Nếu như từ trước đến nay, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng luôn được coi là một dịch vụ công do Nhà nước đảm trách việc cung ứng nhằm đảm bảo sự phát triển phù hợp với nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẾ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN CẤP ĐHQG
MÃ SỐ: CB.03.19
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA T ổ CHỬC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI LIỀN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chủ trì: Th.s Nguyễn Thị A nh Thu
HÀ NỘI, THÁNG 9/2005
Trang 2VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LƯẬT CỦA T ổ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI LIÊN QUAN ĐEN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC:
Đ A I H O C Q U Ố C G IA H À N Ộ I TRUNG ĨẢ M T H Ô N G TIN THƯ VIÊN
(17 / J : 6
Trang 34 4
4
6 7 9
11
11 12
13
13 17 17 18 20
23 23
23 24
26
27 34
37
38
39
MỤC LỤC
HIỆP ĐỊNH CHUNG VỂ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ VÀ GIÁO DỤC
H iệp đ ịn h ch u n g về thương m ại dịch vụ (G A T S) - C ông cụ
m ói của thương m ại thê giới trong lĩnh vực dịch vụ
Sự cần thiết phải có GATS
N ội dung chính của GATS
Các nghĩa vụ
Các cam kết cụ th ể
P hạm vi áp d ụ n g và cơ cấu của G A T S
Phạm vi áp dụng
C ơ cấu của GATS
Giáo dục trở th à nh m ột dịch vụ thương mại
Ánh hưởng của GATS đối với giáo dục
T ừ dịch vụ công đến dịch vụ thương mại
Phong trào du học của sinh viên
Tăng cung trong thương mại dịch vụ giáo dục quốc tế
Chính sách của các chính phủ
HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
L ịch s ử hệ th ô n g giáo dục đại học Việt N am
Lịch sử hệ thống
Quá trình phát triển
S ự p h á t triển trên cơ sở đôi mới
Tác động của Đ ổi mới đối với giáo dục đại học
Xác định vơi trò của Nhà nước và các đối tác
Ả n h hư ỏ n g của toàn cầu hoá
M ớ cửa hệ thống giáo dục đại học liên quan đến phút triển
kinh t ể
Chính sách hội nhập khu vực va quốc t ế trong giáo dục đại học
Trang 443
43 45 46 47 48 48 51 52
54 54 55
57
57 59 60
61
TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỂ THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ ĐỐI VÓI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG TIÊN
TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TÊ
H ệ th ố n g pháp lý hiện hành
Chuyển giao dịch vụ công
Chính sách x ã hội hoá giáo dục
Đa dạng hoá các loại hình trường đại học
Những thách thức mới cho hệ thống pháp lý
Đ ầu tư n h ờ m ở cửa thị trường dịch vụ
Tăng các nguồn tài chính
Việc xuất hiện các chủ th ể mới
Sự đồng bộ giữa Luật Giáo dục, các Luật và văn bân pháp quy khác
K h ả nă n g tiếp cận đại học của sinh viên
Đa dạng hoá sự lựa chọn
Đầu vào có điều kiện
Tài chính công và m ục tiêu quốc gia
Tài chính công cho giáo dục
Chất hỉỢìig giáo dục đại học
Hợp tác quốc t ế
Trang 5Tổng quan
Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá với những tiến bộ vượt bậc của khoa học, kỹ thuật, vai trò của giáo dục đại học càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và có điều kiện phát triển m ạnh mẽ cả về nhu cầu và khả năng cung ứng dịch vụ Cũng giống như các dịch vụ khác, giáo đục đại học không còn giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia mà đã mang tính quốc tế cao độ, đặc biệt là với sự hỗ trợ của mạng thông tin toàn cầu và truyền thông đa phương tiện Các phương thức cung ứng dịch vụ ngày càng đa dạng, phát triển nhanh chóng và hướng dần đến mục tiêu thu lợi nhuận
Nếu như từ trước đến nay, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng luôn được coi là một dịch vụ công do Nhà nước đảm trách việc cung ứng nhằm đảm bảo sự phát triển phù hợp với nhu cầu quốc gia và thực hiện sự công bằng trong tiếp cận thì việc coi giáo dục là một dịch vụ thương mại trong phạm vi điều chỉnh của các quy tắc của Tổ chức Thương mại Thê' giới (WTO) đã gây ra những phản ứng gay gắt và những cuộc tranh luận kéo dài Ra đời vào năm 1994 sau những vòng đàm phán thương mại đa biên kéo dài từ năm 1947 dưới tên gọi Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), Tổ chức Thương mại Thế giới
đã phát triển nhanh chóng và có một vị trí hết sức quan trọng trong thương mại quốc tế với 148 thành viên (tính đến ngày 13/10/2004) và chiếm 97% giao dịch thương mại toàn cầu Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tổ chức này, các công cụ pháp lý cũng dần được hoàn thiện đề điều chỉnh các mối quan hệ thương mại quốc
tế Một trong hai trụ cột quan trọng nhất của WTO là Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ bao trùm hầu hết các lĩnh vực dịch vụ trong đó có giáo dục
Đối với một số người, không thể chấp nhận việc đưa giáo dục vào các cuộc đàm phán thương mại và không thể coi giáo dục như các sản phẩm hàng hoá khác Đây sẽ là một thách thức rất lớn đối với ý nghĩa và vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nhưng đối với một số khác, thị trường giáo dục, trên
Trang 6thực tế, đang vận hành như những thị trường khác và cần thiết được tự do hoá để nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sự lựa chọn nhằm tối đa hoá hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của những người sử dụng dịch vụ.
