1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG HỌC KỸ THUẬT NHẢY CAO KIỂU ÚP BỤNG CHO NAM SINH VIÊN ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

59 856 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 564,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất nóichung và thành tích nhảy cao úp bụng nói riêng cho sinh viên Trường Đại họcHùng Vương ngày càng hoàn thiện và nâng

Trang 1

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG HỌC KỸ THUẬT NHẢY CAO KIỂU ÚP BỤNG CHO NAM SINH VIÊN ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trang 2

Ở nước ta ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Đảng và Nhànước đã rất chú trọng tới việc xây dựng một nền văn hoá và thể dục thể thao(TDTT) mới Tháng 3 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dântập thể dục Người viết: “ Giữ gìn dân chủ, xây dựng nhà nước, gây đời sống mới,việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công, mỗi người dân yếu ớt là làm cho cảnước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khoẻ là làm cho cả nước mạnh khoẻ Vì thếluyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của những người dân yêu nước”.TDTT đã trở thành phong trào của toàn dân, nhờ đó người dân Việt Nam đã khôngngừng nâng cao và phát triển thể lực, góp phần quan trọng đem lại thắng lợi vĩ đạitrong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thống nhất nước nhà Hiệnnay trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nướccũng rất chú trọng tới công tác TDTT, xem TDTT như một nhân tố phát triển hàihoà thể chất và nhân cách con người mới Xã hội chủ nghĩa, phục vụ đắc lực cholao động sản xuất, học tập và bảo vệ tổ quốc Trong phương hướng phát triểnphong trào TDTT của Đảng ngày 24/03/1994 Ban bí thư trung ưng Đảng đã ra chỉthị số 36/CT/TW về : “ Công tác TDTT trong giai đoạn mới” Bao gồm 3 nhiệm vụchiến lược “ Phát triển sâu rộng TDTT cho mọi người, tích cực xây dựng lực lượngvận động viên tài năng không ngừng nâng cao thành tích thể thao, đẩy mạnh quan

hệ và hợp tác quốc tế về thể thao.”

Trang 3

Trường Đại học Hùng Vương là một ngôi trường có bề dày về truyền thống lịch

sử với hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, hiện nay trường là một trong nhữngtrung tâm đào tạo lớn của khu vực miền núi phía Bắc Song song với việc nâng caochất lượng đào tạo, nhà trường luôn quan tâm chú trọng tới việc phát triển thể chấtcho sinh viên Tuy nhiên trong những năm qua chất lượng công tác giáo dục thểchất cho sinh viên không chuyên ngành giáo dục thể chất của nhà trường vẫn gặpnhiều khó khăn, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu đào tạo lao độngtri thức trong thời kỳ đổi mới Đặc biệt là ở nội dung nhảy cao Úp bụng Bởi Nhảycao úp bụng là một kỹ thuật nhảy cao tương đối khó Để đạt được thành tích cao,đòi hỏi người tập ngoài việc phát tiển toàn diện các tố chất thể lực thì việc thựchiện kỹ thuật đúng sẽ quyết định trực tiếp tới thành tích của người học Tuy nhiênqua quá trình giảng dạy, quan sát chúng tôi nhận thấy rất nhiều sinh viên vẫn thựchiện sai kỹ thuật, điều này được thể hiện qua việc số sinh viên đạt điểm tối đa về

kỹ thuật ít, thành tích nhảy cao của sinh viên còn rất khiêm tốn, số lượng sinh viênkhông đạt chiếm tỉ lệ cao… Từ đó làm giảm hiệu quả công tác giáo dục thể chấtnói chung của nhà trường

Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất nóichung và thành tích nhảy cao úp bụng nói riêng cho sinh viên Trường Đại họcHùng Vương ngày càng hoàn thiện và nâng cao, đạt được các yêu cầu mà Bộ Giáodục và đào tạo đã đề ra:

Trên cơ sở đó chúng tôi xác định:

“ Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam sinh viên đại học không chuyên ngành Giáo dục thể chất Trường Đại học Hùng Vương”

Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng, xác địnhnguyên nhân những sai lầm thường mắc của sinh viên, nghiên cứu lựa chọn một sốbài tập khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao kiểu úpbụng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy giáo dục thể chất cho nam

Trang 4

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để giải quyết mục đích trên, đề tài giải quyết 02 mục tiêu sau:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu úp

bụng và xác định những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao kiểu úpbụng cho nam sinh viên không chuyên ngành Giáo dục thể chất Trường Đaị họcHùng Vương

Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu và ứng dụng các bài tập khắc phục những sai lầm

thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao úp bụng

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC

Đường lối, quan điểm của Đảng về công tác Thể dục thể thao được hìnhthành ngay từ những ngày đầu của cách mạng Việt Nam, sau đó được từng bước

bổ sung, hoàn chỉnh để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cáchmạng và luôn là kim chỉ nam cho sự phát triển nền Thể dục thể thao nước ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những lời khuyên với quốc dân đồng bào về tácdụng của việc tập thể dục: “ Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sốngmới, việc gì cũng cần sức khoẻ mới thành công Mỗi người dân yếu ớt tức là cảnước yếu ớt, mỗi người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ Vậy nên luyệntập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước ” “ Bộ Giáodục có Nha Thể dục, mục đích là để khuyên và dạy cho đồng bào tập Thể dục,đặng giữ gìn và bồi đắp sức khoẻ ”, “ Dân cường thì quốc thịnh ” [ 1]

Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm tới công tác Thể dục thể thao nóichung và công tác Giáo dục thể chất trong nhà trường nói riêng, coi sức khoẻ làmột trong những vốn quý nhất của con người Đảng và Chính phủ lãnh đạo côngtác Thể dục thể thao bằng việc hoạch định đường lối quan điểm Thể dục thể thao,kiểm tra, đôn đốc thực hiện đường lối quan điểm thể dục Thể thao cho mình đề ra.Đường lối quan điểm của Đảng thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vềThể dục thể thao suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân vàtiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, được thể hiện qua nghị quyết đại hội đại biểutoàn quốc của Đảng: “ Từng bước xây dựng nền thể dục thể thao xã hội chủ nghĩaphát triển cân đối, có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân” [14], “Công tác thểdục thể thao cần coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục trong trường học, tổ chứchướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân rèn luyện thân thể hàng ngày” [15]

Cụ thể hoá đánh giá công tác thể dục thể thao trong những năm qua, chỉ thị

36 CT/TW của Ban bí thư trung ương Đảng về công tác thể dục thể thao trong giao

Trang 6

đoạn mới: “ Những năm gần đây công tác thể dục thể thao có những tiến bộ, phongtrào thể dục thể thao ở một số địa phương và ngành đã được chú ý đầu tư nâng cấp,xây dựng mới Tuy nhiên, thể dục thể thao của nước ta còn ở trình độ rất thấp, sốngười thường xuyên tập luyện thể thao rất ít, đặc biệt là thanh niên chưa tích cựctham gia tập luyện, hiệu quả giáo dục thể chất trong trường học và trong các lựclượng vũ trang còn thấp, đội ngũ cán bộ Thể dục Thể thao còn thiếu và yếu vềnhiều mặt ”[6].

