1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam

83 394 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 861,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, các ngành dịch vụ đã và sẽ có vai trò ngày càng to lớn trong mỗi nền kinh tế, cụ thể như: dịch vụ vận tải phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống sinh hoạt của người dân

Trang 1

Đơn vị chủ trì: Viện Khoa học Thống kê

Chủ nhiệm: NGUYỄN THỊ LIÊN

7880

21/4/2010

HÀ NỘI, 2008

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngµy nay, ở nhiều nước, c¸c ngành kinh tế dịch vụ đã và đang phát triển nhanh chóng, đóng góp ngày càng lớn vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu Ở các nước phát triển, các ngành dịch vụ đã chiếm khoảng 60 - đến trên 70% giá trị tổng sản phẩm trong nước, ngược lại phần đóng góp của các ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế đã và sẽ giảm

đi tương ứng Như vậy, các ngành dịch vụ đã và sẽ có vai trò ngày càng to lớn trong mỗi nền kinh tế, cụ thể như: dịch vụ vận tải phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống sinh hoạt của người dân, góp phần tích cực trong lưu thông, cung ứng hàng hóa, thuận tiện và giảm chi phí cho sản xuất; dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các nhu cầu về vốn cho nền kinh tế đang tăng trưởng, quản lý rủi ro, thẩm định và phân bổ hiệu quả vốn đầu tư, giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế, huy động vốn để tài trợ cho nền kinh tế…; dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin là ngành dịch vụ nền tảng, được coi là hạ tầng cơ sở thiết yếu của mọi nền kinh tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; các dịch vụ kinh doanh là bộ phận quan trọng trong cơ cấu dịch vụ đối với bất

kỳ nền kinh tế nào, chất lượng và mức độ sẵn có của các dịch vụ này tác động đến sự tăng trưởng và năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các ngành nghề trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp cho họ như: luật thuế, công việc kiểm toán, thiết kế

đồ họa…

Ở nước ta trong những năm gần đây, hàng năm các ngành dịch vụ đóng góp khoảng gần 40% GDP Ngoài việc đóng góp vào nền kinh tế bằng chính giá trị của mình, các ngành dịch vụ còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển thông qua việc sử dụng dịch vụ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh (ví dụ, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải, tin học…) Đồng thời, với mức độ toàn cầu hoá ngày càng cao, quan hệ kinh tế giữa các nước, các khối nước, các khu vực không ngừng mở rộng, không chỉ thương mại hàng hoá mà thương mại dịch vụ cũng ngày càng phát triển

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của các ngành dịch vụ, trong phương hướng phát triển kinh tế của nước ta, Chính phủ đã rất quan tâm đến việc thúc đẩy các ngành dịch vụ Chỉ thị 49/2004/CT-TTg ngày 24/12/2004 đã nêu rõ: “Trong kế hoạch năm 2005 và các năm 2006-2010,

Trang 3

cần đặt cao vị trớ và vai trũ của khu vực dịch vụ; xem cỏc ngành dịch vụ là những ngành kinh tế mũi nhọn để phỏt triển kinh tế đất nước…”

Vỡ vậy, việc phỏt triển thống kờ dịch vụ một cỏch toàn diện là rất cần thiết, trước hết, nhằm phản ỏnh kết quả hoạt động của khu vực này, đỏp ứng yờu cầu thụng tin của cỏc nhà nghiờn cứu, phõn tớch, hoạch định chiếc lược, chớnh sỏch cỏc nhà đầu tư, cung cấp dịch vụ và nhiều người sử dụng thụng tin khỏc Trờn thế giới, trước tỡnh hỡnh cỏc ngành dịch vụ ngày càng chiếm ưu thế trong nền kinh tế, từ nhiều năm nay, cỏc tổ chức quốc tế như Tổ chức hợp tỏc và phỏt triển kinh tế (OECD), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Uỷ ban liờn minh chõu Âu (EU) và nhiều quốc gia đó rất quan tõm

và cú chương trỡnh phỏt triển mạnh lĩnh vực thống kờ dịch vụ; trong đú, phỏt triển thống kờ sản xuất dịch vụ (doanh thu, sản phẩm…) và tớnh cỏc loại chỉ số giỏ được xỏc định là những nhiệm vụ song song

Ở nước ta, cú thể núi, thống kờ dịch vụ đang ở trỡnh độ thấp Thống

kờ cỏc ngành dịch vụ cũn rất nghốo nàn, hầu như mới chỉ cú được chỉ tiờu doanh thu, kể cả những ngành dịch vụ truyền thống như ngành thương nghiệp, khỏch sạn, nhà hàng, vận tải, bưu chớnh viễn thụng,…Về chỉ số giỏ sản xuất dịch vụ, tuy chỉ số giỏ cho ngành vận tải hàng húa đó được tớnh từ cuối những năm 80, nhưng cũng mới chỉ ở mức đơn giản, gộp nhiều nhúm ngành, chưa cú những phõn tổ chi tiết và chưa hoàn thiện, mức độ sử dụng cũn hạn chế Tuy nhiên, yêu cầu đã trở nên cấp bách hiện nay là phải có một hệ thống chỉ số giá đầy đủ để phục vụ chủ trương lớn của Tổng cục thống kê là “Sử dụng Chỉ số giá thay thế bảng giá cố định trong việc tính các chỉ tiêu thống kê tài khoản quốc gia theo giá so sánh”

Trong bối cảnh nờu trờn, Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giỏ cả đó thực

hiện đề tài: “Nghiờn cứu, xõy dựng phương phỏp tớnh chỉ số giỏ sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam”

Đõy là một đề tài cấp Tổng cục, được thực hiện trong 2 năm Mục tiờu chớnh của đề tài là: Nghiờn cứu, đề xuất phương ỏn tớnh chỉ số giỏ sản xuất của một số ngành dịch vụ quan trọng, đảm bảo bỏm sỏt chuẩn mực quốc tế và phự hợp với yờu cầu thực tế nước ta Thực hiện mục tiờu trờn,

đề tài đó tập trung vào những nội dung cơ bản sau đõy:

1/ Những vấn đề lý thuyết chung về SPPI và kinh nghiệm phỏt triển SPPI

ở một số nước

2/ Xỏc định cỏc ngành dịch vụ cần ưu tiờn xõy dựng SPPI ở nước ta

3/ Xõy dựng Phương phỏp tớnh chỉ số giỏ sản xuất của một số ngành dịch

vụ đó chọn

Trang 4

Xuất phỏt từ yờu cầu thực tế về cỏc loại chỉ số giỏ sản xuất, được sự chỉ đạo sỏt sao của lónh đạo Tổng cục, sự hợp tỏc tớch cực của cỏc đơn vị liờn quan, đặc biệt là Viện khoa học Thống kờ, sau 2 năm thực hiện, nhúm nghiờn cứu đề tài đó hoàn thành 14 chuyờn đề và đề xuất được 4 phương

ỏn tớnh chỉ số giỏ sản xuất cho 4 ngành dịch vụ quan trọng (Danh mục chuyờn đề được đưa ra trong phần phụ lục; cỏc phương phỏp tớnh chỉ số giỏ được trỡnh bày trong phần III của bỏo cỏo) Như vậy, cú thể núi đề tài

đó thực hiện được mục tiờu đó đề ra

Kết quả thiết thực của đề tài là: đó đưa được những kết quả nghiờn cứu cơ bản vào việc xõy dựng phương ỏn chớnh thức tớnh chỉ số giỏ sản xuất cho cỏc ngành dịch vụ sau:

+ Chỉ số giỏ cước vận tải hành khỏch và hàng hoỏ - đường bộ và đường thủy nội địa;

+ Chỉ số giỏ cước vận tải hành khỏch và hàng húa - đường sắt;

+ Chỉ số giỏ cước vận tải - đường hàng khụng;

+ Chỉ số giỏ cước bưu chớnh - viễn thụng

Đề tài này cú ý nghĩa thực tiễn rất cao, vỡ đề tài được đề xuất nghiờn cứu nhằm phục vụ một chủ trương lớn của Tổng cục Thống kờ nh− đã nêu trên Vỡ vậy, Vụ Thống kờ Thương mại, Dịch vụ và Giỏ cả - trực tiếp là nhúm thực hiện đề tài mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tõm chỉ đạo của Lónh đạo Tổng cục, sự phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện của cỏc Vụ liờn quan, Viện Khoa học Thống kờ để cú thể tiếp tục nghiờn cứu bổ sung cỏc loại chỉ số giỏ dịch vụ và ỏp dụng triển khai để đỏp ứng được cỏc mục đớch đó nờu trờn

Tuy nhiờn, thống kờ dịch vụ núi chung và chỉ số giỏ sản xuất dịch vụ (viết tắt là SPPI) núi riờng là lĩnh vực mới và khú Hơn nữa, mức độ tập trung và thời gian đầu tư nghiờn cứu đề tài cũn cú những hạn chế, vỡ thế, kết quả nghiờn cứu được trỡnh bày qua bỏo cỏo tổng hợp này cú thể chưa thật hoàn thiện Ban chủ nhiệm đề tài rất mong nhận được ý kiến đúng gúp

từ cỏc đơn vị, cỏ nhõn quan tõm đến vấn đề này, qua đú chỉnh sửa hoặc bổ sung kết quả nghiờn cứu và sớm đưa kết quả nghiờn cứu này vào ứng dụng, đỏp ứng yờu cầu thực tế trong cụng tỏc thống kờ hiện nay

Trang 5

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHỈ SỐ GIÁ SẢN

XUẤT CỦA CÁC NGÀNH DỊCH VỤ

1 Cơ sở thực tiễn

Trong nhiều năm qua, theo sự phát triển của nền kinh tế, hệ thèng chỉ số giá của nước ta đã từng bước được hoàn thiện Từ chỗ chỉ có chỉ số giá bán lẻ; chỉ số giá mua hàng nông, lâm, thủy sản, năm 1989, theo chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), hệ thống chỉ số giá đã được cải tiến và bổ sung để phục vụ yêu cầu quản lý của Đảng và Nhà nước Trong giai đoạn này hệ thống chỉ số giá bao gồm:

1 Chỉ số giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

2 Chỉ số giá mua nông, lâm, thủy sản

3 Chỉ số giá bán vật tư cho sản xuất

4 Chỉ số giá cước vận tải hàng hóa và bưu điện

5 Chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu

6 Chỉ số giá vàng và ngoại tệ

Đến năm 1995, hệ thống chỉ số giá được tiếp tục hoàn thiện với sự chuyển đổi việc tính chỉ số giá bán lẻ thành chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá mua hàng nông, lâm, thuỷ sản thành chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm thủy sản, hàng công nghiệp

Tiếp theo đó, cứ khoảng 5 năm/lần, Tổng cục Thống kê tiến hành rà soát lại phương pháp tính các loại chỉ số giá để cập nhật quyền số, điều chỉnh danh mục của các loại chỉ số giá và hoàn thiện thêm phương pháp tính

Riêng về chỉ số giá dịch vụ: chỉ số giá bán lẻ hàng hóa và chỉ số giá cước vận tải hàng hóa đã được tính từ năm 1956, cho hai thị trường: nhà nước và thị trường tự do Sau đó, theo sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu chỉ số giá phục vụ cho đa mục tiêu (đánh giá tác động giá cả đến đời sống dân cư, nghiên cứu lạm phát…) chỉ số giá tiêu dùng đã được phát triển trên cơ sở chỉ số giá bán lẻ

Như vậy, quá trình xây dựng và kinh nghiệm tương đối phong phú của ngành thống kê trong lĩnh vực thống kê giá chính là cơ sở thực tiễn, điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hệ thống SPPI

2 C¬ së lý thuyết chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá s¶n xuÊt dÞch vụ

Hiện nay, lý thuyết về chỉ số giá đã và đang được các tổ chức quốc

tế biên soạn, phổ biến, hướng dẫn cho các quốc gia sử dụng như những cẩm nang trong việc phát triển các loại chỉ số giá Trong đó, Cẩm nang về chỉ số giá tiêu dùng do tổ chức quốc tế như Tổ chức lao động quốc tế

Trang 6

(ILO), Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng thế giới, Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc phối hợp biên soạn và xuất bản từ năm 2000 Tương tự, cuốn cẩm nang về chỉ số giá sản xuất (PPI) được xuất bản năm 2004 và cuốn cẩm nang về chỉ số giá sản xuất dịch vụ cũng vừa hoàn thành dự thảo năm 2005 Những cuốn cẩm nang trên đã đưa ra các chuẩn mực về khái niệm, định nghĩa, phạm vi, danh mục, phương pháp tính các loại chỉ số giá Bằng việc nghiên cứu những hướng dẫn trong cẩm nang, vận dụng vào tình hình thực tế của mỗi nước, các nước sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong công tác xây dựng các phương án thống kê giá Hơn nữa, việc sử dụng cơ sở lý thuyết chung sẽ tạo điều kiện cho các nước có cùng tiếng nói, trao đổi kinh nghiệm và số liệu đảm bảo tính so sánh

Riêng trong lĩnh vực dịch vụ, đồng hành với tốc độ phát triển cao và

sự đóng góp ngày càng nhiều của các ngành kinh tế dịch vụ trong nền kinh

tế của mỗi quốc gia, yêu cầu về số liệu thống kê dịch vụ nói chung, trong

đó có các loại chỉ số giá dịch vụ cũng tăng nhanh chóng

Xuất phát từ thực tế là: hoạt động của một ngành dịch vụ cụ thể sẽ tương đối giống nhau ở các nước khác nhau, và do đó, kinh nghiệm thống

kê của một nước có thể được ứng dụng ở các nước khác, các tổ chức quốc

tế nêu trên, đi đầu là OECD đã phát triển lý luận, biên soạn tài liệu giáo trình và tổ chức một diễn đàn lớn hàng năm để phổ biến kiến thức, trao đổi kinh nghiệm giữa các nước về thống kê dịch vụ, trong đó, chỉ số giá sản xuất dịch vụ là một chủ đề quan trọng Theo đó, kinh nghiệm của một số nước đã tính được chỉ số giá sản xuất cho nhiều ngành dịch vụ sẽ là những bài học quí cho các nước khác Đồng thời, với việc sử dụng thống nhất một

cơ sở lý thuyết như thế sẽ dẫn đến sự đồng nhất về phương pháp tính chỉ

số giá sản xuất các ngành dịch vụ ở các quốc gia khác nhau và do đó sẽ tăng khả năng so sánh kết quả của chỉ số giá giữa các nước Khi chỉ số giá sản xuất của mỗi ngành dịch vụ được tính theo cùng một phương pháp thống nhất để dùng cho mục đích giảm phát trong tài khoản quốc gia thì khả năng so sánh số liệu thống kê sản xuất dịch vụ cũng lớn hơn nhiều Với sự trợ giúp của dự án “Nâng cao năng lực thống kê kinh tế” do SIDA Thụy Điển tài trợ, Thống kê Việt nam cũng đã có cơ hội tiếp cận với các tài liệu hướng dẫn và tham gia diễn đàn này từ năm 2004 Đây cũng là nguồn tài liệu chính được nhóm nghiên cứu đề tài sử dụng tham khảo Do

