1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TRỒNG RỪNG CHUYÊN ĐỀ (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)

60 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 615 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 Trồng rừng hỗn giaoSố tiết: 11 Lý thuyết: 06 tiết; bài tập, thảo luận: 0 tiết; thực hành: 05 A MỤC TIÊU - Kiến thức: Nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về: + Gi

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

TRỒNG RỪNG CHUYÊN ĐỀ

(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)

Nguyễn Thị Xuân Viên - 2014

Trang 2

CHƯƠNG 1 Trồng rừng hỗn giao

Số tiết: 11 (Lý thuyết: 06 tiết; bài tập, thảo luận: 0 tiết; thực hành: 05)

A) MỤC TIÊU

- Kiến thức: Nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về:

+ Giá trị của rừng hỗn giao

+ Tiêu chuẩn lựa chọn cây trồng hỗn giao

+ Kỹ thuật trồng một số loài cây bản địa trong mô hình rừng hỗn giao

- Kỹ năng: Sau khi học xong chương này mỗi sinh viên có khả năng:

+ Xác định được những tiêu chuẩn lựa chọn cây trồng hỗn giao

+ Vận dụng được kỹ thuật trồng một số loài cây bản địa trong mô hình rừng hỗn giao vàothực tiễn sản xuất

- Thái độ:

Có thái độ học tập nghiêm túc, chủ động tìm kiếm tham khảo tài liệu liên quan, tích cựctrong các hoạt động thảo luận

B) NỘI DUNG:

1.1 Giá trị của rừng hỗn giao

+ Tận dụng triệt để không gian dinh dưỡng trên mặt đất và dưới mặt đất

+ Rừng hỗn giao có khả năng cải tạo đất do tầng thảm mục phong phú và tận dụng hệ rễcủa nhiều loại cây rừng

+ Tính ổn định của quần thể cao, có khả năng chống chịu các loại nhân tố bất lợi như gió,sâu bệnh, lửa rừng

+ Khu hệ động vật, vi sinh vật phong phú

1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn cây trồng hỗn giao

Chọn loài cây hỗn giao thích hợp là biện pháp chủ yếu phát huy tác dụng hỗn giao vàđiều chỉnh mối quan hệ giữa các loài, nó có một ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm trồngrừng, tăng cường tính ổn định thực hiện mục đích trồng và chăm sóc

Nếu việc chọn loài cây trồng không phù hợp có lúc làm cho cây chủv yếu bị chèn épthậm chí có thể bị thay thế các loài cây khác làm cho mục đích trồng rừng hỗn giao bị thất bại

Dưới đây là những điều kiện để chọn loài cây trồng hỗn giao:

Vấn đề chủ yếu của cây trồng hỗn giao là phải xem xét từng tính chất và mối quan hệgiữa các loài Cần phải bổ xung vị trí sinh thái giữa các loài chủ yếu, mối quan hệ giữa các loàithường biểu hiện hỗ trợ, có lợi cho loài chủ yếu trong tác dụng tương hỗ giữa các loài là nhiềubiểu hiện mặt có lợi không có tác dụng cạnh tranh hoặc ức chế mãnh liệt, và những loài hỗn giaocũng phải ổn định trong thời kỳ dài với cây bạn, khi phát sinh mâu thuẫn có thể dễ điều chỉnh

Cần phải lợi dụng thực bì tự nhiên để làm cây hỗn giao (cây tái sinh tự nhiên), cần vậndụng kỹ thuật trồng rừng có tác dụng của tự nhiên dể tạo ra một kết câu lâm phần hợp lý và cóthể thực hiện một rừng hỗn giao có mục tiêu

Rừng hỗn giao cần có giá trị về sinh thái, kinh tế và thẩm mỹ

Loài cây hỗn giao tốt nhất là những cây có đặc tính phòng chống cháy và đề kháng sâubệnh, nhất là không nên chọn những cây có cùng một loài sâu bệnh

Trang 3

Loài cây hỗn giao tốt nhất là những cây có khả năng nảy mầm mạnh có lợi cho việc tạocây con và tái sinh rừng thể thực hiện việc điều tiết mối quan hệ giữa các loài, sau đó có thể khôiphục thành rừng.

Phương pháp cụ thể để chọn loài cây hỗn giao nói chung là sau khi xác định loài cây chủyếu căn cứ vào mục đích và yêu cầu của hỗn giao, dựa vào đặc tính sinh vật học của loài và kinhnghiệm hỗn giao hiện có, đồng thời tìm hiểu quy luật của các loài cây trong rừng tự nhiên đưa ramột số loài cây hỗn giao có thể thực hiện xem xét đầy đủ các thành phần thực bì tự nhiên đấtrừng, phân tích mối quan hệ có thể sảy ra giữa chúng và loài chủ yếu cuối cùng đưa ra quyếtđịnh

1.3 Kết quả xây dựng mô hình rừng trồng hỗn giao ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá rộng vùng Trung Trung Bộ, Việt Nam.

Vùng Trung Trung bộ Việt Nam gồm 5 tỉnh (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,

TP Đà Nẵng và Quảng Nam), có tổng diện tích tự nhiên 2.951.529 ha, chiếm 9,3% diện tích toànquốc, có diện tích rừng tương đối lớn hơn (46,8%) so với các tỉnh vùng núi Bắc Bộ

Vùng Trung Trung bộ Việt Nam là một trong những vùng có diện tích rừng trồng tươngđối lớn so với các vùng khác

Trong những năm qua bằng các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, diện tích rừngtrồng ngày càng được tăng lên Bình quân mỗi năm trên toàn vùng trồng được khoảng 15.000 –20.000 ha rừng

Công tác trồng rừng cây bản địa lá rộng đã được tiến hành từ những năm 1980, đặc biệttrồng nhiều trong vòng 10 năm trở lại đây trong các chương trình trồng rừng 327, dự án 661, vàcác dự án khác

Diện tích rừng trồng cây bản địa lá rộng đã được trồng tính đến năm 2003 là 34.940 ha,

về cơ cấu cây trồng rất đa dạng, nhiều loài cây bản địa đã được đầu tư gây trồng, tạo nên sự đadạng trong tập đoàn cây trồng

Các loại cây bản địa lá rộng được trồng có thể kể đến như: Huỳnh, Bời lời, Sao đen, Sếntrung, Gụ lau, Gụ mật, Chò chỉ, Chò nâu, Chò xanh, Chua luỹ, Dầu rái, Giổi, Ươi, Kiền Kiền,Lát hoa, Lim xanh, Lim xẹt, Long não, Muồng đen, Ràng ràng xanh, Re hương, Sơn huyết, …

Phương thức trồng cũng đa dạng: Trồng thuần loài, trồng hỗn giao cây bản địa với câybản địa, cây bản địa với các loại Keo, cây bản địa trồng hỗn giao với Thông, trồng dưới tán rừng,trồng trên đất trống, v.v

Mỗi phương thức trồng theo nhiều công thức trồng khác nhau, trên nhiều loại đất khácnhau: Trồng theo băng, trồng theo rạch, trồng theo đám, trồng theo các công thức và mật độ khácnhau trên đất trống v.v

Bên cạnh những loài sinh trưởng tốt, có triển vọng gây trồng cũng còn nhiều loài đã bộc

lộ nhiều nhược điểm

Một số cây bản địa không phù hợp, sinh trưởng kém, khả năng thành rừng thấp, phươngthức trồng chưa hợp lý, hạn mức đầu tư còn nhiều hạn chế dẫn đến kết quả thành rừng chưa cao

Trang 4

1.3.2 Các mô hình rừng trồng hỗn loài trong chương trình 327

Theo quyết định số 556/TTg đã quy định: “Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn là trồng rừnghỗn giao theo sinh thái nhiều tầng gồm nhiều loài cây rừng bản địa gỗ quý, chủ yếu lấy giống từrừng nguyên sinh với mật độ bình quân 1600 cây/ha

Trong đó 40% là các loài cây bản địa và 60% cây phù trợ, kể cả cây công nghiệp, cây ănquả, cây đặc sản lâu năm”

Dựa vào kinh nghiệm sản xuất, các Sở Nông nghiệp, Ban quản lý dự án 327 căn cứnhững quy định kỹ thuật của chương trình để chọn đối tượng đất, cây trồng và phương thứctrồng Các loài cây được sử dụng rất đa dạng, gồm cả cây mọc nhanh, cây mọc chậm; cây lárộng, cây lá kim; cây bản địa, cây nhập nội

Theo tài liệu kiểm kê rừng năm 1999, chương trình 327 đã trồng được 172.875ha rừnghỗn loài, với các loài cây trồng rừng chính: Bồ đề, Mỡ, Sao dầu, Thông, Keo, Muồng và cácloài cây hỗ trợ khác Loài cây bạn có khi 2, 3 loài tạo nên các mô hình hỗn loài khác nhau Chủyếu các mô hình rừng hỗn giao chỉ có 2 loài

Các phương thức hỗn loài đã được các địa phương sử dụng là: Hỗn loài giữa các câytrong hàng, hỗn loài giữa các hàng với nhau và hỗn loài theo đám

Hầu hết các địa phương đều áp dụng phương pháp trồng rừng hỗn loài theo hàng Cácphương thức trồng được bố trí một cách ngẫu nhiên

Lập địa trồng rừng, cấu trúc lâm phần, chọn loài cho mô hình và các đặc tính sinh tháicủa loài cây chưa được chú ý đầy đủ

Do các loài cây có nhu cầu sinh thái khác nhau nhưng lại được áp dụng chung mộtphương thức gây trồng nên chưa thật sự hợp lý Một số địa phương xác định đất trồng không phùhợp (quá xấu) lại không có biện pháp trồng cây phù trợ

Việc xử lý thực bì được thực hiện một cách đơn giản và chỉ tiến hành chăm sóc trong 2năm đầu thông qua việc phát cây bụi và xới quanh gốc cây trồng

Vì thế cây trồng trong mô hình sinh trưởng chậm, kết quả trồng rừng chưa cao Điều nàyđược thể hiện qua sự sinh trưởng của các mô hình hiện tại

Phần lớn các mô hình trồng rừng hỗn giao thường sử dụng cây Keo làm cây phù trợ Đây

là loài cây chịu được đất xấu, dễ trồng nhưng có tốc độ sinh trưởng nhanh gấp 3-4 lần một sốloài cây bản địa trong những năm đầu

Trong khi đó quy định về mật độ khiến cho cự ly trồng giữa các hàng cây bản địa và câyphù trợ quá gần (2.5- 3m) Hầu hết các mô hình sau 2, 3 năm trồng các loài cây chính đều bị câybạn (Keo tai tượng, Keo lá tràm) lấn át

Trong mô hình trên các loài cây được trồng cùng một thời điểm, với phương pháp hỗnloài theo hàng Cự ly cây 2m, cự ly hàng 3m Tại thời điểm đo đếm (6 tuổi), Keo có đường kínhtán lá 3m đã che kín các loài Chiều cao các loài cây chính chỉ bằng 40 -60% chiều cao cây phùtrợ Rõ ràng với phương thức hỗn loài theo hàng như trên, cây trồng chính bị chèn ép, tốc độ sinhtrưởng kém

Mặt khác trong quy định của nhiều địa phương quyền lợi của người xây dựng rừng đượchưởng các sản phẩm từ các loài cây phù trợ Vì vậy đối với người dân ở một số vùng cây phù trợtrở thành cây trồng chính

Do đó các chủ rừng chỉ tỉa thưa cây phù trợ khi nó đã trở thành hàng hoá Do vậy khôngthể tạo điều kiện tốt nhất cho loài cây chính sinh trưởng Trên thực tế chỉ có cây phù trợ sinh

Trang 5

trưởng tốt còn hầu hết các loài cây bản địa còn lại với mật độ rất thấp (200 -300 cây/ha) và sinhtrưởng kém.

