1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu

92 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôm hùm nước ngọt không chỉ được nuôi trong ao mà còn được nuôi kết hợp với trồng lúa.. Hiệu quả của việc nuôi tôm hùm nước ngọt Trong một thời gian dài một số nhà nghiên cứu của Trung

Trang 1

Viện NC Nuôi trồng thủy sản I

Báo cáo tổng kết đề tài

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii)

ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển

vùng nguyên liệu xuất khẩu

CNĐT: Nguyễn Dương Dũng

8808

Hà nội - 2010

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) là một trong những loài tôm vỏ

cứng (Crayfish) đã và đang được nuôi khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Ở

Mỹ tên thương mại của loài này được gọi là tôm hùm đầm đỏ, Trung Quốc gọi là tôm rồng Việt Nam gọi là tôm hùm nước ngọt (do các nhà nghiên cứu đặt tên) Tôm hùm nước ngọt là một trong những đối tượng nuôi của nhiều nước như: Mỹ,

Úc, Anh, Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và một số nước khác [4,12,26,27] Sản phẩm tôm nguyên con hoặc tôm nõn của loài tôm này là một trong những mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu có giá trị trên thế giới Trong những năm gần đây Trung Quốc là nước xuất khẩu tôm hùm nước ngọt lớn nhất Thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, đến năm 2003 Trung Quốc

đã mở rộng thị trường xuất khẩu loài tôm này sang cả Châu Âu (chủ yếu là Bắc Âu) [4,26]

Tôm hùm nước ngọt là loài ăn tạp, dễ nuôi Chúng được nuôi cả trong ao

và ruộng đặc biệt là ruộng trũng (một vụ lúa kém hiệu quả) Ngưỡng nhiệt độ sống của chúng khá rộng Chúng có thể sống trong khoảng nhiệt độ dao động từ 00C đến 370C Trước một đối tượng thuỷ sản giầu tiềm năng này, tháng 5/2006 Bộ Thuỷ sản đã cử một đoàn công tác sang Trung Quốc tham quan học tập Tháng 6/2006 đoàn cán bộ của Công ty Qingdao Wentai, Trung Quốc đã sang thăm và khảo sát thực địa tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam Phía Trung Quốc cho rằng: Điều kiện tự nhiên, địa hình và thời tiết của các tỉnh này rất thích hợp cho việc nuôi loài tôm hùm nước ngọt Tháng 9/2006, tôm hùm nước ngọt được nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc với mục đích nuôi thử nghiệm ở diện hẹp Kết quả thử nghiệm bước đầu cho thấy tôm hùm nước ngọt có khả năng tái tạo được quần đàn

Nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi và hướng tới phát triển đối tượng có tiềm năng này trở thành đối tượng nuôi nước ngọt của trung du và đồng bằng Bắc Bộ Năm 2008, Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã cho phép Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng

Trang 3

dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) ở các

tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu” và dự án: “Dự án

nhập công nghệ sản xuất giống tôm hùm nước ngọt Procambarus clarkii, phục vụ

phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu ở các tỉnh miềm Bắc” [7]

Địa điểm triển khai đề tài: Đề tài được triển khai tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ và Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

Thời gian thực hiện: Đề tài thực hiện từ 1/2008 đến hết tháng 12/ 2010 Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 2.032, 0 triệu đồng (Hai tỷ không trăm ba

mươi hai triệu đồng chẵn)

Trang 4

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

3.1.1.Tình hình nghiên cứu tôm hùm nước ngọt ở nước ngoài

3.1.1.1 Nguồn gốc và một số đặc điểm sinh học

+ Nguồn gốc và phân bố

Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, đến

nay chúng được phân bố rộng rãi trên 20 quốc gia và khu vực thuộc 5 châu lục Tôm hùm nước ngọt là đối tượng nuôi của các nước như: Mỹ, Úc, Anh, Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và một

số quốc gia khác [4,19,24]

+ Một số đặc điểm sinh học

bộ Decapoda, lớp Crustacea, ngành Arthrôpda Chúng là một loài tôm nước ngọt

cỡ vừa và nhỏ

Tôm hùm nước ngọt là động vật sống bò ở đáy, hoạt động chủ yếu ban đêm Chúng sống trong đầm, sông ngòi, hồ chứa, bãi lầy, ao, kênh, mương nông giàu

Trang 5

thức ăn, nơi có nền đáy là đất thịt hoặc đất thịt pha cát, có nhiều rong cỏ, rễ cây Ban ngày tôm nằm yên ở nơi có ánh sáng yếu, cạnh các tảng đá, trong bụi rong, cỏ hoặc trong hang Ban đêm mới đi kiếm mồi Tuy nhiên khi đói hoặc nơi độ trong của nước thấp thì ban ngày tôm cũng đi kiếm ăn Tôm có khả năng bò, leo và đào hang Tôm thường đào hang vào thời kỳ sinh sản Chiều dài của hang giao động từ 40-90 cm, tối đa là 100 cm Đường kính của hang tối đa là 9,2 cm Trong điều kiện môi trường xấu như thiếu ôxy, thiếu thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm tôm có thể

bò ra khỏi nơi đang sinh sống để tìm một vùng nước khác, đặc biệt là khi mưa to tôm rất hay đi Khi thiếu ôxy tôm bò bám vào cây cỏ thủy sinh lên mặt nước để thở, hoặc nằm nghiêng trên các bụi rong cỏ, rễ cây, khe đá sát mép nước, thậm chí

có thể bò lên cạn thở bằng ôxy trong không khí

Nhiệt độ sinh sống của tôm hùm nước ngọt giao động từ 00C-370C Nhiệt

độ thích hợp cho tôm phát triểm từ 20- 280C

Tôm hùm nước ngọt là động vật ăn tạp Thức ăn chính của chúng là mùn bã hữu cơ, ngoài ra chúng còn ăn nhiều loại thức ăn khác như: Ngũ cốc, khô đậu, lạc, rau quả, rong cỏ nước, tảo sống bám (rong rêu), côn trùng, thuỷ sinh vật sống đáy

cỡ nhỏ, xác động vật, cũng như thức ăn chế biến [4,12,16,17,19,20,21,24]

Tôm hùm nước ngọt thành thục sau 10-11 tháng tuổi Tôm con tách khỏi tôm mẹ nuôi từ tháng 9 năm trước đến tháng 7, tháng 8 năm sau có thể thành thục

và đẻ trứng Chúng chỉ đẻ trứng 1 lần trong năm Mùa vụ giao phối thường từ tháng 7 đến tháng 11 Khi giao phối, càng của con đực kẹp chặt vào càng của con cái Tôm đực dùng chân bò ôm chặt tôm cái Tôm cái vặn mình, nằm nghiêng Cơ quan giao phối của tôm đực cắm vào túi chứa tinh của tôm cái Tinh trùng của con đực qua cơ quan giao cấu vào túi chứa tinh của con cái Sau khi giao phối, sớm là 1 tuần, muộn nhất một hoặc vài tháng, tôm cái sẽ đẻ trứng Tôm cái phun trứng qua lỗ sinh dục ở gốc đôi chân bò thứ ba Trứng được bọc lại bởi chất keo dạng lòng trắng trứng Khi trứng đi qua túi chứa tinh, chất keo này kích thích túi chứa tinh phóng tinh trùng thụ tinh cho trứng Trứng được giữ ở các chân

Trang 6

bụng.Trứng sẽ nở sau 60 ngày khi nhiệt độ nước 150C; 19 ngày ở nhiệt độ 220C và 14-15 ngày khi nhiệt độ 24-26 0C Từ ấu thể tới khi thành thục, tôm lột xác ít nhất

13 lần, trong đó giai đoạn ấu thể 2 lần, giai đoạn tôm con 11 lần Số lượng trứng của mỗi tôm cái phụ thuộc kích thước của chúng Tôm có kích cỡ 6,4 cm (kích thước nhỏ nhất có khả năng sinh sản) có thể đẻ và ôm được 32 hạt trứng Tôm cái

cỡ 10,0 – 11,9 cm có thể đẻ và ôm được 237 hạt Tôm có chiều dài 14,26 cm (kích cỡ lớn nhất) có thể đẻ và ôm tới 397 hạt trứng [4,15,16,19,20,26,27]

3.1.1.2 Tổng quan về sản lượng tôm hùm nước ngọt trên thế giới

Năm 2000, tổng sản lượng tôm hùm nước ngọt thương mại khoảng trên 110.000 tấn Trong đó Mỹ chiếm 55%, Trung Quốc khoảng 35% , các nước châu

Âu chiếm 18% và châu Úc là 2% [12,13,15] Trên thế giới tôm hùm nước ngọt đã trở thành một mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu có giá trị cao, giá dao động từ một vài

đô la đến trên mười đô la Mỹ/ kilôgam

2003 đạt 100 tấn Năng suất tôm nuôi ở ruộng và ao đạt từ 1-3 tấn/ha/năm Tuy nhiên với nuôi bán thâm canh, và thâm canh năng suất có thể đạt 4 tấn/ha/năm thậm trí đạt 8 tấn/ha/năm

Năm 1994 tại Trung và Nam Âu, giá trị sản phẩm từ tôm hùm nước ngọt là

21 triệu USD, năm 2001 là 55 triệu USD Miền mam Châu Âu, Tây Ban Nha sản lượng tôm hùm hước ngọt khoảng từ 2.000 đến 3.000 tấn/năm

