Các tác giả Dự thảo BLHS này đã ihể hiện lại các điểu kiên để quy kết TNHS của pháp nhân mà PLHS nước Anh hiện tại đã thừa nhận: - Pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự cùng một tư cách như
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Báo cáo tổng k ết khoa học đ ể tài:
(Tài liêu này được chuẩn bị trên cơ sờ kết quả thực hiện Đề tài nghiên cứu cơ hản khoa
học Xã hôi & Nhân văn cấp ĐHQGHN, mã số )
HẢ NỘI, 2/ 2005
Trang 22 v ể lịch sừ TNHS của pháp nhân trong LHS các nước theo truyển thống common law
3 Pháp nhân với tư cách chủ thể chịu TNHS
4 Các tội phạm cụ thể có thể quy kết cho pháp nhân
5 Những điều kiộn quy kết TNHS đối vói pháp nhân
6 Hình phạt áp dụng với pháp nhân phạm tội
7 Kết luận
Chương II: NHỮNG VẤN ĐỂ c ơ BẢN VỂ TRÁCH NHIỆM HÌNỈI s ự CỦA PHÁP
NHÂN TRONG LUẬT HÌNH s ự CÁC NƯỚC THEO TRUYỂN t h ố n g c h â u â u LỤC ĐỊA
1 v ể lịch sử TNHS của pháp nhân trong LHS các nước châu Âu lục địa
2 Pháp nhân với tư cách chủ thể chịu TNHS
3 Các tội phạm cụ thể có thể quy kết cho pháp nhân
4 Những điều kiện quy kết TNHS đối với pháp nhân
5 Hình phạt áp dụng với phấp nhân phạm tội
6 Kếl luận
Chương III: NHỮNG VẤN ĐỂ c ơ BẢN VỂ TRÁCH NHIỆM HÌNH s ự CỦA PHÁP
NHÂN TRONG LUẬT HÌNH s ự TRUNG QUỐC
1 Vài nét về lịch sử vấn để
2 Pháp nhân với tư cách chủ thể chịu TNHS
3 Các tội phạm cụ thể có thể quy kết cho pháp nhân
4 Những điểu kiện quy kết TNHS đối với pháp nhân
5 Hình phạt áp dụng với pháp nhân phạm tội
6 Kết luận
Trang 3Chương IV: TRÁCH NHIỆM HÌNH s ự CỦA PHÁP NHÂN VÀ MÔ HÌNH LÝ LUẬN
CỦA NÓ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM TƯƠNG LAI
1 Sự tiến triển của Luật hình sự Viẹt Nam và vấn đề trách nhiộm hình sự cùa phápnhân
2 Sự cần thiết phải thiết lập chế định trách nhiệm hình sự cùa pháp nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam
3 Mô hình lý luận về trách nhiêm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Việl Nam tương lai
4 Kếl luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu khoa học
Pháp nhân có thể bị truy cứu TNHS về những tội phạm được thực hiện trong khuỏn khổ các hoạt động của pháp nhân hoặc vì lợi ích của pháp nhân không? Nói cách khác, pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hình sự không? Đó là vấn đề mà
từ thời La Mã cổ đại đến nay, hình như đã và đang là mối quan tâm sâu sác của các luật gia nhiều nước trên thế giới Mặc dù việc thừa nhận loại TNHS này tuy còn xa mới
có tiếng nói chung và có thể trong một thời gian dài nữa vẫn tổn tại hai trường phái đối lập nhau về nó Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lịch sử phát triển LHS ở các nước cho Ihấy: thừa nhận TNHS cùa pháp nhân là xu hướng phát triển chung
Tại châu Âu trước Cách mạng Pháp năm 1789, TNHS của pháp nhân đã được ghi nhận, nhưng sau đó đo ảnh hường của trường phái Khai sáng - Nhân đạo và phong trào cải cách PLHS cùng với sự ghi nhận nguyên tắc lỗi và nguyên tắc cá nhân hóa hình phạl trong luật ihực định đã dẫn tới việc không chấp nhận nguyên tắc TNHS cùa pháp nhân ở các nước tại châu lục này
Tuy thế, đến ngay giữa thế kỷ XIX, các nước trong Iruyền thống common law như Anh, Mỹ, Canada, Australia với chính sách hình sự mềm dẻo và rất thực dụng đã quay lại áp dụng chế độ TNHS của pháp nhân trong thực tiễn xét xử Còn ở châu Âu lục địa, một số nước vào nửa cuối thế kỷ XX cũng đã lại thiết lập nguyên tắc TNHS của pháp nhân trong luật thực định như: Hà Lan năm 1950 đối với các tội phạm kinh tế
và đến nãm 1976 đối với mọi tội phạm; Bồ Đào Nha năm 1982, Pháp 1994; Phần Lan nãm 1995, Vương quốc Bỉ năm 1999 Gần đây nhất là Thuỵ Sỹ với việc thông qua Luậl sửa dổi, bổ sung BLHS năm 2003 dã chính thức thừa nhận TNHS của pháp nhân
Hiện nay, chế định nguyên tắc TNHS của pháp nhân dược thiết lập không chỉ trong LHS ờ những nước trên mà nó còn được thừa nhận trong LHS của một số nước châu Mỹ Latin và châu Á như Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc
ở Viẹt Nam, từ lâu TNPL của pháp nhân đã được quy định trong lĩnh vực pháp luật dần sự, kinh tế và hành chính Tuy nhiên trong lĩnh vực hình sự, Irong cả hai lẩn pháp điển hoá với viộc ban hành I3LHS năm 1985 và 1999, nhà làm luật vẫn chỉ Irung thủy duy nhất với nguyên tắc truyền thống- nguyên tấc TNHS của cá nhân, mặc dù trong tờ trinh Quốc Hội vổ Dự án BLHS (sửa dổi) của Chính phủ ngày 9/4/1998 cổ đổ
Trang 6nghị thiết lập chế định TNHS của pháp nhân Quốc hội cho rằng: “Vđh dề này đối với
la còn mới, ý kiến còn khác nhau cđn được tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn, chưa thật chín Việc b ổ sung chỉ đặt ra khi có đủ diều kiện
Tnrớc những đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nói chung và của tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề lý luận
cơ bản vể TNHS nói chung và TNHS của pháp nhân nói riêng không chi có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý, mà còn có ý nghĩa khoa học thực tiễn quan trọng Nó thiết thực góp phần tiếp tục hoàn thiện BLHS, đảm bảo việc xử lý về hình sự triệt để hơn, công bằng hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của Nhà nước ta
Trong khi đó, TNHS của pháp nhân là một vấn đề mới trong khoa học pháp lý hình sự Viột Nam, chỉ được giới hình sự học bắt dầu quan tâm nghiên cứu trong quá trình soạn thảo Dự án BLHS mới2 Hiện nay TNHS của pháp nhân khồng được quan tâm nghiên cứu một cách thoả đáng, vẫn chưa có một cồng trình nghiên cứu nào làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có căn cứ, tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống về vấn
đề này
Trong bối cảnh như vậy, viộc nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu kinh nghiêm cùa nước ngoài trong hoạt động lập pháp hình sự quy định về chế định TNHS cùa pháp nhân là yêu cầu cần thiết và cấp bách
Nhận thức rõ điều đó, nêu Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho phép chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài nghiên cứu cơ bản Khoa học Xã hội & Nhân văn với tiêu
đề "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật hình sụ nước ngoài và mô hình
lý luận của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam tương lai”
2 Mục đích nghiên cứu
Luận chứng và xây đựng trong khoa học pháp lý Việt Nam hệ thống lý luận về vấn đề TNHS của pháp nhân, cung cấp cho nhà làm luật nước ta kinh nghiệm lập pháp hlnh sự cũng như những thành tựu tiến tiến và các thông tin mới nhất trong lĩnh vực
' Bộ Tư pháp Bản thuyết minh về dự án BLHS (sửa đổi), Hà Nội, tháng 2/1999, tr 5
2 Xem: Lê cảm Trách nhiệm hình sự của pháp nhân: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2000; Phạm Hồng Hải Pháp nhân có thê là chủ (hể của tội phạm hay không Tạp chí Luật học, số 6/1999
Trang 7này trong LHS của nhiều nước có nền pháp lý tiến tiến trên thế giới, đổng thời qua đó làm phong phú thêm kho tàng lý luận khoa học pháp lý hình sự Việt Nam.
3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu so sánh các vấn đề cơ bản về TNHS của pháp nhân trong LHS của nước ngoài, trong đó là các nước theo truyền thống common law như Anh, Canada, các nước theo truyền thống châu Âu lục địa như Pháp, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sỹ, và một số nước châu Á đã thiết lập chê' định này trong luật thực định như Trung Quốc
- Nghiên cứu đưa ra mô hình pháp lý về TNHS của pháp nhân trong PLHS Việt Nam trong tương lai
Tuy nhiên, xét về nội dung của đề tài vì tính chất đa dạng, phức tạp và nhiều khía cạnh của vấn để TNHS của pháp nhân trong LHS và cũng do thời gian nghiên cứu quá ngắn, kinh phí quá ít, cho nên trong quá trình thực hiện Đề lài tác giả cho rằng phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong những vấn đề nào mà theo quan điểm của các tác giả cho là chủ yếu và quan trọng hơn cả và tác giả cũng chỉ tập trung vào nghiên cứu nhũng nội dung như đã nêu trên
4 Cái mới về mặt khoa học của Đề tài NCKH
Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiôn trong khoa học pháp lý hình sự ờ Việt Nam về vấn đé TNHS của pháp nhân
Trong Để tài các tác giả đã cố gắng giải quyết về mặt lý luận mộl loạt những vấn đề của LHS về TNHS của pháp nhân và trỗn cơ sở đó đưa ra mô hình lý luận cùa chế định TNHS của pháp nhân trong LHS Viêt Nam trong tương lai
5.Thời gian và phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã được tác giả thực hiộn một cách khẩn trương từ tháng 7 năm 20003 đến nay Trong thời gian đó chúng tôi đã tìm cách tiếp cận và thu thập các nguồn vãn bản và tư liêu về pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Canada, Aurtralia, Pháp, Hà Lan, Bỉ Thụy Sỹ, Trung Quốc và nhiều nước khác trên thế giới và khảo cứu một khối lượng lớn các văn bản pháp luậl cũng như các nguồn tài liệu trong và ngoài nuớc bằng các Ihứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức
Trang 8Đẻ tài đuợe nghiên cứu dựa trẽn các thành quả của khoa học xã hội, của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phương pháp cụ thể được áp dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu là phương pháp luật học so sánh, đổng thời kết hợp với phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, hôi thảo để làm sáng tỏ về mặt lý luận những vấn đề nghiên cứu so sánh
cơ bản vể TNHS của pháp nhân
6 Kết quả nghiên cứu Đề tài:
6.1 Sẩn phẩm khoa học
- Một Báo cáo tổng hợp, một báo cáo tóm tắt và các báo cáo chuyên đề dày trên
100 trang khổ A4;
- Một sách chuyên khảo dày 150 trang;
- 10 bài báo được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
6.2 Sản phẩm đào tạo:
Các kết quả nghiên cứu của Đề tài dược công bố sẽ là:
- Nguồn tư liộu quý báu và quan trọng cho các nhà lập pháp sử dụng làm tài liêu
so sánh tham khảo trong hoạt động lập pháp hình sự nói chung và trong viộc xây dựng chế định TNHS của pháp nhân Irong LHS Việt Nam trong tương lai;
- Tài liêu tham khảo bổ ích Dhuc vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và giảng dạy, cũng như góp phần nâng cao hơn nữa các kiến Ihức hiên đại về LHS nói chung và LHS
so sánh nói riêng của các giảng viên, cán bộ nghiên cứu, cán bộ Ihực tiễn, cũng như sinh viên Đại học và Sau đại học của các cơ sở dào tạo luật ờ Viột Nam;
Hỗ trợ cho sinh viên và học viên sau đại học hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học luật, luận văn cao học và luận án của nghiên cứu sinh có liên quan tới nội dung nghiên cứu của đề tài;
- Được sử dụng để biên soạn giáo trình môn LHS so sánh cũng như chương nói
về chủ thể của tội phạm trong giáo trình LHS Phần chung cho sinh viên đại học và sau đại học của khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 9Chương I TRÁCH NHIỆM HÌNH s ự CỦA PHÁP NHÂN TRONG LUẬT
1 Đạt vấn đề
Pháp nhân có thể bị truy cứu TNHS về những tội phạm được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động của pháp nhân hoặc vì lợi ích của pháp nhân không? Nói cách khác, có cần thiết phải thiết lập chế định TNHS của pháp nhân trong LHS không?
