Trong việc đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ, Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 9 Khoá X đã chỉ rõ “Cải cách hệ thống chính sách, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, công bằng tro
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT: SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 4
I Chủ trương, chính sách của Đảng về thu hút, tuyển chọn và đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ nói chung và cán bộ Ngành Tư pháp 4
II Sự tăng cường, mở rộng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngành Tư pháp trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 5
III Tính chất đặc thù công việc của Ngành Tư pháp 8
2 Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật 9
3 Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của một số chức danh tư pháp 9
IV Thực trạng đội ngũ cán bộ Ngành Tư pháp 11
1 Những kết quả đạt được 11
2 Một số tồn tại, hạn chế, bất cập 12
V Thực trạng thực hiện chính sách thu hút, tuyển chọn và chế độ, chính sách đối với cán bộ Ngành Tư pháp 14
1 Về thu hút, tuyển chọn cán bộ: 14
2 Về chế độ, chính sách đối với cán bộ 21
PHẦN THỨ HAI: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP 27
1 Quan điểm chỉ đạo 27
2 Mục tiêu 27
II Nhiệm vụ, giải pháp 28
1 Xây dựng, hoàn thiện cơ cấu ngạch và tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức Ngành Tư pháp 29
2 Xây dựng, hoàn thiện cơ cấu công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị Ngành Tư pháp 30
3 Đổi mới hình thức tuyển chọn, bố trí, sắp xếp cán bộ 31
4 Đổi mới một số mặt của công tác cán bộ 33
5 Tiếp tục thực hiện cải cách chính sách tiền lương và các đãi ngộ khác đối với cán bộ 36
6 Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức 38
7 Xây dựng và thực hiện chế độ chính sách, chế độ đặc thù đối với cán bộ Ngành Tư pháp 39
8 Về một số chế độ, định mức đặc thù trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của ngành Tư pháp 39
9 Cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của cán bộ 39
PHẦN THỨ BA: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 40
Trang 3I Trách nhiệm của Bộ Tư pháp 40
II Trách nhiệm của Bộ Nội Vụ 40 III Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 41
HỆ CHUYÊN ĐỀ TRUNG ƯƠNG:
Chuyên Đề 1: Chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội đối với công chức,
viên chức - Thực trạng và phương hướng cải cách đến năm 2010, 2015 và 2020
(Nguyễn Quang Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Tiền lương- Bộ Nội vụ)………… 61
Chuyên đề 2: Đổi mới cơ chế tuyển chọn, sử dụng và quản lý cán bộ, công
chức - Cơ sở lý luận, thực trạng và các giải pháp (Ts Hoàng Mai - Giảng Viên Học viện Chính trị, Hành chính quốc gia)……… … 76
Chuyên đề 3: Cơ chế thu hút, tuyển chọn và thực hiện chế độ chính sách đối
với cán bộ, công chức thi hành án dân sự (PGS TS Nguyễn Văn Luyện - Phó Tổng Cục trưởng - Tổng Cục Thi hành án dân sự)……… 111
Chuyên đề 4: Đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn và thực hiện chế độ chính
sách đối với trợ giúp viên pháp lý (TS Tạ Thị Minh Lý - Cục Trưởng Cục Trợ giúp pháp lý, Vũ Hồng Tuyến - Cục Trợ giúp pháp lý)……… 131
Chuyên đề 5: Thực trạng, phương hướng và giải pháp xây dựng, phát triển đội
ngũ cán bộ, công chức Ngành Tư pháp trong giai đoạn hiện nay (Ths Nguyễn Ngọc Vũ - Vụ Tổ chức cán bộ)……… 146
Chuyên đề 6: Thực trạng xây dựng và thực hiện cơ chế thu hút đối với cán bộ
làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp (Ths Vũ Hoài Nam - Nhà Xuất bản Tư pháp……… 162
HỆ CHUYÊN ĐỀ ĐỊA PHƯƠNG
Chuyên đề 7: Thực trạng và giải pháp thực hiện công tác tuyển chọn, quản lý,
sử dụng và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức làm việc tại
các cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu (Huỳnh Chiêu - Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu)……… 182
Chuyên đề 8: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp thực hiện công tác tuyển
chọn, quản lý, sử dụng cán bộ tại cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh Hà Giang
(Cao Xuân Bé - Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang)……….196
Trang 4Chuyên đề 9: Công tác tuyển chọn, quản lý, sử dụng và thực hiện chế độ chính
sách đối với công chức Thi hành án dân sự tại TP Hồ Chí Minh thực trạng và
giải pháp (Nguyễn Văn Lực - Cục Trưởng Cục Thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh)……… 212
Chuyên đề 10: Thực trạng công tác tuyển chọn, quản lý, sử dụng và thực hiện
chế độ chính sách đối với công chức làm việc tại cơ quan Thi hành án dân sự trên
địa bàn tỉnh Lai Châu (Nguyễn Văn Chiến - Cục Trưởng Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Lai Châu)……… 239
CÁC PHỤ LỤC
1 Báo cáo kết quả khảo sát xã hội học 259
2 Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Bộ Tư pháp (giai đoạn 2010) 285
2007-3 Đội ngũ công chức các cơ quan Thi hành án dân sự năm 2010 286
4 Tổng hợp tình hình đội ngũ công chức, viên chức Sở Tư pháp (tính đến tháng 5/2010) 288
5 Đội ngũ công chức Phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(tính đến tháng 5/2010) 290
6 Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, phường, thị trấn (tính đến tháng 5/2010) 292
7 Kinh nghiệm thực hiện một số nội dung về chế độ thu hút, tuyển chọn và chế
độ chính sách đối với cán bộ, công chức của một số nước trên thế giới 294
Trang 5bộ càng đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đổi mới trong công tác cán bộ, từ đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách tới công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực, chủ động, năng động, sáng tạo, nhạy bén với
sự thay đổi, phong cách làm việc chuyên nghiệp, có tri thức; không chỉ nắm vững, tiếp thu những kiến thức, thành tựu và kinh nghiệm của các nước tiên tiến
mà còn phải chủ động, sáng tạo xử lý, giải quyết những vấn đề mới phát sinh của đời sống xã hội và biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam Đặc biệt, bên cạnh các chính sách chung đối với cán bộ, Đảng ta cũng luôn quan tâm phát hiện, thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng người “hiền tài”, coi đó là “nguyên khí quốc gia” Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 Khoá IX đã xác định “Hoàn thiện
hệ thống cơ chế, chính sách, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá”; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định “Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển
và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt người trong Đảng hay người ngoài Đảng” Trong việc đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ, Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 9 Khoá X đã chỉ rõ “Cải cách hệ thống chính sách, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, công bằng trong thực hiện chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành, các địa phương, các đối tượng cán bộ; gắn chính sách cán bộ trong từng khâu của công tác cán bộ, gắn trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi; khuyến khích cán bộ công tác ở địa bàn khó khăn, ở cơ sở; cải cách cơ bản chế độ tiền lương, tiền tệ hoá tiền lương và các chế độ theo lương; ban hành chính sách về nhà ở, nhà công vụ đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang”
Trang 6Đối với ngành Tư pháp, trong những năm qua, cùng với việc ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về xây dựng, củng cố nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị, Đảng và Nhà nước đã ban hành những
chủ trương, chính sách về cải cách pháp luật và tư pháp như: Nghị quyết NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
08-24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật việt nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Đặc biệt, ngày 02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về "chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", trong đó Nghị quyết đã xác định mục tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ” Để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trên, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định một trong những giải pháp cơ bản,
có ý nghĩa quyết định, đó là: “Có cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có tâm huyết, đủ đức, tài vào làm việc ở các cơ quan tư pháp Mở rộng nguồn để
bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, không chỉ là cán bộ trong các cơ quan tư pháp mà còn là các luật gia, luật sư Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán bộ tư pháp ”
II Sự tăng cường, mở rộng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành Tư pháp trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI đến nay, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, quá trình phát triển, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCH đã và đang tác động mạnh mẽ, sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong đó đã đặt ra những yêu cầu
và nhiệm vụ mới đối với lĩnh vực pháp luật và tư pháp Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định những quan điểm, chủ trương, chính sách cơ bản, làm nền tảng cho quá trình đẩy mạnh cải cách sâu rộng về pháp luật và tư pháp ở nước ta Quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng, trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế, nhưng quá trình cải cách pháp luật và tư pháp đã đi vào cuộc sống, tạo ra sự chuyển biến về nhận
Trang 7thức, tư tưởng và hành động cụ thể, tác động trực tiếp vào quá trình đổi mới về
tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp và pháp luật
Đối với ngành Tư pháp, quán triệt và thể chế hoá những quan điểm trên, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức
và hoạt động của ngành Tư pháp, cụ thể như: Luật Công chứng (2006), Luật Trợ giúp pháp lý (2006), Luật Tương trợ tư pháp (2007), Luật Luật sư (2006), Luật Thi hành án dân sự (2008), Luật Quốc tịch (2008), Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về quản lý và đăng ký hộ tịch, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký Đồng thời, thực tiễn phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập khu vực và quốc tế, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã và đang đặt ra cho ngành Tư pháp những yêu cầu và nhiệm vụ mới với khối lượng công việc ngày càng lớn, với tính chất ngày càng phức tạp, đòi hỏi cao về tiến độ, chất lượng, hiệu quả
Để kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của ngành
Tư pháp ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Nghị định số 93/2008/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 62/2003/NĐ-CP Đối với cơ quan tư pháp địa phương: Căn cứ Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Nghị định số 16/2009/NĐ-CP ngày 16/02/2009 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung khoản 2 Điều 8 Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong đó xác định cụ thể vị trí và chức năng của Sở Tư pháp cấp tỉnh và Phòng Tư pháp cấp huyện và các quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan, Bộ
Tư pháp và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số BNV ngày 28/4/2009 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Uỷ ban nhân dân cấp xã (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV) thay thế Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLB/TP-NV Theo đó, ngoài các chức năng, nhiệm vụ mang tính truyền thống, kế thừa các văn bản pháp luật nêu trên còn bổ sung, tăng cường nhiều chức năng và nhiệm vụ, kiện toàn, thành lập một số tổ chức mới trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương,
01/2009/TTLT-BTP-cụ thể là:
Trang 8- Bộ Tư pháp được bổ sung, tăng cường chức năng và các nhiệm vụ quản
