Trong các đơn nguyên kiến trtic của một ngôi chùa, đáng lun ý íhôm có cây tháp, Từ tháp stupa trong Phật giáo Viôt Nam nói chung dược dùng dể chỉ một loại kiến trúc cao tầng dùng dể thờ
Trang 2M Ụ C LỤC
M ở đ ầ u (từ tr.l đến tr.2)
C hương M ột: Khái lược về lịch sử P hút giáo hời Lý, Trăn vầ sự
p h ú t ừ-iển của chùa tháp (từ tr.3 đến tr.10)
C hư ong H ai: N hữnự chìm tháp tiêu biểu thời L ý và thời Trần (lừ
tr.l 1 đến tr.so )
C hương Ba: Đác trưng và liến Iriển của chìm tỉiấp 'h ò iL ý và thời Trãn (từ tr.s 1 đến tr.94)
V ài kết lu ận (từ tr.95 dến lr.98)
Trang 3MỞ ĐẦU
Từ lâu, người Viột Nam ta, ai ai cũng biết câu tục ngữ "Đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt" Câu đổ có nghĩa là, trong thời írung đại, đất dai của cả nước đéu tliuôc vua, chùa chién thì thuộc vé của làng, của xã
CQng từ câu đố mà suy rộng ra, thời trung đại có rất nhiéu chùa, có bao nhiêu làng xã ít nhất cũng có bấy nhiêu chùa
Chùa là một từ Viêt Nam (tiếng Trung Quốc đọc theo âm Hán Viêt là íụ ) chỉ nơi thờ cling Phật Như vậy chùa gán liẻn với Phật giáo và xuất hiện Lừ Idiá sớm crên đất nuớc Việt Nam từ hàng ngàn năm trước Theo thời gian, kiến trúc chùa thường có nhiẻu lần trùng tu và biến đổi không ngừng Ngày nay ở những ngổi chùa còn khá nguyên vẹn thường là m ột quần thể kiến trúc bao gổm: Tam quan, Tiển đưởng, Thién hương, Thượng diên, nhà bia, gác chuông, nhà rổ, nhà th o , hành lang, ao sen, tháp mộ.Y.v Tuỳ theo mục đích thờ cúng, mỏi vùng ( hav mỏi làng), có ngổi chùa cồn có thêm nhiểu kiến trúc khác nữa
đô thở thêm các vị thần thánh
Trong các đơn nguyên kiến trtic của một ngôi chùa, đáng lun ý íhôm có cây tháp, Từ tháp (stupa) trong Phật giáo Viôt Nam nói chung dược dùng dể chỉ một loại kiến trúc cao tầng dùng dể thờ Phật hay chứa xá lỵ Phật hoặc su tăng Cũng như chùa, theo thời gian, kiến trtìc tháp cũng biến đổi ỉdiống ngừng cả hình thúc lẫn nội dung
Theo sự phát triổn của Phật giáo, chùa tháp gắn bó mậí Lhiếí *>ới đời sốnơ
xả hổi cùa người Viôt Nam Không chỉ là biểu hiên của tôn £Láo, Íín np.ưỡnp chùa tháp còn là một kho íàng vồ giá phản ánh nhiều mặt quan trọng của Vồn hoá Viêt Nam: Kiến trúc, điốu khắc, tượng thờ, bia ký, hội hè, iiễn XDỚnp, dạy
Trang 4học, chữa bénh mà qua đó cố thể thấy dược tài nãng sáng íạo, sự cời mở hội nhịp, phong cách dân tộc và tâm hổn Việt Nam Như vậy chùa íháp tàng ỉrữ, gợi m ò nhiều đẻ tài khoa học hấp dẫn và lý thú đòi hỏi phải có sự nghiôn cứu công phu, lâu dài và hết sức thận trọng Trong công trình này, trước hết chúng
ta chỉ tìm hiểu vé một vài Châng đường của chùa tháp Viôt Nam: Chùa íhấp thời Lỹ và chùa tháp thời Trần Trong mỏi chạng dường đó chúng ta cũng chỉ dừng lại tìm hiểu một vài khía cạnh (]dến trúc và điêu khắc) của một số chùa tháp tiôu biểu mà thôi
Trang 5C H U Ơ N G I
KHÁI LƯỢC LỊCH s ử PHẬT GIÁO THỜI LÝ TRẦN VÀ s ự PHÁT
TRIỂN CỦA CHÙA THÁP
Phật giáo ra dời và phát triển ờ Ấn Độ Ngơời sáng lập ra dao Phật là Thái tử Tất Đạt Đa (Shiddhartha) (Thích Ca Mâu Ni) con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) ò miẻn trung Ấn Độ Đạo Phật đạt vấn đé số phận oon người là
do bản thân con người tạo ra và tự minh chịu trách nhiêm, không do thần thánh định đoạt Đạo Phật chủ trương bình đẳng, để cao lòng rừ bi, yêu íhương mọi loài, chống lại diẻu ác? khuyến khích làm việc thiên
Sau khi dức Phật tịch diôt, Phật giáo phát triển nhanh chống và trở thanh quốc giáo của Ẩn Độ vào khoảng thế kỷ III trước công nguyôn đến íhế kỳ II trước công nguyỗn, xuất hiên Nam tông (Tiéu thừa) và Bác tổng (Đại thừa) ]an truyổn rông rãi ờ ngoài Ân Độ trong đó có Vìôt Nam
*
Việt Nam là một dất nước thuộc bán đảo Đ ông Dương nàm á ữ â hai mién vân minh lờn của thế giới: Trung Quốc và Ấn Đô Đó là một vị trí giao thông thuận tiện bằng cả đường bién lản dường bộ tạo điều kiên cho Việt Nam sớm tiếp xôc với thế nới bôn ngoái Chính vì vậy, ngav từ khoảng đẩu công
nguyên Phật giáo dã dược du nhập vào Viêt Nam Các nhà sư Ấn Đô đã theo con đường cùa các thương nhân tới truvển eiáo và lập nên truns: râm Phật giáo sớm nhất Việt Nam (ltíc dó gọi là Giao Châu ) ờ Luv Lân (tức vùng Oflu) huyện Thuận Thành, tinh Bắc Ninh
Trang 6Trong khoảng thời gian đầu (đầu công nguyỗn đến íhế kỷ 4 và 5), Phậí' giáo Viẽt Nam chủ yếu chịu các ảnh hơởng Ấn Đổ với sự có mặt ngày một nhiều các tâng sĩ Ấn Độ và Trung Á như Khâu Đà La, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lơơng .V.V
Thời kỳ tiếp theo cho đến khoảng thế kỷ thứ 9, in h hường cùa Phật giáo Trung Quổc ngày càng tăng Nhiểu nhà sư T rung Quốc nối liếp nhau xuống truyẻn dạo ở Viôt Nam Phái Thiổn 11 Ni Đa Lưu Chi dược lập lừ cuối thế kỷ thứ 6 và truyén đến thế kỷ 13 và nguồn gốc trực tiếp của Ihiổn phái Trúc Lâm thời Trần Trong thời kỳ này cũng hĩnh thành một tầng lớp cao táng người Viôt Nam Họ dại điốn cho 21ỚÌ trí thức dương thời) có một số nha
sư Việt Nam như nhà sư Phụng Đinh, nhà sư Duy Giám dã đến giảng kinh
cho vua Đưởns ờ Trương An Một số nhà sư khác như Nghĩa Tĩnh Đại Thừa Đăng đã vin du đến các nước Đ ông Nam Á va Ấn Đô
Chính các cao tăng Viêt Nam thời dó còn là 'dại biểu cho tinh thần Viột Nam trong các cuốc đấu tranh giành nén độc lập tự chủ cho dân tộc BỜI vậv sau dại thẳng Bạch Đằng năm 938, khi đất nước được độc lập, Phật giáo Viộí Nam đã có địa vị lớn trong dời sống tâm linh cũng như dời sống chính írị cùa xã hội Viôt Nam, mờ dầu cho thời kỳ hoàng kim của Phật giáo thời Lý
và Phật giáo thời Trần
Dưới thời Lý (1010-1225), Phật eiáo Viôt Nam phát triển đến đỉnh oao Các vua nhà Lý déu tổn sùng dạo Phật Nhiéu vua Lý đã tu Phật như vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tồng, Lý A nh Tổng, Lý Cao Tông, Lý Huê Tông
Nhiểu quan lại , quý tộc đéu mộ Phật mà điển hình là Thái Uv Lý Thường Kiôt Nhiều nhà sư xuất thân từ tầng lớp quý tộc, quan ]jổn nhiĩ srt Viên Chiếu (999-1090) là con của anh bà thái hậu Linh c ảm ('mẹ vua Lí'
Trang 7Du Hý (Bác Ninh) dược Thién Ưyổn tập anh cho biết tâng đổ và dần chúng đổng đúc "ngồi chật như nêm" (14:128).
