Ngoài mục đích chính là khai thác phần mềm cybered ứng dụng trong các môn khoa học tự nhiên, đề tài còn có thể cung cấp cho giảng viên và sinh viên những hiểu biết về nguyên tắc xây dựng
Trang 1HỌC QUỔC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
**************
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẦN MỀM CYBERED TRONG DẠY HỌC
(CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI)
MÃ SỐ: QS.08.01
Chủ trì đề tài: ThS Phạm Văn Tiến CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA PGS.TS Lê Kim Long
TS Nguyễn Thế Hưng ThS Phạm Kim Chung
ĐA! HOC Q U O O GIA HÀ NỘI
O G C t G C O G C Ê Ỷ '
HÀ NỘI, 2010
Trang 2MỤC LỤC■ ■
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tà i 1
2 Mục tiêu của đề t à i 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên c ứ u 4
a Nghiên cứu lý luận 4
b Nghiên cứu thực tiễn 5
5 Sản phẩm nghiên cứu cụ th ể 5
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc khai thác và sử dụng các phần mềm trong dạy học 6
1.1 Vấn đề khai thác và sử dụng các phần mềm trong dạy học hiện nay 6
1.2 Vấn đề tích hợp các phần mềm trong việc xây dựng bài giảng điện tử phục vụ công tác giảng dạy và học tập ở phổ thông hiện nay 8
1.3 Bài giảng điện tử và Dạy học hiện đ ạ i 10
1.3.1 Một số khái niệm liên quan 10
1.3.2 Bài giảng điện tử và dạy học hiện đại 13
1.4 Nguyên tắc sử dụng các phần mềm trong việc xâydựng bài giảng điện tử 15
1.5 ý nghĩa của việc sử dụng các phần mềm trong dạy học 17
1.5.1 Tạo môi trường học tập m ớ i 17
1.5.2 Phát huy vai trò, vị trí của người dạy và người học 19
1.5.3 Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy-học 21
1.5.4 Những mặt trái khi sử dụng các học liệu điện tử và Internet 23
1.6 Học liệu điện tử và việc tích hợp chúng vào trong các bài giảng hiện n a y 24
Trang 31.6.1 Hô trợ quá trình dạy học của giáo v iên 24
1.6.2 Hỗ trợ cho qúa trình tự học của sinh viên sư phạm 25
1.6.3 Bồi dưỡng giáo viên ở trường phổ thông 25
Kết luận chương 1 26
Chương 2 Quy trình khai thác và sử dụng phần mềm cybered 27
2.1 Giới thiệu phần mềm cybered 27
2.2 Qui trình khai thác phần mềm cybered 28
2.3 Sử dụng phần mềm trong việc xây dựng các bài giảng 30
2.4 Quá trình Việt hoá các phần mềm trong bộ phần mềm cybered 33
2.5 Thiết kế giao diện của các bài giảng 34
2.6 Lựa chọn công cụ xây dựng bài g iảng 36
2.6.1 Yêu cầu về phương diện cồng cụ 36
2.6.2 Một số công cụ thiết kế bài g iản g 36
2.7 Kỹ thuật xây dựng bài giảng 41
2.7.1 Các tiêu chuẩn kỹ th u ật 41
2.7.2 Kỹ thuật tạo c h ữ 42
2.7.3 Kỹ thuật xử lí đồ h o ạ 45
2.7.4 ứng dụng đa phương tiện (Multimedia) 47
2.7.5 Tổ chức bài giảng và đóng g ó i 48
Kết luận chương 2 49
Chương 3 sử dụng phần mềm cybered để xây dựng các bài giảng trong chương trình Trung học phổ thông 50
3.1 Cấu trúc chung của bài giảng tương tác 50
3.1.1 Cấu trúc chung 50
3.1.2 Nội dung cụ thể của từng M odule 51
3.2 Sử dụng bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học các môn khoa học tự nhiên tại Khoa Sư phạm - trường Đại học Giáo dục 55
Trang 43.2.1 Đối với giảng viên Khoa Sư phạm 55
3.2.2 Đối với sinh viên 58
3.3 Kết quả nghiên c ứ u 60
Kết luận và kiến nghị 63
Trang 61 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Hiện nay công nghệ thông tin và truyền thông đã có những bước phát triển mạnh mẽ, vượt xa khỏi những rào cản vốn có của đời sống kinh tế - xã hội đã tồn tại từ trước đến nay, giúp con người hiện thực hoá được hầu hết những ý tưởng minh hoạ cho các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống
Trong công tác đào tạo, Tin học có ảnh hưởng rất mạnh mẽ Tin học hoá công tác giảng dạy phát triển theo hướng làm tăng hàm lượng trí tuệ, hiệu quả đạt được gắn liền với quá trình cải tiến tổ chức, quản lý công tác giảng dạy Tin học hoá công tác giảng dạy không chỉ tiến hành xây dựng một kết cấu hạ tầng thông tin mà còn gắn liền với việc cải tiến phương thức, hình thức, nội dung giảng dạy, đẩy manh việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, giúp ích tư vấn đào tạo, đào tạo từ xa, liên kết cùng nghiên cứu khoa học giữa các cán bộ khoa học trong cùng khoa, ngành, các trường đại học, trong toàn quốc và trên toàn thế giới
Lớp học ảo là một bằng chứng cho thấy công nghệ máy tính đang thay đổi cách thức truyền thụ kiến thức trong giáo dục - đào tạo Việc sử dụng lớp học trực tuyến (on-line) để bổ trợ cho giáo dục đang trên đà phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong các xu hướng mới trong giáo dục hiện nay Người ta cho rằng học tập trực tuyến sẽ trở thành một phần chính trong quá trình học tập của mỗi người trong thế kỷ mới
Thực hiện việc nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nhận thức khoa học, phát triển nãng lực giải quyết vấn đề, thông qua hoạt động tự giác, tích cực, tự lực của sinh viên để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực của sinh viên trong quá trình dạy và học đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các giảng viên,
Trang 7Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định tính hiệu quả và lợi ích của việc dạy và học điện tử Tuy nhiên, cho đến nay những công trình nghiên cứu về phương pháp xây dựng các bài giảng điện tử và sử dụng chúng trong dạy học để nâng cao chất lượng, đảm bảo nắm vững kiến thức
và phát triển óc sáng tạo của học sinh trong dạy học còn chưa được các nhà giáo dục quan tâm đúng mức
Sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học, đặc biệt dạy và học từ xa Trong số những công nghệ hiện đại, thì công nghệ truyền thông đa phương tiện (multimedia) và công nghệ mạng (networking), đặc biệt là mạng Internet đã có nhiều ứng dụng đối với giáo dục rất hiệu quả Nhờ đó, mà con người có thể “Học ở mọi nơi (anywhere), Học mọi lúc (anytime), Học suốt đời (lifelong), Dạy cho mọi người (anyone) và với mọi trình độ tiếp thu khác nhau“
Học suốt đời là khẩu hiệu đã được UNESCO nêu ra như là một phương thức GD-ĐT mới cho thế kỉ 21, thế kỉ của một xã hội Thông tin Để thực hiện được khẩu hiệu đó một cách có hiệu quả, thì cần phải áp dụng những thế mạnh của nền tảng công nghệ thông tin
Đến nay Trường Đại học Giáo dục đã có hàng nghìn sinh viên hệ chính quy thuộc các chuyên ngành sư phạm Toán, Lý, Hoá, Sinh, Ngữ văn, Lịch sử và nhiều lớp nghiệp vụ sư phạm được mở tại Hà Nội và các địa phương trong toàn quốc Bên cạnh đó, còn có hàng trăm học viên cao học
và nhiều nghiên cứu sinh đang học tập tại trường Đại học Giáo dục Đào tạo giáo viên chất lượng cao, bồi dưỡng các chuyên gia giáo dục, truyền bá khoa học giáo dục, mở rộng đào tạo trực tuyến và học tập điện tử đang là một xu hướng phát triển của nhà trường
Với định hướng đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập, trong thời gian vừa qua, Nhà trường đã đầu tư việc
Trang 8mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc học tập của học viên, sinh viên và việc giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học của giảng viên, trong
đó có bộ phần mềm cybered đã được nhà trường mua về và hiện chưa được đưa vào khai thác sử dụng
Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu ứng dụng phần mềm cybered trong dạy học các môn khoa học tự nhiên bậc Trung học phổ thông" Ngoài mục đích chính là khai thác phần mềm cybered ứng dụng trong các môn khoa học tự nhiên, đề tài còn có thể cung cấp cho giảng viên và sinh viên những hiểu biết về nguyên tắc xây dựng bài giảng điện tử và sử dụng những công cụ để tạo bài giảng điện tử phục vụ giảng dạy và học tập
2 Mục tiêu của đề tài
3.1 Mục tiêu tổng quát:
Hoàn thiện việc khai thác và triển khai áp dụng phần mềm cybered trong dạy học các môn khoa học tự nhiên thuộc khối kiến thức nghiệp vụ sư phạm tại Khoa Sư phạm (trường Đại học Giáo dục) -ĐHQGHN
3.2 Mục tiêu cụ thể:
Khai thác và áp dụng một cách đổng bộ phần mềm cybered cho các môn học Vật lý, Hoá học và Sinh học bậc Trung học phổ thông, bao gồm từ việc lựa chọn và áp dụng từng phần mềm trong việc xây dựng các bài giảng điện tử tương ứng, việt hoá các sản phẩm của phần mềm và triển khai tập huấn việc khai thác và sử dụng phần mềm cho sinh viên các lớp QH-2006-S
- Vật lý, Hoá học, Sinh học
Xây dựng website học tập giới thiệu cách khai thác và sử dụng các sản phẩm của phần mềm cybered trong việc dạy học các môn Vật lý, Hoá học và Sinh học ở trường Trung học phổ thông
Trang 93 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu quy trình và kỹ thuật khai thác phần mềm cybered trong dạy học các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học ở trường Trung học phổ thông
Xây dựng các bài giảng điện tử theo chuẩn SCORM bằng việc sử dụng các sản phẩm của phần mềm cybered
Việt hoá các thuật ngữ của bộ phần mềm cybered để thuận tiện cho người sử dụng khi khai thác
Triển khai áp dụng bộ phần mềm đã khai thác cho sinh viên các lớp QH-2006-S
Đánh giá hiệu quả của việc khai thác, sử dụng phần mềm cybered trong việc nâng cao chất lượng dạy học nắm vững kiến thức, phát triển hứng thú, óc sáng tạo; phát huy tính tích cực, tự lực giải quyết vấn đề của học sinh trong quá trình học tập
4 Phương pháp nghiên cứu
a Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học để làm sáng tỏ những quan điểm đề tài sẽ vận dụng về việc xây dựng bài giảng điện tử và tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của bộ phần mềm cybered
Nghiên cứu qui trình khai thác và sử dụng phần mềm cybered trong dạy học các môn Vật lý, Hoá học và Sinh học ở trường Trung học phổ thông
Nghiên cứu tài liệu lý luận về xây dựng và sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học của các tác giả trong và ngoài nước để làm sáng tỏ vai trò của bài giảng điện tử trong đạy học
Trang 10Nghiên cứu tài liệu nguyên tắc và kỹ thuật xây dựng bài giảng điện tử trong dạy học bằng các phần mềm hiện đại, dễ sử dụng.
b Nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn việc triển khai áp dụng các phần mềm trong dạy học hiộn nay ở trường Trung học phổ thông
Nghiên cứu triển khai áp dụng phần mềm cybered cho sinh viên sư phạm QH-2006-S trong việc xây dựng các bài giảng điện tử giảng dạy ở trường Trung học phổ thông
5 Sản phẩm nghiên cứu cụ thể
- Bộ phần mềm cybeređ đã được việt hoá
- Một số bài giảng có sử dụng phần mềm cybered trong dạy học các môn Vật lý, Hoá học, Sinh học ở trường Trung học phổ thông
- Website học tập hướng dãn sử dụng và khai thác bộ phần mềm cybered
- Sản phẩm nghiên cứu khoa học và hướng dẫn làm khoá luận tốt nghiệp cho sinh viên ngành sư phạm
Trang 11Hiện nay, trong xu thế phát triển của xã hội, sự nghiệp giáo dục cũng
đã có những đột phá nhất định, trong công cuộc đổi mới cách dạy và học, nhiều hình thức dạy học mới đã bộc lộ Sự xuất hiện đúng lúc và kịp thời của cồng nghệ thông tin đã đem lại những thay đổi rõ rệt về cách dạy và học hiện nay
Một trong những nét nổi bật của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là sự ra đời của hàng loạt các phần mềm hỗ trợ việc dạy và học, nhằm làm cho việc dạy học đạt được hiệu quả cao hơn và tiến tới việc trực quan hoá tối đa các nội dung trong dạy học
Hầu hết các môn học hiện nay đều ứng dụng những thế mạnh của công nghệ thông tin trong dạy học, đặc biệt là các mô phỏng trực quan Tuy nhiên, trong sô các môn học đó, 3 môn học được ứng dụng nhiều nhất ở bậc trung học phổ thông: Vật lý, Hoá học và Sinh học vì chúng không phải là những mồn học thuần tuý về lý thuyết mà là những môn học thiên hướng về thực nghiệm Những môn học này thường có mối liên quan chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm, gắn những vấn đề mà học sinh học tập được ở nhà trường với những vấn đề mà học sinh học gặp phải trong cuộc sống Những kết quả thí nghiệm chứng minh cho lý thuyết là không thể phủ nhận, tuy nhiên có những vấn đề lý thuyết không thể chứng minh được bằng thực nghiệm, hoặc thậm chí có thể chứng minh được bằng thực nghiệm, nhưng bằng mắt thường không thể quan sát được, hoặc có những thí nghiệm quá nguy hiểm đối với người sử dụng như thí nghiệm sử dụng hoá chất độc hại,
Trang 12thí nghiệm nổ hạt nhân nguyên tử, Chính những điều đó gây trở ngại rất lớn cho giáo viên khi giảng dạy về những nội dung này Trước thực tế đó, các chuyên gia về công nghệ thông tin đã nghiên cứu và cho ra đời hàng loạt những ứng dụng mô phỏng hỗ trợ việc dạy và học ở các trường học, đặc biệt là những thí nghiệm mô phỏng mà không thể tiến hành được bằng thực nghiệm.
Việc có nhiều thí nghiệm ảo và phần mềm mô phỏng, tạo ra những thuận lợi nhất định trong dạy và học các môn khoa học thực nghiệm Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong dạy học như thế nào lại là cả một vấn đề cần bàn, đó chính là phần việc còn lại của các nhà sư phạm Trong những năm gần đây, việc khai thác và sử dụng các phần mềm trong dạy học vẫn còn nhiều hạn chế, hạn chế cả về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và hạn chế cả về kỹ năng tích hợp các phần mềm trong dạy học Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên lạm dụng việc sử dụng công nghệ trong dạy học, dẫn tới vấn đề không những không làm tăng hiệu quả của việc dạy học mà còn làm giảm tác dụng của nó Qua khảo sát thực trạng dạy và học bằng việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho thấy, tỉ lệ thành công trong dạy học có sử dụng công nghệ chưa thực sự thuyết phục, điều này không có nghĩa là sự có mặt của công nghệ thông tin sẽ làm giảm hiệu quả của việc dạy học, mà nguyên nhân chính là người sử dụng công nghệ chưa thực sự biết cách khai thác sao cho có hiệu quả Phần lớn những giờ học có sử dụng công nghệ mới chỉ dừng lại ở mức độ hình thức, điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi giáo dục của chúng ta đang trong giai đoạn quá độ chuyển đổi từ thời kỳ giáo dục truyền thống sang thời kỳ giáo dục đỉnh cao có sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện Đa phần đội ngũ giáo viên chưa thể bắt nhịp với sự vận động như vũ bão của công nghệ, thêm vào đó là rào cản về ngôn ngữ cũng làm cho nhiều giáo viên không sử dụng được những tính năng hữu hiệu của các phần mềm tin học
Trang 13Để thuận tiện cho giáo viên phổ thông trong việc khai thác và sử dụng các phần mềm, thời gian gần đây đã có nhiều phần mềm viết bằng tiếng việt do chính các chuyên gia công nghệ thông tin của Việt Nam xây dựng Điều đó đã phần nào khắc phục được những hạn chế về rào cản ngôn ngữ đối với giáo viên và học sinh, tuy nhiên nếu xét về tính khả thi của các phần mềm viết bằng tiếng việt thì còn nhiều nhược điểm so với các phần mềm của nước ngoài Trong giai đoạn hội nhập toàn cầu, việc tận dụng những thế mạnh của các nước tiên tiến trên thế giới là một điều đáng khuyến khích, và giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là sự kết hợp hiệu quả giữa các chuyên gia công nghệ thông tin và các nhà sư phạm trong việc biên soạn lại các phần mềm mô phỏng và các thí nghiệm ảo của nước ngoài, đồng thời việt hoá chúng và xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn kèm theo sẽ giúp ích cho đội ngũ giáo viên ở phổ thông áp dụng chúng một cách tốt nhất trong giảng dạy và học tập.