Đó là vấn đề mà từ thời La Mã cổ đại đến nay đã và đang gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong giới khoa học LHS nhiều nước trên thế giới Hiộn nay, viộc thừa nhận TNHS của pháp nhân vẫn còn chưa có tiếng nói chung trong khoa học LHS và có thổ trong một thời gian dài nữa vẫn tồn tại những quan điểm đối lập nhau vể nó
■ Những người có quan điểm chống đối TNHS của pháp nhân cho rằng:
- Pháp nhân không thể là chủ thể của TNHS vì nó chỉ là một trừu tượng pháp lý (fiction juridique) không có trí tuệ, năng lực nhận thức, mong muốn cá nhân Trí tuệ, năng lực nhận Ihức, ý chí chỉ có ờ con người cụ thể bằng đa, bằng Ihịl và đang sồng
Do không phải là thực thể hữu hình, cho nên pháp nhân rõ ràng khổng thể tự mình trực tiếp thực hiện tội phạm cũng như biểu lộ sự cố ý hoặc vô ý phạm tội, nó không thể phạm lỗi ncn không thể bị quy kết TNHS
- Do bản chấl và chức năng của hình phạt hình sự nên nó không thể áp dụng đ- ược đối với pháp nhân, ví dụ như hình phạt tử hình và các hình phạl tước hoặc hạn chế quyền tự do
Chấp nhận TNHS cùa pháp nhân sẽ đẫn đến phủ nhận nguyên tắc cá thể hoá TNHS và hình phạt, có nghĩa sẽ dẫn tới viộc trừng trị không có sự phân biệt tất cả các thành viên của pháp nhân, trong đó bao gồm cả những người không mong muôn, không tham gia và cũng không biết gì về tội phạm của pháp nhân
■ Trong khi đó những người ủng hộ nguyên tắc TNHS của pháp nhân lại có những lý lẽ biện minh cho nguyên tắc này như sau:
J Com m on la w đư ợc nhiêu lá c g iả dịch là thông luật hoặc luật chung nhưng theo chúng tỏ i vẫn chưa
sá l vài nghĩa cù a thuật ngữ vì v ậ y tỏi nhất là vần g iữ nguyên thuật ngữ n ày bằng liếng Anh.
Trang 10- Theo học thuyết đương đại, các pháp nhân không phải đơn thuần là những trừu
tượng pháp lý mà nó là một thực tế pháp ỉý, chiếm một vị trí vồ cùng quan trọng trong
tổ chức xã hội của ioài người Pháp nhân có ý chí tập thể riêng biệt với ý chí của các thành viên của pháp nhân và được thể hiện qua trung gian bởi các cơ quan hoặc người đại diện của nó Thực tế cũng cho thấy lý thuyết về sự trừu tượng pháp lý của pháp nhân đã bị loại bỏ trong luật dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và như thế không có
lý do gì lại được duy trì trong LHS
- Nếu người ta không có thể áp dụng hình phạt tử hình hoặc các hình phạt tước quyền lự do đối với pháp nhân, thì có thể áp dụng các hình phạt khác như giải thể, đóng cửa các cơ sở của pháp nhân, cấm hoạt động trên một sô' lĩnh vực nhất định, phạt tiền, tịch thu tài sản
- Về quan điểm cho rằng trừng trị về hình sự đối với pháp nhân sẽ gây hại cho nguyên tắc cá thể hoá hình phạt Những nhà khoa học pháp lý ủng hộ nguyên tắc TNHS của pháp nhân lưu ý rằng TNDS hoặc TNHC của pháp nhân, tổ chức đã được thừa nhận lừ rất lâu Và rằng có sự tồn tại của những cơ chế cho phép bảo vộ các thành viên có tâm tính tốt trong pháp nhân, ví dụ, người đó có thể sử dụng quyén khiếu nại chống lại các cơ quan cùa pháp nhân
Sự phê phán của những người không ủng hộ TNHS của pháp nhân có sự nhầm lẫn
vể nguyên tắc cá thể hoá hình phạt Thực tế, tất cả các bản án của Toà án đều có thể gây ra những hậu quả cho người thứ ba vô can Bắt giam một người hoặc phạt họ với một hình phạt tiền nghiêm khắc có thể lấy đi của gia đình họ những khoản thu nhập, nhưng nó lại không hề gây hại cho nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, bởi vì bản án không trực tiếp chống lại các thành viên của gia dinh người bị kết án Bản án đối với một pháp nhân khác với bản án đối với các thành viên pháp nhân
Những cuộc tranh luận này có thể hình như về mặt lý thuyết và thực tiền dã dược vượt qua tại các nước theo truyền thống common law như Anh, Mỹ, Canada, Australia Na-Uy , khi Toà án các nước này đã chấp nhận nguyên tắc TNHS của pháp nhân rất sớm và hiện nay chế định TNHS của pháp nhân dã dược thiết lập và trcr thành một nguyên tắc cơ bản Irong LHS ờ mỗi nước Tuy nhiên, các cơ sờ lý ihuyết và cách Ihức thừa nhận và thiết lập nguyên tắc này cũng có sự khác nhau ờ mỗi quốc gia trong truyền ihống pháp luật này
Trang 112 Lịch sử chế định TNHS của pháp nhân trong LHS các nưổe theo truyền thống
common law
TNHS của pháp nhân được thừa nhận và lan toả khắp châu Âu cho đến ihời kỳ
Cách mạng Pháp 1789 Sau đó, do các nước xác lập nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
trong LHS, nên đẫn tới hệ quả không chỉ từ bỏ chế độ TNHS đối với hành vi của người
khác mà còn xoá bỏ cả nguyên tắc TNHS của pháp nhân
2.1 Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ XIX tại một số nước lớn trên thế giới trước hết
là nưởc Anh Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của Anh gắn liền với sự phát triển của
các Công ty, tập đoàn kinh tế lớn Vai trò của các tổ chức kinh tế này ngày càng lớn
mạnh khống chế các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hôi Chủ nghĩa tư bản độc quyền
hình thành, những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường bộc lộ sâu sắc Lợi nhuận
đã khiến các tổ chức kinh tế lớn này đưa ra những quyết định và thực hiện nhiều vụ áp
phe lớn mà hậu quả của nó là hàng loạt quan hệ xã hội quan trọng bị xâm phạm, các lợi
ích căn bản cùa xã hội và của những người tiêu dùng bị trà đạp, mà việc áp dụng các
chế tài pháp lý của các ngành luật như LDS, LHC đã không đủ sức ngăn chặn Bởi vậy,
xuất phát từ chính sách hình sự và những lý do khá thực dụng, các Toà án common law
của Anh đã áp dụng chế định TNHS của pháp nhân Nghiên cứu các án lệ của các Toà
án Anh liên quan tới TNHS của pháp nhân cho thấy, trong thời kỳ đầu, nguyên tắc này
được áp dụng với các trường hợp pháp nhân không thực hiên các nghĩa vụ thuộc vé
pháp nhân và vì lý do của sự không hành động này mà pháp nhân đã phạm một lội gáy
hại cho cộng đổng Việc buộc pháp nhân chịu trách nhiệm vể loại tội phạm này sẽ
không gặp khó khăn, vì phạm một tội như thế không đòi hỏi bằng chứng về lỗi (mens
rea), và cũng không đòi tội phạm phải được thực hiện bằng hình thức hành động4 Thời
gian sau dó, Irong một số vụ án, Toà án Anh đã tuyên phạt pháp nhân phải chịu TNHS
về các tội gây hại cho cộng đồng (regulatory offences or public welfare offcnces), cả
trong trường hợp hành động phạm tội vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây hại cho cộng
đồng5 Theo Leigh sự mở rộng TNHS của pháp nhân đối với loại tội phạm này là bởi sự
phái triển cùa trách nhiộm thay thế (vicarious liability) trong law of torts6 Từ đó bát
4I H Leigh, The Criminal Liability of Corporation s in English Law (1969)
SR V Great North of England Railway Company (1846) 9 Q.B 315
6Leigh, corporal ions,17
Trang 12đẩu sự phát triển quan trọng của chế định TNHS của pháp nhân trong LHS của nước
_ % 7
này
Năm 1880 trong phán quyết nổi tiếng của cùa mình đối với vụ án “The pharmaceutical Society.v.The London and Provincial Supply Association Ltd”8, ủ y ban phúc thẩm của Viện nguyên lão (House of Lords) Anh tuyên phạt một pháp nhân về tội
phỉ báng và bôi nhọ (defamatory libel) Trong đó, Lord Blacbum đã nhận định: 'Trong
một mức độ nhất định, tôi đồng ý là pháp nhân không thể phạm mội trọng lội, không thể bị phạt tù, nếu phạt tủ là loại hình phạt được luật quy định đối với trọng tội có liền quan Một pháp nhân không thể bị Ireo cổ hoặc bị phạt íử hình nếu hình phạt nliư vậy
là hình phạt cho trọng tội liên quan Nhưng, phạt tiền có thề buộc một pháp nhân phải chịu và pháp nhân này có thể trả tiền bồi thường thiệt hại vật chất Vì vậy, lôi hoàn toàn không đồng ỷ với quan điểm cho rằng một thực thể pháp lý được thành lập với mục đích phát hành báo chí, không thể bị xét xử và tuyên phạt một hình phạt tiền hoặc với quan điểm là một pháp nhân gây hại cho cộng đổng nhưng lại không thừa nhận pháp nhân này phạm tội gây thiệt hại đó hoặc một lội tương tự"
Một sự tiến triển quan trọng của nguyên tắc TNHS của pháp nhân được đánh dấu với sự hình thành của lý thuyết đồng nhất hóa mà nguồn gốc của nó được tìm thấy trong phán quyết đối với vụ án “Lennard’s Carrying Company Ltd V Asiatic Petroleum Company Ltd” năm 1915.9
Trên cơ sờ lý thuyết về đồng nhất hoá, thời gian sau đó các Toà án Anh đã Ihừa nhận TNHS của pháp nhân có thể được áp dụng đối với các tội phạm khác- các tội cần thoả mãn các dấu hiệu khách quan (aclus) và cả các dấu hiộu chủ quan (mens rea) chứ khồng chỉ đối với các tội theo chế độ trách nhiệm khách quan (strict liability) không cần có bằng chứng về lỗi
7 J R Spcnccr, La rcsponsabilité pénalc dans 1’entreprise en Angleteưe, Rev sc Crim (2) avr.-juin, 1997); J c Smith and B Ilogan, Criminal Law, 1996, 109
8 The pharmaceutical Society V The London and Provincial Supply Association Ltd (1880) 5 App Cas 857, 869, 870
9 L ennard’s Carrying C om pany Ltd V A siatic Petroleum C om pany Ltd.[(1915) A C 705Ị.
Trang 13Lý thuyết đổng nhất hoá cuối cùng đã được áp dụng thống nhất trong LHS nước
Anh từ năm 1971, kể từ khi có quyết định trong vụ án 'Tesco Supermarkets Ltd V
Nattrass" [Tesco Supermarkets Ltd V Nattrass"10.