Phật giáo Lỹ có tiềm lực kinh tế khá mạnh Tronơ các chùa chiển ruộng đất khá nhiéu, cố "đién nô ” vã kho lẫm Nhiẻu nha sư như Vạn Hạnh
Đa Bảo Viên Thông cờn đàm dạo chính trị với các vua Lv
Các lễ hội Phậr giáo là một đác điểm cùa vẫn hoá ữiời Lý drrọc đién m rấí thường xuyên: Hôi vể các nghi lỗ phật giáo, hội khánh thành các chùa tháp, hội khánh thành các pho tượng Nhiẩu hội lớn do dieh thân nhà vua tổ chóc
Trong thời Lỹ, hai phái Thiẻn Trì Ni Đa Lưu Chi va Vồ Ngôn Thông nếp rục phất triển Đấng chú ý thời Ly cờn có thién phái Thảo Đườne rhu húi một số vị vua và quan lại có chức tước lớn tổn tại qua 5 thế hẹ
Tóm lại, do sự ủng hô của vua chúa, quỹ tộc quan liêu, Phậi giáo Ihời
Lý chiếm đượe địa vị to lớn trong xã hội Ả nh hường Phật giáo lan rộng trong
mọi tầng lớp nhân dán và trôn kháp mọi miền của đất nước, BỐI cành đó tạo diều kiên cho kiến trúc chùa tháp thời Lý phát triển mạnh mẽ Vua, triều đình và tin g lớp quý tộc bò tiển xây dựng các chùa tháp lớn Nhân dájì
đống góp xây dựng chùa làng Có thể hình dung sự phái triển cùa Phật giáo
và chùa tháp thời Lý qua nhận xét của sừ thần Lô Văn Biĩii íhời Trần đối với vua Lỷ Thái Tổ (1010-1029) như sau:
Trang 8"Lý Thái Tổ lẽn ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dụng, đàĩi
xã tác chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đớc, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và đô cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư chả írách (lời
sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ phật lộng lảy hơn cung vua R ổi người dưới báí chước, kẻ huỷ thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiôp, trốn thân tích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỏ nào cũng có chùa chiẻn (1:242)
Chỉ cẩn xem Đại Việt sử kỹ toàn thư, ta cũng có thể thấy dược p h in nào nhịp độ xây dựng chùa tháp thật sồi dộng dưới thời Lý
Thời Lý Thái TỔ: năm 1010 xây chùa Hạnh Phúc, chùa Tháng Nghiêm(Thăng Long); năm 1011 xây chùa Vạn Tuế, chùa Tứ Đại Ttaôn Vuưng, chùa, cẩm> chùa Long Hung Thánh Thọ (Thăng Long); nẫm 101 ố xây chùa Thiên Quang, chùa Thiổn Đức ; năm 1024 xây chàu Giân Giáo (Thăng Long)
Thời Lỹ Thái Tông: nẫm 1041 xâv Viên Từ Thị Tluẽn Phúc (BắcNinh); năm 1049 xây chùa Diên Hựu (Thấng Long)
Thời Lỹ Thánh Tông: Nâm 1056 xây chùa Báo Thiên (Thăng Long); nám 1057 xây chùa Thiên Phúc, chùa Thiên Thọ, tháp Báo Thiên (Tháng Long); năm 1Q58 xây tháp Tường Long (Hải Phòng); nầm 1059 xôy chùa Sùng Nghiêm Báo Đức; năm 1066 xây tháp nói Tiên Du (Bắc Ninh); nãm
1070 xây chùa Nhị Thiôn Vương (Thăng Long)
Thời Lỹ Nhân Tông : Năm Ị085-1094 xây chùa và thấp Cảnh LongĐổng Khánh (Bác Ninh); năm 1099 xây chùa núi An Lão; năm 1100 xây chíìa Vĩnh Phúc (Bắc Ninh); nãm 1105 xây hai tháp ở chùa Diên Hựu (T hing Long)., ba tháp ờ chùa cản h Long Đổng Khánh (Bác Ninh), Tháp Vạn
Trang 9Thời Lý Thần Tông: Năm 1134 xây chùa Thiôn Ninh, Thiồn Thọ (Thăng Long).Trôn đây mới chỉ kể các chùa tháp do vua và íriẻu đình xây dựng Còn nhiéu chùa do các tầng lớp khác xây dựng Thái hậu Linh Nhân (mẹ vua Lý Nhân Tông) từng cho xây hàng trấm chùa Chùa Linh Xứns (Thanh Hoá) do Thái Uỷ Lỹ Thường Kiôt xây, chùa Thiên Phúc (Hà Tây), chùa Hoàng Kim (Hà Tấy) do các dại sư Từ Đạo Hạnh, Trì Bát xây Đố là ta chưa kể đến hê thống chùa lànd ờ kháp nơi Ngay từ năm 1010, vua Lý đã ha lệnh cho các hương ấp, nơi náo có các chùa quán đả đổ nát đéu phải sữa lại (1:243) Năm
1031, vua Lý Thái Tổng "xuống chiếu phái tién -thuê thợ làm chùa quản ờ các hương ấp, tất cả hơn 150 chỏ" (1:260) Có tíiể nói rin g trong lịch sử Viôt Nam chưa có thời kỳ nào chùa tháp dược Nhà nước và nhấn dán chú irons như thời Lý
Sang thời Trần (1226-1400), Phật giáo Viêt Nam ưếp rục phát triển rực
rỡ trôn cơ sờ tiếp nối từ phật giáo thời Lỹ Mác dù tình hình xã hội đã có những biến đôi, Nho eiáo dã dần dần chiếm được vị trí quan trọng trong xă hội, nhưng trong sự phát triển dung hoà với Nho n áo , Phật eiáo thời Trán vẫn thịnh vượng gầi; suốt trong thời Trần, chi ít là đến khoảng ELỮa thế kv 14
Trong suốt thời kỳ này, các vua Trán và nhiều vị quỹ í ốc lớn vẫn mộ Phật Ngay từ khi mới lên ngồi, nhà Trần dã ra lênh: "Trong nước, hễ chỗ nào
có đình trạm dẻu phải dắp tượng phật để thờ" (2:11)
Trang 10Các vị vua đầu thời Trần Như Trần Thái Tông, Trần Thành Tổng đểu rất tôn sùng đạo Phật Thời Trần có những nhà thiền học lớn nho Tuê Trung Thượng s Trẩn Tung (1230-1291) Đỉnh cao sự phất rriển của Phậĩ giáo thời Trần là viôc ra dời của Thiổn phái Trtíc Lâm do đích thản vị vua anh hùng Trần Nhân tông sáng lập vào năm 1299 Phái Trúc Lâm ra đời đánh dấu sự fhống nhất của giáo hôi Phật giáo Viốt Nam, Thién phái này phát triển mạnh trong gần suốt thế kỷ 14 với các trung tâm lớn như Yồn Tử (Quàng Ninh), Báo Ấn (Bác Ninh), Chân Giáo (Thăng Lons), Phổ Minh (Nam Định) được tầng lỡp quỷ tộc, quan liêu, dân chúng ủng hộ nhiêt thành
Thế kv 14, nho thản Lô Quát dà nhận xết vể sự phát triển mạnh mẻ cùa Phật á á o thời Trán như sau: "Trên từ vương công, dưới dến dân thường, hẻ có
bố thí vao viêc nhà Phật thi dẫu hết tién của cũng không sẻn tiếc Nếu ngáy nav gửi sám váo tháp chùa thi mừng rỡ như nắm được khoán ước dể lấy quả báo neáv sau Cho nôn trong từ kinh thành, ngoài đến chấu phủ cho tới thôn cùng, ngõ hẻm, không mệnh lênh mà người ta vẫn theo, không thể thốt mà neơời ta vẫn án Chỗ nao có neưỜL ở, tất cố chùa Phật, bỏ rối lại xây, hỏne rối lại sừa, chuông trông lâu đài chiếm đến nửa phán so với dản cư Đạo Phật hnng
thịnh rất dễ m à dược Tất m ực tôn sùng (2 :1 5 3 ).