Mặc dù các cuộc tranh luận đang ngày càng gay gắt và không tìm thấy sự thoả hiệp thì đã có 53 quốc gia đồng ý mở cửa ít nhất một trong 5 lĩnh vực của hệ thống giáo dục của nước mình Các cuộc đàm phán cho hiệp định này dự tính được kết thúc vào năm 2005 với sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên WTO Một khi Hiệp định này có hiệu lực, chắc chắn hệ thống giáo dục quốc dân của mỗi nước sẽ bị tác động mạnh mẽ, nhất là đối với các nước đang phát triển luôn thiếu nguồn lực để tự vệ và cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ từ bên ngoài
Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để ra nhập WTO vào năm 2005 và đương nhiên phải chấp nhận mở cửa thị trường dịch vụ song song với thị trường hàng hoá Việc tuân thủ các quy định pháp lý của WTO trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ và các cam kết sau các cuộc đàm phán đa phương sẽ đặt ra những thách thức vô cùng to lớn cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cũng như nãng lực quản lý Nhà nước và năng lực pháp lý trong lĩnh vực này,
Nghiên cứu này nhằm bước đầu tìm hiểu những tác động dưới góc độ pháp
lý của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Nội dung của nghiên cứu được chia làm 3 phần:
C hương ỉ: Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ và giáo dục Chương
này giới thiệu khái quát về Hiệp định với phạm vi áp dụng và cơ cấu cũng như những ảnh hưởng của nó đối với giáo dục
C hương II: Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Chương này khái quát
hoá lịch sử phát triển của hệ thống và những chính sách quốc gia trong lĩnh vực
C hương III: Những tác động của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
đối với giáo dạc đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập Đây là những khảo sát ban đầu về những cơ hội và thách thức đối với giáo dục đại học Việt Nam khi thực hiện Hiệp định
Trang 7Lý do lựa chọn đề tài:
• Trong xu thế toàn cầu hoá và chú trọng phát triển kinh tế, giáo dục
đại học giữ vai trò quan trọng hơn bao giờ hết như một nguồn cung cấp nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
• Dưới góc độ kinh tế, trong 5 lĩnh vực của giáo dục đang được đề
cập trong các cuộc đàm phán đa phương, giáo dục đại học chịu áp lực lớn nhất phải được tự do hoá do xu thế hướng tới các mục tiêu lợi nhuận, hay nói cách khác thì đây là lĩnh vực sinh lợi nhiều nhất
• Về mật pháp lý, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ
chuyển đổi thiếu rất nhiều các công cụ pháp lý cần thiết cho sự vận hành hệ thống một cách hiệu quả cũng như năng lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này trong bối cảnh mới
Với những lý do nêu trên, việc nghiên cứu GATS và những tác động của nó đối với giáo dục đại học Việt Nam trở thành một nhu cầu cần thiết và cấp bách để
có được sự chuẩn bị tốt nhất và hiệu quả cao nhất cũng như tối đa hóa lợi ích từ chính quá trình hội nhập
3
Trang 8cH U O N G I HIỆP ĐỊNH CHUNG VỂ THƯƠNG MẠI DICH v ụ VÀ GIÁO DỤC
1 HIỆP ĐỊNH CHUNG VỂ THƯƠNG MẠI DỊCH v ụ (GATS) - CÔNG c ự MỚI CÙA THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI TRONG LĨNH v ự c DỊCH v ụ
1.1 S ự cần thiết p h ả i có G A T S
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ là một trong những vãn kiện pháp
lý quan trọng nhất của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) WTO được hình thành bởi Thoả thuận M arakech ngày 15 tháng 4 năm 1994, đánh dấu sự chấm dứt của các vòng đàm phán thương mại đa phương được khởi động từ sau khi cuộc Chiến tranh Thế giới ĩhứ II kết thúc Bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1995, W TO đã nhanh chóng trở thành một tổ chức lớn mạnh thống trị hầu như toàn bộ các giao dịch thương mại trên thế giới Trong khuôn khổ của WTO, GATS bao gồm toàn bộ những quy tấc đa phương đầu tiên và duy nhất điều chỉnh thương mại dịch vụ quốc tế Hiệp định này đã được chính các quốc gia thoả thuận và xây dựng nên một khuôn khổ pháp lý để các doanh nghiệp và cá nhân có thể thực hiện các hoạt động thương mại dịch vụ
GATS bao gồm hai phần: phần hiệp định khung tập trung vào các quy tắc chung cho thương mại dịch vụ và phần hai gồm danh sách những cam kết cụ thể của mỗi quốc gia đối với việc tiếp cận thị trường nội địa của các nhà cung cấp dịch
Trang 9Quá trình tự do hoá thương mại hàng hoá dưới sức ép của các vòng đàm phán của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trong suốt 50 nãm
là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần vào tăng trưởng kinh tế thế giới và giảm đói nghèo Sau những kinh nghiệm của nửa đầu thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia đều quay lưng lại với chính sách bảo hộ và hướng tới sự hợp tác kinh
tế dựa trên luật pháp quốc tế Thành quả của sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này tuy không được chia xẻ đồng đều nhưng không thể phủ nhận rằng các quốc gia hội nhập mạnh mẽ vào hệ thống thương mại đa phương đã được hưởng lợi từ quá trình này
Tuy nhiên, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ lại không hề diễn ra một hoạt động nào đáng kể song song với tự do hoá thương mại hàng hoá cho đến khi GATS được thảo luận và có hiệu lực từ năm 1995 Có nhiều lý đo để giải thích sự chậm trễ này trong luật thương mại quốc tế Trước hết, cần chú trọng đến đặc tính “vô hình” của thương mại dịch vụ Đây chính là gốc rễ của những khó khăn và phức tạp cho việc đề ra khuôn khổ pháp lý quốc tế Nói cách khác, lĩnh vực dịch vụ ở hầu hết các nước đều do Nhà nước kiểm soát và thường được bảo hộ Nhà nước, ở
cả các quốc gia phát triển và đang phát triển, đều trở thành các nhà cung cấp dịch
vụ chính của các lĩnh vực dịch vụ quan trọng và thiết yếu Nhiều quốc gia đã ngàn cấm sự xuất hiện của các công ty nước ngoài trong các lĩnh vực được coi là “nhậy cảm ” như viễn thông, nghe nhìn, bảo h iểm , hoặc áp đặt việc hạn chế hoặc phân biệt đối xử gây trở ngại lớn cho những giao dịch quốc tế trong thương mại dịch vụ
Hiện nay, thương mại dịch vụ hầu như do các quốc gia phát triển thống trị
và góp phần quan trọng vào việc bù đắp những thâm hụt của thương mại hàng hoá
ở các quốc gia này Đương nhiên, các quốc gia này ủng hộ mạnh mẽ việc tự do hoá thương mại dịch vụ ở cấp độ quốc tế Ngược lại, các nước đang phát triển, do cơ sớ
hạ tầng yếu kém, đều không sẵn sàng mở cửa thị trường dịch vụ cho cạnh tranh tự
do Tuy nhiên, sự tương tác giữa thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ không cho phép lựa chọn, nhất là dước sức ép của các nhà xuất khẩu dịch vụ lớn
Trong những thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của thương mại hàng hoá thương mại dịch vụ đã đạt được sự tãng trưởng mạnh mẽ, trở thành bộ phận
5
Trang 10năng động nhất của nền kinh tế thế giới, chiếm 60% GDP của các nước phát triển, 60% sản xuất của thế giới và một nửa nhân công lao động Việc thiếu vắng một khuôn khổ pháp lý cho thương mại dịch vụ thế giới trở nên không bình thường và tiềm ẩn nhiều nguy cơ: không bình thường vì những lợi thế tiểm tàng của việc tự
do hoá dịch vụ ít ra cũng quan trọng kJhong kém lĩnh vực thương mại hàng hoá, và nguy cơ là khổng có một cơ sở pháp lý nào cho phép giải quyết thoả đáng tranh chấp thương mại giữa các quốc gia
Từ những năm 80, ý tưởng về các cuộc đàm phán đa phương trong lĩnh vực dịch vụ đã được đưa ra và có nhiều tiến triển Đến Hội nghị Punta del Este vào tháng 9/1996 đánh dấu vòng đàm phán thương mại đa phương mới với tên gọi
“Vòng đàm phán U ruguay”, thì lĩnh vực dịch vụ mới thực sự được đặt lên bàn nghị
Sau vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ đã được ấn định đối với các nguyên tắc chung coi như khuôn khổ pháp lý đa phương cho các giao dịch quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ Các cuộc đàm phán vẫn đang diễn ra nhầm đi đến các cam kết riêng của từng quốc gia thành viên và sẽ được kết thúc theo dự kiến vào năm 2005 GATS đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ WTO và rõ ràng là một quốc gia khi đã là thành viên của tổ chức này thì không thể từ chối không chấp nhận các điều khoản của GATS
Trong GATS, một số nguyên tắc lớn đã được lấy từ Hiệp định chung năm
1947 như điều khoản về quy chế tối huệ quốc (Điều II, GATS) hoặc trách nhiệm minh bạch (Điều III và XXVIII của GATS) Đồng thời, GATS cũng bao gồm các điều khoản mới như công nhận quy chế quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ (Điều VII), xem xét đến các yếu tố tiền tệ (Điều XI), trợ giá (Điểu XIII) và các thị trường cồng (Điều XV)
1.2 N ộ i d u n g ch ín h của G A T S
GATS bao gồm 29 điều khoản, chia làm hai phần chính: phần đầu bao gồm các nghĩa vụ và các quy tắc chung khi cung cấp dịch vụ quốc tế và phần hai là
Trang 11những nghĩa vụ và cam kết của các quốc gia thành viên Các nghĩa vụ được áp dụng cho toàn bộ các lĩnh vực dịch vụ cho dù các thành viên WTO có tham gia cam kết hay không còn các cam kết cụ thể chỉ phụ thuộc vào ý muốn của chính mồi quốc gia thành viên.
