ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN*********** TÊN ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM DIATOMEAE TRONG TRẦM TÍCH HOLOCEN CỬA SỒNG VEN BIỂN SÔNG TIỀN TIỀN GIANG VÀ Ý NGHĨA CÔ SINH THÁI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
***********
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐẶC ĐIỂM DIATOMEAE TRONG TRẦM TÍCH HOLOCEN CỬA SỒNG VEN BIỂN SÔNG TIỀN (TIỀN GIANG) VÀ Ý NGHĨA CÔ SINH THÁI
HÀ NỘI- 2010
Trang 2BÁO CÁO TÓM TẮT
Tên đề tài: Đặc điểm Dỉatomeae trong trầm tích Hoỉocen cửa sông ven biển sông
Tiền (Tiền Giang) và ỷ nghĩa cổ sinh thải.
a Mã số: QT09- 48
b Chủ trì đề tài: ThS Nguyễn Thị Thu Cúc
c Cán bộ tham gia: TS Nguyễn Thùy Dương
d Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
- Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm Ditomeae trong trầm tích Holocen đới cửa sông ven biển sông Tiền nhằm tìm ra quy luật phân bố của chúng theo không gian, thời gian Dựa vào ý nghĩa cổ sinh thái của các tập họrp Diatomeae có thể xác định được môi trường thành tạo trầm tích đồng thời xác định tiến hỏa môi trường trầm tích phục vụ công tác tìm kiếm khoáng sản ven biển
- Nội dung nghiên cứu:
+ Diatomeae: phân tích thành phần giống loài và đặc điểm sinh thái của Diatomeae
+ Xác định môi trường thành tạo trầm tích và tiến hóa môi trường trầm tích trên
cơ sở kểt quả phân tích Diatomeae
e Kết quả đạt được
- Bảng danh sách hóa thạch Diatomeae gồm 83 loài thuộc 31 giống khác nhau trong đó 37 loài thuộc phụ lớp Diatomeae Trung tâm (Centrophyceae) và 46 loài thuộc phụ lớp Diatomeae Lông chim (Pennatophyceae) 02 bản ảnh Diatomeae khu vực nghiên cứu
- 01 bài báo gửi trên tạp chí chuyên ngành với tiêu đề: Diatomeae và ỷ nghĩa cỏ
sinh thái trong trầm tích Hoỉocett- hiện đại vùng cửa sông ven biển sông Tiền.
- 01 báo cáo tổng kết
Trang 3f Tình hình sử dụng kinh phí của đề tài
- Kinh phí hỗ trợ: 25.000.000đ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
#wó Hlệli TBƯỞMG
Trang 4b Head of the project: MSc Nguyen Thi Thu Cue
c Participants: Dr Nguyen Thuy Duong
d Objectives and contents o f the project
- Content o f the project
+ Diatoms: analyzing taxon composition and ecologycal characteristics ofDiatoms in Holocene sediment at Tien river mouth area
+ Reconstructing sedimentary environment and sedimentary evolution processbased on analyzed Diatoms results
e Main results
- Bảng danh sách hóa thạch Diatomeae gồm 83 loài thuộc 31 giổng khác nhau trong đó 37 loài thuộc phụ lóp Diatomeae Trung tâm (Centrophyceae) và 46 loài thuộc phụ lóp Diatomeae Lông chim (Pennatophyceae) 02 bản ảnh Diatomeae khu vực nghiên cứu
- A list Diatoms consist o f 83 species in 31 genus (37 species in Centrophyceae and 46 species in Pennatophyceae) 2 pictures o f Diatoms at Tien river mouth area
- Publications: 01 article submitted
- 01 final report
Trang 5HANOI UNIVERSITY OF SCIENCE
IV
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐÀU 2
CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ Tự NHIÊN - KINH TÉ NHÂN V Ă N 3
1.1.2 Đặc điêm địa hình 4
1.1.3 Đặc điểm khí h ậ u 5
1.1.4 Đặc điểm thủy v ăn 5
1.2 Đ ặc điểm kinh tế nhân v ã n 6
1.2.1 Dân c ư 6
1.2.2.Kinh t ế 7
CHƯƠNG 2: c ơ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 12
2.1 C ơ sở tài liệ u 12
2.2 Phuffng pháp nghiên c ứ u 12
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 12
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 12
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỀM ĐỊA TÀNG HOLOCEN KHU v ự c CỬA SÔNG VEN BIỀN SÔNG TIÈN ; * 14
3.1 Hệ tầng Bỉnh Đ ại ( Q i'A d ) 14
3.1 Hệ tầng Hậu G iang Trầm tích biển (m Q i 2ftg ) 14
3.2.H ệ tầng C ửu Long (Q 2i c f ) 15
CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM DIATOMEAE KHU vự c CỬA SÔNG VEN BIỂN TIỀN GIANG 17
4.1 M ột vài nét sơ lược v ề D ia to m e a e 17
4.2 D iatom eae vùng cửa sôn g ven biển sông T iề n 18
4.2.2.Lỗ khoan BT2 (x i An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến T re) 24
4.2.3.Lỗ khoan BT3 (x i Binh Chiến, huyện Binh Đại, tinh Bến T re ) 27
4.3 Q uy luật phân bố D iatom eae theo không gian và thời gian tron g trầm tích H olocen khu vực cửa sông ven biển sông T iề n 28
CHƯƠNG 5 Ý NGHĨA CỔ SINH THÁI CỦA DIATOMEAE 32
5.1 Đ ặc điểm sinh thái ciia D ia to m e a e 32
5.2 Đ ặc điểm sinh thái của D iatom eae khu vự c nghiên cứ u 33
KÉT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 7MỞ ĐẦU