lý nhà nước về: theo dõi thi hành pháp luật; xây dựng pháp luật; hướng dẫn nghiệp vụ công tác pháp chế bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước và
hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; tương trợ tư pháp; bán đấu giá tài sản; nuôi con nuôi; đồng thời, cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp được sắp xếp, kiện toàn lại cho phù hợp với công việc được giao đảm nhiệm, trong đó các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước là 20 đơn vị (tăng 4 đơn vị so với Nghị định
số 62/2003/NĐ-CP), các đơn vị sự nghiệp là 08 đơn vị (tăng 02 đơn vị so với
Nghị định số 62/2003/NĐ-CP)
- Sở Tư pháp được bổ sung, tăng cường chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về: Thi hành pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trợ giúp pháp lý, bán đấu giá tài sản; đồng thời, cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp cũng tăng trung bình từ 1-2 đơn vị cấp phòng Phòng Tư pháp và Tư pháp cấp xã được bổ sung, tăng cường các nhiệm vụ quản lý nhà nước về: thi hành pháp luật, đăng ký và quản lý hộ tịch, chứng thực
Ngoài ra, từ khi Nghị định số 93/2008/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV được ban hành đến nay, trong lĩnh vực tư pháp, Nhà nước tiếp tục ban hành các văn bản có giá trị pháp lý cao như Luật Lý lịch tư pháp (2009), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (2009) Theo đó, ngành Tư pháp tiếp tục được giao thêm chức năng và nhiệm vụ mới về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp quốc gia tại Bộ Tư pháp và tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thống nhất quản lý về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Bên cạnh đó, theo lộ trình thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khoá X, ngành Tư pháp sẽ còn được giao đảm nhiệm những chức năng, nhiệm vụ mới như:
- Giúp Chính phủ, UBND các cấp thống nhất quản lý công tác thi hành
- Tiếp tục quản lý toàn diện, chuyên sâu về xây dựng và thi hành pháp
1 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đã xác định “chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp” (bao gồm thi hành án hình sự, dân sự và hành chính)
2 Bộ Tư pháp được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng dự án Pháp lệnh Pháp điển hoá văn bản quy phạm pháp luật để Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Bộ Tư pháp cũng đã được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng dự thảo Nghị định về công tác thi hành pháp luật
3
Hiện nay Bộ Tư pháp đang chủ trì xây dựng Luật Hộ tịch, Luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Hòa giải; sửa đổi Nghị định số 79/2007/NĐ-CP
Trang 9Như vậy, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của công tác tư pháp đã, đang và sẽ tiếp tục được tăng cường, mở rộng với phạm vi và đối tượng quản lý rộng lớn, tác động trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức trong xã hội Do đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp không chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải đủ về số lượng với cơ cấu hợp lý, có năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp không ngừng nâng cao, đủ sức hoàn thành tốt các nhiệm vụ trước mắt cũng như các nhiệm vụ lâu dài trong chiến lược phát triển của ngành Tư pháp, đáp ứng nhu cầu về pháp luật và tư pháp ngày càng tăng của xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế
III Tính chất đặc thù công việc của ngành Tư pháp
1 Trong hoạt động xây dựng pháp luật:
Xây dựng pháp luật là hoạt động cơ bản của nhà nước, là kết tinh của quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, là cả một quá trình nghiên cứu, tìm tòi, khảo nghiệm hiện thực xã hội, tổng kết thực tiễn, kế thừa kinh nghiệm, bài học lịch sử, nắm bắt các qui luật vận động của tự nhiên và xã hội nhằm mục tiêu thúc đẩy xã hội phát triển, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Do đó, trong công tác xây dựng pháp luật, để thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao đòi hỏi người làm công tác xây dựng pháp luật, phải nghiên cứu phân tích chủ trương, chính sách, nhìn nhận sự vật, hiện tượng xã hội trong sự vận động, tác động lẫn nhau và phát triển không ngừng, với những yêu cầu chuyên biệt, không chỉ trong lĩnh vực chuyên ngành mà cả trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nhưng đặc biệt là phải nhìn nhận dưới lăng kính pháp luật, bằng các phạm trù, chế định pháp luật, thông qua đặc trưng của cấu trúc pháp luật với tính cách là một loại đơn vị do lường, một khuôn thước làm chuẩn mực cho hành vi, cách ứng xử của con người, qua đó tạo hành lang pháp lý, khuôn viên, không gian pháp luật cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Bên cạnh đó xây dựng pháp luật đòi hỏi tuân thủ quy trình, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ, từ xây dựng chương trình, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra đến ban hành văn bản; đồng thời, trong các giai đoạn này, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều cơ quan đơn vị, tổ chức, cá nhân, bao gồm cả các tổ chức ngoài nhà nước, các chuyên gia, nhà khoa học nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo dân chủ, khách quan, minh bạch trong hoạt động xây dựng pháp luật, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Trang 10
2 Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Trong những năm qua, trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền từ Trung ương tới địa phương đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật Đây là việc làm cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo, ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, có không ít các văn bản được ban hành chưa đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền hoặc tuy được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền nhưng ngay từ khi được ban hành hoặc qua một thời gian thực hiện đã bộc lộ bất cập, không phù hợp với thực tiễn Những văn bản này đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; phá vỡ tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi của hệ thống pháp luật Do đó, việc kiểm tra, xử lý văn bản là một nhiệm vụ tất yếu, xuất phát từ chính yêu cầu xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, phục vụ trực tiếp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, việc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật không hề đơn giản mà rất phức tạp, khó khăn, đòi hỏi người thực hiện phải có chuyên môn, nghiệp vụ cao, không chỉ nắm vững các quy định của pháp luật trong lĩnh vực được kiểm tra mà còn phải am hiểu pháp luật thuộc các chuyên ngành khác có liên quan, thậm chí là cả hệ thống pháp luật; đồng thời, phải hiểu biết sâu về lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cũng như có kiến thức xã hội rộng để phân tích, tìm hiểu, đối chiếu các quy phạm pháp luật
để từ đó tìm ra các quy định mâu thuẫn, chồng chéo thậm chí trái với quy định
có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc không còn phù hợp với thực tiễn để kiến nghị
cơ quan, người có thẩm quyền xử lý, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
3 Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của một số chức danh tư pháp
Theo quy định hiện hành của pháp luật, hoạt động của các chức danh tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp (chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; trợ giúp viên pháp lý; công chứng viên và giám định viên tư pháp), ngoài những đặc điểm chung giống như lao động của các cán bộ, công chức và người lao động bình thường, còn có những đặc thù, khác biệt xuất phát
từ những yêu cầu về trình độ, năng lực chuyên môn; tính phức tạp, khó khăn
Trang 11của công việc; trách nhiệm đối với công việc cũng như hệ quả phát sinh từ công
việc do mình giải quyết, bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Lao động của các chức danh Tư pháp là lao động trí óc, phải tuân thủ đầy đủ, chặt chẽ các trình tự, thủ tục theo quy định; đồng thời, luôn được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của các cơ quan có thẩm quyền, của người dân Đặc trưng này đòi hỏi công chức, viên chức làm việc ở các vị trí này phải được đào tạo cơ bản, có lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm công tác, phải thường xuyên học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, phải tận tâm, tận lực với ngành Tư pháp
Theo quy định hiện hành, để được bổ nhiệm vào một chức danh tư pháp,
cá nhân phải có trình độ đại học trở lên (đối với các ngạch chấp hành viên, thẩm tra viên; công chứng viên và trợ giúp viên là từ cử nhân luật trở lên, có trình độ đại học trở lên đối với các chức danh tư pháp khác); đã được đào tạo, bồi dưỡng
về nghiệp vụ chuyên môn phù hợp với từng chức danh; có thời gian công tác trong lĩnh vực chuyên môn nhất định tuỳ từng chức danh tư pháp (bốn năm đối với chấp hành viên cấp huyện, 10 năm đối với chấp hành viên cấp tỉnh; năm năm đối với công chứng viên; đã qua thực tế hoạt động chuyên môn của chuyên ngành liên tục từ 5 năm trở lên đối với giám định viên pháp y và giám định viên pháp y tâm thần; có thời gian giúp việc giám định viên từ 5 năm trở lên đối với giám định viên kỹ thuật hình sự và pháp y công an nhân dân, ); tiếp sau đó, họ phải qua thời gian tập sự (đối với công chứng viên), phải được tuyển chọn bởi hội đồng tuyển chọn chấp hành viên trước khi được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm (đối với chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên sơ cấp, công chứng viên là Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đối với trợ giúp viên pháp lý là chủ tịch UBND cấp tỉnh ) Ngoài ra, tuỳ từng chức danh tư pháp, còn phải có các điều kiện khác như phải có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết, trung thành với
Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
- Công việc của các chức danh tư pháp luôn đòi hỏi tính trách nhiệm cao
do công việc mà họ giải quyết luôn có nhiều khó khăn, phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nếu để sảy ra sai sót thì hậu quả thường khó khắc phục, do vậy đòi hỏi một số chức danh tư pháp phải công bằng, vô tư, khách quan Để đạt được yêu cầu khắt khe đó, các chức danh
tư pháp phải luôn luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức, phải nghiêm khắc với mình Nói một cách khái quát, đặc thù này đòi hỏi các chức danh tư pháp phải
có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn tận tâm với nền công lý vì lợi ích của con người Đây là đặc điểm nổi bật nhất về tính đặc thù trong lao động của các chức danh tư pháp
- Lao động của các chức danh tư pháp là lao động đòi hỏi phải phục tùng nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật cũng như phải chịu trách nhiệm cá
Trang 12nhân trước pháp luật Muốn vậy, các chức danh tư pháp phải có bản lĩnh, dũng cảm đấu tranh với mọi sự can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của mình vì công lý Đây là một yêu cầu nghề nghiệp rất cao
IV Thực trạng đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp
1 Những kết quả đạt được
Trong hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Tư pháp Việt Nam, đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp bao gồm cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự địa phương (Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn (công chức Tư pháp - Hộ tịch) và các cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện) đã không ngừng được củng cố, kiện toàn và ngày càng lớn mạnh, là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Bộ, ngành và địa phương, đồng thời bảo đảm sự thống nhất quản lý công tác tư pháp