Định hướng về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trongnhững năm tới Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã khẳng định “ Giáo dục đàotạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI Muốn xây dựng đất nướcgiầu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện, không chỉ phát triển

về trí tuệ trong sáng về đạo đức lối sống mà phải là con người phát triển về thểchất là trách nhiệm của toàn xã hội, của tất cả các ngành, các đoàn thể, trong đó cógiáo dục - đào tạo, y tế và thể dục thể thao”[21]

Như vậy con người Việt Nam phát triển toàn diện là con người phải có đạođức trong sáng, có tư tưởng và phẩm chất chính trị tốt, có trình độ hiểu biết về họcvấn, khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ tốt Con người phát triển toàn diện là conngười được giáo dục toàn diện về các mặt đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹtheo đúng với mục tiêu giáo dục

Giáo dục thể chất ngoài chức năng chủ yếu là giảng dạy động tác và pháttriển có chủ định các tố chất thể lực, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ giáo dụcbao gồm các mặt: đạo đức, trí dục và mỹ dục để phát triển con người toàn diện, lànhững vấn đề hệ trọng nhằm giáo dục hình thành nhân cách người học, những chủnhân tương lai của đất nước, những người lao động phát triển cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức

Nhận thấy vai trò tác dụng rất quan trọng của công tác Giáo dục thể chấttrong các nhà trường đối với sức khoẻ và thể chất người học, vì vậy Giáo dục thểchất đã được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam coi đây là môn

Trang 7

học bắt buộc và đã ghi trong Hiến pháp: “ Qui định chế độ giáo dục thể chất bắtbuộc trong trường học ” [10].

Để khẳng định vai trò tất yếu của Thể dục thể thao đối với toàn xã hội cũngnhư nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh hơn nữa công tác Thể dục thể thao và Giáo dụcthể chất, Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời, đề ra những chủtrương, đường lối để đẩy mạnh quá trình phát triển Qua từng giai đoạn cách mạngtương ứng với những yêu cầu, tình hình và nhiệm vụ cụ thể, Đảng đã ra các chỉ thịsau:

Chỉ thị 106/CT-TW ngày 2/10/1958 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềcông tác TDTT đã đề cập đến vấn đề quan trọng như vai trò, tác dụng của công tácTDTT về quốc phòng, phát triển TDTT quần chúng, nhất trường học [7]

Chỉ thị 181/CT-TW ngày 13/1/1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềcông tác TDTT và chỉ thị 180/CT-TW ngày 26/8/1970 của Ban Bí thư Trungương Đảng về tăng cường công tác TDTT trong những năm tiếp theo là mộtbước phát triển mới, xác định vị trí quan trọng của TDTT, coi TDTT trở thànhmột nhu cầu của quần chúng, là một mặt của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội Chủ trương trên được cụ thể hoá tới sự phát triển phong trào TDTT trongsinh viên, sinh viên [8]

Chỉ thị 112/CT ngày 9/5/1989 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướngChính phủ) về công tác TDTT trong những năm trước mắt có ghi: “ Đối với sinhviên, sinh viên, trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và họcmôn GDTC theo chương trình qui định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hìnhthức tập luyện và hoạt động Thể thao tự nguyện ngoài giờ học ”[10]

Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mớinêu rõ: “ cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạogiảng viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sởvật chất để thực hiện chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trườnghọc…”[6]

Trang 8

Tại Hội nghị GDTC các nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng,tháng 8/1996, nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói: Ước vọng củachúng ta là mỗi thanh niên Việt Nam cả nam lẫn nữ đều có cơ thể cường trángcùng với tâm hồn trong sáng và trí tuệ phát triển”.

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 133/TTg ngày 7/3/1996 về việcxây dựng và qui hoạch phát triển ngành TDTT, về GDTC trường học đã ghi rõ: “

Bộ Giáo dục đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiếnnội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khoá, qui định tiêu chuẩn rèn luyện thânthể cho sinh viên các cấp học, có qui chế bắt buộc đối với các trường ”[11]

Vì vậy, GDTC trường học là bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và thểdục ngành nghề là một mặt quan trọng trong hệ thống GDTC Cùng với Thể thaothành tích cao, GDTC trường học đã góp phần đảm bảo cho nền TDTT nước nhàphát triển cân đối và đồng bộ, để thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con ngườiViệt Nam phát triển toàn diện

Bộ Giáo dục đào tạo đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác Giáodục thể chất bằng rất nhiều văn bản pháp qui [17], cụ thể như:

Thông tư liên tịch số 08/LB-DN-TDTT ngày 24/12/1986 về công tác TDTTtrong các trường dạy nghề và sư phạm

Thông tư liên tịch 04-93/GD-ĐT-TDTT ngày 17/4/1993 về việc xây dựng kếhoạch đồng bộ, xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác tổchức quản lý TDTT và GDTC trong trường học các cấp đến năm 2000-2005

Quyết định 203/QĐ-TDTT ngày 23/01/1989 của Bộ Giáo dục - Trung họcchuyên nghiệp và Dạy nghề (nay là Bộ giáo dục và đào tạo) về việc đánh giá chấtlượng Giáo dục thể chất của sinh viên sinh viên

Thông tư số 11/TT - GDTC ngày 1/8/1994 về hướng dẫn thực hiện chỉ thị36/CT - TW

Thông tư số 2869/GDTC ngày 4/5/1995 về việc hướng dẫn thực hiện chỉ thị133/TTg

Trang 9

Chương trình mục tiêu “Cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ, pháttriển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao sinh viên, sinh viên trong nhà trường cáccấp giai đoạn 1995-2000 và đến năm 2005”.

Qui hoạch phát triển công tác GDTC ngành Giáo dục đào tạo giai đoạn 1996

- 2000 và định hướng đến 2025 của Bộ Giáo dục đào tạo

Trong các trường đại học, GDTC có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiệntính cách, nhân cách, những phẩm chất cần thiết cho sinh viên và hoàn thiện thểchất sinh viên Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khoẻ và phát triển thể lực,tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản và có tác dụng chuẩn bị tốt

về tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai Đồng thời giúp họ hiểu biếtphương pháp khoa học, để tiếp tục rèn luyện thân thể, củng cố sức khoẻ, góp phần

tổ chức, xây dựng phong trào TDTT trong nhà trường Vì vậy, Bộ Giáo dục đàotạo đã ban hành chương trình GDTC trong các trường đại học, cao đẳng: “Chươngtrình GDTC trong các trường đại học nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, trang

bị kiến thức, kỹ năng về rèn luyện thể lực của sinh viên, giáo dục đạo đức xã hộichủ nghĩa, cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung vàphương pháp tập luyện TDTT, góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ sinh viên ”

Do đó, muốn giáo dục con người phát triển toàn diện phải kết hợp hài hoà sựphong phú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức, sự toàn diện về thể chất Sựcường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quýtạo ra sản phẩm trí tuệ và vật chất cho xã hội Vì vậy chăm lo cho con người về vậtchất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và ngành TDTT nói riêng Đó chính

là mục tiêu cơ bản, quan trọng nhất của nền giáo dục Việt Nam mà Đảng, Nhànước luôn quan tâm và coi trọng

1.2.Cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục thể chất.

Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục nên nó là một quá trình giáo dục

có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

từ thế hệ này cho thế hệ khác Điều đó có nghĩa là giáo dục thể chất cũng như các

Trang 10

trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với sinhviên, với nguyên tắc sư phạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc

lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ

thống giáo dục nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dụctrí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động

Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao xã hội với nhiệm vụ là

“phát triển toàn diện các tố chất thể lực và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thểchất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống vàtiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng trongcuộc sống Đồng thời, giáo dục các phẩm chất đạo đức giáo dục, ý thức và nhâncách” [23] Chương trình giáo dục thể chất trong các trường đại học nhằm giảiquyết các nhiệm vụ giáo dục “trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực củasinh viên” [9]

Nội dung chương trình giáo dục thể chất trong các trường đại học được tiếnhành trong cả quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường bằng hai hình thức:

Giờ học thể dục thể thao chính khoá:

Là hình thức cơ bản nhất của giáo dục thể chất được tiến hành trong kếhoạch học tập của nhà trường vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho sinhviên, sinh viên là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp đểphát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho sinh viên sinh viên Đồngthời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác thểdục thể thao

Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong cáctrường học là “xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất vàthể thao của sinh viên, phát triển các tố chất thể lực,phát triển năng lực tâm lý, tạo ýthức tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòngnhân đạo cho sinh viên”[3] Do vậy, giờ học chính khoá thể dục thể thao mang tínhhành chính pháp quy, quy định đối với sinh viên và cán bộ giảng dạy Đó là giờ họctheo chương trình có quy định thời gian và quy cách đánh giá chất lượng, được bắt

Trang 11

đầu từ tập và làm quen từ mẫu giáo, sau đó là dạy thể dục thể thao theo chương trình

ở các cấp học cho đến đại học

Cơ cấu của giờ học thể dục thể thao chính khoá ở bậc đại học có 150 tiếtchia làm 5 học phần, mỗi học phần 30 tiết Nội dung các học phần đều có tiếntrình giảng dạy - nội dung bài giảng - nội dung kiểm tra, quy cách đánh giá các họcphần Tuỳ theo chương trình đào tạo của từng chuyên ngành mà 5 học phần củamôn học được tiến hành giảng dạy và học tập từ năm thứ nhất đến năm thứ ba vớinội dung chương trình gồm:

Phần lý luận chung: Lý thuyết giúp cho sinh viên có nhận thức đúng đắn về

vị trí và vai trò tác dụng của công tác giáo dục thể chất trong nhà trường, trong tựrèn luyện sức khoẻ cũng như cung cấp được những hiểu biết về kỹ thuật động tác

và nguyên tắc tập luyện - rèn luyện thân thể và thi đấu thể thao

Phần kỹ thuật thực hành - nội dung là các môn thể thao điều kinh, thể dục,đội hình đội ngũ, cầu lông, bóng chuyền nằm trong chương trình giáo dục thể chất

do Bộ giáo dục và đào tạo quy định được lựa chọn phù hợp với điều kiện đảm bảo

về cơ sở vật chất của nhà trường Việc giảng dạy kỹ thuật động tác được tiến hànhtrong các giờ lên lớp nội khoá theo thời khoá biểu của nhà trường

Phần ngoại khoá tự chọn: Bao gồm các buổi huấn luyện của các đội tuyểntham gia các giải của ngành và thành phố - tổ chức các giải thể thao sinh viên trongtrường Các hình thức tổ chức hướng dẫn sinh viên tập luyện để hoàn thiện các nộidung học tập chính khoá

Thực hiện quy chế giáo dục thể chất nhà trường quy định tất cả các sinh viêndài hạn chính quy tập trung, sau khi hoàn thành 5 học phần của chương trình giáodục thể chất phải kiểm tra chứng chỉ môn học thể dục thì mới được cấp bằng Nếu

đã hoàn thành tất cả các môn học khác nhưng chưa có chứng chỉ môn giáo dục thểchất thì trường tạm treo bằng, chưa xét tốt nghiệp Khi nào trả nợ xong điểm giáodục thể chất các học phần còn nợ, có chứng chỉ thì mới xét công nhận tốt nghiệp

Giờ học ngoại khoá - tự tập luyện của sinh viên thể dục thể thao ngoại khoá.

Trang 12

Đối tương tham gia tập luyện là những sinh viên có nhu cầu và ham thíchvới mục đích, nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàndiện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của sinh viên, sinh viên Giờhọc ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiếnhành vào giờ tự học của sinh viên sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên thểdục thể thao hay hướng dẫn viên Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúngngoài giờ học bao gồm luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội đại biểu từng mônthể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tựluyện tập và rèn luyện thân thể Hoạt động ngoại khoá với những chức năng làđộng viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rènluyện thân thể tham gia cổ vũ phong trào rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp Bộ cóhướng dẫn các trường tổ chức giờ học thể dục thể thao ngoại khoá “ Giờ học thểdục thể thao ngoại khoá là một hình thức giáo dục thể chất quan trọng, có tác dụng

hỗ trợ trực tiếp cho giờ học thể dục thể thao nội khoá, nhằm giúp cho sinh viên tiếptục luyện tập và hoàn thiện kỹ thuật các môn thể thao và rèn luyện thể lực theo yêucầu của chương trình ”[13]

Giờ học ngoại khoá thể dục thể thao không bắt buộc đối với mọi sinh viên.Tuy theo điều kiện của nhà trường và nguyện vọng của sinh viên Bộ môn thể dụcthể thao soạn thảo nội dung các học phần thể dục thể thao ngoại khoá sinh viên họccác học phần thể dục thể thao ngoại khoá, sắp xếp thành các nhóm Giảng viêndạy các giờ thể dục thể thao ngoại khoá được tính giờ chuẩn như đối với giờ nộikhoá

Tác dụng của hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá có chủ đích áp dụngtrong các trường đại học là toàn diện góp phần đóng góp phương tiện để hợp lýhoá chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động,học tập của sinh viên sinh viên trong suốt thời kỳ học tập trong nhà trường, cũngnhư đảm bảo chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn phù hợp vớinhững điều kiện của nghề nghiệp trong tương lai

Trang 13

Hoạt động ngoại khoá giáo dục thể chất trong trường đại học nhằm giảiquyết các nhiệm vụ sau đây:

a Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nội dung và phươngpháp luyện tập thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số mônthể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện nóitrên để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chứccác hoạt động thể dục thể thao ở cơ sở

b Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổchức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác họctập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc

c Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể mộtcách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những thói quen xấutrong cuộc sống nhằm đạt hiểu quả tốt trong quá trình học tập và đạt những chỉ tiêuthể lực quy định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở rèn luyện thân thể theolứa tuổi

d Giáo dục óc thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độthể thao của vận động viên, sinh viên