Vùng cửa sông ven biển là một vùng có hệ sinh thái đặc thù, đây là nơi giao thoa giữa môi trường lục địa và môi trường biển, là nơi tranh chấp giữa đất liền và biển cả Tuy là nơi ẩn chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng cũng là nơi tiềm ẩn rất nhiều tai biến thiên nhiên mà hiểm họa thật khó lường Đây cũng là bàn đạp để con người tiến ra biển Vùng cửa sông ven biển sông Tiền là một phần diện tích thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Đây là một trong những vùng giàu có nhất của đồng bằng Nam bộ nhờ phù sa màu mỡ của sông Cửu Long bồi đắp Vùng nghiên cứu nằm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh nơi có sáu cửa sông thuộc hệ thống Sông Tiền (Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên và Cửa Cung Hầu) đổ ra Biển Đông
Diatomeae là một nhóm hóa thạch vi cổ sinh rất có ý nghĩa trong nghiên cứu trầm tích Đệ tứ nhờ đặc tính phân bố rộng rãi và chỉ thị môi trường của nó Trầm tích Holocen- hiện đại vùng cửa sông ven biển sông Tiền (thuộc hệ thống sông Mekong) chứa rất phong phú Diatomeae Các phức hệ Diatomeae trong trầm tích này minh chứng cho sự có mặt của biển tại khu vực nghiên cứu qua các giai đoạn khác nhau Dựa vào các phức hệ Diatomeae có mặt cho phép khôi phục lại điều kiện cổ sinh thái, hay môi trường thành tạo trầm tích holocen- hiện đại vùng cửa sông ven biển sông Tiền
Nội dung báo cáo
Mở đầu
Chương 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên kinh tế nhân văn
Chương 2: Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Đặc điểm địa tầng Holocen khu vực cửa sông ven biển sông Tiền
Chương 4: Đặc điểm Diatomeae khu vực cửa sông ven biển sông Tiền
Chương 5: Ý nghĩa cổ sinh thái của Diatomea
Kết luận
Tài liệu tham khảo
2
Trang 8CH Ư Ơ N G 1 ĐẶC Đ IỂM ĐỊA LÝ T ự NH IÊN - KIN H TÉ NHÂN VĂN
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị tr í địa lý vùng nghiên cửu
Vùng nghiên cứu bao gồm đới cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Tiền được giới hạn bởi:
Trang 91.1.2 Đặc điểm địa hình
Sông Tiền đổ ra đổ ra biển qua sáu cửa sông, từ bắc xuống nam là Cửa Tiểu, Cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa c ổ Chiên và cửa Cung Hầu có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1 % và cao trình biến thiên từ Om đến 1,6m so với mặt
nước biển, phổ biến từ 0,8m đến l,lm Nhìn chung, toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực có tiểu địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung
Các tỉnh trong vùng nghiên cứu có địa hình thấp, khá bàng phẳng, nhìn từ ảnh
vũ trụ, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là mức độ bằng phẳng rất cao Độ chênh cao tuyệt đổi giữa điểm thấp nhất và điểm cao nhất chỉ là 3,5 m Phần đất cao nhất đi từ Chợ Lách đến Châu Thành, nằm về phía bắc và tây bắc của thị xã Bến Tre Đây là khu vực của cồn sông cổ bị lũ hàng năm đem phù sa phủ lấp lên Độ cao tuyệt đối có nơi đạt trên 5
m, nhưng đa sổ đi từ 3 đến 3,5 m Một phần đất cao nữa nàm theo các bờ biển cổ, với những gờ bờ biển cổ, gọi là giồng, có độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m Đa số địa danh cao đều mang thêm từ giồng ở phía trước, như Giồng Trôm, Giồng Tre Giồng Mù u , v.v
Phần đất thấp gồm có 2 loại, đó là các lòng máng của những dòng sông cổ và mới, đã bị lấp hoàn toàn hoặc từng phần bởi trầm tích lũ hiện nay Ví dụ như Phước
An, Phước Tú ở huyện Châu Thành, hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở huyện Giồng Trôm Loại thứ hai là những vũng mặn cổ, nay cũng đã được lấp đầy từng phần như xóm Chợ
Cũ của huyện Ba Tri; Bình Quới, Mỹ Hòa ở huyện Giồng Trôm Loại này chỉ có độ cao từ 1 đến 1,5 m v à đa sổ bị ảnh hưởng triều rất mạnh Ví dụ: ở xóm Rạch Vọp, ảnh hưởng triều xảy ra mỗi ngày, tạo nên một loại trầm tích keo hóa gọi là trầm tích đồng thủy triều
Cuối cùng là những vùng đất trũng thật thấp, luôn luôn ngập nước ở mực triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều Loại này khó vượt quá cao độ 0,5
m Diện tích chung có tính giới hạn, nằm cạnh ven biển Đất đầm mặn phát triển nhiều
ở huyện Bình Đại nhưng trở nên ít đi ở huyện Ba Tri và kém phát triển ở huyện Thạnh Phú
Ở Trà Vinh có địa hình mang tính chất đồng bàng ven biển với các giồng cát, chạy ỉiên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển Càng về phía biển, các giồng này càng cao và càng lớn Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kênh rạch chàng chịt nên địa hình khá phức tạp Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao,
xu thế dổc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng Nhìn chung, cao trình phổ biến là từ 0,4
-1,0 m, chiếm 66% diện tích đất tự nhiên
Trang 10Địa hình cao nhất (>4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Câu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải) Địa hình thấp nhất (<0,4m) tập trung tại các cánh đồng trũng xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên Ngọc Biên (Trà Cú); Thanh Mỹ (Châu Thành); Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải).