Năm 1987, trong Dự thảo BLHS (Draft Criminal Code) ủ y ban cải cách LHS của
Anh đã thiết lập chế định TNHS của pháp nhân trong Mục 30 Các tác giả Dự thảo BLHS này đã ihể hiện lại các điểu kiên để quy kết TNHS của pháp nhân mà PLHS
nước Anh hiện tại đã thừa nhận:
- Pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự cùng một tư cách như đối với thể nhân
vé những tội phạm theo chế độ trách nhiêm tuyệt đối và trách nhiộm thay thế;
- Pháp nhân cũng phải chịu TNHS đối vói những tội phạm khác, nếu những tội
phạm này được Ihực hiện bởi một trong những người có trách nhiêm kiểm tra, giám sát
(controlling officer) hoạt động trong khuân khổ chức năng của pháp nhân với mức đổ
lỗi “mens rea” cần thiết
Từ Anh, TNHS của pháp nhân dần dần được tiếp thu trong các nước Ihuộc truyền
thống common law như: Mỹ, Canada, Australia, Na Uy
2.2 Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đứng trước tiến trình công nghiệp hoá đất nước, ngay vào cuối thế kỷ XIX, các Thẩm phán ở Hoa Kỳ đã theo trường phái Anh
thừa nhận: pháp nhân có thể bị trừng trị trôn phương diện hình sự về những loại tội
phạm không đòi hỏi yếu tố ý định phạm tội (Đạo luật hình sự Serman năm 1890 chống
các Tờrớt) Đến đầu thế kỷ XX, các Toà án Hoa Kỳ đã áp dụng TNHS đối với pháp
nhân phạm các loại tội có yếu tố ý định phạm tội Trong khuồn khổ TNHS vể tội phạm
này, chi có những hành vi (hành động hoặc không hành động) quản lý (the
corporation’s bain) mới có Ihể dẫn tới TNHS của pháp nhân Sau này, năm 1909 TATC
(Supreme Court) đã xác định những hành vi phạm tội của những cá nhân nhất định mới
có thể dẫn đến TNHS của pháp nhân Từ phán quyết này, TATC Hoa Kỳ đã thiết lập
một nguyên tác nền tảng của TNHS của pháp nhân và nó trở thành cơ sở cho tội phạm
hoá Irong luật Ihành văn ờ Mỹ
l0Tesco Supermarkets Ltd V Nallrass” fTesco Supermarkets Ltd V Nattrass (1972) A.c 705
Trang 14Bộ luật hình sự mẫu của Hoa Kỳ (Model Penal Code américain) được soạn thảo
từ năm 1962 bởi Viện Pháp luật Mỹ (Americain Law Institute) đã dự liệu các khả nãng truy cứu TNHS đối với pháp nhân, tổ chức
Đối với những tội chịu chế độ trách nhiộm tuyệt đối, BLHS mẫu đã quy định chế độ TNHS của pháp nhân được xây dựng dựa trên chế độ trách nhiêm đối với hành
vi của người khác
Liên quan tới các tội phạm đòi hỏi lỗi (mens rea), Bộ luật này chấp nhận áp dụng thuyết đổng nhất hoá như đã được phát triển và áp dụng tại Anh Điều 207( 1 )c
quy định: "A Corporation may be convicted o f the commission o f an offence if the
commission o f an offence was authorized, requested, commande, performed or recklessly tolerated by the board o f director or by high managerial agent acting in behalf o f the corporation within the scope o f his office or employment
Trong những năm gần đây TNHS của pháp nhân được mở rộng đối với những hành vi không tôn trọng những nghĩa vụ pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Trong PLHS hiện hành của Hoa Kỳ, về cơ bản, có bốn loại văn bản pháp luật ờ cấp độ Liên bang đề cập đến viộc đấu tranh chống hoạt động phi pháp của các tập doàn
bằng các chế tài pháp lý hình sự là: 1) Các đạo luật chống Tờrớt; 2) Các đạo luật chống
viộc quảng cáo giả dối; c) Các đạo luật chống các vi phạm trong các quan hê lao động
và; 3) Các đạo luậl chống các vi phạm về quyển tác giả và các quy định vể nhãn hiệu
hàng hóa Ngoài ra, TNHS của pháp nhân còn được quy định trong nhiều vãn bản pháp
luật khác ờ cấp độ liên bang Đặc biệt là Dạo luật về kiểm tra tình trạng phạm tội có tổ
chức (năm 1970) và Đạo luật vể tổ chức có tính chất tội phạm hoạt động thường
xuyên11
2.3 ở Canada, tiếp thu kinh nghiệm của các Tòa án Anh trong việc giải quyết vấn dề TNHS của pháp nhân, từ cuối thế kỷ XIX, thời điểm mà những tổ chức quan
trọng, đặc biệt là các công ty đường sắt ngày càng giữ một vai trò quan trọng về phư
ơng diộn kinh tế, các Toà án Canada tiến hành xử lý về hình sự đối với pháp nhân phạm
tội Thời kỳ đẩu, các cơ quan xél xừ chỉ trừng phạt pháp nhân phạm các lội xâm phạm
11 X em Lê c ả m , Trách n h iệm hình sự của pháp nhân- M ột số vấn đ ề lý luận và thực tién, 'l ạp
c h í Toà án nhân dân s ố 4 /2 0 0 0
Trang 15tài sản, liếp theo là các tội phạm gây hại cho cộng đồng như gây tiếng ổn, làm ô nhiễm môi trường sau đó tiến tới trừng phạt các pháp nhân thực hiện những tội phạm khác.Các Toà án Canada, trên cơ sở các phán quyết đối với từng vụ án một dần dần xây dựng nên chế định TNHS của pháp nhân trong LHS cùa nước mình Đáng chú ý nhất là phán quyết của Estey, Thẩm phán TATC trong vụ án “Canadian Dredge & Dock Co c La Reine” nãm 198512 Nó được coi là phán quyết quan trọng nhất trên lĩnh vực TNHS của pháp nhân Thẩm phán Estey, trong quyết định của mình đã nhấn mạnh sự cần ihiết của học thuyết về đổng nhất hoá (doctrine de l’identification) mà các Toà án Anh đang áp dụng.
Trong pháp luậi thực định, lần đầu tiên TNHS của pháp nhân được ghi nhận trong BLHS của Canada Điều 2 BLHS quy định các pháp nhân, các hội, các công ty, giáo sứ, hội đổng thị chính là chủ thể của TNHS
Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, Canada tiến hành cài cách PLHS Năm
1976, ủ y ban cài cách pháp luật của Canada đã đưa vấn đề TNHS của pháp nhân ra thảo luận và sau đó có những khuyến nghị có lợi cho chế định này Mười năm sau,
trong báo cáo có liêu đề "Về việc pháp điển hoá mới pháp luật hình sự" ủ y ban này dã
đề nghị pháp điển hoá trong ỉĩnh vực TNHS của pháp nhân
Sau đó vấn đề TNHS của pháp nhân được tiếp tục nghiên cứu bời một Tiểu han của ủ y ban Lhường trực về Tư pháp và các quyền con người của Nghị viện và Tiêu ban này đã đưa ra một khuyến nghị năm 1993
Tháng ố năm 1993, Bộ tư pháp Canada phát hành sách trắng (livre blartc) với
tiêu đề "Đé nghị sửa đổi BLHS (những nguyên lắc chung)", trong đó chứa đựng những
quy định liên quan tới TNHSPN Sách này không chỉ mô phỏng lại quy định về thuycì đổng nhất hoá được TATC Canada áp dụng mà còn đưa ra những đề nghị mới như việc thừa nhận tội phạm là hành vi tập thể của các cá nhân, vể mối quan hộ giữa lỗi của cá nhân với lỗi của pháp nhân, mở rộng phạm vi áp dụng thuyết dồng nhất hoá trong việc
Trang 16làm chết 26 công nhãn, ủ y ban điều tra sự việc do Thẩm phán K Peter Richard lãnh
đạo đã trình bày báo cáo tháng 11 năm 1997 với tiêu đề: "Lịch sử của Westray": "Một
thấm họa dự báo trước”.
ủ y ban này đã yêu cầu Chính phủ liên bang cần phải tiến hành một cuộc kiểm tra trách nhiệm của cán bộ và giám đốc nhà máy đối với những hành vi Irái pháp luật của các cá nhân và pháp nhân và đổng thời trình lên Nghị viộn những đẻ nghị sửa đổi cẩn thiết trong BLHS đến mức có thể buộc những người lãnh đạo pháp nhân và pháp nhân phải chịu TNHS về những vi phạm nghiêm trọng các quy định về an toàn lao động xảy ra trong tổ chức mình
Trước yêu cầu của ủ y ban điểu tra nêu trên và sau đó là của Tổng trưởng Công
tố viên bang Nouvelle-Écosse, Bộ trưởng bộ Tư pháp Canada đã chấp nhận nghiêng về vấn để TNHS của pháp nhân Khuyến nghị 73 đã cho phép trình bản kiến nghị và Dự
án luậl chứa đụng những quy định mới liên quan lới TNHS của pháp nhân
Sau một Ihời gian soạn thảo và chỉnh lý, ngày 13 tháng 6 năm 2003, Bộ trường
Bộ tư pháp Martin Cauchon đã trinh bày Dự án luật được biết đến dưới cái tên Dự án luật về Westray hay là Dự án luật C- 45, Luật sửa đổi BLHS Dự luật này được thông qua ngày 7 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực ngày 31 tháng 3 năm 2004
Luật sửa đổi BLHS (liên quan chủ yếu tới TNHS của pháp nhân) năm 2003 có những sửa đổi, bổ sung cơ bản sau:
Mở rộng chủ thể phải chịu TNHS, trong đó bao gồm tất cả các hiệp hội có cấu trúc và mục đích chung;
- Hiện đại hoá tiêu chuẩn người lãnh đạo “âme dirigeanle”, trong đó bao gồm các cán bộ cấp trên;
- Pháp điển hoá các quy định về TNHS đối với các pháp nhân và các tổ chứckhác;
- Thiết lập 10 yếu tố đòi hỏi Thẩm phán xét xử cần phải cân nhắc khi quyếtđịnh hình phạt;
- Nâng mức phạt tiền mà pháp nhân và các tổ chức khác phạm tội phải chịuđối với vụ án xét xử theo thủ tục tố tụng rút ngắn;
- Thiết lập những điểu kiện của biộn pháp thử thách tuỳ nghi đối với phápnhân và các tổ chức khác phạm tội;
Trang 17Nghĩa vụ của pháp nhân và các tổ chức khác áp dụng các biện pháp phòng
ngừa dối với ngưởi lao động
2.4 Đối với Australia: Là thuộc địa của Anh, nằm trong khối liên hiệp Anh, Australia dã tiếp nhận nhũng kinh nghiệm xét xử cũng như lập pháp hình sự của Anh
trong viộc xử lý TNHS đối với pháp nhân Năm 1995 Nghị viên Australia đã thông qua
BLHS mới Phần 12 dành riêng cho chế định TNHS của pháp nhân, đó là thành quả độc
đáo, tương thích vói nhũng nguyên tắc cơ bản của TNHS của pháp nhân, đặc biệt là
trong bối cảnh đậc biột phức tạp của các pháp nhân Dự thảo được xây dựng trên cơ sở
tham khảo các công trình khoa học mới đây của nhiều tác giả13 và dựa trên khái niộm
vãn hoá pháp nhân (culture corporative) được coi như là cơ sở TNHS của pháp nhãn
Khái niệm ý định phạm tội của pháp nhân (intention corporative) không chỉ giới hạn
bởi ý định phạm tội có tính chất cá nhân cùa các nhân viên, người lãnh đạo hoặc của
các Giám đốc pháp nhân, mà nó còn gắn với các chính sách thể hiện rõ ràng hoậc
ngầm định hướng cho các hoạt động của pháp nhân Phần 12 BLHS mới của Australia
quy kết cho pháp nhân tất cả các hành vi phạm tội của người làm công hoặc nhân viên
cùa nó, nếu pháp nhân cho phép họ thực hiện các hành vi đó Cũng như LHS của Hoa
Kỳ hoặc Canada, BLHS mới này đã tiếp thu các thuyết về trách nhiệm đối với hành vi
của người khác và thuyết đồng nhất hoá Tuy nhiên, Đạo luật này của Australia dã thực
hiện được một bước tiến quan trọng so với LHS các nước đang nghiên cứu trong việc
định nghĩa khái niệm lỗi pháp nhân, Đối với vấh đề này, khái niộm vãn hoá pháp nhân
đã tác động trực tiếp vào việc thực hiện tội phạm là một khái niệm rấl hấp dẫn, rấl mới
Nó rấl có ý nghĩa nhất là xác định TNHS liên quan tới thực thể kinh tế rất lớn (các
công ty hoặc tập đoàn kinh tế lớn), tức là cần xác định được cái gì là môi trường, các
sức ép về tổ chức, tâm tính bao quanh pháp nhân có thể thúc đẩy việc thực hiện tội
phạm Khái niêm văn hoá pháp nhân cho phép Toà án quy kết TNHS đối với pháp
nhân, mặc dù không xác định được lỗi của cá nhân cụ thể có thể đổng nhất hoá với lỗi
của pháp nhân Như vậy, quan niệm về văn hoá pháp nhân là câu trả lời độc đáo đối với
15Xem B Fisse, Corporate Criminal Responsibility (1991) 15 Crim L.J 166; R N Purvis,
Corporate Crime, Buttcnvorth, Sydney, 1979
Trang 18những chi trích của nhiổu luật gia cắc nuớc theo truyén thống common law vể tính chặt chẽ của thuyết đổng nhất hoá mà các Toà án nước Anh đang áp dụng.