đó, có thể nói, cơ sở khoa học mà đề tài tiếp cận nghiên cứu về chỉ số giá sản xuất dịch vụ đã cơ bản dựa trên lý thuyết chung theo các chuẩn mực quốc tế

Trang 7

Dưới đây xin giới thiệu những nội dung cơ bản về chỉ số giá sản xuất dịch vụ đã được nhóm nghiên cứu đề tài biên soạn trên cơ sở đúc rút từ nh÷ng kinh nghiÖm thùc tÕ vµ nguồn tài liệu tham khảo nêu trên

Cũng như các loại chỉ số giá khác, nội dung chính của phương pháp thống kê giá sản xuất của mỗi ngành dịch vụ đều bao gồm các vấn đề sau:

1 Khái niệm vÒ sản phẩm dịch vụ vµ SPPI

2.1 Khái niệm s¶n phÈm dÞch vô, SPPI

2.1.1 Khái niệm về sản phẩm dịch vụ

Trong Hệ thống TKQG 1993 (SNA 1993) kh¸i niÖm vÒ s¶n phÈm dịch vô ®−îc ®−a ra như sau: Sản phẩm dịch vụ không phải là các thực thể riêng biệt qua đó hình thành quyền sở hữu, không thể bị tách rời khỏi quá trình sản xuất Sản phẩm dịch vụ được sản xuất theo yêu cầu, thường thay đổi theo nhu cầu của khách hàng Khi quá trình sản xuất hoàn thành, cũng

là lúc sản phẩm đã được cung cấp đến tận tay người tiêu dùng

Trong thống kê giá, khái niệm sản phẩm dịch vụ hoàn toàn thống nhất với khái niệm dịch vụ của hệ thống TKQG nªu trªn

2.1.2 Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá sản xuất dịch vụ

Kh¸i qu¸t chung vÒ chØ sè gi¸ s¶n xuÊt

Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index - PPI) là chỉ tiêu thống kê kinh tế quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê của các quốc gia PPI

đo lường mức biến động trung bình về giá của một tập hợp các loại hàng hoá hoặc dịch vụ cña mét ngµnh/hoÆc nhãm ngµnh kinh tÕ, khi chúng ra

Trang 8

khỏi một qui trình sản xuất hoặc bước vào qui trình sản xuất Do đó, PPI được chia thành hai loại: PPI đầu ra (tính theo giá cơ bản hoặc giá sản xuất) và PPI đầu vào (tính theo giá mua vào của ngưêi sản xuất)

Cũng như các loại chỉ số giá khác, PPI nói chung không phản ánh mức giá thật của các sản phẩm mà chỉ giới hạn ở việc đo lường mức độ biến động giá của các sản phẩm đó giữa thời kỳ này so với thời kỳ khác Nói cách khác, PPI cung cấp con số trung bình gia quyền về biến động giá của một nhóm ngµnh sản phẩm giữa thời kỳ này và thời kỳ khác Sự biến động giá trung bình này không thể quan sát trực tiếp được mà phải được tính toán qua đo lường mức giá thật của các sản phẩm đại diện ở những thời điểm khác nhau

Như vậy, có hai loại chỉ số giá sản xuất là chỉ số giá đầu vào sản xuất (PPI đầu vào) và chỉ số giá sản xuất đầu ra (PPI đầu ra)

PPI đầu vào đo lường mức độ thay đổi giá cả của tất cả các loại nguyên vật liệu dùng cho một qui trình sản xuất, được tính cho từng ngành kinh tế, nhóm sản phẩm, không kể đất, lao động hoặc vốn Nguyên vật liệu đầu vào của một qui trình sản xuất là sản phẩm của một qui trình sản xuất khác hoặc được nhập khẩu

PPI đầu ra (chỉ số giá của người sản xuất) đo lường mức độ biến động giá của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ do người sản xuất bán cho thị trường trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động xuất khẩu, giá xuất khẩu được thu thập từ một nguồn riêng nên chỉ số giá xuất khấu được tính riêng, không thuộc phạm vi của PPI

PPI đầu ra đo lường sự biến động thực tế của giá cả khi ra khỏi quá trình sản xuất để đi vào giai đoạn tiêu dùng, chỉ số giá này phản ánh lạm phát một cách trực tiếp hơn Ngoài ra, giá sản xuất đầu ra cũng có thể là giá đầu vào của một quá trình sản xuất khác, vì vậy, thông qua PPI đầu ra cũng thấy được tác động của lạm phát trong quá trình sản xuất

PPI nói chung cũng là một chỉ tiêu phản ánh nguồn gốc gây ra lạm phát PPI đầu vào đo lường khả năng lạm phát qua việc tính toán tác động giá cả lên người sản xuất Khi giá cả thị trường và các chi phí đầu vào khác như lao động, vốn…tăng hoặc giảm sẽ được chuyển gián tiếp vào sự tăng giảm của giá cả đầu ra

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ

Trên đây là khái niệm và ý nghĩa chung về chỉ số giá sản xuất Chỉ

số giá sản xuất được tính cho các ngành kinh tế - trong đó có các ngành dịch vụ Theo danh mục Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 1993, ban hành theo Quyết định số 75 CP, hoạt động kinh tế trong một nền kinh tế được

Trang 9

chia thành 20 ngành cấp I, trong đú cú 14 ngành dịch vụ Chỉ số giá sản

xuất tính cho ngành dịch vụ gọi là “Chỉ số giá sản xuất dịch vụ”

Bởi vì, các sản phẩm dịch vụ có những đặc thù, khác với các sản

phẩm hàng hóa như: sản phẩm dịch vụ không nhìn thấy được, khó xác định

đơn vị sản phẩm, qui cách phẩm cấp sản phẩm, cách thu thập giá, không

xác định rõ sự thay đổi sở hữu sản phẩm , cho nên, mặc dù phương pháp

tính chỉ số giá vẫn tuân theo các nguyên lý chung, nhưng các tài liệu hướng

dẫn về tính chỉ số giá cho khu vực dịch vụ được biên soạn riêng và có

những giải thích hướng dẫn cụ thể hơn

Trong phạm vi đề tài này sẽ chỉ đề cập đến những nội dung liờn

quan đến PPI đầu ra của cỏc ngành dịch vụ (tiếng Anh là Producer price

index for services)

2.2 Phạm vi và mục đích sử dụng của SPPI

2.2.1 Phạm vi chỉ số giá

- Cũng như cỏc loại PPI của cỏc ngành kinh tế khỏc, SPPI chỉ tớnh

cho cỏc ngành dịch vụ do cỏc nhà cung cấp dịch vụ trong nước thực hiện -

núi theo khỏi niệm của TKQG là do đơn vị thường trú thực hiện Các sản

phẩm dịch vụ nhập khẩu - hay các sản phẩm dịch vụ được cung cấp bởi các

đơn vị không thường trú (cư trú ở một nước khác), sẽ không thuộc phạm vi

của SPPI này

- SPPI có thể tớnh cho từng ngành hoặc từng phân nhóm của một

ngành dịch vụ, với các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho mọi đối tượng sử

dụng, kể cả cho tiêu dùng trung gian, tiêu dùng cuối cùng Núi cỏch khỏc,

phạm vi của chỉ số giá sản xuất dịch vụ được tớnh toỏn trờn phạm vi giá

dịch vụ cung cấp cho tất cả các khu vực thể chế, cỏc đơn vị sản xuất kinh

doanh, các cơ quan hành chớnh, sự nghiệp, hộ gia đình

2.2.2 Mục đớch sử dụng

SPPI được sử dụng cho nhiều mục đớch Cụ thể là:

- PPI núi chung và SPPI núi riờng là một trong cỏc loại chỉ số giỏ cơ

bản của hệ thống chỉ số giá (bao gồm: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), PPI, Chỉ

số giá xuất khẩu (EPI), chỉ số giá nhập khẩu (IPI) Người sử dụng chớnh

PPI núi chung, trong đú cú SPPI là Ngõn hàng Trung ương, Bộ Tài chớnh;

cỏc Cơ quan Chớnh phủ khỏc thường sử dụng trong phõn tớch dự bỏo kinh

tế vĩ mụ, lập cỏc mụ hỡnh nghiờn cứu tỏc động của giỏ cả đến nền kinh tế;

đặc biệt dựng trong việc điều hành, quyết định cỏc chớnh sỏch liờn quan

đến tiền tệ

- Với số liệu chi tiết về biến động giỏ cả của cỏc nhúm sản phẩm của

nhúm/ngành dịch vụ, hàng thỏng, hàng quớ, SPPI đo lường mức độ biến

Trang 10

động giỏ của cỏc sản phẩm dịch vụ ở cụng đoạn hoàn thành quỏ trỡnh sản xuất để đưa vào khõu lưu thụng

- Là cụng cụ để loại trừ yếu tố giỏ, phục vụ việc nghiờn cứu những biến động về lượng dịch vụ được cung cấp ra thị trường; tớnh hệ số trượt giỏ để tham chiếu điều chỉnh cho cỏc hợp đồng sản xuất kinh doanh nhằm loại trừ những rủi ro do sự biến động (tăng hoặc giảm) của giỏ cả gõy ra do hợp đồng sản xuất kinh doanh được ký cho một thời kỳ dài

- Là cụng cụ phõn tớch đối với cỏc nhà kinh doanh Qua SPPI, cỏc doanh nghiệp cú thể so sỏnh tốc độ tăng giỏ của cỏc nhúm sản phẩm của

họ với tốc độ tăng giỏ chung, từ đú đỏnh giỏ thị trường, lập kế hoạch phỏt triển sản xuất

- Trong thống kờ, SPPI được sử dụng để giảm phỏt khi biờn soạn chỉ tiờu giỏ trị sản lượng và chỉ tiờu chi phớ trung gian của TKQG Vỡ vậy, cỏc khỏi niệm định nghĩa liờn quan đến SPPI chủ yếu xuất phỏt từ yờu cầu của TKQG

2.3 Cỏc yếu tố cần thiết để tớnh SPPI

Cũng như cỏc chỉ số khỏc, cỏc yếu tố cần thiết để tớnh chỉ số giỏ sản xuất cho một ngành dịch vụ bao gồm: danh mục cỏc sản phẩm dịch vụ đại diện cho ngành đú để thu thập giỏ; giỏ sản xuất của cỏc sản phẩm dịch vụ

đó chọn; quyền số; cụng thức tớnh chỉ số giỏ và phương phỏp tổ chức thực hiện Những nội dung trờn sẽ được đề cập cụ thể như sau:

2.3.1 Danh mục các sản phẩm dịch vụ đại diện để điều tra thu thập giỏ

Để xõy dựng danh mục sản phẩm dịch vụ thu thập giỏ phục vụ tớnh SPPI cần căn cứ vào mục đớch của việc tớnh chỉ số giỏ, yờu cầu về mức độ chớnh xỏc, tớnh sẵn cú của nguồn số liệu

Trong trường hợp mục đớch của việc tớnh chỉ số giỏ là để sử dụng như chỉ số giảm phỏt cho một ngành sản xuất (cung cấp) dịch vụ, trờn phạm vi cả nước (hoặc vựng/địa phương), cho một thời kỳ nhất định, thỡ danh mục cỏc mặt hàng thu thập giỏ cần phải đỏp ứng những yờu cầu sau:

- Danh mục dịch vụ thu thập giỏ phải bao gồm cỏc sản phẩm đại diện cho ngành dịch vụ đú Núi cỏch khác, danh mục cần bao gồm những sản phẩm phổ biến, doanh thu của những sản phẩm đú phải chiểm tỷ trọng lớn (trờn 70%) tổng doanh thu của cả ngành dịch vụ đú;

- Sản phẩm dịch vụ đó có khả năng tồn tại lâu trên thị trường;

- Về phạm vi địa lý, là những sản phẩm tương đối phổ biến trờn phạm

vi cả nước (hoặc vựng/địa phương)

Việc chọn mặt hàng vào danh mục điều tra thu thập giỏ phục vụ tớnh chỉ số giỏ phải đảm bảo dựa trờn nguyờn tắc chọn mẫu Về mặt hàng, dàn

Trang 11

mẫu tổng thể để chọn ra một danh mục cỏc sản phẩm đại diện cho một ngành dịch vụ là toàn bộ cỏc sản phẩm dịch vụ của ngành đó đó được cỏc nhà cung cấp đưa ra thị trường trong thời kỳ tớnh chỉ số giỏ Cần lựa chọn một trong số cỏc phương phỏp chọn mẫu để chọn ra số lượng, mặt hàng cụ thể đỏp ứng yờu cầu trờn Tuy nhiờn, cú thể nhận thấy, ở đõy, phương phỏp chọn theo chủ đớch sẽ phự hợp hơn cả

Đồng thời, để chỉ số giỏ đỏp ứng yờu cầu sử dụng như chỉ số giảm phỏt cho tài khoản quốc gia, cỏc mặt hàng đại diện lấy giỏ cần được sắp xếp theo danh mục tương ứng với danh mục sử dụng trong TKQG, cả về

cơ cấu ngành, nhúm, tờn mặt hàng, mó số

So sánh quốc tế cũng là một mục tiêu không kém phần quan trọng Vì vậy, việc lựa chọn sử dụng cỏc bảng phõn loại dịch vụ trong việc xõy dựng danh mục sản phẩm đại diện tớnh SPPI đảm bảo so sánh quốc tế nhưng lại phù hợp với thực tế Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, sao cho vừa đảm bảo tớnh tương thớch với cỏc bảng phõn loại dịch

vụ quốc tế và phự hợp với cỏc bảng phõn loại trong thống kờ của Việt Nam

Dưới đây là một số bảng danh mục chuẩn có liên quan đến thống kê dịch vụ, trong đó có thống kê giá dịch vụ