1.3 Nội dung chương trình GDTC trong các trường đại học

Nội dung chương trình GDTC trong các trường đại học được tiến hành

trong suốt quá trình học tập của sinh viên bằng các hình thức:

Giờ học Giáo dục thể chất chính khoá là hình thức cơ bản nhất của GDTCđược tiến hành trong kế hoạch học tập của nhà trường Vì việc đào tạo cơ bản vềthể chất, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản các môn thể thao cho sinh viên lànhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các tốchất thể lực và phối hợp vận động cho sinh viên Đồng thời giúp người học có trình

độ nhất định để tiếp thu kỹ thuật cơ bản của TDTT

Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong

Trang 14

triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTTthường xuyên, giáo dục các đức tính cơ bản cho người học

Do vậy giờ học TDTT chính khoá mang tính pháp qui, đây là qui định bắtbuộc đối với sinh viên, sinh viên và các cơ sở giáo dục Đó là giờ học theo chươngtrình qui định về thời gian, qui cách đánh giá chất lượng, được bắt đầu từ bậc họcmầm non cho đến đại học

Giờ học TDTT ngoại khoá - giờ tự tập luyện của sinh viên là quá trình tậpluyện của một bộ phận sinh viên có nhu cầu và ham thích trong thời gian nhàn rỗivới mục đích phát triển năng lực thể chất một cách toàn diện, đồng thời nâng caothành tích thể thao của sinh viên, sinh viên Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố vàhoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của sinh viên,sinh viên dưới sự hướng dẫn của giảng viên TDTT hay hướng dẫn viên TDTT.Ngoài ra còn có các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: tậpluyện theo hình thức câu lạc bộ Thể thao, các đội đại biểu của từng môn Thể thao,các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tậpcủa sinh viên, sinh viên, phong trào tự tập luyện, rèn luyện thể lực

Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên, lôi kéo nhiều người thamgia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện thể lực, tham gia cổ vũ cácphong trào rèn luyện thân thể

Để giáo dục thể chất và thể thao học đường thực sự có vị trí quan trọngtrong việc góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhâncách, trí tuệ và thể chất sức khoẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng Đồng thời xây dựng nhàtrường thành những cơ sở phong trào thể dục thể thao quần chúng của sinh viên,sinh viên Quán triệt sâu sắc nội dung của các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Hiếnpháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và các văn bản pháplệnh của Chính Phủ về công tác thể dục thể thao trong tình hình mới, đồng thờikhắc phục thực trạng giảm sút sức khoẻ thể lực của sinh viên, sinh viên hiện nay.Hai ngành Giáo dục đào tạo và Thể dục thể thao đã thống nhất những nội dung

Trang 15

biện pháp và hợp đồng chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dụcthể chất của sinh viên, sinh viên: “ Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mụctiêu cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, sức khoẻ, bồi dưỡng năng khiếuthể thao sinh viên, sinh viên Kiến nghị với Nhà nước phê duyệt thành chươngtrình quốc gia và được đầu tư kinh phí thích đáng ”[12].

Với nội dung phối hợp chỉ đạo giữa hai ngành là chỉ đạo các cấp học giảngdạy thể dục thể thao nội khoá theo chương trình, kế hoạch có nề nếp, và đảm bảoviệc thực hiện nghiêm túc các quy phạm đánh giá quá trình dạy học thể dục, quychế giáo dục thể lực cho sinh viên, sinh viên và thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn rènluyện thân thể cho sinh viên, sinh viên điều chỉnh và ban hành tài liệu giảng dạy,sách giáo khoa, sách hướng dẫn phương pháp giảng dạy và tập luyện thể dục thểthao Phát động phong trào tập luyện rộng khắp trong nhà trường, các cấp chỉ đạoviệc cải tiến nội dung hình thức hoạt động ngoại khoá Thể dục thể thao, xây dựngquy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên thể dục thể thao và đảm bảo cơ sở vậtchất tối thiểu để phục vụ thực hiện chương trình nội khoá và tập luyện thể thaongoài giờ của sinh viên, sinh viên

Ngành Giáo dục đào tạo và Thể dục thể thao đã thống nhất những biện phápphát triển chủ yếu để nhằm tăng cường và đẩy mạnh nâng cao chất lượng công tácgiáo dục thể chất trong nhà trường các cấp là “ Hai ngành thống nhất tổ chức cuộcvận động tuyên truyền rộng khắp nhằm có được nhận thức đúng về vị trí quantrọng của công tác giáo dục thể chất trong chiến lược phát triển con người tới độingũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo thể dục thể thao, sinh viên, sinhviên và toàn thể xã hội Kiện toàn tổ chức, chỉ đạo và quản lý giáo dục thể chất từtrung ương tới trường học Cần có hình thức chỉ đạo linh hoạt gắn hoạt động giáodục thể chất với sự nghiệp giáo dục, đào tạo thể dục thể thao, văn hoá, kinh tế - xãhội Cũng như xác định rõ trách nhiệm hiệu trưởng nhà trường các cấp và toàn thểđội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đối với công tác giáo dục thể chất Kiến nghị vớicác cấp, các ngành cần chấm dứt việc lấn chiếm sân chơi, bãi tập của nhà trường.Các địa phương cần cấp đất đủ để xây dựng sân chơi, bãi tập cho sinh viên, sinh

Trang 16

viên trong trường học các cấp [12] “ Giáo dục thể chất trong nhà trường các cấpnhằm từng bước nâng cao trình độ văn hoá thể chất và thể thao của sinh viên, sinhviên góp phần phát triển sự nghiệp thể dục thể thao của đất nước, đáp ứng nhiệm

vụ giao tiếp thể thao của sinh viên, sinh viên Việt Nam và quốc tế ”[9]

Nội dung của quy chế xác định phải bảo đảm thực hiện dạy và học môn thểdục theo chương trình quy định cho sinh viên, sinh viên trong tất cả các trường từmầm non đến bậc Đại học bao gồm nhiều hình thức và có liên quan chặt chẽ vớinhau Giờ học thể dục, tập luyện thể thao theo chương trình tập luyện của sinhviên, sinh viên, giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường, nhằm phát triển thểlực và nhân cách của người sinh viên, sinh viên Tự tập ngoài giờ học các môn thểthao đã khẳng định: “ Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn sinh viên, sinh viên

tự tập luyện thường xuyên, tổ chức thi kiểm tra tiêu chuẩn và rèn luyện thân thểtheo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho sinh viên, sinh viên theo quy địnhcủa chương trình giáo dục thể chất

Trong các trường đại học, Giáo dục thể chất có tác dụng tích cực trong việchoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết cho nghiệp vụ và hoànthiện thể chất của sinh viên Việc tiến hành giáo dục thể chất nhằm giữ gìn sứckhoẻ và phát triển thể lực, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản,còn có tác dụng chuẩn bị tốt về mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai.Đồng thời giúp họ hiểu biết những phương pháp khoa học để tiếp thu rèn luyệnthân thể, củng cố sức khoẻ, góp phần tổ chức xây dựng phong trào thể dục thể thaotrong nhà trường Do vậy, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chương trình giáodục thể chất trong trường đại học: “ Chương trình giáo dục thể chất trong cáctrường đại học nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục: trang bị kiến thức, kỹ năng

về rèn luyện thể lực của sinh viên, giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, cung cấpcho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp tậpluyện thể dục thể thao, góp phần duy trì và cung cấp sức khoẻ của sinh viên ” [9]

Giáo dục thể chất trong trường đại học xác định vị trí của mình là bồidưỡng tăng cường sức khoẻ, thể lực cho sinh viên, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu

Trang 17

của công tác giáo dục thể chất bậc đại học.