Năm 2005 bang Lousiana của Mỹ đã có khoảng 1.100 hộ nông dân nuôi

tôm hùm nước ngọt (P.clarkii) với diện tích trên 43.000 ha Tôm có thể thu hoạch

sau 3-5 tháng nuôi từ khi thả giống với kích cỡ 2-4 cm/ con Kích cỡ tôm thương phẩm ≥ 20 gam/ con Năng suất tôm nuôi ở các ao mở, ruộng tối đa là 3.000kg/ha, trung bình khoảng 1.000-2.000 kg/ha Sản lượng tôm hùm nước ngọt của Mỹ năm 2005 đạt khoảng120.000 tấn

Sản lượng tôm hùm nước ngọt của Trung Quốc vào cuối những năm 1990 ước tính khoảng 80-100.000 tấn/năm Từ năm 2003 trở lại đây, sản lượng hàng

Trang 7

năm ước tính khoảng 350.000 tấn/năm Tôm hùm nước ngọt không chỉ được nuôi trong ao mà còn được nuôi kết hợp với trồng lúa Giá bán buôn là 0,75 đô la/ kg

và giá bán lẻ khoảng 0,83- 2,5 đô la/kg

Trung Quốc là nước xuất khẩu tôm hùm nước ngọt lớn nhất thế giới Thị trường xuất khẩu chính là Mỹ Năm 1997, Trung Quốc đã xuất 4.600 tấn tôm nõn tương đương 36- 40.000 tấn tôm nguyên con Năm 1999 xuất 70.000 tấn Mỹ đã đánh thuế nhập khẩu tôm này từ 92- 201% trung bình là 123%, tuy nhiên việc xuất khẩu tôm từ Trung Quốc vào Mỹ ngày một tăng Từ năm 2003 Trung Quốc lại xuất khẩu thịt tôm này sang Châu Âu (chủ yếu là Bắc Âu) [4,12,13,26,27] Tuy nhiên sản lượng tôm hùm nước ngọt Trung Quốc xuất khẩu chủ yếu là tôm thu từ đầm hồ tự nhiên Sản lượng tôm hùm nước ngọt nuôi của Trung Quốc chỉ chiếm 15-20% (theo nguồn tin từ Công ty Qingdao Wentai, Trung Quốc)

3.1.1.3 Kỹ thuật nuôi tôm hùm nước ngọt

Ngành công nghiệp nuôi tôm hùm nước ngọt tại Lousiana của Mỹ rất phát triển trong suốt thập kỷ cuối của thế kỷ 20 Sản lượng tôm này dao động trong khoảng 10.000 tấn tới 27.000 tấn Nuôi tôm hùm nước ngọt chủ yếu cung cấp sản phẩm làm thực phẩm ở nhà hàng, mặc dù có một số ít được bán làm mồi câu cá Năm 2005, 1.100 nông hộ của Louisiana đang nuôi tôm hùm nước ngọt với diện tích 43.000 ha (LCES 2002) Ngoài bang Louisiana, tôm hùm nước ngọt còn được nuôi ở một số bang khác của nước Mỹ với diện tích khoảng 3.000 ha [26]

Ở Trung Quốc tôm hùm nước ngọt đã, đang được nuôi rất phổ biến ở một

số tỉnh như Hồ Bắc, Hồ Nam, An Huy, Sơn Đông, Triết Giang, Vân Nam, Đài Loan (trên 20 tỉnh, thành phố và đặc khu) [4] Trong một vài năm gần đây Thị trấn Tích Ngọc Khẩu, thuộc thành phố Xuân Giang tỉnh Hồ Bắc là một trong những điểm điển hình về nuôi tôm hùm nước ngọt Tôm hùm nước ngọt không chỉ được nuôi trong ao mà còn được nuôi ở ruộng trũng Năm 2001, loài tôm này được nuôi thử nghiệm tại 1000 mẫu ruộng trũng (01 mẫu Trung Quốc bằng 667

m2), năm 2002 là 2000 mẫu, năm 2003 là 5.000 mẫu, năm 2004 là 6.000 mẫu và

Trang 8

đến 2005 là 15.000 mẫu (tương đương1.000 ha) Ruộng nuôi Tôm hùm nước ngọt thường có mương chạy xung quanh Diện tích mương chiếm khoảng 5- 10% Tôm có thể được nuôi luân canh với trồng lúa ( một vụ trồng lúa, một vụ nuôi tôm) hoặc nuôi kết hợp với lúa [4] Sau đây xin được dẫn ra một một số mô hình nuôi tôm hùm nước ngọt

+ Nuôi tôm luân canh với trồng lúa (một vụ trồng lúa một vụ nuôi tôm)

Tôm được nuôi luân canh với lúa có một số phương thức thả giống sau: 1) Mô hình thả tôm bố mẹ: Hàng năm vào tháng 7, tháng 8, trước khi thu hoạch lúa 1-2 tháng, tôm bố mẹ được thả vào mương với mật độ 5.000 - 8.400 con/ha (125-200 kg/ha) Tỷ lệ tôm cái/đực là 3:1 Các công việc chăm sóc lúa tiến hành bình thường Mực nước ruộng cần giữ từ 15- 20 cm Sau khi thu hoạch lúa xong lập tức cho nước vào, bón phân hữu cơ đã ủ mục Khi thấy có tôm con xuất hiện thì đặt lờ đáy (bâỹ) bắt tôm bố mẹ

2) Mô hình thả tôm ôm trứng: Hàng năm vào tháng 9, sau khi gặt lúa xong, lấy nước, bón phân hữu cơ được ủ mục và thả tôm mẹ đã ôm trứng vào ruộng Mật

độ thả 4.000 - 6.000 con/ha (125- 150 kg/ha) Khi phát hiện thấy có tôm con đặt lờ đáy để bắt tôm mẹ đi

3) Mô hình thả tôm giống: Tháng 9 hàng năm sau khi gặt lúa xong, dùng cọc tre tạo một số hang sâu độ 20 cm trong ruộng rồi cho nước vào ruộng Tiếp đó bón phân gia súc đã ủ mục vào ruộng với lượng 13.000 kg/ha Sau đó thả tôm con vào ruộng với mật độ 100.000-150.000 tôm con/ha (tôm con vừa tách khỏi tôm mẹ) Nếu thức ăn tự nhiên ở ruộng hơi kém thì có thể cho tôm con ăn thêm các thức ăn khác như thịt cá xay, phế phẩm lò mổ, v.v cũng có thể đi vớt động vật phù du về cho tôm ăn Từ cỡ ấu trùng vừa tách khỏi tôm mẹ, nuôi trong ao chăm sóc tốt thì chỉ trong 2-3 tháng có thể đạt quy cỡ tôm thương phẩm trung bình 3 con/100g [4,26,27]

Trang 9

+ Nuôi tôm kết hợp với trồng lúa

Trong vụ cấy lúa, thực hiện thả tôm vào ruộng lúa để nuôi cùng thời vụ gọi

là nuôi hỗn hợp tôm – lúa Phương thức này tôm sinh sống chủ yếu dựa vào các loại thức ăn tự nhiên sẵn có trong ruộng Tuy nhiên cần bổ xung thêm thức ăn cám gạo hoặc bột ngô Phương thức canh tác này không ảnh hưởng tới năng suất lúa,

mà còn thu thêm được khoảng 500- 700 kg tôm/ha [ 4,19]

+ Nuôi tôm trong ao

Cỏ thủy sinh được trồng thành nhiều đám trong ao nuôi tôm hùm nước ngọt Diện tích trồng cỏ thủy sinh chiếm khoảng 5% diện tích ao Mực nước trong

ao thường được duy trì ở mức 60-80 cm nhằm giúp quản lý nước và cây cỏ, đồng thời kỹ thuật thu hoạch cũng đòi hỏi mực nước nông Trà được thả rải rác trong ao

để làm chỗ trú cho tôm Một số nhà nghiên cứu cho rằng: Các vật chất thực vật nguyên thuỷ (chưa phân huỷ) nuôi dưỡng tôm rất ít, hoặc cung cấp lượng dinh dưỡng rất hạn chế Các chất hữu cơ từ thực vật đã phân huỷ (mùn bã hữu cơ) và một số loại hạt được tôm dùng làm thức ăn Tuy nhiên nguồn thức ăn tối ưu cho tôm là một tập hợp động vật không xương sống Như vậy, chức năng chính của rong cỏ trong ao nuôi tôm hùm nước ngọt không cung cấp thức ăn trực tiếp, mà nó cung cấp năng lượng nuôi dưỡng chuỗi thức ăn trong đó tôm là ở đỉnh của chuỗi [4,26,27]

Cách thức thả giống cho ao nuôi có thể thực hiện bằng thả tôm bố mẹ hoặc tôm giống vừa rời khỏi mẹ

+ Thả giống bằng tôm bố mẹ: Tôm bố, mẹ có khối lượng từ 25 - 30 gam/ con được sử dụng để sản sinh ra quần đàn tôm con trong ao nuôi Mật độ từ 13.000-20.000 con/ha

Tỷ lệ đực/ cái trong quần đàn là 1♂/ 3♀

Thời gian thả tôm: Tôm bố mẹ được thả tháng 6 -7

Sử dụng lờ đáy để thu tôm bố mẹ khi thấy có tôm con trong ao

Trang 10

+ Thả giống bằng tôm giống với kích cỡ 2-4 cm: Tôm giống cỡ 2-4 cm được thả nuôi với mật độ từ 200.000- 300.000 con/ha