Do vậy, khác với các địa phương khác trong vùng, tại Trà Vinh đã hình thành nền sản xuất nông nghiệp khá đa dạng và phong phú với cơ cấu màu lương thực, thực phẩm dưới đất thấp cộng với cây ăn trái phát triển trên các giồng cát Cây lúa chiếm ưu thê ở các vùng trung bình - thấp, một số vùng trũng ven sông có thể nuôi tôm tự nhiên
1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Vùng nghiên cứu có đặc điểm khí hậu gió mùa cận xích đạo Mỗi năm có 2 mùa
rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng ] 1 với trung bình là 130 ngày mưa, tổng lượng mưa trong mùa đạt khoảng 1.799mm Mùa khô bắt đàu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 3 năm sau, tổng lượng mưa trong mùa chỉ đạt vài trăm mm Lượng mưa trung bình trong các tháng dao động từ 30 - 50mm Lượng mưa thấp hoặc không mưa thường xảy ra vào tháng 2 - 4
Nhiệt độ nước bề mặt vùng cửa sông ven biển sông Tiền thuộc loại cao, thường trên dưới 30°c Ở gần khu vực Côn Đảo nhiệt độ nước biển trung bình trong năm là 28,5°c Vào mùa hè nhiệt độ nước biển tương đối đồng nhất từ tầng mặt đến tầng đáy
Độ ẩm: đo nẳm trong khu vực gió mùa cận xích đạo và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển nên vùng nghiên cứu có độ ẩm cao Độ ẩm trong năm thay đổi trong khoảng 76 - 91%, trung bình 84% Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 8 và thấp nhất là tháng 4 Lượng nước bốc hơi trung bình năm thường trên 1000mm Mùa khô lượng nước bốc hơi bình quân hàng tháng là 130 - 140mm, mùa mưa lượng nước bốc hơi hàng tháng trung bình từ 60 - 70mm
1.1.4 Đặc điểm thúy văn
a Mạng lưới sông suối
Khu vực nghiên cứu thuộc khu vực hạ lưu của sông Mê Kông và là một nhánh của sông Mê Kông, vận chuyển khoảng 70% lượng nước và bùn cát tống lượng nước
và bùn cát lơ lửng của cả hệ thống Mê Kông
Sông Tiền chia nước qua 6 cửa (cừa Tiêu, cửa Đại cửa Bai Lai (đã đắp đập), cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Hàm Luông) Nhung hiện nay cửa Ba Lai (thuộc sông Tiền) đã ngừng cháy do có đập và cống Ba Lai ngăn lại (năm 1999) Như vậy, về thực chất hiện nay dòng sông Tiền chỉ còn 5 cửa sông đang hoạt động là: cửa Tiểu,
Trang 11Mạng lưới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao
thông thủy phát triển
b Chế độ dòng chảy
Chế độ dòng chảy sông Tiền chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều yếu tố tác động:
dòng chảy sông Mê Kông, thủy triều biển Đông, thủy ừiều biển Tây-vịnh Thái Lan và
chế độ mưa ở đồng băng Nguồn nước chảy về sông Tiền là khá lớn, hàng năm có
khoảng 422 tỷ m3 nước từ thượng nguồn cộng với lượng nước mưa trung bình năm
cung cấp cho sông Cửu Long khoảng 67 tỷ m3 Tổng lượng nước hằng năm ở ĐBSCL
khoảng 500 tỷ m3
Dòng chảy sông Mê Kông có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt Ở thượng
lưu mùa lũ bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng XI, mùa kiệt bắt đầu từ tháng XII
và kết thúc vào tháng V Biển Hồ có vai trò điều tiết dòng chảy ở hạ lưu Pnôngpênh,
tuy thế ở hạ lưu vẫn còn sự tương phản sâu sắc giữa mùa lũ và mùa kiệt, lưu lượng
giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất vẫn chênh lệch rất lớn Vào mùa lũ, lưu lượng
tăng cao đột ngột và đạt trung bình từ 20.000 đến 30.000m3/s, trong đó vào mùa khô
lưu lượng giảm nhỏ và chỉ còn khoảng 2.000-4.000m3/s, bàng 10-20% lưu lượng các
tháng mùa lũ
- Mùa lũ: So với lũ ờ vùng thượng lưu, lũ ĐBSCL diễn ra hiền hòa hom Do tác dụng điều tiết của Biển Hồ và khi về đến đồng bằng lại có dòng chảy tràn bờ nên mực
nước lũ ở Tân Châu, Châu Đốc dâng từ từ Lũ lên và xuống với cường suất nhỏ, trung
bình 5-7cm/ngày Những trận lũ lớn và sớm cũng chỉ đạt 10-12 cm/ngày Cường suất
lũ lớn nhất trong thời đoạn ngắn cũng chi đạt 20-30cm/ngày Tốc độ truyền lũ chậm
l,5-2km/h, nếu gặp kỳ triều cường tốc độ truyền lũ giảm đi rõ rệt, vì vậy khả năng
thoát lũ kém Một đặc điểm nổi bật là lũ ĐBSCL là lũ một đỉnh Đỉnh lũ xuất hiện vào
cuối tháng IX đến nửa đấu tháng X Tháng VIII cũng thường xất hiện đỉnh phụ, bởi
sau đỉnh này vào tháng IX lũ hoặc bị hạ thấp đôi chút hoặc gần lằm ngang hay tăng
chậm hơn so với kỳ trước và sau đó Tháng có dòng chảy lớn nhất ở Tân Châu là tháng
IX, sớm hơn ] tháng so với Châu Đốc
1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn
1.2.1 Dân cư
Khu vực ven biển vùng nghiên cứu thuộc ba tỉnh Tiền Giang, Bển Tre và Trà
Vinh Dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, Khmer và Hoa Họ sống tập trung ở
ven các đường giao thông, ven biển và dọc theo các kênh rạch lớn Dân ở đây chủ yếu
sổng bàng nghề nông nghiệp và thủy sản
Cộng đồng dân cư tại Tiền Giang gồm các dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer, Chăm,
các dân tộc khác đã từng sinh sống ở Việt Nam và người nước ngoài
Trang 12Dân số trong vùng phát triển tương đối nhanh trong những năm đầu, sau khi chiến tranh kểt thúc Sau đó, vào thế kỷ XXI, tốc độ tăng dân số dẩn đi vào ổn định theo kế hoạch phát triển dân số của cả nước và của vùng.
Có thể thấy ràng, dân số của các tỉnh vùng cửa sông Cửu Long tăng theo tỷ lệ tăng tự nhiên của mình, không có ảnh hưởng của tăng dân số cơ học, tức là không có
sự di cư từ các miền đất khác đến đây Kể cả khi các tỉnh này thành lập các khu, cụm công nghiệp thì sức hút Lao động từ nơi khác đến cũng không đáng kể
Như vậy, dân số khu vực tập trung chủ yếu vào các vùng nông thôn, dân số thành thị chiếm một phần không nhiều, tỷ lệ Nam thường thấp hom nữ Điều này cho thấy nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế khu vực, chủ yếu là nông nghiệp truyền thống Vì vậy, hiện tượng nông nhàn vẫn còn phổ biến
Tỷ lệ cao trong cơ cấu dân số của lứa tuổi từ 19 tuổi trở xuống phản ánh thành phần dân số sống phụ thuộc ở khu vực rất cao, nó đặt ra nhiều vấn đề về trường lớp, khu vui chơi và công ăn việc làm cho những thanh niên đến tuổi Lao động v.v
Sổ người già từ 60 tuổi trở lên ở đây chiếm tỷ lệ trung bình so với khu vực (7%), song đây là vấn đề đang đặt ra những yêu cầu về phục vụ, giải trí khám chữa bệnh và những vấn đề bảo vệ sức khỏe để nâng cao tuổi thọ của người dân
1.2.2.Kinh tế
a Nông, lâm, ngư nghiệp