3 Pháp nhàn vớỉ tư cách là chủ thể của TNHS
3.1 Nghiên cứu pháp luật của Anhu cho thấy thực thể có tư cách pháp nhân trong Luật của Anh có thể là một tổ chức hoặc cá thể: Thực thể cá thể (corporation sol) chỉ có một thành viên và những người kế thừa thành viên đó Thực thể tổ chức liên kết
"corporation agregate" là các công ty đăng ký theo luật Công ty 1985 (Companies
Acts), bao gổm Công ty TNHH cổ phần (company limited by shares); Công ty bảo chứng (company limited by guarantee); Công ty trách nhiêm vô hạn (unlimited
company) Hầu hết các công ty này là theo hình thức hợp nhất và vì thế nó có tư cách
pháp nhân khác với tư cách pháp nhân của các thành viên cổng ty Một cổng ty có thể
được thành lập theo hai hình Ihức: công ty tư nhân hoặc công ty công Theo LI IS của
Anh, tất cả các công ty nêu trên đều có thể là chủ thể của TNHS, túc là nó có thể phạm
tội và phải chịu TNHS
Với Luật giải thích các đạo luật năm 1978 (Interpretation Act) cùa Anh, mà
theo đó, khái niộm “person” bao gồm cả tổng thể những cá nhân liên kết với nhau mặc
dù những nhóm, hội hoặc hiệp hội đó (unicorporated association) trong thực tế không
có tư cách pháp nhân, tức là nó không có khả năng hưởng các quyển và gánh vác các
nghĩa vụ pháp lý nhất định Những nhóm, hội, hiệp hội này theo luật hình sự của Anh
vẫn có thể coi là chủ thể của TNHS nếu phạm tội
Như vậy, trong LHS Anh, pháp nhân với tư cách là chủ thể của TNHS có Ihể !à
những thực thể tổ chức hoặc thực thể cá thể có tư cách pháp nhân, nhưng cũng có thể là
các nhóm, hội, hiệp hội không có tư cách pháp nhân
3.2 Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, căn cứ vào Điều 207 BLHS mẫu năm 1962
của Mỹ, thì không chỉ có các tập đoàn - các pháp nhân, mà cả các hiệp hội không có
tính chất tập đoàn - các tổ chức được thành lập bời Chính phủ hoặc được thành lập với
,4Haìsbury's law o f England, vol 9; Drois anglais, sous la direction de J A Jolowicz, Éd
Dalloz, Paris, 1992, p 251 el s.
Trang 19tính chất là một cơ quan của Chính phủ để thực hiện chương trình của Chính phủ, đều
có thể không phải là pháp nhân, ví dụ như: cổng ty tư nhân và công ty hợp danh khồng được coi là pháp nhân Khái niệm tổ chức được hiểu theo nghĩa rộng hơn
về đối tượng so với khái niệm pháp nhân, bao gổm bất kỳ một th ể nhân, một hội,
một tập đoàn, một liên hiệp hay một pháp nhân khác, cũng như bất kỳ một hiệp hội hay một nhóm người nào thực t ể có liên quan với nhau (mặc dù không lạo thành một pháp nhân).
3.3 Kết quả nghiên cứu PLHS Canada cho thấy, trước khi có Luậl sửa dổi BLHS năm 2003, Điểu 2 BLHS dã quy định những Ihuật ngữ "người nàn ", "cá nhân
"người" và "chủ sở hữuả' bao gồm cả các pháp nhân, các hội, các công tỵ, giáo sứ, hội
đồng thị chính.
Luật sửa đổi, bổ sung BLHS chỉ đề cập đến TNHS của pháp nhân và không thay
đổi những quy định vể TNHS của cá nhân Luật này không chỉ tập hợp hoá các quy
định vể TNHS pháp nhân dang có hiộu lực thi hành mà đồng Ihời còn hiộn đại hoá nó
'5Bộ luật hình sự (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) (Dịch lừ tiếng Anh và hiẹu dính cùa TSKH tuâl, GS
N hikiíôrôv B x ) NX B Sách pháp lý Maxcơva, 1969 (tiếng Nga); N hikifôrôv B x, R cstnhikôv A.M
Luậl hình sự Mỹ dương đại NXB Sách pháp lý Maxcơva, 1990 Ir.26 (liếng Nga) (trích theo PGS
TSKH LẺ Cảm Irong bằi Trách nhiệm hình sự của pháp nhân- Mộl sô vấn dể lý luận và Ihưc tiòn, I ap
chíToà án nhan dan sổ 4/2000)
“ Pháp luạt Ihuơng mại của Mỹ hiện hành phân chia các Công ly (loại hình pháp nhan chù yếu) Iheo 2
dạng: Công ly công và Công ly lư: "Công ly tư là Công ly dược thành iập vì mục dích cá nhan Còn
Công ly công ílược hiểu như là Công ly Ihành lạp cho mội cấp chính quyẻn nào dó cùa quốc gia hoăc là
vì lợi ích công cộng, xem Backrofl-Whilney Co., Nature of a Corporation A (lapted Summary of
American Law, California 1974 Page, 538.
Trang 20nhằm giải quyết có hiệu quả vấn dể TNHS liên quan tới đến tính phức tạp càng tăng lên của các thực thể có tổ chức trong xã hội.
Theo Điều 2 BLHS sửa đổi, chủ thể của TNHS pháp nhân bao gổm:
a/ Đoàn thể công lập, pháp nhân, hội, cõng ty, hõi công-nhân, xí nghiộp, hiộp đoàn chuyên nghiệp hoặc hội đổng thị chính;
b/ Hiệp hội mà đổng thời:
i được thành lập vì mục đích chung;
ii có cơ cấu tổ chức riêng;
iii dược quảng bá công khai như là một tổng hội cộng-nhân
Như vậy, chủ thể của TNHS của pháp nhân theo quy định Irôn là rất rộng, nó có thể là các tổ chức xã hội - nghể nghiệp, các tổ chức, đảng phái chính trị, các nhóm, các pháp nhân, các công ty, xí nghiộp, các nghiệp đoàn, các đoàn thể công lập, hội đổng thị chính tỉnh, khu, quận, công xã
Khái niệm chủ thể của TNHS của pháp nhân nêu trên bao gổm cả tổng thể những cá nhân liên kết với nhau, mặc dù những nhóm, hội hoặc hiêp hội đó (unicorporated association) trong thực tế không có tư cách pháp nhân, tức là nó không
có khả năng hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ pháp lý nhất định Những nhóm, hội, hiộp hội này vẫn có thể coi là chủ thể của TNHS của pháp nhân nếu phạm
Tóm lai: Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật và ihực tiền xcl xử của các
nước theo truyền thống thông luật cho thấy quan niộm về chủ thể chịu TNHS của pháp nhân là rất rộng Pháp nhân, tổ chức với tư cách là chủ thể của TNHS có thể là những thực thể tổ chức hoặc thực thể cá thể có tư cách pháp nhân (corporations), nhưng cũng
có thể là các nhóm, hội, hiệp hội không có tư cách pháp nhân Chủ thể chịu TNHS cùa pháp nhân không chỉ là những pháp nhân, tổ chức theo luật tư mà còn bao gồm cả những pháp nhân, tổ chức theo luật công phạm tội (các pháp nhân theo luật công hoặc luật tư- như cách phân biệt theo hệ thống civil law)
4 Các tội phạm cụ thể có thể quy kết cho pháp nhân
Pháp nhân có thể bị truy cứu TNHS vể những loại tội phạm nào?
Thông thường, đối với những tội phạm theo đúng nghĩa được cấu thành hời hai yếu tố cần thiết irước tiên: yc'u tố khách quan (actus reus) và yếu tố chù quan- lỗi
Trang 21(mens rea) Thế nhưng, trong luật của các nước theo truyền thống Common Law lại có những tội phạm theo chế độ trách nhiêm tuyệt đối - hay còn gọi là Irách nhiôm khách quan (strict liability) và các tội phạm theo chê' độ trách nhiệm về hành vi của người khác - hay còn gọi là trách nhiệm thay thế (vicarious liability).
4.1 TNHS của pháp nhân trong khuôn khổ trách nhiệm khách quan (strict liability) hoặc trong khuôn khổ ừúch nhiệm thay thế (vicarious Imbility):
- "Strict liability", đó là TNHS khách quan không có ý định phạm tội (mens
rea) Đây là chế định đặc biột trong LHS của Anh, Hoa Kỳ, ú c , Canada và một sô' nước khác theo truyền thống thông luật, được áp dụng đối với cả pháp nhân và thể nhân phạm tội Trong khi, trong common law chỉ có một vài tội phạm dựa trên chế độ TNHS khách quan, thì ngược lại phạm vi áp đụng nó được mờ rộng trong luật thành văn (statute law)
- "Vicarious liability" là trách nhiệm pháp lý của một người vể hành vi phạm
tội của người khấc thường đó là người làm thuê nhưng đồi khi cũng là người ký hợp đồng hay người đại lý độc lập mặc dù người chịu trách nhiộm không phải là người có lỗi Một người chủ chịu trách nhiộm thay cho các nhân viên của mình khi ông ta ra lệnh hay cho phép họ hành động sai trái hay khi hành vi sai phạm xảy ra trong quá trình làm việc của các nhân viên cấp dưới
4.2 TNHS của pháp nhân đối với các tội phạm đòi hỏi dấu hiệu lỗi (mens rea):
Thông thường tội phạm chỉ có thể được cấu thành nếu tồn tại đổng thời hành vi khách quan và lỗi và hai yếu tố này tạo thành một thể thống nhất với nhau Lỗi (mens rca) có thể là ý định phạm tội hoặc lõi vô ý, được quy kết cho chủ Ihể thực hiện tội phạm - người khả năng nhận thức và khả nãng điều khiển hành vi của mình Một câu hỏi được đặt ra là một pháp nhân có thể phạm một tội đòi hỏi yếu tố lỗi (mens rea) không?
Trong thực tiễn xét xử của Toà án các nước đang nghiên cứu thì TNHS của pháp nhân được áp dụng cho mọi loại tội phạm Irong common law hoặc luật thành văn (statute law) trong đó bao gồm cả các tội được thực hiện bằng ý định phạm tội, vô ý cẩu thả hay khinh xuất, trừ mộl số Irường hợp ngoại lệ sau mà TNHS của pháp nhân không đặt ra trong LHS nước Anh, đó là:
Trang 22- Những tội phạm nghiêm trọng bị trừng phạt bởi hình phạt tù hoặc hình phạt
tử hình và khổng phải là hình phạt tiền;
- Một số loại tội phạm khác vì bản chấl của nó, nên pháp nhân không thể thực hiộn được như: Tội vi phạm chế độ một vợ một chổng (bigamy offence); lội cưỡng dâm (rape offence) được quy định trong Luật quy định các tội phạm vể tình dục [Sccxual offences (Amendment) Act 1976]; các tội được quy định trong Mục 58 của Luật quy định về các tội phạm chống lại con người [Offences against the person Act 1861] mà theo quy định tại Mục này cho phép trừng trị hành vi tiêu dùng sản phẩm nhằm mục đích làm xảy thai(2); tôi phạm khai gian trước toà [perjury offence] theo Mục 1(1) của Luật về tội khai gian trước toà năm 1911 (perjury Act) Ngoài các tội này ra theo Leigh17 thì những trọng tội buộc trong mặt khách quan có hành vi dùng bạo lực (các tội phạm bạo lực) là một trong những tội thuộc phạm trù đầu tiên mà các Toà án loại trừ rõ ràng ra khỏi phạm vi áp dụng TNHS của pháp nhân
Tóm lai: Theo thực tiễn xét xử của các Toà án và pháp luật thành văn trong các
nước theo truyền thống common law thì về nguyên tắc TNHS của pháp nhân được áp dụng cho mọi loại tội phạm, dù nó là loại tội phạm theo chế dạ trách nhiệm khách quan (strict liability) hoặc trong khuân khổ trách nhiộm thay thế (vicarious liability), hoặc các loại tội phạm đòi hỏi yếu tố lỗi (mens rea), trừ một số tội phạm mà theo Luật của Anh không áp dụng chế độ TNHS của pháp nhân như đã nêu trên
Quy định này tương tự như Điều 51 BLHS Hà Lan và Điều 5 của BLHS
Bỉ, nhưng so với quy định trong LHS của Pháp và cùa Trung Quốc thì phạm vi áp dụng TNHS đối với các tội phạm được quy định trong LHS các nước theo truyền thống com m on law là rộng hơn nhiều Điểu 121-2 BLHS mới cùa Pháp quy định: Pháp nhân chỉ chịu TNHS về những trường hợp mà luật hoặc nghị định có quy định Điểu 30 BLHS năm 1997 của Trung quốc cũng quy dịnh iưưng lự như liên
5 Các điều kiện áp dụng TNHS đối với pháp nhân
Các Toà án common law đã chấp nhận quan điểm mà theo nó cần thiết giữ lại TNHS pháp nhân (corporation) Tuy nhiên, những cơ sở lý luân và cách thức thừa nhận