ỉ 2.1 Các nghĩa vụ
VỚI mục tiêu xoá bỏ các trở ngại cho thương mại dịch vụ quốc tế, Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ đặt ra các nghĩa vụ mà các thành viên phải có trách nhiệm thực hiện, bao gồm:
- Quy chế Tối huệ quốc
- Minh bạch
- Giải quyết tranh chấp
■ Q uy chê T ối huệ quốc ịM F N )
“Điêu 11,1 Liên quan đến tất cả các biện pháp nằm trong thoả thuận này, mỗi thành viên s ẽ dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên khác một cách vô điêu kiện sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn những
gì được dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia nào khác”
Nguyên tắc M FN - nguyên tắc không phân biệt đối xử - có thể hiểu là sự đãi ngộ ngang bằng đối với các đối tác thương mại Quy chế này đảm bảo các cơ hội đồng đều cho tất cả các nhà cung cấp dịch vụ của tất cả các thành viên của WTO Nguyên tắc M FN đã xuất hiện như là nguyên tắc chung lớn nhất của hệ thống thương mại đa phương trong lĩnh vực hàng hoá (GATT) và được đưa vào trung tâm của các vãn bản pháp lý áp dụng cho lĩnh vực dịch vụ Trong khuôn khổ của GATS, nếu một thành viên cho phép cạnh tranh nước ngoài trong một lĩnh vực nào đó, các nhà cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực này của tất cả các quốc gia thành viên của WTO đểu có thể được hưởng chung các cơ hội đó
Tuy nhiên, không hề có bất kỳ một ràng buộc nào về độ mở của thị trường Khi GATS có hiệu lực, các thành viên ký kết hiệp định sáng lập W TO và các nước mới
7
Trang 12ra nhập vẫn có thể áp dụng quyền miễn trừ, với thời hạn tối đa là mười năm, cho phép các quốc gia dành sự đãi ngộ phân biệt cho một số đối tác thương mại
( “Điêu II.2 M ỗi thành viên cố th ể giữ cách thức không phù hợp với khoản ỉ nêu được đưa vào Phụ lục vê các miễn trừ nghĩa vụ được quy định tại Điêu II và thoả mãn các điêu kiện được nêu trong phụ lục n à y ”) Trong mọi trường hợp, những
miễn trừ này sẽ được xem xét trong vòng đàm phán tiếp theo về tự do hoá thương
mại dịch vụ: “Điều III.1 M ỗi thành viên s ẽ công b ố trong thời hạn ngắn nhất và
trừ trường hợp khẩn cấp, chậm nhất là vào thời điểm có hiệu lực, toàn bộ các biện pháp áp dụng chung nhằm vào hoặc tác động đến sự vận hành của thoả thuận này Các thoả thuận quốc t ế liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà một thành viên đã kỷ kết cũng s ẽ phải được công bổ".
Hơn thế, mỗi quốc gia thành viên còn có quyền yêu cầu cung cấp thông tin
về thực tế áp dụng luật của các đối tác Họ có quyền nhận được trong thời hạn sớm nhất tất cả các chỉ dẫn về cách thức mà các thành viên khác áp dụng Hiệp định hoặc về tác động của các thoả thuận quốc tế khác (Điều III.4) Với mục đích này,
mỗi quốc gia thành viên phải thành lập “m ột hay nhiêu điểm thông tin” chịu trách
nhiệm cung cấp các chỉ dẫn cụ thể đối với tất cả các câu hỏi
1 Tổ chưc Liên Hiệp quốc G ATS-Sự thật và tường tượng, 2001
Trang 13■ G iải quyết tranh chấp
Trước hết, với mục tiêu bảo vệ quyền lợi thương mại chính đáng, việc quản
lý các biện pháp tác động đến thương mại dịch vụ phải “hợp lý, khách quan và
công bằng” (Điều VI 1) Đó cũng là nguyên tắc cơ bản đối với việc quản lý tốt các
quy định nội địa Nguyên tắc thứ hai đặt ra yêu cầu có hỗ trợ pháp lý hiệu quả của toà hành chính, toà pháp lý và trọng tài đối với nhà cung cấp dịch vụ chịu tác động của các biện pháp pháp lý (Điều VL2) Trong trường hợp bất đồng, Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO có quyền giải quyết các tranh chấp (Điều XXI)
1.2.2 Các cam kết cụ th ể
So với Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, GATS mềm dẻo và
linh hoạt hơn rất nhiều đối với các cam kết của các quốc gia thành viên Các quốc gia có quyền quyết định lĩnh vực nào và độ mở đến đâu của thị trường nội địa Chính danh sách mà họ đưa ra bao trùm toàn bộ cung về dịch vụ GATS khổng áp đặt một sự phá vỡ pháp chế nào cũng như không thách thức các giới hạn hiện có GATS không áp đ ặ t cho các quốc gia thành viên phải đăng ký cam kết đ ô ì VỚI m ỗ i
hình thức cung cấp dịch vụ Nhưng một khi các vòng đàm phán đã khép lại, quốc gia thành viên đề nghị được tham gia phải cam kết ấn định các giới hạn hiện có và không làm cho chúng trở nên chặt chẽ hơn
Các quốc gia thành viên đặt ra các giới hạn cho thương mại địch vụ về các phương thức cung cấp khác nhau nhưng phải tôn trọng hai quy chế đặc biệt: tiếp cận thị trường và đãi ngộ quốc gia
■ Tiếp cận th ị trường
“Điểu X V I.l Liên quan đến tiếp cận thị trường theo các phương thức cung cấp được xác định theo Điểu 1, mỗi thành viên s ẽ dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn những gì được đưa ra trong danh sách vê áp dụng các phương thức, giới hạn và điêu kiện phù hợp và cụ th ể '
9
Trang 14ỏ đây, nội dung chủ yếu tập trung vào các hạn chế khối lượng như nhau khi tiếp cận thị trường Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể đặt ra hạn chế tiếp cận thị trường đối với mỗi lĩnh vực và mỗi cách thức cung cấp dịch vụ được đưa ra trong danh mục được coi như là đãi ngộ quốc gia Các hạn chế có thể được đưa ra liênquan đến:
(i) số lượng các nhà cung cấp dịch vụ;
(ii) tổng giá trị giao dịch;
(iii) tổng số lượng hoạt động dịch vụ hoặc tổng khối lượng sản phẩm dịch vụ;(iv) tổng số lượng người có thể được sử dụng trong một lĩnh vực dịch vụ đặc
biệt;
(V) giới hạn các dạng pháp nhân mà một nhà cung cấp dịch vụ có thể phục
(vi) sự tham gia của vốn nước ngoài;
Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản so với Hiệp định chung về Thuế quan
và Thương mại Đối với giao dịch quốc tế về hàng hoá, không có bất kỳ sự hạn chế nào được phép đưa ra Tuy nhiên, sự bảo hộ có thể được giữ dưới dạng thuế áp tại cửa khẩu ngay cả khi mục tiêu của Hiệp định này là hạ tới mức thấp nhất các rào cản quan thuế và phi quan thuế
Còn đối với dịch vụ, một khi đã mở cửa dịch vụ cho các nhà cung cấp nước ngoài, không một chính phủ nào có thể kiểm soát được sự cung ứng dịch vụ Đó chính là tính chất “vô hình” của các dịch vụ quy định nên các giới hạn cần thiết với điều kiện các hạn chế đó phải được ghi trong danh mục các cam kết Dựa trên các tiêu chí này, người ta cũng có thể đánh giá mức độ mở cửa thị trường của các dịch
vụ của mỗi quốc gia thành viên WTO
■ Đ ãi ngộ quốc gia