1/Hệ thống TKQG 1993 (SNA 1993)

Hệ thống TKQG 1993 là một hệ thống tổng hợp cỏc tài khoản liờn quan tới cỏc hoạt động kinh tế và cỏc lĩnh vực của nền kinh tế một quốc gia SNA 1993 đó đưa ra định nghĩa về hầu hết cỏc yếu tố chủ yếu và được

dựng làm cơ sở cho nhiều bảng phõn loại khỏc

2/ Hệ thống phõn ngành kinh tế quốc tế (ISIC)

SNA 1993 đề xuất sử dụng, phiên bản lần thứ 3 để phõn loại cỏc ngành kinh tế, trong đó có các ngành dịch vụ

ISIC, là cụng cụ cơ bản để đảm bảo khả năng so sỏnh của nhiều loại

số liệu thống kờ về sản xuất, giỏ trị gia tăng, thuờ lao động và cỏc số liệu kinh tế khỏc Đõy chớnh là cỏch phõn loại tiờu chuẩn cỏc hoạt động kinh tế theo đơn vị hoạt động Vỡ vậy, một ngành kinh tế được tổng hợp từ một nhúm cỏc đơn vị sản xuất kinh doanh cú cỏc hoạt động cơ bản giống nhau hoặc tương tự Cựng với chương trỡnh thống nhất cỏc phõn loại quốc tế của Liờn Hợp quốc, cỏc phõn loại theo ISIC, phiên bản 3.0 cũng liờn quan tới phõn loại theo CPC, phiờn bản 1.0 và phân loại sản phẩm theo ngành hoạt

động (CPA) Theo ISIC, cỏc ngành dịch vụ (hoặc cỏc hoạt động dịch vụ) thường nằm trong nhúm từ G đến Q trong ISIC (phiên bản 3.0)

Trang 12

Trong các loại PPI cấu trúc của các chỉ số thường được xây dựng dựa trên hệ thống ISIC; tuy nhiờn phõn loại sản phẩm theo CPA được nhiều nước sử dụng trong việc xõy dựng danh mục cỏc sản phẩm đại diện để điều tra thu thập giỏ

3/ Bảng phõn loại sản phẩm

SNA 1993 đề xuất sử dụng CPC để phõn loại sản phẩm Đối với phân loại sản phẩm, trong đó có các sản phẩm dịch vụ, CPC phiờn bản 1.0 là bảng phõn loại quốc tế đầu tiờn, bao quỏt tất cả cỏc sản phẩm (đầu ra) của nhiều ngành khỏc nhau Bảng danh mục này cú thể sử dụng cho nhiều mục đích như thống kê sản phẩm; thống kê giá, lập bảng IO; phõn tớch thị trường, lập chiến lược sản xuất, kinh doanh…

Trong các loại chỉ số giá sản xuất, danh mục các sản phẩm để điều tra, thu thập giá được xây dựng dựa trên bảng phân loại này

Như vậy, việc lựa chọn, sử dụng cỏc bảng phõn loại dịch vụ là một khõu quan trọng trong việc xõy dựng danh mục sản phẩm đại diện tớnh SPPI Việc sử dụng cỏc bảng phõn loại dịch vụ phải tương thớch với hệ thống bảng phõn loại dịch vụ quốc tế, đồng thời phự hợp với tỡnh hỡnh thực

tế ở mỗi nước

2.3.2 Quyền số

Chỉ số giá của một ngành dịch vụ phản ánh mức độ biến động giá cả bình quân của một tập hợp các sản phẩm/hoặc nhóm sản phẩm đại diện của ngành đó Phương pháp bình quân gia quyền là một phương pháp tối ưu

được sử dụng để tính toán Quyền số là yếu tố cơ bản quyết định ảnh hưởng của sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm đến chỉ số chung khi có biến

động giá cả Nếu sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm nào chiếm trọng số lớn (về doanh thu) trong ngành hoặc phân nhóm ngành cần tính chỉ số giá, thì

dĩ nhiên chỉ số giá chung sẽ nghiêng theo chiều hướng biến động giá của sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm đó Nói cách khác, quyền số phản ánh trọng số của từng sản phẩm, nhóm sản phẩm trong một ngành hoặc phân nhóm ngành, thường được tính bằng số phần trăm (%) chiếm trong tổng trị giá (doanh thu) cung cấp của ngành/ phân nhóm ngành đã được chọn để tính chỉ số giá

Cấu trúc quyền số tính SPPI được khuyến nghị dựa trên ISIC Cũng như cấu trúc của các ngành kinh tế khác trong ISIC, mỗi ngành dịch vụ

được tổng hợp lên từ các phân nhóm trong ngành đó, theo phân tầng từ thấp đến cao, trong đó, nhóm thấp nhất gọi là nhóm cơ bản (sơ đồ hình cây) Việc xây dựng cấu trúc của quyền số đến cấp nào (2/3/4…) của ISIC tùy theo điều kiện cụ thể về mức độ sẵn cú của số liệu mỗi ngành dịch vụ

Trang 13

Nhóm thấp nhất có sẵn số liệu để tính quyền số - gọi là nhóm cơ bản (elementary) được tổng hợp lên từ các sản phẩm/hoặc nhóm sản phẩm cụ thể Việc chọn các sản phẩm/nhóm sản phẩm trong nhóm cơ bản cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Các sản phẩm/nhóm sản phẩm tương đối đồng chất, hoặc

- Cú xu hướng biến động giỏ tương tự như nhau, hoặc

- Thuộc cựng một phõn tổ trong dự kiến chọn mẫu

Quyền số của sản phẩm hoặc nhúm sản phẩm trong nhúm cơ bản núi chung là chỉ ước lượng bằng cỏch tớnh bỡnh quõn giản đơn, hoặc đỏnh giỏ theo kinh nghiệm của chuyờn gia, hoặc điều tra mẫu thật nhỏ để phõn bổ

Giỏ trị của mỗi nhúm được tổng hợp lờn từ doanh thu của cỏc đơn vị cung cấp cựng loại dịch vụ (ở cỏc nước, đơn vị cung cấp dịch vụ được chọn là đơn vị cơ sở)

Để lập bảng quyền số phục vụ việc tớnh chỉ số giỏ cần dựa vào kết quả điều tra cỏc đơn vị cơ sở cung cấp dịch vụ trong một năm (được chọn làm năm gốc) Dĩ nhiờn, việc chọn mẫu đơn vị điều tra phải đảm bảo đại diện cho từng nhúm ngành và được chọn theo nhúm ngành hoạt động chớnh của mỗi đơn vị cơ sở Tiếp theo đú việc xỏc định quyền số sản phẩm/nhúm sản phẩm dịch vụ đại diện sẽ được tiến hành bằng một số phương phỏp như điều tra mẫu nhỏ để xỏc định, phương phỏp bỡnh quõn, hoặc phương phỏp chuyờn gia…

Đối với cỏc ngành dịch vụ, việc xác định quyền số cho sản phẩm sẽ khú khăn hơn vỡ thống kờ về lượng sản phẩm dịch vụ cú thể khụng sẵn cú Chính vì vậy, nhiều quốc gia đó khởi động cỏc dự ỏn xõy dựng thống kờ về lượng dịch vụ (tương tự như thống kờ hàng hoỏ) Tuy nhiên, đến nay, trong thực tế, việc xác định quyền số sản phẩm chỉ được ước lượng một cách tương đối, hoặc tính bình quân đơn giản cho các sản phẩm trong một nhóm cơ bản

Qua thời gian, các điều kiện kinh tế có những thay đổi, tình hình cung cấp dịch vụ cũng có những thay đổi theo nhu cầu của sản xuất và đời sống Có thể sản phẩm/nhóm sản phẩm này trở nên phổ biến, nhóm khác ít phổ biến hơn Vì vậy, việc xem xột một cỏch kỹ lưỡng những thay đổi đó

để điều chỉnh và cập nhật quyền số định kỳ là cần thiết Chu kỳ cập nhật được khuyến nghị tiến hành khoảng 5 năm một lần, để đảm bảo rằng quyền số phản ánh đúng cơ cấu các nhóm ngành dịch vụ cung cấp trên thị trường

Trang 14

2.3.3 Cụng thức tớnh SPPI

Cũng tương tự như cỏc loại chỉ số giỏ khỏc (CPI, PPI ), SPPI được

tớnh theo cụng thức Laspayre với quyền số theo một kỳ gốc cố định Cụng

0 0

0 1

0 1

i

t i n

i i i

i n

i

i

t i n

i t

p

p W

q p

q p

Theo cụng thức trờn, để tớnh được SPPI của một ngành dịch vụ cần cú cỏc

cấu phần sau đõy:

- Danh mục cỏc sản phẩm dịch vụ đại diện của ngành dịch vụ đú

- Bảng giỏ bỡnh quõn của năm được chọn là năm gốc so sỏnh (Po - bảng

giỏ kỳ gốc)

- Giỏ cỏc sản phẩm dịch vụ (theo danh mục đó chọn) qua cỏc kỳ điều tra

- Quyền số (Q - tỷ trọng cỏc nhúm dịch vụ được cung cấp)

2.4 Nội dung loại giỏ cần thu thập và phương pháp thu thập

2.4.1 Nội dung giỏ sản xuất dịch vụ

- Là giá tính từ phía người sản xuất; là số tiền mà người cung cấp

dịch vụ nhận được khi cung cấp một đơn vị sản phẩm dịch vụ cho khỏch

hàng Cần lưu ý đõy là giỏ tại thời điểm dịch vụ được cung cấp chứ khụng

phải là giỏ “niờm yết” (list) hoặc giỏ “đặt trước”(booked)

- SPPI đo lường biến động của giỏ cả thực của các giao dịch, phản

ỏnh số tiền mà người sản xuất thực sự nhận được khi trực tiếp cung cấp

dịch vụ cho khỏch hàng Vỡ thế giỏ cả tớnh từ phớa người sản xuất còn phải

tớnh toỏn đến cả cỏc khoản giảm giỏ, hoa hồng cho khỏch hàng mà người

sản xuất phải chịu, nhưng lại loại trừ thuế đỏnh trờn sản phẩm và được

cộng cỏc khoản phụ thu từ sản phẩm (nếu cú) mà người sản xuất nhận

được Núi cỏch khỏc, cũng như cỏc chỉ số giỏ sản xuất hàng húa (cụng

nghiệp, nụng nghiệp…), giỏ đưa vào tớnh toỏn chỉ số là “giỏ cơ bản”

- Việc chọn giỏ cơ bản để tớnh chỉ số giỏ sản xuất để tớnh SPPI sẽ rất

phự hợp với yờu cầu sử dụng của TKQG Tuy nhiờn, trong thực tế, cỏc

Trang 15

khoản phụ thu mà người sản xuất được hưởng rất hiếm cú, vỡ vậy, phạm vi giỏ cơ bản cũng hầu như tương đồng với giỏ sản xuất

- Xỏc định mụ tả sản phẩm dịch vụ: Một vấn đề quan trọng trong SPPI là phải xỏc định rừ mụ tả sản phẩm dịch vụ để chọn ra được những sản phẩm dịch vụ đại diện và thu thập được giỏ của chỳng Trong thống kờ dịch vụ núi chung, thống kờ giỏ dịch vụ núi riờng, việc xỏc định mụ tả chi tiết sản phẩm dịch vụ khú hơn nhiều so với thống kờ hàng húa, vỡ những đặc điểm của sản phẩm dịch vụ như: khụng nhỡn thấy; sản xuất, tiờu dựng diễn ra đồng thời; đa dạng; dễ thay đổi; chất lượng dịch vụ cung cấp tựy ý khỏch hàng, thời gian cung cấp dịch vụ khụng đồng nhất; sản phẩm đơn chiếc; một sản phẩm dịch vụ cú thể là một gúi dịch vụ…Vớ dụ, dịch vụ cắt túc: cú thể cú hoặc khụng kốm gội đầu, rửa mặt, massage…; dịch vụ vận chuyển hành khỏch bằng ụ tụ hay tàu hỏa cú hoặc khụng cú kốm phục vụ

ăn uống, chất lượng toa xe cú mỏy lạnh hay khụng, ghế ngồi mềm hay cứng; cỏc tiện ớch trong cung cấp dịch vụ viễn thụng khỏc nhau…

Trong khi đú, một nguyờn tắc cơ bản trong việc tớnh chỉ số giỏ là giỏ của cỏc sản phẩm phải so sỏnh được qua cỏc kỳ liờn tiếp; vỡ vậy, cần tỡm ra được cỏc yếu tố đồng bộ, đồng nhất của dịch vụ và cố định cỏc yếu tố đú trong khoảng thời gian tớnh chỉ số, để đảm bảo cỏc sản phẩm dịch vụ đú cú thể so sỏnh được (như phạm vi, nội dung của sản phẩm dịch vụ, nơi cung cấp, thời gian cung cấp )

2.4.2 Phương pháp thu thập giá

- Đơn vị cung cấp giỏ dịch vụ: là “đơn vị cơ sở” - nơi phỏt sinh

hoạt động kinh tế tương đối thuần nhất và phự hợp với yờu cầu của TKQG Tuy nhiờn, trong thực tế, nhiều khi thụng tin từ đơn vị cơ sở khỏ hạn chế,

do đú, nhỡn chung, giỏ dịch vụ được thu thập từ cỏc doanh nghiệp

Để chọn ra cỏc doanh nghiệp tham gia cung cấp giỏ dịch vụ phục vụ việc tớnh chỉ số giỏ cần căn cứ vào dàn mẫu tổng thể sẵn cú về cỏc doanh nghiệp Cỏc doanh nghiệp này phải cú đầy đủ cỏc thụng tin như: doanh thu/giỏ trị sản lượng, cỏc sản phẩm dịch vụ và cơ cấu cỏc nhúm sản phẩm,

cơ chế xỏc định giỏ Cỏc doanh nghiệp này được sắp xếp và phõn loại theo ISIC đến cấp 4