17 Leigh, Corporation, p 59.
Trang 23loại trách nhiêm này ở mỗi nước có sự khác nhau Nghiên cứu cho thấy trong các nước theo truyển thống common law, có hai lý thuyết quan Irọng và là chù yếu được áp dụng cho phép quy kết TNHS đối với pháp nhân:
5.Ỉ Trách nhiệm đối với hành vi của người khác (respondeat superior)
Theo trường phái trách nhiệm đối với hành vi của người khác thì một người có thể bị chịu trách nhiệm về các hành vi của người khác Áp đụng đối với pháp nhân, ]ý thuyết này cho phép tính tới trách nhiộm cùa tổ chức về những hành vi của các thnàh viên của pháp nhân, tổ chức Trường phái này được phát triển cổ nguổn gốc từ lĩnh vực trách nhiệm dân sự, được áp dụng trong lĩnh vực hình sự chủ yếu là đối với các tội phạm chịu trách nhiệm tuyột đối
Một trong những luận điểm chê trách thuyết này là vì nó vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi cá nhân, bởi vì lỗi của một người lại bị quy kết mội cách tự động cho người khác, mặc dù không có lỗi cá nhân từ phía họ
Trong thực tế, thuyết này được áp đụng rất chặt chẽ, nó đòi hỏi mối quan hê lê thuộc giữa người chù chủ và người lao động đã thực hiên tội phạm dể xác định TNHS đối với người chủ (người sử dụng lao dộng)
Hiện nay, lý thuyết TNHS đối với hành vi của người khác còn được áp dụng bởi các Toà án Anh và Mỹ,18 nhưng bị loại bỏ bởi thực tiễn xél xử ờ Canada và một số nước khác như là cơ sở cùa W H S pháp nhân, nhất là liên quan tới các tội phạm dõi hỏi yếu tố lỗi.19 Trong quyếl định vụ án “Min đe F Emploi et de Immigration c.Bhatnager” năm 1990.20 TATC của Canada đã chỉ rõ là việc áp dụng trường phái trách nhiệm Irên
cở sở hành vi của người khác trong LHS là đối lập với các nguyên tắc cơ bản của nền
tư pháp dân chủ
5.2 Lý thuyết về sự đồng nhất hoá
Từ gần một thế kỷ nay các Toà án Anh đã xây dựng TNHS của pháp nhân trôn nền tảng lý thuyết đồng nhất hoá Ngày nay lý thuyết về đổng nhất hoá được áp dụng
để quy kết TNHS đối với pháp nhân ở lất cả các nước theo truyền thống common law.
'* Egan V u s (1943), 137 F2d 369 (filh Cir C.A); u s V Basic Construction (1983), 7 I 1 F 2d
570 (5,h Cir C.A)
191’aưêt “Canadian Dredge & Dock Co.c La reine (1985) I R.c.s 662)
30 MÙI de r Emploi et de Immigration c.Bhatnager (1990) 2 R.C.S217.
Trang 24Theo nguyên tắc này, các pháp nhân phải chịu TNHS về những hành vi phạm tội dược thực hiộn bởi những người có vị trí lãnh đạo trong pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân
đó Những người này phải hành động hoặc không hành động trong khuân khổ các quyền hạn hoặc chức năng của mình Hành vi của pháp nhân được thực hiộn thông qua
"một hay nhiều người có trách nhiêm kiểm tra viộc tập đoàn thực hiên các quyển cùa
họ như thế nào Và chính một hay nhiều người này làm việc dể thực hiện các quyền ấy
Điều này đã được lý giải ờ chỗ: ý chí và những dự định của cơ quan điểu hành hoạt
động của tập đoàn (ban giám đốc), hội đồng quản trị hay bản Ihân giám đốc, cũng chính là những người kiểm tra hoạt động của tập đoàn viên, tập đoàn phải chịu trách nhiộm trực tiếp về hành vi của những người kiểm tra".2/
Trong bối cảnh này, TNHS của pháp nhân, cũng như đối với các cá nhân, là trực tiếp và thực sự không phát sinh từ việc áp dụng lý thuyết về trách nhiệm dôi với hành vi của người khác
Như trên đã trình bày, lý thuyết về đổng nhất hoá có nguồn gốc từ phán quyết trong vụ án điển hình (leading case) “Lennard’s Carrying Company Ltd V Asiatic Petroleum Company Ltd” năm 1915.22 Viộn nguycn lão (House of Lords) trong khi xử
ỉý vụ án này đã cho rằng một số người chủ yếu có quyền quyết định trong pháp nhân được đổng nhất hoá với pháp nhân lới mức các hành vi mà họ thực hiộn vì lợi ích của pháp nhân luôn luôn được đánh giá như là các hành vi của pháp nhân Toàn bộ yếu tố lỗi thuộc về những người này cũng được coi là của pháp nhân
Như thế, trên cơ sở lý thuyết này, các Toà án Anh đã chấp nhận áp dụng TNHS của pháp nhân đối với các tội đòi hỏi thoả mãn đồng thời các yếu lố k h ách quan và chủ quan (actus và mens rea), chứ không chỉ đối với các tội theo chế độ trách nhiêm khách quan không cần có bằng chứng về lỗi (strict liability) Sau dó, trong vụ án ’’Mousell Brothers Ltd.v London and North- Western Raiway Company" Toà án tiếp tục khẳng định pháp nhân chi có thể hành động thông qua nhân viên và những người giúp việc
21 X em Lê c à m , Trách n h iệm hình sự của pháp nhAn- M ột số vấn đ ề lý luân và (hực tiễn, Tạp
ch í Toà án nhân dan s ố 4 /2 0 0 0
2?L ennard’s Carrying C om pany Lid V A siatic Petroleum C om pany L td [(1 9 1 5 ) A c 7 ( )5 |.
Trang 25của mình Hành động và ý định phạm tội của những người này là hành động và ý định
phạm tội của pháp nhán.23
Trong hai quyết định nãm 194424 Toà phúc thẩm hình sự, xác định thuyết đổng
nhất hoá được áp dụng trong lĩnh vực hình sự khi tuyên phạt hai công ly vỏ danh về
hành vi gian lận mà nhũng người lãnh đạo của nó - những người cũng bị trừng phạt vể
hình sự trong hai vụ án này
Năm 1957, trong phần nhận định về vụ án "H.L Bolton (Eningeering) Company
Ltd V T J Graham &Son Ltd"2Ị Lord Denning đã so sánh công ty với cá nhân như
sau: "Một cống ty có thể, với nhiều danh nghĩa, được so sánh với con người Nó có bộ
não, cổ trung tâm thần kinh, kiểm tra những gì nó làm Nó cũng cỗ tay đ ể cẩm công cụ
và hành động theo các mệnh lệnh cùa hệ thẩn kinh trung ương Kết luận này sau đó được Lord Willmer, Thẩm phán Toà án phúc thẩm (Court of Appeal) viện dẫn trong vụ
án “Artur Guiness, Son& Company (Dublin) Ltd.v The Freshfield (owners), The
“Lady Gưendoler) nãm 1965” và vụ án “John Henshall (Quarries) Ltd.v Harvey nãm 1965”, John Henshall (Quarries) Ltd.v Harvey năm 1965
Lý thuyết đổng nhất hoá cuối cùng đã được áp đụng thống nhấl trong trong
LHS Anh từ năm 1971, kể từ khi có quyết định của Lord Reid trong vụ án 'T esco
Supermarkets Ltd V Naltrass" ỊTesco Supermarkets Lid V Nattrass".26 Trong phán
quyết này, Lord Reid đã giải thích thuyết đồng nhất hoá trong viẽc phân biột sự khác nhau giữa các cá nhân- những người có tinh thần và có tay để thực hiộn ý định của mình và các pháp nhân không có những khả năng đó Sau đó, Lord Reid giải thích là trong một số vụ án, có thể nói rằng cá nhân là sự hóa thân của công ty Công ty nghe, nói qua cá nhân của công ty, trong khuôn khổ thẩm quyền của nó, và tinh thần của nó
là tinh Ihần của cồng ly Nếu là linh thần lội lỗi, thì lỗi này thuộc về công ty
” (2 0 ) M ou sell Brothers Ltd V L ondon and North - W estern R aiw ay C om pany (1 9 1 7 ) 2 K.R
836,841
24 ỈCR Haulage í ỉ 944Ị KB 55/ , DPP V Ken! a n d Sussex Contractors 1 1 9 4 4 ] KB Ỉ46.
25 ỈỈ.L Bolton (Eningeering) Company Ltd V T.J Graham &Son Ltd (1957) Ỉ.Q.B 159,172.
26 Tesco Supermarkets Ltd V Naflrass 1972) A.c 705.
Trang 26Ở Anh hiện nay, lý thuyết đổng nhất hoá đòi hỏi duy nhất người lãnh đạo,
chính người này nắm giữ vai trò trung tâm của tổ chức mới hội tụ dầy dù các yếu tô cần thiết của lỗi và như vậy tội phạm họ thực hiên mới có thể quy kết được cho pháp nhân Các Toà án Anh không chấp nhận quan điểm cộng các lỗi nhỏ của một loạt ngưởi bên trong pháp nhãn để làm một lỗi nậng hơn cố thể buộc pháp nhân phải gánh chịu
Năm 1987 trong Dự thảo BLHS, vấn đề TNHS của pháp nhân được giải quyết tại Mục 30,27 trong đó quy định:
- Mộl pháp nhân chịu TNHS với cùng một tư cách như đối với thể nhân về những tội phạm chịu chế độ trách nhiệm thay thế và trách nhiệm tuyột đối [Mục 30(1)]
- Một pháp nhân chịu TNHS về những tội phạm khác nếu những tội phạm này được Ihực hiộn bởi một trong những “controlling officer”, người hành động Irong khuân khổ chức nãng của pháp nhân với mức độ mens rea đòi hỏi [Mục 30(2)]
Lý thuyếl về đổng nhất hoá xuất phát từ thực tiễn xét xử của Anh như đã nêu trên
đã được tiếp nhận ở lất cả các nước trong truyền thống common law để xử lý vấn đề TNHS của pháp nhân
Tuy nhiên, trong thực tiễn xử lý vấn đề TNHS của pháp nhân trong các nước này
đã nẩy sinh những vướng mắc nhất định mà chủ yếu tập trung vào viộc nghiên cứu trong lừng vụ án cụ ihể nhằm xác định ai trong pháp nhân đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm có thể là người lãnh đạo của công ty, tức là người đại diộn của pháp nhân
Theo thực tiễn xét xử của Toà án và theo Mục 30 Dự thảo BLHS của Anh thì một pháp nhân chịu TNHS vể những tội phạm decontrolling officer”, thực hiện trong khuãn khổ chức năng của pháp nhân và hội tụ các yếu tô' của lỗi trong chính bản thân người này ((Mục 30 (2)}
"Controlling officer" ờ đây được hiểu là tất cả những người được pháp nhân giao
thẩm quyển kiểm tra, giám sát với tư cách là "director manager", "secretary" hoặc
"officer ” khác đảm nhận chức năng tương tự [(Mục 30 (3) (a)].