“Điều W I I 1 Trong s ố các lĩnh vực đã được ghi trong danh mục, dựa trên các điều kiện và hạn c h ế được nêu trong đó, về các biện pháp tác động đến việc cung
cấp dịch vụ, mỗi thành viên s ẽ dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ
Trang 15của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn những gì dành cho các dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của nước mình"
Quy chế này hướng tófi việc dành sự đãi ngộ ngang bằng cho các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và ngoài nước Điều này đồng nghĩa với việc cho phép các
cơ hội cạnh tranh ngang bằng khi không thể có được sự đãi ngộ ngang bằng Như vậy, một nhà cung cấp dịch vụ khi được phép bảo đảm một dịch vụ ở một quốc gia nào đó thì sẽ không có sự phân biệt nào đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và nội địa
Quy chế này chỉ được áp dụng khi một quốc gia đã đưa ra cam kết cụ thể Các biện pháp không phù hợp vẫn có thể được duy trì đối với các lĩnh vực/phương thức cung cấp được nêu trong danh mục v ề mặt lý thuyết, điều đó cho phép các chính phủ linh hoạt hơn trong thực hiện mục tiêu chính sách quốc gia Nhưng trên thực tế, với các kinh nghiệm qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong suốt 50 năm qua, các nước đang phát triển sẽ rất khó tránh được sức ép của các cường quốc nhằm tự do hoá hoàn toàn các lĩnh vực dịch vụ đồng thời với cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể quốc gia và quốc tế trên cùng một thị trường
2 PHAM VI ÁP DỤNG VÀ C ơ CẤU CỦA GATS
2.1 P hạm vi áp d ụ n g
Ngay phần m ở đầu của Hiệp định, Điều 1.1 đã nêu: “Hiệp định này áp dụng
cho tất cả các biện pháp của các thành viên tác động đến thương mại dịch vụ”
Nói cách khác, GATS bao trùm toàn bộ các dịch vụ nằm trong giao dịch quốc tế, với hai ngoại lệ:
(i) các dịch vụ do chính quyền cung cấp, không dựa trên cơ sở thương mại,
cũng không cạnh tranh với một hay nhiều nhà cung cấp dịch vụ (đặc biệt
là các dịch vụ an ninh và quân đội); và
(ii) trong lĩnh vực hàng không, các quyền vận chuyển và các dịch vụ trực
tiếp có liên quan đến việc thực hiện quyền vận chuyển
Trang 16Các quy định của GATS áp dụng cho luật pháp, quy định và thủ tục của quốc gia lẫn địa phương có liên quan đến bốn phương thức thương mại một dịch vụ nào đó, được gọi là “phương thức cung cấp” (Điều I)
(i) các dịch vụ được cung cấp từ một quốc gia sang một quốc gia khác, tên
gọi chính thức “cung cấp xuyên biên giới”;
(ii) những người tiêu thụ của một quốc gia sử dụng dịch vụ ở một quốc gia
khác, tên gọi chính thức “tiêu thụ ở nước ngoài”;
(iii) một công ty của một quốc gia nào đó thành lập các chi nhánh để cung
cấp dịch vụ ở một nước khác, tên gọi chính thức “hiện diện thương m ại”;(iv) những người đến từ một quốc gia để cung cấp dịch vụ ở một nước khác,
tên gọi chính thức “di chuyển của thể nhân”
2.2 C ơ cấu của G A T S
GATS được chia làm hai phần Phần đầu bao gồm 29 điều khoản quy định tất cả các nguyên tắc như là khuôn khổ pháp lý quan trọng cho tất cả các hoạt động giao dịch quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ Hiệp định nêu ra một số nghĩa vụ chung
áp dụng cho tất cả các dịch vụ mà quan trọng nhất là quy chế Tối huệ quốc (MFN) Bên cạnh đó, mỗi thành viên tự đặt ra các nghĩa vụ riêng tuỳ theo các cam kết được nêu trong danh mục Đó là phần thứ hai rất linh hoạt của GATS để dành quyền chủ động lập pháp quốc gia cho mỗi thành viên
Vì nguyên tắc cơ bản của GATS là các nước đang phát triển có thể tự do hoá ít lĩnh vực dịch vụ và các dạng giao dịch do điều kiện phát triển, những cam kết của các nước này nhìn chung là hẹp hơn các nước công nghiệp hoá Với vai trò của một “khuôn khổ những nguyên tắc và quy định đa phương cho thương mại dịch vụ”, GATS xây dựng nên những quy tắc ứng xử của các quốc gia thành viên nhằm tiến tới tự do hoá thương mại dịch vụ Theo nghĩa đó, GATS được coi như một hiệp định khung mà các thành viên được mời đưa ra phạm vi cụ thể qua các cuộc đàm phán đa phương
Trang 173 GIÁO DỤC TRỞ THÀNH MỘT DICH v ụ THƯƠNG MẠI
Trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền cũng như trong các văn bản chính thức của Liên hiệp quốc và các cơ quan chuyên môn như Tổ chức Văn hoá, Khoa học
và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), giáo dục luôn được nhìn nhận như một quyền cơ bản của con người phải được chính quyền đảm bảo Các chính phủ cũng ý thức được về tầm quan trọng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học đối với phát triển bền vững của đất nước Đấy là lý do để giáo dục luôn được đưa vào ưu tiên hàng đầu trong chính sách quốc gia và chính quyền luôn là nơi duy nhất đề ra quy định cũng như kiểm soát việc cung cấp và tiếp cận thị trường, bảo đảm chất lượng và sự công bằng
Với quá trình toàn cầu hoá luôn ưu tiên phát triển kinh tế thì vai trò của giáo dục vẫn không thay đổi, thậm chí còn quan trọng hơn Tuy nhiên, cách quan niệm
về vai trò của giáo dục thì đã thay đổi rất nhiều Bắt nguồn từ thực tế ít nhiều thực dụng với xu hướng phát triển cung cấp dịch vụ giáo dục xuyên biên giới trong những thập kỷ gần đây, rõ ràng là các dịch vụ giáo dục đang tuân theo các quy tắc của thị trường và đôi khi thoát khỏi sự kiểm soát của chính phủ Sự cần thiết phải đặt các dịch vụ giáo dục dưới sự điều tiết của WTO hay không hiện vẫn còn đang
là trung tâm của các cuộc tranh luận quốc tế nhưng nhất thiết phải có một cơ chế
đa phương để giải quyết vấn đề này ở phạm vi thế giới
3.1 Ả n h hưởng của G A T S đôi với giáo dục
Theo Điều I của Hiệp định, GATS bao trùm “tất cả các dịch vụ trong mọi
lĩnh vực ngoại trừ các dịch vụ do chính quyển cung cấp không dựa trẽn cơ sở thương mại và không cạnh tranh với một hay nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác”
(Điều I.3b,c) Điều đó có nghĩa là mọi dịch vụ đều chịu sự điều chỉnh của GATS, trừ một số dịch vụ của Nhà nước (đặc biệt là các dịch vụ an ninh, quân đội, tư pháp, hành chính trung ương và địa phương) Mặc dù giáo dục luôn là một loại hình dịch vụ công do nhà nước đảm trách nhưng ờ tất cả các nước đều có sự cạnh
13
Trang 18tranh giữa hệ thống công lập và tư thục Như vậy, giáo dục không được hưởng quyền miễn trừ được nêu trong phạm vi áp dụng của GATS.