Tuy nhiên, cũng với các quy định trồng rừng theo chương trình 327 nhưng do cách làmcẩn thận và có hiệu quả hơn nên hiện tại ở một số địa phương các mô hình này còn tương đối tốt.Điển hình là ở Cầu Hai (Phú Thọ) Cây trồng được sử dụng trong các mô hình hỗn loài là: Regừng, Lim xanh, Lim xẹt, Trám trắng, Giẻ đỏ và cây phù trợ là Keo tai tượng, Keo lá tràm hoặcCốt khí được trồng theo phương pháp hỗn loài theo hàng

Cự ly bố trí giữa các cây và các hàng tương đối hợp lý (3x4 m) nên cây phù trợ phát huyđược tác dụng hỗ trợ cho các loài cây bản địa sinh trưởng phát triển bình thường

Mật độ hiện tại của các loài còn rất cao (90%), các loài trong mô hình đã bắt đầu giao tánnhưng chưa có sự cạnh tranh lớn

Để mô hình phát triển tốt cần theo dõi quá trình sinh trưởng của các loài trong mô hình

để điều chỉnh sự cạnh tranh giữa các loài cho thích hợp như tỉa thưa cây phù trợ, phát dây leo câybụi

1.3.3 Mô hình trồng rừng hỗn loài Keo dificilis và Lim xanh trên đất thoái hoá tại Cẩm Quỳ,

Việc xử lý thực bì trước khi trồng tương đối đơn giản, do độ che phủ của thực bì thưa (<30%) nên không phát toàn bộ thực bì mà chỉ tiến hành đào hố để trồng cây

Tại thời điểm điều tra Keo hỗ trợ rất tốt cho Lim xanh sinh trưởng Tuy nhiên do đất xấunên tốc độ sinh trưởng của Lim xanh chậm hơn so với các lập địa khác

Tăng trưởng bình quân chung về đường kính của Lim xanh là 0.6 cm/năm và về chiềucao là 0.5m/năm Mức độ phân hoá của Lim xanh về đường kính và chiều cao là 25% Trên dạngđất thoái hoá như vậy thì mô hình này được coi là rất thành công Các loài cây trồng sinh trưởngtốt và rất có triển vọng

1.3.4 Mô hình trồng rừng hỗn loài Keo trắng (Paraserianthes falcataria) và Lõi thọ (Gmelia arboria ) ở Lương Sơn, Hoà Bình

Mô hình được trồng hỗn loài theo băng, mỗi băng 6 hàng (6 hàng Keo trắng xen 6 hàngLõi thọ) Mật độ trồng 1100cây/ha (3x3m), trên đất rừng sau nương rãy, với độ dốc 15-20o Cốtkhí được dùng làm cây phù trợ và gieo trước 6 tháng

Trước khi trồng thực bì được phát dọn thành hàng để giảm sự lấn át cây bản địa và tiệnlợi cho việc đào hố Mặt khác việc chăm sóc được tiến hành đều đặn 2 lần/năm trong 3 năm đầunên các loài Keo trắng và Lõi thọ đều sinh trưởng tốt Đến tuổi 6 cả hai loài đã giao tán

Do tán của Lõi thọ dày dậm nên Cốt khí dưới tán Lõi thọ còn lại rất ít, thực bì tái sinhdười tán cũng rất thưa thớt (độ che phủ của thực bì 40%)

Tán Keo trắng thưa hơn nên dưới tán của nó Cốt khí hiện còn với mật độ lớn hơn, cáchàng Cốt khí vẫn còn rất đều với chiều cao 2.8m, thực bì dưới tán Keo trắng cũng dày hơn (độche phủ của thực bì khoảng 90%, chủ yếu là cỏ Lào)

Trang 6

Phân hóa giữa các cá thể của Keo trắng lớn hơn của Lõi thọ (hệ số biến động của Keotrắng là 27% về đường kính và 14% về chiều cao, của Lõi thọ là 19% về đường kính và 10% vềchiều cao)

Tăng trưởng bình quân về chiều cao của cả hai loài đều lớn: Lõi thọ 2.2m/năm và Keotrắng 2.5m/năm Sau 6 năm trồng chưa thấy xuất hiện sau bệnh hại, các loài cây trong mô hìnhsinh trưởng tốt, tỷ lệ sống cao (>95%), Lõi thọ đã bắt đầu ra hoa, nếu được theo dõi, bảo vệ vàchăm sóc cẩn thận thì khu rừng trồng này có thể làm rừng giống rất tốt

Đây là một mô hình rất thành công và có nhiều triển vọng

1.3.5 Mô hình trồng rừng hỗn loài theo đám ở khu rừng đặc dụng Núi Chung, Nam Đàn, Nghệ An

Các loài cây bản địa được đưa vào trồng gồm: Lim xanh, Lim xẹt, Trám, Sấu, Sau sau,

Gụ, Giẻ, Dầu rái, Trai, Bằng lăng theo phương thức hỗn loài theo đám từ 8- 20 cây Đất tạikhu vực này rất xấu, bị thoái hoá mạnh, khô cứng, có nhiều kết von, tầng mặt bị xói mòn mạnhkhông còn tầng Ao

Sau hơn 30 năm gây trồng hiện các loài cây sinh trưởng tốt cây tương đối đều Sự phânhóa giữa các cá thể trong loài không lớn, từ 2.8% (Bằng lăng) đến 7.9% (Lim xanh)

Dưới tán các loài cây bản địa thực bì phát triển mạnh, độ che phủ của thực bì 60% Saukhi trồng cây bản địa môi trường rừng được tạo lập, một số loài cây bản địa đã ra hoa kết quả và

có tái sinh tự nhiên dưới tán cây mẹ như: Lim xẹt, Trai, Sau sau Các loài cây bản địa sinhtrưởng bình thường Do đất xấu nên tốc độ sinh trưởng của chúng chậm

Một số loài có hiện tượng phân cành rất sớm: 100% cây Gụ đều có 2-4 thân/gốc, số cây

có từ 2 thân/gốc của Lim xanh là 90%, Bằng lăng 57%, phần lớn chúng đều phần cành ở độ caodưới 1.3m Mặc dù vậy đây được coi là mô hình thành công về trồng rừng hỗn loài bằng các loàicây bản địa trên đất rừng thoái hoá

1.4 Kỹ thuật trồng một số loài cây bản địa trong mô hình rừng hỗn giao

Từ những kinh nghiệm của thực tế sản xuất và tổng kết của một số đề tài khoa học thuộc

Dự án 661, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra một số phương thức kỹ thuật mớitrong việc trồng rừng phòng hộ, đặc dụng tại Dự án 661

Qua đó, các địa phương, đơn vị căn cứ vào điều kiện cụ thể về khí hậu, đất đai, địa hình,loài cây trồng… áp dụng cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hứa Đức Nhị, đối với trồngmới rừng phòng hộ, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể về tự nhiên và kinh tế-xã hội của từng địabàn trồng rừng có thể áp dụng một trong các phương thức kỹ thuật trồng rừng sau

Trồng rừng với mật độ ban đầu bằng mật độ khi thành rừng (khoảng 400 – 600 cây/ha):phương thức kỹ thuật này được áp dụng ở những nơi đã xác định chắc chắn được loài cây trồngphù hợp với điều kiện lập địa nơi trồng, địa phương hoặc đơn vị có kinh nghiệm về kỹ thuật đảmbảo trồng rừng thành công, cây giống được tạo có chất lượng cao, chăm sóc rừng đúng kỹ thuật

Khuyến khích trồng nông lâm kết hợp trong những năm đầu để tăng độ che phủ đất, cảitạo đất và tạo thêm thu nhập cho người trồng rừng

Trồng rừng ban đầu thuần loài bằng loài cây mọc nhanh, có tác dụng cải tạo đất sau mộtchu kỳ sẽ trồng thay thế bằng loài cây chính có tác dụng phòng hộ lâu dài

Phương thức kỹ thuật này được áp dụng chủ yếu ở những nơi đất đai đã bị thoái hóa,nghèo xấu nên cần được cải tạo bằng những loài cây mọc nhanh có tác dụng cải tạo đất (chủ yếu

Trang 7

theo băng rộng (50-60 m) để trồng các loài cây chính cho phòng hộ lâu dài, với mật độ từ 300 –

500 cây/ha (có thể là cây bản địa hoặc cây nhập nội nhưng phải đảm bảo chắc chắn thành rừng)

1.4.1 Cây lát hoa

- Đăc điểm sinh vật học và sinh thái học:

Lát hoa là cây gỗ lớn cao tới 25 - 30m, đường kính ngang ngực tới 120 - 130cm Thânthẳng, hệ rễ và tán lá phát triển

Cây ưa sáng, sống lâu, lúc nhỏ sinh trưởng nhanh, Từ 10 tuổi trở đi sinh trưởng chậmhơn Lát hoa có vùng phân bố tương đối rộng, từ vùng đồi thấp, đất sâu, ẩm ven khe đến vùngnúi cao, có đá vôi, trong rừng ẩm thứ sinh lá rộng nhiệt đới thường mọc hỗn giao với các loàikhác

Lát hoa ưa đất tơi xốp, ẩm, nhiều mùn, đất còn tính chất rừng Mọc tốt trên đất Feralitphát triển trên đá mẹ Granit, đá vôi

Là cây gỗ quý, có giác lõi gần giống nhau Giác màu hồng nhạt, óng ánh, gỗ màu nâu đỏ

có ánh hồng vân đẹp, thớ mịn, ít co dãn, ít cong vênh, không bị mối mọt Gỗ cứng, nặng trungbình rất được ưa chuộng dùng đóng đồ mộc cao cấp, các đồ dùng quý trong gia đình

Hoặc trồng hỗn giao theo hàng: 1 hàng Lát hoa, 1 hàng keo Với cự ly cây trong hàng2m

1.4.2 Cây giổi bắc

- Đăc điểm sinh vật học và sinh thái học:

Là cây Nam á nhiệt đới ẩm, Giổi Bắc chủ yếu phân bố trên vùng đồi núi có lượng mưatương đối cao Riêng tại Quảng Tây, Giổi Bắc thường gặp ở góc đông nam từ vùng bờ vịnh Bắc

bộ tới các huyện giáp với Quảng Ninh, Lạng Sơn và Cao Bằng Cao trình thường gặp là dưới600m, đa số là mọc rải rác hoặc thành quần thụ đơn ưu diện tích nhỏ

Phần lớn vùng phân bố có nhiệt độ bình quân năm trên 21 0 C, nhiệt độ bình quân thángnóng nhất 28 0 C trở lên và tháng lạnh nhất là 11 0 C trở lên, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thểtới -3 0 C mà cây không rụng lá Lượng mưa hàng năm giao động từ 1500 - 1800mm, độ ẩmtương đối trên 80%

Đất thường gặp trên vùng phân bố là Feralit đỏ, đỏ vàng, phong hóa trên granit, diệpthạch, phiến thạch cát phần lớn đều chua hoặc hơi chua

Tại nơi có tầng đất dày, ẩm ướt, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, cây GiổiBắc thường mọc rất tốt

Giổi Bắc là loài cây trung tính thiên dương, lúc nhỏ ưa bóng nhẹ, là cây có rễ ăn nông, ưa