Nhận xét trên đây cũng đã cho thấy chùa tháp thời Trần cũng dược xây dựng rất nhiểu Tuy nhiên nhịp độ xây dựng chùa tháp thời Trần ctíne khác nhiêu so với thời Lý Nếu như đầu triều Lý, tình hình xâv dưng chùa tháp thật
SÔI động vớ i hàng trăm ngôi chùa lớn, hàng chục cây tháp lớn cao tâng thì dầu
triéu Trần (khoảng thế kỷ 13), sử sách cho biết triểu đình chỉ xây dựng có một ngôi chùa Phổ Minh (Nam Định) vào nãm 12Ố2 Đến tận khoảng dầu thế kỷ
14, nhà Trẩn mới xấy tiếp cây tháp Huê Quang (Yên Tử, Quảng Ninh) và tháp Phổ Minh Viêc xâv dựng-chùa tháp rất ít đầu triều Trần có nhiẻu nọuyén
Trang 11nhân; phẩn thì do nhà Trần dược thừa hưởng nhiéu các chùa tháp lớn của nhà
Lỹ vẫn cồn khá nguyên vẹn, phần thì trong suốt Lhế kỷ 13 đất nước tập irung vào cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Tuy nhiên tĩnh hình trên khác hẳn trong thế kỷ 14
Hàng loạt các chùa chiển thuộc Thiổn phái True Lám xây dựng mới hoác trùng tu trôn cơ sở các ngôi chùa thời Lỹ như chùa tháp núi Đông Cứu, chùa Tư Phứ, am Tri Kiến, chùa Sùng Nghiêm, chùa Báo Ân, chùa Vĩnh Nghiêm, am Từ Tiêu, am Binh Dương, chùa Ttì Lâm, chùa Vân Yốn> chùa Báo Sơn, viên Quỹnh Lâm, chùa Thiên Linh, chùa Diên Quang, am Hổ Thiớn, chùa Dưỡng Phúc, chùa Phổ Quang, chùa Thiên Quang, chùa Kinh Hao chùa Thanh Mai, chùa Ngọc Hoàng, chùa Đại Bi, chùa Côn Sơn
Đến khoảng năm 1312, Tam Tổ thực lục cho biết dồ nhị tổ Trúc Lim Pháp Loa cũng xây háng trảm chùa (12:22)
Cho dến cuối thế kỷ 14, hố thống chùa làng phất triển dày đác Nguvẻn
Dữ tác giả lớn cùa thế kỷ 16 cho biết: "ĐỜI nhá Trán, tục tin thần quỷ, thần lừ, Phât tự chảng dâu là khồng có, như chùa Hoàng Giang, chùa Đóng c ổ chììâ
An Sinh, chùa An Tử, chùa Phổ Minh, quán Neọc Thanh dựns lên nhan nhản kháp nơi Vùng huyên Đông Tráo, sự sùng thượng lại cáng quá lắm, chùa chién dựng lên, làng lớn có đến hơn mười nơi, láng nhỏ cũng chừng năm sán, bao ngoài bàng rào luỹ, tô trone bầng vàng son " (5:152)
Trong thế kỷ 14, tuy không dược nhiểu như chùa nhưng kiến trúc tháp (tháp Phổ Minh và tháp Huê Quang) còn có thêm tháp Viên Thông ờ chùa Thanh Mai xây nàm 1330, tháp Đãng Minh ở chùa Côn Scm xây năm 1334 Sư Pháp Loa còn xây một thấp dá, mội tháp sạch ờ viốn Quỳnh Lâm vá xây thém
5 n sô i tháp khác (12)
Trang 12Trôn đây, đã diổm qua sự phát triển của Phật giáo thời Lỹ, thời Trần cùng sự ra dời của chùa tháp trong hai thời kỳ đó Giữa hai thời kỳ dù sự phát triển có lúc thẫng trầm khác nhau nhưng tựu trung cả hai thời đều )à tnời hoàng kim của Phật giáo và cũng là thời hoàng kim của chùa íháp Phật giáo Viêt Nam mà vết tích của một số chùa tháp đố vẫn còn để lại đến tận ngày nay Dưới đây chúng ta sẽ nghiôn cứu một số chùa tháp tiêu biểu của hai thời kỳ
này
Trang 13CHUƠNGII
NHŨNG CHÙA THÁP TIÊU BlỂư THÒI LÝ VÀ THỜI TRẦN.
Can cứ vào các ghi chép của thư tịch cổ và vãn bia, thì số lượng chùa và tháp dược xây dựng trong thời Lý và thời Trần có tôn tuổi lên tới hàng mấy trâm Nếu kể tới hô thổng chùa làng thì con số đó còn tãng thêm nhiéu hơn nữa Tuy nhiôn, trải nhiéu thế kỷ qua, do biến thiôn của xã hội, thiôn nhiên, các di tích chùa tháp vào thời Trần còn lại rất ít dưới nhiểu dạng khác nhau Một số chùa tháp bị vùi sâu dưới lòng dất Các phế tích này dơợc khảo cổ học
phái hiên và khai quật như chùa Phật Tích (Bác Ninh), tháp Tường Long (Hải Phòng), tháp Chương Sơn (Nam Định), chùa Kim Âu (Thanh Hóa) Một số chùa tháp chỉ còn sót lại một số thành phần kiến trúc v in dang dược kết hợp với các thanh phẩn kiến trúc thời sau khi trùng tu chùa và hiên còn dans sử dụng cho dến tận ngày nay như chùa Dầu (Bắc Ninh), chùa Bối Khổ (Há Tây), chùa Thái Lạc (Hải Hưng) Đa số các chùa tháp chỉ còn sót lại một vài di vật như bia đấ bồ tượng Việc phát hiên và nghiên CỮU cấc di tích thời Lỹ, thời Trần nói chung vá các chùa tháp thời Lỹ, thời Trần nói nêng được bắt dầu từ khoảng thế kỷ 20 Kể từ đó dến nay đã phất hiện khoảng 100 các di tích có niên đại Lý, Trần trong đó có một số đi tích chùa tháp tiêu biéu cồn lại khá
nhiéu vết tích kiến ưúc và điêu khắc có thể cho phép úm hiển phần nào diên mạo chùa tháp thời Lý và chùa tháp thời Trần
2.1 Những chùa tháp tiêu biéu thời Lý
Tron 2: số các di tích chùa tháp thời Lý đã được phát hiên và nshiên cứu>
tiêu biểu nhất là chùa tháp Phật Tích, thấp Tường Long, íháp Chương Sơn, chùa Lạng
Trang 142 J.1 Chùa tháp Phật Từh
2.1.1.1 Vị trí vá lịch sử dựng chùa Chùa PkậtTich
(hay còn gọi là chùa Vạn Phúc) nàm ở phía Nam sườn núi Phật Tích
(cồn gọi là núi Lạn Kha) thuộc xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đổ là một vị ttí rất đẹp mà văn bia chùa (1Ố86) từng ca ngợi: "Đoái trông cố đất tốt Tiên Du, nói đẹp Phật Tích ứng thế ở phương Nam, núi
Phượng Lĩnh bọc vào Sông Ngưu Giang án đó ngưng lại vuông ưòn, nước trong leo lẻo huyển hư, núi cao vò vọi sáng loà”
Chùa là một trong những di tích lớn nổi tiếng thời L<r vẫn còn lưu giữ nhiéu vết tích nghồ thuật Lỹ còn lại dến ngày nay Tuy nhiên, các tài liêu ghi chép vẻ chùa déu có niôn dại khá muôn Sớm nhất lá tám bia đá "Vạn Phúc dại thiển ĩự bi" trước sán chùa (nay đả bị vỡ) dựng năm 16SÓ cho biết: "Vua thứ 3 nha Lý, nãm Long Thuỵ Thái Binh thứ tư (1057), cát lôn cây tháp quý cao nean trượng, lại dựng pho tượng mình vàng cao ố thước, cẫp hơn trảm thước ruộng, xâv chùa chẫn một trám toà.”
Khoảng cuối thế kỷ 18, Tùne Niên Phạm Đình Hố viết: ''Chùa Phật Tích ờ nũi Lạn Kha do vua Anh Tôns nhà Lý dựng lốn, cuns son điện vẽ san sát trong núi” (6:80)
Sang thời Nguvẻn, Đại Nam nhất thống chí cũng chép: "ò núi Lạn Kha,
xã Phật Tích, huyện Tiên Du, chùa Vạn Phúc dược dựng từ thời Lý Thánh Tông, ưong chùa có một tượng dá cao 5 thước, to ố thưởcM (4:70)
Như vậy các tài Kêu trên đây đã cho biết vào khoảng nãm 1057, vua Lý Thánh T ô n s đã xâv chùa, tháp va pho tưcmg đá vói quy mô thật là lo lớn Tấm bia nâm 1686 còn miêu tả chi tiết hơn về chùa Phật Tích thời Lý: "Trốn đỉnh
Trang 1513 s
núi mở ra một toà nhà đá, cấp trong điền tợ sang như ngọn lưu ly, điên ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại lớn Trên thém bậc đàng trước có bày 10 con thú, phía sau có ao rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Nghiêu, sao Đẩu lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao, cung Quảng vẽ hoa nhị hổng "
Đáng tiếc các cảnh tượng đó chỉ là những mô tả của vẫn bia Vào thời điểm dựng tấm bia này, chùa Phật Tích đ i được ưùng tu và kể từ dó liên tục dược tu bổ cho đến nửa đẩu thế kỷ XX Trước nâm 1954, trước khi chùa bị huy hoại hoàn toán, chùa Phật Tích vẫn còn ỐI gian với nhiểu thành phần: Tién đường, Thiên hương, Thượng điên, Hậu dường, hành lang, miếu thờ, nhà tổ và
32 ngọn tháp mộ có niên d ậ từ thếkỷ XVI đôn cuối thế kỳ XIX, dầu thế kỷ XX,
Chác chán dó không phải lá hình ảnh chùa Phật Tích thời Lỹ như dân gian lưu truyén có tới 300 nhà (tam bách ốc) và cây tháp cao ngàn trượng
Ngay tại di tlch này vản còn lại những tầng nẻn dá lớn và nhiéu di vật điêu khác có phong cách Lý Đạc biệt năm 1937 - í 940, một số cuộc khai quật khảo cổ học nhân dợt trùng tu chùa cùa Trường Viễn Đông bác cổ Phát>, học giả Pháp lá L.Bezacier dã tim thâv dược vết tích móng nén của câv tháp và nhiểa di vật quỹ Đáng chtí ỹ cố những viên gạch ghi niên đại: "Lý cria đệ tam
đế Long Thuỵ Thái Binh tứ niên tạo” (1057) "Lý gia dộ tam dế Chương Thánh Gia Khánh thát niôn tạo" (1065)
Các niên đại trôn gạch xây đều thống nhất với niên đại Lỹ của chùa ghi trong vẫn bia và thư tịch cổ vừa dẩn ở trên Niên đại trên gạch cũng làm ta clìtí
ý đến ghi chép của Đại Viẹt sử kỹ toàn thư: nám 1066, vua Lý Thánh Tông xây tháp núi Tién Du ( 1 :285)
Tháp núilĩôn Du chính là tháp Phật Tích màL.Bezader đã ủm ử)ấv m6nợ nén.