Trong các cuộc tranh luận quốc tế về toàn cầu hoá vài năm gần đây, giáo dục luôn được đặt ngoài lề do đặc thù của một dịch vụ cổng không dựa trên cơ sở thương mại Nhưng trên thực tế, lĩnh vực này đã trở thành m ột dịch vụ mang lại lợi ích kinh tế cao đối với một số quốc gia Thương mại thế giới trong giáo dục đại học chủ yếu dựa trên cơ sở đóng góp của sinh viên du học ở nước ngoài Phương thức này đã tồn tại từ nhiều năm nay và phát triển nhanh chóng Song song với hình thức du học, m ột hình thức cung cấp dịch vụ khác từ bên ngoài nhờ có các tiến bộ vượt bậc của công nghệ viễn thông cũng đang tăng trưởng nhanh và khuyến khích sinh viên tiếp cận đào tạo đại học mà không cần đi xa Các cơ hội mới đang
mở ra cho thị trường giáo dục
Xuất khẩu dịch vụ giáo dục và tý lệ trên tổng giá trị xuát khẩu giai đoan 1970-2000
TriêuUSD
% TriêuUSD
Mỹ i 4575 4.4 8346 3.5 10280 3.5
(Nguồn: sô liệu vê thương mại giáo dục của OECD và IMF năm 2000)
Từ những con sô' trên, người ta dễ dàng nhận thấy tốc độ tãng trưởng nhanh chóng của xuất khẩu dịch vụ giáo dục của một số quốc gia Các lợi ích kinh tế của lĩnh vực này ngày càng trở nên quan trọng và thậm chí có nhiều tiềm năng hơn thương mại hàng hoá Nhất là với xu thế phát triển của kinh tế tri thức trong tương lai lĩnh vực này còn có thể tăng trưởng với tốc độ chóng mặt Nãm 1999, đã có khoảng 1 47 triệu sinh viên ngoại quốc học tại các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) Chỉ tính riêng chi phí học tập và các khoản chi tiêu
Trang 19bình thường khác của số sinh viên này ở các nước đón tiếp thì số tiền đã lên tới gần
30 tỷ đô-la Còn nếu tính cả xuất khẩu dịch vụ giáo dục với hình thức đào tạo qua mạng và các chi nhánh ở nước ngoài thì sô tiền thu được còn lớn hơn gấp nhiều lần
và trở nên rất quan trọng đối với các nước “xuất khẩu” cũng như các nước “nhập khẩu” địch vụ này
Các giao dịch quốc tế trong giáo dục cũng đã củng cô thêm tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và như vậy các đối tác thương mại cũng sẽ khó tránh khỏi những va chạm lợi ích ở cấp quốc gia và quốc tế Một khuôn khổ pháp lý trở nên đặc biệt quan trọng để các đối tác có thể hoạt động một cách hiệu quả Tuy nhiên, ý tưởng đưa giáo dục vào các cuộc đàm phán của GATS đã đương nhiên thừa nhận đặc tính thương mại của các dịch vụ giáo dục Các quốc gia không chỉ phải chia xẻ chủ quyền trong một lĩnh vực quart trọng như giáo dục với một quyền lực siêu quốc gia mà còn phải đương đầu với các thách thức mới đang nổi lên từ thực tế này và chấp nhận các luật chơi của thị trường cho một cuộc cạnh tranh khó xác định
• Các p h ư ơ n g thứ c cu n g cấp dịch vụ giáo dục
Theo cách phân loại của GATS, có bốn phương thức chính cung cấp dịch vụ giáo dục:
a C u n g cấp xu yên biên giới: phương thức này sử dụng các công
nghệ mới cho việc giảng dạy từ xa (VD: phổ biến thông tin qua đường truyền và vệ tinh, hội thảo trực tuyến, dữ liệu giáo dục, giảng dạy qua mạng, giảng dạy từ xa, Internet);
b Tiêu th ụ ở nước ngoài: chi phí cho các dịch vụ được sử dụng ở
nước ngoài (nhất là sinh viên nước ngoài);
c H iện diện thương mại', hình thành các chi nhánh của các nhà
cung cấp dịch vụ ở nước ngoài (VD: các chi nhánh đặt tại một nước khác hoặc hợp tác với các cơ sờ giáo dục địa phương);
15
Trang 20d D i chuyển th ể n h â n : bao gồm các giáo sư, các nhà nghiên cứu
khoa học ra nước ngoài để cung cấp dịch vụ giáo dục trong một khoảng thời gian nhất định
Hiện nay, thương mại dịch vụ giáo dục quốc tế chủ yếu tập trung vào phương thức thứ hai với việc chi tiêu của sinh viên Xu hướng học đại học tại các
cơ sở nước ngoài đã phát triển nhanh chóng từ vài thập kỷ nay và trong tương lai sẽ còn tiếp tục tăng trưởng vì nhu cầu vẫn khổng ngừng tăng lên, nhất là ở các nền kinh tế mới nổi Hơn nữa, rất ít quốc gia tìm cách từ chối tham gia GATS trong lĩnh vực này vì như vậy sẽ đồng nghĩa với việc hạn chế quyền ra nước ngoài của công dân nước đó
Tuy nhiên, với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thống tin và viễn thông (ICT), phương thức cung cấp dịch vụ giáo dục thứ hai sẽ làm cho thị trường trở nên tiềm năng hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn Ở một số quốc gia, luật về viễn thông hạn chế việc sử dụng vệ tinh và ăng-ten thu phát có thể là những rào cản thương mại đối với dịch vụ giáo dục Tuy nhiên, nhu cầu tự do hoá dịch vụ thường
sẽ gỡ bỏ được những cản trở này vì lợi ích của các nhà cung cấp dịch vụ
Bên cạnh các phương thức trên, các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục có xu hướng thành lập các cơ sở ở nước ngoài, hoặc dưới dạng đầu tư, hoặc hợp tác với các cơ sở địa phương để cung cấp dịch vụ ngay tại chỗ Phương thức này có vẻ thuận lợi hơn cho sinh viên vì họ có thể học ở một cơ sở nước ngoài mà không cần phải đi xa Đôì với chính quyền, người ta ủng hộ phương thức này vì đó là một nguồn đầu tư mà không làm chảy máu chất xám Trong một số trường hợp, rất khó khăn để nhận được giấy phép do pháp chế và chính sách quốc gia hoặc do quan liêu hành chính Trong khuôn khổ của WTO, với việc áp dụng phương thức cung cấp dịch vụ dưới dạng “hiện diện thương m ại” , GATS được coi là hiệp định đa phương đầu tiên về đầu tư và sẽ có sức ép rất lớn đối với các nước đang phát triển với một thị trường tiềm năng phải mở cửa nền kinh tế cho đầu tư nước ngoài và hạn chế khả năng kiểm soát của các nước này nhằm đáp ứng yêu cẩu của các doanh nghiệp lớn