Thời gian thả giống từ tháng 3-4 hoặc tháng 7-8

+ Có thể sử dụng phân hữu hữu cơ hoai mục làm thức ăn chính cho tôm Cách thức sử dụng như sau: Phân hữu hữu cơ hoai mục được bón với lượng 1.000

kg/ha/15 ngày/lần Rong, cỏ 1.000 kg/ha/15 ngày/lần Bột ngô hoặc cám gạo được

sử dụng làm thức ăn cho tôm Khẩu phần ăn bằng 3% khối lượng quần đàn Sản lượng tôm nuôi theo hình thức này dao động từ dưới 225 - 1120kg/ha [4,25]

+ Cũng có thể sử dụng thức ăn viên để nuôi tôm Tuy nhiên trong khi chuẩn

bị ao nuôi nên sử dụng phân hữu cơ hoai mục bón với lượng 5.000 kg/ ha một lần sau khi tẩy dọn ao để tăng cường thức ăn tự nhiên cho tôm Thức ăn chính được sử dụng cho tôm ăn là thức ăn viên Khẩu phần ăn hàng ngày 3% khối lượng quần đàn Sản lượng tôm có thể thu được dao động từ 3000- 5000 kg/ha [4,25] Những nhà nuôi tôm hùm nước ngọt ở Mỹ thường đạt năng suất trung bình 1-2 tấn/ha/năm trong hệ thống nuôi có quản lý Tại Úc, tôm càng đỏ được nuôi trong

hệ thống bán thâm canh chăm sóc tốt và sản lượng trung bình đạt 4 tấn/ha/năm

3.1.1.4 Hiệu quả của việc nuôi tôm hùm nước ngọt

Trong một thời gian dài một số nhà nghiên cứu của Trung Quốc cho rằng tôm hùm nước ngọt có thể ăn cá giống và cá nuôi nói chung Do đó nó có tác hại rất lớn đối với cá nuôi Thực tế khi ương nuôi từ cá bột lên cá hương của các loài

cá chép, cá trắm cỏ, cá mè trắng, cá rô phi trong ao cùng với tôm hùm nước ngọt thấy: Tỷ lệ sống trung bình của cá hương cá chép là 90%, cá trắm cỏ là 77,2%, cá

mè trắng là 80,4% và cá rô phi là 87,2% So với đối chứng (không nuôi tôm) tỷ lệ sống của cá hương các loài cá trên lần lượt là 89,6%, 76,3%, 80,6% và 87,9% Kết quả về tỷ lệ sống của cá hương các loài cá trên trong hai cách thức ương nuôi không có sự sai khác rõ rệt Như vậy, chứng tỏ trong điều kiện ương nuôi cá bột lên cá hương của các loài cá nuôi với tôm hùm nước ngọt, tôm không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá Điều này chứng tỏ tôm không ăn cá bột hoặc cá hương Tuy

Trang 11

tôm không thể đuổi bắt và ăn thịt được cá khoẻ bơi lội nhanh, nhưng nó vẫn có thể bắt và ăn cá đã chết [4]

Vào năm 1997, Mỹ đưa ra thuế nhập khẩu từ 92 tới 201%, trung bình 123% lên thịt thân tôm nhập khẩu từ Trung Quốc để ngăn cản việc chống bán phá giá bởi hiệp hội thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) nhằm áp đặt thuế lên sản phẩm được cho là bán dưới mức giá thị trường Điều tra của ITC thấy rằng từ năm 1994 tới 1996, sản phẩm nhập khẩu thịt thân tôm hùm nước ngọt đã tăng lên ba lần đạt tới 4600 tấn Như vậy Trung Quốc đã xuất khẩu vào Mỹ khoảng 30-46.000 tấn tôm (nếu tính ngược lại từ thịt thân tôm thành tôm nguyên liệu với tỷ lệ khoảng 6,25:1 tới 10:1) Tuy với thuế cao như vậy sản lượng tôm hùm nước ngọt từ Trung Quốc nhập vào Mỹ ngày một tăng Năm 1999, Trung Quốc đã xuất khẩu vào Mỹ khoảng 70.000 tấn tôm nguyên con [12]

Loài tôm hùm nước ngọt được nuôi chính tại Trung Quốc được nhập từ Bắc

Mỹ Tôm này chủ yếu được nuôi ở ao đất trong hệ thống nuôi đa canh với cá, hoặc trong hệ thống nuôi tôm -lúa Tôm thương phẩm của loài tôm này có thể bán buôn với giá 0,75 đô la/kg và được bán lại khoảng 0,83-1,25 đô la/kg Tôm được chế biến thành nhiều sản phẩm bao gồm thịt thân tôm hoặc các sản phẩm khác Số lượng tôm này được cung cấp và xuất khẩu làm tăng thêm giá trị và có ý nghĩa về kinh tế xã hội ở các tỉnh nội địa của Trung Quốc Loài tôm này cũng được bán tại thị trường địa phương với giá 0,7-1 đô la/kg, hoặc bán trong siêu thị với giá khoảng 2,5 đô la/kg Trung Quốc đã xuất khẩu tôm tươi sống tới thị trường các nước Đông Á, đặc biệt là Hông Kông và Đài Loan, với giá khoảng 10 đô la/kg [12,26]

+ Điểm mạnh của việc nuôi tôm hùm nước ngọt

Tôm hùm nước ngọt thích nghi với điều kiện nuôi ghép với nhiều loài cá khác Hơn nữa chúng rất thích hợp cho hệ thống nuôi kết hợp Bởi vì tôm hùm nước ngọt là loài ăn tạp, chúng có thể sử dụng được nhiều loại thức ăn Thông thường, thức ăn không cần cung cấp cho tôm khi nuôi trong hệ thống quảng canh

Trang 12

vì chúng sử dụng nguồn mùn bã và sinh vật tự nhiên Các mảnh vụn thực vật có thể là nguồn protein duy nhất trong hệ thống nuôi bán thâm canh Một điều rất có

ý nghĩa là loài tôm này không đòi hỏi nguồn thức ăn giàu protein với giá thành cao đồng thời việc sử dụng thức ăn viên có nguồn gốc hoàn toàn thực vật Công nghệ sản xuất tôm hùm nước ngọt rất đơn giản Giá thành thiết lập trại nuôi cũng rât thấp Tuy nhiên, loài tôm này cũng có thể nuôi trong hệ thống thâm canh Hơn nữa con tôm này được coi là có khả năng kháng bệnh rất tốt Một số nghiên cứu cho rằng tôm hùm nước ngọt ít mẫn cảm với bệnh đốm trắng hơn so với các loài tôm nuôi vùng nước lợ, mặn khác Tôm hùm nước ngọt có một số đặc điểm mà ở một

số loài tôm khác không có Đây được coi là một thuận lợi rất có ý nghĩa cho nuôi thuỷ sản nội địa Tôm hùm nước ngọt sinh sản nhanh trong điều kiện nuôi nhốt, kể

cả trong ao Trứng và quá trình phát triển của ấu trùng tôm hùm nước ngọt được bảo vệ ở chân bơi của tôm mẹ cho đến khi tôm con có khả năng tự kiếm thức ăn Tôm bột nở ra rất khoẻ Tôm hùm nước ngọt có thể đẻ liên tiếp nếu nhiệt độ nước

từ 25- 300C Quần đàn tôm hùm nước ngọt có thể tự sinh sản và không đòi hỏi phải mua thêm con giống để thả Tôm hùm nước ngọt rất khoẻ và có thể chịu được môi trường thay đổi Chúng thích nghi để nuôi trong hầu hết các hệ thống nuôi, từ

hộ gia đình nhỏ, ao đào bằng tay, các ao của cộng đồng cơ sở, tới hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh, hệ thống nuôi đơn, hệ thống nuôi đa canh hoặc nuôi kết hợp Hệ thống nuôi lúa – tôm là đặc biệt thành công ở Mỹ và Trung Quốc Hơn nữa, tôm hùm nước ngọt có thể nuôi ở nhiều thuỷ vực, kể cả những nơi bị nhiễm mặn hoặc nơi chất lượng nước giảm xút đây là vấn đề đặc biệt quan trọng ở

hệ thống nuôi ở nông thôn Một điều quan trọng nữa là con tôm này có thể nuôi bởi người có ít kinh nghiệm nuôi thuỷ sản vì chúng dễ sống sót và sinh sôi nếu gặp điều kiện thích hợp Tuy nhiên, những nhà quản lý có kinh nghiệm thường nuôi với sản lượng cao hơn tương ứng với mức độ đầu tư công nghệ và dinh dưỡng Năng suất trung bình của tôm hùm nước ngọt ở Mỹ thường đạt 1-2 tấn/ha/năm trong hệ thống nuôi có quản lý Tại Úc, năng suất trung bình đạt 4 tấn/ha/năm trong hệ thống bán thâm canh chăm sóc tốt [12,13,26]