1.2 VÂN ĐỀ TÍCH HỢP CÁC PHẨN MỀM t r o n g v i ệ c x â y d ụ n g
BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ PHỤC y ụ CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ HỌC
TẬP Ở PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Hiện nay, trong nhiều tài liệu nói về các hình thức giáo dục không truyền thống cũng xuất hiện một số khái niệm chứa nội hàm liên quan mật
thiết đến khái niệm bài giảng điện tử' Khóa học điện tử (E-course, E
Learning), Học liệu điện tử (E-resource, Course-ware, sách điện tử (E book), Bài giảng điện tử (E-lesson hoặc E-lecture).
Giáo trình điện tử, Bài giảng điện tử trên thế giới hiện nay có thể được triển khai dưới rất nhiều hình thức như: truyền hình hai chiều, cầu truyền hình (Two way TY), mạng Internet, dạy học điện tử (E-leaming), hội nghị, thảo luận trực tuyến (Video Conference, Streaming Conference, Forum, Chat), thư điện tử (e-mail), các phần mềm ICT hỗ trợ (MS
Trang 14PowerPoint, TumingPoint, Multimedia, Simulation Software, các phần mềm chuyên dụng được đóng gói), băng video, đĩa CD-Rom, VCD
Dự án o c w (Open Course Ware - Học liệu mở) của MIT (Massachusetts Institute of Technology) 1 đã triển khai từ tháng 4 năm
2001, nhằm đưa một phần lớn nội dung, chương trình giảng dạy các mồn học đại học và trên đại học tại MIT lên Internet để mọi người có thể dùng chung, tham khảo Cho đến nay, MIT- OCW đã có khoảng 1.200 môn học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Cuối năm 2004 đã có hơn 2 triệu độc giả tham khảo tài liệu của MIT
Ở Việt Nam, nhiều trường học đã tổ chức xây dựng bài giảng điện tử
và đưa lên mạng Intranet, Internet cho sinh viên tham khảo Tháng 3 năm
2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố thư viện giáo trình điện tử 2 trên Internet
Việc xây dựng bài giảng điện tử và đưa lên internet cung cấp nhiều
cơ hội học tập cũng như tài liệu tới sinh viên Tuy nhiên, nhiều bài giảng điện tử xảy dựng dưới dạng đơn giản, như việc số hóa các tài liệu trên giấy rồi chuyển sang dạng PDF, một số khác xây dựng dưới dạng trang Web nhưng ở mức độ chuyển tải nội dung giáo trình và bổ sung hình ảnh minh họa Các bài giảng điện tử như thế có nhược điểm là thiếu tính định hướng, chưa có kịch bản sư phạm rõ ràng, chưa khai thác được khả năng đa phương tiện của máy tính và các ứng dụng trên mạng
Những tồn tại trên xuất phát từ vấn đề là chưa có những quy chuẩn về bài giảng điện tử cũng như cách sử dụng chúng trong dạy học
Theo chúng tôi, giáo trình điện tử là một tổ hợp sản phẩm và các
1 Đ ịa chỉ: http ://ocw m it.ed u /in d ex.h tm l
2 Đ ịa chỉ: h ttp ://eb ook m oet.gov.vn /
Trang 15dịch vụ, hoạt động (được thiết kế nhờ ứng dụng mạnh mẽ CNTT) của người dạy và người học nhằm giải quyết những mục tiêu dạy học, đảm bảo tính toàn vẹn và thống nhất của quá trình dạy học.
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng nghiên cứu việc khai thác, ứng dụng các phần mềm trong bộ phần mềm cybered để xây dựng các bài giảng điện tử cung cấp cho sinh viên tham khảo Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhược điểm của việc sử dụng các phần mềm trong việc thiết kế các bài giảng điện tử hiện nay, chúng tôi mong muốn xây dựng được quy trình khép kín, kỹ thuật cũng như cách thức
sử dụng các phần mềm để xây dựng các bài giảng điện tử trong dạy học, mà trước hết là hỗ trợ tốt cho quá trình đào tạo của trường Đại học Giáo dục - ĐHQG Hà Nội trong lộ trình chuyển đổi sang hình thức đào tạo theo tín chỉ, từ đó nhân rộng sang các cơ sở đào tạo khác
1.3 BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ DẠY HỌC HIỆN ĐẠI
1.3.1 Một sô khái niệm liên quan
a E-learning
Sự phát triển của khoa học và công nghệ kéo theo sự phát triển của giáo dục và đào tạo, đặc biệt là khoa học nhận thức và công nghệ thông tin E-Learning ra đời, đánh dấu bước ngoặt mới trong việc áp dụng cồng nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục và đào tạo
Eleaming là dạy - học dựa trên các phương tiện điện tử Với sự phát triển công nghệ thông tin, Internet và công nghệ WEB, ngày nay đào tạo điện tử được hiểu là đào tạo dựa trên máy tính và mạng máy tính với công nghệ WEB
Trang 16b Hệ quản lý nội dung học tập (Learning content management system -
LCMSj: phần mềm giúp quản lý các giáo trình điện tử, và cấu trúc hoá bài giảng dưói một số định dạng nào đó
c Hệ quản lý học tập (Learning management system - LMS ): phần mềm
giúp quản lý các khoá học và quá trình thực hiện các khóa học Phần mềm này cho phép định nghĩa các khoá học, tổ chức tương tác giữa học viên và giáo viên trợ giúp, giữa học viên và các bài giảng điện tử, ghi nhận quá trình và kết quả học tập của học viên, quá trình hỗ trợ của giáo viên LCMS được coi là một thành phần của LMS
d Chuẩn đào tạo điện tử SCORM
Trong e-Leaming, các chuẩn trao đổi thông tin xác định một ngôn ngữ mà hệ thống quản lý đào tạo có thể trao đổi thông tin được với các module
Chuẩn đào tạo điện tử quy định các hệ thống đào tạo điện tử hay các bài giảng điện tử phải tuân thủ để đảm bảo tính tương thích giữa các hệ thống đào tạo điện tử
Chuẩn đóng gói mô tả các cách ghép các đối tượng học tập riêng
rẽ để tạo ra một bài học, khóa học, hay các đơn vị nội dung khác, sau đó vận chuyển và sử dụng lại được trong nhiều hệ thống quản lý khác nhau (LMS/LCMS) Các chuẩn này đảm bảo hàng trăm hoặc hàng nghìn file được gộp và cài đặt đúng vị trí
Đặc tả ADL SCORM bao gồm Runtime Environment (RTE) quy định sự trao đồi giữa hệ thống quản lý đào tạo và các SCO (Sharable Content Object - Đối tượng nội dung có thể chia sẻ được) tương ứng với một module Thực ra thì SCORM dùng các đặc tả mới nhất của AICC
e Bài giảng điện tử: là một tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức lại
theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng cho học
Trang 17viên một cách hiộu quả thông qua sự trợ giúp của các phần mềm quản lý học tập (Learning Management System -LMS) Một bài giảng điện tử thường tương ứng với một học phần hoặc một môn học.