Trang 16Lý Kết hợp với cuộc khai quật năm 1937-40 của L.Bezacier, chúng ía có thể hiổu 'dược vài nét vể kiến tróc chùa Phật Tích thời Lý (22)
- Mạt bàng tông thể, vật liêu và kỹ thuật xây dựng: (minh hoạ 1)
Như trên dã trình bày, chùa Phật Tích được xây dụns ờ một vị tó rất đẹp ờ sườn phía nam của núi Lạn Kha Để có mặt bằng dựne chùa, người thời
Lý đả san bại sườn núi thành bốn bậc cấp cao dẩn từ chân núi lên trên Dấu VỐI
các tầng nẻn này còn rất rõ:
+ Táng nển thứ n hít nàm ngang VỚI mạt bàng của dường làng (và cOng
là đường lên chùa) hiên nay v ế t tích của tầng nén này chỉ còn sót lại một số tảng đá kè bó nén Trồn tầng nổn này có hai chiếc ao hinh chữ nhật
+ Tầng nền thứ hai dài 58 m, cao 3,70 m Chính giữa tầng nền có một con dường đá rộng 5 m với 80 bậc cấp Toàn bộ tường nền dược kè bó bàng cấc khối đá lớn hình khối hình chữ nhật dược gia công khá nhẵn chồng xếp lốn nhau Trôn tầng nền này hiên nav khổng còn vết tích kiến trúc gì Theo nhần dân kể lại thì trước đáy, tầng nền này có trổng hoa mẫu dơn để hàng năm
mờ hội hoa xuân
Trang 17- 15
+ Tẩng nén thứ ba dài 58 m, rộng 62 m, cao 5 in Vật liệu xây dựng tầng nền này tương tự như các tầng trốn: toàn bồ duợc kè bổ bằng các khối đá lớn hình khối hôp chữ nhật
Chính giữa tầng nẻn có mở một dường đi cố kè dá để lên chùa Hai bên con đuừng đi này có hai dây tượng thú đá (xem phần diêu khác ở phán tiổp theo)
Trẽn tầng nển này, các vết tích vật chất còn lại cho thấy dây là vị trí xây dựng các kiến trúc quan trọng của chùa trong suốt ngàn năm qua như:
* Các vết tích kiến trúc thời Lý
* Vết tích chùa Phật Tích được trùng tu vào thếkv 17
* Ngổi chùa nhỏ mới xây gầfl đây
Ở đây, chúng ta không nghiẽn cứu các kiến trúc chùa Phật Tích Lhời Lẽ, thời Nguyễn mà chỉ tập trung tìm hiéu các vết tích kiến tróc chùa Phật Tích thời Lý.
Qua nội dung cùa tấm bia 16SÕ trước sin chùa thì chùa Phật Tích ío lớn, khang trang thời Lý dã bị huy hoại từ lâu đổ dến thế kỷ 17 chùa phải trùng tu khá quy mô
Cuộc khai quật của L.Bezacier trong các nám 1937-40 đã cho tháv dược phần nào điéu này Bời lẽ các nẻn kiến trúc thời Lý dã bị huỷ hoại về cơ bản,
và ngôi chùa Phật Tích thời Lô - Nguyễn đả san lấp và xây dè hẳn lén íĩên nén của kiến trúc Lỹ
BỜI vậy, ngày nay, biết được chút ít vể kiến irtíc chùa Phật Tích thời L<>
là nhờ có cuộc khai quật của L.Bezacier
Trang 1816 ;
Các tài liệu của L.Bezacier dể lại cho biết nẫm 1937, nhân dịp trùng tu toà Thượng điên, ông đẫ khai quật phần nền và am thấy một số bức trạm đá, đất nung và những viên gạch xây có niên đại 1057 Đến năm 1940, khi trùng
tu toà Thiôu hương, ông lại khai quật phần nền và tìm thấy vết tích nền móng của cây tháp còn khá nguyên vẹn hình vuông, mỗi cạch dài 8,50m Tường chần thấp xly bàng gạch dày 2,15m Gạch xây đều có hình khối chữ nhật dẹt
(40cm X 25cm X 5cm), dất luyốn kỹ, độ nung cao, màu đỏ tươi, ở một góc chán tháp còn cố khối dã có chạm hình chim thần Garuda, rồng và hoa lá
ở mặt tường phía sau của chân tháp còn có những bậc cấp xây bàng sạch di sân xuống tới 3,30m Trước măt cỏn một bức rường thấp bàng gạch cao 0,50m Dọc theo mặt tường phía bác cũng thấy một mảng rưởng gạch khác nữa
Như vậy các tài liêu của L.Bezacier đẵ cho thấy trên tầng nển Lhứ ba chác chắn có một ngôi tháp với mầt bằng hình vuông còn khá hoàn chỉnh Ngoái ra còn có một số vạt tường kiến trúc khác chưa rõ dược cấu tróc Nhưng
cuộc khai quặt không mờ rộng thành ra ta khóng thể biết gì thêm vế V5ÔC b ố LTJ
các kiến trúc khác như thế nào
* Tầng nẻn thứ tư: dài khoảng 60m, cao 3,50m Tường bao cùa ting nén này cũng tương tự như các tầng nén dưới
Lối lốn tầng nén được mờ về hai bên cạnh rông 1.65m với 10 bậc cấp
lát đá Từ thế kỷ 17, tầng nển này là nơi xây các tháp mộ của các sơ lăng của
chùa Vết tích nehê thuật Lý duy nhất cồn lại là một ao rổng hlnh chữ nhậi
(Long Trì) cách mép nển 14,30m sâu 2m dài 7m, rộng 5m Ao cũns dược kề
bó bàng đá tảng, có 13 bậc cấp đi xuống rộng 2m được lát bằng đá xanh Toàjì
bộ ldns giếng được lát đá và chạm nổi hình một con rỗng cuộn
Trang 19*
Tóm lại iiến trúc chùa Phật Tích thời Lỹ qua bốn tầng nền có thể thấy
là rất to lớn, Đáng tiếc là các kiến trúc Lý trên các tầng nển đó đ i bị huỷ hoại hoàn toàn Hiên chỉ còn biết một vài nén kiến trúc ờ tầng nển thứ ba Tuy nhiồn hố khai quật của L.Bezacier hổi dó quá nhỏ, các bài viết vé hiện trạng của các nẻn móng đó quá sơ lược Bời vậy vé cãn bản hiên nay chưa thể biết dược chi tiết mất bàng tổng thể của chùa Phật Tích thời Lý
Chúng ta mới chỉ biết chắc tại tầng nén thứ ba có một ngôi tháp cố mặt bàng hinh vuông Điéu này phù hợp vói ghi chép của thư tịch cổ và văn bia đổu cho biết vua Lý Thánh Tông có cho xây dựng một ngôi tháp báu rất cao ờ đáy Nhưng mạt khác thư tịch cổ và vẫn bia cong cho biết Lỹ Thánh Tổng cũng cho xây ngôi chùa lớn có tới trăm toà và khảng dịnh "điôn ấy đã rộng lại
to, sáng sủa lại lỡn"
Đến cuối thế kỷ 14, thượng hoàng Trần Nghê Tông còn cho tổ chúc thi đình tại chùa (2 ) Hơn nữa vết tích các mảng nển gần chân tháp và các vật )iôu xây dựng như chân tảng đá, gạch ngói cũng gợi cho thấy phẩn nào quv mô
to lớn của ngổi chùa Tất cả các dẫn chứng này dều cho thấy là chưa xác dịnh dược kết cấu và quy mô các kiến trúc khác của chùa Phật Tích irừ ba tầng nền
Trang 2018 *»
- Điêu khắc trang trí kiến tróc:
Trang trí kiến trdc dược thể hiôn trồn vật liệu đất nung và đá, nhưng phong phd nhất là đá Đá dược sử dụng ở nhiều vị trí khác nhau: đá xây cửa tháp, vòm tháp, dấu kô, đá xây tường, chân tảng Tuỳ theo mỗi vị tri của kiến trúc có những dể tài trang trí khác nhau Tất cả các hình trang trí dều dược chạm nổi phù diêu ờ mạt ngoài Có một số vị trí chạm thành các tượng tròn
+ Bức trạm Kim Cương (Vajrapani)
Kim Cương là một vị thần có pháp lực lớn có nhiêm vụ hô vồ Phật pháp
và thường dược bố trí dứng gác ờ hai bôn cừa tháp Theo kết quả nghiên cứu hién nay, tháp Lỹ thường có 4 cừa, mỏi cừa có hai Kim Cương dứng ở hai bôn Tại Phật Tích chỉ còn tìm thấy một pho bàng dá Tuy nhiôn pho náy cũng không còn nguyên vẹn mà chỉ còn phán thân (đầu và hai ống chân đã bị gẫy mất) Quan sất phân thân này có thể thấy Kim Cương có thân hĩnh cân đối, chác khoẻ và dang ờ rư thế đứng nghiêm, giáp trụ dược nai nịt gọn gàng Trên
giáp trụ có nhiểu hinh trang trí: ngực có hai bông hoa tròn, hai bôn neực có hinh hai dầu thú, những bông hoa nhỏ dài rác ờ nhiéu nơi
+■ Bức chạm Hộ Pháp (Dvarapala)
Hô Pháp cũng là vị thần hộ vô Phật pháp, v ẻ vị trí Hộ Pháp thườnp dược bố trí ờ ngoài cũng như Tam quan, Tiển đường, ở chùa Phật Tích llrn thấy một pho bàng đá nhưng chưa rõ dược dật ờ đâu
Khác với tư thế dứng nghiêm của Kim Cương, Hộ Pháp ờ chùa Phậĩ Tích hơi nghiông vể phía trước, mình hơi vặn, hổng lệch, chân choãi với một
cơ thể rất cường tráng Khuôn mật của Hộ Pháp rán rỏi vè có phần hơi gân
Trang 21+ Chân tảng đá hoa sen chạm dàn nhạc (Gandharva)
Đã tim thấy tất cả nâm chân tàng dá Tất cả các chấn tảng dổu tươn? rự
như nhau vể hinh dáng, kích thước và trang tri: hinh k h ố i vu ồng (7 4 cm X 74cm X 3cm).