Cỏc phương phỏp chọn mẫu cú thể ỏp dụng để chọn ra cỏc doanh nghiệp tham gia điều tra giỏ là: phương phỏp chọn theo chủ đớch, hoặc phương phỏp chọn mẫu hệ thống, hoặc phương phỏp chọn theo xỏc suất tỷ

lệ thuận với qui mụ doanh thu hoặc kết hợp cả hai phương phỏp này Để thu thập được giỏ từ mỗi doanh nghiệp được chọn, nờn cử một cỏn bộ chuyờn trỏch đối với một hoặc một số doanh nghiệp, cú quan hệ hợp tỏc

Trang 16

giải thích cho doanh nghiệp mục đích, yêu cầu, nội dung nghiệp vụ và đảm bảo bí mật thông tin cho doanh nghiệp

- Tần suất thu thập giá và thời điểm lấy giá

Tần suất thu thập giá thông thường là hàng tháng, tuy nhiên nhiều nước hiện nay chỉ thu thập giá hàng quí Nếu xuất phát từ yêu cầu thực tế

về tính chỉ số giá phục vụ TKQG, yêu cầu nghiên cứu chu kỳ kinh doanh, mức độ biến động giá, tần suất thu thập giá được khuyến nghị là hàng quí

Khi thu thập giá cho một thời kỳ cụ thể có thể lựa chọn một trong 2 cách là: lấy giá vào thời điểm phát sinh giao dịch gần nhất với ngày giữa tháng, hoặc lÊy gi¸ cña tuần giữa quí

- Một số phương pháp thu thập giá sản xuất dịch vụ

Vì những lý do trên, phương pháp thu thập giá các sản phẩm dịch vụ khó khăn phức tạp hơn nhiều so với việc thu thập giá hàng hóa Có thể nói, việc quyết định phương pháp lấy giá phụ thuộc rất lớn vào các tình huống cung cấp dịch vụ và cần linh hoạt Có nhiều phương pháp lấy giá để đảm bảo phù hợp với việc tính chỉ số Dưới đây là một số phương pháp lấy giá:

Sơ đồ 1: Các phương pháp lấy giá chủ yếu:

Bảng 1 cho thấy có 6 phương pháp lấy giá để tính chỉ số giá dịch vụ

Phương pháp giá trị đơn vị

Phương pháp lấy giá theo các cấu phần

Phương pháp tỷ

lệ phần trăm phí

Phương pháp lấy giá chuẩn

Phương pháp lấy giá dựa theo thời

gian

Thời gian cung cấp dịch vụ

Giá thực tế Giá quan sát

hoặc giá ước tính

Giá quan sát Giá ước tính

liên quan đến giá quan sát được

Trang 17

(1) Phương pháp lấy giá lặp: là lấy giá trực tiếp của các dịch vụ

được lặp đi, lặp lại, hay nói cách khác là các dịch vụ giống nhau qua các

kỳ điều tra Trường hợp này áp dụng cho các dịch vụ tương đối chuẩn, có

mô tả cụ thể rõ ràng, chi tiết, sản phẩm dịch vụ có thể là dịch vụ đơn hoặc một gói dịch vụ Người sản xuất được yêu cầu chọn ra một số sản phẩm đại diện; giá được thu thập trực tiếp từ doanh nghiệp; chất lượng được cố định và theo dõi chặt chẽ qua các kỳ điều tra (nhằm kiểm soát biến động

về chất lượng)

Một trường hợp đặc biệt của loại này là giá hợp đồng Loại giá này chỉ áp dụng cho trường hợp dịch vụ được lặp lại chính xác, từ cùng một nhà cung cấp, cho cùng một khách hàng (ví dụ dịch vụ bảo vệ, dịch vụ lau dọn vệ sinh công sở ) Đặc điểm của loại dịch vụ theo hợp đồng này là sản phẩm đầu ra không thay đổi trong khi một số chi tiết trong hợp đồng

có biến động giá, ví dụ như: chỉ số giá tiêu dùng tăng, đàm phán lại hàng năm, hoặc người sản xuất được phép cắt giảm chi phí…)

(2) Phương pháp giá trị đơn vị: Giá đưa vào tính chỉ số là giá

được tính toán bằng giá trị của sản phẩm dịch vụ chia cho khối lượng dịch

vụ thực hiện Phương pháp này chỉ thích hợp trong các trường hợp các dịch vụ là thuần nhất Lưu ý rằng, phương pháp giá trị đơn vị được xác định ở đây chỉ hạn chế đối với các trường hợp mà các giá quan sát liên quan trực tiếp đến sản lượng dịch vụ

(3) Phương pháp lấy giá theo các cấu phần (thành phần): Trong

trường hợp này, sản phẩm dịch vụ (tổng thể) có thể là vô hình, nhưng nó được cấu thành bởi một số cấu phần có thể thu thập được giá thực Các doanh nghiệp được điều tra sẽ cung cấp giá của các cấu phần Đối với một sản phẩm dịch vụ gồm một số bộ phận cấu thành (ví dụ một số dịch vụ cụ thể trong ngành viễn thông), giá đưa vào tính chỉ số giá là bình quân có quyền số hoặc không có quyền số của giá các cấu phần của một dịch vụ, được thu thập một cách độc lập Giá của loại dịch vụ này có thể được thu thập qua các hoá đơn

(4) Phương pháp tỷ lệ phần trăm phí: phương pháp này được

dùng trong trường hợp giá trị sản phẩm dịch vụ là tiền phí dịch vụ (ví dụ dịch vụ cho thuê máy tính), khi đó, giá dịch vụ được tính bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản hay sản phẩm/hàng hóa Trong phương pháp này thì

sự biến động của giá dịch vụ phụ thuộc vào sự thay đổi của cả tỷ lệ phần trăm và giá (hoặc chỉ số giá) của sản phẩm có liên quan

Trang 18

(5) Phương pháp lấy giá chuẩn

Phương pháp này đòi hỏi người cung cấp giá trong mỗi giai đoạn phải lấy giá của một sản phẩm chuẩn với các qui cách phẩm cấp đã được

cố định Một sản phẩm dịch vụ mẫu như vậy có thể là một hợp đồng hiện tại hoặc một hợp đồng đã ký trong quá khứ Trong mọi trường hợp thì sản phẩm dịch vụ đều không quan sát được ở thời điểm thu thập giá

Phương pháp lấy giá mẫu được sử dụng đối với những trường hợp sản phẩm dịch vụ đơn chiếc; trong trường hợp này giá của sản phẩm được ước tính, không giống như trường hợp lấy giá cấu phần, không cần dựa trên cơ sở các giao dịch thực của các cấu phần

(6) Phương pháp lấy giá dựa theo thời gian

Lấy giá theo thời gian khác với các phương pháp lấy giá khác ở chỗ, giá của toàn bộ sản phẩm dịch vụ không được xác định, nhưng thay vào đó

là giá của thời gian cung cấp dịch vụ Các dịch vụ được giả thiếttương ứng trực tiếp hoặc chủ yếu với các dạng khác nhau của phí trả theo giờ làm việc cho một khách hàng Giá tính theo giờ biểu hiện cơ chế lấy giá hơn là giá thực của dịch vụ Giá thực được tổng hợp lên từ các khoản thanh toán cho người cung cấp dịch vụ và là giá tổng cuối cùng mà người mua dịch

vụ phải trả, đồng thời cũng là giá mà nhà thống kê nên thu thập

2.5 Xử lý việc thay đổi về chất lượng cña c¸c s¶n phÈm trong danh môc s¶n phÈm ®iÒu tra thu thËp giá

Việc quan s¸t kü chất lượng của sản phẩm, điều chỉnh nh− thÕ nµo khi

cã hiÖn t−îng thay đổi chất lượng của sản phẩm hoÆc một sản phẩm đang tồn tại được thay thế bằng một sản phẩm mới trong danh môc s¶n phÈm

®iÒu tra thu thËp giá là nhiệm vụ quan trọng mà các nhà thống kê giá phải tính đến trong từng thời gian Còng t−¬ng tù nh− c¸c lo¹i chØ sè gi¸ kh¸c, các phương pháp có thể được sử dụng để giải quyết vấn đề trªn bao gåm: Các phương pháp Èn (explicit):

- Phương pháp gối đầu

- Phương pháp gán giá trị trung bình tổng thể, trung bình mục tiêu

- Phương pháp gán giá trị trung bình nhóm

- Phương pháp thay thế tương đương

Các phương pháp hiện (implicit):

- Điều chỉnh chuyên gia

- Điều chỉnh theo số lượng

- Điều chỉnh theo chất lượng

- Phương pháp Hedonic

Trang 19

Các phương pháp điều chỉnh chất lượng s¶n phÈm dÞch vô còng tương tự nh− đối với c¸c s¶n phÈm hàng hoá Tuy nhiên, trong thực tế, đối với dịch vụ ít cã sự lựa chọn hơn Ví dụ ph−¬ng ph¸p “hiÖn” rÊt Ýt khi được sử dụng, bởi vì chất lượng của dịch vụ thì thường được tạo nên bởi các nhân tố vô hình mà khó có thể xác định và đo lường theo số lượng Hơn nữa, nếu nhân tố chất lượng của sản phẩm dịch vụ có thể được xác định, thì nó khó có thể tìm ra sè liÖu thích hợp bắt kịp với những thay đổi thường xuyên trong chất lượng của dịch vụ

Hiện nay các nước phát triển đã và đang xây dựng, phát triển hệ thống chỉ số giá sản xuất dịch vụ Hàng năm tại hội nghị Voorburg đã cập nhật và thảo luận phương pháp tính từng loại SPPI Do vậy trong khuôn khổ của đề tài đã đưa ra phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số loại dịch vụ (là những loại chỉ số của các loại dịch vụ mà Việt Nam sẽ ưu tiên xây dựng trong giai đoạn này) từ tài liệu tham khảo của các nước trong khối các nước OECD để chúng ta tham khảo, học tập và vận dụng những điểm phù hợp với tính hình thực tế của Việt Nam

Trang 20

PHẦN II XÁC ĐỊNH NHỮNG NGÀNH DỊCH VỤ CẦN ƯU TIấN XÂY DỰNG CHỈ SỐ GIÁ SẢN XUẤT DỊCH VỤ Ở NƯỚC TA

Theo hệ thống ngành kinh tế quốc dân (ban hành theo quyết định 75 CP-1994 ) hoạt động kinh tế của quốc gia được chia thành 20 ngành cấp

1, trong số đó có 14 ngành dịch vụ Để đáp ứng các yêu cầu sử dụng cho thống kê TKQG, cho phân tích kinh tế, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cần phát triển một hệ thống chỉ số giá sản xuất đầy đủ cho các ngành kinh tế quốc dân, không những cho các ngành cấp 1 mà còn chi tiết

đến ngành cấp 2, cấp 3 của mỗi ngành Tuy nhiên, đây là một khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi phải có thời gian và nguồn lực Hơn nữa, như đã trình bày ở phần trên, để tính được chỉ số giá sản xuất của một ngành cần

cú cỏc yếu tố để xõy dựng cấu trỳc của chỉ số, bảng quyền số danh mục cỏc sản phẩm để thu thập giỏ Cụ thể là, cần phải cú giá trị sản xuất hoặc doanh thu tiêu thụ của ngành đó phân đến các nhóm ngành chi tiết tùy theo mục đích yêu cầu mỗi ngành; đồng thời cũng cần xác định được danh mục sản phẩm của ngành đó để phục vụ việc thu thập giá của từng sản phẩm Vì vậy, việc ưu tiên phát triển một loại chỉ số giá cho một ngành nào đó, cần xem xét các điều kiện chủ yếu như:

- Thứ nhất ngành đó có phải là một ngành lớn, ưu tiên phát triển kinh doanh trong nền kinh tế hay không?

- Thứ hai các điều kiện sẵn có về thống kê sản xuất của ngành đó có

đủ đáp ứng yêu cầu cho việc tính chỉ số giá hay không?

- Thứ ba yêu cầu của thống kê tài khoản quốc gia đối với chỉ số giá

đó như thế nào?

- Và cuối cùng xác định ngững ngành dịch vụ nào cần ưu tiên xây dựng chỉ số giá sản xuất ở nước ta

Trong các mục tiếp theo sẽ lần lượt đề cập đến cỏc vấn đề nêu trờn

1 Tỡnh hỡnh phỏt triển cỏc ngành dịch vụ núi chung và một số ngành dịch vụ cú tiềm năng

1.1 Tỡnh hỡnh chung về phỏt triển dịch vụ

Từ khi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường, nhiều chuyển biến tớch cực đó diễn ra trờn mọi mặt đời sống kinh tế, xó hội Trong những năm gần đõy tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta khỏ cao, thường xuyờn duy trỡ ở mức tăng bỡnh quõn trờn 7,5% /năm Với mục tiờu phấn đấu là đưa nước ta trở thành nước cụng nghiệp tiờn tiến vào năm

2020, mức sống của người dõn ngày một nõng cao, Đảng Chớnh phủ đó đề

Trang 21

ra nhiều chủ trương, chớnh sỏch phỏt triển kinh tế, trong đú khu vực dịch

vụ rất được chỳ trọng

Chiến lược phỏt triển kinh tế 2001-2010 của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đó nhấn mạnh vai trũ của cỏc ngành dịch vụ và đưa ra chỉ tiờu phấn đấu: “Toàn bộ cỏc hoạt động dịch vụ tớnh theo giỏ trị gia tăng phải đạt tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn 7-8%/năm, đến 2010 chiếm 42-43% GDP Trong báo cáo tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ “Phỏt triển nhanh khu vực dịch vụ đỏp ứng được yờu cầu và phự hợp với tiềm năng cũn rất lớn của nước ta và xu hướng phỏt triển chung của thế giới; tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế để tạo bước phỏt triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, đưa tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP, phấn đấu đạt 7,7 - 8,2%/năm…Ưu tiờn phỏt triển cỏc ngành dịch vụ cú tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao Tiếp tục mở rộng

và nõng cao chất lượng cỏc ngành dịch vụ truyền thống, như vận tải, thương mại, du lịch, ngõn hàng, bưu chớnh - viễn thụng Phỏt triển mạnh cỏc dịch vụ phục vụ sản xuất nụng, lõm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở nụng thụn Mở rộng cỏc dịch vụ mới, nhất là những dịch vụ cao cấp, dịch

vụ cú hàm lượng trớ tuệ cao, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Trong sự phỏt triển nhanh hơn của dịch vụ vận tải, cần tạo lập và phỏt triển mạnh dịch

vụ vận tải đa phương thức và dịch vụ hỗ trợ cỏc phương thức vận tải Tiếp tục phỏt triển mạnh thương mại trong nước trờn tất cả cỏc vựng và gia tăng nhanh xuất khẩu Hiện đại hoỏ và mở rộng cỏc dịch vụ ngõn hàng theo kịp yờu cầu phỏt triển thị trường tài chớnh, tiền tệ và hội nhập kinh tế quốc tế Phỏt triển cỏc dịch vụ phỏp luật, kiểm toỏn, bảo hiểm, khoa học

và cụng nghệ, giỏo dục và đào tạo, y tế, văn hoỏ, thụng tin, thể thao; tăng

số lượng và nõng cao chất lượng dịch vụ việc làm, an sinh xó hội…Nhà nước kiểm soỏt chặt chẽ độc quyền và tạo mụi trường thuận lợi cho cỏc doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranh bỡnh đẳng trờn thị trường dịch vụ.”