Các tài liệu học tập được số hoá theo một cấu trúc, định dạng và kịch bản nhất định, được lưu trữ trên máy tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy tính Dạng thức số hoá có thể là văn bản, slide, bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video số, các ứng dụng tương tác v.v và cả những tài liệu hỗn hợp gồm các dạng thức nói trên
/ Modul bài giảng (Module): là một phần của bài giảng điện tử, bài giảng
điện tử tương ứng với một đơn vị kiến thức Việc xác định đơn vị kiến thức thường được tính theo một nội dung trọn vẹn cần cung cấp cho học viên hoặc một nội dung được cung cấp theo một đơn vị thời gian học Một mô đun thường được tính tương ứng với các chương mục trong bài giảng hoặctheo đơn vị một số tiết học nhất định
g Khoá học (Course): được xác định bởi việc sử dụng một bài giảng điện
tử, cung cấp kiến thức hay kỹ năng cho một tập hợp xác định các học viên Việc giảng dạy này có thể có hoặc không có giảng viên hỗ trợ Như vậy khoá học là một lần tổ chức dạy cho một nhóm học viên, một học phần hoặc một môn học Một bài giảng có thể dùng cho nhiều khoá học
h Sách điện tử (E-book): là các dữ liệu (chủ yếu là văn bản) đã được số
hóa, định dạng chuẩn nhất định, có kèm các multimedia làm tăng khả năng
đa giác quan hóa và thao tác hóa của người đọc
/ Giáo án điện tử', là k ế hoạch trển khai các bài giảng điện tử cụ thể (độc
lập hoặc được tích hợp trong dạy học truyền thống), được xây dựng trên những nguyên tắc sư phạm nhất định đảm bảo tính logic của nội dung dạy học
Trang 181.3.2 Bài giảng điện tử và dạy học hiện đại
Hiện vẫn chưa có một định nghĩa chính thức, thống nhất về loại bài giảng này Có thể bắt gặp nhiều tên gọi như “bài giảng số hóa”, “bài giảng qua mạng”, “bài giảng kết nối (trực tuyến/ngoại tuyến)” Cách hiểu như vậy về bài giảng điện tử (BGĐT) mới chỉ dừng ở hình thức thể hiện chứ chưa phản ánh hết được bản chất của nó Bài giảng điện tử có thể được hiểu theo 2 cách:
- Như một “sản phẩm" điện tử, được số hóa (bài giảng điện tử, giáo
án điện tử, hồ sơ dạy học, học liệu điện tử ) được thiết kế, tổ chức theo một kịch bản, mục tiêu sư phạm nhất định Dạng thức số hóa có thể là văn bản,
âm thanh, hình ảnh, đồ họa, ký hiệu, thí nghiệm mô phỏng sản phẩm này
có thể được dùng một cách độc lập hoặc tích hợp với các bài giảng truyền thống hiện nay (thay vì lên lớp với các tập giáo trình đồ sộ và “lỉnh kỉnh", người dạy chỉ cần đến 1 chiếc Pen Driver-ƯSB chứa dữ liệu, phần mềm chuyên dụng, máy tính xách tay và máy chiếu LCD Projector )- Bên cạnh
đó, người học có thể “thao tác” lập đi lặp lại với nội dung qua máy tính, dĩa CD-Rom, băng hình
- Như một “quá trình" dạy học được điện tử hóa, số hóa Quá trình
dạy học “không truyền thống” này cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức tương tác với nhau trong một môi trường số hóa (thường là mạng Internet) ở mọi nơi, mọi lúc
Các bài giảng (giờ học) hiện nay được triển khai theo phương thức giáp mặt (face-to-face) khó lòng đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu mới của việc dạy học Các bài giảng truyền thống (mà thực chất phần lớn là “hoạt động nói” của người dạy) mang nặng đặc điểm “tĩnh”, người học khó có khả năng tương tác với những nội dung bài giảng, chiếm khá nhiều thời gian cho một dạng hoạt động cụ thể, kém hiệu quả trong trường hợp “bất đồng
Trang 19đẳng” về không gian, thời gian giữa người dạy và người học , vô hình chung đã hạn chế tính tích cực của người học, tạo ra một sự lệ thuộc thái quá vào người dạy Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ đang đật ra hàng loạt nhiệm vụ cần phải giải quyết ngay (đổi mới kết cấu chương trình, tăng tính liên thông, chuyển đổi của chương trình, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, các phương pháp triển khai quá trình dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá, tăng khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học,
mở rộng nguồn học liệu ), việc áp dụng triển khai giáo trình điện tử, bài giảng điện tử (E-lesson) có thể coi như một giải pháp hữu hiệu nhằm tạo ra một hình thức dạy học mới, cho phép vượt lên các giới hạn về không gian
và thời gian, tạo ra cơ hội bình đẳng, phát huy tính chủ động của người học
ở bậc đại học
Giáo trình điện tử, Bài giảng điện tử (được hiểu khái quát như sản
phẩm và quá trình) về cơ bản khác với giáo trình, bài giảng truyền thống ở
những điểm sau:
- Không bị giới hạn bởi không gian, thời gian
- Mang tính mềm dẻo, có thể tương tác được
- Tạo ra môi trường học tập bình đẳng, phù hợp với các đối tượng khácnhau
- Tạo ra khả năng tích hợp mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ trong dạyhọc
- Tạo ra sự thay đổi căn bản trong quan niệm về vị trí, vai trò của ngườidạy, người học
Các giáo trình, bài giảng, khoá học được thiết kế và triển khai với sự trợ giúp của CNTT có thể tạo ra những chuyển biến vượt trội về chất so với các bài giảng, khoá học truyền thống: người học có thể “thao tác” được với nội dung Nội dung của dạy học truyền thống là những kiến thức khoa học
Trang 20được chắt lọc và “đóng gói” trong giáo trình, sách giáo khoa và được chuyển đến người học một cách cứng nhắc (người học không thể “tương tác”, “thao tác” được với nội dung) Trong khi đó, nội dung của bài giảng điện tử (E-lesson) lại không phải ở chính bản thân thông tin, tri thức, mà là cách tìm kiếm, lựa chọn, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề (Hiện vẫn tồn tại những quan niệm sai lầm cho rằng việc thiết kế nội dung cho bài giảng điện
tử chẳng qua chỉ là quá trình chuyển một cách cơ học thuần túy từ sách giấy thành "sách điện tử”
1.4 NGUYÊN TẮC s ử DỤNG CÁC PHẨN MỂM t r o n g v iệ c x â y
DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
Khác với các phương tiện công nghệ dạy học truyền thống như bảng, vật mẫu, tranh ảnh, Tivi, video, máy cassette (chỉ sử dụng một chiều -
monologic, hay hai chiều - dialogic), có thể coi bài giảng điện tử như một
đa phương tiện (multimedia) cho phép làm trung gian giao tiếp giữa người
dạy với người học và nội dung tri thức
Mục tiêu
(Kết quả đầu ra)
nhiệm vụ học tập
Hình 1.1 M õ hình bài giảng điện tử của Dr Akintunde
Trong giai đoạn hiện nay, các bài giảng điện tử (được hiểu theo cả 2 nghĩa) chủ yếu được xây dựng trên hạ tầng kỹ thuật là công nghệ máy tính
Trang 21và phần mềm, công nghệ web Vì vậy, trước hết cần phải tính đến nguyên
tắc phân bổ tư liệu dạy học Các nguồn thông tin, kiến thức nội dung dạy học có thể được chia làm 2 nhóm lớn: nhóm thông tin cục bộ của người học
(người học đang sở hữu và có thể sử dụng tùy ý vào bất kỳ lúc nào như sách điện tử, tư liệu bài giảng đã được định dạng số hóa và đóng gói) và nhóm
thông tin phân quyền đòi hỏi người học phải có một “quyền sở hữu” có hạn
định Thông tin loại này (có thể được chỉ dẫn bởi những đường liên kết -
hyperlink - từ nhóm cơ sở dữ liệu cục bộ) được lưu giữ tại các cơ sở dữ liệu
có bản quyền như cơ sở dữ liệu quốc gia, các thư viện lớn của các trường đại học, công ty
Đối với thông tin thuộc nhóm thứ nhất, người học có thể mua “đứt đoạn" một lần (các văn bản số hóa, sách điện tử, đĩa CD-Rom dữ liệu, video clip, phần mềm học tập đóng gói V.V.) Đối với nhóm thứ hai, người học phải đăng nhập vào những bài học (khóa học) cụ thể và được cấp quyền truy cập và chiết xuất thông tin
Nguyên tắc tính tương tác với nội dung dạy học Các vãn bản được
số hóa, hình ảnh, âm thanh, biểu đồ, ký hiệu, phẩn mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo chứa đựng nội dung dạy học được tích hợp theo ý đồ sư phạm
trong bài giảng điện tử sẽ tạo ra cơ hội giúp người học trở thành chủ thể tích
cực trong chính quá trình dạy học Số lượng kiến thức và kỹ năng thu được
ở người học sẽ tương ứng với mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo của chính chủ thể hành động Hơn nữa, mỗi người học sẽ có cơ hội lựa chọn cho mình khối lượng nội dung, tốc độ học tập phù hợp (ví dụ, với một bài giảng,
người học có thể tham gia hay thao tác với số lần không hạn chế, việc chọn
lựa nội dung không nhất thiết phải theo trình tự bắt buộc .)