ấm áp, ẩm ướt và đất phì nhiêu nhưng có thể chịu đựng giá rét ở mức độ nhẹ Dẫn giống đến HồNam tới vùng có cực hạn tuyệt đối xuống tới -7 0 C vẫn không bị tổn thương, như vậy có thể đưaGiổi Bắc lên các cao trình khá cao ở miền núi phía Bắc Việt Nam (1000 - 1200m)

- Phương thức trồng:

Trang 8

Có thể trồng Giổi Bắc dưới tán rừng thưa của Thông mã vĩ, Sa mộc, Vối thuốc, Cáng lò tạothành rừng 2 tầng, nâng cao năng suất rừng, đồng thời tăng được hiệu ích sinh thái và lâm phầnbền vững Hoặc có thể dùng Giổi Bắc làm cây làm giàu rừng theo rạch hoặc theo đám

Kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất tại nam Trung Quốc trên các vùng giáp ranh vớiLạng Sơn, Quảng Ninh cho thấy trong rừng hỗn giao với Thông mã vĩ, Cáng lò, Vối thuốc nhịp

độ tăng trưởng trữ lượng gỗ hàng năm của riêng cây Giổi Bắc có thể tăng gấp đôi so với trồngthuần loại

Phương thức hỗn giao tốt nhất là không đều tuổi theo hàng, tầng rừng Thông ít nhất phảitạo sớm hơn 5 - 10 năm Trừ cây Cáng lò có khả năng vươn cao rất mạnh có thể hỗn giao đềutuổi theo hàng, với các loài khác nếu hỗn giao đều tuổi với Giổi Bắc thường phải hỗn giao theođám 20 ´ 20m hoặc theo băng (4 - 6 hàng)

Trong trường hợp hỗn giao với Thông, cây Giổi Bắc đã phát huy vai trò phòng chống lửarừng, hạn chế sâu bệnh và cải thiện đất nâng cao tác dụng nuôi dưỡng nguồn nước và chống xóimòn rất tốt

Ngoài ra, khả năng tái sinh chồi của loài cây này rất mạnh, hoàn toàn có thể dùng phươngpháp tái sinh chồi sau khai thác chính

C) TÀI LIỆU HỌC TẬP:

1 Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh ( 2001), Trồng rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội

2 Công ty giống và phục vụ trồng rừng (1995), Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một

số loài cây rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội

3 Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Hữu Lộc (2004), Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây nông lâm nghiệp cho đồng bào miền núi, Nxb nông nghiệp, Hà Nội.

4 Mai Quang Trường, Lương Thị Anh (2005), Trồng rừng, Trường Đại Học Nông Lâm

Thái Nguyên

D) CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CỦA CHƯƠNG

*) Câu hỏi ôn tập:

1 Giá trị của rừng hỗn giao?

2 Tiêu chuẩn lựa chọn cây trồng hỗn giao?

3 Anh chị hãy phân tích mô hình rừng trồng hỗn giao thành hoặc không thành công ở Việt Nam(có thể ở địa phương) mà anh chị biết?

*) Thực hành: Xây dựng mô hình trồng rừng hỗn giao

Dụng cụ: Thước dây, địa bàn, dao phát, cuốc, cọc tiêu

Trang 9

CHƯƠNG 2 Trồng rừng phòng hộ

Số tiết: 6 (Lý thuyết: 06 tiết; bài tập, thảo luận: 0 tiết; thực hành: 00 tiết)

A) MỤC TIÊU:

- Kiến thức: Nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về:

Cơ sở lý thuyết các quy luật tác động của các tác nhân gây hại đối với môi trường sinhthái

Nguyên lý kỹ thuật tạo lập các loại rừng phòng hộ chủ yếu

- Kỹ năng:

Vận dụng được kiến thức trồng rừng phòng hộ vào thực tiễn sản xuất lâm nghiệp

- Thái độ: Có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực trao đổi thảo luận

B) NỘI DUNG:

2.1 Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn

2.1.1 Hệ thống các biện pháp kỹ thuật chung về trồng rừng phòng hộ đầu nguồn

2.1.1.1 Nguyên tắc chọn loài và danh lục cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn

Do chức năng phòng hộ đầu nguồn của rừng chủ yếu là điều tiết nguồn nước cho cácdòng chảy, các hồ nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn và bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp lòng sông,lòng hồ, nên loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng có những yêu cầu khác với rừng sảnxuất và đặc dụng

Do điều kiện tự nhiên, khí hậu - thuỷ văn của các vùng trồng rừng là rất khác nhau nêntiêu chuẩn chọn loài cây trồng cho các nơi cũng không giống nhau

Tuy vậy, những loài cây được chọn để trồng rừng phòng hộ đầu nguồn phải đáp ứngđược những nguyên tắc cơ bản sau:

+ Là loài cây phù hợp với điều kiện sinh thái vùng đầu nguồn và dễ dàng tạo thành rừngphòng hộ

+ Cây thân gỗ, sống lâu năm, có bộ rễ ăn sâu và tán lá rậm, thường xanh

+ Thích hợp với phương thức trồng rừng hỗn giao và có thể tạo thành rừng đa tầng vớimục đích phòng hộ

+ Có khả năng trồng hỗn giao với các loài cây khác, có tác dụng phù trợ lẫn nhau, tạothành rừng nhiều tầng

+ Là loài cây đa tác dụng, có khả năng cung cấp sản phẩm góp phần tăng thu nhập nhưngkhông làm ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ

+ Cây không sinh ra chất độc gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ conngười

Như vậy, có thể thấy rằng việc lựa chọn các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồnnhằm đạt được mục đích cao nhất là xây dựng rừng có nhiều tầng tán, hỗn giao, có bộ rễ ăn sâu,tán lá rậm, cho sản phẩm phụ,… nhằm mục đích phát huy tốt nhất vai trò phòng hộ và tăng thunhập cho người dân

* Danh lục các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn

Nghiên cứu chọn loài cây trồng rừng nói chung và trồng rừng phòng hộ nói riêng

đã được quan tâm tiến hành vào cuối thế kỷ XIX Với sự nỗ lực và cố gắng trong thờigian qua, chúng ta đã tuyển chọn được một tập đoàn cây trồng rừng phòng hộ góp phần

Trang 10

phục vụ công tác xây dựng rừng phòng hộ trong các chương trình trồng rừng trọng điểm

327 và Dự án 661

- Cách đây 20 năm, Bộ Lâm nghiệp cũ (nay là Bộ NN & PTNT) đã cóquyết định số 680 QĐ/LN ngày 15/8/1986 quy định các loài cây dùng để trồng rừng vàphát triển lâm nghiệp cho 9 vùng lâm nghiệp trong cả nước

Tiêu chuẩn để lựa chọn các loài cây gồm: Đáp ứng mục tiêu kinh doanh, phù hợp vớisinh thái và lập địa, có quy trình quy phạm hay kinh nghiệm phát triển, có nguồn giống, có năngsuất và hiệu quả Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên đây, các loài cây lựa chọn được chia thành 2nhóm:

+ Nhóm A: Là những cây khẳng định đã đạt được cả 5 tiêu chuẩn quy định

+ Nhóm B: Là những cây có triển vọng tuy chưa đạt được 5 tiêu chuẩn quy định nhưng

có khả năng đạt được trong thời gian trước mắt

Trên cơ sở đó đã lựa chọn được 92 loài cây trồng rừng cho 9 vùng lâm nghiệp trên cảnước, trong đó có hơn một nửa là cây thuộc nhóm A

Sau nhiều năm tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn, một danh sách các loài cây trồng rừngphòng hộ đã được đề xuất như sau:

Bảng 2.1 Danh sách một số loài cây phục vụ trồng rừng phòng hộ đầu nguồn

1 Bời lời nhớt Litsea alutinosa (Lour.) C.B.Rob (Litsea Sebifera Wild)

2 Cáng lò Betula alnoides Buch Ham ex D Don

3 Chò chỉ Parashorea chinensis H Wang

5 Dầu rái Dipterocarpus alatus Roxb Ex G Don.

6 Dẻ bộp Lithocarpus fissus (Champ.ex Benth.) A camus;

Castanopsis fissa (Champ Ex Benth.) Rehd & Wils

7 Dẻ đỏ Lithocarpus ducampi (Hickel et A Camus) A Camus.

9 Giổi xanh michelia mediocris Dandy

12 Keo lá tràm Acacia auriculiformis A Cunn Ex Benth.

13 Keo tai tượng Acacia mangium Wild.

14 Lát hoa Chukrasia tabularis A Juss

15 Lim xanh Erythrophloeum fordii Oliv.

16 Lim xẹt Pelthophorum dasyrrachiss (Miq.) Kurz Var tonkinensis

(Pierre) K&S Larsen

18 Muồng đen Cassia siamea Lam.

20 Ràng ràng mít Ormosia balansae Drake

21 Sa mộc Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook

Trang 11

24 Thông ba lá Pinus kesiya Rovle ex Gordon

25 Thông hai lá Pinus merkusii Jungh Et de Vries

26 Thông mã vĩ Pinus massoniana Lamb.

27 Tông dù Toona sinensis (A Juss)

(Nguồn: Cẩm nang ngành lâm nghiệp, 2004)

- Trong Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (1998-2010) thì nhiệm vụ xây dựng rừng phòng

hộ đầu nguồn là một nhiệm vụ khá quan trọng Qua tổng kết dự án giai đoạn 1998 - 2005 của 26tỉnh có trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể nhận thấy cơ cấu loài cây trồng rừng phòng hộ đầunguồn khá đa dạng, cụ thể như sau

Bảng 2.2 Các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn của một số tỉnh trong dự án trồng

mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005

1 Sơn La Thông mã vĩ, Tếch, Lát hoa, Luồng,

Tre bát độ, Sơn tra, Nhãn

Keo lai, Keo lá tràm,Bạch đàn, Trẩu, Chè

cổ thụ, Xoan ta

2 Điện Biên

Thông mã vĩ, Tếch, Lát hoa, Muồngđen, Mỡ, Giổi, Sở, Trám, Hông,Quế, Táo mèo, Tre, Luồng

Keo lai, Keo tai tượng,Bạch đàn, Trẩu, Cọkhiết, Táo

3 Lai Châu

Thông mã vĩ, Thông ba lá, Lát hoa,Muồng đen, mỡ, Long não, Tre mạyhốc, Tre mạy sáng, Tre điền trúc,Luồng, Sữa

Keo lá tràm, Trẩu, Cọkhiết

4 Lào Cai Thông mã vĩ, Sa mộc, Mỡ, Trám

5 Yên Bái Thông mã vĩ, Sa mộc, Pơ mu, Vối

thuốc, Sơn tra, Tô hạp

6 Hà Giang Thông mã vĩ, Sa mộc

7 Cao Bằng Thông mã vĩ, Sa mộc, Lát hoa, Dẻ,

8 Bắc Kạn Thông mã vĩ, Hồi, Chè shan tuyết

9 Lạng Sơn Thông mã vĩ, Mỡ, Trám, Lát, Hồi Keo tai tượng, Keo lá

tràm10.Thái Nguyên Trám, Muồng, Lim xẹt, Mỡ Keo tai tượng, Keo lá

tràm

11 Bắc Giang Thông ba lá, Muồng đen, Sao đen,

12 Hà Tây Sấu, Trám trắng, Lát hoa, Muồng

đen, Bồ kết

Keo tai tượng, Keo látràm

13 Hà Nam Sấu, Trám trắng, Lát hoa, Bương,

Tre bát độ, Xoài, Vải, Hồng

14 Thanh Hoá

Thông nhựa, Mỡ, Lát hoa, Lim xanh,Lim xẹt, Trám trắng, Dẻ, Sở, Quế,

Xà cừ, Luồng, Vải thiều, Nhãn

Keo tai tượng, Keo látràm

15 Hà Tĩnh Thông nhựa, Dó trầm, Tre Điềm

trúc, Luồng

Keo tai tượng, Keo látràm

Trang 12

Qua đây có thể thấy các loài cây mà các địa phương sử dụng để trồng rừng phòng hộ đầunguồn rất đa dạng và có thể xếp thành 4 nhóm lớn là: i) Cây gỗ lớn lá rộng (phần lớn là cây bảnđịa); ii) Cây lá kim; iii) Cây họ tre nứa và iv) cây ăn quả lâu năm, cụ thể như sau:

+ Cây gỗ lớn lá rộng phòng hộ chính chiếm phần lớn trong cơ cấu loài cây trồng rừng

phòng hộ đầu nguồn, gồm:

 Vùng Tây Bắc có 11 loài chính: Lát hoa, Trám trắng, Giổi, Mỡ, Tếch, Muồng đen, Longnão, Quế, Sở, Hông, Táo mèo

 Vùng Trung tâm Bắc bộ có 5 loài: Vối thuốc, Mỡ, Trám trắng, Sơn tra, Tô hạp

 Vùng Đông Bắc trồng 12 loài chủ yếu là: Trám trắng, Lát hoa, Lim xẹt, Dẻ, Mỡ, Muồngđen, Sở, Quế, Hồi, Chè shan tuyết, Sữa, Xoan ta

 Vùng Đồng bằng sông Hồng có 5 loài: Sấu, Trám trắng, Lát hoa, Muồng đen, Bồ kết

 Vùng Bắc Trung Bộ có 17 loài cây gồm: Lát hoa, Lát Mêxicô, Lim xanh, Lim xẹt, Trámtrắng, Dẻ, Giổi, Xà cừ, Dó trầm, Huỷnh, Sao đen, Dầu rái, Sến, Sở, Quế, Bời lời,Muồng đen

 Vùng Nam Trung bộ: Sao đen, Dầu rái, Gõ đỏ, Xà cừ, Muồng đen, Lim xanh, Lim xẹt,Điều

 Vùng Tây Nguyên có 4 loài: Xà cừ, Sao đen, Muồng đen, Bời lời

 Vùng Đông Nam Bộ 19 loài: Xà cừ, Sao đen, Dầu rái, Vên vên, Bằng lăng, Tếch, Gõ

đỏ, Sến, Cẩm liên, Muồng đen, Điều, Lát hoa, Lim xẹt, Mỡ, Dó trầm, Bời lời, Sở, Mét,Cao su

+ Các loài cây lá kim gồm: Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông ba lá, Thông caribê, Sa mộc

trồng ở hầu hết các tỉnh vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Trung tâm Bắc bộ, Bắc Trung bộ và TâyNguyên

+ Cây thuộc họ tre nứa gồm: Luồng, Tre bát độ, Tre điềm trúc, Tạp giao, Bương, Trúc sào,

Tre gai,… có trồng ở các tỉnh vùng Tây Bắc, Cao Bằng, Hà Nam, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và QuảngBình

+ Cây ăn quả lâu năm gồm: Nhãn, vải, xoài, mít,… có trồng ở các tỉnh Hà Tây, Hà Nam,

Thanh Hóa, TP Hồ Chí Minh

Ngoài các cây phòng hộ chính, tại các địa phương còn trồng thêm các cây phù trợ gồm các

loài như Keo lá tràm, Keo lai, Keo tai tượng trồng ở hầu hết các tỉnh Ngoài ra, một số các loài kháccũng được trồng nhưng với quy mô nhỏ hơn như Bạch đàn, Trẩu, Cọ khiết, Chè cổ thụ, Xoan tađược trồng ở Tây Bắc; Xoan ta, Sữa trồng ở Gia Lai, Bình Phước và Anh đào ở Bà Rịa - Vũng Tàu

Như vậy, về cơ bản gần 50 loài cây phòng hộ chính và 10 loài cây phù trợ dùng làm câytrồng rừng phòng hộ đã được lựa chọn gây trồng ở 26 tỉnh là tương đối phù hợp về mặt sinh thái,hầu hết các loài cây này đều đã được gây trồng rộng rãi hoặc thử nghiệm thành công ở các vùng

Trang 13

Tuy nhiên, một số loài cây được chọn chưa làm tốt chức năng phòng hộ của chúng như cây rụng

lá vào mùa khô (gồm Tếch, Xoan ta, Tông dù, Trẩu,…); các loài cây có bộ rễ ăn nông (như Xàcừ,…); tán lá thưa và mỏng (Bạch đàn,…) Điều này hoàn toàn có thể lý giải được khi việc lựachọn loài cây trồng rừng phòng hộ phải đáp ứng rất nhiều các yếu tố như có khả năng phòng hộtốt, phù hợp với sinh điều kiện sinh thái của địa phương, điều kiện gây trồng thuận lợi,… màtrong thực tế ở nhiều nơi không phải lúc nào cũng có loài cây đáp ứng được đầy đủ các yêu cầunày Mặt khác, cây trồng rừng phòng hộ phải đảm bảo nhiều chức năng và đa tác dụng nên một

số loài cây trồng được lựa chọn gây trồng chủ yếu vì sinh kế và xoá đói giảm nghèo cho ngườitrồng rừng, như: Luồng, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai và một số cây phù trợ khác Trongnhững mô hình trồng rừng hỗn loài giữa các loài cây phù trợ với cây phòng hộ chính thì hầu hếtcây phòng hộ chính kém phát triển Do đó, xét về lâu dài thì chất lượng rừng trồng phòng hộ đốivới những mô hình này là khó đảm bảo Nguyên nhân dẫn đến kết quả này có rất nhiều, nhưng

có thể kể đến 3 nguyên nhân cơ bản như sau đây

+ Chưa có cơ chế đảm bảo lợi ích dài hạn cho người trồng rừng phòng hộ, đặc biệt là cơ chếchi trả dịch vụ môi trường rừng, do chỉ được hưởng lợi ích từ cây trồng phù trợ nên người dânkhông quan tâm đến cây phòng hộ chính, dẫn đến trong nhiều mô hình cây phù trợ chèn ép câyphòng hộ chính

+ Chưa có các quy trình đồng bộ về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trồng, chăm sóc, tỉathưa và chặt nuôi dưỡng, đặc biệt là việc tỉa thưa cây phù trợ

+ Hướng dẫn quy trình kỹ thuật luôn kỳ vọng đạt được tính thống nhất từ trên xuống dưới nên đã

bỏ qua những đặc điểm riêng có của mỗi vùng (ban quản lý 661 cấp cơ sở)

2.1.1.2 Phương thức, kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng phòng hộ đầu nguồn

Rừng phòng hộ đầu nguồn phải tạo thành vùng tập trung, có cấu trúc hỗn loài, khác tuổi,nhiều tầng, mật độ dày, có độ tàn che trên 0,6 với các loài cây có bộ rễ sâu và bám chắc…Vềnguyên tắc trồng rừng phòng hộ đầu nguồn cũng giống như trồng rừng nói chung, tuy nhiên cómột số điểm khác biệt đáng chú ý sau đây:

- Xử lý thực bì: Không phát dọn toàn diện mà thường chỉ xử lý cục bộ ở những khu vựcđào hố trồng cây hay xử lý theo băng, theo rạch Thực bì phát dọn thường không đốt mà tậptrung thành đống nhỏ xếp ngang theo đường đồng mức để phân huỷ tự nhiên Cây bụi, cây táisinh có trên đất rừng được giữ lại để nuôi dưỡng, tạo rừng hỗn loài, đa tầng nhằm nâng cao khảnăng phòng hộ

- Làm đất chỉ tiến hành cục bộ bằng phương pháp đào hố Những nơi áp dụng cơ giới (độdốc thấp, địa hình bằng phẳng) làm đất được tiến hành theo đường đồng mức

- Tiêu chuẩn cây con đem trồng, đặc biệt là cây bản địa thường lớn hơn so với trồng rừngbình thường để nhanh chóng tạo lập hoàn cảnh rừng và phát huy chức năng phòng hộ, đặc biệt ởnhững khu vực có điều kiện đặc biệt Ví dụ như ở Hàn Quốc đã áp dụng trồng cây con 3 - 4 nămtuổi trên những vùng đất bị cháy rừng hoặc đầu nguồn núi cao

- Phương thức trồng rừng: hỗn giao theo hàng, theo đám hoặc theo băng (thuần loài trêndiện hẹp), có thể trồng hỗn giao giữa cây phòng hộ chính với cây phù trợ hoặc giữa các câyphòng hộ với nhau Ở những nơi đất đã bị thoái hoá lâu ngày, tầng đất mỏng có thể áp dụngtrồng rừng theo 2 bước sau đây:

Trang 14

i) Bước 1: Gieo cây cải tạo và che phủ đất như Cốt khí, Đậu triều, Muồng hoa pháo,…

Thời gian kéo dài khoảng 1 - 3 năm tuỳ tình hình cụ thể;

ii) Bước 2: Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn như đã mô tả ở trên

- Mật độ trồng rừng: Thường dày hơn so với trồng rừng kinh tế để rừng nhanh khép tán

và phát huy chức năng phòng hộ

- Kỹ thuật trồng: Khi trồng cần chú ý tạo mặt bằng cục bộ ở hố trồng cây, phần phía dướidốc nên đắp gờ cao hơn phía trên dốc một chút để giữ nước cho cây

- Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng rừng trồng phòng hộ đầu nguồn

+ Những năm đầu chỉ làm cỏ và xới đất cục bộ quanh gốc cây, không phát luỗng cây bụi

kể cả những cây không có giá trị kinh tế

+ Làm vệ sinh rừng bằng cách loại bỏ những cây sâu bệnh, dây leo

+ Không áp dụng các biện pháp tỉa cành

+ Khi rừng trồng đã lớn, các loài cây tái sinh dần dần xuất hiện, cần chú ý tạo điều kiện

để những cây này phát triển, dẫn dắt rừng theo hướng hỗn loài, nhiều tầng tán

Những biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ nói chung và phòng hộ đầu nguồn nóiriêng ở một số tỉnh thực hiện Dự án 661 được tổng hợp qua bảng 2.3

Trang 15

Bảng 2.3 Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn áp dụng trong dự án 661

1 Xử lý thực bì - Nơi địa hình dốc cao: Phát dọn thực bì theo băng

- Nơi địa hình ít dốc: Phát đốt toàn diện; một số nơi đã chú ý giữ lạicây bản địa tái sinh

