 Nghiên cứu bệnh và một số biện pháp phòng trị 29
2 Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80% 34
2.1 Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80% 34
2.2 Hiệu quả kinh tế 37
2.3 Dự thảo quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
1 Kết luận 47
2 Đề nghị 48
LỜI CẢM ƠN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Các loại chất đáy dùng bố trí thí nghiệm 16
Hình 2 Ảnh hưởng của các loại chất đáy lên tốc độ tăng trưởng của Hải sâm cát 24
Hình 3 Ảnh hưởng của các mật độ lên tốc độ tăng trưởng của hải sâm 27
Hình 4 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ tăng trưởng của hải sâm 29
Hình 5 Một số hình ảnh vi khuẩn nuôi cấy, phân lập từ hải sâm bị bệnh lở loét 34
Hình 6 Kháng sinh đồ (KSĐ) của vi khuẩn phân lập từ hải sâm bị lở loét 35
Hình 7 Tốc độ tăng trưởng của hải sâm cát nuôi trong ao tại Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận 38
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm 22
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm ở các chất đáy khác nhau 22
Bảng 3:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm về mật độ 25
Bảng 4 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm ở các mật độ khác nhau 25 Bảng 5:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm về thức ăn 27
Bảng 6 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm cho ăn các loại thức ăn khác nhau 27
Bảng 7 Mẫu hải sâm nghiên cứu ký sinh trùng 29
Bảng 8 Đặc điểm sinh hóa, hình thái của các chủng vi khuẩn phân lập từ hải sâm cát 30
Bảng 9 Tần số bắt gặp và tỷ lệ của tác nhân vi khuẩn phân lập được từ mẫu hải sâm bị bệnh lở loét và hải sâm khỏe 31
Bảng 10 Đường kính vòng vô khuẩn của một số chủng vi khuẩn có tần số bắt gặp cao đối với một số loại kháng sinh 32
Bảng 11 Các thông số về ao mô hình tại các địa điểm triển khai 34
Bảng 12 Tỉ lệ sống của hải sâm cát nuôi trong ao 35
Bảng 13 Kết quả nuôi hải sâm cát trong ao 36
Bảng 14 Hoạch toán hiệu quả kinh tế mô hình nuôi hải sâm thương phẩm tại Phú Yên 38
Bảng 15 Hoạch toán hiệu quả kinh tế mô hình nuôi hải sâm thương phẩm tại Khánh Hòa 39
Bảng 16 Hoạch toán hiệu quả kinh tế mô hình nuôi hải sâm thương phẩm tại Ninh Thuận 40
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tình hình nghiên cứu về hải sâm trên thế giới
1.1 Nghiên cứu về nguồn lợi hải sâm trên thế giới
Hải sâm là loài động vật thuộc ngành Da gai, lớp hải sâm, trên thế giới hiện nay lớp này có khoảng 1.100 loài, trong đó chỉ có hơn 20 loài có giá trị thực phẩm và y học đang được con người chú ý khai thác Thống kê ở Trung Quốc cho thấy có khoảng 134 loài hải sâm, trong đó có 25 loài hải sâm có thể
ăn được mà từ xa xưa các nhà y học đã công nhận nó là một món ăn có vị thuốc
và chất bổ dưỡng cao (Chen, 2004) Trong những năm gần đây do nhu cầu của thị trường mà những loài hải sâm có giá trị đã bị khai thác quá mức, làm cạn
kiệt nguồn lợi, một số loài có nguy cơ bị tiệt chủng như: Actinopyga echinites,
A mauritiana, A miliaris, Holothuria scabra, H nobilis
Theo thống kê của FAO (2003), Inđônêxia là nước có sản lượng hải sâm xuất khẩu lớn nhất thế giới, xuất khẩu hơn 2.500 tấn khô/năm Thị trường xuất khẩu chính là Hồng Kông, ngoài ra sản phẩm còn xuất khẩu sang các thị trường khác là Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc Nước có sản lượng hải sâm cao thứ 2 trên thế giới là Philippin, sản lượng hải sâm đánh bắt hàng năm đạt 2.000 tấn khô/năm
Cũng theo số liệu thống kê của FAO (2003), sản lượng hải sâm đánh bắt ngoài tự nhiên trên toàn thế giới tăng từ 4.300 tấn năm 1950 lên 23.400 tấn năm 2000 và giảm xuống khoảng 18.900 tấn năm 2001 Trong đó, có hai nhóm
được khai thác chính là loài Apostichopus japonicus là 8.130 tấn và các loài
khác là 10.730 tấn Nhật Bản là nước dẫn đầu về khai thác với sản lượng hơn 7.200 tấn, tiếp đó là Inđônêsia với sản lượng 3.200 tấn, Mỹ: 1.800 tấn, Papua New Guinea: 1.450 tấn
Theo nghiên cứu điều tra về nguồn lợi hải sâm ở các nước Inđônêsia, Philippin, Ấn Độ… cho thấy rằng nguồn lợi hải sâm ở vùng ven biển các nước này đã bị suy giảm Nguyên nhân của sự suy giảm là do nhu cầu sản phẩm tăng
ở các nước như Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông…và sự quản lí nguồn lợi không hợp lí ở các nước này
1.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo hải sâm
Năm 1988, Ấn Độ là nước đầu tiên sản xuất giống thành công loài hải
sâm cát Holothuria scabra James (1996) đã dựa trên cơ sở của kỹ thuật sản xuất giống loài Apostichopus japonicus của Trung Quốc và Nhật Bản để sản
Trang 6xuất giống loài này Mục đích chính của nghiên cứu là để phục vụ cho nuôi thương phẩm và phục hồi nguồn lợi Kỹ thuật sản xuất giống Hải sâm cát đã được áp dụng sản xuất ở các nước như Úc, Inđônêsia, New Calêđônia, đảo Solomon trong những năm sau đó
Các nghiên cứu của Hamel và cộng sự (2000) ở đảo Solomon cho thấy, Hải sâm cát là một trong những loài hải sâm có nhiều triển vọng nhất cho nghề nuôi trồng thủy sản bởi giai đoạn phát triển của ấu trùng ngắn, khả năng chịu đựng cao với sự thay đổi của điều kiện môi trường, có thể thích hợp ở nhiều mô hình nuôi Theo Battaglene (1999), Hải sâm cát là loài có tiềm năng nhất trong việc thả phục hồi nguồn lợi so với các loài hải sâm nhiệt đới khác do nó là loài có giá trị kinh tế cao, phân bố rộng, dễ nuôi và chi phí thấp Trong sản xuất giống nguồn bố mẹ thường là những cá thể đánh bắt từ tự nhiên Những cá thể này có thể cho sinh sản ngay hoặc nuôi nhốt ở trong bể sau đó cho đẻ Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt hải sâm thường giảm bắt mồi, dẫn đến giảm khối lượng cơ thể và khối lượng của tuyến sinh dục
Theo Yanagasiwa (1998), hải sâm cho sinh sản với tỷ lệ đực cái 1:1 là tốt nhất Ổn định nhiệt độ, độ mặn trong quá trình vận chuyển là cần thiết để giúp hải sâm không bị thải ruột và đẻ non
Theo Battaglenen (1999), thời điểm sinh sản của Hải sâm cát có liên quan đến tuần trăng Đối với những vùng nhiệt độ cao thì hải sâm sinh sản quanh năm với một hoặc hai đỉnh cao sinh sản Ở Philippin, trong năm hải sâm sinh sản tập trung vào tháng 6 - 7 và tháng 10 - 11 hoặc tháng 12 - 1, còn ở Inđônêsia thì vào tháng 6 - 10 và tháng 2 - 4, ở đảo Solomon đến tháng 8; tháng 10 trở đi cho tới mùa khô
Battaglene và cộng sự (1999) tiến hành cho sinh sản đối với loài H scabra và H fuscogilva bằng việc sử dụng bột tảo khô được bán trên thị trường như Schizochytrium sp, Algamac- 2000, chúng đều cho kết quả tốt khi việc
kích thích nhiệt không thành công Tảo tươi không thích hợp cho kích thích sinh sản mặc dù sự nở hoa của chúng có thể kích thích sinh sản đối với một số loài hải sâm vùng ôn đới
Nhìn chung, sinh sản nhân tạo đã thực hiện được đối với loài Holothuria scabra, H fuscogilva, H atra, Actinopyga mauritiana và A miliaris Tuy
nhiên, vẫn còn một số khó khăn trong thu và ấp trứng
Trang 71.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm
Từ khi sản xuất giống Hải sâm cát thành công các nhà nghiên cứu đã sử dụng nguồn giống sẵn có tiến hành nhiều thí nghiệm để quan sát đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm Việc nghiên cứu các loại thức ăn phù hợp