Trang 13

+ Điểm yếu của việc nuôi tôm hùm nước ngọt

quả kinh tế năng suất từ 7-10 tấn/ha và kích cỡ tôm từ 80-100g/con Với kích cỡ này giá của tôm thương phẩm có thể đạt tới 20 đô la/kg Hy vọng này dẫn đến lợi nhuận từ việc bán tôm bố mẹ và con giống cao gấp nhiều lần so với việc bán tôm thực phẩm Việc phát triển nhanh quá mức nuôi loài tôm này, trong vòng 3 năm diện tích nuôi loài tôn mày đã đạt tới 250 ha Tiếp theo đó phong trào nuôi loài tôm này bắt đầu xuống dốc khi quá nhiều sản phẩm được đưa ra thị trường Một

số doanh nghiệp vừa mới đầu tư thì sản phẩm tôm thương phẩm đã bão hoà, dư thừa và bị ứ đọng sản phẩm Một thực tế là tôm hùm nước ngọt được cung cấp từ Trung Quốc cao hơn cả sản lượng của Ecudor Đây là một thực tế khó lường trong cạnh tranh thị trường Trong khi các doanh nghiệp nuôi tôm hùm nước ngọt của Ecudor bị ứ đọng sản phẩm thì Trung Quốc lại xuất được tôm hùm nước ngọt vào Ecudor Ngoài ra Trung Quốc còn xuất được tôm tươi sống nguyên con vào thị trường Hồng Kông và Đài Loan với giá khoảng 10 đô la/kg Rõ ràng là nhu cầu về tôm hùm nước ngọt ở các nước Đông Á là chưa đáp ứng được Điểm yếu nữa về tôm hùm nước ngọt là mức độ hiểu biết bệnh của con tôm này còn hạn chế Sự thiếu hiểu biết về bệnh sẽ là nguy cơ lây nhiễm do tác nhân gây bệnh mỗi khi vận chuyển và buôn bán thông thường Do đó, cần nâng cao hiểu biết về bệnh của tôm hùm nước ngọt để duy trì sự phát triển nuôi công nghiệp loài này [13]

3.2 Tình hình nghiên cứu tôm vỏ cứng ở Việt Nam

+ Tôm càng đỏ - Cherax quardicarinatus

Tôm càng đỏ được nhập vào Việt Nam từ Australia năm 2002 Kết quả nghiên cứu của đề tài : “Thuần hóa tôm càng đỏ” [1,2], bước đầu cho thấy:

Ngưỡng nhiệt độ của tôm bột giao động từ 8- 36,50C Ngưỡng nhiệt độ của tôm giống từ 7- 36,50C Ngưỡng ôxy của cả tôm bột và tôm giống đều là 0,4 mg/

Trang 14

lít Tôm càng đỏ thành thục sau 10 tháng tuổi Thời vụ sinh sản của tôm bắt đầu

từ đầu tháng 02 đến hết tháng 10 Tôm càng đỏ đẻ nhiều lần trong năm

Sức sinh sản thực tế lần đẻ thứ nhất và thứ hai của hai thế hệ P và F1 là

tương đương nhau Số lượng trứng thay đổi từ 10,76 đến 10,95 trứng/ 1,0 gam tôm cái và 6,06 đến 8,01 tôm bột/ 1,0 gam tôm cái

Tôm bột ương nuôi với mật độ từ 50- 90 con/ m2 sau 2 tháng đạt kích cỡ 1,59- 1,81 gam/ con Tốc độ tăng trọng trung bình 0,027- 0,031 gam/ con/ ngày

Trong quá trình phát triển quần đàn tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ

sản I (Viện I), tôm càng đỏ thường nhiễm Aeromonas sp; nấm Achlya sp và Fusarium sp; ký sinh trùng Epistylis sp và Nematoda sp Tuy tỷ lệ nhiễm ký sinh

trùng lên tới 60,0%, vi khuẩn 20,0% nhưng cường nhiễm nhẹ nên không gây thành dịch bệnh cho tôm trong quá trình nuôi

Phần thịt ăn được của tôm càng đỏ chỉ chiếm 29,89% Protein tổng số chiếm 17,92% và Lipít chiếm 0,54%

Từ những kết luận trên đây có thể đưa ra nhận định ban đầu sau:

Tôm càng đỏ có sự thích nghi nhất định với các điều kiện tự nhiên của miền Bắc Việt Nam (tại Viện I) Tôm Càng đỏ đã khép kín vòng đời và phát triển được quần đàn trong điều kiện nuôi tại Viện I

+ Tôm hùm nước ngọt - Procambarus clarkii

Tôm hùm nước ngọt được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam tháng

9/2006 Tháng 11/2006 tôm đã sinh sản Tháng 4 năm 2007 đã thu được 1.545 tôm con với kích cỡ từ 2- 6 cm

Trang 15

Năm 2008, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép nhập tôm từ Trung Quốc về Việt Nam để thực hiện

và đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt

(Procambarus clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu

xuất khẩu” và dự án: “Dự án nhập công nghệ sản xuất giống tôm hùm nước ngọt

Procambarus clarkii, phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu ở các tỉnh

miềm Bắc”[7]

Từ các đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài tôm này với điều kiện tự nhiên của miền Bắc nước ta và kết quả bước đầu, chúng tôi tin tưởng loài tôm

hùm nước ngọt (P.clarkii) sẽ sinh trưởng và phát triển được tại miền Bắc nước ta

Thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ tôm hùm nước ngọt là rất lớn Sản lượng tôm hùm trên thế giới hiện tại còn rất khiêm tốn Sản phẩm sản xuất ra chưa đáp ứng

đủ yêu cầu của thị trường tiêu thụ Tôm hùm nước ngọt là một trong những đối tượng thuỷ sản nước ngọt dễ nuôi, ít có dịch bệnh có khả năng sản xuất với số lượng lớn quanh năm ở miền Bắc nước ta do điều kiện tự nhiên và thời tiết thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của chúng Chúng tôi hy vọng khả năng tôm hùm nước ngọt sẽ trở thành đối tượng nuôi nước ngọt tạo ra hàng hoá phục vụ xuất khẩu của miền Bắc nước ta có tính khả thi cao

Trang 16

IV VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1.Vật liệu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tôm hùm nước ngọt- Procambarus clarkii được

nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam

- Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được triển khai tại :

1 Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh

2 Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh

3 Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ

4 Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc

- Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2008- 12/ 2010

4.2 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu đặt ra đề tài thực hiện các nội dung sau:

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của tôm hùm nước ngọt: Ngưỡng nhiệt độ cao, O2

- Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá giai đoạn ương từ cá bột lên cá hương

- Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với tôm càng của Việt Nam

- Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với lúa

- Nghiên cứu tác nhân gây bệnh đối với loài tôm hùm nước ngọt và biện pháp phòng, trị bệnh

- Phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng của tôm hùm nước ngọt: Tỷ lệ thịt ăn được, protein tổng số lipit và tro

- Nuôi tôm hùm nước ngọt kết hợp với trồng lúa

Trang 17

- Trồng một vụ lúa và nuôi một vụ tôm hùm nước ngọt (nuôi tôm luân canh với trồng lúa)

- Nuôi tôm hùm nước ngọt trong ao

- Điều tra tiềm năng phát triển nuôi tôm hùm nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam

- Bước đầu đánh giá tác động của loài tôm này đến môi trường khi ta nuôi chúng

4.3 Phương phán nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu ứng dụng và thực hành thực tế kết hợp

với thống kê sinh học trong thu thập số liệu và đánh giá kết quả Sau đây là một số

phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng trong quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu

4.3.1 Tìm hiểu một vài yếu tố sinh thái của tôm hùm nước ngọt

4.3.1.1 Tìm hiểu ngưỡng nhiệt độ cao

30 cá thể/ 10 lít nước cho một lô thí nghiệm Que nâng nhiệt được sử dụng cho việc thăm dò ngưỡng nhiệt độ cao đối với loài tôm này Nhiệt độ dưới ngưỡng 30C được tăng 10C và duy trì trong 8 giờ Ôxy được cung cấp bằng máy thổi khí 24/ 24 giờ Ngưỡng nhiệt độ là nhiệt độ làm tôm hôn mê và chết 50% số

cá thể được thí nghiệm Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

4.3.1.2 Tìm hiểu ngưỡng ôxy

- Đối với tôm giống

30 tôm giống (kích cỡ 2- 4 cm/con) được giữ trong túi polyethylen với 0,5 lít nước Đầu cảm biến của ôxy meter được đặt vào một trong 3 túi Dây cao su được sử dụng buộc chặt miệng túi sao cho trong túi không còn không khí 30 phút lắc đều túi một lần Ngưỡng ôxy là tại hàm lượng ôxy nào đó làm tôm ngạt thở hôn mê và chết 50% số cá thể được sử dụng trong thí nghiệm Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

- Đối với tôm hậu bị

30 tôm hậu bị (kích cỡ 7- 10 cm/con) được giữ trong túi polyethylen với 1,0

Trang 18

lít nước Thao tác thực hiện tương tự như thực hiện với tôm giống

4.3.2 Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá (giai đoạn ương

01 bể đối chứng (chỉ nuôi cỏ bột) Mật độ cá thả: 150 con/m2

Đỗ tương luộc được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho ăn một lần vào 17h Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

Đỗ tương rang chín nghiền thành bột mịn sử dụng làm thức ăn cho cá chép bột Ngày cho ăn hai lần vào 8 h và 14 h Khẩu phần thức ăn hàng ngày cụ thể như sau:

7 ngày đầu: 0,2- 0,3 kg/1vạn cá bột

7 ngày sau: 0, 4- 0,5 kg/1vạn cá bột

7 ngày tiếp theo: 0,6- 0,7 kg/1vạn cá bột

10 ngày tiếp sau: 0,8-1,0 kg/1vạn cá bột

03 bể nuôi tôm hùm nước ngọt với tôm càng Việt Nam

Mật độ: Tôm càng 15 con/m2 Kích cỡ 3,5 gam/con

Trang 19

Tôm hùm 15 con/m2 Kích cỡ 11,5 gam/con

01 bể đối chứng (chỉ nuôi tôm càng) Mật độ: 30 con/m2

Thức ăn viên Proconco – KP 90 C3 được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho ăn một lần vào lúc 17 giờ Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 2-3% khối lượng quần đàn

4.3.4.Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với lúa

Thí nghiệm được bố trí trong ao với diện tích 744 m2 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, theo hình 4.3.1 (xem hình 4.3.1) Thí nghiệm được thực hiện từ ngày 15/7-25/10/2008.