2 Làm đất Cục bộ bằng phương pháp cuốc hố thủ công

3 Cuốc hố Kích thước hố: 30x30x30cm hoặc 40x40x40cm

4 Phương thức trồng - Hỗn loài theo băng hoặc theo hàng với cây phù trợ: áp dụng đối

với cây bản địa lá rộng

- Thuần loài: áp dụng đối với các loài Thông, Tre, Luồng

5 Mật độ - Đối với mô hình trồng rừng thuần loài: Mật độ trồng là 1.600 cây

phòng hộ/ha

- Đối với mô hình trồng rừng hỗn giao: Mật độ 1.600 cây/ha, trong

đó 600 cây/ha là cây phòng hộ chính, 1000 cây/ha là cây phù trợ

- Các loài tre luồng: mật độ từ 300 - 500 cây/ha

6 Nguồn giống - Các loài cây phòng hộ chính: chủ yếu là các giống thu hái từ rừng

tự nhiên chưa qua chọn lọc

- Các loài cây phù trợ: Từ các giống đã được cải thiện, cây con tạo

từ hạt, hom, mô

7 Phương pháp trồng - Đối với cây bản địa: Trồng bằng cây con tạo từ hạt, từ bầu

- Đối với cây phù trợ: Trồng bằng cây con tạo từ bầu là chủ yếu

8 Thời vụ trồng Tuỳ theo từng vùng, vào mùa mưa là chủ yếu

9 Bón phân Các loại phân dùng khá đa dạng từ phân vi sinh, phân NPK cho tới

phân chuồng, liều lượng tuỳ loài cây, trung bình 150 g/hố

10 Chăm sóc Được thực hiện trong 3 năm đầu với các công việc cắt dây leo, làm

cỏ, vun xới gốc kết hợp với bón phân

11 Nuôi dưỡng Hiện nay chưa áp dụng biện pháp nuôi dưỡng nào

Các tỉnh đều có quy định kỹ thuật riêng, cụ thể tỉnh Yên Bái sau khi thực hiện Dự án 661

đã tổng kết, đưa ra những biện pháp kỹ thuật cụ thể hướng dẫn người dân trồng và chăm sócrừng phòng hộ Các biện pháp kỹ thuật cụ thể được đề cập qua bảng 2.4

Bảng 2.4 Biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ hỗn loài giữa cây

trồng chính và cây phù trợ trong dự án 661 ở tỉnh Yên Bái

I Xử lý thực bì

1 Phương thức Phát dọn thực bì theo băng rộng 1,5m, băng chừa 1,5m

2 Phương pháp Dùng dao phát sát gốc, chiều cao gốc phát < 5 cm

3 Thời gian xử lý Trớc khi trồng chậm nhất 15 ngày

Trang 16

3 Thời gian làm đất Lấp hố trớc khi trồng 10 - 15 ngày

trồng Chủ yếu là trồng bằng cây con có bầu

4 Công thức trồng 600 cây trồng chính + 1000 cây phù trợ

5 Thời vụ trồng Vụ xuân từ tháng 3-4, vụ thu từ tháng 8 - 9 vào những

ngày thời tiết râm mát , có mưa, đất đủ ẩm

6 Mật độ trồng 1600 cây/ha

- Cự ly cây ( m) Cây Bản địa (hoặc keo) cách nhau 2,1 (trồng hỗn giao theo

cây thì các cây cách nhau 3 m)7

Tiêu chuẩn cây con

đem trồng

(tuổi Hvn, D00)

Tiêu chuẩn cây con đem trồng là cây có bầu, khỏe mạnh,không sâu bệnh, cong queo, cụt ngon, chiều cao từ 25 cmtrở lên, đường kính cổ rễ từ 2,5 mm trở lên, tuổi từ 4-6tháng tuổi

10

Phát dọn thực bì toàn diện, rẫy cỏ vun gốc (D = 0,8

-1 m)1.3 Bảo vệ rừng Bảo vệ ngăn ngừa mọi hình thức phá hại, cháy rừng

9

Phát dọn thực bì toàn diện, rẫy cỏ vun gốc (D = 0,8 - 1m)

2.3 Lần 3 : Tháng 11

- 12 Phát dọn thực bì theo băng(50% diện tích)

2.4 Bảo vệ rừng Bảo vệ ngăn ngừa mọi hình thức phá hoại, cháy rừng

3 Chăm sóc năm

thứ 3 : (2 lần)

3.1 Lần 1: Tháng 3 – Phát dọn thực bì, rẫy cỏ vun gốc (D = 0,8 - 1 m)

Trang 17

Qua bảng 2.3, 2.4 có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Về kỹ thuật tất cả các mô hình đều thực hiện trình tự các biện pháp kỹ thuật như nhau,song tùy vào thực địa mỗi nơi mà việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật này phải đảm bảo chophát triển của cây trồng rừng phòng hộ

Do đó trên từng địa điểm có những mô hình, mật độ trồng, phương thức trồng khácnhau, tùy vào đặc điểm tự nhiên của khu vực trồng Đặc biệt, không nên áp dụng một cáchcứng nhắc những biện pháp kỹ thuật này thì kết quả đạt được sẽ là rất đáng kể

Mặt khác, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn trong Dự án trồng mới

5 triệu ha rừng đã kế thừa được các kết quả, bài học kinh nghiệm của Chương trình 327 cũngnhư các tiến bộ kỹ thuật đã có trong thời gian gần đây Những điểm nổi bật có thể rút ra là:

- Khâu xử lý thực bì đã được chú trọng hơn, trong đó yếu tố địa hình đã được chú ý đến,đặc biệt là độ dốc để từ đó lựa chọn phương thức xử lý thực bì và trồng rừng phù hợp Trong quátrình xử lý thực bì đã chú ý chừa lại những cây lá rộng bản địa tái sinh để tạo hoàn cảnh rừng vàche bóng cho cây phòng hộ chính

- Công tác giống cây trồng đã được chú trọng hơn Nguồn giống, đặc biệt là các loài câytrồng phù trợ đã đa dạng hơn về số loài và số dòng; chất lượng được cải thiện hơn trước Giốngcây bản địa một số loài cây cũng được thu hái từ các rừng giống đã được chọn lọc, cây con đượctạo trong bầu với kích thước lớn hơn, một số loài cây như Trám trắng, Hồi,… được tạo bằngphương pháp ghép

- Phương thức trồng cũng không áp dụng một cách máy móc mà tuỳ vào tình hình cụ thểcủa điều kiện lập địa, có thể tạo rạch để trồng rừng mà không nhất thiết phải xử lý thực bì toàndiện và như vậy sẽ lợi dụng được thảm thực bì tự nhiên,

Trang 18

2.1.1.3 Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ có trồng bổ sung

Vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng ở nước ta đã đựơc đặt ra từ lâu, vào khoảng những

năm 1950 sau khi miền Bắc được giải phóng, nó được đề cập đến với thuật ngữ “khoanh núi nuôi rừng” Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà trong một thời gian rất dài sau đó người ta chỉ chú ý đến khai thác rừng tự nhiên là chính Do đó mà “khoanh núi nuôi rừng” mới chỉ là khẩu hiệu và

chưa có quy định cụ thể nào về vấn đề này

Mãi đến những năm 1990, cái được gọi là “khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình

và phát triển theo cụm thuật ngữ “phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” Điều này được thể hiện trong quy phạm ngành: Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21-98) ban hành kèm theo Quyết định số 175/1998/QĐ/ BNN/

KHCN ngày 04/11/1998 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT ban hành

Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN21-98) đã có những quy định cụ thể, đáng chú ý là:

 Khái niệm, phạm vi: Là một giải pháp lợi dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tựnhiên để phục hồi rừng thông qua bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung,được áp dụng cho cả 3 loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và sản xuất (điều 2, 3)

 Đối tượng tác động: Là đất lâm nghiệp đã mất rừng mà quá trình tái sinh và diễn thế tựnhiên cho phép phục hồi lại rừng, đáp ứng được những yêu cầu kinh tế - xã hội và môitrường trong thời hạn xác định

Quy phạm QPN 21-98 đã có một số điểm mới như đã khẳng định đây là một giải phápnằm trong hệ thống các giải pháp lâm sinh như khai thác tái sinh, nuôi dưỡng rừng, Mặt khác,cũng đã bắt đầu có những quy định rõ ràng hơn về đối tượng, giới hạn và các biện pháp tác động;điểm mới là đã đi sâu hơn, định lượng hoá nhiều tiêu chuẩn để xác định đối tượng, biện pháp,thời gian và kết quả phải đạt được khi khoanh nuôi phục hồi rừng, giúp cho việc quản lý chỉ đạo

và thực hiện tốt hơn

Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, kinh phí cho xây dựng, bảo vệ vàphát triển rừng nhất là rừng phòng hộ đầu nguồn còn eo hẹp thì biện pháp này vẫn tỏ ra rất cóhiệu quả, đặc biệt là ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khó trồng rừng Trong nhiều năm tới, đây vẫn

sẽ là một trong những biện pháp chủ yếu trong việc khôi phục rừng phòng hộ đầu nguồn ở nước

ta

- Ưu điểm: Có thể nói đối tượng áp dụng của các biện pháp kỹ thuật này chủ yếu là cho

rừng phòng hộ đầu nguồn Rừng phòng hộ đầu nguồn nước ta chủ yếu nằm ở những nơi xa xôi,hẻo lánh, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều khó khăn, chưa có điều kiện để trồng rừng.Mặt khác, trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn thì việc đầu tư một khoản tiềnlớn cho trồng rừng phòng hộ đầu nguồn là một việc khó thực hiện

Trong những năm qua, hàng ngàn ha rừng phòng hộ đầu nguồn đang được khôi phục từcác biện pháp này

Trong dự án quốc gia về trồng mới 5 triệu ha rừng, đến năm 2010 theo kế hoạch phảikhoanh nuôi phục hồi 1 triệu ha rừng bằng biện pháp xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung,trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ

Trang 19

- Hạn chế: Mặc dù biện pháp kỹ thuật trên có tác động rất lớn đến việc phục hồi rừng

phòng hộ đầu nguồn ở nước ta, tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này vẫn còn một số bất cập sau

mà chúng ta cần phải xem xét:

+ Một số vấn đề liên quan đến chất lượng rừng khoanh nuôi như cần chọn đối tượng nào

để chóng thành rừng sớm phát huy tác dụng, lấy rừng nuôi rừng cho trước mắt và lâu dài, phânchia đối tượng một cách rõ ràng, cụ thể đối tượng nào thì trồng lại, đối tượng nào thì khoanhnuôi, biện pháp cụ thể như thế nào thì còn nhiều bất cập cần phải làm rõ và cụ thể hơn

Mặc dù trong quy phạm ngành QPN 21-98 về khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và khoanhnuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung đã có quy định chi tiết cho từng đối tượng rừng cụthể Tuy nhiên, trong thực tế khi áp dụng các hướng dẫn này thì còn nhiều bất cập, mà cụ thể làviệc phân chia các đối tượng tác động chưa chính xác

Thực tế ở nhiều nơi, nhiều chỗ, vì phân chia đối tượng tác động chưa chính xác nên cónhiều diện tích đáng ra có thể khoanh nuôi phát triển thành rừng thì lại đem phá đi để trồng lạigây tốn kém không cần thiết, mặt khác những diện tích đã suy thoái đến mức không thể phục hồiđược nữa thì lại khoanh nuôi, mất thời gian mà không phục hồi được thành rừng trở lại Vì vậy,trong những năm tới, cần có những nghiên cứu cụ thể và chi tiết nhằm đưa ra nguyên tắc phânchia một cách chính xác cho từng vùng cụ thể các đối tượng rừng phòng hộ đầu nguồn đượcphép khoanh nuôi hay phải trồng mới lại rừng

+ Vấn đề thứ hai là việc giải quyết lợi ích của những người dân sống trong rừng và thamgia khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn Người dân không thể chỉ sống bằng tiềnkhoán khoanh nuôi bảo vệ rừng của Nhà nước trong khi nhà nước cũng không thể đầu tư tiền lâudài cho việc này, do đó cần có cơ chế hợp lý để người dân vẫn được hưởng lợi từ các sản phẩmtạo ra từ rừng mà vẫn phục hồi tốt rừng phòng hộ đầu nguồn Như vậy, vấn đề đặt ra là phải biếtđược người dân muốn gì, cần gì, cùng họ tìm cách tháo gỡ để họ làm và cho họ hưởng quyền lợimiễn sao không trái với lợi ích chung để rừng phòng hộ đầu nguồn được phục hồi và phát triểntốt

2.1.2 Giới thiệu một số mô hình rừng trồng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung rừng phòng hộ đầu nguồn

2.1.2.1 Mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn được xây dựng thành công trong Chương trình 327

* Vùng Tây Bắc:

i) Thông ba lá + Táo mèo: 1 hàng (3m x 2m) + 1 hàng (3m x 2m)

ii) Long não + Trẩu: Rạch 1 hàng (9m x 2 m) + băng 2 hàng (3m x 2m)

i) Thông nhựa + Keo: hàng (10m x 2m) + băng 3 hàng (2m x 2m)

ii) Lim hay Lát hoa + Luồng: hàng (5m x 4m) + hàng (5m x 4m)

* Vùng Nam Trung bộ:

i) Muồng đen + Keo: Rạch 1 hàng (9m x 3m) + băng 2 hàng (3m x 2m)

Trang 20

ii) Giổi + Quế: Rạch 1 hàng (8m x 4m) + băng 3 hàng (2m x 2m).