ở các giai đoạn khác nhau cũng đã được công bố (Battaglene và cộng sự, 1999)
Ở giai đoạn ấu trùng Auricularia ăn tảo đơn bào, giai đoạn Doliolaria là giai đoạn chuyển tiếp ngắn qua giai đoạn bám năm tay Pentactula thì không phải cho
ăn Tác giả đã xác định loại tảo tốt nhất cho ấu trùng là tảo Rhodomonas salina
cỡ 8 - 12µm, kế đến là tảo Chaetoceros muelleri cỡ 5 - 8µm, cuối cùng là tảo C calcitrans cỡ 3 - 6µm Mật độ tảo cho ăn là 20.000 – 40.000 tế bào/ml Đồng thời ông cũng cho rằng, nếu cho ăn kết hợp giữa tảo Rhodomonas salina và Chaetoceros muelleri thì tốt hơn khi chỉ cho ăn R salina
Cũng theo Battaglene và cộng sự (1999), H scabra mới bám ăn vi khuẩn tảo giáp, chất chiết xuất từ Sargassum sp Khi giống đạt 10 - 20mm, chúng có thể thay đổi chuyển sang sống trên nền đáy cát và ăn bột tảo Ulva lactuca Tỷ
lệ chết cao xảy ra ở giai đoạn giống mới bám (5mm) Sau một tháng tỷ lệ sống trung bình 34,4% Trên tấm bám hải sâm có thể đạt 13mm sau một tháng Thí nghiệm cũng cho thấy, sẽ tốt hơn nếu giống đạt 20mm mới chuyển sang sống ở trên nền đáy Tỷ lệ sống của Hải sâm cát >20mm là rất cao (>96%), cần hạn chế nuôi ở mật độ cao và ánh sáng yếu Nghiên cứu cũng cho thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thức ăn là tảo đáy và tảo phù du cho ấu trùng Tuy nhiên việc bổ sung bột tảo không làm cải thiện tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống trừ những bể nuôi ở mật độ cao
Sun Huiling và cộng sự (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức
prôtêin khác nhau lên sinh trưởng và sự phát triển của loài Apostichopus japonicus Kết quả nghiên cứu cho thấy, tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử
dụng thức ăn của vật nuôi tăng cao tỷ lệ thuận với mức cao prôtêin Ở mức prôtêin 21,5% trở lên thì đảm bảo cho sinh trưởng của hải sâm Cũng theo tác giả, vai trò của các acid amin thiết yếu đặc biệt là Lysin và Arginin là những acid amin thiết yếu đối với tôm, cá cũng rất quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của hải sâm Mặt khác tỷ lệ Ca/P là một yếu tố quyết định ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh trưởng của hải sâm Theo nghiên cứu cho thấy rằng hải sâm tăng
Trang 8trưởng nhanh nhất đối với tỷ lệ Ca/P từ 7 - 9 Như vậy sự phát triển của hải sâm chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, do đó cần thiết kế một chế độ ăn theo nhu cầu
sẽ giúp cho hải sâm phát triển tốt hơn
1.4 Nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm
Hải sâm cát sống ở vùng có nhiều mùn bã hữu cơ Theo Battaglene (1999), tăng trưởng của hải sâm cát thường chậm lại khi mật độ đạt gần 225g/m2,
do đó hải sâm cát thường giảm khối lượng khi lưu giữ ở mật độ cao Đối với âú
trùng, mật độ ương ở giai đoạn từ Auricularia đến bám đáy là 0,5 con/ml là
thích hợp nhất Ông cũng tiến hành nuôi hải sâm giống cỡ 1,6g ở mật độ 5con/m2 sau 2 tháng nuôi hải sâm đạt 23g/con
1.5 Tình hình nghiên cứu bệnh hải sâm
Cũng như nhiều sinh vật khác, hải sâm bị một số bệnh trong quá trình nuôi, có thể là do ký sinh trùng, vi khuẩn… gây ra Một số nghiên cứu trên thế giới có thể kể đến như sau:
Percell và Eeckhaut (2005) đã đưa ra phương pháp và một số dấu hiệu
để kiểm tra và đánh giá tình trạng sức khỏe của hải sâm bằng cách quan sát bên ngoài các bộ phận như miệng, lỗ bài tiết, da… có thể phản ánh phần nào tình trạng sức khỏe của ký chủ, vì thế nếu quan sát tốt, chúng ta có thể nhận biết các dấu hiệu bệnh lý, ví dụ hải sâm con có nhiều nhớt trên da, chứng tỏ cá thể đó không hòan toàn khỏe mạnh, hay một con hải sâm con (dài 1-5 cm) bị ký sinh bởi một con copepod thì không vấn đề gì, nhưng nếu có khoảng 5 con cùng ký sinh, chắc chắn ký chủ sẽ có vấn đề về sức khỏe Anthony (1916) mô tả loài
mới có tên là Entovalva perrieri ký sinh ở hải sâm, loài này trước đó được đặt tên là Synapticola perrieri, đây là một loài hai mảnh vỏ ký sinh trong ống tiêu
hóa của hải sâm, khi ký sinh với số lượng lớn, chúng có thể gây chết nghiêm
trọng ký chủ; Kato (1998) lại sắp xếp Entovalva perrieri vào giống Devonia, đồng thời chuyển Entovalva major sang giống Anisodevonia Becker và cộng
sự (2004) nghiên cứu bệnh lở loét ở Hải sâm cát (H scabra), các tác giả cho
biết, bệnh phát triển rất nhanh, 2/3 lượng Hải sâm bị lở loét chỉ 2 ngày sau khi phát hiện cá thể đầu tiên bị nhiễm, bệnh có khả năng gây chết nhanh Hải sâm có thể bị chết trong vòng ba ngày sau khi phát hiện ra dấu hiệu bệnh lý đầu tiên Các
Trang 9tác giả cũng cho rằng vi khuẩn, bao gồm Vibrio sp và Bacteroides sp là tác nhân
gây bệnh lở loét ở hải sâm
Deng và cộng sự (2009) nghiên cứu bệnh lở loét ở loài hải sâm
(Apostichopus japonicus) nuôi trong bể ximăng và ao đất, các tác giả đã phân lập
được 6 loại vi khuẩn khác nhau trong các mẫu bị lở loét thu được trong các bể ximăng trong nhà, 2 loài vi khuẩn từ các mẫu bị lở loét thu được trong các ao ngoài trời
Nhìn chung, có rất ít công trình nghiên cứu về các bệnh ở hải sâm trên thế giới, ở Việt Nam chưa có công bố nào về bệnh ở đối tượng này Tuy nhiên qua tổng quan tài liệu và thực tiễn sản xuất có thể thấy bệnh lở loét là bệnh nguy hiểm thường gặp nhất ở hải sâm nuôi, bệnh có thể lây lan và gây chết với tỷ lệ lớn trong khoảng thời gian ngắn, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh
tế của người nuôi
1.6 Tình hình nuôi hải sâm thương phẩm trên thế giới
Theo Yanagisawa (1998), từ những năm 1930, Nhật Bản bắt đầu nghiên
cứu loài Stichopus japonicus, đến năm 1950 thì sản xuất giống thành công Tuy
nhiên, việc nuôi thương phẩm cũng mới bắt đầu hơn vài chục năm trở lại đây với hơn 25 triệu con giống được thả vào năm 1994
Theo Chen (2004), Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống loài
Apostichopus japonicus vào những năm 1950, nhưng mãi đến những năm 1980
mới tiến hành sản xuất giống thành công Trung Quốc là nước nuôi hải sâm lớn nhất thế giới với ba hình thức nuôi chủ yếu là nuôi ao, nuôi trong đăng và nuôi thả ngoài biển, trong đó nuôi ngoài biển là phổ biến nhất chiếm 75% diện tích
nuôi, với đối tượng nuôi chính là loài Apostichipus japonicus Theo tác giả, để nuôi thành công hải sâm Apostichipus japonicus, cần chú trọng đến ba vấn đề
chính đó là chọn vị trí nuôi, điều kiện nền đáy và phòng trừ địch hại Nền đáy tốt cho nuôi hải sâm là đáy bùn hoặc bùn cát
Theo James (1996), ở Ấn Độ, sản suất giống Hải sâm cát thành công vào năm 1988, với một số lượng nhỏ con giống sản xuất được dựa trên cơ sở sản
xuất giống loài Apostichopus japonicus của Trung Quốc Tuy đã sản xuất thành
công con giống nhưng quy mô cũng chỉ dừng lại ở thí nghiệm mà không phát triển thành nghề nuôi thương phẩm
Tại Inđônêsia, Hải sâm cát được nuôi thương phẩm từ năm 1994, nguồn giống chủ yếu được khai thác từ tự nhiên nên quy mô nuôi còn hạn chế Hải
Trang 10sâm cát nuôi trong ao tăng trưởng 32-73 g/tháng khi cho ăn bổ sung cám gạo và phân chuồng ủ hoai Đến năm 2004, nghề nuôi hải sâm ở Inđônêsia đã dừng lại
do chưa sản xuất được con giống nhân tạo (Tuwo, 2004)