1.3.1.Nhiệm vụ của Giáo dục thể chất:

Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổchức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác học tập, rènluyện, chuẩn bị sẵn sàng để phục vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc

Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung vàphương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một sốmôn Thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng sử dụng các phương tiện để tựrèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạtđộng TDTT của nhà trường và xã hội

Thông qua học tập và rèn luyện TDTT, rèn luyện người học có đạo đức, ýchí, lòng dũng cảm, tác phong nhanh nhẹn, tinh thần tập thể, óc thẩm mỹ, góp phầnphát triển trí tuệ con người mới Thông qua đó xây dung niềm tin, lối sống lànhmạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụsản xuất và bảo vệ tổ quốc

1.3.2 Yêu cầu của Giáo dục thể chất.

Trên cơ sở nắm vững những lý luận và phương pháp tập luyện, cũng nhưnhững hiểu biết về kỹ thuật cơ bản của TDTT, người học phải áp dụng được trongviệc tập luyện hàng ngày

Nâng cao ý thức tự giác trong học tập rèn luyện để thể lực từng bước đượchoàn thiện

Tập một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống các bài tập về Giáo dục thểchất, cũng như thực hiện nghiêm túc các yêu cầu và qui định của giảng viên hướngdẫn

1.3.3 Các hình thức Giáo dục thể chất.

Giáo dục thể chất trong các nhà trường đại học từ trước đến nay được tiếnhành bằng các hình thức sau đây:

Trang 18

* Giờ học TDTT

Giờ học TDTT nội khoá là hình thức cơ bản của giáo dục thể chất được tiếnhành trong kế hoạch giảng dạy với thời gian 150 tiết, được phân ra trong 4 nămhọc, 90 tiết gồm 3 học phần bắt buộc, 60 tiết gồm 2 học phần tự chọn

Giờ học TDTT ngoại khóa nhằm củng cố hoàn thiện các bài học nội khoáđược tiến hành vào giờ tự học của người học, giảng viên có thể tham gia hướngdẫn thêm nếu có yêu cầu

* Bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày.

* Các hình thức hoạt động thể thao quần chúng, ngoài giờ học gồm các hình

thức: câu lạc bộ Thể thao, các đội tuyển Thể thao, tham gia các giải thi đấu Thểthao trong và ngoài trường

* Giờ tự tập luyện của sinh viên

1.4 Cơ sở nguyên lý kỹ thuật nhảy cao

1.4.1 Các quan điểm về huấn luyện kỹ thuật nhảy cao.

Có nhiều quan điểm khác nhau về huấn luyện kỹ thuật, có nhiều nhận xétcho rằng: Việc huấn luyện kỹ thuật trong môn nhảy cao trước tiên là cần huấnluyện thể lực, trong đó huấn luyện tố chất sức mạnh - sức nhanh - khả năng phốihợp vận động là rất quan trọng trong việc hoàn thiện sớm kỹ thuật động tác Songthực tế đã chứng minh: Việc hình thành và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo trongbất kỳ môn điền kinh nào, ngoài việc phát triển các tố chất thể lực có liên quan thìcần chú trọng tới quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động Nó là yếu tố cấuthành tới mức độ hoàn thiện kỹ thuật động tác Qua nghiên cứu đã xác định được

cơ sở hình thành kỹ năng vận động trong tập luyện kỹ thuật nhảy cao" Úp bụng"

Kỹ năng vận động của các môn thể thao nói chung và trong môn nhảy cao

úp bụng nói riêng được hình thành - phát triển do nhiều yếu tố, nhưng yếu tố kỹthuật là quyết định Quá trình này chia làm 3 giai đoạn:

Trang 19

- Giai đoạn lan tỏa: Người tập tiếp thu kiến thức học - tập thành mối liên hệgiữa cơ quan vận động với vỏ não, hứng phấn trên vỏ não rất mạnh, lan rộng Từđây họ chưa cảm giác được tác động đúng, sai, thừa và thiếu Trong giai đoạn nàyngười tập hay mắc những sai lầm ( ban đầu), nếu không kịp thời sửa chữa thìnhững sai lầm lặp lại nhiều lần trở thành định hình động tác có tính chất vữngchắc

- Giai đoạn ức chế phân biệt: lức này hưng phấn đã tập trung vào trung khuđiểm hoạt động nhiều bản thân người tập đã phân biệt được những động tác đúng,sai, thừa Bản thân họ tập trung uấn nắn, sửa chữa ở từng khu vận động, nên độngtác thường cứng nhắc, giật cục, chưa nhịp điệu Nếu tập thường xuyên, đường dâyliên hệ tạm thời lên vỏ não ngày càng ổn định

- Giai đoạn hoàn thiện kỹ năng - kỹ xảo, tự động hóa: Hưng phấn đã tậptrung vào vùng hẹp trên vỏ não, lúc này chỉ huy động những nhóm cơ, cơ quanchính tham gia vào vận động Người tập nắm vứng kỹ thuật động tác, biến kỹ năngvận động thành kỹ xảo, thực hiện từ đầu đến cuối theo ý muốn một cách hoàn hảochính xác, nhịp điệu họ biết sử dụng, phát huy, tiết kiệm năng lượng bản thân đểđạt thành tích mong muốn Quá trình tập luyện trở thành tự động hóa và xuất hiệnhiện tượng ngoại suy

Nắm được các yếu tố yếu lĩnh quá trình tập luyện, để nâng cao hiệu quả cácbài tập nhằm sửa chữa những sai lầm cơ bản thường mắc cho người tập trong học

kỹ thuật nhảy cao úp bụng, giảng viên cần đưa ra các bài tập khắc phục vào nhữngthời điểm phù hợp của quá trình hình thành kỹ năng vận động

1.4.2 Nguyên lý kĩ thuật nhảy cao.

Độ bay cao của cơ thể phụ thuộc vào các yếu tố: Tốc độ ban đầu và góc bay

Để đạt thành tích cao, tốc độ ban đầu cần đạt mức tối đa, còn góc bay phải phùhợp

Độ cao (H) đường bay của TTCT trong nhảy cao được tính theo công thức:

V02sin2(2)

H = h +

Trang 20

Trong đó:

- V0 là tốc độ bay ban đầu

-  là góc độ bay ban đầu

- g là gia tốc rơi tự do

- h là độ cao của TTCT khi kết thúc giậm nhảy ( Khi bàn chân giậm rời khỏimặt đất)