* Vùng Tây Nguyên:

i) Vên vên + Bời lời: Rạch 1 hàng (8m x 4m) + băng 3 hàng (2m x 2m)

ii) Thông ba lá + Keo: Rạch 1 hàng (9m x 2m) + băng 2 hàng (3m x 2m)

* Vùng Đông Nam bộ:

i) Dầu rái + Keo: Rạch 1 hàng (9m x 2m) + băng 2 hàng (3m x 2m)

ii) Gõ đỏ + Điều: Rạch 1 hàng (8m x 4m) + băng 3 hàng (2m x 2m)

2.1.2.2.Các mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn xây dựng thành công trong Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2005 đã xây dựng được khá nhiều môhình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn Kết quả tổng hợp số liệu báo cáo của các tỉnh có trồngrừng phòng hộ đầu nguồn cho thấy các mô hình khá đa dạng, tổng số có tới 96 mô hình rừngtrồng phòng hộ đầu nguồn với mật độ trồng rừng rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài cây và kỹthuật áp dụng trong mỗi mô hình Thông tin chi tiết về các mô hình được tập hợp ở bảng sau:

Trang 21

Bảng 2.5 Một số mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn có triển vọng ở

một số địa phương

TT Loài cây, phương thức

Mật độ (cây/ha)

Tỉnh Cây

chính

Cây phù trợ

10 Lát hoa + Luồng + Keo 550 1000 Thanh Hóa

16 Lát hoa + Xà cừ + Keo 600 1000 Thanh Hóa

17 Lát Mêxicô+Lim xẹt+ Keo 625 625 Thái Nguyên

19 Lim xanh + Lát hoa + Keo 700 900 Thanh Hóa

21 Lim xanh + Lim xẹt + Keo lá

24 Lim xẹt + Vạng trứng + Keo 625 625 Thái Nguyên

Căn cứ vào các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn có thể chia các mô hình rừngphòng hộ đầu nguồn thành 4 nhóm chính sau đây:

- Nhóm 1: Cây bản địa trồng hỗn giao với nhau và cây bản địa hỗn giao với cây phù trợ.

Đây là nhóm các mô hình rừng trồng rừng phòng hộ đầu nguồn phổ biến nhất, được đúc rút từChương trình 327 và áp dụng cho Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Một số mô hình mới đượcnghiên cứu thử nghiệm có kết quả trong thời gian gần đây cũng được đưa vào Dự án trồng mới 5triệu ha rừng như các mô hình rừng trồng Thông Caribe, Tre lấy măng,

- Nhóm 2: Các loài Thông trồng thuần loài và Thông trồng hỗn giao với các loài cây

khác Các mô hình này phổ biến ở các vùng trồng Thông như Sơn La, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Thanh

Hoá, Quảng Bình, Gia Lai,…

Trang 22

- Nhóm 3: Các loài Keo trồng thuần loài và Keo trồng hỗn giao với các loài cây khác

Đây là những mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn mới xuất hiện trong những nămgần đây và được xem như là một hướng mới ở những nơi có thể áp dụng những biện pháp khaithác theo đám hoặc khai thác chọn với cường độ cao

Đã nhiều năm nay chúng ta có quan điểm đã là rừng phòng hộ thì không có tác động,không khai thác lợi dụng, cũng chính vì vậy mà chúng ta chưa thu hút được người dân vào trồng

và phát triển rừng phòng hộ vì không có lợi ích

Một thực tế là rừng trồng sản xuất cũng có vai trò phòng hộ, đối với các loài cây mọcnhanh thì khả năng che phủ đất cũng rất tốt Theo đề xuất của các địa phương, đây chính lànhững mô hình trồng phòng hộ đầu nguồn đa mục đích nên nó đã trở thành những mô hình cótriển vọng được lựa chọn phát triển

- Nhóm 4: Các loài Tre, Luồng trồng thuần loài Trong những năm gần đây các mô hình

này đa dạng và được phát triển rộng hơn ở nhiều tỉnh

Ưu điểm của các mô hình này là có thể duy trì lâu dài về mặt thời gian (khoảng 20-25năm), hàng năm cho thu hoạch sản phẩm nên thu hút được sự quan tâm của người dân

Ngoài ra, rừng tre luồng có khả năng chống xói mòn tốt do lá rụng nhiều và khó phânhuỷ, rễ cây nhiều chủ yếu phân bố ở bề mặt đất nên che phủ đất tốt

2.2 Trồng rừng phòng hộ chắn gió

2.2.1 Gió hại và ảnh hưởng của gió hại

Bình thường gió có nhiều tác dụng tốt như làm cho không khí lưu thông, đưa hơi nước từbiển vào đất liền, điều hoà nhiệt độ không khí, gióp cho việc thụ phấn hoa và phát tán quả và hạtcủa một số loài cây

Nếu sức gió mạnh hoặc gió có tính chất khô, nóng, lạnh thì sẽ gây hại cho người nói chung

và gây hại về mặt sinh lý lẫn cơ giới cho cây trồng nói riêng Việt nam có các loại gió hại chínhsau:

Gió mùa Đông bắc: Thổi từ Xibêri vào Miền Bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) mùa gió

thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Tốc độ gió cấp 3, cấp 4, vào giữa mùa gió (tháng 12, tháng

1, tháng 2) gió mạnh đến cấp 6, 7

Tính chất gió khô lạnh, nhiệt độ giảm thấp gây giá lạnh có hại đến sinh trưởng phát triểncủa thực vật Vùng thung lũng, ngày trời quang mây có thể xuất hiện sương muối, làm ảnhhưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng tính chất khô của gió làm ẩm độ khôngkhí giảm gây hạn hán Địa hình vùng cát ven biển Miền Trong gió mùa đông bắc là động lực chocát di động, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của con người

Gió Lào: là loại gió khô nóng, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 9, mạnh nhất là tháng 6 đến

tháng 7 , mỗi đợt kéo dài 2-3 ngày có khi một tuần đến nửa tháng, gây hạn vụ hè thu Cây trồng

bị rám thân, cháy lá, giảm năng suất, cây con mới trồng bị chết hàng loạt

Phạm vi hoạt động thuộc các tỉnh dọc biên giới Việt Lào và miền Trong Trong bộ: Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị là các tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất

Bão: Hình thành từ những vùng áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, thời gian xuất hiện từ

tháng 5 đến tháng 11 có khi đến tháng 12, tần số cao nhất vào các tháng 7,8,9 Sức gió rất mạnh

có khi lên đến cấp 11, cấp 12, giật trên cấp 12 Bán kính hoạt động 200-300 km, kèm theo mưalớn Bão làm đổ nhà cửa, phá hoại hoa màu, ngập lụt…ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sảnxuất của con người

Trang 23

Gió hại địa phương: Một số địa phương do địa hình đặc biệt nên đã hình thành các loại gió

hại có tính quy luật ở địa phương, còn gọi là gió địa hình Ví dụ ở vùng Than Uyên (Tây Bắc) donằm kẹp trong thung lũng hẹp của dãy Hoàng Liên Sơn nên đã hình thành những cơn gió mạnh

dữ dội gây bụi mù mịt, ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của con người và làm giảm năngsuất cây trồng Thời gian hoạt động của loại gió này ở vùng Than Uyên từ tháng 4 đến tháng 11

Các loại gió hại bất thường: Do sự biến đổi bất thường của thời tiết đã tạo ra những cơn

giông, lốc, xoáy…ở nơi này, nơi khác trong những thời điểm không xác định, do đó cũng gâyhậu quả nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của con người

2.2.2 Nguyên lý chắn gió của đai rừng

Gió là sự chuyển động của dòng khí theo cả chiều ngang và chiều thẳng đứng, xoáy theochiều thẳng đứng là nguyên nhân gây nên tình trạng thay đổi độ ẩm của lớp không khí sát mặtđất, có hại cho cây trồng Kết cấu của gió là chỉ hai phương chuyển động của gió

Gió khi gặp vật chắn kín, bắt buộc nó phải đi vòng quanh sườn hay vượt qua vật chắn, lúc

đó tốc độ và kết cấu của gió bị thay đổi, sự thay đổi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hìnhdạng, kích thước vật chắn và bản thân kết cấu của gió

Mỗi đai rừng cũng là vật chắn, nhưng khác với vật chắn kín là khi gió thổi đến, gặp đairừng nó sẽ chia làm hai phần: phần chui qua đai và phần vượt lên trên tán đai rừng

Phần chui qua đai rừng, do bị ma sát mà giảm động năng và xoáy lớn xé thành xoáy nhỏ,

vì thế đai rừng đã làm cho kết cấu của gió bị thay đổi và giảm tốc độ gió

Phần vượt qua tán đai rừng, kết cấu ít thay đổi, nó chia thành 2 phần nhỏ: một phần tiếptục đi xa với độ cao như cũ; một phần hạ thấp độ cao và kết hợp cùng với phần gió chui qua đairừng hình thành nên lớp xoáy

2.2.3 Ảnh hưởng của đai rừng đến tốc độ gió và phạm vi chắn gió

2.2.3.1 Ảnh hưởng của kết cấu đai rừng đến tốc độ gió

* Khái niệm về kết cấu đai rừng: Là đặc trưng về hình dạng và cấu tạo bên trong của đairừng, mà từ đó nó quyết định đến đặc điểm và mức độ lọt gió của đai rừng

Có 3 loại kết cấu:

- Kết cấu kín: là đai rừng có nhiều tầng tán gồm cây bụi, cây nhỡ và cây cao, thường đairừng có nhiều hàng cây, mặt cắt của đai rừng có rất ít lõ hổng lọt sang (độ hổng nhỏ hơn 5%),gió nhẹ cấp 1-2 không thể lọt qua mà chủ yếu vượt qua tán rừng, hệ số lọt gió (k < 0,3)

- Kết cấu thưa: là đai rừng chỉ có một tầng, tầng tán lá kín (hệ số lọt gió <0,3), phía dướitán trống (hệ số lọt gió đến 0,7), hệ số lọt gió Trong bình từ 0,5 đến 0,7

- Kết cấu hơi kín: là đai rừng thường có 2-3 tầng tán, nhưng tầng nào cũng thưa, các lỗhổng phân bố đều trên mặt cắt thẳng đứng của đai rừng, hệ số lọt gió từ 0,3 đến 0,5

* Ảnh hưởng của kết cấu đai rừng đến tốc độ gió:

- Đai rừng kết cấu kín: tác dụng chắn gió theo kiểu bức màn kín nên dòng gió chủ yếuvượt qua tán, tạo ra sự giảm áp sau đai, lớp đệm không khí được hình thành ở đó nên tốc độ giónhỏ nhất ngay sát sau đai bằng 5-15% tốc độ gió ban đầu Do việc hình thành sau đai rừngkhoảng không khí loãng nên dòng gió nhanh chóng phục hồi lại tốc độ gió ban đầu Phạm vi ảnhhưởng của đai rừng đến tốc độ gió trong khoảng 15-20 H và trong khoảng đó tốc độ gió Trongbình giảm đi 30%

Trang 24

- Đai rừng kết cấu thưa: tác dụng chắn gió theo kiểu khuếch tán khí động lực, tốc độ giónhỏ nhất sau đai rừng đo ở vị trí 5-8 H và tại vị trí đó tốc độ gió bằng 40-50% tốc độ gió banđầu.