Tại Papua New Guinea, Shelley (1985) đã thu mẫu Hải sâm cát định kì trong hơn một năm, qua việc xác định tần số kích cỡ tác giả đã ước tính tỷ lệ tăng trưởng trung bình 14g/tháng Cũng tại khu vực này Hamel và cộng sự (2000) đã thả hải sâm giống và ông đã đánh giá tỷ lệ tăng trưởng về chiều dài trung bình là 10 - 15cm/tháng, không đề cập đến tỉ lệ sống
Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới về hải sâm cho thấy việc nghiên cứu về loài Hải sâm cát còn hạn chế, chỉ dừng lại ở sản xuất giống và nghiên cứu nuôi thả bảo tồn mà chưa phát triển thành nghề nuôi thương phẩm trong
ao Mảng nghiên cứu về quy trình nuôi thương phẩm vẫn còn thiếu, chỉ có một
số nghiên cứu về nuôi biển nhưng ở quy mô nhỏ Vì thế, mặc dù đã có những thành công nhất định trong sản xuất con giống nhân tạo nhưng vẫn chưa xây dựng được quy trình nuôi thương phẩm trong ao Hiện nay hướng nghiên cứu này đang được các nhà khoa học ở nhiều nước quan tâm, nhất là các nước thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương nơi mà có nhiều diện tích nuôi tôm bị
bỏ hoang do dịch bệnh nhưng có rất nhiều tiềm năng cho nuôi thương phẩm loài hải sâm này
2 Tình hình nghiên cứu hải sâm ở Việt Nam
Hải sâm cát là một trong những loài hải sâm thuộc Ngành Da gai có giá trị kinh tế, dinh dưỡng và y học cao, là mặt hàng ưa chuộng ở các thị trường như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan…Hiện nay, hải sâm cát có giá cao nhất so với các loài hải sâm khác trên thị trường thế giới Hiện với khoảng 40 – 48 USD/kg khối lượng khô (INNOFISH Trade, 2003 Ferdouse, 2004) Ở trong nước, giá hải sâm khoảng 30.000 – 50.000 đồng/kg tươi tùy thuộc vào kích cỡ và chất lượng
Ở Việt Nam, Hải sâm cát mới được quan tâm nghiên cứu trong gần mười năm trở lại đây Một số kết quả nghiên cứu về đối tượng này như: Nghiên cứu
về nguồn lợi; nghiên cứu đặc điểm sinh học; nghiên cứu quy trình sinh sản nhân tạo; nghiên cứu tính năng lọc của hải sâm trong mô hình nuôi ghép với tôm sú trong ao nuôi tôm, hải sâm nuôi ghép với bào ngư, vẹm xanh, tôm hùm ngoài đăng biển
Trang 112.1 Nghiên cứu về nguồn lợi hải sâm
Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu về nguồn lợi như: Nguồn lợi hải sâm
(Holothuroidea) ở vùng biển phía Nam Việt Nam (Đào Tấn Hổ, 1991); Nghiên
cứu các biện pháp bảo tồn loài hải sâm ở khu vực Nha Trang, Khánh Hoà (Ngô Chí Thiện, 1996) Các nghiên cứu cho thấy, nguồn lợi hải sâm ở Việt Nam cũng khá phong phú, hiện nay trên vùng biển nước ta có trên 60 loài Trong đó, vùng biển Phú Yên – Khánh Hòa được điều tra nhiều nhất, thành phần loài đa dạng 44 loài Ở vịnh Nha Trang, Vân Phong - Bến Gỏi hải sâm cũng đa dạng
về thành phần loài đặc biệt là các loài có giá trị kinh tế Ở vùng biển Ninh Thuận và Bình Thuận, đã tìm thấy 24 loài hải sâm
Ở vùng đảo Phú Quốc và đảo Thổ Chu được điều tra ít hơn các vùng khác nhưng cũng đã phát hiện 26 loài hải sâm Ngoài các loài thường gặp, vùng đảo
Phú Quốc còn có 3 loài hải sâm có giá trị thương mại đó là: Holothuria scabra,
H atra, Actinopyga echinites Ở vùng đảo Trường Sa, Côn Đảo thành phần loài
ít hơn chỉ có 13 loài
Mặc dù nguồn lợi hải sâm còn khá phong phú, nhưng trước tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi hải sâm nói chung và Hải sâm cát nói riêng nên hiện nay hầu như nguồn lợi hải sâm giảm đến mức báo động và có nguy cơ bị cạn kiệt
Theo một số kết quả điều tra cho thấy, ở đầm Thủy Triều trước năm 1987, riêng xã Cam Thành trong mùa thu hoạch đã thu được hơn 100 tấn hải sâm tươi Tuy nhiên, hiện nay hải sâm ở vùng Thủy Triều đã bị khai thác triệt để không kể kích thước và mùa vụ sinh sản Do đó mà nguồn lợi hải sâm từ tự nhiên có thể còn rất ít và đang có nguy cơ bị cạn kiệt Ở các vùng khác như Đầm Cù Mông, Vịnh Xuân Đài cũng đang lâm vào tình trạng khai thác quá mức Như vậy nếu không có kế hoạch bảo vệ và phát triển thì nguồn lợi hải sâm ở Việt Nam sẽ tiệt chủng trong vài năm tới Các địa phương trên chủ yếu nằm trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
2.2 Nghiên cứu về sinh học sinh sản và nuôi thương phẩm Hải sâm cát
Năm 1995, công trình nghiên cứu của Nguyễn Chính và Nguyễn Thị Xuân Thu: “Nghiên cứu về quy trình sản xuất giống nhân tạo và nuôi hải sâm
Holothuria scabra và Actinopyga echinites” được thực hiện Thí nghiệm nuôi
hải sâm trong bể xi măng và trong ao đất đạt tỷ lệ sống 70% và 85%, tốc độ
Trang 12tăng trưởng khi nuôi trong bể xi măng là 56,4 g/con/tháng, còn ở trong ao đất là 78,9 g/con/tháng Kết quả nghiên cứu về các ngưỡng yếu tố môi trường cho thấy, Hải sâm cát sống phù hợp trong khoảng nhiệt độ từ 25-33oC và ở độ mặn 26-35‰, trong khi đó ngưỡng chết dưới của chúng nằm trong khoảng 4-10oC
và 7-12‰, ngưỡng chết trên nằm trong khoảng 40-45oC và 45-54‰
Cũng theo Nguyễn Chính và Nguyễn Thi Xuân Thu (1995), Hải sâm cát sống ở vùng đáy cát hay cát bùn nên thức ăn của nó chủ yếu là mùn bã hữu cơ
và các sinh vật nhỏ như tảo, trùng có lỗ, trùng phóng xạ và các loài ốc Theo nghiên cứu của các tác giả, khi phân tích các mẫu hải sâm thấy thức ăn của chúng gồm: 75-86,2% cát bùn, 13,8-25% mùn bã hữu cơ và vi sinh vật (có 35 loài vi sinh vật ) Hải sâm bắt mồi theo phương thức bị động, lấy thức ăn thông qua lọc cát, bắt mồi theo chu kỳ ngày đêm Phân của chúng thường nhiều và gắn với nhau thành đoạn dài Đây là dấu hiệu thăm dò vùng tập trung hải sâm Hải sâm có ít nhất 1/3 thời gian không lấy thức ăn Từ 2-4 giờ sáng chúng vùi mình trong cát, đến 12 giờ trưa chúng trồi mình lên và bắt mồi từ 16 giờ đến 2 giờ sáng ngày hôm sau Hải sâm cát có mùa vụ sinh sản chính từ tháng 4 đến tháng 8, chúng có thể đẻ quanh năm ở vùng nhiệt đới Trong sinh sản nhân tạo
có thể cho đẻ quanh năm Hải sâm cát thuộc loài đực cái dị thể, nhưng nhìn bề ngoài rất khó phân biệt đực cái
Từ năm 2000 đến năm 2003, tổ chức ICLARM hợp tác với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III Nha Trang đã nghiên cứu sinh sản nhân tạo và
nuôi thương phẩm hải sâm cát Holothuria scabra Dự án đã tạo ra đàn bố mẹ
có thể sinh sản quanh năm, sản xuất nhân tạo vài chục vạn con giống 1 - 2mm với tỷ lệ sống cho ương nuôi ấu trùng từ trứng đến con giống còn thấp chỉ đạt 3,1%, nguyên nhân chính do thức ăn và địch hại Dự án cũng thử nghiệm thả Hải sâm cát có kích cỡ khác nhau để ương nuôi trong lồng, đăng ngoài biển Kết quả nuôi trong ao với mật độ 1 con/m2 cho thấy cỡ giống 1,6g/con nuôi khoảng 1,5 - 2 tháng đạt 60g/con, cỡ giống 5,5g/con nuôi khoảng 1,5 tháng đạt 96g/con (Pitt và Duy, 2003)
Theo Nguyễn Đình Quang Duy và cộng sự (2005), quy trình sản xuất giống Hải sâm cát và đã đạt được thành công trong cải tiến kỹ thuật nâng cao tỷ
lệ sống trong giai đoạn bám lên 10% Kết quả ương nuôi thành công từ ấu thể
Trang 131-2mm lên con giống đạt tỷ lệ sống gần 50%, xác định được loại thức ăn thích hợp cho ấu trùng từ giai đoạn sống trôi nổi đến bám đáy là tảo tươi
Chaetoceros spp Thí nghiệm khác đối với ấu trùng sau khi bám đáy, thức ăn