N guyên tắc trình bày nội dung bằng đa phương tiện trong xây
dựng bài giảng điện tử sẽ giúp kích thích đa giác quan trong quá trình tiếp
Trang 22nhận, lưu giữ và xử lý thông tin, tăng sự chú ý, hứng thú và quan tâm ở người học (ví dụ, một nội dung dạy học có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: văn bản, hình ảnh, biểu đồ, video clip, hoạt hình ) Học thuyết sư phạm tương tác (M Roy & J M Denomme, 2005) dựa trên những kết quả nghiên cứu của khoa học thần kinh nhận thức đã chứng minh
rằng mỗi người đều có một bộ máy học, có một cơ chế vận hành việc học
của mình theo một cách riêng Do vậy, nhờ đa phương tiện, người học có thể chiếm lĩnh các nội dung dạy học thông qua nhiều kênh giác quan khác nhau, phù hợp với những đặc đỉểm riêng của bản thân về tâm sinh lý, nhu cầu, sở thích
1.5 Ý NGHĨA CỦA VIỆC s ử DỤNG CÁC PHẨN MỂM t r o n g d ạ y
HỌC
1.5.1 Tạo môi trường học tập mới
Theo báo cáo tổng kết của UNESCO (2004), việc triển khai tích hợp CNTT vào trường học thông qua các dự án thí điểm như “Trường học thông minh" (Smart School Pilot Project, EdNet, SchoolNet ) tại một số nước châu Á (Malaysia, Philipines, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan ) đã đem lại kết quả rất khả quan giúp phát triển kỹ năng tư duy bậc cao ở người học (khái quát, lập kế hoạch, tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, cấu trúc hóa,
mô hình hóa kiến thức ), kỹ năng tự định hướng và quản lý việc học
Bàn về mô hình tổ chức dạy học trong tương lai, Collins (1991) đã nhấn mạnh đến một khuynh hướng sẽ làm thay đổi bộ mặt của lớp học trong thế kỷ XXI: chuyển từ hình thức dạy học “tổng lực” cho toàn lớp sang dạy học theo nhóm nhỏ Người học sẽ làm việc một cách độc lập (chứ không phải riêng lẻ) theo các nhóm hoặc theo cặp, đa dạng hóa chiến lược học tập như thảo luận, lập đự án, nghiên cứu, tìm tòi , thực hiện các nhiệm
Ị đai hoc guốc gia Hm I lộ[
Trang 23vụ học tập dưới nhiều hình thức khác nhau như giải bài tập, trình bày báo cáo trước lớp, viết đề án, tổ chức hướng dẫn cho các nhóm còn lại “động não” Trong quá trình này, người học sẽ học cách sử dụng và quản lý CNTT để tìm kiếm, tích hợp các nguồn thông tin, tài nguyên, học liệu cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề trong “đề án” cụ thể của mình hơn là học thuộc những gì đã có trong giáo trình, sách giáo khoa Các giáo trình điện
tử, bài giảng điện tử, sách điện tử, giáo án điện tử sẽ không còn chỉ đóng vai trò là phương tiện, điều kiện, mà còn là môi trường để thực hiện quá trình dạy học hiệu quả
Bảng so sánh môi trường dạy học truyền thông và hiện đại
Môi trường học tập truyền thống Môi trường học tập hiện đại
1 Truyền thụ lấy người dạy làm
trung tâm
2 Kích thích đơn giác quan
3 Hướng phát triển một chiều
4 Đơn phương tiện, đơn năng
9 Dạy học dựa trên những phản ứng
đáp lại, tái tạo theo mẫu
10 Cảnh huống tách biệt, không
thực tế
1 Học tập lấy người học làm trung tâm
2 Kích thích đa giác quan
3 Hướng phát triển đa chiều
4 Đa phương tiện, đa năng
5 Làm viêc hơp tác, tương tác
6 Trao đổi thông tin
(Nguồn: “New Learning Environments”- ỈSTE, 2000)
Như vậy, môi trường học tập hiện nay có tích hợp các phần mềm, học
Trang 24liệu điện tử sẽ mang một cấu trúc mới đầy triển vọng với những đặc trưng
- Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện
Với những đặc điểm cấu trúc nêu trên, quá trình dạy học sẽ có một sự biến đổi mạnh mẽ cả về chất lẫn lượng Quá trình dạy học nhờ đó sẽ được
triển khai chủ yếu dựa trên nguyên tắc tự hoạt động nhận thức tích cực
mang định hướng cá nhân của người học (“người học chủ động, người dạy
chủ đạo”, "dạy học phân hóa theo đối tượng”, “dạy học định hướng vào nhân cách”, “nhà trường, lớp học không tường”, “sinh viên không tuổi tác” v.v)
1.5.2 Phát huy vai trò, vị trí của người dạy và người học
Trong môi trường học tập mới có sử dụng các công nghệ hiện đại,
người học thực sự đứng ở trung tâm, là người ch ủ , người khám phá của
việc học với đầy đủ các đặc điểm: cá thể hoá, hoạt động tương tác, hợp tác, tính tích hợp và đa dạng về phong cách học tập (Moffett J & Wagner B.J, 1992) Người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, học bất cứ điều gì quan tâm, hứng thú, học bất cứ với ai, tự lựa chọn cho mình cấp độ và tốc độ học phù hợp , từ một “khách hàng sử dụng" để trở thành “nhà sản xuất”, “người sáng tạo”, “người biết hợp tác” trong việc tạo ra các “học phẩm” nhờ có CNTT Trong thực tế, các phần mềm sử dụng để xây dựng bài giảng điện tử có thể được đóng gói và vận hành trong môi trường web (sử dụng mạng Internet hoặc Intranet) phục vụ cho các khóa học từ xa hay đào tạo qua mạng (E-
Trang 25learning) Nhưng trước mắt, chúng ta có thể tích hợp ngay được các học liệu
điện tử này vào quá trình dạy học thực tiễn hiện nay với kiểu học giáp mặt
(Face-to-Face), cho lớp học đông người mà vẫn đảm bảo được yêu cầu phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học
Thứ nhất, việc triển khai các học liệu điện tử cho phép người học tìm
tới sự cân bằng giữa việc tích luỹ nội dung tri thức môn học và các chiến lược học tập thông qua việc tự định hướng, tự điều khiển, tổ chức, quản lý,
tự đánh giá chính việc học của mình Do đó, người dạy không còn giữ vị trí độc tôn “trung tâm tri thức”, “kho chứa tri thức” như trước Điều này hoàn toàn không có nghĩa phủ nhận vai trò của người dạy Trái lại, để có thể thiết
kế được những bài giảng điện tử mà ở đó người dạy phải không ngừng nỗ lực tìm kiếm các nguồn tài liệu bổ sung, phương pháp, hình thức triển khai mới cho bài giảng của mình Thay vào lối truyền giảng, thông báo thông tin một chiều, người dạy sẽ giữ vai trò điều khiển, định hướng người học vào quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin, đưa ra các phương án để giải quyết nội dung bài học bằng những chiến lược dạy mới:
- Dạy học bằng bằng chính hoạt động học tập của người học
- Dạy học cá thể hoá trong hoạt động tương tác, hợp tác
- Dạy học hướng vào dạy cách tự học, tự nghiên cứu
- Dạy học dựa trên sự đánh giá và tự đánh giá
Thứ hai, việc tích hợp các học liệu điện tử vào quá trình dạy học
truyền thống sẽ kéo theo những biến đổi căn bản trong hoạt động của người dạy và người học như sau:
- Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác (chuyển từ: “Tôi
biết những vấn đề sau !" sang “Tôi biết tôi cồn chưa biết những
vấn đề sau ); người học có thể sử dụng những đường dẫn
Trang 26{hyperlink) trong giáo trình điện tử, bài giảng điện tử để liên kết
đến các kho dữ liệu khổng lồ
- Phá bỏ sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá trình
dạy học (người học có thể nghe, nhìn, học qua giáo trình điện tử,