Vùng cửa sông châu thổ sông Cửu Long lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất chính, sản xuẩt nông nghiệp đã có từ ngàn đời nay và là nguồn thu nhập chính của người dân trong vùng
Phát triển nông nghiệp trong vùng tập trung vào cây nông nghiệp chính đó là cây lúa, chính vì vậy đã tạo cho vùng thế mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo ra khu vực và quốc tế Hàng năm, đồng bàng sông Cửu Long xuất khẩu 50% lượng gạo trong cả nước
Một thế mạnh nữa của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng cửa sông ven biển sông Cửu Long nói riêng là nuôi trồng thủy sản Chính thể mạnh này đã làm giầu, làm cho vị thế vùng đất trù phú này được nâng lên rõ rệt Điều này thể hiện ở lượng tôm xuất khẩu ra nước ngoài, chiếm 60% lượng tôm xuất khẩu của cả nước Ngoài ra, từ đây còn xuất đi các mặt hàng như lạc, cà phê, hạt điều, đậu nành, vừng, trứng muối, lông vịt, v.v
Trang 13b Giao thông vận tải
Vùng cửa sông ven biển châu thổ sông Tiền theo cách gọi dân gian là một vùng sông nước, do đó hoạt động giao thông thuỷ trên các sông ngòi, kênh rạch của vùng cửa sông Cửu Long là đặc trưng của hệ thống giao thông ở đây, đặc trưng này có từ ngàn xưa, là truyền thống giao thông và vận chuyển hàng hoá của vùng Đây cũng là một trong những hoạt động lâu dài và có tác động tích dồn ảnh hưởng đến lắng đọng phù sa, xói lở bờ và lòng dẫn
Các tuyến vận tải thuỷ liên quan chặt chẽ đến các luồng lạch và có ảnh hưởng đến quá trình tự nhiên trên các dòng sông, các kênh rạch Các hệ thống đường thuỷ lại liên quan nhiều đến các cảng sông, cảng biển
Hệ thống sông Tiền cũng như các nhánh kênh rạch khác trong khu vực có khả năng phục vụ nhiệm vụ vận tải cho các loại tàu thuyền hầu như quanh năm Các sông ngòi, kênh rạch trên vùng đồng bàng sông Cửu Long có thể cho các phương tiện trên 100 tấn ra
vào thì sông chiếm 35%, rạch chiếm 9% và kênh chiếm 56% Vì vậy vai trò của các
kênh là rẩt lớn, sau đỏ đến các dòng sông Khối lượng hàng hoá vận chuyển trên đường thuỳ hàng năm tăng khoảng 13.5% chiếm 65-70% về tấn vận chuyển hàng hoá
và 70-78% về tấn hàng hoá luân chuyển
Ngoài hệ thống sông chính, hệ thống kênh rạch trên địa bàn là những tuyến giao thông nội vùng quan trọng, nhiều kênh rạch tham gia vào hệ thống giao thông ngoại vùng, liên kết với các hệ thống sông chính (các cửa sông lớn), làm thành mạng giao thông hữu hiệu từ bao đời nay trên miền đất cửa sông đồng bằng sông Cửu Long
Hàng hoá chính của vùng là nông-hải sản và được vận chuyển chủ yếu bằng đường thuỳ Khoảng 65% khối lượng hàng hoá trong khu vực được vận chuyển bàng các phương tiện thuỷ trên các kênh rạch của vùng Ngoài việc vận chuyển hàng hoá, giao thông thuỷ còn vận chuyển khoảng 70% số lượng hành khách đi lại trên vùng đồng bàng sông Cửu Long nói chung và nhất là ớ khu vực cửa sông nói riêng
c Thông tin liên lạc
Trước năm 1992 mạng lưới thông tin liên lạc của hầu hết các tỉnh Nam Bộ rất ít được đầu tư thiết bị lạc hậu không đồng bộ Sau 1993 trong chiến lược hiện đại hóa mạng lưới thông tin liên lạc của cả nước, ngành thông tin liên lạc của các tỉnh ven biển sông Cửu Long được đầu tư trang thiết bị hiện đại Hiện nay, các tỉnh này là một trong
Trang 14những tỉnh trong đồng bàng sông Cửu Long có hệ thông bưu chính viễn thông được trang bị hiện đại, công nghệ cao và chất lượng đồng bộ, nối mạng hoàn chỉnh đển các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế.
Bên cạnh hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: giao thông thủy và bộ, khách sạn, nhà hàng đang được tăng cường phát triển, các loại hình du lịch cũng phát triển
đa dạng, bao gồm:
- Du lịch cảnh quan thiên nhiên trên trên sông, trên biển, cù lao, cồn cát
- Du lịch di tích lịch sử, khảo cổ, văn hóa - nghệ thuật
- Du lịch vui chơi - giải trí
- Du lịch an dưỡng nghỉ mát
- Du lịch kết hợp kinh tế
Các địa phương trong vùng có tiềm năng cao về du lịch tự nhiên và nhân vãn, đó
là các điểm di tích, các thắng cảnh các lễ hội tầm quốc gia:
- Ở tỉnh Tiền Giang:
+ Hội Vàm Láng (xã Kiển Phước, huyện Gò Công Đông); hội Tử Kiệt (xã Thanh Hoà, huyện Cai Lậy)
+ Di tích văn hoá Óc Eo Gò Thành (xã Tân Thuận, huyện Chợ Gạo); di tích lịch
sử Rạch Gầm-Xoài Mút (xã Kim Sơn, huyện Châu Thành); Các chùa Vĩnh Tràng (Tp
Mỹ Tho); chùa Hội Thọ (ấp Mỹ Hưng, huyện Cái Bè), chùa Linh Thứu (xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành), chùa Thanh Tước (xã Long Thuận, TX Gò Công); đình Long Hưng (xã Long Hưng, huyện Châu Thành), đình Tân Hiệp, (xã Tân Hiệp, huyện ChâuThành), luỹ Pháo đài (xã Phú Đông, TX Gò Công), di tích Áp Bẳc (xã Tân Phú huyệnCai Lậy)
Trang 15+ Lăng Trương Định, lăng Hoàng Gia (TX Gò Công), mộ Thủ Khoa Huân (huyện Chợ Gạo), Mỹ Tho đại phố.
+ Các danh thắng: c ồ n Thới Sơn, trại nuôi rắn Đồng Tâm, Đồng Tháp Mười, chợ nổi Cái Bè và cù Lao Tân Phong
- Ở tình Trà Vinh:
+ Lễ hội Nghinh Ông (lễ hội cúng biển Mỹ Long xã Mỹ Long, huyện cầu
Ngang); các lễ hội hàng năm của bà con Khơ me Nam Bộ như lễ đón năm mới, lễ cúng ông bà, lễ cúng trăng, lễ dâng bông, lễ dâng phước
+ Chùa Hang (xã Đa Lộc, huyện Châu Thành), chùa Âng, chùa Sam-rông-ek (xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành), chùa Cò (chùa Gồng lớn xã Đại An, huyện Trà Cú), chùa Lưỡng Xuyên (chùa Long Phước, TX Trà Vinh), chùa Di Đà (chùa Tiên Châu, xã Bình Lương, huyện Châu Thành)
+ Đền thờ Bác Hồ (xã Long Đức, TX Trà Vinh)
+ Các danh thắng: cồ n Nghêu (cồn Nạnh, xã Mỷ Long, huyện c ầ u Ngang), ao
Bà Om (ao Vuông, xã Nguyệt Hoá, huyện Châu Thành), bãi biển Ba Động (xã Trường Long Hoà, huyện Châu Thành
Trong các lĩnh vực hoạt động du lịch, du lịch sinh thái thực sự mới được phát triển cách đây không lâu và đang là một trong những hướng phát triển kinh tế có thế mạnh trong vùng cưa sông Cửu Long: song có thê nhận xét là sự phát triển còn chưa cân xứng với tiềm năng hiện có bời nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu
Trang 16là thị trường khách du lịch là rất hạn chế vâ cơ sở hạ tầng cho hoạt động du lịch là rât thấp kém, việc quy hoạch phát triển du lịch và du lịch sinh thái là hoàn toàn chưa có quy hoạch, tự phát và thiếu tầm nhìn, dẫn tới thiếu đầu tư cho hoạt động kinh tê trong lĩnh vực này.