cho tỷ lệ sống cao nhất (72%) là hỗn hợp gồm tảo khô và thức ăn tổng hợp Fripak Vì vậy, có thể sử dụng thức ăn tổng hợp để thay thế nguồn thức ăn mà thành phần chủ yếu là tảo đơn hoặc đa bào để cải thiện tỷ lệ sống ở giai đoạn bám đáy Đối với giai đọan ương ấu thể 1 - 2mm lên con giống, thức ăn thích hợp là thức ăn tôm CP9000, tốc độ tăng trưởng của hải sâm là 0,12 g/ngày Trong giai đoạn ương nếu được cho ăn loại thức ăn phù hợp, môi trường nước trong sạch và ổn định sẽ cho tỷ lệ sống rất cao
Bên cạnh yếu tố thức ăn, yếu tố độ mặn, mật độ, vật bám cũng được nghiên cứu Độ mặn thích hợp cho ấu trùng hải sâm sống được là 20 - 40‰, trong đó ở độ mặn 30‰ thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng hải sâm Mật độ ương nuôi ấu trùng thích hợp 0,2 - 0,8 con/ml Tỷ lệ sống của Hải sâm cát tỷ lệ nghịch với mật độ ương
Có 3 loại vật bám được tiến hành nghiên cứu khi cho sinh sản nhân tạo hải sâm cát đó là tôn nhựa, tấm bám composite và tấm nilon Cả 3 loại tấm bám đều cho kết quả tốt Vật bám làm bằng tôn nhựa cho tỷ lệ bám cao nhất, ấu trùng bám nhiều nhất Chất đáy để ương nuôi hải sâm cũng được nghiên cứu, thí nghiệm đã cho thấy chất đáy thích hợp cho ương nuôi hải sâm là bùn hoặc cát bùn Ở ngoài vùng triều đối với những chất đáy này cần bổ sung thêm thức ăn nếu nuôi ở mật độ cao
Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2003), khi nuôi ghép tôm sú với hải sâm thì hải sâm là đối tượng có vai trò cải tạo môi trường sống của tôm sú, chúng góp phần làm giảm tổng lượng hợp chất hữu cơ trong ao nuôi tôm đặc biệt là hàm lượng H2S ở đáy ao, đồng thời góp phần làm tăng tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi Trong giới hạn mật độ từ 90 – 120 g hải sâm/m2, mật độ hải sâm càng cao thì tăng trưởng của tôm càng nhanh Nghiên cứu này đã phản ánh vai trò tích cực của hải sâm trong ao nuôi tôm sú, với sự có mặt của hải sâm trong ao nuôi
đã làm tăng tỷ lệ sống của tôm Trong mô hình nuôi ghép nên thực hiện ở vùng nuôi có độ mặn dao động từ 25 - 30‰ là thích hợp
Theo Thái Ngọc Chiến (2006), Hải sâm cát khi nuôi ghép với vẹm xanh,
cá chẽm, ốc hương, rong sụn và tôm hùm ngoài đăng biển bằng hình thức nuôi kết hợp cho hiệu quả kinh tế cao và cải thiện môi trường nuôi Hải sâm cát cho
Trang 14tăng trưởng rất nhanh 400-500g/con sau 7 tháng nuôi, nguồn thức ăn cho hải sâm nuôi là lượng mùn bã hữu cơ ở đáy ao được tạo ra từ nuôi các đối tượng khác Tuy nhiên, số lượng Hải sâm cát nuôi ghép trong mô hình không nhiều
do hạn chế về diện tích
Với những kết quả nghiên cứu đạt được trong thời gian qua cho thấy, khả năng nuôi Hải sâm cát trong ao ở nước ta có nhiều triển vọng phát triển, mở rộng ra quy mô sản xuất Tuy nhiên, quy trình nuôi thương phẩm Hải sâm cát chưa được hoàn thiện Vấn đề cần quan tâm nghiên cứu hiện nay đó là nghiên cứu về thức ăn, mật độ, chất đáy và những vấn đề phát sinh trong quá trình nuôi như dịch bệnh đối với Hải sâm cát Giải quyết được vấn đề này sẽ là tiền
đề cho việc hoàn thiện quy trình nuôi thương phẩm Hải sâm cát, giúp cho nghề nuôi thương phẩm hải sâm trong ao phát triển rộng rãi ở vùng ven biển
Khu vực duyên hải Nam Trung Bộ là nơi tập trung nguồn lợi Hải sâm cát nhiều nhất tại Việt Nam Tuy nhiên, nguồn lợi này đang bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức Việc nghiên cứu thành công sản xuất giống Hải sâm cát đem lại cơ hội phục hồi nguồn lợi của đối tượng này và phát triển được nghề nuôi thương phẩm bằng các hình thức khác nhau Phát triển nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao sẽ tận dụng được diện tích ao nuôi tôm không hiệu quả bị bỏ hoang hiện nay, đồng thời góp phần tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người dân, giảm áp lực khai thác lên nguồn lợi hải sâm tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 15MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1 Xây dựng được quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao,
tỉ lệ sống 80%, năng suất 2,5 tấn/ha
2 Bước đầu áp dụng trên mô hình nuôi ở Nam Trung Bộ đạt khối lượng sản phẩm 7,5 tấn, quy cỡ >300 g/con
Trang 16CÁCH TIẾP CẬN
Dựa trên kết quả đạt được từ việc thành công sản xuất con giống Hải sâm cát tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III tại Nha Trang, Khánh Hòa cho thấy khả năng sản xuất con giống đáp ứng cho nhu cầu nuôi thương phẩm Hải sâm cát là rất cao, có thể phát triển ở quy mô sản xuất (Nguyễn Đình Quang Duy, 2005) Nghiên cứu quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao ở quy mô sản xuất là tiền đề cho phát triển nghề nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao tại Việt Nam Khu vực Nam Trung Bộ là vùng có điều kiện khí hậu và các yếu tố mô trường phù hợp cho việc thả nuôi Hải sâm cát được lựa chọn là địa điểm triển khai các mô hình áp dụng
Trang 17VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là loài Hải sâm cát, có tên khoa học là Holothuria scabra (Jaeger, 1883), tên tiếng Anh là Sandfish
1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Xã Xuân Cảnh, Sông Cầu, Phú Yên
- Xã Vạn Hưng, Vạn Ninh, Khánh Hòa
- Xã Tri Thủy, Ninh Hải, Ninh Thuận
1.3 Thời gian nghiên cứu
Tháng 01/2008 – tháng 12/2009
2 Nội dung nghiên cứu:
2.1 Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao
- Nghiên cứu chất đáy thích hợp
- Nghiên cứu mật độ nuôi thích hợp
- Nghiên cứu thức ăn bổ sung thích hợp
- Nghiên cứu bệnh và một số biện pháp phòng trị
2.2 Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong
ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80%
- Xây dựng dự thảo quy trình
- Thiết kế mô hình
- Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình
Trang 18- Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu:
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao
3.1.1 Nghiên cứu chất đáy thích hợp:
+ Hải sâm thí nghiệm:
- Hải sâm giống dùng để bố trí thí nghiệm có khối lượng 2 – 5g/con (trung bình 3,67 ± 0,96g)
- Mật độ thả: 3 con/m2
+ Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, gồm 3 nghiệm thức với 3 loại chất đáy khác nhau: cát, cát bùn và cát san hô
- Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp, thí nghiệm kéo dài 8 tuần
Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát
trong ao ở quy mô sản xuất tại một số tỉnh duyên hải Nam Trung bộ
Nghiên cứu thức ăn bổ sung thích hợp
Nghiên cứu bệnh
và các biện pháp phòng trị
Nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát trong ao
Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm Hải sâm cát
trong ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80%
Thiết kế mô
hình nuôi
Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi
Xây dựng dự thảo quy trình
Trang 19- Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng hình chữ nhật có diện tích đáy
là 15m2 (2,5m x 6m), hệ thống bể được đặt ở nơi có mái tôn che mát
- Mực nước trong bể : 0,4m, nước biển có độ mặn 32‰ được lọc qua bể lọc cát
- Chất đáy dùng bố trí thí nghiệm:
Cát: lấy từ cát mịn sạch từ bãi biển ;
Cát san hô: lấy ở khu vực ao cát san hô nằm gần biển;
Cát bùn: lấy tại ao nuôi tôm sú đã thu hoạch xong trước đó 10 ngày
Chất đáy được rải đều trong bể với độ dày khoảng 5 cm
Hình 1 Các loại chất đáy dùng bố trí thí nghiệm
+ Chăm sóc, quản lý và thu số liệu
- Thức ăn và lượng cho ăn: trong quá trình thí nghiệm, 4 tuần đầu không