Theo công thức trên ta thấy H tỉ lệ nghịch với gia tốc rơi tự do tỉ lệ thuận vớiV0 Để nâng cao thành tích, các môn nhảy của điền kinh cần tập chung để tăng V0.Trong công thức ta thấy vai trò của h với thành tích nhảy cao, độ cao h củaTTCT phụ thuộc vào tầm vóc (chiều cao) của người nhảy Rõ ràng là với khả năngnhư nhau, người nào cao hơn sẽ là người nhảy cao hơn

1.4.3 Kĩ thuật nhảy cao.

* Hiện có 5 kiểu nhảy cao khác nhau, tên gọi của mỗi kĩ thuật theo tiếng Việt chothấy đặc điểm qua xà của kĩ thuật đó:

- Kiểu “Bước qua”

- Kiểu “Cắt kéo”

- Kiểu “Nằm nghiêng” hay còn gọi là kiểu “Orin”

- Kiểu “Úp bụng” hay còn gọi là kiểu “Xtepanop”

- Kiểu “Lưng qua xà” hay còn gọi kiểu “Phosberi”

Thực tế cho thấy kĩ thuật “Lưng qua xà” là tiên tiến nhất, vì các VĐV giữ kỉlục thế giới và của các quốc gia thường sử dụng các kĩ thuật này

* Các giai đoạn của kĩ thuật nhảy cao

Kĩ thuật nhảy cao là một quá trình liên tục, song để tiện cho việc phân tích,giảng dạy người ta thường chia kĩ thuật ra thành 4 giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn chạy đà

+ Giai đoạn giậm nhảy

+ Giai đoạn trên không

+ Giai đoạn rơi xuống hố cát (hoặc đệm)

- Giai đoạn chạy đà

Bắt đầu từ lúc xuất phát chạy đà đến khi chân giậm chạm vào điểm giậm nhảy

Cự li chạy đà thường từ 5 - 7 - 9 bước hoặc có thể kéo dài đến 11 - 12 bước chạy.Nhiệm vụ của giai đoạn này là phải đạt được tốc độ lớn trước khi giậm nhảy,đồng thời những bước cuối cùng phải chuẩn bị tốt cho giai đoạn giậm nhảy

Cách đo đà: Từ điểm giậm nhảy đi ngược về hướng chạy đà, cứ 2 bước đithường là 1 bước chạy đà ( để có cự li đà chính xác và ổn định, nên dùng thước dây

để đo nhất là đối với VĐV)

Trang 21

Kĩ thuật chạy đà Trong kĩ thuật chạy đà của nhảy cao thường chia thành 2 thờikì:

+ Thời kì 1: Từ lúc xuất phát đến 4 bước cuối cùng, chủ yếu là chạy tăng dần

tốc độ, kĩ thuật bước chạy gần giống như chạy tăng tốc độ của chạy CLN bướcchạy thoải mái, tương đối dài hơi thấp trọng tâm

+ Thời kì 2: 4 bước cuối cùng hình thành nhịp điêụ đặc biệt Bước cuối cùng

ngắn nhất (bước 1 – tính từ điểm giậm nhảy về phía chạy đà, bước 2 dài nhất, bước

3 ngắn hơn bước 4) thân người ở 4 bước cuối ngả dần về sau

Chạy đà khá nhanh và còn phải giậm nhảy, do đó ở các bước cuối cùng khichày cần phải hạ thấp dần trọng tâm đặc biệt là TTCB giậm nhảy ở bước cuốicùng

- Giai đoạn giậm nhảy

Là bắt đầu từ lúc chân giậm nhảy chạm đất đến khi hoàn thành động tác giậmnhảy và rời khỏi điểm giậm nhảy

Nhiệm vụ giai đoạn này chuyển phần lớn tốc độ nằm ngang thành tốc độ thẳngđứng, tập chung sức toàn thân đưa người lên cao Đây là giai đoạn quan trọng nhất,trực tiếp quyết định thành tích nhảy của mỗi người

Để thực hiện được nhiệm vụ đó, người nhảy phải đưa dài chân giậm về phíatrước, xa điểm dọi của trọng tâm cơ thể (tăng được phản lực do chống trước để đưangười lên cao)

Trong giậm nhảy, động tác đá chân lăng và đánh tay có tác dụng tăng áp lựcđạp đất của chân giậm nhảy

Cách xác định điểm giậm nhảy: Điểm giậm nhảy thường được xác định nhưsau: Từ 1/3 xà, hướng về phía chạy đà, đứng cách xà 1 cánh tay

- Giai đoạn qua xà

Giai đoạn này bắt đầu từ lúc chân giậm rời đất cho đến khi bộ phận cơ thể cuốicùng của người nhảy vượt qua xà Nhiệm vụ của giai đoạn này là lần lượt đưa từng

bộ phận cơ thể qua xà một cách hợp lí trên cơ sở tận dụng độ bay cao của tổngtrọng tâm cơ thể

Sau khi giậm nhảy cơ thể bay lên cao theo một góc nào đó, nhưng do ảnhhưởng của trọng lực nên cơ thể đồng thời di chuyển xuống dưới với gia tốc 9,8m/s

Vì vậy nửa đầu đường bay, tốc độ bay lên chậm dần đều, còn nửa sau của đườngbay tốc độ rơi nhanh dần đều Khi qua xà sự di chuyển của trọng tâm một bộ phận

cơ thể nào đó sẽ gây ra hoạt động di chuyển bù trừ ở các bộ phận khác theo hướngngược lại Vì vậy, nếu người nhảy chủ động hạ bộ phận đã qua xà xuống thấp thìmới nâng được bộ phận khác của cơ thể lên đẻ vượt qua xà

- Giai đoạn rơi xuống cát (hoặc đệm)

Trang 22

Giai đoạn này bắt đầu từ khi bộ phận cơ thể cuối cùng qua xà đến khi rơi cơthể có bộ phận chạm cát (hoặc đệm) Nhiệm vụ của giai đoạn này là đảm bảo antoàn và tiết kiệm sức cho người nhảy- do rơi từ cao xuống.