Trong vùng nghiên cứu, ngành nghề phát triển mạnh nhất là nông nghiệp và thủy sản, đây là 2 ngành đem lại nhiều nguồn lợi về kinh tế cũng như công ăn việc làm cho nhân dân địa phương Ngoài ra trong vùng còn phát triển các ngành như công nghiệp, dịch vụ, thương mại, tuy nhiên tốc độ phát triển chưa cao
Trang 17CHƯƠNG 2: c ơ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ử u
2.1 Cơ sở tài liệu
Cơ sở tài liệu của bài báo là toàn bộ mẫu trầm tích Holocen cùa 3 lỗ khoan máy LKBTị, LKBT2 và LKBT3 được khoan tại tỉnh Bến Tre Trầm tích Holocen tại lỗ khoan LKBTI là 26,4 - Om gồm 9 mẫu phân tích Diatomeae; LKBT2 là 57,5 -Om gồm
13 mâu phân tích Diatomeae; LKBT3 53,4m- Om gồm 19 mẫu phân tích Diatomeae.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Thực địa khảo sát đặc điểm địa chất khu vực và đối tượng nghiên cứu
+ Mô tả, lấy mẫu các mặt cắt chuẩn đại diện cho các kiểu nguồn gốc, tướng đá môi trường trầm tích khác nhau
+ Mô tả các lỗ khoan chuẩn
+ Lấy mẫu cổ sinh và mẫu trầm tích
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thi nghiệm
1 Gia công, làm sạch, làm giàu Khuê tảo từ mẫu lấy ngoài thực địa
Các mẫu gia công phải được mô tả và ghi số mẫu gia công tương ứng với số mẫu thực tế vào sổ gia công rồi tiến hành các bước sau:
Mầu được ngâm và rửa nhiều lần bằng nước cất và bột Pyrophotphat Natri (Na4P20 7.10H20 ) cho tới khi hết vật liệu sét thì tiến hành làm giàu mẫu bàng dung dịch nặng
Dung dịch nặng được dùng để làm giàu Khuê tảo là iotua cadimi và iotua kali (Cdl2 + KI) tý trọng 2,5 Sau khi làm giàu, mầu được quay li tâm và rửa lại bằng nước cất cho vào ống nghiệm để nghiên cứu phân tích
2 Phăn tích vỉ cổ sinh dưới kính hiển vi sinh vật
a Phân tích Diatomeae trên tiêu bản tạm thời
- Chuẩn bị tiêu bản tạm thời: cho một giọt trầm tích chứa khuê tảo đã được làm giàu lên tẩm lam (sau gia công) và nhỏ một vài giọt nước cất, trộn đều phủ lamen 18 X 18mm
- Tiến hành phân tích theo thứ tự từng hàng ngang, dọc trẽn tiêu bản Trong quá trình phân tích, cần thống kê các loài đã gặp, tần sổ gặp mỗi loài và thống kẽ số lượng mảnh vỏ
b Phân tích trên tiêu bản cố định và chụp ảnh
12
Trang 18- Chuẩn bị tiêu bản cố định.
- Phân tích tảo trên tiêu bản cố định: tiến hành soi theo hàng ngang, dọc, ghi lại các loài đã phân tích được, đánh dấu vị trí loài cần chụp ảnh Khi chụp ảnh, phải lưu ý tính độ phóng đại của kính để tính độ phóng đại của ảnh chụp được
3 Phương pháp cổ sinh thái
Phương pháp cổ sinh thái là phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật
cổ và môi trường sống của chúng Những thay đổi về điều kiện môi trường (nhiệt độ,
độ m uối, ) dẫn đến sự thay đổi cấu trúc của các quần thể sinh vật Do đó nghiên cứucấu trúc của các tập hợp hóa thạch cho phép làm sáng tỏ các điều kiện môi trườngtrong quá khứ địa chất, cụ thể là môi trường thành tạo trầm tích xảy ra đồng thời với quá trình tồn tại và phát triển của các tập hợp hóa thạch ấy Nghiên cứu sự thay đổi liên tục thành phần hóa thạch trong các mặt cắt địa chất cụ thể sẽ cho phép khôi phục lại diễn biến của môi trường theo thời gian Mỗi thay đổi của điều kiện môi trường đều
để lại dấu ấn trong cấu trúc của các tập hợp hóa thạch Đó là cơ sở để phân chia địa tầng các mặt cắt địa chất cụ thể, liên hệ giữa chủng với nhau và là cơ sở để khôi phục lại môi trường thành tạo các trầm tích nghiên cửu
Cổ sinh thái của hóa thạch được xác lập trên cơ sở sau:
- So sánh các hóa thạch nghiên cứu với các dạng còn đang sống hay những dạng hiện đại nhưng gần gũi với chủng về huyết thống
- Dựa trên cơ sở các nhóm hóa thạch đồng hành khác
- Dựa trên cơ sở đặc điểm trầm tích khoáng vật,
Trang 19Trầm tích Holocen khu vực nghiên cứu chiếm chủ yếu các diện lộ trên bề mặt Chúng được thành tạo trong 3 giai đoạn kế tiếp nhau đặc tnm g cho các quá trình biển tiến và thoái trong thời kỳ này Tùy thuộc vào hoàn cảnh cổ địa lý, các trầm tích trong từng giai đoạn tồn tại với nhiều kiểu nguồn gốc khác nhau.