cho ăn, 4 tuần sau cho ăn thức ăn tôm CP9000, với lượng cho ăn 1.5 g/m2/ngày
- Phương pháp cân hải sâm: thu mẫu hải sâm ở trạng thái bình thường,
không ngậm nước, để trong bóng râm 5 phút trước khi cân
- Thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường trong các bể thí nghiệm
để kịp thời điều chỉnh
- Nhiệt độ: Đo nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân, đo nhiệt độ hằng ngày
(2 lần: buổi sáng đo vào lúc 7 - 8 giờ, buổi chiều đo vào lúc 14 - 15 giờ)
Cát Cát – san hô Cát - bùn
Trang 20- Độ mặn: Đo độ mặn bằng khúc xạ kế, đo vào những ngày thời tiết thay đổi, trời mưa
3.1.2 Nghiên cứu mật độ nuôi thích hợp:
+ Hải sâm thí nghiệm:
- Hải sâm giống dùng để bố trí thí nghiệm có khối lượng 2 – 5g/con (trung bình 3,53 ± 0,94g)
+ Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, gồm 3 nghiệm thức với 3 mật độ khác nhau lần lượt là 1con/m2, 2 con/m2 và 3 con/m2
- Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp, thí nghiệm kéo dài 8 tuần
- Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng hình chữ nhật có diện tích đáy là 15m2 (2,5m x 6m), hệ thống bể được đặt ở nơi có mái tôn che mát Đáy
bể được rải một lớp cát sạch, mịn dày 5cm
- Mực nước trong bể: 0,4m, nước biển có độ mặn 32‰ được lọc qua bể lọc cát
+ Chăm sóc, quản lý và thu số liệu: thức ăn và lượng cho ăn, chế độ thay nước,
theo dõi các yếu tố môi trường, thu số liệu giống thí nghiệm ở trên
3.1.3 Nghiên cứu thức ăn bổ sung thích hợp:
+ Hải sâm thí nghiệm:
- Hải sâm giống dùng để bố trí thí nghiệm có khối lượng 0,5 – 2g/con (trung bình 1,04 ± 0,501g)
- Mật độ thả: 2 con/m2
+ Thức ăn thí nghiệm: gồm bột đậu nành, bột cám gạo và bột rong khô
- Hải sâm thí nghiệm được cho ăn 2 lần/ngày, với lượng 1g/m2/ngày Thức
ăn được hòa tan trong nước và tạt đều khắp bể
+ Bố trí thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, gồm 3 nghiệm thức với 3 loại thức ăn khác nhau: bột đậu nành, bột cám gạo và bột rong khô
- Mỗi nghiệm thức có 3 lần lặp, thí nghiệm kéo dài 8 tuần
- Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng hình chữ nhật có diện tích đáy là 15m2 (2,5m x 6m), hệ thống bể được đặt ở nơi có mái tôn che mát Đáy
bể được rải một lớp cát sạch, mịn dày 5cm
- Mực nước trong bể: 0,4m, nước biển có độ mặn 32‰ được lọc qua bể lọc cát
Trang 21+ Chăm sóc, quản lý và thu số liệu: chế độ thay nước, quản lý môi trường, thu
số liệu giống thí nghiệm ở trên
3.1.4 Nghiên cứu bệnh và một số biện pháp phòng trị
* Phương pháp thu và vận chuyển mẫu:
Phương pháp thu mẫu được tiến hành theo hai phương pháp:
- Thu mẫu ngẫu nhiên: thu mẫu hải sâm liên tục để nghiên cứu ký sinh
trùng và vi khuẩn
- Thu mẫu chọn lọc: thu những con hải sâm có dấu hiệu bệnh lý như da
bị lở loét, nhợt nhạt để nghiên cứu ký sinh trùng và vi khuẩn
Phương pháp vận chuyển: mỗi con hải sâm cho vào mỗi bao nilon nhỏ
có sục khí và cho ít nước rồi buộc chặt miệng bao lại Cho vào thùng xốp dán kín nắp và vận chuyển
* Các bước nghiên cứu ký sinh trùng hải sâm:
- Quan sát bên ngoài cơ thể để phát hiện nhanh một số ký sinh trùng có kích thước lớn như: đỉa cá, giáp xác, giun tròn, rận cá…
- Cạo nhớt da, phết lên lam kính và quan sát dưới kính hiển vi
- Cân khối lượng và đo kích thước của hải sâm
- Dùng kéo cắt dọc cơ thể, tách các bộ phận: ruột, tuyến sinh dục cho vào các hộp lồng riêng có nước biển sạch
- Dùng kéo nhỏ xẻ ruột và tuyến sinh dục rồi quan sát dưới kính soi nổi
- Tiến hành quan sát bên ngoài và bên trong xoang cơ thể dưới kính soi nổi
số tạp chí, bài báo trong và ngoài nước
* Các bước tiến hành nghiên cứu vi khuẩn:
- Chọn những con hải sâm có dấu hiệu bệnh đặc trưng, rõ ràng và những con hải sâm khỏe (không có dấu hiệu bệnh) làm mẫu để nuôi cấy
Trang 22- Lấy trực tiếp từ mẫu bệnh phẩm (vết loét, tuyến sinh dục, cơ) nuôi cấy, phân lập trên môi trường cơ bản (môi trường TSA + 2% muối) và môi trường chọn lọc như: TCBS (Citrate Bilesalt Sucrose Agar) môi trường đặc thù cho Vibrio), môi trường CA + 2% muối (Cetrimide Agar) môi trường đặc thù cho Pseudomonas), đặt trong tủ ấm 30 – 33oC, quan sát kết quả sau 24 giờ Yêu cầu phải có khuẩn lạc rời nhau Dựa vào màu sắc, hình dạng, kích thước của khuẩn lạcđể xác định chủng vi khuẩn nghi ngờ
- Chọn những khuẩn lạc riêng rẽ, chiếm ưu thế nuôi cấy thuần chủng trên các đĩa thạch TSA
- Nhuộm Gram để quan sát hình thái vi khuẩn theo phương pháp Plumb
& Bowser (Bản dịch của Nguyễn Ngọc Nhiên, 1992)
- Thực hiện dãy các phản ứng sinh hóa
- Định danh vi khuẩn dựa vào đặc điểm hình thái, Gram, các phản ứng sinh hóa và hệ thống phân loại vi khuẩn của Holt và cộng sự (1994), Frerichs (1993)
* Đề xuất biện pháp phòng trị:
Thử độ nhạy của một số loại kháng sinh thông dụng đối với hai chủng vi khuẩn có tần số bắt gặp cao phân lập từ hải sâm bệnh Thử độ nhạy kháng sinh theo phương pháp đĩa giấy của Kirby Bauer
Các kháng sinh được dùng thử độ nhạy như sau: Tetracilin, Nofloxacin, Erythromyxin, Streptomycin, Cephalexin và Ampicilin
3.2 Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80%
3.2.1 Xây dựng dự thảo quy trình
Trên cơ sở của việc nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật nêu trên, từ
đó lựa chọn các chỉ tiêu thích hợp để xây dựng quy trình công nghệ Quy trình công nghệ dự thảo như sau :
a) Điều kiện ao nuôi :
- Vị trí ao nuôi gần biển chất đáy thích hợp (lựa chọn chất đáy cát, cát bùn hoặc cát san hô)
- Độ mặn ổn định từ 25-35‰, nguồn nước không bị ảnh hưởng bởi nước ngọt
từ các con sông vào mùa mưa
Trang 23- Ao có bờ chắc chắn, có lưới chắn xung quanh mép nước để ngăn không cho hải sâm đến gần bờ ao, gây chết khô khi thay nước Độ sâu ao từ 1.0-1.5m để nhiệt độ nước ổn định Thay nước dễ dàng theo thủy triều
- Ao nuôi phải được bổ sung chất đáy nếu độ vùi chưa đạt 10 cm Tiêu diệt địch hại trước khi nuôi Nước vào ao được lấy từ cống có hệ thống chắn rác b) Thả giống :
- Hải sâm cát giống khỏe mạnh, không bị trầy xướt, kích cỡ từ 2 – 20g/con
- Mật độ thả thích hợp (lựa chọn mật độ 1 con/m2, 2con/m2 hoặc 3 con/m2) c) Thời gian nuôi :
- Thời gian nuôi kéo dài từ 8-12 tháng tùy theo kích cỡ giống thả, điều kiện chăm sóc, môi trường ao nuôi
d) Chăm sóc quản lý:
- Thay nước theo thủy triều
- Theo dõi các biến động về môi trường ao nuôi như độ mặn, nhiệt độ, pH hàng ngày
- Tháo bỏ nước ngọt tầng mặt và tăng cường sục khí khi trời mưa
- Thường xuyên tiêu diệt địch hại như cua, còng xâm nhập vào ao trong suốt quá trình nuôi bằng bẫy rập hoặc lặn bắt
- Cho ăn bổ sung thức ăn thích hợp với lượng 1g/m2/lần/ngày (lựa chọn từ thức
ăn bột đậu nành, bột cám gạo hoặc bột rong khô)
e) Theo dõi tốc độ tăng trưởng:
- Kiểm tra xác định tốc độ tăng trưởng của hải sâm định kỳ 15 ngày/lần Bắt ngẫu nhiên 30 con, cân khối lượng từng cá thể
f) Thu hoạch:
- Sau khoảng 8-12 tháng nuôi, hải sâm đạt kích cỡ 300 - 400g /con thì tiến
hành thu hoạch Tháo cạn ao bắt thủ công, kéo lưới hoặc lặn bắt
Trang 243.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình :
Dựa trên tổng hợp các khoản chi phí đầu vào gồm chi phí thuê ao (thay
vì chi phí đầu tư xây dựng), chi phí thức ăn, nhân công và doanh thu từ bán