Tuỳ theo từng kiểu mà các bộ phận tiếp đất đầu tiên khác nhau, song đều phảilàm giảm chấn động bằng việc gập các khớp khi chạm đất

Trang 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu:

Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu chuyên môn là một trong nhữngphương pháp nghiên cứu quan trọng và sử dụng trong hầu hết các đề tài nghiêncứu ở mọi lĩnh vực, trong đề tài này chúng tôi phân tích và tổng hợp những tài liệu

có liên quan đến đề tài như: Sách giáo khoa Điền kinh Lý luận TDTT Sinh lýTDTT, Tâm lý TDTT, các tuyển tập nghiên cứu khoa học và các luận văn khoahọc của Cao học TDTT và của sinh viên TDTT… Từ đó tiếp cận lý luận vàphương pháp về thể thao, khắc phục những sai lầm và lựa chọn ra những bài tập cóhiệu quả nhằm nâng cao thành tích môn nhảy cao úp bụng

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn

Trong các công trình nghiên cứu về TDTT phương pháp phỏng vấn được sửdụng khá rộng rãi nhằm trao đổi kinh nghiệm vốn hiểu biết sâu sắc của các chuyêngia về các lĩnh vực có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trong đề tài này chúng tôi

đã tiến hành phỏng vấn các thầy cô giáo trong bộ môn điền kinh có nhiều kinhnghiệm trong giảng dạy và các HLV, VĐV có trình độ cao, bằng phương phápgián tiếp qua việc trả lời các phiểu để có được các ý kiến về các sai lầm và VĐVthường mắc phải

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Chúng tôi tiến hành quan sát các buổi tập luyện nhảy cao úp bụng của cácsinh viên Trường Đại học Hùng Vương Từ đó tìm ra những sai lầm và ứng dụngcác bài tập nhằm sửa chữa cho đối tượng nghiên cứu

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm:

Trang 24

nhân và mức độ sai lầm thường mắc có ảnh hưởng tới việc thực hiện kỹ thuật,được thể hiện qua các chỉ số thể lực chuyên môn của kỹ thuật đó hay thành tích đạtđược.

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Phương pháp thực nghiệm sư phạm là một phương pháp có tính khoa học vàkhách quan, đồng thời có giá trị thuyết phục cao nếu thực nghiệm được tổ chứcmột cách chặt chẽ và xác thực Phương pháp này có nhiều loại: thực nghiệm đơn,thực nghiệm so sánh, thực nghiệm trong giảng dạy và huấn luyện… Trong đề tàinày chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm theo hình thức thực nghiệm kép haycòn gọi là thực nghiệm so sánh

Chúng tôi tiến hành phân nhóm thực nghiệm: Tổng số 30 nam sinh viênđược chia thành hai nhóm mỗi nhóm 15 nam sinh viên:

- Nhóm thực nghiệm: 15 sinh viên tập theo các bài tập chúng tôi lựa chọn

- Nhóm đối chiếu: 15 sinh viên tập theo các bài tập hiện hành

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê

Để có cơ sở đánh giá hiệu quả việc áp dụng các biện pháp bài tập đã lựachọn Chúng tôi sử dụng phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu bằng cáccông thức:

Số trung bình x =

n

n i

x xi

 1

2 ) (

Trang 25

xi: giá trị của cá thể thứ i

Nhịp độ tăng trưởng ( W%): Chỉ số Sbrody

1 2

5,

0 V2 V

V V W

Trong đó : W : Nhịp độ tăng trưởng tính bằng %

V1 : Chỉ số trung bình lần kiểm tra lần thứ nhấtV2 : Chỉ số trung bình lần kiểm tra lần thứ hai

So sánh 2 giá trị trung bình quan sát :

b

b a a

b a n n

x x

t

2 2

)(

)(

(

)

d b c a d c b a

n bc ad

2.2.Tổ chức nghiên cứu:

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2013 đến tháng10/2014, được chia làm 04 giai đoạn

Giai đoạn 1: Từ tháng 10/2013 đến tháng 11/2013

Lựa chọn đề tài, xây dựng và bảo vệ đề cương

Giai đoạn 2: Từ tháng 12/2013 đến tháng 02 năm 2014

Giải quyết nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuậtnhảy cao kiểu úp bụng và xác định những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuậtnhảy cao kiểu úp bụng cho nam sinh viên không chuyên ngành Giáo dục thể chất

Trang 26

2.2.2 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Các bài tập khắc phục những sai lầm thường mắctrong học kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng

- Khách thể nghiên cứu: Nam sinh viên đại học không chuyên ngành giáodục thể chất trường Đại học Hùng Vương

+ Nhóm đối chứng và thực nghiệm: 30 sinh viên năm thứ 2

2.2.3 Địa điểm nghiên cứu:

- Trường Đại học Hùng Vương

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng và xác định những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao úp bụng của sinh viên Trường Đại học Hùng Vương.

3.1.1 Thực trạng các bài tập thường sử dụng cho sinh viên nhảy cao úp bụng:

Qua các tiến trình, giáo án giảng dạy nhảy cao úp bụng cho sinh viên củanhà trường hàng năm, chúng tôi đã thống kê hàng hoạt các tài tập như sau:

* Giai đoạn giậm nhảy đá lăng bao gồm các bài tập

+ Tại chỗ giậm nhảy đá lăng

+ Đi 1 - 2 bước thực hiện giậm nhảy đá lăng

+ Di chuyển đá lăng

+ Bật nhảy lò cò đổi chân

+ Bật nhẩy dưới lên, trên xuống bục cao

* Giai đoạn chạy đà kết hợp với giậm nhảy bao gồm các bài tập:

+ Chạy đà 3 bước giậm nhảy đá lăng

+ Chạy đà 5 bước giậm nhảy đá lăng

+ Chạy toàn đà giậm nhảy đá lăng với vật chuẩn

+ Chạy toàn đá thực hiện động tác giậm nhảy đầu chạm vật chuẩn

+ Chạy trên đường thẳng thực hiện giậm nhảy đá lăng liên tục

* Giai đoạn qua xà rơi xuống đệm bao gồm các bài tập

+ Chạy toàn đà thực hiện qua xà thấp

+ Đứng tại chỗ bật qua xà thấp rơi xuống đệm

Trang 28

+ Chạy đà thực hiện kỹ thuật trên không và rơi xuống đệm với xà cao

* Giai đoạn hoàn thiện bao gồm các bài tập

+ Chạy toàn đà thực hiện nhảy qua xà thấp nhiều lần

+ Nhảy qua xà nhiều lần ở mức tối đa

+ Lấy đà dài thực hiện kỹ thuật qua xà thấp

Qua tìm hiểu thu thập các dạng bài tập của các năm trước, cho thấy việc sửdụng các bài tập trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho sinh viên còn ít,chưa phong phú, chưa chú trọng vào khâu kỹ thuật, đặc biệt việc sử dụng các bàitập bổ trợ chuyên môn hay phát triển thể lực chuyên môn chưa đáp ứng được yêucầu kỹ thuật, do đó bị hạn chế và ảnh hưởng đến quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảycao úp bụng cho sinh viên

3.1.2 Thực trạng về kết quả điểm trung bình của thành tích nhảy cao của nam sinh viên Trường Đại học Hùng Vương.

Chúng tôi đã tiến hành thu thập và xử lý các kết quả về điểm kỹ thuật, thànhtích trung bình và tỷ lệ điểm đạt theo thang điểm của nam sinh viên các Khóa K8,K9, K10, của Khoa Xã hội và Nhân văn Trường Đại học Hùng Vương được trìnhbày ở bảng sau:

Bảng 3.1 Điểm kỹ thuật nhảy cao úp bụng, thành tích trung bình, tỷ lệ điểm

đạt của nam sinh viên Trường Đại học Hùng Vương.