Holocen hạ
3.1 Hệ tầng Bình Đại {Q ibđ)
Hệ tầng Bình Đại được thiết lập tại lỗ khoan Bến Tre 3 tại xã Bình Tri - huyện Bình Đại - tỉnh Bến Tre, tọa độ là: X 10001’21,2”, Y 106042’0<r Hệ tầng Bình Đại gồm: sét màu xám phớt hồng lổm đốm màu vàng phủ trực tiếp trên sét màu xám sáng phớt hồng có tích tụ laterit của hệ tầng Mộc Hóa Sét màu nâu chứa nhiều mùn bã thực vật đang hóa than Tại độ sâu 53,55m - 54m lấy mẫu C14 của thực vật hóa than cho tuổi C14 10.130 ± 110 năm trước đây Từ độ sâu đó tới độ sâu 41 m là sét xen kẽ các lớp bột chứa nhiều mùn bã thực vât, vẩy sericit và các tích tụ cacbonat màu vàng dạng hạch, đôi chỗ có phân lớp nằm ngang Tiếp theo trên sét là lớp cát hạt mịn màu xám xanh chứa vỏ sò, ốc và mảnh vỡ của chúng Trên lớp cát là lớp bột cát màu xám, xám đen xen với lớp sét mỏng màu xám phớt hồng chứa nhiều mảnh vỡ vỏ ốc Lớp này cỏ cấu trúc đan xen giữa bột và cát Kết thúc hệ tàng này là lớp sét bột, bột sét màu xám chứa nhiều mảnh vụn vỡ vỏ ốc Đây là toàn bộ trầm tích của hệ tầng Bình Đại, thời gian thành tạo khoảng 11.700 -8.000 năm cách ngày nay Trầm tích hệ tầng Bình Đại chủ yếu gặp trong các lỗ khoan, độ dầy 22m
Holocen trung
3.2 Hệ tầng Hậu Giang Trầm tích biển (m Qjhg).
Hệ tầng Hậu Giang được tác giả Lê Đức An (1982) thiết lập trên cơ sở khao sát
đo vẽ bản đồ địa chất - khoáng sản Nam Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 cho các thành tạo trầm tích sét, bột cát, đặc biệt sét màu xám xanh rất tiêu biểu cho trầm tích nguồn gốc biển Trầm tích của hệ tầng này phân bố khá rộng rãi chủ yếu gặp trong các lỗ khoan
Hệ tầng Hậu Giang trong tờ Phú Quốc - Hà Tiên gồm cát hạt trung, hạt mịn, sét bột và cuội sỏi dày 1 - 4m Tại Cà Mau - Bạc Liêu trầm tích của hệ tầng gặp chủ yếu là cát bột sét với độ dày 15 - 30m Tại Trà Vinh - Côn Đảo trầm tích của hệ tầng gặp chủ yếu là sét, bột sét và cát với độ dày 15m Tại Mỹ Tho trầm tích của hệ tầng gặp chủ
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIẺM ĐỊA TẦNG HOLOCEN KHU v ự c CỬA SÔNG VEN
B IẺN SÔ N G T IÊ N
14
Trang 20yếu là cát, sét bột Tại An Biên - Sóc Trăng, tại lỗ khoan Sóc Trăng của đề tài trầm tích của hệ tầng gồm sét màu nâu vàng, nâu đỏ xen kẹp lớp bột màu vàng nâu có các lớp cổ mùn thực vật, bột màu vàng chứa các lớp mỏng sét màu trắng phớt vàng, chứa các lớp mỏng mùn thực vật Tại độ sâu 25,5m ở lỗ khoan Sóc Trăng, xã Trung Bình - huyện Long Phú - tỉnh Sóc Trăng ( tọa độ X 9°29’52,74”, Y 106°12’3,7” ), mùn thực vật được xác định C14 có tuổi 4.990 ± 175 năm trước đây Ngoài ra còn gặp tại các lỗ khoan Bến Tre 1 (xã Yên Trạch - huyện Thạnh Phú - tỉnh Bển Tre, tọa độ X 9°53’3,56”, Y 106°35’14,6” ), ở độ sâu 15m của lỗ khoan, các mảnh vỡ vỏ sò được phân tích C14 cho tuổi 5.860 ± 160 năm cách ngày nay Tại lỗ khoan Bến Tre 2(xã An Đức - huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre, tọa độ X 10°00’55,62”, Y 106°34’56,94” ), ở độ sâu 22,6m hoặc ở độ sâu 10,25m có tuổi tuyệt đối C14 4.090 ± 260 - 3.820 ± 125 năm Tại lỗ khoan Bến Tre 3, ở độ sâu 31m tuổi C14 là 6.030 ± 195 năm, tại độ sâu 23m tuổi C14 là 5.060 ± 175 năm, Lỗ khoan Trà Vinh (xã Long Hữu - huyện Duyên Hải - tỉnh Trà Vinh, tọa độ X 9 °4 r3 7 ,5 ’\ Y 106°30’20” ), ở độ sâu 22,2m tuổi C14 là 5.540 ± 300 năm Tại độ sâu 32,2m - 33m lấy mầu vỏ ốc xác định C14 cho tuổi 7.050
± 230 năm trước đây
Trầm tích hệ tầng Hậu Giang được các tác giả trước đây xếp vào Holocen sớm
- giữa, theo Nguyễn Ngọc Hoa và nnk (1991), Nguyễn Địch Dỹ và nnk (1995) đều xác định trầm tích của hệ tầng Hậu Giang có tuổi Holocen giữa, nguồn gốc trầm tích biển
được ký hiệu mQ22hg Thời gian thành tạo trong khoảng 8.000-4.000 năm cách ngày
xuống dưới thì lượng sét tăng lên; cát mịn màu xám, xám đen, xám nâu đan xen với sét xám nâu, cát hạt thô đến trung màu xám đen xen cát màu vàng Tại lỗ khoan Sóc Trăng, ở độ sâu 20,5m phân tích C14 vỏ sò cho tuổi tuyệt đối là 3.840 ± 155 năm trước đây Vì vậy ranh giới giừa Holocen giữa và Holocen muộn tại lỗ khoan Sóc Trăng được xác định ở độ sâu 20,63m Ngoài ra, trầm tích hệ tầng Cửu Long còn gặp tại lỗ khoan Ben Tre 1 từ độ sâu 14m trở lên Tại lỗ khoan Bến Tre 2 ranh giới giữa Holocen giữa và Holocen muộn ở độ sâu 10,25m Lỗ khoan Bến Tre 3 tại độ sâu 20m được xem như là mốc ranh giới giữa Holocen giữa và Holocen muộn Tại lỗ khoan Trà
Trang 21Vinh mốc ranh giới này được lấy ở độ sâu 22m Thời gian thành tạo trong khoảng4.000 năm cách ngày nay cho đến hiện tại.