bài giảng điện tử đã được đóng gói, vào đĩa CD-Rom chẳng hạn, với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi
- Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu sang làm việc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn
và dữ liệu đã cho trong bài giảng điện tử );
- Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học (mỗi người
sẽ tự chọn cho mình cách thức, cấp độ và tốc độ giải quyết nhiệm
vụ học tập);
- Hoạt động đánh giá dựa trên mục tiêu cụ thể (có thể sử dụng bất
cứ hình thức nào để giải quyết nhiệm vụ, miễn là đạt mục tiêu);
- Tiếp cận theo hướng cạnh tranh lành mạnh sẽ chiếm vị thế chủ đạo trong mọi hoạt động (cạnh trạnh ngay giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm, giữa các hình thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập );
- Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh được một loại kiến thức (đơn ngành) sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực);
- Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ
đa giác quan hóa trong quá trình dạy học (ngưòi học có thể “sờ mó”, thao tác được với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh,
mô phỏng sinh động )
1.5.3 Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy-học
Đổi mới phương pháp dạy và học vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của
Trang 27việc tích hợp các học liệu điện tử vào dạy học truyền thống hiện nay Với
ưu thế vượt trội so với bài giảng truyền thống (như đã trình bày ở trên), việc
áp dụng các bài giảng điện tử vào quá trình dạy học truyền thống, dù muốn hay không muốn, sẽ buộc chúng ta phải thay đổi cách dạy và học Chẳng hạn, một bài giảng được thiết kế bằng phần mềm MS PowerPoint sẽ là “đổ trang sức xa xỉ” nếu người dạy chỉ thuần túy đọc lại những gì đang được chiếu trên màn hình (dù chức năng của PowerPoint là một công cụ hỗ trợ thuyết trình cực kỳ tiện ích) Ngược lại, nó sẽ kích thích ở người học sự quan tâm, chú ý, định hướng một cách rõ ràng cho các vấn đề cần triển khai, nếu người dạy biết cách làm “sống lại”, trực quan hoá logic vận động hay các mối quan hệ giữa các nội dung thành phần (bằng âm thanh, hình ảnh tĩnh hay động, mô hình hay cấu trúc, tạo các liên kết mở rộng )
Việc ứng dụng các học liệu điện tử vào trong dạy học cho phép triển
khai rộng rãi quá trình dạy học theo mô hình: "Một người dạy, nhiều người
học (đồng thời hay không đồng thời)" hoặc “Nhiều người dạy, rất nhiều người học" Như vậy người học sẽ có cơ hội tham khảo các bài giảng của
nhiều người dạy khác nhau vể cùng một vấn đề, từ đó có thể chọn lựa, tìm
ra cho bản thân phương pháp học tập tối ưu
Áp dụng vào thực tiễn dạy học trong thời điểm hiện nay chúng ta có thể sử dụng mô hình tích hợp sau:
Việc tích hợp các phần mềm mô phỏng hiện nay trong dạy học sẽ
Người dạy + E-lesson
Hình 1.2 Mô hình dạy học tích hợp
Trang 28phải đối mặt với những khó khăn trước hình thức dạy học truyền thống vốn
dĩ đã quá quen thuộc với nhiều người Rõ ràng hình thức lên lớp theo kiểu
“tổng lực”, “đọc chép” sẽ không thể phù hợp với cách dạy có tích hợp bài giảng điện tử
Dạy học theo nhóm nhỏ, tranh luận và trình bày, nêu vấn đề và giải quyết, dạy học theo kiểu “dự án” càng ngày sẽ càng chiếm ưu thế trước hình thức thuyết giảng, độc thoại một chiều Do bài giảng điện tử không bị ràng buộc bởi yếu tố không gian và thời gian, được lưu giữ dưới nhiều dạng khác nhau (trong đĩa CD-Rom, VCD, DVD, băng video, mạng Internet ), nên người học và người dạy có thể không cần giáp mặt thường xuyên trong quá trình tổ chức một nội dung dạy học cụ thể Chẳng hạn, chuẩn bị cho một giờ học sắp tới, người học có thể đến thư viện, lên mạng để xem, phân tích, đánh giá bài giảng từ trước với số lần không hạn chế Điều này không chỉ tạo ra một tâm lý học tập thoải mái, tăng thời gian cho thảo luận, trao đổi trên giờ học “giáp mặt”, đổng thời còn góp phần hạn chế, loại bỏ ngay
từ đầu sức ỳ, tính thụ động của những người học thiếu động cơ học tập
1.5.4 Những mặt trái khi sử dụng các học liệu điện tử và Internet
Thực tiễn cho thấy, với các học liệu điện tử không được xây dựng theo một cấu trúc có tính sư phạm cao, sinh viên sẽ có nguy cơ "nhảy cóc" giữa những đoạn và cảnh ngắn hoặc bỏ qua các trang văn bản có tính tư duy
lý thuyết Nếu các bài giảng điện tử và Web dạy học có tính chất là “ sách tham khảo, tài liệu ôn tập lên mạng" thì tác dụng không những khó phát huy được tính tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức của người học mà ngược lại còn làm cho người học ỉ lại vào máy tính, lưcd tư duy, chỉ mong tìm kiếm những thông tin có sẵn để giải quyết các yêu cầu của giáo viên đưa ra Nếu giáo dục hoàn toàn tuân theo yêu cầu của người sử dụng thì chắc chắn
nó sẽ không phục vụ lợi ích lâu dài của xã hội
Trang 29Sử dụng học liệu điện tử và Internet cũng còn những nhược điểm: bảo mật dữ liệu, hỏng hóc bất thường có thể gây ra việc mất hoàn toàn dữ liệu
do công sức của nhiều người mới xây dựng được
Ngoài ra, thực tế ở các trường học hiện nay còn chưa được trang bị máy tính đủ mạnh, làm cho khả năng triển khai dạy học trên mạng còn gặp nhiều khó khăn
Cùng với các tính năng đa phương tiện, học liệu điện tử và Internet có khả năng hỗ trợ mạnh cho các minh họa, mô phỏng hiện tượng tự nhiên, xã hội; những minh họa, mô phỏng này có dung lượng tương đối lớn (hàng Mb) Trong khi với tốc độ đường truyền internet hiện nay, người sử dụng sẽ không thể kiên trì chờ đợi hàng chục phút để tải một Video clip hoặc một đoạn phim hoạt hình Đây còn là một thách thức đối với công nghệ thông tin hiên nay
1.6 HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ VÀ VIỆC TÍCH HỢP CHÚNG VÀO TRONG CÁC BÀI GIẢNG HIỆN NAY
1.6.1 Hỗ trợ quá trình dạy học của giáo viên
Vơi các tính năng Multimedia, các học liệu điện tử sẽ trở thành những phương tiện hiệu quả hỗ trợ cho giáo viên ở các trường học tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực Giáo viên có thể khai thác các tài nguyên thông tin văn bản, hình ảnh, video, các phần mềm mô phỏng và thí nghiệm ảo để xây dựng các bài giảng trên lớp
Với các cơ sở có hạ tầng công nghệ thông tin tốt như có máy chủ, hệ thống mạng, giáo viên có thể đưa giáo trình điện tử, bài giảng điện tử vào các hệ thống LMS để tổ chứa quá trình dạy học theo mô hình E-leaming
Với các môn đặc thù là khoa học thực nghiệm, một yêu cầu quan trọng của chương trình phổ thông cải cách là coi trọng thực nghiệm, cố
Trang 30gắng để 30% tiết học có làm thí nghiệm Các học phần nghiên cứu thí nghiệm ở trường phổ thông không chỉ dừng ở mức độ rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm thí nghiệm (vận hành cỗ máy thí nghiệm) mà cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng các thí nghiệm trong dạy học ở trường phổ thông.