sản phẩm để tính toán lợi nhuận
Tỉ suất lợi nhuận = Lợi nhuận/ Tổng chi phí
Lợi nhuận biên = Lợi nhuận/ Doanh thu x100%
Thời gian hoàn vốn = Tổng chi phí đầu tư cơ bản / (Lợi nhuận + Khấu hao )
X: số lượng hải sâm khi kết thúc thí nghiệm
Y: số lượng hải sâm ban đầu
- Công thức tính tốc độ tăng trưởng theo ngày
W1: khối lượng hải sâm cân lần trước (g)
W2: là khối lượng hải sâm cân lần sau (g)
t1 là thời gian cân hải sâm lần trước
t2 là thời gian cân hải sâm lần sau
- Công thức tính giá trị trung bình
X
1 Trong đó:
X : là giá trị trung bình
n: là số lượng mẫu
Xi là giá trị mẫu thứ i
Trang 25- Công thức tính độ lệch chuẩn
SD =
1
) (
Trang 26KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1 Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao
1.1 Kết quả nghiên cứu chất đáy thích hợp
Bảng 1:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm
Nghiệm thức Cát Cát - bùn Cát – san hô
Nhiệt độ ( 0 C)
75 , 3 0 , 23
29 20
±
−
87 , 3 8 , 22
29 20
±
−
91 , 3 8 , 22
29 20
±
−
Độ mặn (‰)
0 , 1 33
34 31
±
−
2 , 1 33
34 31
±
−
9 , 0 33
34 31
±
−
DO (mg/l)
30 , 0 5 , 6
8 , 6 2 , 6
±
−
41 , 0 8 , 6
1 , 7 2 , 6
±
−
35 , 0 7 , 6
1 , 7 2 , 6
±
−
Qua bảng 1 cho thấy, các yếu tố môi trường nước tương đối ổn định trong
suốt quá trình thí nghiệm và không có sự sai khác rõ rệt giữa các nghiệm thức thí nghiệm Tuy nhiên, trong thời gian thí nghiệm, nhiệt độ nước tương đối thấp, trung bình 230C và biến động tương đối lớn (20 – 290C)
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất đáy khác nhau lên tăng trưởng
của Hải sâm cát có ý nghĩa hết sức quan trọng Kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta chọn được một địa điểm tốt trước khi nuôi Hải sâm cát, đồng thời giảm bớt các chi phí chăm sóc, nâng cao hiệu quả kinh tế khi nuôi đối tượng này Kết quả nghiên ảnh hưởng của các chất đáy lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm cát được thể hiện qua bảng 2 và hình 2
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm ở các chất đáy khác nhau
Nghiệm thức Cát Cát - bùn Cát – san hô
Tốc độ tăng trưởng trung
Trang 27giống từ 0,5-2g lên 5-10g trong bể xi măng, bể composite đáy cát cho tỷ lệ sống trung bình lớn hơn 90%
Hình 2 Ảnh hưởng của các loại chất đáy lên tốc độ tăng trưởng của hải
Qua hình 2 cho thấy, trong thời gian đầu của thí nghiệm (14 ngày đầu), nghiệm
thức đáy cát - bùn, hải sâm có tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 0,19 g/con/ngày và sai khác có ý nghĩa thống kê so với hải sâm ở 2 nghiệm thức còn lại là đáy cát và đáy cát - san hô (lần lượt là 0,05 g/con/ngày và 0,06 g/con/ngày)
Ở lần kiểm tra thứ 2 (ngày thứ 28), tốc độ tăng trưởng của hải sâm ở các nghiệm thức thí nghiệm đều cao hơn so giai đoạn đầu (14 ngày đầu) Trong đó, nghiệm thức đáy cát - bùn vẫn cho tốc độ tăng trưởng cao nhất (0,27 g/con/ngày),
Tốc độ tăng trưởng
(g/con/ngày)
Trang 28tiếp đó là nghiệm thức đáy cát (0,19 g/con/ngày), và thấp nhất là ở nghiệm thức đáy cát - san hô (0,14 g/con/ngày) Sự sai khác về tốc độ tăng trưởng của hải sâm
ở các nghiệm thức có ý nghĩa về mặt thống kê sinh học (P< 0,05)
Tốc độ tăng trưởng của hải sâm thí nghiệm thấp là do thời gian này nhiệt độ trong các bể thí nghiệm rất thấp, chỉ nằm trong khoảng 20,5-21,50C đã ảnh hưởng đến sinh trưởng của Hải sâm cát ở các lô thí nghiệm Ngoài ra, mật độ nuôi của thí nghiệm trên là khá cao (3 con/m2) và nó cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng của hải sâm trong quá trình thí nghiệm
Qua lần kiểm tra thứ 3 (ngày thứ 42), sau khi có bổ sung thức ăn để kiểm định sự ảnh hưởng của chất đáy lên tăng trưởng của hải sâm cho thấy có sự thay đổi rất lớn về tốc độ tăng trưởng Ở nghiệm thức đáy cát, tốc độ tăng trưởng của hải sâm giảm so với lần kiểm tra thứ 2, tuy nhiên vẫn đạt tốc độ tăng trưởng dương (0,09g/con/ngày) Tốc độ tăng trưởng cao nhất ở nghiệm thức đáy cát - bùn (0,43 g/con/ngày) Tăng trưởng của hải sâm ở các lô thí nghiệm có sự sai khác nhau rõ rệt (P < 0,05)
Ở lần kiểm tra thứ 4 (ngày thứ 56), tốc độ tăng trưởng của hải sâm ở nghiệm thức đáy cát – san hô tiếp tục tăng và đạt cao nhất (0,58 g/con/ngày),
và sai khác có ý nghĩa thống kê so với 2 nghiệm thức còn lại (P<0,05) Ở nghiệm thức đáy cát, tốc độ tăng trưởng của hải sâm lại tăng lên so với lần kiểm tra trước, đạt 0,20g/con/ngày) Trong khi đó, ở nghiệm thức đáy cát – bùn, tốc độ tăng trưởng của hải sâm lại giảm, chỉ đạt 0,24g/con/ngày
Qua kết quả của 8 tuần thí nghiệm cho thấy, tốc độ tăng trưởng của Hải sâm cát thí nghiệm thấp hơn so với kết quả thí nghiệm của R Pitt và Nguyễn Đình Quang Duy (2003) khi ương nuôi thí nghiệm con giống 1,6g/con trong ao, tốc
độ tăng trưởng đạt 0,97g/con/ngày, sau 1,5-2 tháng đạt khối lượng 60g/con, cỡ giống 5,5g/con có tốc độ tăng trưởng 1,89g/con/ngày, sau 1,5 tháng nuôi đạt 90g/con Và kết quả này cũng thấp so với kết quả thí nghiệm của Nguyễn Chính và Nguyễn Thị Xuân Thu (1995), thí nghiệm nuôi hải sâm trong bể xi măng cho tốc độ tăng trưởng là 1,88 g/con/ngày, trong ao đất cho tốc độ tăng trưởng 2,63 g/con/ngày
Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong giai đoạn thả giống cỡ 2-5g, Hải sâm cát thích hợp nhất với loại chất đáy là cát - bùn khi không bổ sung thức ăn và thích hợp với chất đáy cát – san hô khi có bổ sung thức ăn
Trang 291.2 Kết quả nghiên cứu mật độ nuôi thích hợp
Bảng 3:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm về mật độ
Nghiệm thức 1con/m 2 2con/m 2 3con/m 2
Nhiệt độ (0 C)
29 , 2 5 , 22
29 20
±
−
87 , 2 8 , 22
28 20
±
−
92 , 2 23
28 20
±
−
Độ mặn (‰)
70 , 0 5 , 32
34 32
±
−
22 , 1 5 , 32
34 31
±
−
25 , 1 32
34 31
±
−
DO (mg/l)
15 , 0 8 , 6
0 , 7 7 , 6
±
−
25 , 0 0 , 7
3 , 7 8 , 6
±
−
41 , 0 1 , 7
5 , 7 7 , 6
Bảng 4 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm ở các mật độ khác nhau
Nghiệm thức 1con/m 2 2con/m 2 3con/m 2
Tốc độ tăng trưởng
trung bình (g/con/ngày)
0,29 ± 0,017 0,26 ± 0,037 0,22 ± 0,046
Tỷ lệ sống (%) 95,56 ± 3,85 91,11 ± 1,92 97,78 ± 2,22 Bảng 4 cho thấy, tỷ lệ sống của hải sâm ở các nghiệm thức rất cao, dao động từ 91,11 – 97,78% và không có sự sai khác về mặt thống kê sinh học ở các nghiệm thức Điều này phù hợp với nghiên cứu của cùng tác giả (2003), khi nuôi thí nghiệm ở mật độ 2 con/m2 trong bể ximăng và bể composite, tỷ lệ sống đều trên 90%
Sau 8 tuần thí nghiệm, tốc độ tăng trưởng của hải sâm ở nghiệm thức 1con/m2 là nhanh nhất (0,29 ± 0,017g/con/ngày), kế đến là nghiệm thức 2 con/m2(0,26 ± 0,037g/con/ngày), tăng trưởng chậm nhất là hải sâm nuôi ở mật độ
3 con/m2 (0,22 ± 0,046g/con/ngày) Tuy nhiên, sự sai khác này không có ý
Trang 30nghĩa thống kê sinh học Mặc dù vậy, ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng của hải sâm tỷ lệ nghịch với mật độ nuôi, do đó chúng ta nên chọn mật độ nuôi thích hợp là từ 1 – 2 con/m2
Hình 3 Ảnh hưởng của các mật độ lên tốc độ tăng trưởng của hải sâm