Trang 21Đối với phương thức thứ tư, đây sẽ là một thị trường đầy quyền lực vì tầm quan trọng lại dành cho việc xuất khẩu lao động trí thức Các nhà cung cấp dịch vụ ngày càng sử dụng nhiều hơn các giáo viên bản địa của nhiều nước khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các loại hình đào tạo dành cho sinh viên Vẫn còn những cản trở đối với việc di chuyển do những khó khăn trong việc nhận được visa và đánh thuế thu nhập cao Các chính phủ có thể có vai trò trong lĩnh vực này thông qua các quy định nội địa có liên quan đến chủ quyền của mình Đó cũng là một cản trở đối với tự do giao dịch trong giáo dục mà các nhà xuất khẩu dịch vụ giáo dục luôn đề nghị bãi bỏ,
3.2 T ừ dịch vụ công đến dịch vụ thương m ại
Theo những ước tính chính thức, giao dịch quốc tế trong giáo dục đã đạt ít nhất 30 tỷ đô la Mỹ vào năm 1989 (OECD 2000), chiếm khoảng 3% tổng giá trị xuất khẩu dịch vụ Con số này mới chỉ đại diện cho một phần rất khiêm tốn của dịch vụ giáo dục so với các dịch vụ khác như viễn thông hay giao dịch ngàn hàng Tuy nhiên, chính những tiềm nãng rất lớn của dịch vụ này với vai trò là nguồn cung cấp nhân lực cho xã hội đã tạo ra ý thức về tầm quan trọng của thị trường dịch vụ giáo dục quốc tế cũng như về cuộc cạnh tranh lớn dần giữa các cơ sở đào tạo đại học và giữa các quốc gia để dành được thị phần trong lĩnh vực này
Giao dịch quốc tế đối với dịch vụ giáo dục phát triển nhanh bắt nguồn chủ yếu từ việc tăng cầu, đa dạng hoá cung và các chính sách quốc gia Các hoạt động này đã có nguồn gốc từ rất lâu nhưng chỉ tăng trưởng nhanh chóng trong các thập niên gần đây
3.2.1 Phong trào du học của sinh viên
ở quy mô quốc tế, xu hướng du học của sinh viên tăng nhanh vì một số lý do sau:
a nhiều cơ hội lớn hơn so voi trong nước về chất lượng cũng như sự đa dạng của các mô hình đào tạo;
ĐA! HOC Quốc '?IA HẢ NOI TRUNG T/W THONG r|iỵ ~H1J VIỂN
Trang 22b nhiều thuận lợi để có được sự hiểu biết tốt hơn về các nền vãn hoá khác;
c nhu cầu ngày càng tăng của thị trường lao động quốc tế để thu nhận nhân công có trình độ và kỹ nãng được thế giới công nhận
Phân bô sinh viên theo khu vực địa lý
b sinh viên ngày càng ý thức hơn về những thuận lợi đặc biệt khi du học ở nước ngoài: hiểu biết văn hoá rộng, ngoại ngữ, bằng cấp có uy tín và tiếp cận được các cơ hội cống việc tốt hơn;
c các chi phí đi lại giảm mạnh và các phương tiện viễn thông quốc tế là những yếu tố làm cho sinh viên đi du học dễ dàng hơn hoặc dễ tiếp cận các dịch vụ đào tạo nước ngoài mà không cần phải đi khỏi nước sở tại
3.2.2 Tăng cung trong thương mại dịch vụ giáo dục quốc tế
Trang 23Trước thực tế cầu về giáo dục đại học tăng nhanh, thương mại dịch vụ giáo dục đã có nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng những nhu cầu đó.
Theo truyền thống, việc du học của sinh viên ở nước ngoài góp phần quan trọng vào giao dịch đối với các dịch vụ giáo dục đại học ở cấp quốc tế Các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục cả công lập lẫn tư nhân ngày càng coi sinh viên như nguồn thu nhập chính và cùng lao vào cạnh tranh để thu hút khách hàng
Bên cạnh phương thức truyền thống này, hai dạng dịch vụ khác đang chiếm dần thị phần là đào tạo từ xa và hiện diện thương mại
a đào tạo từ xa bao gồm toàn bộ các hoạt động đào tạo thông qua internet và các phương tiện thông tin khác như vệ tinh hay đĩa CD-rom;
b hiện diện thương mại gồm các chi nhánh của các đại học ở nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu của những sinh viên không muổn hoặc không thể đi
a Các cơ sỏ đào tạo của doanh nghiệp Sự xuất hiện và phát triển của
các tập đoàn kinh tế đa quốc gia có thể coi là m ột đặc điểm quantrọng của toàn cầu hoá ở nửa sau thế kỷ XX Các tập đoàn này ngàycàng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới và đổi khi còn nắm quyền điều tiết thay cho chính quyền Để đáp ứng nhu cầu riêng, các tập đoàn này hình thành nên các cơ sở đào tạo nhân công trên toàn th ế giới nhưng đổng thời cung cấp dịch vụ đào tạo cho một
số thành phần kinh tẽ và khách hàng khác Mô hình này được gọi là
2 OECD, C ác phân tích chính sách giáo dục, 2003.
19
Trang 24“đại học doanh nghiệp” Có thể kể ra đây ví dụ của các tập đoàn như
M otorola, M cDonald hay Microsoft Các cơ sở đào tạo này có thể thu hút rất nhiều sinh viên vì họ sẽ được đảm bảo có công việc sau khi tốt nghiệp
b Các cơ sở đào tạo vì mục tiêu lợi nhuận Các cơ sở này ngày càng có
vai trò quan trọng và chủ yếu tham gia vào phương thức đào tạo xuyên biên giới Mục tiêu của loại cơ sở này được xác định rõ ràng
và các cơ sở cũng hướng tới những dạng khách hàng nhất định Khó khăn cho các cơ sở này là phải thích nghi nhanh chóng với các nhu cầu rất đa dạng và luôn thay đổi Thông thường, các cơ sở này tập hợp lại nhằm cung cấp dịch vụ ở trong và ngoài nước (được gọi là các “tập đoàn thương mại”)
c Các cơ sở đào tạo từ xa Công nghệ thông tin và viễn thông và các
tác nhân chính thúc đẩy việc cung cấp dịch vụ giáo dục ở nước ngoài với các phương pháp học tương hỗ và phổ biến các tài liệu sư phạm như thư điện tử hay hội thảo trực tuyến Những hình thức này bổ sung thêm cho các loại hình đào tạo truyền thống Hiện nay, phương thức này chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn trong các hoạt động đào tạo nhưng lại hứa hẹn một sự tăng trưởng tiềm năng, đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo của các doanh nghiệp và đào tạo cho người lớn
- Chiến lược “ưu tiên thương m ại” thúc đẩy xuất khẩu các dịch vụ giáo dục nhằm thu lợi kinh tế
Trang 25Đối với các lý đo văn hoá và chính trị, đã có các hiệp định song phương hay khu vực để tạo ra khuôn khổ cho các chương trình trao đổi ưu tiên trong cùng khu vực địa lý hoặc các mối liên hệ lịch sử, nhất là các thuộc địa cũ Tuy nhiên, do tầm quan trọng ngày càng tăng của thị trường dịch vụ giáo dục, mục tiêu hướng nhiều hơn về các lợi ích kinh tế và nhiều khi chiến lược văn hoá chính trị được bổ sung cho mục đích kinh tế.