từ Trung ương đến cơ sở
1.1 Về số lượng: Đội ngũ cán bộ được kiện toàn, tăng cường về số
lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Hiện nay, toàn Ngành có trên 26 nghìn cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là cán bộ) làm việc tại Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp,
Tư pháp cấp xã và các cơ quan thi hành án dân sự địa phương Bộ Tư pháp có
1299 cán bộ, tăng 17,76% so với năm 2007 (xem Phụ lục 1) Sở Tư pháp có
3918 cán bộ, tăng trên 15% so với năm 2007 Phòng Tư pháp có 2811 cán bộ, tăng trên 7% so với năm 2007 và tăng 12% so với năm 2005, trong đó Phòng
Tư pháp có số lượng công chức lớn nhất là 11 công chức (Phòng Tư pháp thành phố Hội An, Phòng Tư pháp Quận 6 thành phố Hồ Chí Minh - xem phụ lục 4)
Tư pháp cấp xã có 12797 công chức/11.078 cấp xã (trung bình mỗi xã có 1,15 công chức, trong đó 1872/11.078 cấp xã có 02 công chức Tư pháp - Hộ tịch, chiếm 14,64%) và 1.286 người làm theo chế độ hợp đồng lao động, bằng 10,05% tổng số cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã (nếu tính cả số công chức Tư pháp - Hộ tịch và số cán bộ hợp đồng thì bình quân mỗi xã có 1,27 cán bộ, tăng
hành án dân sự địa phương có 8018 công chức, trong đó các Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh có 1449 công chức, các Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện
có 6.569 công chức Ngoài ra ngành Tư pháp còn quản lý hơn 2600 giám định viên tư pháp, trong đó có trên 400 giám định viên chuyên trách Bên cạnh đội ngũ cán bộ, công chức đang trực tiếp làm việc trong các cơ quan trong ngành
4 Số liệu tính đến ngày 31/5/2010 theo Báo cáo cáo sơ kết 01 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV
Trang 13Tư pháp, hiện có hàng ngàn công chứng viên và người làm tư vấn pháp luật làm việc trong các văn phòng công chứng, văn phòng luật sư, công ty luật, trung tâm
tư vấn pháp luật trong cả nước Đội ngũ cán bộ này là nhân tố quyết định việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Bộ và địa phương, đồng thời bảo đảm sự thống nhất quản lý công tác tư pháp từ trung ương đến cơ sở, góp phần xứng đáng vào các thành tựu chung của cả nước và của địa phương trong từng thời
kỳ
1.2 Về chất lượng: Chất lượng dội ngũ cán bộ ngành Tư pháp ngày càng
được nâng cao Hiện nay, trong 1299 cán bộ của Bộ Tư pháp có 02 giáo sư (tăng 100% so với năm 2007), 19 phó giáo sư (tăng 73% so với năm 2007, 130 tiến sỹ (tăng 27% so với năm 2007), 249 thạc sĩ, 678 cử nhân và 151 cao đẳng, trung cấp và trình độ khác (xem phụ lục 1) Sở Tư pháp có 73,83 % công chức
có trình độ từ cử nhân luật trở lên, trong đó có 05 tiến sỹ, 93 thạc sỹ và 2796 cử nhân Phòng Tư pháp có 74% công chức có trình độ cử nhân luật trở lên, trong
đó có 10 thạc sỹ, 2076 cử nhân Tư pháp cấp xã có trên 74,71 % công chức Tư pháp - Hộ tịch có trình độ trung học luật trở lên (trình độ đại học, cao đẳng đạt 20,47%, trình độ trung cấp đạt 54,24%), 15,54% công chức Tư pháp - Hộ tịch
có trình độ từ trung cấp khác trở lên, 91,33% công chức Tư pháp - Hộ tịch có trình độ trung học phổ thông Cơ quan thi hành án dân sự địa phương có trên 76% công chức có trình độ cử nhân luật trở lên, trong đó có 04 tiến sỹ, 52 thạc
sỹ và 6124 cử nhân (xem phụ lục 2)
Trình độ nghiệp vụ, kỹ năng hành chính và kỹ năng nghề nghiệp của cán
bộ trong ngành được nâng lên, từng bước đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ công tác tư pháp trong tình hình mới Tại Bộ Tư pháp, tổng số chuyên viên cao cấp và tương tương, chuyên viên chính và tương đương chiếm 24,2% tổng số cán bộ, trong đó có 34 chuyên viên cao cấp và tương đương (tăng 100% so với năm 2007), 263 chuyên viên chính và tương đương (tăng 12,9% so với năm 2007) Các Sở Tư pháp có tổng số chuyên viên cao cấp
và tương đương, chuyên viên chính và tương đương chiếm 10% tổng số cán bộ, trong đó có 28 chuyên viên cao cấp và tương đương (tăng 60% so với năm 2005), 355 chuyên viên chính và tương đương Ngoài ra, trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp cũng đã được cải thiện, nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Trước yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế thì đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp còn nhiều hạn chế, bất cập
Trang 142.1 Về số lượng: Mặc dù đã được quan tâm kiện toàn, bổ sung biên chế
cho Bộ Tư pháp, các cơ quan tư pháp và thi hành án dân sự địa phương, tuy nhiên, số lượng cán bộ trong ngành Tư pháp còn thiếu, chưa tương xứng và chưa đáp ứng được yêu cầu về nhiệm vụ, khối lượng và tiến độ công việc ngày càng tăng cao
Thực tiễn trong thời gian qua, Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới, nhiều nhiệm vụ được tăng cường,
mở rộng như: quản lý nhà nước về thi hành pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, lý lịch tư pháp, trách nhiệm bồi thường của nhà nước, bán đấu giá tài sản, phân cấp quản lý lĩnh vực hộ tịch và chứng thực cho cấp huyện và cấp xã Trong khi đó, việc bổ sung biên chế chưa đáp ứng và chưa tương xứng với khối lượng và công việc được giao, cụ thể là: Bộ Tư pháp, trong 03 năm 2008,
2009 và 2010 chỉ được giao bổ sung 51 biên chế (năm 2008 10 biên chế, năm
2009 30 biên chế, năm 2010 11 biên chế) công chức; các cơ quan tư pháp địa
dù tăng 3,5 công chức so với năm 2007 nhưng theo báo cáo của các địa phương thì đây là do số biên chế thực hiện tăng lên trong khi biên chế được phân bổ mới hầu như không tăng; Phòng Tư pháp có trung bình 04 công chức/phòng, chỉ
lượng (xem mục 1.1), đặc biệt, do thực hiện đẩy mạnh phân cấp quản lý các lĩnh vực tư pháp cho địa phương và cơ sở đã dẫn đến nhiệm vụ và khối lượng công việc của Tư pháp cấp xã tăng cao, nhất là trong các lĩnh vực hộ tịch và chứng thực (Trong lĩnh vực hộ tịch, trước khi có Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, bình quân mỗi công chức thực hiện 19 việc/tháng, trong khi đó tại thời điểm năm
2007 và quý 1 năm 2008 thì bình quân trong 01 tháng, một công chức Tư pháp phải thực hiện 39 việc, tăng 100% Trong lĩnh vực chứng thực, trước khi được chuyển giao nhiệm vụ chứng thực theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, bình quân công chức chỉ phải thực hiện 45 việc/tháng, trong khi đó, sau khi được chuyển giao, bình quân trong 01 tháng, một công chức phải thực hiện 317 việc,
pháp, Phòng Tư pháp, Tư pháp cấp xã và các cơ quan thi hành án dân sự địa phương) đều trong tình trạng quá tải về công việc, dẫn đến việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý một số lĩnh vực công tác tư pháp chưa đầy đủ, chưa sâu, hiệu quả chưa cao, đặc biệt là Phòng Tư pháp cấp huyện và Tư pháp cấp xã
5 Thời điểm các địa phương báo cáo tình hình thực hiện Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV
6 có 03 cấp huyện mới chỉ bố trí được 01 công chức (Huyện Pác Nặm - Bắc Kạn, H Khánh Sơn - Khánh Hòa,
H Yên Sơn - Tuyên Quang), 48 cấp huyện bố trí được 02 công chức, 210 Phòng Tư pháp có 03 công chức (chiếm 30%)
7 Có 9241 cấp xã mới chí có một công chức Tư pháp - Hộ Tịch, hơn một trăm cấp xã chưa có công chức Tư pháp - Hộ tịch chuyên trách mà mới chỉ bố trí được cán bộ hợp đồng hoặc công chức chức dang khác kiêm nhiệm công tác tư pháp
Trang 152.2 Cơ cấu cán bộ còn chưa hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngạch công chức
chưa phù hợp đặc điểm, tính chất của từng vị trí công việc, còn tồn tại trên thực
tế tình trạng chưa phù hợp giữa chức trách theo quy định của từng ngạch công chức với công việc thực tế của cán bộ được giao đảm nhiệm Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước trên 26 lĩnh vực bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, pháp luật, cơ chế, chính sách nhưng số lượng chuyên viên cao cấp và tương đương còn quá thấp, chỉ có 34 người/1229 cán bộ, chiếm 2,76%; chuyên viên chính và tương đương chỉ có 263 người, chiếm 21,4% Các
Sở Tư pháp chỉ có 28 chuyên viên cao cấp và tương đương/3918 cán bộ, công chức, viên chức, chiếm 0,71%; chuyên viên chính và tương đương cũng chỉ có
355 người, chiếm 9%, so với năm 2007 tuy có tăng 20 người nhưng về tỉ lệ thì lại giảm 2%
Cơ cấu cán bộ về ngành nghề chưa phù hợp, do lĩnh vực pháp luật và tư pháp, ngoài kiến thức về pháp luật còn đòi hỏi hiểu biết, nắm vững kiến thức thuộc các chuyên ngành khác, nhưng trong thời gian qua, ngành Tư pháp mới chỉ chủ yếu tuyển dụng cán bộ chuyên ngành luật Cơ cấu về độ tuổi cũng chưa phù hợp, còn hẫng hụt, chưa đảm bảo sự kế thừa giữa các thế hệ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý
2.3 Về chất lượng cán bộ: Chất lượng cán bộ, công chức vẫn còn nhiều
mặt chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu kiến thức về phân tích chính sách, kiến thức quản lý, kiến thức thực tiễn, ngoại ngữ, tin học, dẫn đến việc tham mưu, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện pháp luật, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế; thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, cán bộ có trình độ cao, các chuyên gia đầu ngành, có khả năng dự báo, xử lý tốt những vẫn đề phức tạp nảy sinh để tư vấn cho Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong phạm vi
bộ, ngành, địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế; phương pháp, lề lối làm việc chậm được đổi mới, chưa chủ động, sáng tạo và thích nghi với cơ chế và phương thức quản lý mới dẫn tới chất lượng, hiệu quả chưa cao Tại một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhiều công chức tư pháp công tác tại vùng đồng bào dân tộc ít người lại không biết tiếng của dân tộc nơi công tác nên ảnh hưởng đến việc triển khai các công tác tư pháp cơ sở như hoà giải, phổ biến giáo dục pháp luật Một bộ phận cán bộ chậm thích nghi với yêu cầu, hoàn cảnh mới, ý thức, tinh thần trách nhiệm chưa cao, còn có hiện tượng suy thoái về phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ
V Thực trạng thực hiện chính sách thu hút, tuyển chọn và chế độ, chính sách đối với cán bộ Ngành Tư pháp
1 Về thu hút, tuyển chọn cán bộ:
Trang 161.1 Ưu điểm và kết quả đạt được
a) Đối với các chính sách chung của Nhà nước:
Thời gian qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đã có nhiều quy định về thu hút và tuyển chọn người có năng lực, trình độ, tâm huyết với công việc vào làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của nhà nước Các quy định này có thể chia thành hai nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất bao gồm các quy định về thu hút, tuyển chọn người có trình độ cao vào làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập
Pháp lệnh Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có một số quy định ưu tiên trong thi tuyển, xếp lương cao hơn những người khác trong khi tuyển dụng đối với người có trình độ cao Luật Cán bộ, công chức năm 2008 cũng đã có quy định về chính sách thu hút, tuyển chọn đối với người
có trình độ cao, người có tài năng Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã quy định, căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển công chức và yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt: Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài; người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng
và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước cũng quy định ưu tiên trong tuyển dụng đối với người có trình độ cao, cụ thể: Những
người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng được cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi hoặc xét tuyển; người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; những người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng được cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi hoặc xét tuyển