Tỷ lệ điểm đạt Khá giỏi Trung bình Yếu

Trang 29

khóa K8, K9, K10 Tỷ lệ điểm khá giỏi rất thấp chưa đạt 20% Điểm trung bìnhchung chỉ đạt xấp xỉ 6,0 thành tích trung bình đạt được còn hạn chế

Tóm lại: Từ các vấn đề nêu trên cho thấy việc tổ chức giảng dạy kỹ thuật

nhảy cao úp bụng cho sinh viên đòi hỏi phải có phương tiện, phương pháp, phảiđược lựa chọn, sắp xếp các bài tập theo một trình tự đảm bảo tuân thủ các nguyêntắc tập luyện, phù hợp với đặc điểm đối tượng giảng dạy Nếu không sẽ làm ảnhhưởng tới chất lượng giảng dạy và thành tích và kết quả đạt không cao Do vậy,việc tìm ra những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao úp bụng củasinh viên và vấn đề nghiên cứu ứng dụng các bài tập để sửa chữa những sai lầm đó

là những giải pháp không thể thiếu với mục đích nâng cao chất lượng giảng trongnhà trường

3.1.3 Xác định những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao úp bụng và nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó

3.1.3.1 Xác định những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao úp bụng.

Nhảy cao úp bụng là kỹ thuật rất khó và phức tạp, thể hiện ở chỗ là khi thựchiện kỹ thuật người tập phải vận dụng tốc độ chuyển động nằm ngang trong chạy

đà sang tốc độ thẳng đứng khi bay trên không sau giậm nhảy Vì vậy để đạt thànhtích cao, người tập phải chạy đà với tốc độ hợp lý, giậm nhảy bột phát tích cựcđúng hướng, tạo điều kiện để đưa trọng tâm cơ thể lên cao và phối hợp kỹ thuậttrên không phải hợp lý và chính xác từng nhịp điều động tác Từ những yếu lĩnh kỹthuật và yêu cầu của nó, người tập có thể mắc phải nhiều sai lầm khác nhau ở mỗigiai đoạn khác nhau Vì vậy trong công tác giảng dạy – huấn luyện, việc phát hiện

và sửa chữa sai lầm cho người tập khi thực hiện kỹ thuật này được coi là một nghệthuật của người truyền đạt Đòi hỏi người huấn luyện hay giảng dạy phải có trìnhđộ: Nắm vững từng yếu lĩnh hay chi tiết từng kỹ thuật, có kinh nghiệm thì mớiphát hiện những sai sót dù là nhỏ nhất, từ đó biết được sai sót nào là cơ bản ảnhhưởng chính đến thành tích và tìm hiểu nguyên nhân chính sinh ra nó thì mới cóbiện pháp để sửa chữa thích hợp

Ngày đăng: 18/03/2015, 14:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1991), Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội lần thứ VII của Đảng, NXB Sự Thật, Hà Nội. Tr.58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo báo cáo chính trị Đại hộilần thứ VII của Đảng, NXB Sự Thật
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: NXB Sự Thật"
Năm: 1991
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Tr.209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Tr.220-221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia"
Năm: 2006
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban hành chương trình môn học GDTC cho các trường Trung cấp nghề, trường Cao đẳng nghề. QĐ: 06/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 18/02/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành chương trình môn họcGDTC cho các trường Trung cấp nghề, trường Cao đẳng nghề
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996), Quy hoạch phát triển TDTT ngành GD&ĐT thời kỳ 1996-2000 và định hướng đến năm 2025 (tháng 12/1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển TDTT ngành GD&ĐTthời kỳ 1996-2000 và định hướng đến năm 2025
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1996
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1996), Phân phối chương trình GDTC tring các trường Đại học (quyết định 203/QĐ-GDTC ngày 23/01/1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân phối chương trình GDTC tring cáctrường Đại học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1996
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên, (quyết định số 53/2008/QĐ-BGĐT ngày 18/9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lựchọc sinh, sinh viên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr. 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
12. Dương Nghiệp Chí (2004), Đo lường thể thao, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2004
13.Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái (chủ biên) năm 2003, Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 – 20 tuổi (thời điểm năm 2001),NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạngthể chất người Việt Nam từ 6 – 20 tuổi (thời điểm năm 2001)
Nhà XB: NXB TDTT
14. Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí (2001), Chương trình nâng cao tầm vóc và thể trạng người Việt Nam góp phần phát triển giống nòi và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nâng cao tầmvóc và thể trạng người Việt Nam góp phần phát triển giống nòi và phục vụ sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ, Dương Nghiệp Chí
Năm: 2001
15. Nguyễn Trọng Hải – Vũ Đức Thu (1993), “Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển các tố chất thể lực của sinh viên”, Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục sức khỏe, thể chất trong nhà trường các cấp, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá thực trạngphát triển các tố chất thể lực của sinh viên”, "Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáodục sức khỏe, thể chất trong nhà trường các cấp
Tác giả: Nguyễn Trọng Hải – Vũ Đức Thu
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1993
16. Lưu Quang Hiệp – Phạm Thị Uyên(2003), Sinh lý học TDTT, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp – Phạm Thị Uyên
Nhà XB: NXB TDTTHà Nội
Năm: 2003
17. Lưu Quang Hiệp - Lê Đức Chương - Vũ Chung Thủy - Lê Hữu Hưng (2000), Y học TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp - Lê Đức Chương - Vũ Chung Thủy - Lê Hữu Hưng
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
18. Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Bác Hồ (1981), Đảng và Nhà nước với TDTT, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: kêu gọi toàn dân tập thể dục của Bác Hồ (1981)
Tác giả: Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Bác Hồ
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1981
19. Lê Văn Lẫm - Phạm Xuân Thành (2007), Giáo trình đo lường TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đo lường TDTT
Tác giả: Lê Văn Lẫm - Phạm Xuân Thành
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 2007
20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viêt Nam, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viêt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Viêt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
21. Nguyễn Xuân Sinh và cộng sự ( 1999 ), Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp nghiêncứu khoa học TDTT
Nhà XB: NXB TDTT
22. Đồng Văn Triệu - Lê Anh Thơ (2000) , Lý luận và phương pháp GDTC trong trường học NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp GDTCtrong trường học
Nhà XB: NXB TDTT
23. Ủy ban TDTT (2006), Một số văn bản quy phạm pháp luật về TDTT , NXB TDTT, Hà Nội. Tr 14 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản quy phạm pháp luật về TDTT
Tác giả: Ủy ban TDTT
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4: Kết quả so sánh phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp phỏng - NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG HỌC KỸ THUẬT NHẢY CAO KIỂU ÚP BỤNG CHO NAM SINH VIÊN ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC  HÙNG VƯƠNG
Bảng 3.4 Kết quả so sánh phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp phỏng (Trang 33)
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra các test của hai nhóm thực nghiệm và đối chiếu - NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG HỌC KỸ THUẬT NHẢY CAO KIỂU ÚP BỤNG CHO NAM SINH VIÊN ĐẠI HỌC KHÔNG CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC  HÙNG VƯƠNG
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra các test của hai nhóm thực nghiệm và đối chiếu (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w