Ở một số nước “xuất khẩu” dịch vụ giáo dục, chính phủ và các tổ chức còn
sử dụng nhiều biện pháp nhằm nâng cao giá trị của các hoạt động thương mại liên quan đến sinh viên Các hoạt động maketing được khuyến khích và sinh viên nước ngoài thường phải đóng học phí khác với sinh viên bản xứ Chính vì vậy mà các chính sách này đưa đến sự tài trợ cho các tổ chức chuyên giới thiệu, quảng bá hệ thống giáo dục đại học quốc gia với cộng đồng quốc tế, đồng thời đón tiếp và giúp
đỡ sinh viên nước ngoài Có thể kể đến các tổ chức chính phủ như Cơ quan Giáo dục Quốc tế A ustralia (Australia), Hội đồng Anh (Vương quốc Anh), Cơ quan Giáo dục Pháp (CH Pháp) hoặc Cơ quan Hợp tác Giáo dục Đức (CHLB Đức) Bên cạnh đó cũng có nhiều tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực này với cùng một nhiệm vụ nhưng hoạt động do các cơ sở tư nhân tài trợ
Đối với các nước “nhập khẩu” dịch vụ giáo dục, chính quyền còn tạo điều kiện thuận ỉợi hơn đối với việc trao đổi sinh viên và giáo viên Có nhiều yếu tố tác dộng đến xu hướng này m à chủ yếu là lý do kinh tế vì hầu hết các nước này đều nằm trong sô' đang phát triển và thiếu các cơ sở hạ tầng cần thiết để đáp ứng nhu cầu của sinh viên Cho dù việc “nhập khẩu vô hình” này cũng tiêu tốn rất nhiều tiền bạc nhưng người ta vẫn thấy có nhiều thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ
Tóm lại, chính sự tăng nhanh của cầu, sự năng động của cung và chính sách của các chính phủ được khảo sát trong phần này đã giải thích tầm quan trọng và sự phát triển tiềm năng của thị trường giáo dục trên toàn thế giới
Sự phát triển nhanh chóng này đã đặt ra câu hỏi cho các chính phủ về vị trí và vai trò của họ, trực tiếp hay gián tiếp trong cung cấp tài chính, đề ra quy định
21
Trang 26giám sát và cung cấp các dịch vụ giáo dục đại học Đặc biệt, khi giáo dục phải tuân theo quy luật tự do trao đổi trong các cuộc đàm phán đa phương đang diễn ra trong khuôn khổ của GATS, vai trò của Nhà nước và hệ thống pháp lý, nhất là các nước đang phát triển với năng lực rất kém trong dịch vụ giáo dục, sẽ phải đối diện với những thách thức vô cùng lớn Quan trọng là sự nhìn nhận về các rủi ro của quá trình toàn cầu hoá cũng như các cơ hội do tự do hoá dịch vụ mang lại nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu tác hại đối với hệ thống giáo dục đại học của mỗi quốc
Trang 27CHUƠNG II
HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
1 LỊCH SỬ HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐAI HOC VIỆT NAM
Lịch sử của Việt Nam gắn liền với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc trong suốt hơn một nghìn năm Chính quyền đồ hộ đã rất cố gắng để chiếm Việt Nam và biến mảnh đất này thành một phần của Trung Quốc Khi những đội quân đầu tiên đến cũng là lúc diễn quá trình “đồng hoá” với cùng một cách thức tổ chức xã hội, kinh tế, chính trị Mặc dù các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã đẩy quân xám lược ra khỏi biên giới nhưng những ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa vẫn còn tồn tại rất rõ ràng trong xã hội Việt Nam Hệ thống giáo dục Việt Nam cũng khồng tránh khỏi những ảnh hưởng này đặc biệt là những
tư tưởng nho giáo luôn được coi là nền tảng của tổ chức xã hội
Tiếp theo sau sự thống trị của Trung Quốc, Việt Nam còn phải chịu ách đổ
hộ của thực dân Pháp trong gần một trăm năm Các ảnh hưởng của Pháp tuy không
rõ rệt nhưng cũng để lại những vết tích trong vãn hoá, xã hội cũng như trong hệ thống giáo dục Việt Nam
1.1 Lịch sử hệ thống
Hệ thống giáo dục Việt Nam cho đến năm 1945 đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của ách đô hộ Trung Hoa và Pháp trong một thời gian dài Một mặt, tư tưởng nho giáo đã thâm nhập khá sâu vào giáo dục với sự đề cao tri thức và vai trò của giáo dục đối với uy tín của mỗi cá nhân Chính trình độ học vấn quyết định vị trí xã hội của mỗi người Nhưng mật khác, chính sách của chính quyền đồ hộ Trung Hoa và Pháp vào thời đó đã hạn chế rất nhiều sự phát triển của giáo dục cả về số lượng lẫn chất lượng Có rất ít các trường tiểu học và trung học, chi có duy nhất một trường
23
Trang 28đại học được thành lập nãm 1076 tại Hà Nội (được gọi là Quốc tử giám, phía sau Văn miếu) để đào tạo quan lại cho triều đình phong kiến Nhìn chung, trẻ em chỉ
đi học được ở trường làng
1.2 Quá trình ph át triển
Sau khi giành được độc lập năm 1945, chính phủ cách mạng phải đối diện với vô số khó khăn để có thể kiểm soát được một đất nước có tới 90% dân sô mù chữ Vào thời điểm đó, hai ưu tiên được đặt lên hàng đầu: đấu tranh chống giặc đói
và giặc dốt Hiến pháp năm 1946 được ban hành ngay sau khi độc lập đã nhấn mạnh: “giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí” (Điều 15, khoản 1) Trong 10 năm, đã có 10 triệu người Việt Nam biết chữ nhưng kết quả đạt được ở miền Bắc
ấn tượng hơn so với miền Nam Phải đến năm 1975, hệ thống giáo dục mới được thống nhất trên toàn quốc và bắt đầu các cải cách hộ thống sau Nghị quyết của Đại hội Đảng Cộng sản nãm 1986 Hệ thống đào tạo tinh hoa dưới chế độ phong kiến
và thực dân đã nhanh chóng chuyển sang đào tạo đại chúng Những kết quả đạt được của giáo dục Việt Nam từ sau năm 1945 đã được các tổ chức quốc tế công nhận Trong bản báo cáo “Trợ giúp tài chính cho giáo đục Việt Nam” (tháng 10/1996), Ngân hàng T hế giới đã viết: “Việt Nam đã đạt được những kết quả thật
sự ấn tượng trong lĩnh vực giáo dục, ngay cả so với các nước có mức sống caohơn”-
Nhìn chung, quá trình phát triển của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện đại có thể được chia làm 4 thời kỳ:
(i) 1946-1975 đây là thời kỳ năng động nhất trong lịch sử phát triển với
tinh thần cách mạng và nhiệt tình của cả giáo viên lẫn sinh viên quyết tâm học tập để ủng hộ cuộc đấu tranh của dân tộc Mặc dù thiếu thốn về
cơ sở vật chất và nhiều khó khăn do chiến tranh gây ra, giáo dục đại học
đã đạt được những kết quả huy hoàng
3 Ngân hàng Thế giới N ghiên cứu tài chính cho giáo due của V iệt N am , 10/1996.
Trang 29Chính quyền cách mạng đã hình thành được một chương trình đào tạo hoàn chỉnh ở bậc đại học bằng tiếng Việt và do các giảng viên Việt Nam dạy Trong các cánh rừng miền Bắc Việt Nam do quân cách mạng kiểm soát (vùng tự do), các giảng viên và sinh viên làm việc và nghiên cứu trong những điều kiện vô cùng thiếu thốn và đơn giản Tuy nhiên, họ đã đóng góp tích cực cho sự phát triển của giáo dục đại học và cho chiến thắng của cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm (1945-1954).