Các thành tạo trầm tích Holocen còn gặp trong các lỗ khoan: 99.1, 99.ỈI, 2000, 2TB, 1 AT, 3AT, 4AT của Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển; Ik 10 Sóc Trăng, lk
21 Tiểu càn, lk 4 Trà Vinh, Ik 217 Long Toàn, lk 219 Ben Tre ( Liên đoàn Địa chất 6
); lk 1CL Trà Cú ( Dầu k h í ); lk D T I, BT1, BT2, TV1, TC 1 ( Nguyễn Văn Lập, Tạ Kim Oanh ) và các lỗ khoan nghiên cứu địa chất thủy văn, các lỗ khoan thuộc mặt cắt Trà Vinh - Ba Động, mặt cắt Trà Vinh đi Sóc Trăng được tập thể tác giả thu thập và phân tích phục vụ cho việc phân chia địa tầng Holocen vùng nghiên cứu
16
Trang 224.1 Một vài nét sư lược về Diatomeae
Lớp Diatomeae (hay còn gọi là Khuê tảo) thuộc ngành Bacillariophyceae là thực vật bậc thấp (theo các tác giả trước đây) Diatomeae xuất hiện từ Jura và phát triển rône rãi đến neàv nav Đó là loai Tảo hiển vi đom bào, sống cá thể hoặc quần thể
dạng sợi, dạng xích, dạng sao, dạng bụi, Kích thước mỗi cá thể từ vài n đến vài trăm |i Vỏ tế bào Diatomeae có thành phần là silic ngậm nước (S1O2 + nH2 0)
Độ dày vỏ mỏng (khoảng 0.08 - 2.25|a), trong suốt, có tỷ trọng 2.07 v ỏ của chúng tựa như một hộp gồm hai mảnh vỏ đậy khít nhau: mảnh trên như nẳp đậy (epitheca) và mảnh dưới (hypotheca) Mỗi mảnh vỏ có mặt vỏ (valve) và vành bao Phần xếp trùng khít nhau của vành bao trên và dưới tạo nên phần đai (connesting band - nhìn từ phía bên vỏ) Phần thân hộp là vòng vỏ (gridle) (hình 4.1) Các mảnh vỏ mang những hình dạng khác nhau và những cấu trúc khá đặc biệt, chúng chỉ được quan sát thấy dưới kính hiển vi sinh vật có độ phóng đại 400 - 1000 lần Tính đến nay những đặc điểm về hình dạng và cấu trúc vỏ là cơ sở để phân loại Diatomeae
Dựa vào hình dạng và cẩu trúc vỏ người ta phân ra làm hai kiểu vỏ: kiểu vỏ trung tâm (mảnh vỏ tròn hoặc nhiều cạnh có cấu trúc đối xứng tỏa tia); kiểu vỏ lông chim (mảnh vỏ dài có cấu trúc đối xứng hai bên) Tương ứng với hai kiểu vỏ người ta phân lớp Diatomeae thành hai phụ lớp: phụ lớp Trung tâm (Centrophyceae) và phụ lớp Lông chim (Pennatophyceae) Mỗi phụ lóp gồm các bộ, mỗi bộ gồm các họ khác
n h au Phụ lóp Trung tâm xuất hiện trong môi trường biển từ Jura, tồn tại phát triển ở Creta, sang Kainozoi phát triển mạnh mẽ cả về thành phần giống loài, cả về số lượng
cá thể Phụ lớp Lông chim xuất hiện vào Eoxen - Oligoxen Đặc biệt vào Mioxen cả hai phụ lớp này không chỉ sống ở biển mà tồn tại rộng rãi trong môi trường khác nhau của lục địa Sang Neogen đã phát triển tất cả các giống gặp được trong Pleistoxen và hiện đại
CVẠI *- - c QUOC GIA HA NỌl
TRUNG THÒNG TIN THU VIEN
CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỀM DIATOMEAE KHU v ự c CỬA SÔNG VEN BIÈN
SÔNG T IÈ N
1: Mặt vỏ (valve); 2: Mãnh vó trên (epitheca);
3: Mành vò dưới (hypotheca); 4: Đai vó (connesting
band): 5: Vòng vỏ (girdle)
Trang 23Hình 4.2 Lớp Khuê tảo
a-c - sơ đồ cấu tạo vỏ Pinnuíaria
(hiện đại): a - dạng vỏ nhin từ phia đai, b - dạng vỏ nhin từ mặt đĩa, c -
mặt cắt ngang qua vỏ; d -
Arachnodiscus (E);
e - Meiosira (N); g - quần thề dạng chùm phức tạp của Chaetoceras (hiện đại); đv - đai vỏ, 0-0 - trục hình thái của tế bào (hướng sinh trưởng) (Theo Drushis & Obrucheva, 1971).
Theo tài liệu c ổ sinh vật học của PGS TS Tạ Hòa Phương, Diatomeae được xếp vào một ngành của thực vật bậc thấp Ngành này được chia thành hai lớp Khuê tảo trung tâm (Centrophyceae) và Khuê tảo lông chim (Pennatophyceae)
4.2 Diatomeae vùng cửa sông ven biển sông Tiền
Trầm tích Holocen- hiện đại vùng nghiên cửu phát hiện được 83 loài Diatomeae thuộc 31 giống khác nhau trong đỏ 37 loài thuộc phụ lớp Diatomeae Trung tâm (Centrophyceae) và 46 loài thuộc phụ lớp Diatomeae Lông chim (Pennatophyceae) (bảng 4.1), điều đó cho thấy trong trầm tích chứa tương đối phong phú hóa thạch
Diatomeae Trong tập hợp hóa thạch gặp được có 12 loài thuộc giống Coscinodỉscus
chiếm 14%, 8 loài thuộc giống Nitzschia (10%), 8 loài thuộc giống Thalassiosira
(10%), 6 loài thuộc giống Diploneis (7%), 6 loài thuộc giống Actinocyclus (7%), 5 loài
thuộc giống Navicula (6%), 2 loài thuộc giống Cycỉoteỉla (2%) tuy chiếm số lượng
loài ít nhưng số lượng cá thể của giống tương đối phong phú và chiếm ưu thế về số lượng cá thể trong mẫu, số lượng cá thể loài có mặt trong mẫu không ổn định theo từng vị trí của lỗ khoan, nhưng có mặt ở hầu khắp các mẫu phân tích đó là các loài
Cycỉotelỉa styỉorum Cyclotella striata, Thaỉassionema nitzschioides, Paralỉa sulcata tiếp đến là loài Actinocycỉus ehrenbergii, Actinocyclus elỉipticus, Coscinodỉscus radiatus, Thalassiosỉra pacifica, Tuy một số loài có số lượng cá thể không nhiều
nhưng chúng được bảo tồn tốt góp phần làm phong phú cho tập hợp hóa thạch gặp
được: Achnanthes brevìpes, Actinoptychus undulatus, Coscinodiscus asteromphalus Diploneis weissflogii, Planktoniella sol, Thalassỉosira excentrỉca,
18
Trang 24BẢNG 4.1: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DIATOMEAE KHU vực CỬA SÔNG VEN BIÊN SỒNG TIÊN
STT Thành phần
Phụ lớp Centrophy- ceae
Phụ lớp Pennatophy -ceae
Đặc diem sinh thái
Trang 25STT Thành phần
Phụ lớp Centrophy- ceae
Phụ lớp Pennatophy -ceae
Đặc điểm sinh thải
Trang 264.2.1 LỖ khoan Bển Tre 1 (Xã An Nhem- huyện Thạnh Phủ- tỉnh Bển Tre)
Trầm tích Holocen tại lỗ khoan BT| phân bố ở độ sâu từ 0 đến 27m gặp được
50 loài thuộc 23 giống Diatomeae khác nhau trong đỏ 27 loài thuộc phụ lớp Tảo trung tâm chiếm 54%, 23 loài thuộc phụ lớp Tảo lông chim chiếm 46% (Bảng 4.2) Hóa thạch Diatomeae có mặt trong trầm tích Holocen ở đây chủ yếu thuộc các giống
Actinocyclus, Coscỉnodỉscus, Diploneis, Nitzschia, Rhizosolenia và Thalassiosira.