Lúa được cấy với mật độ 35-40 khóm/m2 Phân chuồng được bón lót 1000 kg/sào Phân lân 30 kg/sào Phân đạm 10 kg/sào Khi lúa đẻ nhánh bón 10 kg phân đạm/sào Lúa cấy được 15- 20 ngày thả tôm

Mật độ tôm thả nuôi 15 con/m2 Kích cỡ trung bình 10,2 gam/con

Thức ăn viên được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho ăn một lần vào lúc 17

giờ Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 2-3 % khối lượng quần đàn

Mương Mương

Lô 1:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Không thả tôm

Lô 2:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:15 con/m2

Lô 4:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:15 con/m2

Lô 3:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:15 con/m2

Hình 4.3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của tôm đối với lúa

4.3.5 Nuôi tôm hùm nước ngọt kết hợp với trồng lúa

4.3.5.1 Chuẩn bị ruộng nuôi tôm

Ruộng nuôi tôm được chuẩn bị như sau: Mương được đào xung quanh

Trang 20

ruộng rộng từ 0,5-1,0m, sâu 0,5m Tổng diện tích mương chiếm 5- 10% diện tích ruộng

Phân chuồng hoai mục rải đều trong mương trước khi thả tôm 7-10 ngày Lượng phân bón là 80- 100kg/ 360m2 ruộng Các tháng tiếp theo bón bổ sung mỗi tuần một lần với lượng 25-30kg/360 m2 ruộng

Rong đuôi chó, cỏ tóc tiên được trồng phân tán trong mương Diện tích cỏ tóc tiên và rong đuôi chó chiếm 25% diện tích mương

Nước cấp cho ruộng nuôi tôm được lọc qua lưới cước dầy có kích cỡ mắt lưới 1x 1 mm Mực nước ruộng thường xuyên giữ ở mức 0,2-0,3m

Bờ xung quanh ruộng được chắn bằng bạt hoặc nylon cao từ 0,4-0,5m Hàng ngày kiểm tra bờ và tấm chắn để tu bổ tránh tôm thất thoát

Lúa được cấy vào giữa tháng 6 dương lịch với mật độ 35-40 khóm/m2

4.3.5.2 Thời gian, mật độ thả giống và cách thức chăm sóc

+ Năm 2008

Tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, tôm được thả từ 15/7/2008 Diện tích nuôi 1 ha Mật độ 1,5 con/m2 Khối lượng tôm thả 187 kg

Tại Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ, tôm được thả từ 01/8/2008 Diện tích nuôi

là 1 ha Mật độ 1,5 con/m2 Khối lượng tôm thả 185 kg

Tại Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh, tôm được thả từ 15/8/2008 Diện tích nuôi là 1 ha Mật độ 1,6 con/m2 Khối lượng tôm thả 200 kg

17h Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

Trang 21

Tôm được cho ăn cám gạo hoặc bột ngô mỗi ngày một lần vào lúc 17h Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

+ Năm 2010

Thí nghiêm được thực hiện ở ruộng với diện tích 540 m2 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh theo sơ đồ hình 4.3.2 (xem hình 4.3.2)

Mương Mương

Lô 1:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm: 12 con/m2

Lô 2:

Lúa cấy 35-40 khóm/m2 Mật độ tôm:10 con/m2

Lô 4:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm:10 con/m2

Lô 3:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m2 Mật độ tôm: 10 con/m2

Hình 4.3.2 Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm kết hợp với trồng lúa

Thời gian nuôi: Tôm được nuôi từ 15/4- 15/7/ 2010

Kích cỡ và mật độ:

Tôm giống với kích cỡ 0,5- 3,5g/con, trung bình 1,85 g/con Tôm được thả nuôi với mật độ 10 con/m2 và 12 con/m2

Thức ăn: Cám gạo hoặc bột ngô được sử dụng cho tôm ăn, cụ thể như sau

Tháng thứ nhất khẩu phần ăn hàng ngày bằng 10% khối lượng quần đàn Tháng thứ hai khẩu phần ăn hàng ngày bằng 7% khối lượng quần đàn

Tháng thứ ba khẩu phần ăn hàng ngày bằng 4% khối lượng quần đàn

4.3.6 Trồng một vụ lúa nuôi một vụ tôm hùm nước ngọt

4.3.6.1 Chuẩn bị ruộng nuôi tôm

Ruộng nuôi tôm được chuẩn bị tương tự ruộng nuôi tôm kết hợp với trồng lúa (xem phần 4.3.2)

Trang 22

4.3.6.2 Thời gian, mật độ thả giống và cách thức chăm sóc

17h Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

10-Nước cấp cho ao nuôi tôm được lọc qua lưới cước dầy có kích cỡ mắt lưới 1x 1 mm Mực nước trong ao thường xuyên được duy trì ở mức 0,6- 0,8m

Trang 23

4.3.7.2 Thời gian, mật độ thả giống và cách thức chăm sóc

Tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, tôm được thả từ 15/9/2009 Diện tích nuôi 3000 m2 (ao có bờ đất) Mật độ 5,5 con/m2 Khối lượng tôm thả 206 kg

Taị Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ, tôm được thả từ 16/9/2009 Diện tích nuôi 2,2 ha (ao có bờ đất) Mật độ 5,5 con/m2 Khối lượng tôm thả nuôi 1500 kg

Tại Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh tôm được thả từ 06/9/2009 Diện tích nuôi

3000 m2 (ao có bờ đất) Mật độ 5,5 con/m2 Khối lượng tôm thả nuôi 208 kg

Thức ăn viên có độ đạm ≥ 25% được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho tôm ăn một lần vào 17 giờ Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

+ Năm 2010

Thí nghiêm được tiến hành tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, theo sơ đồ

Trang 24

hình 4.3.3 (xem hình 4.3.3)

Thời gian nuôi: Tôm được nuôi từ 15/4- 15/7/2010

a Đối với tôm bố mẹ

Kích cỡ và mật độ: Tôm bố mẹ với kích cỡ 10,5- 35,7 g/con, trung bình

20,86 g/con Tỷ lệ đực/cái trong quần đàn là 1♂/ 3♀ Tôm được thả nuôi với mật

Hình 4.3.3 Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm bố mẹ trong ao

Thức ăn: Thức ăn viên có độ đạm 25% được sử dụng cho tôm ăn Ngày

cho tôm ăn một lần vào lúc 17 giờ Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

b Đối với tôm thịt

Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ hình 4.3.4 (xem hình 4.3.4)

Kích cỡ và mật độ:

Tôm giống với kích cỡ 0,5-5,0 g/con, trung bình 2,4 g/con

Mật độ tôm được thả nuôi 20 con/m2 và 22 con/m2

Thức ăn: Thức ăn viên có độ đam 25% được sử dụng cho tôm ăn Ngày cho

tôm ăn một lần vào lúc 17 giờ, với khẩu phần cụ thể như sau:

Trang 25

Tháng thứ nhất khẩu phần ăn hàng ngày bằng 7% khối lượng quần đàn

Tháng thứ hai khẩu phần ăn hàng ngày bằng 5% khối lượng quần đàn

Tháng thứ ba khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn

Hình 4.3.4 Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm thịt trong ao

4.3.7.3 Thu mẫu sinh trưởng và môi trường

Mỗi tháng thu mẫu kiểm tra sinh trưởng một lần và thay đổi lượng thức ăn Các yếu tố nhiệt độ, pH và ôxy được đo hàng ngày

4.3.8 Xác định một số tác nhân gây bệnh đối với loài tôm hùm nước ngọt

+ Xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn

Sử dụng phương pháp nghiên cứu vi khuẩn trên động vật thuỷ sản của Dogiel [17]

để xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Phương pháp này được tóm tắt tại hình 4.3.5 (xem hình 4.3.5)

+ Xác định tác nhân gây bệnh là nấm

Sử dụng phương pháp nghiên cứu nấm của Willoughby L.G [24 ] để xác định tác nhân gây bệnh là nấm Phương pháp này được tóm tắt tại hình 4.3.6 (xem hình 4.3.6)

+ Xác định tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng

Sử dụng phương pháp của Bychowkaja [13] để xác định ký sinh trùng gây bệnh cho tôm

Trang 26

↓ Cấy vào môi trường GY agar (có Streptomicine và Penicilline)

↓ Sau 48- 72 giờ Cấy chuyển sang môi trường APW

↓ Sau 12 – 48 giờ Quan sát sự hình thành bào tử

↓ Cấy một bào tử

↓ Cấy chuyển sang môi trường GY agar

↓ Cấy chuyển sang môi trường APW

↓ Cho hạt gai dầu Phân loại đến loài Hình 4.3.6 Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu nấm