Do các hạn chế về thiết bị thí nghiệm (nhất là bộ thí nghiệm cho SGK cải cách chưa được trang bị đại trà), giáo viên và học sinh không có điều kiện nghiên cứu, sử dụng thử thí nghiệm đó trước Vì vậy không có thời gian cho giáo viên dạy thử với các bộ thí nghiệm đó
Với các phần mềm mô phỏng và các thí nghiệm ảo (như bộ thí
nghiệm thật ở trường phổ thông), giáo viên có điều kiện nghiên cứu các bộ
thí nghiệm đó ở nhà giúp giáo viên hiểu sâu sắc thiết kế của thí nghiệm, đồng thời còn tạo điều kiện cho họ thực hành sử đụng các thí nghiệm đó trong dạy học đạt hiệu quả cao
1.6.2 Hỗ trợ cho qúa trình tự học của sinh viên sư phạm
Việc xây dựng kịch bản giáo trình điện tử, bài giảng điện tử có tính
sư phạm, tính định hướng cao, sinh viên sử dụng giáo trình điện tử khai thác nguồn tài nguyên, sư dụng các phần mềm thí nghiệm ảo, các Video quay các bài giảng mẫu, giúp sinh viên nghiên cứu sâu về phương pháp dạy học Các bài kiểm tra trắc nghiệm trên máy tính giúp sinh viên tự đánh giá quá trình học tập của mình
1.6.3 Bồi dưỡng giáo viên ở trường phổ thông
Việc tổ chức các khóa học bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục phổ thông thu hút được nhiều giáo viên trong toàn quốc tham gia Ngoài việc nắm bắt chương trình và SGK mới, giáo viên còn cần bổ túc các kiến thức về phương pháp dạy học hiện đại
Các cơ sở đào tạo có thể tổ chức các khoá học trên mạng hoặc sử dụng các đĩa CD để bồi dưỡng giáo viên ở trường phổ thông Với các giáo
Trang 31viên không có điều kiện tham gia các khóa học trực tiếp có thể học qua mạng hoặc sử dụng các đĩa CD giáo trình điện tử, bài giảng điện tử để tự nghiên cứu, khai thác các tài nguyên trên đĩa CD để thiết kế bài giảng phục
vụ quá trình dạy học của mình
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công nghệ thông tin đã tạo điều kiện khách quan cho việc đưa Tin học vào nhà trường Hiện nay, phong trào khai thác và sử đụng các phần mềm mô phỏng hỗ trợ bài giảng đang phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho học sinh tham khảo thông tin phong phú, rèn luyện cho học sinh khả năng tự học, tự nghiên cứu
Với những học liệu điện tử thiết kế thiếu tính sư phạm sẽ làm giảm hiệu quả dạy học
Việc xây dựng giáo trình điện tử, bài giảng điện tử cần đảm bảo
nguyên tắc: Nguyên tắc tính tương tác với nội dung dạy học; Nguyên tắc
trình bày nội dung bằng đa phương tiện.
Việc áp dụng các học liệu điện tử vào trong dạy học sẽ tạo môi trường học tập mới, phát huy vai trò, vị trí của người dạy và người học, tạo điều kiện đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy-học
Trong quá trình dạy học các môn thuộc khối nghiệp vụ sư phạm, giáo trình điện, bài giảng điện tử hỗ trợ quá trình dạy học của giáo viên, quá trình tự học của học sinh, bồi dưỡng sinh viên sư phạm và đội ngũ giáo viên
ở trường phổ thông
Trang 32CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH KHAI THÁC VÀ sử DỤNG PHẦN MỀM CYBERED
2.1 GIỚI THIỆU PHẦN MỂM CYBERED
Cybered là bộ các phần mềm mô phỏng các thí nghiệm và quá trình dạy học trên đĩa CD-ROM Tổng cộng có 72 đĩa CD-ROM trong bộ phần mềm Cybered về các lĩnh vực: Vật lý, Hoá học, Sinh học, Khoa học trái đất
và môi trường Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu ứng dụng bộ đĩa của 3 môn học: Vật lý, Hoá học và Sinh học
Bộ phần mềm này do công ty Nam Hoàng chuyển giao cho Khoa Sư phạm (nay là trường Đại học Giáo dục) vào tháng 6 năm 2007 Chúng tôi mới được tiếp nhận bộ phần mềm này và tiến hành triển khai nghiên cứu từ tháng 7 năm 2008 đến thời điểm hiện nay
Nội dung chính của bộ phần mềm Cybered được chia làm 2 phần: Phần thứ nhất gồm các mô phỏng và qui trình hướng dẫn sử dụng chúng trong việc xây dựng bài giảng trên lớp học
Hình 2.1 M ô phỏng con đường vận chuyển nước trong thân cây
Trang 33Phần thứ hai giới thiệu việc ứng dụng bộ công cụ Microsoft Offices
để xây dựng các bài giảng tương tác; trong đó chủ yếu giới thiệu việc ứng đụng ngôn ngữ Visual Basic nhúng trong PowerPoint để xây dựng các đối tượng tương tác trên PowerPoint; đây là một điểm rất mới trong nghiên cứu xây dựng các bài giảng có tính chất tương tác động giữa người học với bài giảng và giữa người dạy với người học cũng như môi trường học tập
Hình 2,2 M ô phỏng tương tác input và output của cổng A N D
2.2 QƯI TRÌNH KHAI THÁC PHẦN MỂM CYBERED
Để khai thác phần mềm cybered, trước hết chúng ta cần cài đặt bộ phần mềm này vào trong máy tính và đảm bảo rằng máy tính phải đủ mạnh
để có thể chạy các phần mềm với tốc độ nhanh và hiệu quả
Yêu cầu phần cứng máy tính để cài đặt phần mềm cybered như sau:
- CPU tối thiểu 486/33 hoặc Pentium
- Card màn hình S-VGA, độ phân giải 640 X 480, đặt ở chế độ 256màu
- Hệ điều hành windows XP hoặc windows 7
- RAM tối thiểu 1 GB
Trang 34- Không gian đĩa trống tối thiểu 2 GB.
- Chuột, bàn phím và các thiết bị ngoại vi khác
- Card âm thanh chuẩn
- Ổ đĩa DVD write
- Cài đặt các phần mềm chạy multimedia: windows media,
Quicktime.
Sau khi qui trình cài đặt đã xong, chúng ta tiến hành chạy phần mềm
và chọn lọc các ứng dụng phù hợp với bài giảng ở phổ thông, từ đó tiến hành xây dựng bài giảng dựa trên những mô phỏng đã có của phần mềm
Các ứng dụng trong bộ phần mềm cybered đều viết bằng tiếng Anh,
vì vậy để có thể sử dụng các sản phẩm này sao cho phù hợp với chương trình giảng dạy ở phổ thông, chúng ta nên việt hoá toàn bộ giao diện của phần mềm sang tiếng Việt Tuy nhiên, có những phần mà cần rèn luyện ở học sinh cả trình độ hiểu biết bằng tiếng Anh thì cũng có thể đưa vào sử dụng ngay trong các bài học ở phổ thông, đó cũng là một tình huống học tập đòi hỏi học sinh phải học đều các môn học, tránh trường hợp học tủ, học lệch
Ví dụ, khai thác phần mềm mô phỏng sự lai hoá của các obital nguyên tử trong bộ phần mềm cybered, chúng ta có thể sử dụng mô phỏng này để ứng dụng xây dựng bài giảng về “Sự lai hoá” trong chương trình hoá học lớp 10
Trang 35Chương trình hoá học lớp 10 chủ yếu đề cập tới những vấn đề mang
tính chất lý thuyết hàn lâm như các định luật, qui luật, nguyên tắc, nguyên
lí Đặc biệt là các chương đầu đề cập tới vấn đề cấu tạo nguyên tử và liên
kết hoá học, sự lai hoá của các obital Đây là phần kiến thức rất khó hiểu
đối với học sinh, chính vì vậy cũng rất khó cho giáo viên trong việc giải
thích một cách tường minh các vấn đề cho học sinh, phần này lại không có
những thí nghiệm trực quan sinh động để minh hoạ giảng dạy cho học sinh
Do đó, việc ứng dụng các phần mềm mô phỏng, như phần mềm mô phỏng
sự lai hoá của các obital nguyên tử, trong dạy học là hết sức thiết thực Điều
đó sẽ mang lại tính trực quan, sinh động cho bài giảng, sẽ giúp cho giáo
viên dễ dàng hơn trong việc triển khai tiết học, và dễ dàng khi giải thích các
vấn đề trừu tượng cho học sinh Ngoài ra, dựa vào các mô phỏng trên máy
tính, sẽ giúp học sinh hiểu biết các vấn đề một cách rõ ràng và khoa học
hơn
Tương tự như vậy, đối với môn Vật lí và Sinh học, chúng ta cũng có
rất nhiều các phần mềm mô phỏng có thể khai thác và đưa vào sử dụng