BẢNG 4.2 THÀNH PHẦN PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIÊM SINH THÁI CỦA DIATOMEAE
Trang 27STT Thành phần giống loài Tảo trang tâm Tảo lông chim Đặc điêm
cá thể Diatomeae có trong trầm tích Tuy nhiên một số loài có mặt ổn định trong hầu hết các mẫu trầm tích chứa Diatomeae điều đó rất có ý nghĩa trong nghiên cứu cổ sinh thái của hóa thạch (bảng 4.3)
Bảng 4.3 Thành phần hóa thạch theo độ sâu lấy mẫu của lỗ khoan B T ]
1 0,6- 1,0
Cycỉotelỉa stylorum, Cycloteỉla striata, Actinocyclus ehrenbergii, Paralia sulcata, Coscinodiscus curvatulus, Nitzschia cocconeiformis, Achnanthes brevipes, Diploneis interrupta, Diploneis weissflogii, Coscinodiscus marginatus
2 2,45- 2,55
Cycloteỉỉa styỉorum, Cycỉotelỉa striata, Coscinodiscm pseudoincertus, Coscinodiscus curvatulus, Actinocyclus ehrenbergii, Actinocyclus curvatulus, Paraỉia sulcata, Thalassiosira kozlovii, Thaỉassiosừa oestrupii
22
Trang 283 2,7- 3,0
Paraỉia sulcata, Thalassionema nitzschioides, Thalassiosira excentrica, Surireỉla comis, Thalassiosira pơcựìcơ, Cycỉotelỉa striata, Thalassiosira decipiens, Cyclotelỉa stylorum, Actỉnocyclus ehrenbergii, Actinocyclus elliptỉcus, Coscinodiscus ỉineatus Coscinodiscus pseudoỉncertus, Nitzschia sicula, Dipỉoneis weissflogii, Campyỉoneis aff notabilỉs, Bacteriastrum hyalinum, Rhizosolenia styliformis, Campylodiscus cf parvulus, Trachyneis aspera, Thaỉassiosira poỉychorda, Nitzschia marina, Gyrosigma sp., Thaỉassiosỉra kozlovii, Dìploneis spỉertdida, Nitzschia cocconeiformis, Coscinodiscus marginatus, Rhizosolenia hebetata, Actỉnocycỉus curvatulus, Actinoptychus unduỉatus, Campyỉodiscus
cf undulatus, Diploneis smithỉi, Thalasiosira Hneata
5 5,4- 5,5
Cycỉotella stylorum, Actinocycỉus ehrenbergii, Campyỉoneỉs ạff notabilis, Cycỉoteỉỉa striata, Thalassỉosira excentrica, Gomphonema ỉongiceps, Actinocyclus ellipticus, Coscinodiscus nodulifer, Thalassiosira pacifica, Thalassiosira kozlovii, Eunotỉa sp., Coscinodiscus subtilis, Cocconeis pỉacentula, Actinocyclus curvatulus, Coscinodiscus radỉaíus, Coscinodỉscus pseudoincertus
6 6,06- 6,10
Thalassiosira excentrica, Cycloteỉỉa stylorum, Pinnuỉaria sp., Coscinodiscus janischii, Schuetia annuỉata, Coscinodiscus nodulifer, Thaỉassiosira pacifica, Cycỉoteỉla striata, Campyỉoneis aff notabilis, Paralia sulcata, Rhizosolenia bergonii, Coscinodiscus curvatuỉus, Dipỉoneis splendida, Thaỉassiosira kozlovii, Achnanthes brevipes, Actinocycỉus divisus, Actinocycỉus ehrenbergii, Coscinodiscus pseudoincertus, Thalassiosira decipiens, Diploneis bombus, Nitzschia cocconeựormis, Thaỉassỉosỉra oestrupii, Thalassiosira oestrupii, Rhizosolenia hebetata, Coscinodiscus radiatus
7 6,3- 6,4 Paraỉia sulcata, Cycỉoteỉỉa stylorum, Thaỉassiosira kozlovii,
Actinocyclus ehrenbergii, Actinocyclus curvatuỉus
8 8,9- 9,0 Cycỉoíeỉla stylorum, Thalassiosira pacifica, Paraỉia sulcata
10 14,0- 14,1
Cycỉoteỉla stylorum, Actinocyclus ehrenbergii, Cycỉoteỉỉa striata, Actinocycỉus divisus, Thaỉassiosira excentrica, Paralia sulcata Coscinodiscus asteromphalus, Thalassiosira pacifica, Coscinodiscus marginatus, Thaỉassionema nitzschioides, Coscinodiscus pseudoincertus, Dipỉoneis iníerruptơ, Trachyneis aspera, Nitzschia sicula, Coscinodiscus gigas, Rhizosolenia styliformis
Phần lớn hóa thạch Diatomeae gặp trong trầm tích Holocen của lỗ khoan này được bảo tồn tương đổi tốt Một số mẫu chửa Diatomeae ở mức độ giàu cả về thành phần giống loài lẫn số lượng mảnh vỏ được thể hiện trên bảng 4.3 đó là các mẫu ở độ sâu 5,4- 5,5m; 6,06- 6,lm ; 14,0- 14,lm