- Đai rừng kết cấu hơi kín: tác dụng chắn gió theo kiểu màn rây Tốc độ gió nhỏ nhấtquan sát tại vị trí 3-5 H phía sau đai, tại đó tốc độ gió bằng 20-25% tố độ gió ban đầu TheoG.I.Machiakin thì đai rừng hơi kín giảm tốc độ gió nhiều nhất Trong phạm vi 30 H sau đai, tốc

độ gió Trong bình giảm đi 40% và phạm vi chắn gió đạt đến 60-100 H mới phục hồi hoàn toànnhư cũ

2.2.3.2 Ảnh hưởng của hình dạng mặt cắt thẳng đứng ngang qua đai rừng đến tốc độ gió

Hình cắt ngang cả đai rừng có 3 dạng chính:

- Dạng hình chữ nhật: các hàng cây có chiều cao bằng nhau hoặc gần bằng nhau

- Dạng hình tam giác cân: hàng cây cao nhất bố trí ở giữa đai

- Dạng hình tam giác lệch: mái đón gió thoải hơn mái khuất gió

Các nghiên cứu đều cho thấy hình dạng mặt cắt ngang của đai rừng có ảnh hưởng đến sựthay đổi của tốc độ gió sau đai Nhưng mức độ ảnh hưởng còn phụ thuốc vào kết cấu đai rừng

Đối với đai rừng kín thì hình cắt ngang có dạng tam giác lệch là có tác dụng giảm tốc độ

và phạm vi chắn gió lớn nhất

Đối với đai rừng hơi kín: thì hình dạng mặt cắt ngang của đai rừng có dạng hình chữnhật có tác dụng lớn hơn các hình cắt ngang khác

Đối với đai rừng thưa thì hình dạng mặt cắt ngang có dạng tam giác cân là tốt nhất

2.2.3.3 Ảnh hưởng của chiều cao đai rừng đến tốc độ gió

Nói chung khi chiều cao của đai rừng tăng, thì phạm vi chắn gió của đai rừng cũng tănglên Nhưng sự phụ thuộc này rất phức tạp, nó liên quan trước hết đến kết cấu của đai rừng

Đối với đai rừng thưa thì phạm vi chắn gió tăng chậm hơn tỷ lệ tăng của chiều cao đairừng so với các loại kết cấu khác Ngoài ra sự phụ thuộc này còn bị chi phối bởi gradian thẳngđứng của gió, tầng kết nhiệt của lớp không khí sát đất

2.2.3.4 Ảnh hưởng của bề rộng đai rừng đến tốc độ gió

Khi bề rộng của đai rừng càng lớn thì phạm vi chắn gió càng tăng lên, nhưng đến một bềrộng nhất định

2.2.4 Ảnh hưởng của đai rừng đến các nhân tố tiểu khí hậu sau đai

Ảnh hưởng của đai rừng đến nhiệt độ không khí sau đai

Ảnh hưởng của đai rừng đến ẩm độ không khí

Ảnh hưởng của đai rừng đến sự bốc hơi nước và thoát hơi nước của thực vật

2.2.5 Kỹ thuật trồng rừng chắn gió hại

2.2.5.1 Quy hoạch hệ thống đai rừng chắn gió

Quy hoạch hệ thống đai rừng chắn gió là việc bố trí vị trí các đai rừng chắn gió trong mộtkhông gian địa lý nhất định

Nguyên tắc khi quy hoạch hệ thống đai rừng chắn gió cho một địa phương phải phù hợpvới các quy hoạch sử dụng đất khác như kiến thiết đồng ruộng, giao thông thuỷ lợi, địa bàn cơgiới,

Trong thực tế, các đai rừng chắn gió thường được bố trí dọc theo hai bên bờ kênh mương,hai bên đường giao thông, trên các đường phân lô, khoảnh

Trang 25

Diện tích của đai rừng chắn gió phải nhỏ nhất nhưng hiệu quả chắn gió vẫn đảm bảo đểtiết kiệm đất.

Rừng chắn gió phải được xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh mới đem lại hiệu quảphòng hộ cao

Trong hệ thống đai rừng chắn gió thường có các đai rừng chính và các đai rừng phụ Đai chính là những đai rừng có nhiệm vụ cản hướng gió hại chính ở vùng đó, nó có vaitrò quyết định trong việc giảm nhẹ sức gió và cải thiện các yếu tố tiểu khí hậu, do đó mà quyếtđịnh hiệu quả phòng hộ của hệ thống rừng phòng hộ chắn gió của khu vực

Đai phụ có nhiệm vụ cản gió hại phụ và phối hợp với đai chính phát huy tác dụng phòng

hộ tốt hơn

Ở những nơi có điều kiện thì nên bố trí các đai rừng chắn gió thành mạng lưới ô Trong

đó, các đai rừng chính phải vuông góc với hướng gió hại chính và các đai rừng phụ vuông gócvới đai chính

2.2.5.2 Các chỉ tiêu kỹ thuật xây dựng đai rừng chắn gió

+ Xác định hướng của đai rừng chắn gió:

- Xác định hướng các loại gió hại và mức độ gây hại

- Xác định hướng của đai rừng chắn gió

+ Xác định kết cấu của đai rừng

+ Xác định bề rộng của đai rừng và khoảng cách giữa các đai

+ Xác định hình dạng của đai rừng chắn gió

+ Chọn loài cây trồng cho trồng rừng chắn gió

+ Xác định mật độ trồng rừng và phối trí các điểm gieo trồng

2.3 Trồng rừng phòng hộ ven biển

2.3.1 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống rừng phòng hộ trên đất cát ven biển

- Phải nhanh chóng tạo lập được các giải rừng phòng hộ phân bố hợp lý để chặn đứngnạn cát bay và cố định các cồn cát di động

- Các hoạt động lâm nghiệp, xây dựng rừng phòng hộ trên đất cát phải đi trước một bước

để tạo tiền đề cần thiết cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sảntrên đất cát Mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp, trên vùng đất cát làmối quan hệ chặt chẽ hữu cơ, yếu tố này quyết định sự tồn tại của yếu tố kia và ngược lại

- Cải thiện được các điều kiện khắc nghiệt của môi trường vùng đất cát, như nhiệt độ ởlớp cát mặt lên quá cao trong mùa hè và sự thiếu hụt nước nghiêm trọng trong mùa khô

- Nâng cao được năng suất các loài cây trồng nông nghiệp vật nuôi và năng suất nuôitrồng thuỷ sản trên đất cát Đồng thời đáp ứng được nhu cầu thiết yếu về củi đun và gỗ gia dụngcho nhân dân sống trên vùng đất cát

- Sức sản xuất và độ phì của đất cát không ngừng được cải thiện và nâng cao, do chốngđược nạn cát bay, hạn chế được quá trình rửa trôi (bạc màu) ở lớp cát trên mặt và cung cấp đượcmột khối lượng lớn các chất hữu cơ cho đất cát

2.3.2 Phương thức và kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chắn cát ven biển

- Trồng các giải rừng phòng hộ xung yếu sát bờ biển, trên đất cát mới bồi ven biển

Đây là dạng đất cát mới bồi ven biển, mới hình thành, có độ phì tương đối khá nhất.Chúng ta cần tranh thủ trồng ngay các giải rừng phòng hộ để kịp thời chặn cát bay, khởi đầu dichuyển từ bờ biển vào đất liền Cây Phi lao rất thích hợp trên dạng đất này Mật độ trồng rừng

Trang 26

Phi lao phòng hộ ở đây 5.000 cây/ha (cây trong hàng cách nhau 1m, hàng cách hàng 2m chạysong song với bờ biển).

- Trồng bằng cây con rễ trần, 8 tháng tuổi, cây có chiều cao 70 - 80 cm

- Trồng vào những ngày mưa, trong đầu mùa mưa

- Kích thước hố đào 40 x 40 x 50 cm

- Nếu có điều kiện, bón 0,5 kg phân chuồng hoai cho một hố

- Bề rộng của giải rừng Phi lao trồng tối thiểu là 100 m và giải cần được trồng liên tụcchạy song song với bờ biển

- Chăm sóc rừng lần 1 sau khi trồng 3 tháng

- Rừng Phi lao trồng phòng hộ trên dạng đất này, cho năng suất gỗ khá cao từ 5 - 10

m3/ha/năm

Khi rừng Phi lao trồng phòng hộ đến tuổi thành thục (20 tuổi), có thể khai thác tận dụng,theo phương thức các ô rừng khai thác có diện tích hẹp 0,5 ha, nằm đan xen nhau, để giải rừngkhông có một đoạn nào bị đứt quãng, luôn luôn tạo thành một giải rừng khép kín

Trang 27

C) TÀI LIỆU HỌC TẬP:

1 Mai Quang Trường, Lương Thị Anh (2005), Trồng rừng, Trường Đại Học Nông Lâm

Thái Nguyên

2 Công ty giống và phục vụ trồng rừng (1995), Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một

số loài cây trồng rừng, Nxb nông nghiệp, Hà Nội.

3 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2002), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

4 Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh ( 2001), Trồng rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội

D) CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THỰC HÀNH CỦA CHƯƠNG

*) Câu hỏi ôn tập:

1.Theo anh chi có những nhân tố nào ảnh hưởng đến xói mòn đất?

2 Các biện pháp phòng chống xói mòn đất do nước?

3 Theo anh chị khi chọn loài cây trồng rừng trống xói mòn do đất cần dựa vào những tiêu chuẩngì? Tại sao?

4 Phương thức, kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng phòng hộ đầu nguồn?

5 Gió hại và ảnh hưởng của gió hại?

6 Nguyên lý chắn gió của đai rừng?

3 Ảnh hưởng của đai rừng đến tốc độ gió và phạm vi chắn gió?