Mạt chân tảng chạm thành hình hoa sen tròn có eương sen Iròn dường kinh 50cm Phần gương sen tròn là nơi đạt chân cột Xung quanh gương sen
có lõ cánh sen toả ra xen giữa có lố mõi sen phụ Trong lòng cánh sen déu cố chạm dổi rống chầu
Đăc biột trôn bốn mạt dứng của mỏi chân lảng đéu có chạm bốn dàn nhạc, mỗi dán cố 10 nhạc công tương tự như nhau cả về bố cục, tư thế và phục sức
Về mặt bố cục, ờ chinh giữa dàn nhạc có một hình 'lá dé" dược Uiể hiên bằng các hình dấu hỏi và ba bóng hoa cúc Mỗi bén lá để đều có 5 nhạc cônp đối xứng hướng về phía hình lá dé vừa nhảy múa vừa tấu nhạc Điêu nhảy của các nhạc công là diệu Tam gấp (T.ribhanga): phán thân thẳng đứng, một châii chống thẳng xuống dưới, một chân co gập về phía trước, phẩn dầu ngả vuông góc với phần thin Nhìn chung các nhạc công đều có thân hình Ihon thà,
Trang 22lchuôn mạt trái xoan, phạc súc cẩu kỳ với những lớp xiốm y mềm mại, vành
mũ kết hoa, tốc dài uốn bổng cao, quanh người có các dải lụa dài mềm uốn lưcm
Vé nhạc cụ tính từ trái sang phải gổm có: trống to (người ihứ nhất), nhị (người thứ hai), sáo ngang (ngữời thứ ba), dàn nhiéu dây (người thứ tư), người thứ nam chưa rõ loại nhạc cụ, phách (người thứ sáu), đàn tì bà (người thứ bày), tiôu dọc (người thứ tám), đàn nguyôt (người thứ chín), trống cơm (người thứ mười)
Đây là những bức chạm nhạc công hoàn chỉnh nhất trong thời Lý và thời Trẩn
+ Đấu đá chạm tượng nử thần chim (Kinnari) (MH2)
Trong láến trúc nói chung, dấu thường có tác dụng kê dỡ các cấu kiên khác Nhưng ờ chùa Phật Tích cố loại đấu hoàn toán chỉ để chạm các hình trang trí: đó là các dấu đá có chạm tượng nữ thần chim Đã tim thấy ba chiếc
đấu nhữ vậy.
V ề hinh thức các dấu này cổ hình khối v u ôn g, mãt sau có ch u ôi dá dai
nàm ngane đổ dùng cám vào thân tường cùa kiến trác Mạt trên cùa đâu chạm liển khối hình nữ thẩn chim (Kinnari), một nhân vât irong thần thoại Phật ááo thường Làm nhiệm vụ ca hát và táu nhạc Cấu trúc của nhân vật này khá đăc biổt, nừa người, nửa chim Nửa người là nừa thân trên cố hinh dáng tương tự như các nhạc công: Iđiuồn mạt bầu, búi tóc uốn bổng cao thành hai lỡp có kếỉ hoa, cổ mập nhiéu ngấn, hai cánh tay trần deo vòng Nửa chim là nừa thân dưới gồm có haichân to khoẻ, móng nhọn quáp chạt xuống mạt đấu, hai cánh gồm nhiẻu lớp lổng vũ tia rất mẻm mại Bô đuôi to khoẻ cũrts được tỉa thánh nhiểu nét nhỏ mểm cuồn cuộn lượn toả lên trên, uốn cong vế phiâ dầu Mỏi nữ
Trang 23thần chim biểu diổn một nhạc cụ khác nhau: một người đang đánh trống cơm, một người gảy đàn nguyồt, người nữa chơi một nhạc cụ khác (vì bị mồn không nhận rõ được) Loại đấu này trong kiến trtíc Lý là để trang trí cho cấc cây tháp cao tầng Dó đó kích thuớc các đấu giữa các tầng là không giống nhau Loại dấu lớn cao 30cm, rộng 20cm, loại đấu nhỏ cao 20cm, rộng 14cm
Các loại dế đá xây tường chạm rồng (MH4)
Các loại dá ghép tường (hay còn gọi là đố) 2ổm có nhiều loại khác nhau, ờ Phật Tích có hai loại đố tiêu biêu: đố hình chữ nhật và đố hình lá dề
Các loại đổ' nãy dều có phin chuôi dài tạc liổn với đố đé ghép váo tường kiến trúc (tương tự như dấu)
Cả hai loại đố đéu chạm hình rồng ờ mật ngoài Hinh rồng đểu mang đăc trưng tiêu biểu cùa rồng thời Lỹ: thân "rin" thon nhỏ, khổng có vảy uốn lượn nhiểu khúc theo kiểu "thát miệng túi", đầu rồng không có sừng, mào rổng nhò, thon dài, má dài, mang xoáy, bờm dài, lườn hinh sin, vây lưng hình ngọn lửa nhỏ., đểu, trẽn đáu có các biểu tượng 'lô i ván” (chữ S) Loại đố hình lá đổ thường cố kích thước nhỏ Mẫt dố chạm hai con rổng đối xứng chiu hinh lá đổ nhò ở chính giữa
Loại đố hình chữ nhật cổ kích thước lớn Toàn bồ mạt đố chạm một con rổn£ Tư thế uốn lượn của rồng giống như hình rồng trong đố hình lá đề nhưng có các hoa vân mây ĩrởi (bốn trôn), sóng nước (bôn dưới), hoa sen (ờ hai bốn) viổn kín xung quanh
+ Hàng tượns: thú trang tri trước tầns nén thứ hai Trước tầng nển thứ hai có trang trí mười con thú gổm: sư tử, voi, "lẽ giác", trâu, ngựa đối xứng từng đổi qua lối lên chùa
Trang 24v ể hình thức, các tượng đều được tạc bàng đá liển khối bao gồm hai
phần: phần bệ hoa sen và tượng
Bô hoa sen hình khối hộp chữ nhật (1,60m X 1,12m X 0,75m) Mạt bê
có chạm hai lớp cánh sen Giữa bô co lại có chạm các con vật đang nối tiếp
nhau bữớc đi
Trôn mật bô, các hình thú đéu cố hình khối tròn mập Đặc trưng của
từng con vật được diễn đạt rất sinh dộng Sư từ cổ phần bờm rộng xoáy ốc,
toàn thân phủ hoa tròn cánh xoáy, tư thế ngổi xổm, mạt hướng vé phía đường
đi Voi có vòi dài, đáu hường thảng về phía trước "Tê òác" cố phần đầu hơi
thuôn nhìn chếch lôn trên Ngựa có bờm mượt, trầu có sừng và lai (dã bị gẫy),
ngoảnh đần nhìn vào phía trong
Ngoài các hình tượng tiêu biểu ưên đây, qua các tái liêu cùa L.Bezacier
còn có thể thấy ở chùa Phật Tích còn có nhiẻu vị trí khác được ưang trí như
hình chim thần Garuda ở cấc góc của nén tháp Gãruda có dáng thon khoẻ hai
chân quỲ, hai tay khuỳnh dưa ngang đầu, ngực và bụng ưỡn cẫng vể phía
trước
Một số các thành phin kiến tróc khác dược chạm rổng, các loại đổ án
hoa cúc nhưng do hạn chế của ảnh chụp nên không thé biết chi ữết được
- Điêu khắc tượng thờ: Vân bia, thư tịch cổ đéu cho biết ờ chùa Phật Tích có pho tuợng lỡn, minh vàng Pho tượng đố hiên vẫn còn dược thở ờ
chừa Măc dù đã bị vỡ hỏng và thất lạc một số phần nhưng hiên nay vẫn có thể
thấy được những phần cc bản nhất của tuợng
Tượng cao l,82m , ngang gối rộng l,40m Nếu tính cả bô thì toàn bộ
pho tượng cao 2,72m T iợ n g dược tạc theo tu thế loạ thiển trén dài sen, bai
Trang 2523 *.