Từ hình 3 cho thấy, trong suốt thời gian thí nghiệm, tốc độ tăng trưởng của hải sâm không đồng đều, có sự giảm mạnh vào tuần thứ 3 đến tuần thứ 6, đặt biệt là ở tuần thứ 5 và thứ 6 (chỉ đạt 0,14 – 0,22g/con/ngày), sau đó hải sâm lại tăng trưởng rất nhanh (đạt 0,44 – 0,54g/con/ngày) Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tăng trưởng của hải sâm đó là nhiệt độ nước Từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6, nhiệt độ nước giảm thấp chỉ đạt 20 – 220C (do nhiệt độ không khí giảm mạnh), từ tuần thứ 7 nhiệt độ nước có tăng lên, đạt 24 – 290C
1.3 Kết quả nghiên cứu thức ăn bổ sung thích hợp
Dinh dưỡng là một yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và sự phát triển của vật nuôi Đối với hải sâm cát, việc nghiên cứu về thức ăn của chúng qua các giai đoạn nuôi nhằm góp phần làm giảm thời gian ương nuôi, tăng kích cỡ thương phẩm đồng thời cải thiện tỷ lệ sống của chúng
Để nâng cao tỷ lệ sống, sinh trưởng của hải sâm trong giai đoạn ương nuôi, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm nuôi hải sâm với việc bổ sung ba loại thức
ăn khác nhau để xác định loại thức ăn phù hợp là bột rong khô, bột đậu nành và bột cám gạo Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 5, bảng 6 và hình 4
Trang 31Bảng 5:Các yếu tố môi trường nước trong hệ thống thí nghiệm về thức ăn
Nghiệm thức Bột rong Bột đậu nành Bột cám gạo Nhiệt độ ( 0 C)
87 , 1 5 , 28
31 26
±
−
80 , 1 2 , 28
31 26
±
−
50 , 1 0 , 28
30 26
±
−
Độ mặn (‰)
52 , 1 5 , 31
33 30
±
−
00 , 2 0 , 32
34 30
±
−
08 , 1 1 , 31
34 30
±
−
DO (mg/l)
23 , 0 8 , 6
9 , 6 5 , 6
±
−
26 , 0 8 , 6
0 , 7 5 , 6
±
−
45 , 0 0 , 7
5 , 7 6 , 6
Bảng 6 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của hải sâm cho ăn các loại thức
ăn khác nhau
Nghiệm thức Bột rong Bột đậu nành Bột cám gạo
Khối lượng trước thí
Trang 32Hải sâm thí nghiệm có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (0,52 ± 0,075) ở nghiệm thức cho ăn bột rong, kế đến là nghiệm thức cho ăn bột đậu nành (0,40 ± 0,036), thấp nhất là nghiệm thức cho ăn bột cám gạo (0,30 ± 0,046)
Hình 4 Ảnh hưởng của thức ăn lên tốc độ tăng trưởng của hải sâm
Từ hình 4 cho thấy, tốc độ tăng trưởng của hải sâm thí nghiệm ở các nghiệm thức đều tăng dần theo thời gian thí nghiệm
Nhìn chung, trong giai đoạn đầu (tuần 1 – 2), tốc độ tăng trưởng của hải sâm ở các nghiệm thức đều chậm (dao động 0.13 – 0.16g/con/ngày) và không
có sự sai khác về mặt thống kê giữa các nghiệm thức
Ở giai đoạn 2 (tuần 2 – 3), tốc độ tăng trưởng của hải sâm thí nghiệm tăng cao và có sự sai khác có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (P<0,05) Trong thời gian này hải sâm cho ăn cám gạo cho tốc độ tăng trưởng chậm nhất (0,22 g/con/ngày), tiếp đến là bột đậu nành (0,30 g/con/ngày) và tăng cao nhất là nghiệm thức cho ăn bột rong (0,37 g/con/ngày)
Giai đoạn 3 (tuần 4 – 5), tốc độ tăng trưởng của hải sâm rất cao và có sự sai khác giữa các nghiệm thức (P<0.05) Tốc độ tăng trưởng lần lượt là 0.60, 0.53 và 0.43g/con/ngày ở các nghiệm thức cho ăn bột rong, bột đậu nành và bột cám gạo
Giai đoạn cuối của quá trình thí nghiệm hải sâm ở các bể cho ăn bột rong
và bột đậu nành lớn rất nhanh, chúng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao (1.01 và 0.62g/con/ngày), ở nghiệm thức cho ăn cám gạo hải sâm tăng trưởng chậm hơn (0.45g/con/ngày)
Tăng trưởng
(g/con/ngày)
Trang 33Như vậy, có sự sai khác về tốc độ tăng trưởng của hải sâm ở các nghiệm thức cho ăn các loại thức ăn khác nhau (P<0,05)
Xét qua 4 giai đoạn thí nghiệm thấy rằng, hải sâm có kích cỡ lớn (15 – 20g/con) có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn hải sâm có kích thước nhỏ (0.5 – 2g/con) Hải sâm cát cho ăn bổ sung bột cám gạo cho tốc độ tăng trưởng chậm nhất và cho tỷ lệ sống thấp nhất Qua theo dõi và quan sát, hoạt động của hải sâm ở các lô cho ăn cám gạo rất chậm chạp, ban đêm chúng ít nổi lên cát để lọc lấy thức ăn, hơn nữa ở các bể này hải sâm biểu hiện bệnh sớm nhất, chúng co tròn lại, cơ thể teo lại và rất nhỏ so với những con bình thường Do đó, có thể thức ăn cám gạo không đảm bảo đủ thành phần chất dinh dưỡng cho hải sâm sinh trưởng và phát triển bởi vì hàm lượng prôtêin trong cám gạo thấp chỉ đạt
11 – 14 %, hàm lượng Ca, P và tỷ lệ Ca/P trong cám gạo thấp nên đã ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng của chúng
Trong 3 loại thức ăn tiến hành làm thí nghiệm, bột đậu nành có hàm lượng prôtein cao nhất Theo phân tích của Nguyễn Văn Thưởng (1992) thì prôtêin trong bột đậu nành từ 41- 43% Theo Katheresan (1992), bột rong có hàm lượng prôtêin 11 – 18,4%, với hàm lượng khoáng rất cao 32,7%, tỷ lệ Ca/P bằng 9 là yếu tố thuận lợi cho sinh trưởng của hải sâm Cũng theo nghiên cứu của Sun (2004) prôtêin trong thức ăn đạt 21,5% hải sâm tăng trưởng nhanh nhất, tỷ lệ Ca/P dao động từ 7 – 9, hải sâm đạt tăng trọng cao nhất Từ sự phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong hai loại thức ăn bột rong và bột đậu nành ta thấy bột rong là thức ăn giàu khoáng nhất là hàm lượng Ca, còn bột đậu nành là thức ăn giàu prôtêin Hai loại thức ăn này đều giúp cho hải sâm tăng trưởng rất nhanh, đặc biệt là bột rong Như vậy trong giai đoạn này hai loại thức ăn đã đảm bảo được một phần nhu cầu dinh dưỡng cho hải sâm nên cho kết quả tăng trưởng cao
1.4 Nghiên cứu bệnh và một số biện pháp phòng trị
1 4.1 Kết quả nghiên cứu ký sinh trùng:
Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 7
Bảng 7 Mẫu hải sâm nghiên cứu ký sinh trùng
Hải sâm Số lượng (con) Chiều dài (mm) Khối lượng (g)
Hải sâm bị lở loét 22 105,43 ± 24,94 77,43 ± 40,15
Trang 34Qua phân tích 100 mẫu hải sâm, trong đó có 78 mẫu hải sâm khỏe và 22
mẫu hải sâm bị lở loét ở da được nuôi thương phẩm ở các tỉnh Phú Yên, Ninh
Thuận, Khánh Hòa không thấy bị nhiễm ký sinh trùng Theo tìm hiểu qua
người nuôi có thể do môi trường nuôi không bị ô nhiễm, chất lượng nước lấy
vào được đảm bảo, cộng với việc quản lý kỹ thuật trong suốt quá trình nuôi tốt
nên không thấy hải sâm bị nhiễm ký sinh trùng
1.4.2 Kết quả nghiên cứu bệnh do vi khuẩn
Bảng 8 Đặc điểm sinh hóa, hình thái của các chủng vi khuẩn phân lập từ hải
sâm cát
Loài vi khuẩn Các đặc điểm
V.alginolityc
us
V.parahae molyticus
Trang 35Trong quá trình nuôi hải sâm, bệnh thường gặp nhất là bệnh lở loét Những
con bị bệnh da bị lở, mất nhớt
Kết quả phân lập vi khuẩn từ vết loét, tuyến sinh dục của 22 con bị bệnh
lở loét và 6 con khỏe mạnh (không có dấu hiệu lở loét) trên các môi trường TCBS, TSA, CA thu được kết quả như sau:
Trên môi trường TCBS phân lập được 2 dạng khuẩn lạc Một dạng khuẩn lạc màu vàng, tròn, lồi và một dạng khuẩn lạc màu xanh Cả 2 dạng vi khuẩn này đều bắt màu Gram âm, có dạng hình que ngắn Dựa vào các đặc điểm sinh hóa và một số tài liệu định danh vi khuẩn, các chủng vi khuẩn thu
được gồm 4 loài thuộc giống Vibrio: Vibrio anguillarum, V parahaemolyticus,
V alginolyticus, V harveyi
Trên môi trường CA (Cetrimide agar) chỉ có một dạng khuẩn lạc tròn, màu trắng đục, kích thước khuẩn lạc khoảng 0,5 – 1 mm, bắt màu Gram âm, hình que Dựa vào các đặc điểm sinh hóa và một số tài liệu định danh vi khuẩn
xác định nhóm này là Pseudomonas sp
Bảng 9 Tần số bắt gặp và tỷ lệ của tác nhân vi khuẩn phân lập được từ
mẫu hải sâm bị bệnh lở loét và hải sâm khỏe
Mẫu bệnh (n=22) Mẫu khỏe (n=6) Stt Tác nhân