4 Kỹ thuật trồng rừng chắn gió hại?

Trang 28

CHƯƠNG 3 Trồng cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng

Số tiết:11 (Lý thuyết: 06 tiết; bài tập, thảo luận: 0 tiết; thực hành: 05 tiết)

A) MỤC TIÊU:

- Kiến thức: Nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về:

Vai trò của lâm sản ngoài gỗ

Kỹ thuật trồng một số loài cây lâm sản dưới tán rừng

3.1 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ

Ngày nay, phát triển lâm sản ngoài gỗ đã mang lại nhiều lợi ích cho con người, khôngnhững góp phần tăng thu nhập cho nông dân nghèo gắn với rừng mà còn cải thiện môi trườngsinh thái và đa dạng sinh học của rừng

Phương thức trồng cây lâm sản ngoài gỗ là canh tác nông lâm kết hợp hoàn thiện, tổnghợp Làm cho người dân tăng sản phẩm và gắn bó với rừng, bảo vệ cân bằng được sinh thái

Trồng cây lâm sản ngoài gỗ vừa là sản xuất, vừa phòng hộ và còn chống xói mòn, giữ độ

ẩm, cải tạo nâng cao độ phì đất, chống gió hại, cát bay, cản sóng, bảo vệ đê điều… tạo bóng mát

có lợi cho cây trồng và gia súc.v.v…

Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, đất đai phù hợp với trồng các loài cây lâmsản ngoài gỗ khác nhau với các phương thức khác nhau Dự báo thị trường lâm sản ngoài gỗtrong và ngoài nước có nhiều triển vọng để phát triển và bảo tồn lâm sản ngoài gỗ

Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt đề án phát triển và bảotồn lâm sản ngoài gỗ quốc gia giai đoạn 2007-2010 và tầm nhìn 2020 (QĐ số 2242/QĐ-BNN-

LN ngày 7/8 năm 2007)

Một trong những mục tiêu của đề án là nâng cao diện tích gây trồng và chất lượng lâmsản ngoài gỗ phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu trong những năm tới

3.2 Tình hình khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ

Tình hình khai thác: Quản lý bền vững các sản phẩm ngoài gỗ là vấn đề được nhiều cơquan tổ chức quan tâm Nhiều tác giả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết các loại lâm sản ngoài gỗđang bị khai thác quá mức

Sử dụng lâm sản ngoài gỗ:

- Theo thống kê của Dự án JICA đã thống kê năm 2002 - 2003, ở Việt Nam có 713 làngnghề mây tre đan, chiếm 24% tổng số làng nghề thủ công, với 342 nghìn lao động

- Trong những năm tới, nhu cầu chế biến và tiêu thụ một số sản phẩm lâm sản ngoài gỗ

có xu hướng tăng nhanh, gắn liền với phát triển ngành công nghiệp chế biến giấy, sản xuất đồ thủcông mỹ nghệ và một số ngành công nghiệp khác ở nước ta

- Ngoài các thị trường truyền thống (Đài Loan, Trung Quốc, Nhật, Đức, Pháp), Mỹ là thịtrường có nhu cầu lớn về nhập khẩu lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam

Trang 29

3.3 Kỹ thuật trồng một số loài cây lâm sản dưới tán rừng

3.3.1 Nhóm cây cho sợi và làm thủ công mỹ nghệ

3.3.1.1.Kỹ thuật trồng tre mai

Tên thường gọi: Mai

Tên địa phương: Mai ống

c Phân bố, sinh thái

Mai được trồng nhiều ở các tỉnh vùng Đông Bắc, trung tâm Bắc Bộ, thường gặp ở nhữngnơi có tầng đất dày, ẩm, ven các khe cạn, chân đồi Yêu cầu sinh thái:

- Khí hậu nhiệt đới mưa mùa, nhiệt độ bình quân trên 200C Độ ẩm không khí bình quân80% Lượng mưa bình quân trên 1500mm

- Độ cao so với mặt nước biển 10 - 800m, để kinh doanh măng có hiệu quả nên chọn nơi

* Tiêu chuẩn cây lấy làm giống

- Cây trong cụm sinh trưởng tốt, không có hoa, không sâu bệnh

- Cây tuổi 1-măng đã định hình, cành lá đã phát triển đầy đủ

- Cây có đường kính trung bình hoặc nhỏ

- Các mắt ngủ ở thân ngầm không bị sâu thối

* Kỹ thuật đánh gốc

- Dùng dao sắc chặt phần thân khí sinh chừa lại 3 - 4 lóng dưới cùng

- Cắt cây giống ra khỏi cây mẹ tại vị trí cổ thân ngầm

- Cắt đứt rễ xung quanh gốc cây giống

- Dùng lực đẩy gốc đã đánh vào phía gốc cây mẹ, lấy cây giống ra khỏi cụm tre

- Dùng dao cắt rễ chừa lại 1 - 2cm

* Bảo quản giống

- Khi vận chuyển đi xa phải che đậy giữ ẩm, không đ-ợc làm giập mắt ngủ hoặc làm tổnhại phần thân ngầm và thân khí sinh

Trang 30

- Nếu không trồng ngay có thể -ơm trong đất ẩm nơi râm mát 5 - 7 ngày

- Hồ rễ bằng bùn ao có trộn lẫn phân chuồng hoai tr-ớc khi đem trồng

- Đường kính cành trên 1cm, cành đã toả hết lá Mắt ngủ trên đùi gà không bị sâu thối

* Thời vụ chiết: Chiết cành vào vụ xuân và vụ thu, thời tiết m-a ẩm

* Kỹ thuật chiết cành:

- Độ dài cành chiết 30 - 40cm (có trên 2 đốt)

- Tại nơi tiếp giáp giữa đùi gà với thân cây mẹ, phía trên c-a 4/5 diện tích dọc theo thâncây

- Dùng 150g - 200g hỗn hợp bùn ao trộn với rơm băm nhỏ theo tỷ lệ 2 bùn 1 rơm, đủ ẩm,cho 1 bầu chiết; dùng nilon kích th-ớc 12 X 60cm bọc kín bầu chiết

- Sau khi chiết khoảng 20 - 30 ngày cành chiết ra rễ, khi rễ chuyển sang màu vàng vàđang hình thành rễ thứ cấp thì cắt xuống để -ơm tại v-ờn -ơm

* Nuôi dưỡng cành chiết tại vườn ươm:

- Vườm ươm phải đủ sáng, không bị úng ngập nước, độ dốc < 50 Đất thịt nhẹ đến thịttrung bình Đất được cày bừa, phơi ải và làm sạch cỏ

- Luống nổi, kích thước luống rộng 1 - 1,2m, dài không quá 10m, rãnh giữa 2 luốngkhoảng 40cm

- Dùng phân chuồng hoai bón lót trước khi ươm cành từ 10 đến 15 ngày, lượng bón từ 1đến 3kg/m2 mặt luống Bón thúc 2 lần bằng phân NPK vào thời điểm sau khi ươm 1 và 3 tháng,lượng bón 10 - 200g/5 lít nước cho 1m2 mặt luống

Cành ươm được đặt theo rạch cự ly 40 - 25cm, nghiêng một góc khoảng 700 so với mặtluống, lấp đất và lèn chặt, tưới ngay sau khi ươm với lượng nước 10-15 lít/1m2 mặt luống

- Giàn che: cao khoảng 60cm, độ che sáng 60 - 70% Thời gian che sáng 20 - 30 ngày kể

từ lúc giâm cành Có thể sử dụng vật liệu sẵn có nh- rơm, rạ, tế guột để phủ lên mặt luống

- Tưới nước: Trong tháng đầu 4 - 5 ngày tưới một lần lượng nước 8 - 10 lít/ 1m2 mặtluống Từ tháng thứ 2, 10 - 12 ngày tưới một lần, l-ợng n-ớc 13 - 15 lít/m2 mặt luống

- Tiêu chuẩn cây giống xuất v-ờn: Giống nuôi dưỡng ở vườn ươm sau 4 tháng trở lên đã

có một thế hệ toả lá là đủ tiêu chuẩn đem trồng

e Kỹ thuật trồng, chăm sóc

* Chuẩn bị đất: Phát dọn toàn bộ thực bì, cuốc hố 60 X 60 X 60cm trước khi trồng một

tháng, lấp hố (trộn đều 15 - 30kg phân hữu cơ vào đất mỗi hố) trước khi trồng 1 tuần

* Phương thức trồng: Trồng thuần loài, tập trung hoặc phân tán

* Mật độ trồng: 400 - 500cụm/ha, cự li (5 X 5m - 5 X 4m)

* Thời vụ trồng:

Trồng vào những ngày râm mát khi đất đủ ẩm, giống cành chiết trồng vụ xuân (tháng 1,

2, 3) hoặc vụ thu (tháng 7, 8, 9) Giống gốc giống chét trồng vào vụ xuân (tháng 1, 2, 3)

Ngày đăng: 18/03/2015, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2001), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh tập 1, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinhtập 1
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ( 2001), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh tập 2, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinhtập 2
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2002), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinhtập 3
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Công ty giống và phục vụ trồng rừng (1995), Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm mộtsố loài cây rừng
Tác giả: Công ty giống và phục vụ trồng rừng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
7. Hoàng Công Đãng, Kỹ thuật trồng cây đước vòi, Tài liệu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng cây đước vòi
8. Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh ( 2001), Trồng rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội . 9. Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2003), Kỹ thuật nuôi trồng một số câycon dưới tán rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng rừng", Nxb Nông nghiệp Hà Nội .9. Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2003), "Kỹ thuật nuôi trồng một số cây"con dưới tán rừng
Tác giả: Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh ( 2001), Trồng rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội . 9. Võ Đại Hải, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội .9. Võ Đại Hải
Năm: 2003
10. Đỗ Kim Đồng ( 2008), Kỹ thuật trồng một số cây đặc sản dưới tán rừng, Tài liệu viết cho dự án Voctech – Hà Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng một số cây đặc sản dưới tán rừng
11. Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Hữu Lộc (2004), Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây nông lâm nghiệp cho đồng bào miền núi, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây nông lâmnghiệp cho đồng bào miền núi
Tác giả: Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Hữu Lộc
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2004
12. Chu Thị Thơm và cộng sự (2006) Kỹ thuật trồng và khai thác đặc sản rừng, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và khai thác đặc sản rừng
Nhà XB: Nxb Laođộng
13. Mai Quang Trường, Lương Thị Anh (2005), Trồng rừng, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng rừng
Tác giả: Mai Quang Trường, Lương Thị Anh
Năm: 2005
14. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh “Dự án quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh, thời kỳ 2006-2015 (Dự thảo)”. Hà Nội, tháng 4 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh, thời kỳ 2006-2015 (Dự thảo)
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
5. Cục Lâm nghiệp, 2004, Kỹ thuật trồng một số cây đặc sản rừng và cây Lâm sản ngoài gỗ, NXB Nông nghiệp Khác
6. Cục Lâm nghiệp, 2004, Kỹ thuật trồng một số cây thực phẩm và cây dược liệu, NXB Nông nghiệp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Danh sách một số loài cây phục vụ trồng rừng phòng hộ đầu nguồn - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TRỒNG RỪNG CHUYÊN ĐỀ  (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)
Bảng 2.1. Danh sách một số loài cây phục vụ trồng rừng phòng hộ đầu nguồn (Trang 10)
Bảng 2.2. Các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn của một số tỉnh trong dự án trồng - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TRỒNG RỪNG CHUYÊN ĐỀ  (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)
Bảng 2.2. Các loài cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn của một số tỉnh trong dự án trồng (Trang 11)
Bảng 2.3.  Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn áp dụng trong dự án 661 - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TRỒNG RỪNG CHUYÊN ĐỀ  (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)
Bảng 2.3. Kỹ thuật trồng rừng phòng hộ đầu nguồn áp dụng trong dự án 661 (Trang 15)
Bảng 2.5. Một số mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn có triển vọng ở - ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG TRỒNG RỪNG CHUYÊN ĐỀ  (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)
Bảng 2.5. Một số mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn có triển vọng ở (Trang 21)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w