chân khoanh xếp bàng tròn, hai bàn tay xếp chổng lốn nhau đạt ngay ngán trước lòng, hai đẩu ngón tay cái chạm nhau theo thế "Định ấn” Thân hình tượng thon thả, cân đối, vai nở, bụng thon, khuôn mặt đầy đạn, phức hậu, vầng trán thanh tú, sống mũi cao, khối u (Unifa) trôn đỉnh dầu nổi cao, tòc xoắn ốc
Áo cà sa của đõc Phật dược thé hiện thành nhiẻu nếp gấp mểm mại.Phần bê gổm cố dài sen cố hai lớp cánh sen chạm rổng và phần bệ bát giác Riồng phin bố bát giác dược chia thành nhiểu bậc cấp Ba bậc cấp trên được chạm rổng trôn các mãt dứng (MH6), hoa cúc trẽn các mạt nàm Các bậc cấp dưới cùng đểu chạm hoa vẫn sóng nước hình "nấm"
Điéu cẩn lưu ý thêm là chiếc bổ náy không cờn nguyôn vẹn vá phần toà sen hiên nay dã được làm thôm vào thời sau
Sờ dE có thổ khẳng dịnh chiếc bé trượng này không còn nguyên vẹn vì trong thời Lý đã tìm thấy thêm nhiổu chiốo bệ khác còn nguyên vẹn hơn để so sánh như bê tháp Chương Sơn (xem phần sau), bé chùa Hoàng Kim (1099), bổ chùa Thầy Các bệ này ngoài đài sen và phin bẹ bát dác còn có thêm lùnii su
từ ờ giữa Như vậy bẻ Phật Tích đã khống có phần này Trong khi dó lại di tích
dã tìm thấy phần bê sư tử này được ỉàm rời và để ở bên nsoài Phản đài sen được th ả n g định là làm lại vì so sánh cánh sen, hlnh rồng, chất liêu d i đều
khác với phong cách Lý pho tượng nói riêng và điêu khắc Phật Tích thời Lý nói chung: cánh sen to mập, hình rồng mang phong cách thời Lé, đá có màu xám vàng
Quan sát cấc đi vật còn lại, có thể thấy ngoài pho tượng Phạt ưên đây, chùa Phật Tích thời Lý còn có thổ có một số tượng khác Bàng cớ tại di ưch
Trang 262 ỉ 2.1 Vị tri và Ikh sử xây dựng tháp
Ở thị xã ĐỔ Sơn (Hải Phòng) có neon nái Tháp Gọi là núi Tháp vì nhân dán trong vùng truyền tụng từ lâu trên núi cố một toà tháp cổ Khi các nhà khảo cổ học tiến hành khảo sát thì phát hiên ra dấu tích một kiến trúc khá lớn mang phong cách nghê thnật thời Lỷ
Lần úm trong sử cũ, chung ta eâp lại những dòng ehi chép sau:
"M ùa thu, tháng 9 (1058), vua (LỶ Thánh Tông - tác giả) ngự ra cửa biển Ba Lộ nhân đó ngự ra chỗ xây tháp ờ Đổ Sơn" (21:96)
Năm sau (1059) sử lại chép: "Vua ban cho thấp ờ Đồ Sơn tôn hiệu là tháp Tường Long" (2 1 :97)
Thế là đã rõ, ngọn tháp ở núi Tháp Đổ Sơn có tốn là tháp Tườrig Long
và dược xây trong khoảng nãm 1058
Năm 197S, phế tích tháp được viên khảo cổ học khai quật Một số vién gạch tìm dược có ghi niôn dại "Lỹ gia đê Tam đế Long Thuỵ Thái Bin 1 tứ niên
Trang 27tạo" tức năm 1057 thờiLỷ Thánh Tông Niên đại này phù hợp với niên đại ghi trong sử cũ.
Tháp tổn tại khá lâu dài Đến tận thế kỷ 19, Đại Nam thống nhất chí thời Nguyẽn còn ghi: 'Tháp cũ Đổ Sơn ở xã Đổ Sơn huyôn Nghi Dương cao trâm thước” (3:389) Những chính tài liộu này cũng cho biết lý do tháp bị huỳ hoại: "Nãm Gia Long thứ ba phá tháp lấy gạch xây thành trấn Hải D ương” (3: 389) Ngày nay chỉ còn một phản nén móng và một số di vật
2.1.2.2 Kiến trúc thấp
- Măt bàng, vật liêu và kỹ thuật xây dựng.
Móng nẻn tháp Tường Long hình vuông, lòng rỗng, cửa mờ ờ hướng nam Mống tháp dươe xây 3 tầng d ậ t cấp, càng lên cao càng thu nhỏ dần Kích thước của mỏi cấp như sau:
Trang 2826 V
(hai đầu không bàng nhau) (40cm X 25cm X 23cm X 5cm) tạo thế phối hợp để
hoàn chỉnh góc cong
Toàn bỗ chân tháp déu dược xây bằng gạch Đa số là loại gạch cỡ 40cm
X 25cm X 5cm Một số viân khác có kích thướe lớn hơn (56cm X 23cm X 5cm) hoăc nhỏ hơn (28cm X 20cm X 5cm) Gạch dược xếp theo chiéu bắc-nam Riông hàng trên cùng còn thấy được 32 viôn xếp dọc, 1 viên xếp ngang Hầu hết gạch dểu cớ khác chữ niên hiệu như đã nôu trôn Giữa các lớp gạch có 1 lớp bùn mỏng
ĐỔ bảo vệ nển móng tháp có một luỹ đất lấp ở phía ngoài rộng chừng 4m Luỹ đất dược kè bó bằng một hàng gạch và đá hộc Riống ở tường phid bác, luỹ khổng lấp kín vì có cửa mờ sang một kiến trúc khác Cửa dược bố trí rất đơn giản: hai bén lát đá hộc và một hàng gạch cắm đứng Trước cửa là con dường đi lát gạch (loại gạch xây tháp) Theo con đường náy ta sẽ sang kiến trúc mà có nhà nghiên cứu cho là vết ưch một ngôi chùa Lý hiện còn một tẩng
nén hình chữ nhật (20m X ốm ) và hai tầng nền nhỏ hơn được kè đá.
Trang 2926 '
(hai đẩu không bàng nhau) (40cm X 25cm X 23cm X 5cm) tạo thế phối hợp đổ hoàn chỉnh góc cong
Toàn bộ chân thấp đéu được xây bàng gạch Đa số là loại gạch cỡ 40cm
X 25cm X 5cm Một số viên khác có kích thước lớn hơn (5ốcm X 23cm X 5cm)
hoạc nhỏ hơn (28cm X 20cm X 5cm) Gạch dược xếp theo chiéu bắc-nam Riêng hàng môn cùng cồn thấy dược 32 viên xếp dọc, 1 viên xếp ngang Hầu hết gạch đểu có khác chữ niên hiộu như đã nốu trốn Giữa các lớp gạch có 1 lớp bùn mỏng
Để bảo vê nển móng tháp có một luỹ đất lấp ờ phía ngoài rông chùng 4m Luỹ đất dược kè bó bàng một hàng gạch và đá hộc Riông ở rường phid
bấc, luỹ khổng lấp kín vì có cửa mờ sang m ột kiến trúc khác, c ử a dược b ố trí
rất dcm giản: hai bén lát đá hộc và một hàng gạch cắm đứng Trước cửa là con dường đi lát gạch (loại gạch xây tháp) Theo con dường náy ta sẽ sang kiến trúc mà có nhà nghiên cứu cho là vết tích một ngôi chùa Lý hiên còn một tầng
nẻn hình chữ nhật (20m X 6m ) và hai tầng nền nhỏ hơn được kè đá.
Trang 3027 v
Cối cửa tìm thấy hai chiếc cao 3ốcm có măt cát bằng 2/3 hình ĩròn, lỗ cối hình tròn (đường kính 12,5cm) Bao quanh lổ cối có 3 lớp cánh sen xếp so
le nhau, mỗi lớp cố 10 cánh
Ngoài ra, còn dm thấy một số mảnh (lá dể chạm rồng - MH7), đất nung
có chạm rổng Một tượng vịt có thân hình tròn lẳn, mỏ dẹt rông, dầu ngửng cao, cổ thu, diéu ưỡn, lông mềm, duôi cong Một tượng dầu sư từ m iệng há
rộng để lộ hai hàm răng, mũi to, râu cuôn xoáy Đầy l i các mảnh vỡ của nhiẻu
loại vật liêu dô xây tường hoặc trang t í tô n mái.
Tháp Tường Long cũng có tượng phật nhưng bị vỡ chí còn một vài mảnh nhỏ Một mảnh thân cho thấy tượng có phần cổ thanh tú cao 3 n2ấn, vai rộng, minh khoác áo cà sa Trên cổ tượng có một lỗ mộng nho nhỏ dể shép với
p h in đẩu.
Bê lượng cũng bị vỡ còn sót lại một vài mảnh cho thấy bộ cũng cớ cấu trtic tương tự như bô tvvọng ờ chùa Phật Tích: Phần dưới bệ dày 0,75m cham sóne nước Phần trôn hĩnh bát giác, toán bộ các mạt đứng va măt nàm đẻu
Trang 31Cối cửa tìm thấy hai chiếc cao 36cm có mạt cát bàng 2/3 hình tròn, lỏ
cối hình tròn (đường kính 12,5cm) Bao quanh lỗ cối có 3 lớp cánh sen xếp so
le nhau, mỗi lớp có 10 cánh
Ngoài ra, còn tìm thấy một số mảnh (lá dể chạm rồng - MH7), đất nung
có chạm rồng Một tượng vịt cố thân hình tròn lản, mỏ dẹt rộng, đẩu ngửng cao, cổ thu, diéu lĩỡn, lổng mém, duôi cong Một tượng đáu sư tử miêng há rộng đổ lộ hai hàm rãng, mũi to, râu cuộn xoáy Đây là các mảnh vỡ của nhíéu loại vạt liệu đô xây tường hoậc ưang trl trên mái
Tháp Tơờng Long cũng có tữợng phật nhưng bị vd chí còn một vài mảnh nhỏ Một mảnh thân cho thấy rượng cố phần cổ thanh to cao 3 n eấn , vai rộng, mình khoác áo cà sa Trên cổ tượng có một lỏ mộng nho nhò dể ghép với phần đẩu.