4.3.9 Xác định một số thành phần sinh hóa cơ bản của tôm hùm nước ngọt 4.3.9.1 Phương pháp xác định protein tổng số

Chúng tôi tiến hành xác định hàm lượng protein tổng số bằng phương pháp Kjeldall, cụ thể như sau:

Trang 27

Vô cơ hoá mẫu bằng H2SO4 đặc ở nhiệt độ cao với chất xúc tác

Hàm lượng protein được tính theo công thức sau:

N =

a

% 100

x F

x 1,42

x V2) -

4.3.9.2 Phương pháp xác định lipit tổng số

Phương pháp Soxklet được sử dụng để xác định lipit Quá trình xác định được tiến hành như sau:

Làm khô mẫu bằng Na2 HPO4 khan chế từ Na2HPO4 12H2O sấy ở 150 -

1800C, hoặc bằng Na2 SO4 khan Sau đó chiết rút lipid bằng Eteetylic hoặc Ete dầu hoả trong máy Soxklet Hàm lượng lipit được tính theo công thức sau:

X =

c

x100%

b) - a

X: Lipit tổng số tính bằng (mg%)

a: Trọng lượng bình chứa Lipít tính bằng gam

b: Trọng lượng bình khô tính bằng gam

Trang 28

c: Trọng lượng mẫu tính bằng gam

4.3.10 Bước đầu đánh giá tác động của loài tôm này khi nuôi chúng

+ Thu thập dẫn liệu đánh giá tác động của loài tôm này qua các tài liệu đã công bố

+ Thu thập số liệu thực tế khi triển khai đề tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh; Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ; Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và Đào Viên, Quế Võ,Bắc Ninh

4.3.11 Điều tra tiềm năng nuôi tôm hùm nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam

Số liệu về tiềm năng nuôi tôm hùm nước ngọt được thu thập từ sách, báo và các báo cáo tổng kết về hoạt động nuôi trồng thủy sản của các tỉnh trong vùng điều tra Ngoài ra, số liệu điều tra còn được thu thập thông qua việc phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các cán bộ ngành thủy sản của các tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định và Ninh Bình

4.4 Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập theo thống kê sinh học và được xử lý trên phần mềm Exell Kiểm tra sự sai khác bằng phân tích Anova

Trang 29

V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5.1 Kết quả nghiên cứu về ngưỡng nhiệt độ cao

Số liệu tại bảng 5.1 cho thấy: Ngưỡng nhiệt độ cao của tôm giống cỡ từ

2-4 cm là 37,50C và ngưỡng nhiệt độ cao của tôm hậu bị có kích cỡ từ 7-10 cm là

370C Kết quả về ngưỡng nhiệt độ của tôm tại thí nghiệm này tương tự công bố

của về đặc điểm sinh học của tôm hùm nước ngọt [4] Ngưỡng nhiệt độ cao của

loài tôm này cũng tương tự loài tôm càng đỏ – Cherax qua dricarinatus có nguồn

Thời gian giữ nhiệt (giờ)

Thời gian nâng nhiệt

(giờ)

Tỷ lệ

chết (%)

Thời gian nâng nhiệt (giờ)

5.2 Kết quả tìm hiểu về ngưỡng ôxy

Kết quả nghiên cứu về ngưỡng ôxy của tôm hùm nước ngọt được tập hợp

tại bảng 5.2 (xem bảng 5.2) Số liệu tại bảng 5.2 cho chúng ta thấy: Ngưỡng ôxy

của cả tôm giống, tôm hậu bị và tôm trưởng thành đều là 0,5 mg/lít Kết quả này

chứng tỏ tôm hùm nước ngọt có khả năng chịu đựng được môi trường có hàm

lượng ôxy thấp

Bảng 5.2 Kết quả theo dõi ngưỡng ôxy

Tôm với kích cỡ 2-4 cm Tôm với kích cỡ 7-10 cm

Tỷ lệ chết (%)

T (giờ)

S.lượng (con)

Ôxy (mg/ lít)

Tỷ lệ chết (%)

Trang 30

5.3 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá

Số liệu về ảnh hưởng của tôm đối với cá được tập hợp tại bảng 5.3 (xem bảng 5.3) Kết quả thu được tại bảng 5.3, cho thấy tỷ lệ sống của cá hương trong các lô thí nghiệm trung bình đạt 37,81% Trong khi đó tỷ lệ sống của lô đối chứng là 38,67% Khi phân tích anova ta thấy tỷ lệ sống của cá hương trong các lô thí nghiệm so với đối chứng không có sự sai khác (xem phụ lục 1)

Bảng 5.3 Kết quả nuôi tôm kết hợp với cá bột cá chép

5.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với tôm càng -

Macrobrochium rosenbergi

Dẫn liệu tại bảng 5.4 (xem bảng 5.4), cho thấy tỷ lệ sống của tôm càng khi nuôi chung với tôm hùm nước ngọt là 32,47% Tỷ lệ sống của tôm càng ởnlô đối chứng 34,90% Khi phân tích anova về tỷ lệ sống của tôm càng trong các lô thí nghiệm và đối chứng không có sự sai khác thống kê (xem phụ lục 2) Kết quả này chứng tỏ tôm hùm nước ngọt không có ảnh hưởng xấu đối với tôm càng khi nuôi chung chúng với nhau

Trang 31

Bảng 5.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm hùm đối với tôm càng

Ghi chú Tôm hùm: Tôm hùm nước ngọt - Procambarus clarkii

Tôm càng : Tôm càng Việt Nam - Macrobrochium rosenbergi.

SL thả: Số lượng thả (con)

SL thu: Số lượng thu (con)

TLS: Tỷ lệ sống

5.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối lúa

Bảng 5.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm đối với lúa

S¶n lượng thãc quy đổi

Lô thí nghiệm Diện tích (m2) S¶n lượng

Trang 32

nghiệm và lô đối chứng không có sự sai khác về thống kê (xem phụ lục 3) Sản lượng tôm khi thu hoạch lúa tương đương với năng suất dự kiến nuôi tôm kết hợp với trồng lúa (500 kg/ha)

Kết quả thu được trên đây bước đầu cho phép nhận định: Tôm hùm nước ngọt không gây hại cho lúa khi nuôi chúng trong ruộng lúa Nhận nđịnh này của chúng tôi cũng tương tự công bố của một số tác giả Trung Quốc và Mỹ Tôm hùm nước ngọt nuôi luân canh với lúa hoặc xen canh với lúa đều có hiệu quả tốt [4,25]

Ở Tích Ngọc Khẩu, Xuân Giang, Trung Quốc nuôi xen canh tôm-lúa có thể thu thêm từ tôm được 500-600 NDT/mẫu [4]

5.6 KÕt qu¶ nu«i t«m hùm nước ngọt kết hîp víi trång lóa

5.6.1 Kết quả nuôi tôm của năm 2008 và 2009

+ Kết quả về nuôi tôm

Năm 2008, ở tất cả các điểm triển khai đề tài, tuy đã chăm sóc tôm theo đúng kế hoạch đặt ra nhưng tôm bố mẹ bị chết rải rác trong quá trình nuôi Một trong những nguyên nhân chính là do tôm vận chuyển từ Kiến Thủy, Trung Quốc

về đến các điểm triểm khai đề tài kéo dài từ 26- 30 tiếng Thời gian vận chuyển kéo dài trong điều kiện thời tiết của tháng 7, tháng 8 (nóng nực) Mặc dù có sử dụng nước đá trong khi vận chuyển cũng chỉ giảm một phần ảnh hưởng xấu của thời tiết đến tình trạng sức khỏe của tôm Năm 2008, ngay khi tôm vận chuyển về đến các điểm triển khai đề tài đã bị chết 50-60% Tôm vận chuyển trong khô và nóng nực nên cơ quan hô hấp của tôm đã bị tổn thương Do vậy khi thả nuôi tôm

sẽ bị chết tiếp Nhận định này của chúng tôi phần nào đó cũng phù hợp với kỹ thuật chọn mua tôm bố mẹ của Trung Quốc Vào mùa nóng chỉ nên chọn mua tôm

bố mẹ lên khỏi mặt nước không quá 2 giờ Nếu thời tiết bình thường không quá 4 giờ Thời gian càng ngắn càng tốt Không mua loại tôm vận chuyển dày và để ra nắng gió[4] Một trong những nguyên nhân tiếp theo dẫn đến tôm bị chết rất có thể do buồng trứng của tôm cái đã phát triển đến giai chín mồi, chuẩn bị đẻ, nên

Trang 33

trong khi vận chuyển dễ bị xốc và chết Ngoài hai nguyên nhân trên rắn, chuột, ếch nhái cũng là những tác nhân gây hại đối với tôm Mặc dù xung quanh ruộng

đã được che chắn bằng bạt nylon Từ thực tế của năm 2008 đề tài đã đề nghị phía bạn cung cấp tôm sớm hơn Phía Trung Quốc không đáp ứng được Năm 2009, đề tài nhận tôm vào tháng 8, tháng 9 Tuy đã phân tầng thùng vận chuyển, mật độ tôm thưa hơn, thời gian vận chuyển tôm chỉ còn 12-18 tiếng Tỷ lệ tôm chết do vận chuyển chỉ là 26-30% Che chắn xung quanh bờ đã được tu bổ Tuy nhiên kết quả nuôi cũng không khả quan hơn năm 2008 Tôm bố mẹ vẫn chết rải rác trong suốt quá trình nuôi Nguyên nhân chính vẫn do cơ quan hô hấp của tôm bị tổn thương và tôm cái chuẩn bị đẻ