Đối với người có trình độ cao, pháp luật đã quy định có ưu đãi về tiền lương Người tập sự (thử việc) có trình độ thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 2 của ngạch tuyển dụng; trường hợp người tập sự có trình độ tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 3 của ngạch tuyển dụng
Nhóm thứ hai bao gồm các quy định về thu hút, tuyển chọn cán bộ vào làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập ở miền núi, biên
Trang 17giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc ở một số nghề có tính chất đặc thù:
Đối với trường hợp tuyển dụng công chức, viên chức, Luật Cán bộ, công chức quy định, người có đủ điều kiện tuyển dụng cam kết tình nguyện làm việc
từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển; Nghị định 116/2003/NĐ-CP quy định người tình nguyện phục vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì được cộng 30 điểm vào tổng điểm thi tuyển hoặc xét tuyển
Ngoài các quy định về ưu tiên trong tuyển dụng, công chức, viên chức còn được hưởng các ưu đãi về tiền lương khi làm việc ở một số địa bàn và ngành nghề nhất định Cụ thể là: công chức, viên chức làm việc ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, khí hậu xấu được hưởng phụ cấp khu vực; làm việc ở đảo xa đất liền và vùng biên giới có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp đặc biệt; làm việc ở vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp thu hút; làm việc ở một số nghề hoặc công việc thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở được hưởng phụ cấp lưu động; làm nghề hoặc công việc có điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm và đặc biệt độc hại, nguy hiểm chưa được xác định trong mức lương thì được hưởng phụ cấp độc hại, nguy hiểm; làm những nghề hoặc công việc có điều kiện lao động cao hơn bình thường, có chính sách ưu đãi của Nhà nước mà chưa được xác định trong mức lương thì được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề; các chức danh xếp lương theo bảng lương chuyên môn, nghiệp
vụ và bảng lương chức vụ thuộc ngành Tòa án, Kiểm sát, Thanh tra và một số chức danh tư pháp được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề,
Bên cạnh các chính sách nên trên, các cơ quan, đơn vị từ Trung ương tới địa phương đã quan tâm, thực hiện tốt công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức; tạo môi trường làm việc tốt; công tác quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo được thực hiện theo đúng quy trình, đảm bảo khách quan, công bằng, bình đẳng, minh bạch, qua đó đã gián tiếp thu hút người vào làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập
b) Đối với Bộ Tư pháp
Là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng thuộc lĩnh vực xây dựng
và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, quản lý và tổ chức thi hành án dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và công tác tư pháp khác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước về một
số hoạt động dịch vụ, sự nghiệp công, trong những năm qua, công tác tuyển
Trang 18chọn cán bộ của Bộ Tư pháp được thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đảm bảo nghiêm minh, công bằng, công khai, dân chủ, chất lượng, hiệu quả theo đúng quy định của pháp luật
Với mục tiêu tuyển chọn những công chức có trình độ, năng lực, kinh nghiệm và tâm huyết, đồng thời đảm bảo cơ cấu về loại cán bộ, về trình độ chuyên môn, về tuổi giữa các thế hệ cán bộ, công chức, bước đầu Bộ đã vận dụng thực hiện cơ chế chính sách thu hút cán bộ vào làm việc tại cơ quan Bộ như: ưu tiên trong tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, người có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ đồng thời tiếp nhận các công chức đã có kinh nghiệm công tác thực tế ở các địa phương và đơn vị khác có nguyện vọng công tác lâu dài tại Bộ
Tư pháp
Bên cạnh các biện pháp thu hút, tuyển chọn cán bộ, với chức năng, nhiệm
vụ của mình trong công tác tổ chức cán bộ, trong những năm qua, Bộ Tư pháp
đã triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mặt về công tác cán bộ Công tác đánh giá cán bộ đã bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý đã thường xuyên được điều chỉnh để kịp thời bổ sung những cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, trình độ, năng lực, triển vọng vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý Công tác luân chuyển cán bộ đã tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, nhất là cán bộ trẻ có điều kiện được rèn luyện và thử thách, giúp cán bộ trưởng thành nhanh và toàn diện hơn Công tác đào tạo, bồi dưỡng được gắn với quy hoạch cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ của Bộ và
quan, dân chủ, căn cứ vào năng lực cán bộ và yêu cầu công việc Ngoài ra, Bộ
Tư pháp luôn chú trọng xây dựng môi trường làm việc thân thiện, dân chủ, đoàn kết, công khai trong mọi hoạt động, nhất là trong công tác tổ chức cán bộ Kết quả và ưu điểm trong công tác cán bộ của Bộ Tư pháp trong những năm qua đã góp phần thu hút nhiều người có trình độ cao, sinh viên đạt loại giỏi, người có năng lực, trình độ ngoài ngành và các địa phương vào làm việc tại các đơn vị thuộc Bộ
Công tác tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ trong thời gian qua đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, từng bước đáp ứng được yêu cầu kiện toàn tổ chức bộ máy Đây là những điều kiện quyết định để triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao Đối với các đơn vị thuộc Bộ (trừ các
cơ sở đào tạo), việc tuyển dụng và tiếp nhận từ năm 2007 đến nay đã thu được nhiều kết quả tốt: Năm 2007, tuyển dụng được 35 sinh viên tốt nghiệp loại khá
và 02 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, tiếp nhận và tuyển dụng 14 công chức từ các cơ quan, đơn vị khác về; năm 2008, tuyển dụng mới 03 sinh viên tốt nghiệp
8 Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1195/QĐ-BTP ban hành Quy chế chọn, cử và quản lý công chức, viên chức Bộ Tư pháp đi đào tạo, bồi dưỡng
Trang 19loại giỏi, tiếp nhận và tuyển dụng 18 công chức từ các cơ quan, đơn vị khác chuyển về; năm 2009, tuyển dụng mới được 01 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, 01 thạc sỹ tốt nghiệp ở nước ngoài, tiếp nhận và tuyển dụng 16 công chức từ các cơ quan, đơn vị khác chuyển về công tác tại Bộ Tư pháp; năm 2010 tuyển dụng được 65 công chức, trong đó có 41 công chức ngạch chuyên viên pháp lý Các
cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ, cơ quan thi hành án dân sự địa phương cũng đã tuyển dụng, tiếp nhận được nhiều cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra
Đối với những cơ quan, đơn vị còn thiếu hụt về số lượng và chưa đáp ứng
về chất lượng cán bộ hoặc để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng, Bộ
Tư pháp đã thực hiện ưu tiên trong tuyển dụng, thuyên chuyển như nâng lương trước thời hạn, xem xét bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý trước khi thuyên
c) Đối với các cơ quan tư pháp địa phương
Việc thực hiện các chính sách thu hút, tuyển chọn cán bộ của các cơ quan
tư pháp địa phương cơ bản được thực hiện thống nhất theo quy định của Trung ương và của tỉnh Thời gian gần đây, mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ chế, chính sách, nhưng nhiều địa phương đã mạnh dạn, chủ động, vận dụng linh hoạt các quy định hiện hành để ban hành nhiều chính sách “trải thảm đỏ” để thu hút người có trình độ cao về làm việc ở các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp
tượng là thủ khoa, sinh viên đã tốt nghiệp loại khá, giỏi, cán bộ, công chức, viên chức và những người có học hàm, học vị cao như giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa cấp I, cấp II Các đối tượng thuộc diện thu hút được
tuyển dụng (không qua thi tuyển) hoặc tiếp nhận và bố trí công tác, ngoài việc
hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Nhà nước còn được Uỷ ban nhân dân tỉnh hỗ trợ một lần như ưu đãi cấp, thuê, thuê mua hoặc được mua nhà ở với giá ưu đãi, trợ cấp ban đầu, ưu tiên thu xếp công việc cho cả vợ (chồng) đi kèm, Ngoài ra, sau khi được tuyển dụng và nhận hỗ trợ một lần bằng tiền mặt, tại một số địa phương, các đối tượng còn được ưu tiên mua đất làm nhà ở theo giá sàn của Nhà nước quy định; tạo điều kiện cho đi đào tạo, bồi dưỡng ở trong
9 Bộ Tư pháp hỗ trợ một lần là 3.000.000 đồng cho mỗi cán bộ, giảng viên đã là cán bộ, công chức, viên chức của Bộ Tư pháp đến công tác tại Trường Trung cấp Luật Buôn Mê Thuột tại tỉnh Đắk Lắk và Trường Trung cấp Luật Vị Thanh tại tỉnh Hậu Giang
10 Khoản 5 Điều 17 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
có thẩm quyền: “Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ, công chức trên địa bàn phù hợp với khả năng của ngân sách địa phương”
Trang 20nước và nước ngoài11 Có địa phương đã thực hiện thí điểm thi tuyển cạnh tranh
Nhận xét chung: Trong những năm qua, Nhà nước, các bộ, ngành, địa
phương, trong đó có Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương đã thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về thu hút, tuyển chọn cán bộ; đồng thời, có nhiều cố gắng trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số chính sách nhằm thu hút, tuyển chọn, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức vào làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ Tư pháp và các địa phương Các chính sách này tập trung chủ yếu vào giải quyết chế độ thu hút
và chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức, góp phần bổ sung bước đầu về số lượng, tăng cường về chất lượng nguồn nhân lực Mặc dù còn khiêm tốn, nhưng
đã bổ sung tương đối kịp thời nguồn nhân lực có trình độ cho các vùng núi, vùng sâu, vùng xa Nhìn chung, những người được thu hút, tuyển chọn đều được bố trí công tác phù hợp với chuyên môn được đào tạo, có điều kiện để phát huy năng lực, sở trường của bản thân
1.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:
a) Đối với chính sách chung của nhà nước
Với các chính sách nêu trên, thời gian qua, các bộ, ngành, địa phương chưa thu hút được nhiều người có năng lực, trình độ vào làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Rất ít sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi vào làm việc trong các cơ quan nhà nước; một số người được nhận vào làm việc, sau một thời gian lại ra đi do nhiều nguyên nhân khác nhau Việc thu hút cán bộ đến công tác tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, và trong một số ngành nghề có tính chất đặc thù ngày càng khó khăn, không tuyển dụng đủ số lượng đặt ra
Nguyên nhân là chính sách thu hút, tuyển chọn của Nhà nước đã được áp dụng trong nhiều năm và chậm được đổi mới cho phù hợp, chưa đủ mạnh, mới chỉ dừng lại ở các quy định về ưu tiên trong tuyển dụng, thực hiện chế độ tập sự
và ưu đãi về lương đối với người có trình độ cao mà chưa có tính hệ thống, chiến lược, chưa có các giải pháp đột phá, do đó chưa thực sự hấp dẫn, khả thi trong thu hút, tuyển chọn nhân tài và người có trình độ cao, chưa bảo đảm thống nhất những chính sách cơ bản giữa các vùng, miền và các chính sách mang tính đặc thù, chưa giải quyết vấn đề căn bản đó là chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức Bên cạnh đó, môi trường làm việc trì trệ, quan liêu, việc tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm công chức thiếu công khai, minh bạch, chưa thật sự dựa trên tiêu chí năng lực
11 Vĩnh Phúc, Bình Dương, Bắc Ninh, Thành phố Đà Nẵng
12 Thành phố Đà nẵng đã thực hiện thí điểm thi tuyển đối với một số chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các đơn vị
sự nghiệp
Trang 21b) Đối với Bộ Tư pháp:
Hiện nay, được vào làm việc tại các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp là niềm mơ ước của nhiều sinh viên chuyên ngành luật Bộ Tư pháp vẫn là địa chỉ hấp dẫn của các sinh viên mới ra trường, số lượng người thi tuyển vẫn cao hơn nhiều lần
so với chỉ tiêu tuyển dụng Tuy nhiên, thực tiễn công tác tuyển dụng những năm qua cho thấy sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi về làm việc tại Bộ Tư pháp ngày càng ít; số lượng đăng ký dự tuyển có xu hướng giảm, mặc dù yêu cầu về kết quả học tập có hạ xuống nhưng số người đăng ký dự tuyển không tăng, tỉ lệ giữa người dự tuyển trên chỉ tiêu tuyển dụng ngày càng giảm Năm 2002, Bộ tuyển dụng 30 chỉ tiêu thì có gần 800 người dự tuyển, với tỉ lệ là 1/26 Năm
2005, tuyển dụng 26 chỉ tiêu với yêu cầu tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật loại khá trở lên thì có gần 200 người dự tuyển, tỉ lệ là 1/7,7 Năm 2007, tuyển dụng 37 chỉ tiêu cũng với yêu cầu tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật loại khá trở lên thì chỉ có 180 người dự tuyển, với tỉ lệ là 1/5 Năm 2009, Bộ tuyển dụng 40 chỉ tiêu với yêu cầu học sinh tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật có điểm trung bình là 6.5 trở lên nhưng chỉ có 185 hồ sơ dự tuyển, với tỉ lệ là 1/4,6 (thấp nhất trong các kỳ tuyển dụng gần đây)
Tại nhiều cơ quan thi hành án dân sự địa phương, việc tuyển dụng công chức gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn thi tuyển Sinh viên tốt nghiệp không muốn làm việc trong các cơ quan thi hành án dân sự vì sự phức tạp, khó khăn, nguy hiểm trong công việc trong khi đãi ngộ chưa thật sự phù hợp, tương xứng với tính chất công việc
Bên cạnh đó, hiện tượng cán bộ, công chức xin chuyển công tác hoặc xin thôi việc tuy chưa trở thành làn sóng nhưng đã tăng liên tục trong những năm gần đây, đặc biệt là cán bộ, công chức đang công tác tại Bộ Tư pháp và các cơ
Bộ Tư pháp cũng như các Bộ, ngành chưa được ban hành cơ chế thu hút, đãi ngộ nhân tài như các địa phương vì trái với các quy định hiện hành về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá cán bộ, công chức; việc thực hiện cơ chế tự chủ về biên chế và tài chính để chủ động trong việc thu hút, bố trí và đãi ngộ nhân tài còn hạn chế, vướng mắc
c) Đối với các địa phương:
Các chính sách thu hút, tuyển chọn của các địa phương chưa đồng bộ, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa trọng dụng, đãi ngộ với trợ cấp khó khăn, trợ cấp ban đầu, do đó, chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn, chưa phát
13 Tại Thành Phố Hồ chí Minh, trong 03 năm từ năm 2005 đến năm 2007 đã có 40 công chức xin nghỉ việc và chuyển công tác Đặc biệt, trong 06 tháng đầu năm 2008 đã có 15 công chức xin nghỉ việc hoặc chuyển công tác khác
Trang 22hiện và thu hút được nhiều người có tài năng, có trình độ cao vào làm việc Tỷ
lệ sinh viên tốt nghiệp đại loại giỏi, người có trình độ học vấn cao đăng ký thi tuyển vào cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập chưa cao; sinh viên
hệ chính quy về công tác tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa còn ít, người có trình độ đại học không muốn về nhận công tác tại cấp xã
Các địa phương khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội thiếu nguồn lực để thực hiện chính sách thu hút, bố trí, đãi ngộ nhân tài vào làm việc trong cơ quan nhà nước
Việc thực hiện các quy định về quản lý, sử dụng cán bộ còn nhiều tồn tại, hạn chế, bất cập
từ ngân sách nhà nước
- Tiền lương tối thiểu chung đã liên tục được điều chỉnh (điều chỉnh mức lương tối thiểu chung từ 210.000 đồng/tháng năm 2003 lên đến 730.000 đồng/tháng năm 2010, tăng 248%), đã tiếp cận gần hơn với mặt bằng tiền công trên thị trường lao động
- Quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình (đại học hết tập sự) - tối đa (chuyên gia cao cấp bậc ba, tương đương mức lương của Bộ trưởng) được mở rộng, dãn cách từ 1 - 1,78 - 8,5 lên 1- 2,23 - 10, trong đó các mức lương thấp (nhân viên, cán sự) có mức tăng cao hơn để đảm bảo cuộc sống của số đông cán
bộ, công chức, viên chức So với trước khi cải cách tiền lương (tháng 12/2002) thì mức độ điều chỉnh tăng tiền lương (gồm tăng mức lương tối thiểu chung và
mở rộng quan hệ tiền lương) là:
+ Mức lương tối thiểu chung (hệ số 1,0): điều chỉnh từ 210.000 đồng/tháng lên 730.000 đồng/tháng, tăng 3,48 lần (tăng 248%);
+ Mức lương trung bình (đại học hết tập sự) điều chỉnh từ 373.800 đồng/ tháng (hệ số 1,86 x 210.000) lên 1.708.200 đồng/tháng (hệ số 2,34 x 730.000), bằng 4,57 lần (tăng 357%);
Trang 23+ Mức lương chuyên môn tối đa (chuyên gia cao cấp bậc 3): điều chỉnh
từ 1.785.000 đồng/tháng (hệ số 8,5 x 210.000) lên 7.300.000 đồng/tháng (hệ số 10,0 x 730.000), bằng 4,1 lần (tăng 310%)
Như vậy, mức tăng lương đối với cán bộ, công chức, viên chức đã tăng so với trước khi cải cách là từ 248% đến 310%
- Hệ thống thang lương, bảng lương và các chế độ phụ cấp đã thu gọn được từ hàng chục bảng lương xuống còn 8 bảng lương
Các chế độ phụ cấp cơ bản được xây dựng đầy đủ bao gồm: phụ cấp chức
vụ lãnh đạo, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp khu vực, phụ cáp trách nhiệm theo nghề,
Đối với cán bộ ngành Tư pháp: Cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư
pháp được hưởng chính sách tiền lương theo quy định chung của nhà nước; đồng thời, công chức, viên chức ở một số ngạch còn được hưởng chế độ phụ cấp theo quy định, cụ thể như sau:
- Phụ cấp ưu đãi theo nghề: Mức phụ cấp ưu đãi theo nghề 25% (mức lương hiện hưởng) đối với giảng viên của Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp; 30% áp dụng đối với giảng viên của Trường Trung cấp Luật
50% áp dụng cho giám định viên pháp y, người giúp việc giám định viên pháp y; giám định viên pháp y tâm thần và người giúp việc giám định viên pháp y tâm thần
- Phụ cấp trách nhiệm theo nghề áp dung đối với công chứng viên; chấp
+ Mức 15% (mức lương hiện hưởng) áp dụng đối với Công chứng viên; + Mức 25% áp dụng đối với chấp hành viên cấp tỉnh;
+ Mức 30% áp dụng đối với chấp hành viên cấp huyện;
+Mức 15% áp dung đối với thẩm tra viên cao cấp;
+ Mức 20% áp dụng đối với thẩm tra viên chính;
+ Mức 25% áp dụng với thẩm tra viên;
+ Mức 25 % áp dụng đối với trợ giúp viên pháp lý
b) Về cơ chế quản lý tiền lương
Trang 24Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
tổ chức khoa học và công nghệ công lập; Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 11/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (các nội dung
về phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương trong việc quyết định nâng bậc lương, xây dựng chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức chuyên ngành); các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đã ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, qua đó đã kinh phí để chi thu nhập tăng thêm, góp phần nâng cao mức sống cho cán bộ, công chức, viên chức
c) Về cơ chế tài chính và các chế độ, định mức đặc thù liên quan đến các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ngành Tư pháp
Thực hiện Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị, theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, hiện nay, định mức chi thường xuyên của Bộ Tư pháp và các cơ quan thi hành án dân sự địa phương đã được Chính phủ bố trí tăng thêm bằng với định mức của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Ngoài ra, xuất phát từ các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ mang tính đặc thù của ngành Tư pháp, trong những năm qua, đã có nhiều quy định về các chế độ, định mức đặc thù cho hoạt động của Ngành như: kinh phí hỗ trợ xây
thực hiện công việc như: trợ giúp viên pháp lý được hưởng phụ cấp vụ việc
chế thi hành án được bồi dưỡng 50.000 đồng/người/ngày, cán bộ trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án được hưởng bồi dưỡng 40.000đồng/người/ngày tham
với mức từ 60.000 đồng đến 250.000 đồng, được bồi dưỡng theo vụ việc với
17 Thông tư 100/2006/TT-BTC ngày 23/6/2006 của Bộ Tài chính về hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
18 Thông tư liên tịch 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn
về quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
19 Thông tư liên tịch 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
20 Điều 26 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý
21 Quyết định 73/2007/QĐ-TTg ngày 25/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự
Trang 25mức từ 80.000 đến 3.000.000 đồng/22 Các khoản chi này cũng đã góp phần tăng thêm thu nhập, bù đắp những hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù đòi hỏi trình độ, năng lực, tính chuyên sâu, chuyên môn hoá cao, có tính chất hoàn toàn khác với các hoạt động của chuyên môn theo yêu cầu
d) Về chính sách nhà ở
Hiện nay, đại đa số cán bộ, công chức đều có nhà ở hoặc chỗ để ở Trong
đó, một bộ phận nhỏ có nhà ở rộng rãi, tiện nghi hoặc thừa nhà ở dùng cho thuê Những người này thường là đối tượng được Nhà nước ưu đãi về nhà ở, có khả năng và có thu nhập thêm ngoài lương hoặc được thừa kế, tặng cho, Bên cạnh
đó, một bộ phận cán bộ, công chức có nhà ở do được thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; được phân nhà, phân đất làm nhà ở theo các chính sách trước đây của Nhà nước Tuy vậy, quỹ nhà ở thuộc dạng này đã được cho cán bộ, công chức thuê hoặc bán cho người thuê đã lâu (chủ yếu là cán bộ, công chức vào biên chế
từ trước năm 1992), có thiết kế bất hợp lý, kiến trúc lạc hậu và hầu hết đã xuống cấp, hư hỏng
Năm 1992, Nhà nước đã bãi bỏ chế độ phân phối nhà ở và thay vào đó là quy định về giá cho thuê nhà ở và đưa tiền nhà ở vào tiền lương (tiền nhà trong
cơ cấu tiền lương chỉ vào khoảng 7,5%)
2.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
so với tương quan giữa các ngành, nghề, do đó chưa tạo điều kiện khuyến khích,
sử dụng, thu hút người làm việc có chất lượng trong khu vực nhà nước
Đối với cán bộ, công chức ngành tư pháp, bên cạnh những tồn tại hạn chế nói chung của chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức nhà nước, hiện nay, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với các chức danh tư pháp cũng tồn tại nhiều bất cập như: chế độ phụ cấp ưu đãi theo
22
Quyết định 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp
Trang 26nghề đối với giám định viên pháp y, giám định viên pháp y tâm thần; phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với chấp hành viên, thẩm tra viên, công chứng viên, trợ giúp viên pháp lý còn thấp, chưa phù hợp với tính chất nặng nhọc, khó khăn, phức tạp của công việc; chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp chưa được ban hành đầy đủ và kịp thời, chưa có quy định về tính phí giám định để làm cơ sở cho việc tính, chi trả các chi phí cần thiết cho việc thực hiện giám định, chưa có mục chi ngân sách riêng bảo đảm cho việc trưng cầu, thực hiện giám định trong hoạt động tố tụng hình sự; chế độ đãi ngộ đối với cán bộ trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án còn thấp, chưa tương xứng với tính chất phức tạp và nặng nhọc của công việc,
Những hạn chế, bất cập trên dẫn tới thực tế là tiền lương của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức ngành Tư pháp nói riêng chưa đảm bảo tái sản xuất sức lao động, chưa thực sự trở thành thước đo giá trị lao động, chưa phản ánh được đầy đủ đặc thù nghề nghiệp và tương xứng với sự đóng góp, cống hiến cũng như yêu cầu về trách nhiệm, về nhiệm vụ ngày càng mở rộng và tăng cường đối với công chức, viên chức là các chức danh tư pháp; chưa thể chế đầy đủ quan điểm trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 07/8/2003 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để kinh tế phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ máy nhà nước Kết quả khảo sát đối với cán bộ, công chức cơ quan Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Cục thi hành án dân sự cho thấy: 92% cán bộ, công chức cơ quan Bộ Tư pháp, 38% cán bộ lãnh đạo Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự, 32% công chức Sở Tư pháp, 33% công chức cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh cho biết thu nhập từ lương chỉ đáp ứng dưới 50% nhu cầu sinh hoạt