Bô lượng cũng bị vở còn sót lại một vài mảnh cho thấy bê cũng có cấu trtìc tuơng tự như bẹ twpng ờ chùa Phật Tích: Phẩn dưới bệ dày 0.75m chạm sổng nước Phin trôn hinh bát giác, toán bô các mạt dứng va mật nảm đểu chạm hinh rồng
* *
*
Tóm lại, tháp Tường Long còn một phẩn móng nền vuông và dấ '2 tích nển của một kiến trúc hình chữ nhật Các di vật chạm khác cồn lai rất ít
Trang 32Đến năm Hội Tường Đai Khánh thứ 8 [1117], Đại Viồt sử kỷ toàn thư lại cho biết: " tháng 3, ngày Bình Thìn, vua ngự đến ntíi Chương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong Thành Thiỗn" (1:247).
Sử cồn ghi liên tục ưong các năm 1107, 1114, 1117 có rống vàng hiện lên ờ Chương Sơn Điểu đó cho thấy ý nghĩa to lớn của việc xấy ngôi tháp này
Như vậy, tháp Chương Sơn dược xây dựng trong khoảng 9 nãm (1108" 1117) Những viên gạch ở di uch có ghi niên hiêu "Lỹ gia đệ tứ đế long phù Nguyên Hoá ngũ niên tạo" tức nâm 1105 minh xác thêm cho niên dại của tháp (MH21,22)
Tháp bị phá huỷ vào khoảng dầu thế kỷ 15 Tấm bia xây dựng chùa Sơn Trương thời Lố ờ dưới chân núi Ngổ Xá đã cho biết: "dến khi Quln Ngô (tức quân Minh * tác giả) sang xâm lược nước ta, chúng sinh lòng ngoan ác p h i huỷ các tượng Phật bàng đá, chỉ còn tượng thần trôn bô đá ờ tầng thứ hai giữa đình núi" (11:48-63) Ké từ dó ỉháp Chương Sơn chỉ còn là một đống đổ
Trang 33hoang tàn cho tới ngày dược khảo cổ học khai quật, chđng ta mới cố ĩhổ hiổu được vài nét vể tháp Chương Sơn
2.1.3.2 Kiến trúc: Mặt bằng, vật liệu và kỹ thuật xây dựng
Cũng như tháp Tường Long, Iriến trúc thấp chỉ còn sót l ậ phần móng nổn
Tuy nhiồn, tình trạng móng nén tháp Chữơng Sơn còn khá tốt
Mặt bàng tháp hỉnh vuông Chân tháp cũng là nền tháp đựoc ghép bàng nhũng khối đá muối tạo thành 3 bậc cấp (MH8):
Cấp dưới cùng rông nhất: 19m X 19m Tường đá muối chỗ cao nhát
1 ,8 7 m, chỗ thấp nhất còn lại 0,95m
Cấp giữa: lố.ổOm xlố,60m Mạt tường rộng 1.20m cao Im
Cấp trôn cùng: 12,20m X 12?20m Mặt tường rộ n e l,2 0 m , cao lm
Để xây dựng tầng nển này, thợ xây dựng thời Lý đã xả sườn của đinh núi theo chiều thảng dứng thành một hình vuông bao quanh đỉnh núi Sườn xung uanh được bạt rộng ra thành hình thước thợ để lát sấn Cấp cuối cùng của nển tháp có các bậc lên xuống mờ ở phía đông và phía tây Thềm bậc được cấu
trúc thành hai tầng: Tầng một có ố bậc choán hết bổ rộng của sân gạch, hai bên
cố thành bậc chạm sóng nước, bên trên có tay vịn; Tầng hai cũng có ố bậc cấp nhưng thấp hơn, hai bên không có thành bậc mà chỉ có phần tay vị chạm vũ nữ dựoc đặt chếch 45 độ Đoạn tường nền còn nguyên vẹn nhất ở phía tây bắc có
9 lớp đá chổng lên nhau
Tường nổn phía bắc, các khối dá dược chọn lọc kỹ lưỡng hơn Tất cả đểu cố hình khối hộp chữ nhật; phiến nhỏ dài 25cm , dày_5cm; phiến trung
Trang 3430 '
bình dài 50cm-70cm, dày 13cm-20cm; phiến lớn dài dày 34cm Tất cảdẻu rộng 30cm-35cin Có phiến hình thơớc thợ Nếu cố các khe hờ thì đểu được chèn đá nhỏ
Bao quanh nền tháp là sấn hình vuông (24m X 24m), mạt sân rộng 2,50m Sân cũng đuợc đào sâu xuống nền đá núi 30cm do đó tìa ngoài là vỉa
đá muối tự nhiên, rìa trong là vách dá xây tường nển mạt dổng và tây của sân dược lát gạch, c ả hai mạt dều bị bậc lẽn xuống chia sân ra làm hai lát eạch vuông và một số viên gạch bìa trong đó có một số viên gạch hoa bị lật áp Các khoảng sân này có nhiéu chỏ không còn 2ạch lát
Mạt bấc và nam không thấy lát gạch mà chỉ còn hai hang gạch hĩnh chữ nhật lát ờ rìa cạnh Như vậy các khoảng sân nàv có thể đã bị mất hết gạch
Qua phần trên ta có thể thấy quy mồ của tháp Chương Sơn là rất lớn
Để có thể xây dựng cây tháp bôn trên, kỹ thật xử lý m ống nển dược thực hiên
rất kỹ lưỡng Trước hết, trôn đỉnh nôi đào một hố vuông (9,50m X 9.50m) sâu 1,8Om ờ 4 góc hố Lại đào 4 hố hình thước thợ ốp ờ phía ngoài sân l,65m Dưới đáy hố đổ một lớp dá gân dày 0,20m cỡ bàng quả trứng vịt trộn VỚI đất sét nện chạt Tiếp theo là một lớp dày 0,60m gồm từ 3-5 lớp đá gân xen lân Với
từ 4 -ố lớp xỉ nhỏ Lớp trốn cùng là sỏi trộng với đất đỏ đô dày lm Viộc dổ đá gân kết hợp với sỏi, đất sét tạo thành nhiéu lỡp nện chạt có tác dụng chống ltin rất hiôu quả (MH9)
Ngoài vết tích kiến trtic tháp, ỏ phía đống v i tâv của nền tháp còn có hai vết tich kiến trúc (trong đó nền phía đổng) không còn nhận rõ được hình dạng
Nén kiến trúc ờ phía tây dài 21m, rộng 8m Trên mạt nẻn còn hai chân
tảng ờ phía bác và hai chân tảng ở thểm bậc tháp cù n g hai CỐI12 ngầm Ihoát
Trang 35nơớc Hai chân tảng ở phía bác nằm sát mép nền kiến trúc và cách nhau 4 ,lm
Phía nam không còn chân tảng mà chỉ còn hai vết lõm đối xứng với hai chán
tảng trôn
Hai cống ngầm bố trí song song với nhau cấch đầu bậc lên xuống 4,6m Hai cống dược khoét sâu xuống nển dá muối 0,35m, rộng 0,53111- 0,58m Đáy cống lát bằng phiến đá m uối phảng ngang với sán gạch và hơi dốc
ra phía ngoài Thành cống xây bằng gạch cỡ 33cm X 16cm X 5cm, 21,5cm X 21,5cm X 5cm, 37,5cm X 21,5cm X 5cm Tâì cả tạo cho lòng cống vuông vức sâu 25cm, rông 37cm, dài 6,40m Mạt cống dược dậy kín bàng các phiến đá muối già, phảng, dày trung bình 15cm-20cm
2.ỉ 3.2 Điêu khắc:
Khai quật tháp Chương Sơn đã tìm thấv 40S di vật đá, đất n u n s, eốm
sứ, chì, đổng, sát (không ké các di vật dang xây ở kiến tróc ).