Mặc dự vậy, kết quả hoạt động khu vực dịch vụ của nước ta trong những năm qua cũng cũn rất khiờm tốn Trong khoảng 10 năm gần đõy, tỷ trọng cỏc ngành dịch vụ trong GDP vẫn chi ở mức dưới 40% (năm 2006 chiếm 38.08%) Điều đú cho thấy, so với yờu cầu của Đảng và Nhà nước, khu vực này cũn cần phải tăng tốc mạnh hơn nữa So với cỏc nước trờn thế giới, tỷ trọng đúng gúp của cỏc ngành dịch vụ trong nền kinh tế của nước

ta cũn quỏ thấp

Hóy quan sát cụ thể hơn một số chỉ tiờu liờn quan đến hoạt động của cỏc ngành dịch vụ qua kết quả thu được từ hai cuộc tổng điều tra cỏc cơ sở

Trang 22

kinh tế, hành chớnh, sự nghiệp năm 1995 và 2002 dưới đõy (xem Bảng 1 và Bảng 2):

- Số cơ sở kinh doanh cỏc ngành dịch vụ 2002/1995: tăng 45.3%

- Số lao động trong cỏc ngành dịch vụ 2002/1995 tăng gần gấp đụi (92,4%)

Tuy nhiờn, tỷ trọng số cơ sở kinh doanh dịch vụ và số lao động trong cỏc ngành dịch vụ chiếm trong tổng số cơ sở và lao động của toàn bộ khu vực kinh tế phi nụng nghiệp từ 1995 đến 2002 cũng chưa cú những thay đổi lớn Năm 1995 số cơ sở hoạt động dịch vụ chiếm 70,8% tổng số

cơ sở kinh tế phi nụng nghiệp, thỡ đến 2002 số cơ sở này cũng chỉ chiếm 72,7%; số lao động trong cỏc ngành dịch vụ năm 1995 chiếm 58,0% số lao động trong toàn bộ khu vực kinh tế phi nụng nghiệp, thỡ đến năm 2002 con

số này cũng mới chỉ là 59,5%

Tốc độ phát triển của khu vực dịch vụ tính từ năm 2000 đến 2006 chỉ

đạt mức bình quân 6,5%/năm, trong khi đó khu vực sản xuất công nghiệp

đạt mức tăng trưởng bình quân trên 10%/năm; trong 7 năm liền, mỗi năm

tỷ trọng của khu vực dịch vụ (tớnh theo giỏ so sỏnh) trong toàn nền kinh tế

cũng vẫn chỉ chiếm trờn 40% (Bảng 3)

Kết quả trờn cho thấy, khu vực kinh tế dịch vụ của nước ta chưa cú những bứt phỏ mạnh Mặc dù số lượng các đơn vị kinh doanh dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhưng do qui mô quá nhỏ bé nên mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chưa cao; tốc độ phỏt triển của cỏc ngành dịch vụ cũng chỉ ở mức thấp hơn cỏc ngành sản xuất vật chất Do đú, cú thể thấy, kinh tế nước ta chưa đạt được mục tiờu chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ sang nền kinh tế dịch vụ như xu hướng của cỏc nước trờn thế giới hiện nay

Bảng 1: Tốc độ tăng số cơ sở, số lao động của cỏc ngành dịch vụ

Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở KTHCSN năm 2002-TCTK

Trang 23

Bảng 2: Tỷ trọng số cơ sở, số lao động trong ngành dịch vụ

Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở KTHCSN năm 2002- TCTK

B¶ng 3: Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994

phân theo khu vực kinh tế

Tỷ đồng

Nông, lâm nghiệp và

Trang 24

1.2 Tỡnh hỡnh phỏt triển một số ngành dịch vụ tiềm năng

Như đã trình bày trong phần trên, trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta, các ngành dịch vụ tiềm năng cần ưu tiên phát triển đã được Chính phủ chỉ ra, bao gồm: ngành vận tải, ngành bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, các ngành dịch vụ kinh doanh Dưới đây là một số nét về tình hình hoạt động và triển vọng phát triển những ngành này để minh chứng thêm cho đánh giá của Chính phủ

(Số liệu chung về tỡnh hỡnh phỏt triển cỏc ngành kinh tế dịch vụ được trỡnh bày trong bảng 4-trang 29

1.2.1 Dịch vụ giao thông, vận tải

Nước ta cú một hệ thống giao thụng với đầy đủ cỏc phương thức vận tải đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không Tính dến 2006, cả nước có: 219.192 km đường bộ, 3.143 km đường sắt, 17.139 km đường sụng đang khai thỏc, hơn 90 cảng biển lớn nhỏ và 52 sõn bay Sau 20 năm đổi mới, được sự quan tõm của Đảng và Nhà nước, giao thụng vận tải (GTVT) đó cú những bước phỏt triển đỏng kể Trong giai đoạn 2000-2006, khối lượng hàng húa vận chuyển được là 851 triệu tấn và 273 tỷ T.Km; Khối lượng vận tải hành khỏch là 4,3 tỷ HK và 151 tỷ HK.Km Khối lượng hàng húa thụng qua cỏc cảng biển đạt 447 triệu tấn, tăng bỡnh quõn 15%/năm

Chiến lược phỏt triển ngành giao thụng vận tải Việt Nam đến năm

2020 đó nờu rừ cỏc quan điểm phỏt triển ngành như sau:

GTVT là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xó hội, cần ưu tiờn đầu tư phỏt triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phỏt triển kinh tế - xó hội, củng cố an ninh, quốc phũng, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Phỏt huy tối đa lợi thế về vị trớ địa lý và điều kiện tự nhiờn của đất nước, để phỏt triển hệ thống GTVT hợp lý, đặc biệt là GTVT đường thủy nhằm giảm thiểu chi phớ vận tải, tiết kiệm chi phớ xó hội Phỏt triển CSHT-GT một cỏch đồng

bộ, hợp lý, từng bước đi vào hiện đại, tạo nờn mạng lưới hoàn chỉnh, liờn hoàn, liờn kết giữa cỏc phương thức vận tải, giữa cỏc vựng lónh thổ, giữa

đụ thị và nụng thụn trờn phạm vi toàn quốc… Phỏt triển vận tải theo hướng hiện đại với chi phớ hợp lý, an toàn, giảm thiểu tỏc động mụi trường và tiết kiệm năng lượng; Ứng dụng cụng nghệ vận tải tiờn tiến, đặc biệt là vận tải

đa phương thức; nhanh chúng đổi mới phương tiện; Nõng cao chất lượng dịch vụ vận tải, đồng thời phỏt triển nhanh hệ thống dịch vụ vận tải đối ngoại, trước hết là vận tải hàng khụng và hàng hải, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo điều kiện đẩy nhanh quỏ trỡnh hội nhập quốc

Trang 25

tế…Phỏt triển GTVT ở cỏc đụ thị theo hướng sử dụng vận tải cụng cộng là chớnh, đảm bảo hiện đại, an toàn, tiện lợi và bảo vệ mụi trường Đối với cỏc đụ thị lớn (trước mắt là Hà Nội và TP HCM) nhanh chúng phỏt triển phương thức vận tải khối lượng lớn (vận tải bỏnh sắt);…Phỏt triển mạnh GTVT địa phương, đỏp ứng được yờu cầu CNH-HĐH nụng nghiệp - nụng thụn, gắn kết được mạng GTVT địa phương với mạng GTVT quốc gia, tạo

sự liờn hoàn, thụng suốt và chi phớ vận tải hợp lý, phự hợp với đa số dõn cư…Xó hội húa việc đầu tư phỏt triển CSHT - GT, trước hết là CSHT - GT đường bộ…

Mục tiêu phát triển ngành giao thông vận tải đ−ợc đặt ra là:

- Về vận tải: Phải thỏa món nhu cầu vận tải xó hội đa dạng với mức tăng trưởng ngày càng cao, đảm bảo chất lượng tốt, giỏ thành giảm Tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn của vận tải nội địa (khụng kể vận tải nội thành) giai đoạn 2002-2010 phải đạt 7,56%/năm về tấn, 9,65% về TKm và 6,48% về hành khỏch, 7,75% về HKKm; 2011-2020 phải đạt 6,83% về tấn, 7,17% về TKm và 5,85% về hành khỏch, 8,89% về HKKm Tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn của vận tải hàng húa xuất nhập khẩu và hành khỏch quốc tế giai đoạn 2002-2010 phải đạt 7,64% về tấn và 9,8% về hành khỏch; Giai đoạn 2011-

2020 phải đạt 6,98% về tấn và 11,7% về hành khỏch, trong đú tỷ lệ đảm nhận vận chuyển hàng húa xuất nhập khẩu của đội tàu biển Việt Nam năm

2010 là 25%, năm 2020 là 35%; Và thị phần vận tải quốc tế của cỏc hóng hàng khụng Việt Nam đạt 50%

Vận tải hành khỏch cụng cộng ở Hà Nội và TP HCM năm 2010 phải đạt 25-30%, năm 2020 đạt 50-60%

- Về cơ sở hạ tầng

Phỏt triển CSHT - GT giai đoạn trước mắt tập trung đưa vào cấp kỹ thuật và nõng cấp cỏc cụng trỡnh hiện cú, kết hợp xõy dựng mới một số cụng trỡnh phục vụ đắc lực cho phỏt triển kinh tế - xó hội của Trung ương

và địa phương Giai đoạn 2010 - 2020, hoàn chỉnh, hiện đại húa và tiếp tục phỏt triển CSHT - GT đảm bảo vận tải tối ưu trờn toàn mạng lưới Mục tiờu cụ thể đến năm 2020 của từng chuyờn ngành như sau:

Đường bộ: Toàn bộ hệ thống quốc lộ và hầu hết tỉnh lộ phải được đưa

vào đỳng cấp kỹ thuật; Mở rộng và xõy dựng mới cỏc quốc lộ cú nhu cầu vận tải lớn; Xõy dựng hệ thống đường bộ cao tốc trờn cỏc hành lang vận tải quan trọng

Đường sắt: Hoàn thành nõng cấp cỏc tuyến đường sắt hiện cú đạt cấp

đường sắt quốc gia và khu vực; Xõy dựng một số tuyến mới cú nhu cầu;

Trang 26

Cải tạo và xõy dựng một số tuyến đường sắt đụi và điện khớ húa; Triển khai xõy dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc- Nam

Đường biển: Hoàn thành việc mở rộng, nõng cấp cỏc cảng tổng hợp

quốc gia chớnh; Xõy dựng cảng nước sõu ở 3 khu vực kinh tế trọng điểm; Phỏt triển cảng trung chuyển quốc tế tiếp nhận tàu trọng tải lớn, đỏp ứng được nhu cầu vận tải

Đường sụng: Nõng tổng chiều dài quản lý lờn 16.500 km; Nõng cấp

hệ thống đường sụng chớnh yếu trong mạng đường sụng Trung ương và địa phương đạt cấp kỹ thuật quy định; Đầu tư chiều sõu, nõng cấp và xõy dựng mới cỏc cảng hàng húa và hành khỏch, đặc biệt ở đụng bằng sụng Hồng và đồng bằng sụng Cửu Long

Hàng khụng: Nõng cấp, mở rộng và xõy dựng mới cỏc cảng hàng

khụng quốc tế cú quy mụ và chất lượng ngang tầm với cỏc nước trong khu vực Hoàn thành nõng cấp và xõy dựng mới cỏc sõn bay nội địa đỏp ứng tiờu chuẩn quốc tế

Chiến lược và những mục tiờu cụ thể nờu trờn đó cho thấy ngành vận tải là một ngành dịch vụ truyền thống, cú vai trũ vị trớ rất quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, đó và sẽ là một trong những ngành dịch vụ lớn được

ưu tiờn phỏt triển

1.2.2 Dịch vụ bưu chớnh, viễn thụng

Bưu chính viễn thông ở nước ta đã và đang phỏt triển nhanh chóng, phù hợp với xu hướng chung của thế giới

Việt Nam đó cú bước tiến bộ vượt bậc, là một trong những quốc gia

cú tốc độ phỏt triển viễn thụng và Internet nhanh, rộng Đến nay, có thể nói, hạ tầng viễn thụng của nước ta đạt trỡnh độ hiện đại về cụng nghệ, đỏp ứng các loại dịch vụ cơ bản theo nhu cầu của xó hội Mạng truyền dẫn cỏp quang đó lan rộng tới huyện, một số ớt đó xuống xó, tạo nền múng vững chắc cho một mạng thụng tin băng rộng đa dịch vụ, an toàn và chất lượng cao Một số tổng đài thế hệ mới NGN đó được đưa dần vào khai thỏc trong mạng lưới, cập nhật với cỏc cụng nghệ mới nhất và đỏp ứng hướng hội tụ cỏc tớnh năng nghe, nhỡn và truyền số liệu của cỏc dịch vụ: bưu chớnh, viễn thụng, Internet và phỏt thanh truyền hỡnh trờn một mạng lưới duy nhất Đến thỏng 5/2006 tổng số thuờ bao điện thoại của Việt Nam đó đạt gần