Những tồn tại, hạn chế nêu trên là do các chính sách trên chưa đủ mạnh, chưa giải quyết được vấn đề cốt lõi nhất, đó là chính sách tiền lương còn thấp so với mặt bằng thu nhập của xã hội, việc trả lương chưa gắn với kết quả công việc; việc cải cách, sửa đổi chưa kịp thời, thêm vào đó là môi trường làm việc, đánh giá cán bộ chưa thật sự phù hợp, chưa khuyến khích, tạo động lực cho cán
bộ có trình độ cao phát huy năng lực, sở trường và gắn bó lâu dài với cơ quan, địa phương; chưa tính được sự tác động của thị trường lao động trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dẫn đến chuyển dịch lao động có chất lượng cao từ khu vực nhà nước sang khu vực khác có tiền lương cao hơn Do
đó, việc giữ chân cán bộ, công chức có năng lực trình độ, nhất là số cán bộ được đào tạo cơ bản và đào tạo ở nước ngoài, cán bộ có kinh nghiệm công tác tiếp tục gắn bó lâu dài với Bộ cũng gặp nhiều khó khăn, số cán bộ xin chuyển công tác hay thôi việc có chiều hướng gia tăng
Trang 27b) Về cơ chế quản lý tiền lương
Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và kiểm soát thu nhập ngoài lương của cán bộ, công chức, viên chức chưa được triển khai hiệu quả, còn chậm, kết quả thấp, nhiều quy định chưa phù hợp nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, nhất là các quy định về khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước
c) Về chế độ, định mức đặc thù liên quan đến các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ngành Tư pháp
Các định chế độ, định mức đặc thù cho hoạt động của Ngành đã được xây
dựng và ban hành trong thời gian dài, đến nay đã lạc hậu nhưng chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời như: kinh phí xây dựng, thi hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật; kinh phí đặc thù trong thi hành án dân sự, trợ giúp pháp lý, giám định viên tư pháp
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên là do chưa có nhận thức đúng về các công việc mang tính đặc thù của ngành Tư pháp Trên thực tế, các chế độ, định mức cho các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù của ngành
Tư pháp hiện nay như xây dựng, theo dõi và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được xác định là các khoản kinh phí để triển khai thực hiện nhiệm vụ mà chỉ là kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động trên, các chế độ bồi dưỡng chưa được mở rộng cho các chức danh tư pháp và còn ở mức thấp
d) Về nhà ở
Hiện nay, phần lớn cán bộ, công chức, viên chức có khó khăn về chỗ ở Một bộ phận đang ở nhà bố mẹ, người thân Một số lượng lớn (chủ yếu là cán
bộ trẻ) thuê nhà của tư nhân để ở Chỗ ở của các đối tượng này thường không
ổn định lâu dài Những người thuê nhà của tư nhân thì ở trong điều kiện chật hẹp, không đảm bảo vệ sinh và kém an toàn; bên cạnh đó, hàng tháng công chức phải trích một khoản tiền khá lớn (từ 30-50%) từ tiền lương để trả tiền thuê nhà
ở
Nhà nước đã bãi bỏ chế độ phân phối nhà ở, thay vào đó là quy định về giá cho thuê nhà ở và đưa tiền nhà ở vào tiền lương Tuy nhiên, tỉ lệ tiền nhà ở trong cơ cấu tiền lương còn quá thấp (khoảng 7,5%) so với giá nhà ở trên thị trường; bên cạnh đó chưa bảo đảm sự công bằng vì tất cả mọi người hưởng lương đều được hưởng tiền nhà ở trong lương, không phân biệt giữa những người đã được phân nhà ở, đất ở và những người chưa được phân nhà ở, đất ở
Ngoài ra, tuy Luật Nhà ở (năm 2005) đã quy định chế độ thuê, thuê mua nhà ở, về quỹ nhà ở cho người có thu nhập thấp (trong đó phần đông là cán bộ, công chức) Tuy nhiên, chưa có các giải pháp đồng bộ, có tính đột phá để giải
Trang 28quyết nhu cầu nhà ở cho cán bộ, công chức; việc kiểm tra, kiểm soát, đôn đốc thực hiện chính sách nhà ở còn nhiều bất cập và yếu kém
Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc xây dựng Đề án đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn và đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ ngành Tư pháp là hết sức cần thiết nhằm xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ để phát triển đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ đặt
ra trong giai đoạn hiện nay, chuẩn bị các điều kiện để đón nhận những chức năng, nhiệm vụ mới được giao trong tiến trình cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
PHẦN THỨ HAI QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP
1.1 Đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn và đổi mới chế độ, chính sách đối
với cán bộ thuộc ngành Tư pháp phải phù hợp với chủ chương, đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với lộ trình cải cách hành chính, cải cách pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
1.2 Đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn và đổi mới chế độ, chính sách đối
với cán bộ thuộc ngành Tư pháp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, phù hợp
với các đặc điểm, đặc thù của ngành Tư pháp, trong đó đề cập đồng thời các giải pháp thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước cấp trên, của Bộ Nội vụ cũng như các giải pháp trong phạm vi thẩm quyền của Bộ Tư pháp và chính quyền địa phương; đối với những chính sách chung thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhà nước cấp trên hoặc của cơ quan khác thì kiến nghị các giải pháp thực hiện chung trong cả nước, trong đó có những chính sách đặc thù đối với cán bộ của ngành Tư pháp
1.3 Việc xây dựng cơ chế thu hút, tuyển chọn và đổi mới chế độ, chính
sách đối với cán bộ thuộc ngành Tư pháp phải bảo đảm tính kế thừa, đồng bộ,
thống nhất, khả thi, có bước đi phù hợp; đồng thời, chú trọngmạnh dạn thực hiện các giải pháp mới, có tính đột phá để đáp ứng yêu cầu về chức năng, nhiệm
vụ được tăng cường, mở rộng của ngành Tư pháp trong tiến trình cải cách hành chính, cải cách pháp luật, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
2 Mục tiêu
Trang 292.1 Mục tiêu chung
Đổi mới cơ bản cơ chế, chính sách tuyển chọn, quản lý, sử dụng cán bộ nhằm thu hút người có trình độ, năng lực phù hợp với yêu cầu công việc, vị trí công tác, tâm huyết với nghề nghiệp và các chuyên gia giỏi vào công tác tại các
cơ quan thuộc ngành Tư pháp, phấn đấu đến năm 2020 xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức ngành tư pháp đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất và trình độ, chính quy, chuyên nghiệp, đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của ngành Tư pháp trước yêu cầu đặt ra khi nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại
Cùng với đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ làm việc tại các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị theo quan điểm của Đảng: “coi việc trả lương đúng cho người lao động là đầu tư cho phát triển”; “cải cách tiền lương tiến tới bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội”, cần nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các chế
độ, chính sách đặc thù đối với đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tiêu chuẩn hoá, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ phù hợp với nhiệm vụ
và vị trí việc làm được giao đảm nhiệm;
- Đổi mới cơ chế, quy trình tuyển dụng, tiếp nhận, chế độ, chính sách ưu đãi về xếp lương và các chế độ, chính sách ưu đãi, hỗ trợ khác để thu hút, tuyển chọn cán bộ, người có đủ trình độ, năng lực và những người có trình độ cao vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị trong ngành Tư pháp;
- Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, sử dụng cán
bộ Thí điểm thực hiện chế độ thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với cấp phòng tiến tới áp dụng thi tuyển cán bộ lãnh đạo từ cấp vụ và tương đương trở xuống trong đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự địa phương; phối hợp với Bộ Nội vụ chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện việc thi tuyển đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp;
- Đổi mới chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức trong đó chú trọng đến các quy định đặc thù về tiền lương của cán bộ ngành Tư pháp, bao gồm: Phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên đối với các chức danh Tư pháp; đổi mới cơ chế tài chính và các khoản chi mang tính đặc thù cho hoạt động của ngành Tư pháp nhằm thu hút trí tuệ, chất xám của các nhà quản
lý, nhà khoa học trong và ngoài ngành Tư pháp;
- Xây dựng các chính sách đãi ngộ về nhà ở, chăm sóc sức khoẻ và các chính sách đãi ngộ khác đối với cán bộ ngành Tư pháp,
II Nhiệm vụ, giải pháp
Trang 301 Xây dựng, hoàn thiện cơ cấu ngạch và tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức ngành Tư pháp
Nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các ngạch và tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức ngành Tư pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp, của mỗi cơ quan Tư pháp từ trung ương tới địa phương trong giai đoạn hiện nay, làm cơ sở để tuyển dụng, bố trí, sắp xếp, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức
1.1 Sửa đổi tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức hành chính ngành Tư pháp
Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức hành chính ngành Tư pháp được ban hành từ năm 1993 khi nước ta đang ở giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đến nay, sau gần 20 năm áp dụng, các quy định này có nhiều điểm không phù hợp với thực tiễn, do đó, cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp
1.2 Đối với các ngạnh công chức thi hành án dân sự
Xây dựng mã ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức thi
hành viên sơ cấp, thư ký thi hành án, thư ký trung cấp thi hành án; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch thẩm tra viên cao cấp, thẩm tra
viên chính và thẩm tra viên thi hành án dân sự
1.3 Đối với công chứng viên
Xây dựng, sửa đổi tiêu chuẩn của công chứng viên theo hướng nâng cao tiêu chuẩn cho phù hợp với tính chất công việc đòi hỏi chuyên môn, nghiệp vụ cao, liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các giao dịch dân sự ngày càng phức tạp của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, nâng cao các hệ số lương của ngạch công chứng viên bằng với các ngạch công chức tư pháp cấp tỉnh như chấp hành viên trung cấp, thẩm phán cấp tỉnh Việc xây dựng chế độ lương của Công chứng viên theo 1 ngạch là phù hợp với thông lệ quốc
tế, phù hợp với yêu cầu xác định công chứng viên là một nghề để đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động này trong thời gian tới
1.4 Đối với trợ giúp viên pháp lý
23 Thông tư số 10/2010/TT-BNV ngày 28/10/2010 của Bộ Nội vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự
Trang 31Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới tiêu chuẩn ngạch đối với trợ giúp viên
1.5 Xây dựng chức danh đấu giá viên và đăng ký viên là những viên
chức trực tiếp thực hiện bán đấu giá tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm Đây
là hai chức danh viên chức có công việc rất đặc thù, đòi hỏi chuyên môn, nghiệp
vụ và trách nhiệm nghề nghiệp rất cao; đồng thời, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi các viên chức này phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với kết quả công việc của mình
1.6 Đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã
Nghiên cứu xây dựng hai chức danh công chức làm công tác tư pháp tại cấp xã, bao gồm Hộ tịch viên và công chức Tư pháp cấp xã Trong đó, Hộ tịch viên sẽ thực hiện nhiệm vụ về đăng ký và quản lý hộ tịch Điều kiện, tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với Hộ tịch viên sẽ được quy định cho phù hợp với yêu cầu của một chức danh tư pháp Chức danh công chức Tư pháp sẽ đảm nhiệm những nhóm nhiệm vụ còn lại của Tư pháp cấp xã Giải pháp này sẽ góp phần
ổn định về mặt số lượng cũng như nâng cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ do được chuyên môn hóa của đội ngũ làm công tác hộ tịch, nhiệm vụ đặc biệt quan
trọng của công tác Tư pháp hiện nay
2 Xây dựng, hoàn thiện cơ cấu công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị ngành Tư pháp
Công chức trong ngành Tư pháp đảm nhận nhiều loại công việc khác nhau, do đó yêu cầu về trình độ, tiêu chuẩn cũng khác nhau, vì vậy cần xây dựng cơ cấu công chức trong từng đơn vị, lấy đó làm cơ sở trong tuyển dụng và đào tạo, bồi dưỡng công chức, khắc phục tình trạng đại học hoá các vị trí công tác trong các cơ quan, đơn vị trong Ngành
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy trình giải quyết công việc của các cơ quan, đơn vị trong ngành Tư pháp trong từng thời kỳ để xây dựng, hoàn thiện
cơ cấu cán bộ cho phù hợp; trong đó cần nghiên cứu, xây dựng các cơ cấu cán
bộ, công chức, viên chức, bao gồm:
2.1 Cơ cấu các chức danh lãnh đạo, quản lý và cán bộ chuyên môn
nghiệp vụ, cơ cấu ngạch công chức, viên chức phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, mô hình, cơ cấu tổ chức của mỗi đơn vị cũng như vị trí, vai trò, tính chất công vụ, nhiệm vụ được giao
24 Ngày 04/10/2010 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 15/2010/TT-BTP quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức trợ giúp viên pháp lý
Trang 32Tại Bộ Tư pháp đảm bảo 20% công chức là chuyên viên cao cấp và tương đương; 30% chuyên viên chính và tương đương, 40 % chuyên viên và tương đương, 10% cán sự và nhân viên phục vụ
Tại các Sở Tư pháp, có từ 1 đến 3 chuyên viên cao cấp, 30% là chuyên viên chính và tương đương, 50 % là chuyên viên và tương đương, còn lại là cán
sự và công chức khác
Tại các Phòng Tư pháp, có từ 1 đến 2 chuyên viên chính còn lại là chuyên viên và cán sự
chức của cơ quan thi hành án theo hướng không nhất thiết tất cả các chức danh công chức đều nhất thiết phải có trình độ cử nhân mà theo yêu cầu cụ thể của từng loại công viêc Cụ thể, đối với cấp huyện ngoài các chức danh cần có trình
độ cử nhân luật như Chấp hành viên thì số còn lại cần bố trí một lượng thích hợp những người có trình độ Trung cấp để giúp việc theo hướng đào tạo chuyên sâu, có tính ổn định lâu dài Các ngạch công chức khác như kế toán thi hành án cũng xác định rõ theo hướng cấp huyện không nhất thiết phải có trình độ cử nhân mà có thể chỉ cần trung cấp
2.2 Cơ cấu theo độ tuổi đảm bảo sự kế thừa giữa các thế hệ cán bộ Mỗi
một cơ quan, đảm bảo được cơ cấu 3 độ tuổi cán bộ
2.3 Cơ cấu theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ đào tạo đảm
bảo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, tiêu chuẩn các ngạch công chức, viên chức
và tiêu chuẩn nghề nghiệp
2.4 Cơ cấu theo giới tính, dân tộc, vùng miền, đảm bảo sự hài hoà về giới
tính, dân tộc và vùng miền
3 Đổi mới hình thức tuyển chọn, bố trí, sắp xếp cán bộ:
các quy định của Chính phủ phù hợp với đặc thù, điều kiện thực tế của ngành
Tư pháp; đảm bảo cho việc tuyển dụng cán bộ đạt được sự công khai, minh bạch; thực hiện được dân chủ trong công tác cán bộ; mở rộng và chủ động tìm kiếm, phát hiện, lựa chọn nhân tài để khuyến khích, thu hút vào làm việc trong ngành Tư pháp
- Đổi mới công tác thi tuyển cán bộ vào làm việc trong ngành Tư pháp theo hướng căn cứ vào đặc điểm, tính chất công việc, vị trí công tác, kết hợp giữa hình thức thi viết với phỏng vấn và xử lý tình huống của từng vị trí công việc cần tuyển Đối với sinh viên tốt nghiệp đại học, thạc sỹ đạt loại giỏi, những người có trình độ tiến sỹ, những người hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý như luật sư, công chứng viên mà chuyên ngành được đào tạo
Trang 33phù hợp với vị trí công việc cần tuyển thì sẽ có hình thức tuyển dụng đặc thù (có thể chỉ qua phỏng vấn) vào vị trí cần tuyển dụng (có thể tuyển dụng chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên chính và tương đương mà không chỉ vào ngạch tương đương ngạch chuyên viên như hiện nay) để tạo điều kiện thu hút những đối tượng này vào công tác trong ngành Tư pháp Bộ Tư pháp, các cơ quan tư pháp địa phương, Sở Tư pháp liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với các cơ
sở đào tạo chuyên ngành luật để phát hiện, có biện pháp khuyến khích, hỗ trợ quá trình học tập của sinh viên nhằm thu hút, bồi dưỡng tài năng trẻ là sinh viên xuất sắc, sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi, loại khá về công tác tại cơ quan, đơn
vị mình sau khi tốt nghiệp
Áp dụng hình thức xét tuyển hoặc phỏng vấn đối với sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi, người có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên vào làm việc tại Bộ Tư pháp; loại khá trở lên vào làm việc tại Sở Tư pháp; sinh viên hệ chính quy vào Phòng Tư pháp; người có trình độ đại học luật làm công tác tư pháp ở cấp xã
Về cơ bản, có thể tuyển dụng người theo học tại chức luật vào các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Đối với các địa phương khác, về nguyên tắc, Bộ Tư pháp và các địa phương không tuyển dụng đối với người được đào tạo chương trình tại chức
- Để có cán bộ có phẩm chất và năng lực giữ các chức danh lãnh đạo trong các cơ quan đơn vị của ngành, bên cạnh làm tốt việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, cần xây dựng cơ chế tuyển chọn, tạo sự liên thông giữa các cơ quan trong ngành Tư pháp và xã hội Theo đó, thực hiện phương thức tuyển chọn cán bộ có tài, đủ phẩm chất, trình độ từ các cơ quan, tổ chức bên ngoài nhà nước như luật sư, công chứng viên, luật gia, giám định viên tư pháp, thừa phát lại vào làm việc trong các cơ quan thuộc ngành Tư pháp; đồng thời có thể gửi cán bộ của ngành Tư pháp đến làm việc tại các tổ chức hành nghề luật, công chứng, giám định, để tích lũy kinh nghiệm thực tế
- Phân công, bố trí cán bộ phù hợp với ngành nghề, chuyên ngành đào tạo, phù hợp với sở trường năng lực của cán bộ, trong đó ưu tiên nguyện vọng
cá nhân Trong phân công công việc cần xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, gắn nhiệm vụ, quyền hạn với trách nhiệm Xác định rõ quy trình giải quyết công việc và chế độ trách nhiệm của cán bộ Thường xuyên đánh giá cán bộ khách quan, trung thực và chính xác; áp dụng chế độ khen thưởng, tôn vinh, động viên kịp thời đối với những người có thành tích xuất xắc, tậm tâm, tận lực với công việc; tạo lập môi trường đoàn kết, có đấu tranh xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh; xử lý thích đáng những hành vi vi phạm, những người chây ì, thiếu trách nhiệm Nghiên cứu tạo ra nhiều cơ hội học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, cơ hội và định hướng phát triển chức nghiệp cho đội
Trang 34ngũ cán bộ trong ngành Tư pháp Tăng cường và hiện đại hoá phương tiện, trang thiết bị và điều kiện làm việc, đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị Tập trung nguồn lực để xây dựng công sở hiện đại theo tiêu chuẩn quy định
4 Đổi mới một số mặt của công tác cán bộ
4.1 Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ ngành
Tư pháp
Căn cứ mục tiêu chung, các mục tiêu cụ thể về xây dựng và phát triển ngành Tư pháp, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cán bộ trong từng giai đoạn tương ứng Trong giai đoạn hiện nay, cần xây dựng quy hoạch cán bộ hàng năm, quy hoạch đến năm 2015 và quy hoạch đến năm 2020
- Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong ngành Tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của Ngành, mở rộng, mỗi vị trí chức danh có ít nhất 3 người thuộc diện nguồn quy hoạch, để có tầm nhìn xa hơn, phá vỡ sự chia cắt, khép kín trong công tác cán bộ, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đảm bảo sự kế thừa giữa các thế hệ cán bộ; gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và sử dụng, tạo điều kiện cho cán bộ trong diện quy hoạch rèn luyện, tu dưỡng, thử thách; thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra theo từng giai đoạn và hàng năm
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức, trong các lĩnh vực thuộc ngành Tư pháp trong từng thời kỳ; trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển chung về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ trong toàn Ngành
4.2 Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Tư pháp
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một chính sách quan trọng để thu hút cán
bộ, hình thành đội ngũ công chức ngày càng chính quy, chuyên nghiệp, thời gian tới cần đẩy mạnh, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong Ngành theo các nội dung sau:
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải có trọng tâm, trọng điểm, theo quy hoạch và tiêu chuẩn chức danh cán bộ, gắn đào tạo, bồi dưỡng với bố trí, sử dụng cán bộ, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đang công tác trong ngành Tư pháp
- Xác định rõ mục tiêu đào tạo là trang bị cho đội ngũ cán bộ, công chức
có tầm nhìn, có năng lực làm việc thực tế đáp ứng yêu cầu của vị trí công tác, bảo đảm tính chuyên nghiệp
Trang 35- Tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo các chức danh tư pháp, chương trình đào tạo hội nhập kinh tế quốc tế, chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp địa phương, đẩy mạnh chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của thực tiễn như chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý lịch tư pháp, bán đấu giá tài sản, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức lãnh đạo, quản lý cho cán bộ trong ngành Chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải phù hợp với mục tiêu, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành cho đội ngũ cán bộ, kết hợp lý luận và thực tiễn, kiến thức, kỹ năng và thái độ
- Cải tiến phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng áp dụng những phương pháp giảng dạy tiên tiến, hiện đại, phát huy tính tích cực của người học trong việc tiếp nhận kiến thức
- Thường xuyên xem xét đánh giá về khoá học, chương trình học, giảng viên, cơ sở đào tạo, công tác quản lý đào tạo để đánh giá kết quả và hiệu quả đào tạo
- Chú trọng bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ đang công tác trong ngành Tư pháp, đặc biệt là cán bộ không phải chuyên ngành luật; ngoài ra cần bồi dưỡng kiến thức về một số chuyên ngành khác cho đội ngũ cán bộ chuyên môn đã được đào tạo về luật hiện đang làm công tác xây dựng, kiểm tra và theo dõi thi hành pháp luật của Bộ, ngành Tư pháp
- Xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, kết hợp đào tạo, bồi dưỡng trong nước với đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài và đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức trong nước nhưng có sử dụng tài liệu, giảng viên nước ngoài
- Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ trẻ có trình độ, năng lực, có triển vọng phát triển thành các chuyên gia trong các lĩnh vực của Ngành
- Có cơ chế khuyến khích cán bộ trong ngành tự học tập, nâng cao trình
độ về mọi mặt
4.3 Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác luân chuyển cán bộ ở các cơ
quan, đơn vị trong ngành tư pháp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết; khắc phục tình trạng cục bộ trong công tác cán bộ, khép kín trong