27 v ể bình luân Mục 30 Dự thào BLHS, xem Law Commission No 177, vol 2, pp 213 216.
Trang 27"Controlling officer", trong khuân khổ chức năng của mình, cần phải:
- hành dộng với tư cách của “controlling officer” chứ không phải tư cách cánhãn;
- nếu người này hành động với tư cách là người được ủy quyển, họ phải phạm một tôí trong khuân khổ các chức năng mà họ đã được ủy quyền;
- họ không được hành động với mục đích gây thiột hại cho pháp nhân
Tại Hoa Kỳ, trong thực tiễn xét xử cho thấy pháp nhân có thể bị chịu trách nhiộm khổng chỉ về những hành vi phạm tội của cán bộ quản lý trong khuôn khổ chức năng cùa pháp nhân mà nó được mờ rộng hơn rất nhiểu dựa trên một phán quyết của
Toà án tối cao (Supreme Court) nãm 1909: “Anything done or omitted to be done by a
corporation which, if done or omitted to be done by any director or officer thereof,
or any receiver, trustee, lessee, agent or person acting fo r or employed by such corporation shall also be held to be a misdemeanor committed by such corporation, and upon conviction thereof it shall be subject to like penalties ".28
BLHS mẫu của Hoa Kỳ không chỉ thừa nhận thuyết đổng nhất hoá, mà còn có
sự thừa nhận ngầm là hành vi khách quan (aclus reus) và lỗi (mens rea) của tội phạm
có thể là vụ việc của hai người khác nhau, chứ nhất thiết không cứ phải hội tụ Irong một người
Năm 1970 Toà án tối cao đã áp dụng TNHS của pháp nhân với các trường hợp
không hành động của người cấp dưới: "ỉn providing sanctions which reach and touch
the individuals who execute the corporate mision the Federal Food, Drug and Cosmetics Act imposes not only a positive duty to seek out and remedy violations when they occur but also, andpromarily, a duty to implement measures (hat will insure that violations when not occur The requirement o f foresight and vigilance imposed on responsible corporate agents are beyond question demending, and perhaps onerous, but they are not more stringent than the public has a right to expect o f those who voluntary assume positions o f authority in business enterprises ” 29
28 New York Cent Hudson River R R V IJ s , 212 U.S 481 495 (1909).
29 U.S V Park.421 U.S 658 (1975)
Trang 28Theo PGS TSKH Lê Cảm, nghiên cứu các quy định của PLHS Hoa Kỳ ờ cấp
độ liên bang cho thấy, trừ những trường hợp được quy định trực tiếp trong luật ra, nói chung pháp nhân, tổ chức phải chịu TNHS trong những trường hợp sau:
- Khi tổ chức khổng thực hiộn các nghĩa vụ do pháp luật quy định cho tổ chức
phải thực hiện;
- Khi người đại diện có thắm quyển của tổ chức thay mặt cho nó thực hiện hành vi trong giới hạn các chức năng của mình vì lợi ích của tổ chức, nhưng hành vi đó
do sự sơ xuất đã dẫn đến vi phạm điều cấm của LHS;
- Hành vi đó được người đại diộn có thẩm quyền thực hiộn vì lợi ích cùa tổ chức không đáp ứng được các yêu cầu được đặt ra, nhưng đã được pháp nhân, tổ chức nhất trí hoặc phê ch uẩn.30
Còn ờ Canada, trong quyết định quan trọng “Canadian Dredge & Dock Co.c La Reine’ năm 1985,31 TATC đã chấp nhận thuyết đồng nhất hoá để thiết lạp TNHS của pháp nhân, nhưng lại có những điều chình nhất định
Trong khi thừa nhận cơ sờ lý thuyết này của người Anh, Thẩm phán Estey xél
xử vụ án này đã mở rộng phạm vi những người mà hành vi phạm tội của họ có thể dẫn đến TNHS dối với pháp nhân Đó là hội đổng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, người quản lý và bất cứ ai nhận được sự ủy quyển của hội đồng quản trị, TATC thừa nhận là
sự ủy quyền và ủy quyền lại quyền của trung tâm đầu não của pháp nhân (dặc biôl là dối với các tập đoàn kinh tế lớn) trong các thực thể khác nhau về địa lý không ngăn cản viộc áp dụng ihuyết đổng nhất hoá
Theo quyết định St lawrence, và một sô' quyết định khác, thì một công ty có thể
có nhiều người lãnh đạo Ví dụ, trong các công ty vận tải, tất yếu phải được vận hành bởi sự ủy quyền và ủy quyển lại của quyển lực trung
tâm; bởi sự phân chia và bị phân chia lại của các trung tâm đầu não; và bởi sự phân quyền thông qua sự ủy quyền của các cơ quan lãnh đạo công ty Chỉ có những những nhân viên của công ty mà đối với họ các thẩm quyển liên quan tới sự lãnh đạo công ty được ủy quyền có thể dãn tới Irách nhiêm của công ty Tuy nhiên, khái niộm ủy quyền
30 Xem L ê Cảm, Trách nhiêm hình sự cùa pháp nhan- Một số vấn đé lý luận và Ihực tiẽn, Tạp chíToà
án nhân dân sớ 4/2000.
’’Canadian Dredge & Dock Co.c La Reine (1985) I R c s 662- 675.
Trang 29được hiểu rộng hơn khái niệm này trong quyết định Tesco [Tesco Supermarkets Ltd, V Nattrass] của người Anh.
Trường hợp người lãnh đạo, người đại diên theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền của pháp nhân nhưng lại phạm tội đo vượt quá thẩm quyển được trao, hoặc lợi dụng
danh nghĩa pháp lý hoặc vật chất của pháp nhân để thực hiên tội phạm VI quyền lợi của
mình hoặc lợi ích của mình thì vể nguyên tắc chì có cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm về tội phạm đó còn pháp nhân sẽ không bị truy cứu TNHS về hành vi vượi quá của họ
Trong vụ án Rhône (Le) c Peter A.B Widener (le) năm 1993,32 khi xử lý vụ án,
Thẩm phán Lacobucci cho rằng thẩm quyền chuyên biệt được trao cho một nhân viên
là một sự ủy quyền lãnh đạo rõ ràng hoặc ngẩm để diễn đặt các chính sách của công ty
và giám sát sự áp dụng, chứ không đơn giản chỉ là sự thực hiên chúng, và rằng các Toà
án cần phải kiểm tra ai đã được trao quyền quyết định trong phạm vi hoạt động thường xuyên của công ty,
Như vậy yếu tố bản lề để phân biột người lãnh đạo của công ly với các nhân viên của công ty là năng lực tiến hành thẩm quyền quyết định những vấn đé thuộc chính sách chung cùa pháp nhân chứ khỏng phải đơn thuần là áp dụng chính sách trong phạm vi các thao tác nghề nghiệp
Luật sửa đổi bổ sung BLHS năm 2003 quy định pháp nhân chỉ có thể bị chịu trách nhiệm về những hành vi (hành động hoặc không hành động) của các cán bộ cấp trên (cadres supérieurs) Cán bộ cấp trên bao gồm tất cả những người đảm nhận vai Irò quan trọng trong:
- viộc soạn thảo những định hướng của tổ chức;
- quản lý những lĩnh vực hoạt động quan trọng của tổ chức
Như vậy, rõ ràng định nghĩa trên là nhằm vào chức năng của người đảm nhiêm, chứ không chỉ là chức vị
11 Rhône (Le) c P e te r A.B W iden er (le) (1 9 9 3 ) Ỉ.R.C.S 497.
Trang 30W H S của pháp nhân bằng cách mở rông khái niệm lỗi gián tiếp thông qua khái niệm vãn hoá pháp nhãn.
6 Hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội
Nghiên cứu cho thấy, chế tài hình sự áp dụng dối với pháp nhân phạm tội trong
LHS các nước theo truyền thống common law duy nhất là hình phạt liền (fine) Tuy
nhiên mức phạt tiền tối đa đối với từng loại tội phạm được quy định trong LHS cùa mổi nước là không giống nhau, Ví dụ ở Hoa Kỳ, các mức phạt tiền được áp dụng cho tổ chức bị buộc tội là: 1) Đối với tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng dẫn đến chết người phạt không quá 500.000 USD; 2) Đối với bất kỳ một tội ít nghiêm trọng nào khác phạt không quá 100.000 USD; 3) Đối vối tội vi cảnh phạt không quá 10000 USD Còn theo BLHS đã được sửa đổi của Canada nãm 2003 thì đối với các tội được xét xử theo thủ lụ rút ngắn (tức là các tội íl nghiêm trọng mà mức hình phạt lù cao nhâì áp đụng với cá nhân phạm tội là 6 tháng và/hoặc mức phạt tiền cao nhất là 2000$), nếu như Điều 719 (647) BLHS cũ quy định mức tiền phạt cao nhất áp dụng đối với pháp nhân là 25.000$ thì nay theo BLHS mới sửa đổi mức phạt tiền cao nhất đối với loại tội phạm này là đến 100.000$ Đối với các tội phạm nghiêm trọng, BLHS trước và sau khi sửa dổi không quy định mức phạt tiền mà do Toà án quyết định dối với từng trường hợp phạm tội cụ thể
Để quyết định hình phạt đối với tổ chức phạm tội do khinh xuất Trong khi LHS các nước khác trong truyền thống common law không quy định những căn cứ quyết định hình phạt tiền với pháp nhân phạm tội, thì BLHS mới sửa đổi của Canada đòi hỏi Toà án khi áp đụng mức hình phạt tiền phải cân nhắc các dấu hiộu như: Những lợi ích
mà pháp nhân, tổ chức đã nhận được từ việc thực hiộn tội phạm; mức độ phức tạp của quá trình chuẩn bị, sửa soạn gắn với việc phạm tội và cũng như sự phức tạp của chính bản thân tội phạm; việc mà pháp nhân, tổ chức đã mưu tính che giấu tài sàn hiện có hoặc chuyển dịch nó nhằm tránh né việc trả tiền phạt hoặc bổi thường; hậu quà mà hình phạt gây ra đối với khả năng tổn tại được vể kinh tế đối với pháp nhân, tổ chức và công ãn việc làm của nhân viên pháp nhân, tổ chức đó; chi phí cùa các cư quan công quyền trong khuôn khổ cuộc điểu tra, truy tố, xét xử liên quan tới tội phạm cùa pháp nhân, tổ chức; tất cà những khoản sửa chữa, bồi thường thiệt hại mà pháp nhân, tổ chức phải chịu hoặc phải thực hiộn vì lợi ích của người bị hại (Điều 718.21 BLHS)
Trang 312) Tiếp thu kinh nghiệm của các Tòa án Anh trong việc giải quyết vấn dể TNHS của pháp nhân, ngay từ cuối thế kỷ XIX, các Toà án Hoa Kỳ, Canada, Australia
và các nước khác trong truyền thống common law tiến hành xử lý về hình sự đối với pháp nhân phạm tội Các Toà án ở mỗi nước, trên cơ sở các phán quyết từ vụ án này đến vụ án khác đã xây dựng nên chế định TNHS của pháp nhân trong LHS của nước mình
3) Các nước trong truyền thống này đã và đang tiếp tục sửa đổi, bổ sung PLHS để tiếp tục hoàn thiên một bước chế định TNHS của pháp nhân ở nước mình như Anh có Dự thảo BLHS năm 1987 (chưa được Nghị viện thông qua), Australia dã thông qua BLHS sửa đổi năm 1995; Canada sửa đổi, hổ sung BLHS của mình nãm 2003
4) Pháp nhân hoặc tổ chức với tư cách là chủ thể của TNHS có thể là những thực Ihổ có tổ chức hoặc thực thể cá thể có lư cách pháp nhân (corporations), nhưng cũng có thể là các nhóm lợi ích, hội, hiệp hội không có tư cách pháp nhân Chủ thể chịu TNHSPN không chỉ là những pháp nhân, tổ chức theo luật tư mà còn bao gồm cả những pháp nhân, lổ chức theo luật công phạm tội (các pháp nhân theo luật công hoặc luật iư- như cách phân biệt iheo hẹ thống civil law)
5) Pháp nhân hoặc tổ chức có thể bị truy cứu TNHS đối với mọi tội phạm được quy định trong BLHS và các luật chuyên ngành, trừ những trường hợp đặc biệt được LHS Anh quy định như đã trinh bày ở trên
6) Trong thực tiễn xét xử, Toà án các nước đã đưa ra những giải pháp khác nhau để có thể áp dụng chế định TNHS cùa pháp nhân lại mỗi nước, Một giải pháp quan trong nhất mà các nước chấp nhân làm cơ sở quy kết TNHS của pháp nhân là lý thuyếl đổng nhất hoá Lý thuyếl này có nguồn gốc từ thực tiễn xét xử của các Toà án Anh Hiện nay nó được áp dụng rấl linh hoại trong từng nước
7) Theo quy dịnh Irong LHS mỗi nước trong truyổn thống common law thì dối với pháp nhân phạm tội chỉ có phạl ticn là hình phạl duy nhất dược áp dung Tuy
Trang 32nhiên, khi quyết định hình phạt đối với pháp nhân phạm tội, các Thẩm phán cần phải dựa vào những yếu tô' nhất định được luật quy định để xác định mức phạt tiền phù hợp.