18 triệu, tương ứng mật độ khoảng 21 mỏy/100 dõn Điện thoại được phổ cập rộng rói tới vựng sõu, vựng xa, biờn giới, hải đảo Đến cuối năm 2005, 100% tổng số xó trong cả nước đó cú mỏy điện thoại Sự tăng nhanh của mật độ điện thoại nhờ cú sự bựng nổ của thụng tin di động Trong 5 năm qua, trong khi tốc độ phỏt triển bỡnh quõn của thụng tin di động thế giới đạt

Trang 27

34-35%/năm, của chõu Á-Thỏi Bỡnh Dương-khu vực phỏt triển kinh tế năng động nhất đạt 39,5% thỡ ở Việt Nam trong vũng 2-3 năm trở lại đõy, tốc độ phỏt triển thụng tin di động đó cao gấp đụi so với thế giới, đạt 60-65%/năm Sự ứng dụng nhanh cỏc cụng nghệ mới, sự tăng trưởng của kinh

tế và mức sống nhõn dõn, tiến trỡnh mở cửa cạnh tranh, lộ trỡnh giảm cước là những yếu tố thỳc đẩy sự phỏt triển ngoạn mục đú tại Việt Nam

Mạng viễn thụng cũng đó được tăng cường đầu tư nờn phỏt triển nhanh Mạng điện thoại toàn quốc đó vượt chỉ tiêu 7 triệu thuờ bao điện thoại vào năm 2003, về đớch trước 2 năm so với chỉ tiờu mà Nghị quyết đại hội Đảng IX đó đề ra cho năm 2005 Đến hết năm 2005 số thuờ bao điện thoại của cả nước đó đạt trờn 15,8 triệu mỏy, gấp 4,8 lần năm 2000 Trong

đú 7,1 triệu thuờ bao cố định, gấp 2,8 lần và 8,7 triệu thuờ bao di động, gấp 11,1 lần tớnh ra mật độ điện thoại năm 2005 đó đạt 19,1 mỏy/100 dõn

Bên cạnh những doanh nghiệp lớn của nhà nước, nhiều doanh nghiệp mới kinh doanh các ngành dịch vụ này ra đời và chiếm thị phần ngày càng cao trong thị trường dịch vụ viễn thụng và internet Cụ thể, doanh số của những doanh nghiệp mới đã chiếm 55,5% số thuờ bao internet; 25% tổng

số thuờ bao điện thoại và 60% lưu lượng dịch vụ điện thoại quốc tế Cụng nghệ mới đó được cỏc doanh nghiệp chỳ trọng triển khai, cỏc loại hỡnh dịch vụ ngày càng đa dạng như: dịch vụ điện thoại giỏ rẻ trả trước (1717), điện thoại vụ tuyến nội thị Cityphone, ADSL, MMS, Mega VNN, điện thoại internet, WIFI@Vnn đó giỳp cho người sử dụng cú nhiều sự lựa chọn

và ngày càng cú nhiều tiện ớch hơn

Giỏ cước viễn thụng quốc tế và điện thoại di động đó liờn tục giảm

do thực hiện lộ trỡnh giảm cước viễn thụng của Chớnh phủ và cạnh tranh giữa cỏc nhà cung cấp dịch vụ Ngoài ra, cỏc nhà cung cấp cũn tăng cường cỏc dịch vụ tiện ớch và khụng ngừng đẩy mạnh cụng tỏc chăm súc khỏch hàng cũng đó gúp phần gia tăng số thuờ bao điện thoại và nõng cao hiệu quả sử dụng Cú thể khẳng định rằng hạ tầng viễn thụng ngày càng phỏt triển hiện đại, đồng bộ, đủ khả năng đỏp ứng trước một bước yờu cầu phỏt triển kinh tế - xó hội, phục vụ an ninh quốc phũng của đất nước, đỏp ứng nhu cầu phỏt triển ứng dụng cụng nghệ thụng tin và nhu cầu dịch vụ viễn thụng ngày càng tăng của dõn cư

Về bưu chính: Mạng bưu chớnh nước ta năm 2005 đó cú 17,3 nghỡn điểm phục vụ, tăng 2,5 nghỡn điểm so với năm 2004, trong đú cú 7,5 nghỡn điểm Bưu điện - văn hoỏ xó Bỏn kớnh phục vụ trung bỡnh của một điểm bưu điện năm 2005 đó giảm xuống chỉ cũn 2,5 km và số xó cú bỏo đến trong ngày là 90,9%

Trang 28

Chính vì vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và tốc độ phát triển vũ bão của nó trên thế giới, ngành Bưu chính Viễn thông luôn được xếp trong tốp đầu ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ

1.2.3 Một số ngành dịch vụ kinh doanh khác

- Ngành thương nghiệp

Cũng như ngành giao thụng vận tải, thương nghiệp (bỏn lẻ, sửa chữa

đồ dựng cỏ nhõn và gia đỡnh) là một ngành dịch vụ truyền thống Từ khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, hoạt động thương nghiệp càng phỏt triển nhanh chúng Đõy là một lĩnh vực kinh tế mà sự phỏt triển của nú dễ dàng nhận thấy và cú tỏc động trực tiếp đến đời sống nhõn dõn Đú là sự sầm uất của thị trường, hàng hoỏ được giao lưu thụng thương trong cả nước từ thành thị đến nụng thụn, kể cả cỏc vựng sõu vựng xa; điều kiện mua bỏn của người dõn ngày càng trở nờn thuận tiện, dễ dàng hơn nhờ sự phỏt triển của mạng lưới dịch vụ lưu thụng cung cấp hàng húa

Theo số liệu điều tra cơ sở kinh tế cỏ thể hàng năm của Tổng cục Thống kê cho thấy, số cơ sở kinh doanh thương nghiệp thường chiếm khoảng trờn 40% tổng số cơ sở cỏ thể hoạt động trong khu vực kinh tế phi nông nghiệp nước ta Cụ thể, năm 2005, trong số hơn 3 triệu cơ sở kinh tế

cỏ thể cú đến trờn 1,3 triệu cơ sở hoạt động thương nghiệp Số lao động trong ngành này chiếm trờn 60% số lao động của toàn bộ lao động trong khu vực kinh tế cỏ thể phi nụng nghiệp Mặc dù qui mô còn nhỏ bé nhưng hoạt động này đã đóng góp đáng kể vào việc lưu thông, phân phối hàng hóa đên tay người tiêu dùng Trong những năm gần đây, dịch vụ thương nghiệp cũng được cải thiện, nâng cấp với sự ra đời nhanh chóng của các trung tâm thương mại, các siêu thị, cửa hàng tự chọn làm thay đổi bộ mặt thị trường và từng bước thay đổi thói quen mua bán của một bộ phận người dân Đến nay, nhiều tập đoàn bán lẻ nổi tiếng thế giới đã rất quan tâm đến thị trường bán lẻ Việt nam; với trên 80 triệu dân, Việt Nam là một trong những thị trường rất tiềm năng Nói cách khác, hoạt động bán lẻ sẽ phát triển nhanh, mạnh theo hướng văn minh, hiện đại

Về doanh thu, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ vụ tiêu dùng xã hội trong khoảng 10 năm gần đây tăng ở mức bình quân 15%/ năm; nếu loại trừ phần tăng do tác động giá cả thì thì con số này cũng xấp xỉ 9-10%/năm Ngành thương nghiệp không những đóng góp phần quan trọng vào việc lưu thông, tiêu thụ hàng hóa - giải quyết khâu cuối của qui trình sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, mà còn giải quyết cho hàng triệu người có công ăn việc làm thường xuyên, bảo đảm đời sống, gúp phần ổn định xó hội Vì vậy, đây là một ngành dịch vụ không những được Đảng Nhà nước

Trang 29

quan tâm quản lý, phát triển mà còn được cả xã hội tham gia tớch cực và là một trong những ngành dịch vụ đầy tiềm năng

- Ngành khách sạn, nhà hàng

Khi nền kinh tế tăng truởng ở mức cao trong nhiều năm, đời sống nhân dân được cải thiện, mức sống cao hơn thì khách sạn, nhà hàng là ngành dịch vụ có nhu cầu cao và do đó có điều kiện phát triển mạnh Vì vậy, trong những năm gần đây ngành khách sạn - nói rộng hơn là cơ sở lưu trú

và nhà hàng - nói rộng hơn là cơ sở kinh doanh hàng ăn, uống - tăng cả về

số lượng, qui mô, mức độ văn minh và doanh thu Kết quả tổng điều tra cơ

sở kinh tế hành chính sự nghiệp 1995, 2002 và 2006 cho thấy, số lượng cơ

sở kinh doanh khách sạn nhà hàng sau 7 năm đã tăng từ 290138 cơ sở (năm 2002) lên 438814 cơ sở (năm 2006); số lao động trong ngành tăng từ

587200 lao động lên 935827 lao động tương ứng Các loại khách sạn, nhà nghỉ mọc lên như nấm ở nhiều tỉnh, thành phố lớn với sự tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó, khu vực tư nhân, cá thể đóng góp tích cực Mức tăng doanh thu bình quân năm của ngành này tính từ năm 2000 đến

2006 là 20,3%/năm Hơn nữa, hoạt động khách sạn, nhà hàng gắn bó hữu cơ với ngành du lịch - ngành được xác định là một mũi nhọn trong nền kinh tế nước ta, vì vậy, đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để phát triển các dịch vụ này

- Ngành dịch vụ tài chính

Dịch vụ tài chính là dịch vụ liên quan đến hoạt động quản lý tài chính, tiền tệ; bao gồm một phạm vi rộng các hoạt động ngân hàng (gửi, cho vay, tín dụng, thế chấp, thanh toán nợ, tín dụng, ); bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, y tế, phi nhân thọ ), dịch vụ đầu tư (quản lý tài sản, giám hộ tài sản ) Từ năm 2000 đến nay, dịch vụ tài chính có tốc

độ tăng tưởng trung bình trên 7%/năm Tốc độ này tùy chưa cao như mong muốn, nhưng đã có sự khởi động đáng ghi nhận Các dịch vụ về ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, kế toán xuất hiện ngày càng nhiều, mang lại nhiều tiện ích cho công việc và cuộc sống của nguời dân Chỉ lấy vớ dụ về ngân hàng: cỏc dịch vụ ngõn hàng trực tuyến đảm bảo cho hoạt động kinh doanh nhanh, an toàn, tiện lợi ở mọi nơi trên thế giới và mọi lỳc Giao dịch qua điện thoại là cỏch thức rẻ nhất để giao dịch với ngõn hàng Chỉ cần sử dụng điện thoại và theo hướng dẫn trong lời thoại, gọi bất cứ lỳc nào, ngày hay đờm để kiểm tra tài khoản, chuyển tiền, hỏi thụng tin về lói suất và tỷ giỏ hối đoỏi; dễ dàng tiếp cận vào tài khoản, thụng tin cập nhật và cỏc dịch vụ quản lý 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày một tuần Với cỏch tiếp cận đơn giản và thuận tiện này, cú thể thực hiện cỏc giao dịch ngõn hàng hằng ngày một

Trang 30

cỏch hữu hiệu Giao dịch ngõn hàng trờn Internet: là một cỏch thức tiện lợi

và an toàn Khi việc sử dụng Internet gia tăng, ngày càng nhiều cỏc ngõn

hàng sử dụng cỏc trang Web để cung cấp sản phẩm và dịch vụ của mỡnh

hoặc tăng cường giao tiếp với khỏch hàng

Dịch vụ bảo hiểm cũng đang phỏt triển rộng rói với sự gúp mặt của

nhiều hóng bảo hiểm nước ngoài Cỏc cụng ty bảo hiểm cũng đưa ra rất

nhiều sản phẩm phong phỳ để thu hỳt khỏch hàng, trong đú nhiều sản

phẩm bảo hiểm rất mới mẻ với thị trường Việt Nam…

Các công ty dịch vụ tài chính khác như công ty tư vấn tài chính, chứng

khoán, công ty kinh doanh vốn …xuất hiện ngày càng nhiều

- Các ngành dịch vụ khác

Trong nền sản xuất hiện đại, hệ thống cỏc hoạt động dịch vụ kinh

doanh đúng vai trũ rất quan trọng Đó là xu thế của sự phõn cụng lao động

xó hội; ở cỏc nước càng phỏt triển, các ngành dịch vụ kinh doanh càng

nhiều, đa dạng, phong phú Việc cung cấp các dịch vụ kinh doanh là rất

cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh cú kết quả và hiệu quả

cao, đặc biệt trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế toàn cầu hiện nay Ở

nước ta, các ngành dịch vụ kinh doanh cũng đã xuất hiện, tuy nhiên, còn

rất nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu

Tóm lại, trong những năm qua, các ngành kinh tế dịch vụ của nước ta

cũng đã có những bước phát triển tốt, tuy nhiên chưa tạo được những thay

đổi lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Với những đường lối chính sách

của Đảng và Chính phủ về khuyến khích, đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi

cho khu vực dịch vụ, trong đó đặc biệt là các ngành dịch vụ quan trọng, có

nhiều tiềm năng, khu vực kinh tế dịch vụ sẽ có điều kiện phát triển mạnh

hơn và đóng góp tốt hơn vào tốc độ tăng trưởng của toàn nền kinh tế

Bảng 4: Chỉ số phỏt triển tổng sản phẩm trong nước theo giỏ so sỏnh 1994

phõn theo ngành kinh tế (Năm trước= 100) Đơn vị tớnh: %

2000 2001 2002 2003 2004 2005 Sơ bộ

2006 TỔNG SỐ 106.8 106.9 107.1 107.3 107.8 108.4 108.2

Phõn theo ngành kinh tế

………

Thương nghiệp; sửa chữa xe cú

động cơ, mụ tụ, xe mỏy, đồ dựng cỏ

Khỏch sạn và nhà hàng 104.1 106.7 107.1 105.2 108.1 117.0 112.4

Trang 31

Vận tải, kho bói và thụng tin

liờn lạc 105.8 106.6 107.1 105.5 108.1 109.6 110.1 Tài chớnh, tớn dụng 106.1 106.3 107.0 108.0 108.1 109.4 108.2