Trong cả hai năm 2008 và 2009, sự tái tạo quần đàn tôm con không có kết quả Lượng tôm giống trong ruộng nuôi rất ít, không thu được tôm thịt

+ Năng suất lúa tại các ruộng thí nghiệm

Bảng 5.6.1 Năng suất lúa các ruộng thí nghiệm

Sản lượng và năng suất lúa (kg/ha)

Sơn Vi, Phú Thọ Vũ Di, Vĩnh Phúc Đào Viên, Bắc Ninh

Ghi chú SL: Sản lượng; NS: Năng suất

Năng suất lúa thu được trong các ruộng thí nghiệm của Đào Viên, Bắc Ninh; Sơn Vi, Phú Thọ và Vũ Di, Vĩnh Phúc dao động từ 3150- 3315 kg/ha đều tương đương với năng suất lúa của các ruông lân cận cũng như năng suất lúa của năm 2007

5.6.2 Kết quả nuôi tôm của năm 2010

a Khả năng tăng trưởng của tôm

KÕt qu¶ nu«i t«m kết hợp với trồng lóa ®−îc tËp hîp t¹i b¶ng 5.6.2 ( xem

b¶ng 5.6.2) Số liệu tại bảng 5.6.2, cho ta thấy tốc độ tăng trọng theo ngày bình

Trang 34

quân của tháng thứ nhất thấp hơn tháng thứ hai và cao nhất ở tháng thứ ba Tuy nhiên khối lượng trung bình tháng tứ nhất tăng gấp 2,14 lần Khối lượng trung bình tháng thứ hai tăng gấp 1,78 lần Khối lượng trung bình khi thu (tháng thứ ba) tăng gấp 1,45 lần Khả năng tăng trưởng của tôm cũng tuân theo quy luật tăng trưởng chung của sinh giới nói chung và thủy sản nói riêng

Bảng 5.6.2 Kết quả nuôi tôm kết hợp với trồng lúa

Ghi chú: TBKT- khối lượng trung bình khi kiểm tra

Wn: Khối lượng khi kiểm tra gam/con; W0: Khối lượng khi thả gam/con

Wt= Wn- W0: Tăng trưởng trong thời gian nuôi

Wt/ng: Khối lượng tăng trưởng bình quân theo ngày gam/con/ngày

Dẫn liệu tại bảng 5.6.2, cũng cho ta thấy: Tốc độ tăng trưởng bình quân

theo ngày của tôm nuôi với mật độ 10 con/m2 tháng thứ nhất chỉ là 0,07 gam/con/ngày Tháng thứ 2 đạt 0,10 gam/con/ngày Tháng thứ ba 0,11 gam/con/ngày và bình quân trong suốt quá trình nuôi là 0,09 gam/con/ngày

Khi nuôi tôm với mật độ 12 con/m2, tốc độ tăng trưởng của tháng thứ nhất

là 0,06 gam/con/ngày Tháng thứ hai 0,09 gam/con/ngày Tháng thứ ba là 0,11 gam/con/ngày và tốc độ tăng trưởng trong suoota quá trình nuôi là 0,09 gam/con/ngày

Trang 35

Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi với mật độ 10 con/m2 và 12 con/m2, trong từng tháng nuôi cũng như sau 3 tháng nuôi không có sự sai khác về thống kê (xem phụ lục 4a) Tốc độ tăng trưởng bình quân theo ngày là 0,09 gam/ngày/con

b Năng suất và hiệu quả nuôi tôm năm 2010

+ Năng suất của tôm

Kết quả thu hoạch tôm tại bảng 5.6.3 cho thấy: Tỷ lệ sống của tôm ở cả hai mật độ nuôi 10 con/m2 và 12 con/m2 tương tự nhau dao động từ 50,62- 51,84% không có sự sai khác về thống kê (xem phụ lục 4b) Tỷ lệ sống của tôm thấp có thể do nắng nóng nhiệt độ nước trên 370C kéo dài vào các ngày 15-20/6 và 26/6-13/7 (xem phụ lục 8) Vào những ngày này tôm thường bỏ ăn

Bảng 5.6.3 : Kết quả thu tôm nuôi trong ruộng lúa

Ghi chú DT: Diện tích m2; MĐ: Mật độ con/m2; SL thả: Số lượng thả

SL thu: Số lượng khi thu; TLS: Tỷ lệ sống %;

KLTB: Khối lượng trung bình khi thu (gam/con);

KLT: Tổng khối lượng khi thu (gam)

Tôm nuôi với mật độ 12 con/m2 thu được có khối lượng trung bình 10,08 gam/con Sản lượng thu đạt 61,5 gam/m2 tương đương 615 kg/ha Khối lượng tôm nuôi với mật độ 10 con/m2 cuối kỳ nuôi đạt 10,23 gam/con Sản lượng bình quân chỉ đạt 52,2 gam/m2 tương đương 522 kg/ha Kết quả về năng suất tôm chúng tôi thu được cũng tương tự công bố của Trung Quốc Tôm giống cỡ 2-4 cm được nuôi trong ruộng với mật độ 5.000-10.000 con/mẫu (một mẫu ruộng của Trung Quốc là 667 m2) Mật độ này tương đương 7,5-15 con/m2 Năng suất tôm thu được trung bình 50 kg/ mẫu tương đương 750 kg/ha [4]

+ Năng suất của lúa

Tuy đã dành 50 m2 để đào mương năng suất lúa đạt khá cao Tổng số thóc

Trang 36

thu được 217,5 kg Như vậy năng suất lúa đạt tới 4027 kg/ha Năng suất lúa vụ

này cũng tương năng suất của vụ xuân hè năm 2009 (4050 kg/ha)

Kết quả về năng suất lúa trong thí nghiệm nuôi tôm kết hợp với trồng lúa

với tôm giống có kích cỡ 0,5-3,5 gam/con nuôi đến kích cỡ 16,66 gam/con cho

thấy: Tôm hùm nước ngọt không gây hại đối với lúa khi nuôi chúng trong ruộng

lúa

+ Hiệu quả kinh tế

Bảng 5.6.4 Kết quả thu chi cho nuôi tôm- lúa với diện tích 510 m2

1 Các khoản chi

2 Thu (với giá bán 50.000đ/kg)

2.1 Thu theo tổng số tôm thu

Khối lượng tôm thịt thu được dao động từ 5,8-16,66 gam/con Khối lượng

trung bình chỉ đạt 10,17gam/con Tổng số tôm thu được 29,4 kg Tỷ lệ tôm có

khối lượng ≥ 10 gam/ con chiếm 54,43% Vậy số tôm đạt kích cỡ thương phẩm là

16,0 kg Giả sử giá bán 50.000 đ/kg Hiệu quả nuôi tôm sẽ được tập hợp tại bảng

5.6.4 (xem bảng 5.6.4)

Lợi nhuận theo mục 3.1 tại bảng 5.6.4, cho tháy: Lãi không tính đến công

Trang 37

lao động khi nuôi tôm kết hợp với trồng lúa trên diện tích 1 ha sẽ là:

{[1.470.000,0 đ - 1.309.000,0]/510m2]}x 10.000 m2 = 3.160.000,0 đ/ha Lợi nhuận theo mục 3.2 tại bảng 5.6.4, cũng cho thấy: Lãi không tính đến công lao động khi nuôi tôm kết hợp với trồng lúa trên diện tích 1 ha sẽ là:

{[900.000,0 đ - 1.309.000,0]/510 m2} x 10.000m2 = - 8.019.607,0 đ/ha

Số liệu này cho thấy nuôi tôm kết hợp với trồng lúa mà tôm kém phát triển

sẽ bị thua lỗ

5.7 Kết quả trồng một vụ lúa nuôi một vụ tôm hùm nước ngọt

+ Kết quả về nuôi tôm

Kết quả nuôi tôm với hình thức trồng một vụ lúa nuôi một vụ tôm của cả hai năm 2008 và 2009 ở cả Sơn Vi, Lâm Thao,Phú Thọ; Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh đều không thu được kết quả Nguyên nhân cũng tương tự như đã trình bầy tại mục 3.6.1

+ Năng suất lúa tại các ruộng thí nghiệm

Bảng 5.7.1 Năng suất lúa các ruộng thí nghiệm

Tổng sản lượng và năng suất (kg/ha) Sơn Vi, Phú Thọ Vũ Di, Vĩnh Phúc Đào Viên, Bắc Ninh Năm

Ghi chú

2008 2750 2750 2810 2810 3240 3240

Ghi chú SL: Sản lượng; NS: Năng suất

Năng suất lúa của các ruộng thí nghiệm của Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh; Sơn Vi, Lâm Thao Phú Thọ và Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc dao động từ 2750-

3315 kh/ha đều tương đương với năng suất lúa của các ruộng liền kề và cũng tương đương với năng suất lúa của năm 2007

5.8 Kết quả nuôi tôm hùm nước ngọt trong ao

5.8.1 Kết quả nuôi tôm trong ao năm 2008 và 2009

Trang 38

Năm 2008, tại Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ và Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, mỗi cơ sở sử dụng 0,5 ha ao xây để nuôi tôm bố mẹ Tôm được thả nuôi với mật độ 2,5 con/m2 Tổng khối lượng tôm thả là 312 kg Tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, tôm bố mẹ được thả trong 0,5 ha ao xây với mật độ 3 con/m2 Khối lượng tôm bố mẹ được thả nuôi 186 kg Tuy tôm bố mẹ đã được nuôi bằng thức ăn viên với độ đạm 25% nhưng kết quả tôm bố mẹ bị chết rải rác trong suốt quá trình nuôi (nguyên nhân thất bại do tôm bố mẹ bị chết chủ yếu do vận chuyển đã được trình bầy tại mục 3.6.1) Do đó không thu được tôm giống cũng như tôm thịt