trong các bài học ở phổ thông một cách dễ dàng và giúp việc giảng dạy các
môn học này đạt được hiệu quả cao hơn
2.3 SỬ DỤNG PHẦN MỀM t r o n g v iệ c x â y d ụ n g c á c b à i g iả n g
Tính hiệu quả của một bài giảng điện tử phụ thuộc vào cả 2 yếu tố: ý
tưởng sư phạm và ý tưởng công nghệ Do vậy, để xây dựng được một bài
giảng điện tử cần phải tích hợp một cách hài hòa 2 yếu tố trên Có thể tóm
tất qui trình xây dựng bài giảng điện tử thành các bước sau:
phạm có thể được ví như linh hổn của bài giảng điện tử, mang lại một cái
nhìn xuyên suốt, nhất quán về tính logic của nội dung, cấu trúc các thông
tin liên quan đến bài học, tính tuần tự, hợp lý, tương thích của các phương
Trang 36pháp, kỹ thuật triển khai quá trình dạy học, các hình thức giao tiếp, hoạt
động của người dạy và người học Trong quá trình xây dựng kịch bản sư
phạm, người dạy cần tính đến: mục tiêu của bài học (Người học cần đạt
được những gì sau khi kết thúc bài học, môn học); nội dung của bài học
(bao nhiêu là đủ, đâu là nội dung cốt lõi, cơ bản, bổ trợ ?); phương pháp
triển khai (người dạy, người học sẽ phải làm gì, đặc điểm tương tác hoạt
động giữa người dạy và người học trong từng giai đoạn triển khai là gì,
những khó khăn gì có thể người học sẽ mắc phải ?); hình thức triển khai
(người học có thể học dưới những hình thức nào với bài giảng điện tử này?);
đặc điểm khái quát về đối tượng người học; tính khả thi về các yếu tố công
nghệ khi truyền tải nội dung Trong quá trình xây dựng kịch bản công
nghệ cần chọn lựa các công cụ đa phương tiện phù hợp (tránh lạm dụng các
yếu tố công nghệ) giúp cho việc thể hiện nội dung được hiệu quả; lựa chọn
giao diện thân thiện với người học; tính toán khả năng đáp ứng ý tưởng sư
phạm về mặt kỹ thuật và tính khả thi về kinh tế (Phụ lục 1)
bộ học liệu liên quan đến nội dung bài giảng; phân loại các học liệu theo
tiêu chí phục vụ cho Nội dung cốt lõi-phải biết; Nội dung cơ bản-nên b iế t;
Nội dung nền-có th ể biết, tham khảo ) ;
Để có thể tái sử dụng các tài nguyên bài giảng trên CD hoặc các hệ
LMS và thuận tiện tổ chức các Module bài giảng, trong quá trình chuẩn bị học liệu cần sắp xếp thành các thư mục riêng (Biểu mẫu chuẩn bị tư liệu tại phụ lục 2)
Trang 37power pont producer show test
Hình 2.4 Cấu trúc thu mục lưu trữ tài nguyên bài giảng
- SỐ hóa các học liệu: Lựa chọn các định dạng phù hợp để số hóa
học liệu; ví dụ : lựa chọn các định dạng số hóa phù hợp cho các loại học liệu là văn bản, hình ảnh, âm thanh, ảnh, đồ họa, bản đồ, biểu đồ ;
- Chọn lựa, thiết k ế đa phương tiện: Lựa chọn và phối kết hợp các
công cụ kỹ thuật công nghệ phù hợp để thiết kế các học liệu của bài giảng
đã được số hóa;
- Đ óng gói bài giảng theo chuẩn: Thống nhất với các nhà quản lý về
chuẩn đóng gói bài giảng nhằm tạo thuận lợi cho người học, các nhà quản
lý, xây dựng, tổ chức chương trình đào tạo, các giáo viên trực tiếp thiết kế bài giảng ;
- Vận hành thử: Triển khai dạy học thí điểm trên nền thiết kế công
nghệ, bài giảng đã được số hóa, tích hợp bài giảng điện tử trong dạy học truyền thống
Trang 382.4 QUÁ TRÌNH VIỆT HOÁ CÁC PHẦN MỀM TRONG BỘ PHẦN MỂM CYBERED
Việt hoá các phần mềm trong bộ phần mềm cybered là một công đoạn phức tạp và tốn nhiều thời gian, quá trình việt hoá các phần mềm phải đảm tính khách quan khoa học và chuyển tải nguyên bản nội dung của phần mềm
Quá trình Việt hoá các phần mềm của nước ngoài cũng phải dựa trên nguyên tắc bản quyền phần mềm, do vậy quá trình việt hoá không được phép sao chép hay làm sai lệch nội dung thông tin của phần mềm sẩn có Trên tinh thần đó, khi sử dụng các phần mềm trong việc xây dựng các bài giảng điện tử chúng ta phải trích dẫn địa chỉ rõ ràng Nếu là sản phẩm đã Việt hoá thì phải ghi rõ nguồn gốc của phần mềm và việc dịch thuật dựa trên nguyên tắc nào
Đối với gói sản phẩm của bộ phần mềm cybered, khi việt hoá chúng
+ Sau khi đã có các phần mềm được việt hoá, cần tiến hành phân loại
và đưa vào sử dụng trong các bài học ở chương trình Trung học phổ thông
Trang 39sao cho phù hợp Lúc này cần phải sử dụng tổng hợp các phần mềm tiện ích như PowerPoint, Frontpage, Acrobatprofessional, để xây dựng các bài giảng tích hợp có sự tương tác cao giữa người học với bài giảng, trên cơ sở
đó người học có thể tự khai thác và học tập thông qua việc học trực tuyến trên mạng Internet hoặc thông qua máy tính cá nhân ở nhà
2.5 THIẾT KẾ GIAO DIỆN CỦA CÁC BÀI GIẢNG
Giao diện người sử dụng bao gồm những cách thức tương tác, hình ảnh, biểu tượng để truyền tải ý nghĩa các đối tượng trên màn hình máy tính Ngoài ra còn bao gồm đặc điểm hiển thị các chi tiết trong từng thành phần
đồ hoạ và chuỗi tương tác chức năng theo thời gian, tạo ra diện mạo của bài giảng điện tử
Một trong những thông tin giới thiệu cần có các yếu tố sau:
- Tiêu đề cung cấp thông tin
- Đặc điểm nhận diện người thiết lập (tác giả hay tổ chức)
- Ngày thiết lập hoặc ngày cập nhật
- ít nhất một kết nối với một trang chủ cục bộ
- Địa chỉ của trang chủ trên menu chính trong bài giảng điện tử
Giao diện người sử dụng còn được thiết kế để thoả mãn người sử dụng, giao diện thiết kế tốt phải làm cho người sử dụng dễ dàng tìm kiếm thông tin và thể hiện rõ nhất ý tưởng của người thiết kế Các giao diện phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Phương tiện hỗ trợ định hướng rõ ràng: Những tương tác định
hướng người sử dụng chủ yếu liên quan đến những kết nối hyperlink giữa các tài liệu Những biểu tượng phải rõ ràng, nhất quán, các nút đồ hoạ sẽ
Trang 40chỉ dẫn để người sử dụng biết họ đang ở đâu trong bài giảng điện tử? Thường thì những thanh nút bấm được sử dụng để định hướng.
- Không có trang cụt: Các trang phụ nằm sâu trong hệ thống phân
cấp Website nếu không kết nối tới trang chủ hoặc các trang phụ khác làm cho người đọc không thể vào được phần còn lại của bài giảng
- Truy cập trực tiếp: Thông tin đem đến cho người sử dụng càng ít
bước càng tốt, vì vậy cần thiết kế một hệ thống phân cấp thông tin ít nhất các bước thông qua các trang menu
- Băng thông và tương tác: Đối với các bài giảng điện tử (với công
nghệ Web) sử dụng trên các mạng diện rộng, kết nối thông qua modem thì vấn đề băng thông và dung lượng của các trang Web gây trở ngại cho người
sử dụng về thời gian truy cập trên mạng Tuy nhiên, đối với các mạng cục
bộ của một trường học thì vấn đề dung lượng không cần đề cập đến, vì vậy nên dùng nhiều tính năng đa phương tiện
- Đơn giản và thống nhất: Những mô phỏng giao diện nên đơn giản,
thống nhất trong hầu hết các trang tạo nên sự thân thuộc đối với người sử dụng Các tiêu đề hỗ trợ cho định hướng cũng được áp dụng một cách thống nhất
- Tính toàn vẹn và ổn định trong thiết kế: Tính ổn định có nghĩa là
giữ nguyên các yếu tố tương tác của bài giảng và hoạt động một cách tincậy
- Phản hồi và đối thoại: Phản hồi có nghĩa là chuẩn bị để trả lời các
yêu cầu, các đối thoại của người sử dụng
Ngoài ra, chuẩn bị cho khả năng người sử dụng khiếm thị, âm thanh
và hình ảnh có thể hỗ trợ cho việc định hướng; lựa chọn trình duyệt phổ dụng cũng là vấn đề phải quan tâm