Trang 33Chương n TRÁCH NHIỆM HÌNH s ự CỦA PHÁP NHÂN TRONG LUẬT HÌNH s ự MỘT SỐ NƯỚC THEO TRUYÊN t h ố n g l u ậ t c h â u â u l ụ c đ ị a 34
1 Về lịch sử TNHS của pháp nhân trong LHS một số nước theo truyền thống châu Âu lục địa
1.1 Tại châu Ẩu lục địa, TNHS của pháp nhân đã dược thừa nhận ở Pháp trong
Dụ của vua (1’Ordonnance de Colbert) năm 1Ố70 và tiếp theo được mờ rông ra các n- ước khác
Sau Cách mạng Pháp năm 1789, dưới ảnh hưởng của trường phái Khai sáng - Nhân vãn và phong trào cải cách LHS cùng với sự ghi nhận nguyên tắc lỗi và nguyên tắc cá thể hoá hình phạt dã dẫn đến khổng chỉ xoá bỏ nguyên tắc TNHS dối với hành
vi cùa người khác mà còn không chấp nhận cả nguyên tác TNHS của pháp nhân trong LHS các nước lại châu lục này
1.2 Sang thế kỷ XVIII - XIX, cùng với cuộc cách mạng công nghiộp và sự phát Iriển kinh tế nhanh chóng ở châu Âu và châu Mỹ, những các công ty thương mại đầu tiôn xuấl hiộn ở mộl số thành phố của các nước châu Au, nơi có diổu kiôn dịa lý Ihuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, sau đó các công ty cổ phần cũng đã xuất hiộn hàng loạt
để đáp ứng nhu cầu tập Lrung nguồn vốn của các nhà đầu tư Trong khoảng 100 năm trờ lại dây, các công ty, tập đoàn, tổ chức kinh tế khác nhau đang ngày càng khẳng định vị trí của mình Irong đời sống kinh tế
1.3 Vào cuối thế kỷ XIX, nước Nga Sa hoàng, trong Bộ hình thư về các hình phạt hình sự và các hình phạt cải tạo năm 1885 đã quy định TNHS đối với các hiệp hội
Do Thái vé những hành vi che giấu quân nhân Do Thái dào ngũ (Điểu 430) TNHS của pháp nhân cũng đợc Bộ luật này quy định đối với các tổ chức thực hiên những hành vi phạm lội khác ( Điều 661 và Điều 985)
1.4 Sang đầu thế kỷ XX, vấn đề TNHS của pháp nhân ngày càng được giới khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu, dần dần vào các thập kỷ tiếp theo nó đã trờ nên
M Truyền Ihống pháp lý cù a các nước mà khoa Học pháp ]ý dược hình thành trên nển làng luật
La Mã có nhiều tên gọi như truyền thống luậl dân sự, truyền thống luật La Mã-Đức, truyền
th ốn g luâl châu Âu lục địa Trong khuôn khổ đề tài này tác già tạm (hời sử dụng thuệl ngữ Iruyền th ôn g luật châu Au lục địa.
Trang 34được thừa nhận chung trong khoa học LHS và được ghi nhận trong PLHS của một sô'
quốc gia châu Ầu nhu là một chế định cẩn thiết để tăng cưởng hơn nữa mức độ bảo vệ
bằng PLHS các quan hộ xã hội trong một số ĩữih vực (môi tníờng, bảo hiểm, y tế,
v.v ), cũng như các quyến của người tiêu dùng và canh ưanh tự do lành mạnh tránh
khỏi sự xâm hại của tội phạm.35
Tniớe tiên phải kể đến Hà Lan, sau khi nghiẽn cứu tiếp thu kinh nghiệm của
Anh và đặc biệt là của Hoa Kỳ trong việc giải quyết vấn đẻ TNHS đối với các tổ chức,
tập doàn, công ty, xí nghiệp phạm tội, năm ỉ 950 đã quy định TNHS của pháp nhân về
các tội phạm vé kinh tế, đến nãm 1976 nó được quy định chính thức trong BLHS và trở
thành một nguyên tắc chung áp dụng đối với mọi tội phạm; Bổ Đào Nha năm 1982,
Pháp năm 1994; Phần Lan năm 1995, Vương quốc Bi năm 1999, và gần đây nhất là
năm 2003 Liên bang Thụy Sỹ cũng đã chính thức ghi nhận chế dịnh TNHS cùa pháp
nhân trong BLHS
1.5 Trong pháp luật của Cộng đổng châu Âu cũng có nhiều vãn bản khuyến cáo hoặc yêu cầu bắt buộc các nước thành viên thiết lập TNHS cùa pháp nhân trong pháp
luật quốc gia:
Tại Mục 9.2 Khuyến cáo sô' R (81) 12 ngày 25/6/1981 về tình trạng lội phạm th
ững mại, ủ y ban các Bộ trởng Hội đổng châu Âu đã đề nghị các nớc thành viên thiết
lập TNHS để xử lý các tội phạm do pháp nhân thực hiộn
Đặc biệt là trong Khuyến cáo số R (88) 18 ngày 20/10/1988 ủ y ban này đã chỉ
đề cập trực tiếp và duy nhất về vấn đề TNHS của các doanh nghiộp đối với các tội
phạm được thực hiộn khi tiến hành các hoạt động của mình Khuyến cáo này đã
khuyến khích các nước thành viên thiết lập chế độ TNHS của pháp nhân để xử lý các
hành vi phạm tội của các tập đoàn, công ty, nhà máy, xí nghiệp, nếu bản chất của tội
phạm, mức độ lỗi cùa các tổ chức đó cũng như hậu quả gây ra cho xã hội và sự cần
thiết của việc phòng ngừa tội phạm khác đòi hỏi.36
35Xem Lê câm, Trách nhiệm hình sự của pháp nhân- Một số vấn để lý luận và thực tiễn, Tạp
chí Toà án nhân dân số 4/2000
36 F DESPORTES et F LEGUNEHEC, Le nouveau droit pénal, droit pénal général, T 1, 2e
éd., Economica, 1996, p.435)
Trang 35Năm 1997, Tổ chúc quốc tế về Thương mại và Phát triển (OCDE) cùa Hội đổng châu Ằu đã ban hành Cổng ớc liên quan tới việc đấu tranh chống tham nhũng của các viên chức nước ngoài trong các giao dịch thương mại quốc tế Điểu 2 của Công ước quy định các bên tham gia cẩn phải áp đụng những biện pháp cần thiết, phù hợp với các nguyên tắc pháp lý của mình để thiết lập TNHS của pháp nhân trong trường hợp
tham nhũng của viên chức nước ngoài Như vậy, có nghĩa là các nước tham ra Công -
ước phải có nghĩa vụ thiết lập chế độ TNHS của pháp nhân trong PLHS nước mình, chí
ít nhất là trong lĩnh vực chuyên biột được để cập bởi Công ước này
Vào nãm 1973, trước nguy cơ nghiêm trọng của sự hủy hoại môi trường thiên nhiên tại nhiều quốc gia trên thế giới, ủ y ban châu Âu vể các vấn đề tội phạm (CDPC) cùa Hội đổng châu Âu đã đề nghị với Nghị viện cùa các nuớc thành viên Cộng dồng châu Âu coi các pháp nhân là những chủ thể của TNHS đối với các tội phạm xâm hại
môi trường và sau đó đã chỉ đạo soạn thảo Công ước châu Âu về việc bảo vê mồi tr
ường bằng PLHS Công ước này đã mở ra cho các nước ký từ ngày 4 tháng 11 năm
1998 Điểu 9 Công ước đã chính thức yêu cầu các nước thành viôn Ihiết lập TNHS pháp
nhân để Irừng trị các tội phạm trong lĩnh vực này
1,6 Cho đến nay, vấn dề TNHS của pháp nhân dã được chính thức điểu chỉnh trong PLHS của nhiều nước ở châu Âu như đã trình bày ở trên Tuy nhiên có một điểm
rất quan trọng cần nhấn mạnh ở dây là trước khi nguyên tắc TNHS của pháp nhân được
chấp nhận trong các nước dang nghiên cứu, cũng như tinh Irạng hiộn lại của ViCl Nam,
trách nhiêm pháp lý trên lĩnh vực Luật dân sự, kinh tế, lao động và hành chính đã được
áp dụng đối với pháp nhân Thậm chí, như ở Vương quốc Bỉ trước khi có Luật năm
1999 ghi nhận TNHS của pháp nhân thì các Toà án cùa nước này đã có nhiều phán
quyết thừa nhận tư cách chủ thể của tội phạm của pháp nhân, nhưng lại không chấp
nhận trừng trị pháp nhân về mặt hình sự
2 Pháp nhân với íư cách chủ thể chịu TNHS
2.1 Pháp nhân, tổ chức nào có thể là chủ thể TNHS? Đây là vấn để mà mỗi nớc
đã chấp nhận chế định TNHS của pháp nhân đưa ra những cách giải quyếl khác nhau
Nhưng nói chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy chủ thể của TNHS của pháp
nhân dược PLHS cùa các nước đang nghiên cứu quy định rất rộng Nó bao gổm các tổ
chức, pháp nhân theo luật lư và cà các tổ chức, pháp nhân theo luật công (Điều 121-2
Trang 36BLHS của Pháp; Điều 51 BLHS Hà Lan; Điều 5 BLHS cuả Bi và Điểu lOOquanler của Thụy Sỹ).