Tần số bắt gặp
loét thu được 5 loài vi khuẩn thuộc hai giống Vibrio và Pseudomonas Trong
đó, giống Vibrio có 4 loài chiếm 80% (4/5 loài), loài có tần số bắt gặp (TSBG) cao nhất là V anguillarum với 63,64%, tiếp đến là V parahaemolyticus 40,91%, Vibrio alginolyticus và V harveyi đều có TSBG thấp hơn (22.73%) ; Giống Pseudomonas chỉ có một loài là Pseudomonas sp với TSBG 13,64%
Còn đối với mẫu hải sâm khỏe chỉ phân lập được 3 loài vi khuẩn và loài có
TSBG cao nhất là các loài V anguillarum hai loài Vibrio alginolyticus và Pseudomonas sp đều có TSBG thấp với 16,67%
Theo kết quả của một số tác giả trên thế giới, bệnh lở loét trên hải sâm được xác định là do vi khuẩn Becker và cộng sự (2004) xác định được các loài
vi khuẩn thuộc 2 nhóm vi khuẩn Vibrio và Bacteroides như Vibrio
Trang 36anguillarum, V parahaemolyticus, V alginolyticus, V harveyi, Bacteroides caccae, B merdae … trên hải sâm bị lở loét Theo Morgan (2000) vi khuẩn
V harveyi có tần số bắt gặp cao ở các mẫu hải sâm bị lở loét
A: V anguillarum trên TCBS B: V Parahaemolyticus trên TSA
Hình 5 Một số hình ảnh vi khuẩn nuôi cấy, phân lập từ hải sâm bị bệnh
Bảng 10 Đường kính vòng vô khuẩn của một số chủng vi khuẩn có tần số
bắt gặp cao đối với một số loại kháng sinh
Đường kính TB vòng vô khuẩn của các
đề có tính kháng thuốc đối với Cefalexin và Ampicilin
Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới như: Manjira và
cộng sự (2000) cho biết khoảng 60% các chủng vi khuẩn V Parahaemolyticus
Trang 37đều kháng với Ampicilin, Cephalecin trong khi nhạy cảm với Tetracylin,
Norfloxacin Ở Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Thị Hòa (1996) trên
V Parahaemolyticus phân lập từ tôm sú bệnh phát sáng cũng cho kết quả đề
kháng với Ampicilin Trong khi đó hai chủng vi khuẩn phân lập từ hải sâm bị
lở loét có TSBG cao có tính nhạy với các kháng sinh thuộc nhóm Quinolon thế
hệ II (Norfloxacin) và tetracilin Đây là những loại kháng sinh tổng hợp tương
đối mới với nhiều ưu điểm như tác dụng nhanh, mạnh, có hoạt phổ rộng và dễ
khuyếch tán trong mô nên có thể sử dụng kháng sinh này kết hợp với
Erythromycin để điều trị trong trường hợp nhiễm khuẩn toàn thân (Nguyễn
Khang, 1993)
-
A: KSĐ của V anguillarum B: KSĐ của V parahaemolyticus
Hình 6 Kháng sinh đồ (KSĐ) của vi khuẩn phân lập từ hải sâm lở loét
Nhìn chung, chưa tìm thấy ký sinh trùng qua phân tích 78 mẫu hải sâm
khỏe và 22 mẫu hải sâm bị lở loét nuôi ở Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận
Xác định được 4 loài vi khuẩn thuộc giống Vibrio với tần số bắt gặp
tương ứng là V anguillarum (63,64%), V parahaemolyticus (40,91%), V
Alginolyticus (22,73%), V harveyi (22,73%) và 1 loài Pseudomonas sp
(13,64%) trên 22 mẫu hải sâm bị lở loét
Kết quả kháng sinh đồ cho thấy: Các chủng vi khuẩn có tần số bắt gặp cao
(Vibrio anguillarum, V parahaemolyticus) trên các mẫu hải sâm bị lở loét đều
nhạy cảm với Tetracilin, Norfloxacin và Erythromycin và đều có tính kháng với
Cefalexin và Ampicilin Vì vậy, có thể dùng các loại kháng sinh có độ nhạy cao
để phòng trị bệnh cho hải sâm Tuy nhiên cần có nghiên cứu về nồng độ và cách
dùng để khi áp dụng thu được hiệu quả phòng trị bệnh cao hơn
Trang 38Khi hải sâm bị lở loét, chuyển chúng đến môi trường nuôi mới, thay nước
sạch sẽ Sau khoảng một tuần, hải sâm sẽ phục hồi lại bình thường
2 Xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao
đạt năng suất 2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80%
2.1 Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao năng suất
2,5 tấn/ha, tỉ lệ sống 80%
2.1.1 Lựa chọn, thiết kế mô hình
Dựa trên dự thảo quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hải sâm cát trong
ao, mô hình được triển khai tại 3 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận
Đây là những tỉnh nằm trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ có đặc điểm
khí hậu ổn định quanh năm về nhiệt độ, độ mặn phù hợp cho việc phát triển
của đối tượng hải sâm cát
Bảng 11 Các thông số về ao mô hình tại các địa điểm triển khai
STT Địa điểm triển khai Số lượng
ao nuôi (ao)
Diện tích (m 2 )
Số lượng giống (con)
Ngày nuôi (ngày)
1 Sông Cầu, Phú Yên 2 10.000 10.000 305
2 Vạn Ninh, Khánh Hòa 2 14.000 14.000 420
Tại Phú Yên, hai ao nuôi với 5.000m2/ao (ký hiệu PY1, PY2) thả con
giống cỡ 10g/con với mật độ 1con/m2 Tại Khánh Hòa, 2 ao nuôi 9.500m2 và
4500m2 (ký hiệu KH1, KH2) thả con giống cỡ 2g/con với mật độ 1con/m2 Tại
Ninh Thuận, hai ao nuôi với diện tích 4.000m2 và 6.000m2 (ký hiệu NT1, NT2)
thả con giống cỡ 20g/con cũng với mật độ 1con/m2
Do việc triển khai thả nuôi tại Khánh Hòa sớm, địa điểm triển khai nằm
gần và trong khu vực khu sản xuất của Trung Tâm Quốc gia giống Hải sản
Miền Trung, Vạn Ninh nên việc thả giống với kích cỡ nhỏ hơn để xem xét khả
năng hải sâm cát chịu đựng qua mùa mưa và thử nghiệm bổ sung thức ăn trong
quá trình nuôi Đối với hai địa phương còn lại là Phú Yên và Ninh Thuận, việc
triển khai mô hình vào đầu năm để tránh thiệt hại do mưa lũ nên con giống
được thả với kích cỡ lớn hơn
Quá trình xây dựng mô hình nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao tại
các địa phương dựa trên các thông số kỹ thuật mà quy trình nuôi thương phẩm
đặt ra hướng tới đạt năng suất trên 2,5tấn/ha và tỉ lệ sống 80%
Trang 392.1.2 Kết quả theo dõi sinh trưởng và tỉ lệ sống tại các ao mô hình
Các yếu tố môi trường trong ao nuôi được trình bày ở bảng 8
Bảng 12 : Các yếu tố môi trường trong ao nuôi tại các tỉnh
Do quá trình nuôi dài nên sự biến động độ mặn là rất lớn, đặc biệt là vào mùa mưa độ mặn trong ao giảm xuống dưới 20‰, nếu không can thiệp kịp thời sẽ gây chết hoàng loạt đối với hải sâm do hiện tượng phân tầng nước Ở các ao KH1, KH2 vào tháng mùa mưa bị ảnh hưởng nhiều hơn so với các ao PY1, PY2, NT1, NT2 do thời gian thả nuôi hải sâm tại Khánh Hòa trong 14 tháng trong khi các mô hình còn lại tại Phú Yên và Ninh Thuận chỉ kéo dài 9-
10 tháng Điều này khẳng định hải sâm cát có thể thả nuôi quanh năm tại các tỉnh triển khai mô hình thuộc khu vực Nam Trung Bộ
Kết quả về sinh trưởng và tỉ lệ sống của hải sâm cát nuôi trong ao mô hình tại Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận thể hiện trên hình 7, bảng 13
Trang 40Bảng 13 Kết quả nuôi hải sâm cát trong ao
Ao nuôi Cỡ giống
thả (g/con)
Thời gian nuôi (tháng)
Kích cỡ thu hoạch (g/con)
Sản lượng (tấn)
Năng suất (tấn/ha)
Tỷ lệ sống (%)
xa địa điểm nuôi đối với mô hình tại Phú Yên và Ninh Thuận cũng ảnh hưởng
ít nhiều đến tỉ lệ sống của hải sâm Tuy nhiên, kết quả tại các mô hình cho tỉ lệ sống trên 80% là rất cao so với các kết quả trước đây
Tốc độ tăng trưởng của hải sâm cát nuôi trong ao
Hình 7 Tốc độ tăng trưởng của hải sâm cát nuôi trong ao tại Phú
Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận
Kết quả mô hình nuôi thương phẩm hải sâm cát trong ao tại các tỉnh cho thấy, tăng trưởng của hải sâm cát có sự khác nhau do thời điểm và kích cỡ giống thả khác nhau Ngoài ra, mô hình tại Khánh Hòa có cho ăn bổ sung thức
ăn là bột rong khô trong khi nuôi để kiểm chứng tính hiệu quả giữa các mô
Tăng trưởng
(g/con)
Ngày nuôi