Các di vật kiến tú c được chạm khắc cũng nhiều bao eổm một số loại
tiêu biểu sau đây:
- Điêu khắc trang ttí kiến trúc:
+ Chán tảng đá hoa sen:
Hình dáng, quy cách của chân tảng tơơng tự các chán tảng ờ chùa Pliậi Tích, tháp Tường Long (70cm X 70cm X 32m ) Trên cánh sen chạm kín liìnhhoa ctíc dây, mỗi cánh sen mười bỏng cíic uốn lượn tự đo, cánh cúc nhỏ lìalượng rất mém mại
+ Thành bậc:
Trang 36Có 5 phiến đá hinh chữ nhật và hinh thang vuông được dùng đổ ghép 2 dầu bậc thềm Mặt trong của cac thành bậc đơợc mài nhẵn Cấc mạt ngoài đểu chạm sóng nước "hình nứi" có phần chân choãi, ngọn sóng thuôn dần từ dưới lên trên Kỹ thuật chạm nổi, phần chân sóng hoi uốn vào trong, phần thân ' fà ngọn hơi xổ ra ngoài, lòng ngọn sóng lõm Các tấm lớn có 5 dợt sóng, các tấm nhỏ có 3 dợt Cách chạm như vậy gợi cảm giác các lớp sóng xô đều đặn
nhưng dồn dập, tầng tẩng lớp lớp nối tiếp nhau
+■ Đá chèn thành bậc: 10 phiến hình khối hộp chữ nhật Loại dá náy có nhiôm vụ chèn giữa thành bậc cho chác chán thêm nhưng cũng cố 4 phiến chạm hình sống nải như thành bậc
+ Đá bó thành bậc: 8 phiến, mỗi phiến chia làm 2 nửa, nửa dưới 14cm
dể xù xì và dược chôn xuống dưới đất Nửa trên 8cm được chạm các dợt sóng hình sin lượn đểu đặn Lớp sóng hình sin này ăn khớp với lớp sóng hinh núi bôn trên tạo thành sự hoán chỉnh của hoa văn sóng nước ờ thành bậc tháp
+ Lan can thành bậc: Lan can dược cắm ờ trên các thành bậc ờ tháp Chương Sơn mới chỉ ứm thấy một chiếc hình thang vuông (2,25m X 1,85m X
Trang 3733 s
bàn chân hướng thảng vổ phía trước, chân phải duỗi thảng ra sao, dùi và ống chân thảng, bàn chân cũng hướng về phía trước, mông nhô cao, thân neười quay nghiông vé oên phải và ngả lôn dùi trái, hai tay dữa ngang vai, khuỷu tay gập ngang gần 90 độ, bàn tay trái ngửa cầm búp sen mập, bàn lay phải ngửa gần 90 độ, đầu vũ nữ quay ngang vái thân minh và hơi nghiêng chéch vé phía trên Nói chung diệu múa này gần vđỉ vũ điôu của các nhạs công ở chùa Phật Tích.
v ể phục sức, các vũ nữ dổu đội vành mũ có kết hoa tròn, Tóc chài ngược ra phía trước uốn bổng lên đinh đảu rổi lật ra phía sau, duồi tóc giắt vào vành mũ, cổ deo vòng, cổ tay và báp tav cũng deo hai vòng kếp Xiồm gồm hai lớp: một lớp phù qua thân, một lớp lượn tròn trước bụng với nhiểu nếp sấp mềm mại cố trang trí hoa tròn (M H11)
+ Đá bó các tầng tháp: 16 tấm (M H13, 15, 17) loại đá này dể xây bó ờ
vị trí phân cách giữa các tầng tháp Loại dùng để bó ờ các góc thường có hình khối vuông, có hình chạm ờ hai mạt ngoài Loại dùng đổ bó ở các đoạn giữa thường có hình khối hộp chữ nhật và có hinh chạm ờ một mật ngoài
Đè tài chạm trôn các loại đá này là vũ nữ Khấc với cấc vũ nữ dược chạm ờ lan can, các vũ nữ ờ đây được chạm trong các ô vuông hoặc ô hĩnh chữ nhịt, mỗi ô cách nhau 3cm Diểm trên của mỗi ô chạm hình mấy trời, dìềm dưới chạm hình sóng nước Các vũ nữ từ hai bôn hướng mạt vào giữa, v é vũ điôu và phục sức của các vũ nữ này tương tự như các vũ nữ ờ lan can, nhưng
cố khác vài chi tiết như sau: thân hinh không ngả mà thảng dứng, một chân chống thảng xuống dưới, một chân co gập vé phía trước, đầu ngả gán vuông gốc với thán, hai ĩay cũng dưa ngang dầu nhưng không cẳm búp sen
Trong loại đá góc có 4 tấm chạm hai hoặc ba lớp cánh sen Dáng cánh sen-hơi mập lòng cánh sen có trang trí hinh hoa c á c đ l bị mờ,
Trang 38theo chiều dọc ô bôn phải rộng 1 lcm chạm nổi 5 vòng cúc dây nối liền nhau
qua 4 vòng trồn nhỏ Trong mỗi vòng cúc lớn có một bông cúc hoặc một bông
sen Trong mỗi vòng nhỏ có những hình người nhò đang múa ờ nhiều tư thế
khá sinh dộng
Ở bôn trái của mỗi phiến dá rộng 23cm chạm hai con rổng uốn trong
hai nửa hinh lá đẻ chổng lên nhau Khung bao quanh toàn bô các hình chạm
này ờ hai bôn là hình hoa sen, bên trên là mây trời, dưới là sổng nước
Trong loại đá này có một tấm có íới 4 ô phần theo chiểu dọc v ề hình
thức, bố cục và hoa vân thì tương tự như loại trên, chỉ có khác là số lượng ô
trang trí tảng lên cứ một ô chạm rồng lại xen một ố chạm hoa lá (MH 12, 15)
* Loại đá ghép tường hình ưòn: 4 tấm (MH19)
Cả 4 tám đểu tương tự như nhau vé kích thước và trang trí: mạt tròn
đường kính 42cm Mỗi tấm dều có phần chuôi ghép vào tữờng dài 41 cm
Trung tầm của mạt tròn là hình một con rồng Rồng có dáng chung như
rổng chùa Phật Tích, tháp Tường Long rong phần thân có phần dài hơn với 18
- 19 khúc uốn kiểu "thát miệng túi" lLựn thanh vòng tròn Bao quanh hình
rồng là m ột dữờng điềm tròn rộng 9cm chạm 16 bông cúc dây lượn đéu hinh
sin
Trang 39* Loại đá ghép tuờng hình lá đề: 12 chiốc
Dáng chung của loại dá này đéu cố dáng hĩnh lá đé Cao trung bình 14,5cm, rông is,5cm , Tất cả déu có phản chuôi dài 14.5cm đé gắn vào tường tháp Toàn bộ mạt ngoài các lá đé đều chạm nổi hình đôi rổng chầu Dáng rồng và b ố cục tữơng tự như các lá để chạm rổng ở các đi tích thời Lý nổi chung
+ Các loại đá ghép cửa tháp:
Đá ghép cửa tháp cố nhiẻu loại: mi cừa, trụ cửa, Yòm cùa, ch ln va thân cửa, mạt trôn cùa cừa Các loại đá náy ghép lại tạo thanh cửa tháp cố [linh vòm cuốn và tất cả đều chạm ờ mỊt ngoài
Đé tài chủ dạo trang trí cửa cuốn là hình rồng Các hinh rổ n s dều uốn lượn trong nừa hinh lá đề nối duôi nhao đối xứng đàn kín diềm cửa Khối đá ghép mật trôn cũng chạm dôi rồng chầu lá đẻ Minh ngọn lửa Riêng loại đá ghép mi cửa thì chạm hình hoa cúc
+• Chóp tháp dá: 1 chiếc
Chóp tháp có hình khối 5 cạnh, 2 tảng: tầng dưới để ươn, tầng trén chia làm 3 phin đổ trang trí: phản dưới cùng chạm rồng, phần giữa chạm hoa cóc, phần trôn cùng chạm hoa sen và một phần có thé là hình chun thần
+ Các loại đấu: (MH17)
Cố nhiéu loại đấu: đấu kô, đấu trang trí Đấu kê góc có chạm hình chim thần (Gamda.) dáng mập, mỏ to quặp, hai chân khuỳnh, hai tay dang rộng đỡ tầng tháp
Trang 40Nhiều đấu trôn có chạm tượng gần như ở Phật Tich nhưng ờ tháp
Chương Sơn các tượng này đểu bị gây cả
Ngoài các thành phần tiôu biểu trên dây, tháp Chương Sơn còn có nhiều hinh tượng trang trí khác trôn dá và trôn đất nung Trên đá dáng lưu ý có tuợng khỉ Dáng khỉ rất hiện thực: thân thon, đầu tròn, trán nhãn đang ngồi bó gối
Chạm trên vật liộu đất nung dáng lưu ý có hình phượng, và các tượng vịt Chim phượng có mỏ to, quăp, đẩu vươn cao, chần 4 mống, thân thon, bờm dài, phần đuôi to uốn hình sin ngược lên phía trên đầu
Hình vịt minh thon lin , cổ thu vể phía sau, mỏ hơi chếch, diêu ưỡn, hai chân khép sát mình, duồi lượn cong lôn phía trên
- Điêu khảc tượng thờ: (MH 23, 24)
Do tháp bị phá huỷ, pho tượng dã dược chuyển từ trên tháp xuống dạt thờ trong chùa Chương Sơn ờ dưới chân núi Tượng dang "toạ thiền” ưên bộ tượng Pho tượng còn khá nguyên vẹn cao 0,93cm, chỗ rộng nhất (ngang gối)
a 0,72cm v ế dáng chung tượng Phật ờ Chương Sơn khá gần gũi với tượng'h ật ở chùa Phật Tích cả vẻ tư thế lẫn y phục Tuy nhiên tượng cũng có dôi nét:hác biôt như thân hinh có phần mập hơn, khuôn mạt gầy hơn, lông máy :hông giao nhau, nếp áo cà sa cũng dơn giản hơn
Phần bô tượng đã bị vỡ một ít, nhưng về cấu trúc còn nguyên vẹn hơn tượng chùa Phật Tích: phần đài sen có ba lớp cánh thon dài, cánh sen nào
ng chạm một cặp rồng Lý; phần giữa còn nguyên khối tượng sư tử tươns tự '-T khối tượng dã rời ra tìm thấy ờ chùa Phật Tích , phần chân bê có chạm
g, cúi dây, sóng nước gần với bộ Phật Tích nhưng sóng nước ờ dâv có
g hình nói nhơ sóng nưoc chạm ờ ngoài chán tháp