Hoạt động khoa học và cụng

nghệ

124.0 111.3 109.2 107.1 107.4 107.8 107.4

Cỏc hoạt động liờn quan đến

kinh doanh tài sản và dịch vụ tư

(Nguồn: Tổng cục Thống kê-Website gso.gov.vn)

2 Thực trạng và hướng hoàn thiện phương phỏp thống kờ dịch vụ 2.1 Tỡnh hỡnh chung về thống kờ dịch vụ

Như trờn đó đề cập, những năm gần đõy, cùng với các ngành kinh tế khác, các ngành dịch vụ phỏt triển khỏ mạnh mẽ về số lượng, đa dạng về sản phẩm dịch vụ Phương phỏp đo lường cỏc hoạt động dịch vụ cũng đã

có những khởi động cải tiến, phỏt triển, tuy nhiên chưa đáp ứng yêu cầu Dưới đây là một số nét cơ bản về tình hình thống kê dịch vụ ở nước ta

Theo ISIC (ban hành theo Nghị định 75CP - ngày 27/10/1993 của

Thủ tướng Chính phủ), nền kinh tế được chia ra 20 ngành cấp I sau đây:

15/Y tế hoạt động cứu trợ xã hội

16/Hoạt động văn hoá thể thao

17/Hoạt động đảng, đoàn thể, hiệp hội

Trang 32

18/Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng

19/Hoạt động làm thuê các công việc gia đình

20/Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế

Trong số 20 ngành kể trên, các ngành từ 1 đến 6 là các ngành sản xuất ra sản phẩm hàng hoá; số còn lại - 14 ngành - là các ngành dịch vụ Như vậy, trong số 20 ngành kinh tế quốc dân đã có 14 ngành dịch vụ Hiện trạng thống kê kết quả hoạt động của các ngành dịch vụ được mô tả tóm tắt như sau:

Người sử dụng chính

Điều tra

DN, điều tra cá thể

Thống kê TKQG, phân tích, các Bộ ngành, địa phương

(9)Vận tải kho bãi,

thông tin liên lạc

Số DN, cơ sở cá

thể, doanh thu, lao động, vốn, tài sản, chi phí Chỉ số giá cước vận tải

Điều tra

DN, điều tra cá thể;

Bộ Bưu chính viễn thông;

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

10/Tài chính, tín

dụng

Số DN, cơ sở cá

thể, doanh thu, lao động, vốn, tài sản, chi phí

Điều tra DN; điều tra cá thể;

Ngân hàng

NN, Bộ TC

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

Điều tra DN; điều tra cá thể

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

Điều tra DN; điều tra cá thể

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

Bộ Tài chính

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

Trang 33

14/Giáo dục đào

tạo

Số DN, cơ sở cá

thể, doanh thu, lao động, vốn, tài sản, chi phí

Điều tra DN; điều tra cá thể;

Bộ giáo dục

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

15/Y tế hoạt động

cứu trợ xã hội

Số DN, cơ sở cá

thể, doanh thu, lao động, vốn, tài sản, chi phí

Điều tra DN; điều tra cá thể;

Bộ Y tế

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

16/Hoạt động văn

hoá thể thao

Số DN, cơ sở cá

thể, doanh thu, lao động, vốn, tài sản, chi phí

Điều tra DN; điều tra cá thể;

Bộ VHTT

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

17/Hoạt động

đảng, đoàn thể,

hiệp hội

Giá trị sản xuất, thu chi

Bộ tài chính

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương 18/Hoạt động

phục vụ cá nhân

và cộng đồng

Số DN, cơ sở cá

thể, doanh thu, lao động, vốn, tài sản, chi phí

Điều tra

DN, nghiệp;

điều tra cá

thể;

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

Bộ Tài chính

Thống kê TKQG, phân tích; các Bộ ngành, địa phương

- Về danh mục dịch vụ: Hiện nay, nước ta đang sử dụng ISIC - được ban hành năm 1993 - dựa trên chuẩn quốc tế - cho công tác thống kê Như đã trình bày trên, theo bảng phân loại này, 14 ngành dịch vụ được tớnh từ ngành thương nghiệp sửa chữa xe có động cơ đến ngành cuối Hiện nay hệ thống tài khoản quốc gia và thống kê chuyên ngành đều sử dụng bảng phân loại này trong thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu, số liệu Cụ thể, tài khoản quốc gia hiện chia 3 khu vực: nông lâm nghiệp thủy sản, công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ; trong đó khu vực dịch vụ bao gồm 14 ngành dịch

vụ kể trên Tuy nhiên, với điều kiện phát triển kinh tế mạnh mẽ và những tiến bộ vũ bão về khoa học kỹ thuật toàn cầu, đã có những thay đổi đáng kể trong phân ngành hoạt động kinh tế này, kể cả trên thế giới và trong nước

Trang 34

Do đó, các tổ chức quốc tế, các nước phát triển đã có những nghiên cứu và

đưa ra phiên bản mới về phân ngành kinh tế cho phù hợp hơn với tình hình phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta, ngành Thống kê cũng đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện lộ trình cải tiến xây dựng hệ thống ngành kinh tế quốc dân trên cơ sở phiên bản quốc tế mới và dự kiến áp dụng từ năm

2007 Theo hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân mới chắc chắn sẽ có những điều chỉnh, bổ sung về danh mục các ngành dịch vụ

Một vấn đề tồn tại lớn hiện nay cần đề cập đến để có hướng khắc phục đó là danh mục sản phẩm Đối với các nước, danh mục sản phẩm

được sử dụng phổ biến trong thống kê là CPC (ver 1.0.) hoặc CPA Đõy là những bảng danh mục rất cần thiết trong khi xõy dựng cỏc loại chỉ số giỏ sản xuất, bởi vỡ muốn tớnh được chỉ số giỏ sản xuất của 1 ngành thỡ cần phải cú được bảng danh mục sản phẩm đại diện cho ngành đú ở nước ta, CPC cũng đó được ban hành, tuy nhiên việc sử dụng còn rất hạn chế Nguyên nhân của vấn đề này một phần là do danh mục chưa thật phù hợp với thực tế Việt nam, đồng thời còn do ý thức chủ quan của ngành thống

kê, chưa thật tích cực trong việc nghiên cứu ứng dụng, đây là một bất cập lớn trong thống kê nói chung và trong thống kê giá nói riêng, bởi vì, nếu không xác định được danh mục sản phẩm thì sẽ khú khăn trong thống kê sản phẩm của các ngành dịch vụ, đặc biệt trong việc lập danh mục thu thập giá của từng sản phẩm Tuy nhiên, theo kế hoạch, trong những năm tới Tổng cục Thống kê đã có chương trình cải tiến và ban hành bảng Danh mục sản phẩm trên cơ sở phiên bản mới của quốc tế Nếu kế hoạch này

được thực thi thì sẽ là một bước tiến quan trọng đối với thống kê dịch vụ

- Các chỉ tiêu thống kờ dịch vụ trong nước: Như đã tóm tắt trong bảng trên, hiện nay các chỉ tiêu thống kê dịch vụ còn rất nghèo nàn Chỉ tiêu doanh thu của cỏc dịch vụ kinh doanh được tổng hợp lên từ chỉ tiêu doanh thu của doanh nghiệp và doanh thu các hộ sản xuất kinh doanh cá thể; trong đó doanh thu của doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể được tính theo ngành kinh doanh chính Giá trị sản xuất của một số ngành dịch vụ khác như: quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, sự nghiệp y tế giáo dục

được lấy từ các nguồn hồ sơ hành chính của các Bộ, ngành quản lý; toàn bộ phần “xã hội hóa” hầu như chưa được thu thập Do đó có thể nói với mức

độ hiện nay, thống kê doanh thu-giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ còn thiếu về phạm vi, và chưa cú độ tin cậy cao và những chỉ tiờu này cần được quan tâm nõng cao chất lượng hơn nữa

Đến nay, đối với hầu hết các ngành dịch vụ đều chưa có các chỉ tiêu thống kê sản phẩm Đây là một bất cập lớn trong việc cung cấp số liệu

Trang 35

phục vụ xây dựng các kế hoạch đầu tư phát triển kinh doanh, nghiên cứu phân tích thị trường và đặc biệt trong việc thu thập giá sản phẩm để tính các loại chỉ số giá

- Đơn vị thống kờ: Hiện nay, loại đơn vị thống kờ được sử dụng phổ biến vẫn là doanh nghiệp hạch toán độc lập Các loại đơn vị thống kê khác như

đơn vị cơ sở, đơn vị địa bàn…chưa được sử dụng nhiều Vấn đề này dẫn

đến một số hạn chế, ví dụ: trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, đa địa điểm thì việc bóc tách để phân bổ kết quả sản xuất kinh doanh, chi phí theo ngành, theo địa điểm là không khả thi Đơn vị sử dụng trong thống kê dịch vụ cũng không phải là trường hợp ngoại lệ

Như vậy, cú thể núi thống kờ dịch vụ đến nay chưa đáp ứng yêu cầu chung và chưa theo kịp thực tế phỏt triển của cỏc ngành dịch vụ Vì vậy, cần phải cú những giải phỏp tớch cực và khẩn trương để khắc phục những bất cập núi trờn

Hướng cải tiến cần đi vào một số nội dung sau đây:

Trước hết, có thể phân loại dịch vụ theo đối tượng cung cấp, trên cơ sở

đó xác định phương thức tổ chức thu thập, biên soạn số liệu cho phù hợp,

cụ thể như sau: (Sơ đồ 2)

- Về phõn loại dịch vụ: sau khi hoàn thiện và ban hành ISIC mới cần

nhanh chóng đưa vào áp dụng để có danh mục các ngành dịch vụ sát với chuẩn quốc tế và phù hợp với thực tế phát sinh của các hoạt động kinh tế Sớm cải tiến CPC để có thể tiến hành được thống kê sản phẩm, hoặc CPA

để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thống kờ nói chung, trong đó có thống kê giỏ

1- DV Bán buôn, bán lẻ (G)

2- DV Bưu chính, viễn thông (I)

3- DV Khoa học, công nghệ (K)

4- DV Kinh doạnh tài sản, tư vấn (L)

5- DV Giáo dục, đào tạo (N)

Cơ sở cá thể cung cấp

Khối B Các dịch vụ do cơ quan hành chính, đơn vị

sự nghiệp, đoàn thể, hiệp hội cung cấp

Phân loại các đơn vị cung cấp dịch vụ

12- DV QL nhà nước, an ninh QP (M) 13- Hoạt động của Đảng đoàn thể (Q) 14- Khoa học, công nghệ (K) 15- DV Giáo dục, đào tạo (N) 16- DV Y tế (O)

17- DV Văn hoá, thể thao (P) 18- DV làm thuê công việc gia đình (U) 19- HĐ của các tổ chức, đoàn thể quốc tế (V)

Trang 36

- Về đơn vị thống kờ: Ngoài đơn vị thống kờ đang sử dụng là doanh

nghiệp, cần bổ sung thờm cỏc loại đơn vị thống kờ khỏc, trong đú “đơn vị

cơ sở “ (establishsment) là một loại đơn vị thống kờ cơ bản Với đặc điểm

cơ bản là đơn ngành, đơn địa điểm, của loại “đơn vị cơ sở” việc tổng hợp cỏc chỉ tiờu thống kờ theo địa bàn, theo ngành sạch mới cú thể thực hiện được chớnh xỏc Hiện nay, chỉ cú tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chớnh sự nghiệp là sử dụng đơn vị cơ sở Vỡ vậy, trong thống kờ kinh tế cần khai thỏc, sử dụng dữ liệu Tổng điều tra này làm dàn mẫu tổng thể cho cỏc cuộc điều tra mẫu, trong đú cú cỏc cuộc điều tra doanh thu dịch vụ theo ngành, theo lónh thổ

- Cần dành thời gian, công sức thích đáng để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện

hệ thống chỉ tiêu, các khái niệm định nghĩa, xác định nguồn và phương pháp thu thập số liệu vầ các ngành dịch vụ, trong đó các chỉ tiêu thống kê sản xuất dịch vụ (ví dụ như chỉ tiêu doanh thu) và thống kê giá

2.2 Thực trạng và hướng hoàn thiện thống kờ một số ngành dịch vụ trọng điểm

Với cỏch đặt vấn đề của đề tài, để xỏc định được cỏc ngành dịch vụ

ưu tiờn xõy dựng chỉ số giỏ sản xuất, cần dựa trờn 3 yếu tố: 1/Là ngành dịch vụ tiềm năng, quan trọng đó được Chớnh phủ xác định cần ưu tiờn đầu

tư, phỏt triển; 2/Là ngành dịch vụ đó cú sẵn hoặc cú thể tổ chức thu thập một số chỉ tiờu liờn quan đến cỏc yờu tố cần thiết cho việc tớnh chỉ số giỏ,

đú là cỏc yếu tố để lập bảng quyền số và xõy dựng được danh mục sản phẩm dịch vụ để tổ chức thu thập giỏ 3/ Mức độ cần thiết của thống kờ tài khoản quốc gia đối với loại chỉ số này để sử dụng cho việc tớnh cỏc chỉ tiờu tài khoản quốc gia theo giỏ so sỏnh

Trong phần này đề cập kỹ hơn thực trạng về thống kờ một số ngành dịch vụ trọng điểm đã xỏc định và tập trung vào những chỉ tiêu liên quan

đến yêu cầu của chỉ số giỏá như doanh thu, danh mục sản phẩm và yờu cầu của TKQG

2.2.1 Dịch vụ vận tải

Theo phõn ngành kinh tế quốc dõn ban hành tại quyết định 75 CP, các hoạt động vận tải được xếp vào 3 trong 5 phân ngành cấp 2 của ngành cấp 1:“Vận tải, kho bói, thụng tin liờn lạc” đó là: Vận tải đường bộ, đường săt (mó ngành 60); Vận tải đường thủy (mó ngành 61), Vận tải hàng khụng (mó ngành 62) (2 phân nhóm còn lại của ngành này là: bốc xếp, kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải- sẽ chưa đề cập trong phạm vi đề tài)