từng đơn vị của ngành Tư pháp
Trang 36Việc luân chuyển cán bộ tại các cơ quan trong ngành Tư pháp cần dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ
4.4 Đổi mới công tác bổ nhiệm cán bộ
Thực hiện thí điểm thi tuyển vào các vị trí lãnh đạo cấp phòng, cấp vụ theo nguyên tắc cạnh tranh: lựa chọn người có đức - tài, bình đẳng, dân chủ, công khai, khách quan, trung thực; tiến tới xây dựng quy chế thi tuyển vị trí lãnh đạo để mở rộng, áp dụng thống nhất trong các cơ quan thuộc ngành Tư pháp Trong thời gian tới, cần xây dựng quy chế thi tuyển cán bộ lãnh đạo cấp phòng tại các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Sau đó, trên cơ sở tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để triển khai áp dụng đối với cán bộ lãnh đạo từ cấp Phó Vụ trưởng, Phó Giám đốc Sở, Phó Cục trưởng cục Thi hành án trở xuống
4.5 Đổi mới công tác đánh giá và khen thưởng đối với cán bộ
Đánh giá cán bộ, công chức phải căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn chức danh cán bộ; chú trọng đánh giá hiệu quả hoạt động thực tiễn của mỗi cán bộ, công chức; phải chú trọng việc phát hiện nhân tài để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phát triển thành những công chức chuyên môn, công chức lãnh đạo, quản lý giỏi Đánh giá cán bộ, công chức phải được xem xét trong một quá trình công tác (quá khứ, hiện tại và tương lai), gắn với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, là yếu tố thường xuyên trong quá trình quy hoạch, luân chuyển, đào tạo và
bố trí sử dụng cán bộ (quá trình đánh giá và đánh giá lại cán bộ); phải có kế hoạch chặt chẽ, hợp lý trong quản lý cán bộ, phải có các bước đánh giá phù hợp, khoa học; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch trong đánh giá cán bộ
Công tác đánh giá cán bộ không chỉ làm một lần mà phải làm thường xuyên, theo định kỳ hằng năm và trước khi đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển cán
bộ để đưa vào hồ sơ cán bộ, giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và hiểu được cán
bộ Đồng thời giúp cho bản thân người cán bộ hiểu đúng mình hơn nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm (nếu có), góp phần xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước
Cần thay đổi phương pháp đánh giá cán bộ theo bộ tiêu chí đánh giá hợp
lí, khoa học để có những nhận xét chính xác về phẩm chất chính trị, năng lực công tác của cán bộ, công chức Những tiêu chí đánh giá cần thiết kế theo hướng được lượng hóa rõ ràng cụ thể theo từng vị trí chức danh dựa trên yêu cầu của từng vị trí đó
Việc khen thưởng đối với cán bộ phải xuất phát từ kết quả đánh giá cán
bộ và các tiêu chuẩn của các hình thức khen thưởng; đảm bảo các hình thức khen thưởng phải thực chất, có tác dụng động viên, khuyến khích công chức
Trang 37phấn đấu để khi được khen thưởng thì thấy xứng đáng, tự hào và trách nhiệm trong công tác
5 Tiếp tục thực hiện cải cách chính sách tiền lương và các đãi ngộ khác đối với cán bộ
Cán bộ, công chức ngành Tư pháp là một bộ phận của đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị
Do đó, các giải pháp chung về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức như tăng lương tối thiểu chung, mở rộng quan hệ lương tối thiểu - trung bình- tối đa, phụ cấp công vụ sẽ được thực hiện theo lộ trình cải cách chính sách tiền lương giai đoạn 2008-2012 của Chính phủ Từ năm 2013 đến năm 2015 và 2020, cần quán triệt đầy đủ thực hiện quan điểm của Đảng về trả lương cho cán bộ là đầu tư cho phát triển, nền công vụ của nước ta được chuyển mạnh từ chế độ công vụ theo chức nghiệp sang chế độ công vụ theo vị trí việc làm Vì vậy, cần nghiên cứu đổi mới cơ cấu của tiền lương, điều chỉnh mức tối thiểu, các thang lương, bảng lương cho phù hợp với những yêu cầu mới, nhằm bảo đảm nhu cầu tái sản xuất sức lao động của cán bộ để khuyến khích cán bộ, công chức phát triển theo con đường chuyên môn, thành các chuyên gia giỏi, khi không còn giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì thôi không hưởng phần phụ cấp chức vụ lãnh đạo Từng bước thực hiện trả lương theo công việc được giao và kết quả hoàn thành nhiệm vụ Không khuyến khích trả lương theo bằng cấp Tiếp tục thực hiện từng bước tiền tệ hoá tiền lương, tính đủ các bộ phận cấu thành tiền lương Trong đó, “Xây dựng cơ chế tiền lương riêng đối với công
Đối với cán bộ là các chức danh tư pháp, bao gồm: chấp hành viên, thẩm tra viên, thư ký thi hành án dân sự, công chứng viên, trợ giúp viên pháp lý, đấu giá viên, giám định viên tư pháp; công chức Tư pháp và Hộ tịch viên, cần xây dựng, sửa đổi các quy định về chế độ phụ cấp lương theo hướng sau:
5.1 Về phụ cấp trách nhiệm theo nghề
a) Đối với công chức thi hành án dân sự: Đề nghị quy định chế độ phụ
cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức thi hành án dân sự theo các mức như sau:
- Mức 35 % áp dụng đối với chấp hành viên cao cấp;
- Mức 40 % áp dụng đối với chấp hành viên trung cấp;
- Mức 45 % áp dụng đối với chấp hành viên sơ cấp;
- Mức 30 % áp dụng đối với thư ký thi hành án dân sự;
25 Văn kiện Nghị quyết Trung ương 3 Khoá X
Trang 38- Mức 25 % áp dụng đối với thư ký trung cấp thi hành án dân sự;
- Mức 30 % áp dụng đối với thẩm tra viên cao cấp;
- Mức 35 % áp dụng đối với thẩm tra viên chính;
- Mức 40 % áp dụng đối với thẩm tra viên;
b) Đối với trợ giúp viên pháp lý: Xây dựng mức phụ cấp trách nhiện theo
nghề đối với tất cả các ngạch trợ giúp viên pháp lý; đồng thời nâng mức phụ cấp trách nhiệm theo nghề quy định tại Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, như sau:
- Mức 35% áp dụng đối với trợ giúp viên pháp lý;
- Mức 40% áp dụng với trợ giúp viên pháp lý chính;
c) Đối với công chứng viên: Đề nghị nâng mức phụ cấp trách nhiệm theo
nghề quy định tại Quyết định 233/2005/QĐ-TTg ngày 26/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với Công chứng viên từ 15 % lên mức 35 %
5.2 Về phụ cấp ưu đãi theo nghề:
a) Đối với giám định viên pháp y chuyên trách và người thường xuyên
giúp việc cho giám định viên pháp y:
- Mức 50% áp dụng đối với giám định viên pháp y bằng với mức dành cho cán bộ, viên chức trực tiếp khám, điều trị, chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS (phụ cấp này trước đây là 35%);
- Mức 20% áp dụng đối với người giúp việc cho giám định viên pháp y
(phụ cấp này trước đây là 15%)
b) Đối với giám định viên pháp y tâm thần chuyên trách và người thường xuyên giúp việc cho giám định viên pháp y tâm thần: Đề nghị giữ nguyên mức
35% như hiện nay đối với giám định viên pháp y tâm thần và mức 15% đối với
người giúp việc cho giám định viên pháp y tâm thần
5.3 Về phụ cấp thâm niên nghề
danh tư pháp, cụ thể như sau: Sau 5 năm (đủ 60 tháng) làm việc liên tục trong ngành thì được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 5% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có); từ năm thứ 6 trở đi mỗi năm được tính thêm 1%
5.4 Về phụ cấp trách nhiệm công việc
Trang 39Đề nghị quy định phụ cấp trách nhiệm công việc đối với công chức, chức danh tư pháp chưa được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo nghề, bao gồm:
tối thiểu chung; người giúp việc cho giám định viên pháp y được hưởng phụ cấp 0,3 so với mức lương tối thiểu chung;
hưởng phụ cấp 0,4 so với lương tối thiểu chung; người giúp việc cho giám định viên pháp y tâm thần, giám định viên kỹ thuật hình sự được hưởng phụ cấp 0,2
so với mức lương tối thiểu chung;
chính, xây dựng v.v hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm công việc với hệ số 0,3
so với lương tối thiểu
5.5 Về phụ cấp độc hại, nguy hiểm
- Đối với giám định viên pháp y và người giúp việc cho giám định viên pháp y: duy trì mức hưởng như hiện nay với hệ số 0,4 so với mức lương tối thiểu áp dụng cho giám định viên pháp y và hệ số 0,3 so với mức lương tối thiểu
áp dụng cho người giúp việc cho giám định viên pháp y;
định viên pháp tâm thần: duy trì mức hưởng như hiện nay là: hệ số 0,4 so với mức lương tối thiểu áp dụng cho giám định viên pháp y tâm thần và người giúp việc cho giám định viên pháp tâm thần;
lực lượng vũ trang và người giúp việc: áp dụng mức phụ cấp hệ số 0,4 so với mức lương tối thiểu áp dụng cho giám định viên pháp y, giám định viên kỹ thuật hình sự trong lực lượng vũ trang, hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu áp dụng cho người giúp việc cho các chức danh trên
6 Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức
Thực hiện đầu tư xây dựng quỹ nhà ở cho cán bộ thuê hoặc thuê mua theo Luật Nhà ở Nhà nước cần có sự đầu tư trực tiếp từ nguồn ngân sách để xây dựng quỹ nhà ở xã hội cho số cán bộ, công chức có khó khăn về nhà ở thuê hoặc thuê mua Việc đầu tư này cần xác định thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội và giao cho từng địa phương thực hiện, trước mắt cần tập trung tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều cán bộ, công chức làm việc đang khó khăn về nhà ở Bộ Tư pháp thành lập Quỹ tiết kiệm nhà ở do cán bộ công chức đóng góp hàng tháng hoặc cơ quan sử dụng cán bộ công chức đóng góp; đồng thời kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách hỗ trợ của Nhà nước bằng hình thức cho cán bộ, công chức vay với lãi xuất thấp hoặc không phải trả
Trang 40lãi và được trừ dần vào tiền lương hàng tháng để giải quyết vấn đề thuê mua nhà
ở đối với cán bộ, công chức; kiến nghị Nhà nước ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư xây dựng nhà ở cho cán bộ, công chức thuê hoặc thuê mua, như ưu tiên quỹ đất, miễn tiền sử dụng đất, hỗ trợ đầu tư trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng, ưu đãi về thuế, tín dụng,
7 Xây dựng và thực hiện chế độ chính sách, chế độ đặc thù đối với cán bộ ngành Tư pháp
Tham mưu xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách thu hút, khuyến khích cán bộ đến công tác tại các cơ quan tư pháp có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; chính sách đối với cán bộ xã Đối với số cán bộ này, nhất là công chức thi hành án dân sự, cần có chính sách hỗ trợ đào tạo, rút ngắn thời gian nâng bậc lương, giảm thời gian tập sự, mở rộng các hình thức phụ cấp trách nhiệm, tăng cường phụ cấp công tác phí và các hình thức phụ cấp khác
8 Về một số chế độ, định mức đặc thù trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của ngành Tư pháp
Xây dựng, sủa đổi, bổ sung các định mức chi đặc thù cho hoạt động của ngành Tư pháp như: kinh phí xây dựng, thi hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật; kinh phí đặc thù trong thi hành
án dân sự
Xây dựng, sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ bồi dưỡng theo vụ việc cho tất cả các chức danh tư pháp đồng thời nghiên cứu, xây dựng mức bồi dưỡng phù hợp với tính chất công việc, bảo đảm bù đắp và có tác dụng khuyến khích đối với cán bộ thực hiện các nhiệm vụ này
Kiến nghị chính phủ sửa đổi, bổ sung đồng thời khuyến khích các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập trong Ngành thực hiện các quy định
về thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy, biên chế, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, viên chức các đơn vị sự nghiệp
9 Cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của cán bộ
Phân công, bố trí cán bộ phù hợp với ngành nghề đào tạo, phù hợp với sở trường năng lực của cán bộ Xác định rõ quy trình giải quyết công việc và chế
độ trách nhiệm của cán bộ Thường xuyên đánh giá cán bộ khách quan, trung thực và chính xác; áp dụng chế độ khen thưởng, tôn vinh, động viên kịp thời đối với những người có thành tích xuất sắc, tậm tâm, tận lực với công việc; tạo lập môi trường đoàn kết, có đấu tranh xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh; xử