2.2 Các pháp nhân theo luật tư là những pháp nhân được thành lập theo quy
định của luật tư (chủ yếu là luật dân sự hoặc luật thương mại) nhằm mục đích kinh doanh sinh lợi hoặc phục vụ lợi ích khác không nhằm thực thi quyền lực công, như: các
loại hội (hội dân-luật, hôi buôn, hội thcmg mại, hội tín dụng, hội cổ phần, hội hùn
phán, hội điển - địa, hội bảo hiểm ), các nhổm lợi ích hoặc các tập đoàn kinh tế, các
hội đoàn, tổng hội, nghiệp đoàn
■ Trước hết chúng ta cần đề cập tới pháp nhân có mục đích sinh lợi, tức là đối tượng hoạt động của các pháp nhân này là tìm kiếm lợi nhuận, v ể nguyên tắc, tất
cả các pháp nhân theo luật tư có mục đích sinh lợi đều có đủ tư cách chủ thể của tội phạm phải chịu TNHS, như: các pháp nhân dân sự, các pháp nhân thương mại bao gồm các công ty thương mại như công ty vô danh, công ty hợp danh, cồng ty cổ phần, và cả các pháp nhân có điều lệ hợp tác hoặc nông nghiộp, các pháp nhân một thành viên cũng như các nhóm có lợi ích kinh tế,
■ Đối với các pháp nhân không có mục đích sinh lợi Những pháp nhân này khi hoạt động không vì mục đích thu lợi nhuận TNHS cũng đặt ra đối với các pháp nhân loại này Đó là các hiộp hội đã đăng ký hợp lộ, các giáo đoàn, các công đoàn, các dảng phái và các nhóm chính trị
2.3 Các pháp nhân Iheo luật công là những pháp nhân được Nhà nước thành lập nhằm thực hiện các hoạt động phục vụ lợi ích chung cho xã hội Hoạt động của các
tổ chức, pháp nhân này thuộc sự chi phối của luật công (chủ yếu là luật hành chính)
Nhìn chung các pháp luậl đều quy định các tổ chức, pháp nhân công đều có t cách chủ thể của tội phạm phải chịu TNHS không phân biệt các lĩnh vực hoạt động như: các cơ quan công cộng, các tập đoàn vì lợi ích chung, các tổ chức kinh tế hỗn hợp, các công ty, nhà máy, xí nghiêp, các đoàn, hội, hiệp hội nghê nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, trường học bệnh viện, tổ chức văn hoá
2.4 Tuy nhiên, pháp luật cùa các nước đang nghiên cứu cũng có những quy định ngoại lệ như:
Trang 37■ Trong LHS của Pháp, Điều 121-2 BLHS quy định hai ngoại lộ:
- Nhà nuớc không phải chịu TNHS bởi vì Nhà nước bảo vệ lợi ích chung, có
chủ quyển, độc quyền về LHS và vì vậy nó khống thể tự mình trừng trị mình
- TNHS của các tập thể lãnh thổ và các tổ chức của nó như các công xã, các tinh và các vùng lãnh thổ cũng như các tổ chức của nó thực tế bị hạn chế bởi quy dịnh tại Điều 121-2, Khoản 2 BLHS Theo Điều luật này thì các pháp nhân nêu trên chỉ có thể phải chịu TNHS đối với những tội phạm được thực hiện trong khi tiến hành những hoạt động có thể là đối tượng của sự thoả thuận ủy quyển công vụ, ví dụ các hoạt động quản lý khai thác dịch vụ vận chuyển trong công xã, phục vụ ãn uống trong trường học, phân phối nước
Ngược lại, đối với các tội phạm được thực hiện bời tập thể lãnh thổ trong khi tiến hành một hoạt động thuộc phạm vi đặc quyển của mình (phạm vi đặc quyển của cơ quan quyền lực công) thì tập thể lãnh thổ đó sẽ không thể bị truy cứu TNHS
Ngoài hai ngoại lệ trên, lâì cả các loại pháp nhân theo luậl công khác déu phải chịu TNHS nếu phạm tội, không phân biệt các lĩnh vực hoạt dộng như: các cơ quan công cộng, các tập đoàn vì lợi ích chung, các tổ chức kinh tế hỗn hợp, các xí nghiệp, các nhà máy được quốc hữu hoá, các đoàn, hội, hiệp hội nghề nghiộp
■ Điều 5 BLHS Bỉ quy định TNHS được áp dụng đối với pháp nhân theo luât công, tuy nhiên cũng có ngoại lộ là dối với một số pháp nhân không phải chịu TNHS
về hành vi phạm tội, đố là Nhà nưóc liên bang, các vùng lãnh thổ, các cộng đồng, các tình, vùng, thành phố Bruxen, các công xã, các cơ quan lãnh thổ trong cộng đổng, Uỷ ban Cộng đổng tiếng Pháp, tiếng Hà Lan, ủ y ban cộng đồng chung, các irung lâm công trợ giúp xã hội
■ Theo khoản 2 Điều lOOquanter BLHS sửa đổi của Thụy Sỹ thì các pháp nhân theo luậl công bị truy cứu TNHS nếu phạm tội, trừ các nghiệp đoàn thuộc lãnh thổ (corporations tcrritoriales)
■ Trong khi các nước nêu trên đều quy định rõ ràng TNHS của pháp nhân, tổ chức theo luật công thì khoản 3 Điểu 51 BLHS của Hà Lan lại không quy định cụ thể Tuy nhiên, nghiên cứu Bản thuyết minh Dự ihảo Điều 51 BLHS cho thấy tác giả Dự Ihảo này đã chỉ rõ để thực hiộn nguyôn tắc công bằng nôn không thể loại trừ TNÌ ĨS dối với pháp nhân theo luật công phạm tội Cũng theo Bản thuyết minh này thì tư cách chủ thể hình sự của pháp nhân tuy nhiên cần dược hạn chế đối với các vụ việc phạm tôi đ
Trang 38ược thực hiện trong khuôn khổ hoạt động kinh doanh Nếu tội phạm được thực hiện
gắn liển với các nhiộm vụ, công vụ chung hoặc đặc thù thì vấn đề TNHS đối với pháp
nhãn công sẽ khồng đặt ra.
Thực tiễn xét xử đối với các pháp nhân công của Toà án tối cao Hà Lan cũng dã
xác định:
- Nếu liên quan tới một pháp nhân thực hiện một hành vi phạm tội, nhưng pháp
nhân này lại không nằm trong bảng liệt kê tại Chương VII Hiến pháp Hà Lan thì
không có gì cản trở việc truy cứu TNHS dối với nó;
- Nếu liên quan tới một cơ quan quyền lực ờ địa phương (tỉnh hoặc một cõng
xã) viộc truy cứu TNHS chỉ có thể xảy ra nếu nó hành động như là một pháp nhân tư,
tức là các cơ quan này hành động không phải VI mục đích thực hiện nhiệm vụ công
được luật quy định
- Nhà nước không phải chịu TNHS bời nó bảo vệ lợi ích chung, có chủ quyển,
độc quyền về LHS và vì vậy nó không thể tự mình trừng trị mình.37
2.5 Về vấn đề tư cách pháp nhân của các chủ thể chịu TNHS của pháp nhân, LHS các nước Bỉ, Hà Lan, Thụy Sỹ không quy định chủ thể chịu TNHS của pháp nhân
cần phải có tư cách pháp nhân Theo quy đinh của PLHS các nước này, ngoài các pháp
nhân theo luật lư và luật công có lư cách pháp nhân, TNHS còn được áp dụng dới với
cà các hội, hiệp hội, các hội lạm Ihời, hội có đối tượng kinh doanh chưa đăng ký, các
hội thương mại đang thành lập, hội dân sự không phải hình thức hội thương mại, hiệp
hội, các quỹ và các nhóm được thành lập vì lý do cá nhân mà vể phương diộn pháp
luật nó không phải là các pháp nhân, tức là nó không có tư cách pháp nhân theo pháp
luật dân sự, thương mại hoặc luật hành chính (tất nhiên nó được hường lư cách chủ thể
của LHS), hoặc không có tài sản riêng
Như vậy, chủ thể của TNHS của pháp nhân theo quy định trên là rấl rộng, bao
gồm cả tổng thể những cá nhân liên kết với nhau, mặc dù những nhóm, hội hoặc hiệp
hội đó trong thực tế không có tư cách pháp nhân, tức là nó không có khả năng hưởng
các quyền và gánh vác các nghĩa vụ pháp lý nhất định Những nhóm, hội, hiệp hội này
vẫn có thể coi là chủ thổ của TNTIS của pháp nhãn nếu phạm tội
37 (2) HR25.1.1994, NJ 1994,598.
Trang 39■ Trong khi đó theo Điều 121-2 BLHS của Pháp lại đòi hỏi pháp nhân để có
tư cách chủ thể của TNHS thì cẳn phải có tư cách pháp nhân, nếu một nhóm hoặc một
tổ chức không có tư cách pháp nhân - theo ngôn ngữ pháp lý - sẽ không phải là
“nhân”(pereonne) và cũng có nghĩa không phải là chủ thể pháp luật (hình sự)
Việc đòi hòi tư cách pháp nhân đối với chủ thể chịu TNHS cùa pháp nhân được
bào chữa bởi những lý do về tính hiệu quả và sự an toàn Một mặt người ta khổng (hể trừng phạt một người mà họ không có cãn cước, không có sự tồn tại về mặl pháp lý, Mặt khác, khó có thể nhận thức được lọi ích của viộc trừng trị như thế: người bị trừng trị không có quyển và cũng không có tiền để thực hiện hình phạt Cuối cùng do không
có tiêu chuẩn rõ ràng và chính xác để thiết lập tư cách pháp nhân nên phạm vi áp dụng
TNHS của pháp nhân là rất không chác chắn, Chính sự không chắc chắn này là nguồn
gốc của sự không an toàn về mặt pháp lý
3 Các tội phạm cụ thể có thể quy kết cho pháp nhán
■ Theo LHS của Bỉ, Hà Lan, Thụy Sỹ, TNHS của pháp nhân dược áp dụng có tính chất chung cho mọi tội phạm Như vậy, vể mặt kỹ Ihuậl lập pháp các nước này đã chấp nhận một hệ thống điều khoản chung (system de la clause génégale) quy định về TNHS của pháp nhân Cách ỉựa chọn này, trong thực tế gặp những khó khăn nhất định nên buộc Toà án khi áp dụng pháp luật phải đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để xác định những tội phạm nào pháp nhân có thể thực hiên Quy định này cũng tương tự như trong phần lớn các nước theo truyển thống Common Law như Hoa Kỳ, Canada, Australia
Trái lại, LHS của Pháp lại chấp nhận một hộ thống liột kê cụ thể các tội phạm mà pháp nhân có thể thực hiện trong phần riêng BLHS mới năm 1994 hoặc trong các nghị định và các đạo luật riêng biệt Điểu 112-2 BLHS Pháp quy định các pháp nhân chỉ phải chịu TNHS trong những trờng hợp luật hoặc nghị định quy định Quy định này đòi hỏi khi quy kết TNHS đối với một pháp nhân nào đó Toà án Pháp cần phải nghiên cứu các đạo luật hoặc nghị định chuyên biệt có quy định TNHS của pháp nhân đối vói tội phạm đó hay không
' ở Anh, lại có quy định là pháp nhân phải chịu TNHS đối với hầu hết các tội phạm được quy định trong common law và luậl ihành vãn (statute Law), chỉ Lrừ mộl
Trang 40số tội nghiêm trọng và một số tội do bản chất của nó nên pháp nhân không thể thực
hiện dược.
4 Những điều kiện quy kết TNHS đối với pháp nhản
Nghiên cứu chế định TNHS của pháp nhân trong LHS các nước Bỉ, Pháp, Hà
Lan cũng như các nước trong truyền thống Common Law cho thấy có hai điều kiên
sau:
4.1 Điểu kién thứ nhất: tội phạm phải được thực hiộn bởi một hoặc nhiểu ihể
nhân và những người này phải giữ một vị trí lãnh đạo trong pháp nhân
Trong Điềul21.2 BLHS Pháp quy định rõ, đó có thể là những cơ quan hoặc
những người đại diện của pháp nhân Còn LHS Bỉ và Hà Lan, mặc dù không quy định
rõ như trong Điều 121-2 BLHS của Pháp như trên vể viộc pháp nhân phải chịu TNHS
đối với hành vi phạm tội của cá nhân cụ thể nào nhưng thực tiễn xét xử cho Ihấy họ
thường là người giữ một vị trí lãnh đạo Irong pháp nhân như người hoạch định chính
sách, người quản lý hoặc điểu hành thực tế các hoạt động của pháp nhân, tổ chức hoặc
trong những trường hợp đặc biệt có thể là những nhân viên bình thường, nhưng được
pháp nhân giao phó những nhiêm vụ cũng như các trách nhiộm nhất định.
4.2 Điểu kiên thứ hai: tội phạm do những cá nhân nêu trên thực hiộn hoặc là
trong khuôn khổ thẩm quyền chung cũng như trong khuôn khổ các hoạt động cùa pháp
nhân, tổ chức, hoặc nó được thực hiện trên danh nghĩa, hoặc vì lợi ích của pháp nhân
hoặc lổ chức
4.3 Trong khi tội phạm do những người nói trôn thực hiện trong khuôn khổ
thẩm quyền, hoạt động của pháp nhân hoặc vì lợi ích của pháp nhân thì theo LHS của
Pháp và các nước theo truyền thống common law như Anh, Hoa Kỳ, Canada,
Australia, TNHS được áp dụng dổng thời với cả cá nhân và pháp nhân về tội dã phạm
LHS Bỉ quy định tương lự nếu liên quan tới tội cố ý, còn nếu liên quan tới tội phạm vô
ý thì chỉ có chủ thể (pháp nhân hoặc thể nhân) phạm lỗi nặng nhất mới bị truy cứu
TNHS Điều này có nghĩa là không có trách nhiêm đồng thời
- Còn Điểu 51 BLHS Hà Lan lại quy định trong trường hợp pháp nhân, lổ chức phạm tội, sẽ tùy thuộc vào vụ việc phạm lội cụ thể mà, hoặc là chỉ Iruy cứu
TNHS đối với pháp nhân, tổ chức hoặc là chỉ truy cứu TNHS đối với cá nhân, hoặc là