Trong thống kờ vận tải từ trước tới nay, cỏc chỉ tiờu phổ biến là cỏc chỉ tiờu về khối lượng hành khỏch/hàng húa vận chuyển và luõn chuyển,

Trang 37

một số chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng Vì vậy, Chỉ tiờu “Doanh thu vận tải hành khỏch”, “Doanh thu vận tải hàng húa” tuy đó được thu thập, tổng hợp từ nhiều năm nay nhưng phương pháp tính và chất lượng số liệu ít được quan tâm; thống kờ cỏc sản phẩm của từng loại hoạt động vận tải theo ngành đường, theo đối tượng vận tải (hàng húa, hành khỏch) thỡ hầu như chưa cú Dưới đõy là một vài nột cơ bản về cỏch thu thập tổng hợp chỉ tiờu doanh thu vận tải hiện nay:

Hoạt động vận tải được chia theo nhiều loại phương tiện (ụ tụ, tàu hỏa, mỏy bay, tàu thủy, thuyền, canụ ) với nhiều loại đối tượng vận chuyển (hành khỏch, hàng húa)

Khỏi niệm doanh thu vận tải hành khỏch được sử dụng là: “số tiền thu được từ dịch vụ vận chuyển hành khỏch đi lại bằng cỏc loại phương tiện vận chuyển đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng khụng” Doanh thu vận tải hàng húa “là số tiền cước thu được từ cỏc dịch vụ vận chuyển hàng húa bằng cỏc loại phương tiện kể trờn”

Thụng thường, số liệu này thu thập từ cỏc cuộc điều tra doanh nghiệp, điều tra cỏc cơ sở kinh doanh cỏ thể Đối với ngành đường sắt và hàng khụng, số liệu được thu thập từ bỏo cỏo Tổng cụng ty đường sắt, Tổng cục Hàng khụng dõn dụng

Nếu chỉ căn cứ ISIC ban hành theo Nghị định 75 CP- thì doanh thu vận tải phõn theo mức độ chi tiết nhất cú thể cú được chỉ là: doanh thu vận tải (hành khỏch, hàng húa) của cỏc loại phương tiện được phõn đến nhúm ngành cấp 4 Vớ dụ: Trong vận tải đường bộ, đường sắt (nhúm cấp 2), thỡ

cú cỏc nhúm cấp 4 là: Doanh thu vận tải đường sắt (6010); Doanh thu vận tải đường bộ khỏc (6020) và Doanh thu vận tải đường ống (6030)

Tuy nhiên, kể từ Tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp năm 2002 đến nay, ngành thống kê đã thống nhất với Bộ Kế hoạch Đầu tư

đã sử dụng bảng phân ngành được phát triển trên hệ thống ngành kinh tế quốc dân năm 93 nhưng phân chia chi tiết đến nhóm cấp 6 (mã 6 chữ số) cho các cuộc điều tra hàng năm và cho mục đích đăng ký kinh doanh Trên cơ sở đó, ngành vận tải mới có được doanh thu tính cho đến các loại phương tiện

Ví dụ cụ thể như sau:

Trang 38

điều tra hàng năm, hàng tháng được cập nhật từ kết quả điều tra doanh nghiệp và điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể năm trước Mỗi nhóm phương tiện (ví dụ nhóm ô tô khách, nhóm taxi, ) chia theo đối tượng vận chuyển (hành khách/hàng hóa) cần có 1 dàn mẫu riêng để chọn mẫu Trong

ví dụ trên, việc chọn mẫu điều tra về vận tải hành khách bằng ô tô dựa trên

4 dàn mẫu - lấy từ kết quả điều tra doanh nghiệp và điều tra cơ sở SXKD cá thể, đó là các doanh nghiệp/hộ kinh doanh cá thể được sắp xếp theo các nhóm sau:

602111: Vận tải hành khách bằng ô tô (trừ taxi, xe buýt) 602112: Vận tải hành khách bằng xe ta xi

602113: Vận tải hành khách bằng xe buýt

602119: Vận tải hành khách bằng xe cơ giới khác

Doanh thu dịch vụ vận tải theo từng nhóm phương tiện sẽ được tính trên cơ sở suy rộng kết quả điều tra mẫu của các doanh nghiệp/cơ sở cá thể kinh doanh loại phương tiện đó Cách tính như sau:

xS dt

DT B = b ; Trong đú:

- DTB: Doanh thu dịch vụ của các DN kinh doanh loại phương tiện vận tải (ví dụ: taxi)

- dt b: doanh thu bỡnh quõn của đơn vị mẫu (

n

dt dt

n i i b

mụ rất lớn (nhiều đầu xe, nhiều tuyến đường vận chuyển), nhưng cú những doanh nghiệp khỏc qui mụ rất nhỏ (ví dụ chỉ có một đầu xe, một tuyến đường vận chuyển duy nhất); do đó, phương pháp suy rộng dựa trên doanh thu bỡnh quõn của đơn vị mẫu và sẽ không chính xác Hơn nữa, ngay trong

Trang 39

một doanh nghiệp cũng sử dụng nhiều phương tiện vận chuyển khỏc nhau,

ví dụ như: doanh nghiệp vận tải hành khách có cỏc loại ụ tụ: 4 chỗ, 9 chỗ,

12 chỗ, 45 chỗ ; doanh nghiệp vận tải hàng hoỏ bằng cỏc loại xe tải như: dưới 5 tấn, 10 tấn, 20 tấn…Với cách thống kê như vậy, sẽ không thể có

được một cách chính xác doanh thu của từng loại phương tiện cụ thể, điều

đó có nghĩa là không thể có được thống kê theo sản phẩm chớnh xỏc Đây

là một bất cập lớn cho việc tính chỉ số giá cước vận tải

Vì vậy, để khắc phục tồn tại núi trờn, cần phải xây dựng được những dàn mẫu chi tiết hơn đến từng loại phương tiện cụ thể - chứ khụng phải dàn mẫu là doanh nghiệp Vớ dụ: trong nhúm ụ tụ khỏch cần chia ra theo loại ụ tụ 15 chỗ ngồi, ụ tụ 30 chỗ Theo đú, đơn vị điều tra sẽ là các phương tiện cụ thể như loại ô tô phân theo số chỗ ngồi, tuyến đường Từ mỗi danh sỏch trờn sẽ chọn và điều tra mẫu một số phương tiện, tớnh doanh thu bỡnh quõn theo đầu xe và suy rộng cho toàn bộ số đầu xe của từng nhúm xe cụ thể Suy rộng theo cụng thức (1) núi trờn, nhưng trung bỡnh mẫu (dt b ) là doanh thu bỡnh quõn theo loại phương tiện chứ khụng phải theo doanh nghiệp, cơ sở cỏ thể; số đơn vị mẫu (n) là số phương tiện điều tra mẫu, tổng thể (S) là tổng số phương tiện của từng nhúm xe cụ thể ( ví dụ: nhóm ôt tô 15 chỗ, nhóm 40 chỗ )

Trờn cơ sở thống kờ chi tiết theo nhúm phương tiện như trờn mới cú thể cú được thống kờ doanh thu vận tải chớnh xỏc hơn Đõy cũng là căn cứ xõy dựng bảng quyền số và danh mục giỏ cước vận chuyển theo từng loại phương tiện của mỗi nhúm phương tiện để tớnh chỉ số giỏ cho nhúm phương tiện đú

Tuy nhiờn, để cú được dàn mẫu điều tra chi tiết đến từng loại phương tiện cụ thể khụng phải dễ dàng thực hiện được Do đú, cỏch làm khả thi hơn là chọn đơn vị điều tra là “đơn vị cơ sở” thay thế cho đơn vị điều tra là doanh nghiệp Với đơn vị điều tra “cơ sở” (như khỏi niệm dựng trong tổng điều tra cơ sở kinh tế hành chớnh sự nghiệp) sẽ giảm tớnh đa hoạt động, đa địa điểm, thuận lợi hơn cho việc khai thỏc, tổng hợp số liệu chi tiết đến từng loại phương tiện cụ thể

Trờn đõy là hiện trạng và hướng cải tiến chung cho thống kờ vận tải Tuy nhiờn, đối với vận tải đường sắt, đường hàng khụng thỡ mức độ “đa dạng” cú ớt hơn Cụ thể là:

Đối với vận tải đường sắt: Doanh thu vận tải đường sắt hiện được

thu thập bằng chế độ bỏo cỏo định kỳ ỏp dụng cho Tổng cụng ty Hiện nay, Tổng cụng ty Đường sắt Việt Nam tổng hợp và bỏo cỏo Tổng cục Thống

kờ doanh thu từ 3 đơn vị trong tổng cụng ty là Cụng ty vận tải hành khỏch

Trang 40

Hà Nội, Cụng ty Vận tải hành khỏch Sài Gũn, Cụng ty vận chuyển hàng hoỏ Nội dung doanh thu bao gồm: Doanh thu vận chuyển hàng hoỏ chiếm khoảng 43%; doanh thu vận chuyển hành khỏch chiếm 56%; và doanh thu vận chuyển hành lý chiếm khoảng 1% Thống kờ vận tải đường sắt núi chung và thống kờ doanh thu vận tải đường sắt núi riờng khụng phức tạp như thống kờ doanh thu vận tải đường bộ, vận tải đường thủy Vớ dụ: phõn

tổ cơ bản của tàu khỏch là theo điều kiện trang bị (tàu chất lượng cao), tốc

độ nhanh hơn hoặc tàu thường (tàu chợ) Vỡ thế, tổng doanh thu của toàn ngành vận tải đường sắt là chỉ tiờu dễ dàng thu thập Tuy nhiờn, để cú được thống kờ doanh thu cụ thể theo từng nhúm phương tiện thỡ chế độ bỏo cỏo đối với ngành đường sắt cũng cần được cải tiến thờm một bước Đồng thời, việc tin học húa trong tổng hợp và gửi bỏo cỏo cũng cần được nghiờn cứu ứng dụng

Đối với vận tải đường hàng khụng: Thống kờ doanh thu dịch vụ

vận tải bằng đường hàng khụng ở nước ta hiện nay đ−ợc thu thập số liệu từ hai nhà cung cấp dịch vụ này là Hóng hàng khụng Việt Nam (Vietnam Airline) (gửi bỏo cỏo cho Tổng cục Thống kờ); và Cụng ty cổ phần bay Pacific Airline (gửi bỏo cỏo cho Cục Thống kờ TP HCM) Bỏo cỏo tỡnh hỡnh thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của Tổng cụng ty Hàng khụng Việt Nam cho thấy, trong tổng doanh thu của hãng thì doanh thu vận chuyển (hàng húa, hành khỏch) chiếm khoảng trên 70.0% Tuy nhiên, cũng nh− các ngành vận tải khác, tồn tại lớn nhất của thống kờ doanh thu vận tải hàng khụng là ch−a phân chia chi tiết theo loại máy bay, hạng vé Thậm chí, hiện nay doanh thu của ngành hàng không còn ch−a búc tỏch được chi tiết doanh thu vận chuyển với doanh thu các dịch vụ khác, doanh thu nội địa với doanh thu vận chuyển quốc tế Nguyên nhân chủ yếu cũng là do chế độ báo cáo ch−a đ−ợc cải tiến Nếu có yêu cầu cụ thể của ngành thống kê chắc chắn ngành hàng không sẽ đủ điều kiện thực hiện, bởi vì đây là ngành có điều kiện sử dụng công nghệ hiện đại trong quản lý hoạt động kinh doanh

Túm lại, đối với ngành dịch vụ vận tải, cỏc chỉ tiờu thống kờ hiện sẵn cú chưa đỏp ứng yờu cầu để tớnh được chỉ số giỏ sản xuất của ngành một cỏch thuận lợi, chất lượng tốt Tuy nhiờn, cụng việc này sẽ làm được nếu những cải tiến nờu trờn được triển khai thực hiện

2.2.2 Dịch vụ bưu chớnh, viễn thụng

Là một phõn ngành trong ngành cấp I “Giao thụng vận tải thụng tin liờn lạc” mó phõn ngành cấp II là 64: “Bưu chớnh và viễn thụng” Nội dung gồm: i.Dịch vụ bưu chớnh; ii.Dịch vụ viễn thụng

Ngày đăng: 19/03/2015, 00:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Các phương pháp lấy giá chủ yếu: - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Sơ đồ 1 Các phương pháp lấy giá chủ yếu: (Trang 16)
Bảng 1: Tốc độ tăng số cơ sở, số lao động của các ngành dịch vụ   năm 2002 so với 1995 - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Bảng 1 Tốc độ tăng số cơ sở, số lao động của các ngành dịch vụ năm 2002 so với 1995 (Trang 22)
Bảng 2:  Tỷ trọng số cơ sở, số lao động trong ngành dịch vụ   năm 1995 và 2002 - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Bảng 2 Tỷ trọng số cơ sở, số lao động trong ngành dịch vụ năm 1995 và 2002 (Trang 23)
Bảng 3: Tổng sản phẩm trong nước theo giỏ so sỏnh 1994  phân theo khu vực kinh tế - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Bảng 3 Tổng sản phẩm trong nước theo giỏ so sỏnh 1994 phân theo khu vực kinh tế (Trang 23)
Bảng 4:  Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994                               phân theo ngành kinh tế (Năm trước= 100) - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Bảng 4 Chỉ số phát triển tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994 phân theo ngành kinh tế (Năm trước= 100) (Trang 30)
Sơ đồ 3: Luồng số liệu doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Sơ đồ 3 Luồng số liệu doanh thu dịch vụ bưu chính viễn thông (Trang 42)
BẢNG CƯỚC DỊCH VỤ THUÊ KÊNH VIỄN THÔNG LIÊN TỈNH - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
BẢNG CƯỚC DỊCH VỤ THUÊ KÊNH VIỄN THÔNG LIÊN TỈNH (Trang 54)
Bảng danh mục được khuyến nghị nên sử dụng xây dựng cơ cấu quyền  số là ISIC hoặc CPA - Nghiên cứu xây dựng phương pháp tính chỉ số giá sản xuất một số ngành dịch vụ ở Việt Nam
Bảng danh mục được khuyến nghị nên sử dụng xây dựng cơ cấu quyền số là ISIC hoặc CPA (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w