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mạng lưới các trường đại
học tiếp tục phát triển Tính đến nám 1975, đã có “50 trường đại học và
cao đẳng với 8.400 giảng viên trong đó có 8,9% nghiên cứu sinh và 56.000 sinh viên trong đó 77,2% theo học chương trình chính quy và 40% là sinh viên m ?’4 Bên cạnh đó, một số lượng lớn sinh viên đã được
gửi đi đào tạo đại học tại Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu, nhất
là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản
Ở miền Nam cho đến năm 1975 dưới chính quyền thân Mỹ, đã có 4 trường đại học công lập, 3 đại học bán công và 11 đại học tư thục với166.000 sinh viên
(ii) 1976-1985. Sau khi đất nước thống nhất, người ta chờ đợi một cuộc sống
tốt đẹp hơn để bù đắp lại những hy sinh và đau khổ trong thời gian chiến tranh Tuy nhiên, nền kinh tế liên tục xuống dốc cộng với mô hình quản
lý tập trung bao cấp theo kiểu Liên bang Xô viết đã làm cho tình hình càng trở nên bi đát Các giáo viên nhận đồng lương ít ỏi không đủ cho những nhu cầu tối thiểu, số lượng sinh viên theo học đại học rất khiêm tốn so với mức tăng dân số Hệ quả là hệ thống giáo dục đại học chỉ còn những phương tiện nghèo nàn, chất lượng yếu kém và ít năng lực thích nghi với sự phát triển của môi trường xung quanh
(iii) 1986-1992. Công cuộc Đổi mới theo nghị quyết của Đại hội VI của Đại
hội Đảng Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới giáo dục đại học như đối
4 Pham M in h Hạc Giáo due ì 'iệt N a m - H iên trang và triển rong, NXB Thế giới, 2 0 0 1.
25
Trang 30với các lĩnh vực kinh tế xã hội khác Người dân ý thức được giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Chính phủ không thể tạo việc làm cho sinh viên tốt nghiệp và cũng không thể bao cấp tất cả các trường đại học công lập được nữa Mặt khác, với nhịp độ tăng dân số cao sau chiến tranh và chính sách phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đã tạo áp lực mạnh đối với hệ thống giáo dục đại học.
(iv) Sau năm 1992: đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là sự bùng nổ nhu cầu
về đào tạo đại học Mỗi người dân đều ý thức được các cơ hội của mở cửa kinh tế Việc học đại học cũng dễ dàng hơn do số lượng tăng nhanh của các trường đại học với nhiều loại hình đào tạo khác nhau và sự tham gia của nhiều yếu tố mới
Để tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các cơ sở đào tạo đại học trong việc trao đổi giảng viên, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới các trường đại học và cao đẳng Việt Nam đã được tổ chức lại một cách cơ bản từ năm 1994
Trong giai đoạn này, lần đầu tiên một đạo luật dành riêng cho giáo dục
đã được soạn thảo và được Quốc hội thông qua năm 1998 Luật Giáo dục có hiệu lực từ tháng 6 năm 1995 quy định tất cả các hoạt động của giáo dục quốc dân như: mục tiêu, tổ chức, nội dung, phương pháp giảng
d ạy
2 Sự PHÁT TRIỂN TRÊN c ơ SỚ “Đ ổ i MỚP
Điều 35 Hiến pháp 1992: “G/ớơ dục và đào tạo là quốc sách hàng đẩu Nhà
nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bối dưỡng nhân
t à r 5.
Trong các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các văn bản
pháp quy được Quốc hội thông qua, giáo dục luôn được UU tiên hàng đầu: “Phát
s Hiến pháp V iệt Nam 1946-1959-1980-1992 NXB Thế giới Hà Nôi 1995.
Trang 31triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện đ ể phát huy nguồn lực con người - yếu tô cơ bản đ ể phát triển x ã hội, tăng trưởng kinh t ế nhanh và bền vững"6 Đây là cơ sở quan trọng đối với sự phát triển của giáo dục nói chung và
giáo dục đại học nói riêng Trong thời kỳ đổi mới, những thay đổi cơ cấu kinh tế
đã tác động mạnh tới việc tổ chức lại hộ thống giáo dục cho thống nhất với các chương trình chiến lược cho sự phát triển kinh tế xã hội nhằm đáp ứng các yêu cầu của bối cảnh mới
2.1 Tác động của “Đ ổi m ới” đối với giáo dục đại học
Từ khủng hoảng kinh t ế tới chính sách đổi mới
Sau khi đã trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc chống thực dân Pháp và
Đế quốc Mỹ để bảo vệ chủ quyền dân tộc, Việt Nam đã phải đối diện với muôn vàn khó khăn trong việc xây dựng lại đất nước Một mặt, cơ sở hạ tầng hầu như đã
bị phá huỷ bởi bom Mỹ Hầu như tất cả các nhà máy và các trang trại nông nghiệp lớn phải đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng do thiếu vốn và công nghệ Mặt khác, cấm vận kinh tế của Mỹ cũng đã ngăn cản mọi nguồn giúp đỡ tài chính và đầu tư của các nước phát triển vào Việt Nam
Từ năm 1976, các nhà lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất đã đặt trọng tâm xây dựng một nền kinh tế nhà nước tập trung: công nghiệp nặng, hợp tác hoá nông nghiệp và chuyển sang các đại công trường nhằm lấy lại 30 năm chậm trễ do các cuộc chiến tranh huỷ diệt Chính sách đầy tham vọng và thiếu kiên nhẫn này
đã thất bại nặng nề
Sau 10 năm thống nhất đất nước, Việt Nam phải trải qua một giai đoạn cực
kỳ khó khăn trong quá trình phát triển do sự vận hành thiếu hiệu quả của nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung dưới dạng hợp tác xã Khủng hoảng kinh tế trong những năm 80 với tỷ lệ lạm phát phi mã, năng lực sản xuất giảm mạnh, sức m ua xuống
6 Nhà xuất bàn Chính trị quốc gia - V ăn kiện Đ ại hội đại biểu loàn q uốc làn thử IX, tr 108.
27
Trang 32dốc thê thảm và tình trạng thất nghiệp trong tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và chế biến đã thúc đẩy Chính phủ Việt Nam thay đổi phương hướng nhằm cải cách hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô của đất nước (Nghị quyết Đại hội Đảng VI năm 1986) Nãm 1986 đánh dấu điểm khởi đầu cho một giai đoạn phát triển kinh
tế mới của Việt Nam với chính sách cải cách dựa trên việc chuyển từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung nhà nước sang kinh tế thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước
Chính phủ Việt Nam đã quyết định mở cửa, đồng thời huy động toàn bộ hiệu quả của nền kinh tế nhiều thành phần Các xí nghiệp quốc doanh hoạt động kém hiệu quả được tư nhân hoá, số lượng các liên doanh trong lĩnh vực khai thác khoáng sản và dầu đã góp phần tăng nhanh chóng sản lượng công nghiệp Trong nông nghiệp, chính sách phi hợp tác hoá đất nông nghiệp, cạnh tranh giá sản phẩm kết hợp với việc chuyển giao kỹ thuật các phương thức sản xuất mới đã mang lại những thành công to lớn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới Đặc biệt, các giao dịch thương mại giữa Việt Nam và các nước trong khu vực
và trên thế giới liên tục phát triển và tăng gấp 3 lần chỉ trong vòng 5 nãm (1986- 1992)7 Riêng xuất khẩu chiếm 20% GDP đã góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của đất nước Từ năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được áp dụng đã cho phép tãng nhanh nguồn vốn đầu tư trong các lĩnh vực công nghiệp và chế biến Bên cạnh đó, việc bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ và gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng bị bao vây kinh tế, chính trị, tạo ra những cơ hội mới thuận lợi cho việc hội nhập vào thị trường thế giới để thực hiện các cải cách kinh tế được khởi động từ nãm 1986
Sự vận hành của thị trường đã làm thay đổi hoàn toàn cơ cấu kinh tế của đất nước và kéo theo sự thay đổi của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó
có giáo dục đại học
7 Nhà xuất bản Thống kê - H iện H ạng và triển vọng kình tế-xã hội V iệt N am san 10 nám đổi mới Hà nội
1996.