Tháng 3/2009, đề tài tiến hành thu tôm Tôm bố mẹ chỉ thu được 6.120 con Trong đó tôm đực: 5.220 con, tôm cái: 900 con Lượng tôm giống thu được không

đủ bố trí thí nghiệm cho một ao nuôi 900 tôm cái và 300 tôm đực được bố trí nuôi tiếp tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Ngày 05/8/ 2009, tiến hành thu tôm Số lượng tôm còn lại 250 con Trong đó tôm đực: 150 con, tôm cái: 100 con Không

có tôm cái ôm trứng Không thu được tôm giống

Năm 2009, tại Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ tôm bố mẹ được thả nuôi trong hai ao đất có tổng diện tích 22.000m2 Tôm bố mẹ được thả nuôi với mật độ 5,5 con/m2 Tổng khối lượng tôm bố mẹ đã thả nuôi là 1.500 kg

Tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh tôm bố

mẹ được thả nuôi trong một ao đất có diện tích 3.000 m2 Tôm bố mẹ cũng được thả nuôi với mật độ 5,5 con/m2 Tổng số tôm thả nuôi là 412 kg

Tại Đình Bảng, Từ Sơn,Bắc Ninh, tôm bố mẹ được nuôi trong 3 ao xây mỗi

ao có diện tích 815 m2 Tôm được thả nuôi với các mật độ 4,0 con/m2, 5,5 con/m2

và 7,0 con/m2 Tổng số tôm thả là 210 kg

Tuy năm 2009 lượng tôm chết do vận chuyển chỉ là 26-30%, hy vọng tôm

bố mẹ có chết rải rác trong quá trình nuôi nhưng vẫn có thể còn được số lượng nhất định để tái tạo quần đàn Trên thực tế tháng 3 và 4/2010, đề tài đã thu được:

Tôm bố mẹ: 2000 tôm bố mẹ thu được tại Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ

Trong đó chỉ có 374 tôm cái 374 tôm cái này cùng 125 tôm đực được thả lại trong

Trang 39

một ao 550 m2 Ngày 15/ 8/ 2010 tát ao thu lại được 117 tôm bố mẹ Không có tôm cái ôm trứng và không thu được tôm con

Tổng số 8.011 trong đó có 500 tôm bố mẹ thu được tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc 200 tôm bố mẹ thu được tại Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh và 7.311 tôm bố mẹ thu được tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Trong tổng số 8.011 tôm

bố mẹ này chỉ có 1.532 tôm cái Đề tài đã lựa chọn 600 tôm đực ghép cùng 1.532 cái thả nuôi trong một ao 810 m2 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Kết quả sẽ được trình bầy tại mục 5.8.2 (xem mục 5.8.2)

Tôm giống: Đề tài thu được 23.300 tôm giống với kích cỡ 0,5-5,0 gam/con

Trong đó Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ thu được 6.550 con Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc thu được 4.500 con Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh thu được 2.000 con

và Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh thu được 10.250 con Số lượng tôm giống này được bố trí thí nghiệm nuôi tôm thịt trong một ao có diện tích 815 m2 và và một ruộng trồng lúa có diện tích 510 m2 tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh Kết quả sẽ được trình bầy tại mục 5.8.2 (xem mục 5.8.2)

5.8.2 Kết quả nuôi tôm hùm nước ngọt trong ao năm 2010

a Kết quả nuôi tôm bố mẹ trong ao

Số liệu nuôi tôm bố mẹ trong ao tại bảng 5.8.1, cho ta thấy: Tốc độ tăng trưởng theo ngày của mật độ nuôi 2,5 con/m2 dao động từ 0,06 gam/con/ngày đến 0,16 gam/con/ngày Tốc độ tăng trưởng theo ngày của tôm nuôi với mật độ 3,0 con/m2 dao động từ 0,07 gam/con/ngày đến 0,15 gam/con/ngày

Tốc độ tăng trưởng theo ngày của tôm nuôi với mật độ 2,5 con/m2, tháng thứ nhất 0,12 gam/con/ngày, tháng thứ hai 0,14 gam/con/ngày, tháng thứ ba 0,07 gam/con/ngày Tốc độ tăng trưởng bình quân cuối kỳ nuôi 0,11 gam/con/ngày Tốc độ tăng trưởng của tôm nuôi với mật độ 3,0 con/m2 tháng thứ nhất 0,11 gam/con/ngày, tháng thứ hai 0,15 gam/con/ngày, tháng thứ ba 0,07 gam/con/ngày Tốc độ tăng trưởng bình quân trong suốt quá trình nuôi 0,11 gam/con/ngày

Trang 40

Bảng 5.8.1 Kết quả nuôi tôm bố mẹ trong ao

Mật độ thả

TT Các chỉ

tiêu 2,5 con/m2 2,5 con/m2 2,5 con/m2 3,0 con/m2

TB KT 2,5 con/m2 Khi thả 20,86 ± 4,39 20,86 ± 4,39 20,86 ± 4,39 20,86 ± 4,39

Ghi chú: TBKT- khối lượng trung bình khi kiểm tra

Wn: Khối lượng khi kiểm tra gam/con , (W0)Khối lượng khi thả gam/con

Wt= Wn- W0 :Khối lượng tăng trưởng trong thời gian nuôi

Wt/ng: Khối lượng tăng trưởng bình quân theo ngày gam/con/ngày

Tốc độ tăng trưởng của tôm trong từng tháng nuôi cũng như trong suốt quá

trình nuôi không có sự sai khác về thống kể cả ở mật độ nuôi 2,5 và 3,0 con/m2

(xem phụ lục 5a)

Tốc độ tăng trưởng của tôm tháng thứ ba thấp hơn tháng thứ nhất và tháng

thứ hai có thể do: từ ngày 26/6/2010 đến 13/7/2010 nhiệt độ của nước ao thường

xuyên cao hơn 37,50C Trong những ngày này tôm thường ăn kém hơn đây chính

là nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng của tôm giảm sút

Tỷ lệ sống của tôm thấp, dao động từ 22,17- 23,92% (xem bảng 5.8.2) Tỷ

lệ sống của tôm bố mẹ thấp có thể do vòng đời của loài tôm này chỉ là 24 tháng,

như tài liệu của các tác giả đã công bố [4,22] Khối lượng tôm thu được dao động

từ 17,0- 66,6 gam/con Khối lượng trung bình của tôm đạt từ 30,01- 30,95

gam/con

Trong quá trình thu tôm không thu được tôm cái ôm trứng hoặc ấu trùng

Ngày đăng: 19/03/2015, 00:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của tôm đối với lúa - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Hình 4.3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của tôm đối với lúa (Trang 19)
Hình 4.3.3 (xem hình 4.3.3). - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Hình 4.3.3 (xem hình 4.3.3) (Trang 24)
Hình 4.3.4. Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm thịt trong ao - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Hình 4.3.4. Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm thịt trong ao (Trang 25)
Hình 4.3.5. Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu vi khuẩn - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Hình 4.3.5. Sơ đồ tóm tắt các công đoạn nghiên cứu vi khuẩn (Trang 26)
Bảng 5.1. Kết quả theo dõi ngưỡng nhiệt độ - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 5.1. Kết quả theo dõi ngưỡng nhiệt độ (Trang 29)
Bảng 5.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm đối với lúa - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 5.5. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tôm đối với lúa (Trang 31)
Bảng 5.6.1. Năng suất lúa các ruộng thí nghiệm - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 5.6.1. Năng suất lúa các ruộng thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 5.9. Kết quả kiểm tra tác nhân gây bệnh tôm (tiếp - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 5.9. Kết quả kiểm tra tác nhân gây bệnh tôm (tiếp (Trang 45)
Bảng 7. 2. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm thịt nuôi trong ao (tháng 6)  Mật độ:  20 20 20 22  W.TB - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 7. 2. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm thịt nuôi trong ao (tháng 6) Mật độ: 20 20 20 22 W.TB (Trang 66)
Bảng 7.4. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm thịt nuôi trong ruộng lúa (tháng 5) - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 7.4. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm thịt nuôi trong ruộng lúa (tháng 5) (Trang 68)
Bảng 7.6. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm thịt nuôi trong ruộng lúa (tháng 7) - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 7.6. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm thịt nuôi trong ruộng lúa (tháng 7) (Trang 70)
Bảng 7.9. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm bố mẹ nuôi trong ao (tháng 7) - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 7.9. Kết quả kiểm tra tăng trưởng tôm bố mẹ nuôi trong ao (tháng 7) (Trang 73)
Bảng 8.2. Môi trường nuôi tôm tháng 5/ 2010 - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 8.2. Môi trường nuôi tôm tháng 5/ 2010 (Trang 77)
Bảng 9.2. Tỷ lệ thịt của tôm hùm nước ngọt - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
Bảng 9.2. Tỷ lệ thịt của tôm hùm nước ngọt (Trang 84)
2.1. Sơ đồ tóm tắt quy trình. - Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu
2.1. Sơ đồ tóm tắt quy trình (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w