1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

74 558 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ11.1.Tính cấp thiết của đề tài11.2.Mục đích, yêu cầu2PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU32.1. Tổng quan về làng nghề Việt Nam32.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển32.1.2. Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam42.1.3. Phân loại làng nghề Việt Nam72.2. Tổng quan môi trường làng nghề Việt Nam82.2.1. Nguồn thải phát sinh từ các làng nghề82.2.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề92.2.3. Hiện trạng quản lý môi trường tại các làng nghề162.3. Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn tại các làng nghề Việt Nam19PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU243.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu243.2. Nội dung nghiên cứu243.3. Phương pháp nghiên cứu243.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp243.3.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp243.3.3. Phương pháp tính toán cân bằng vật chất253.3.4. Phương pháp xử lý số liệu25PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU264.1. Giới thiệu về CCN CKĐ Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.264.1.1. Lịch sử hình thành264.1.2. Tình hình sản xuất 274.1.3. Giới thiệu công nghệ sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá304.1.4. Nguyên nhiên liệu sử dụng của CCN CKĐ Tống Xá314.2. Phần tích các công đoạn sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá 334.2.1.Các công đoạn sản xuất chính334.2.2. Thiết lập cân bằng vật chất cho quy trình sản xuất364.3. Xác định và phân tích các nguồn thải 394.3.1. Các nguồn thải chính394.3.1.1. Chất thải rắn.394.3.1.2. Nước thải.404.3.1.3. Bụi, khí thải, tiếng ồn, nhiệt độ.414.3.2. Tính toán chi phí nguồn thải cho cả CCN Tống Xá.424.3.3. Phân tích các nguyên nhân phát sinh dòng thải454.4. Đề xuất và lựa chọn các giải pháp 464.4.1. Đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn464.4.2. Lựa chọn các giải pháp sản xuất sạch hơn484.5. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp 504.5.1. Đánh giá tính khả thi khi đối với giải pháp xây hệ thống tuần hoàn nước504.5.1.1. Tính khả thi về kinh tế504.4.1.2. Tính khả thi về kĩ thuật khi xây hệ thống tuần hoàn nước524.5.1.3. Tính khả thi về môi trường534.5.2. Đánh giá tính khả thi cho giải pháp sử dụng lò ủ nhiệt luyện bằng điện thay cho lò ủ nhiệt luyện bằng than534.5.2.1. Tính khả thi về kinh tế534.5.2.2. Tính khả thi về kĩ thuật554.5.2.3. Tính khả thi về môi trường56PHẦN 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ575.1. Kết luận:575.2. Kiến nghị:57TÀI LIỆU THAM KHẢO58

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đãnhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo trong Khoa Tài nguyên vàMôi trường và các cán bộ của xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệutrường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Tài nguyên và Môi trường, Bộmôn Quản lý môi trường; cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt cho tôinhững kiến thức và những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu trên giảng đường đại học vừa qua

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Th.S Cao Trường người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tôi tận tình

Sơn-về phương pháp nghiên cứu và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của xã Yên Xá, huyện Ý Yên,tỉnh Nam Định đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thực tập, cung cấp thôngtin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp MTB – K54, gia đình

và bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia sẻ, động viên và khích lệ tôi trong suốt thờigian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, tài chính vàtrình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên khi thực hiện đề tàikhó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâmđóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để Khóa luận tốt nghiệp nàyđược hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng năm 2012

Sv Ninh Thị Lành

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2.Mục đích, yêu cầu 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Tổng quan về làng nghề Việt Nam 3

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 3

2.1.2 Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam 4

2.1.3 Phân loại làng nghề Việt Nam 7

2.2 Tổng quan môi trường làng nghề Việt Nam 8

2.2.1 Nguồn thải phát sinh từ các làng nghề 8

2.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề 9

2.2.3 Hiện trạng quản lý môi trường tại các làng nghề 16

2.3 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn tại các làng nghề Việt Nam 19

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 24

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 24

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 24

3.3.3 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất 25

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

4.1 Giới thiệu về CCN CKĐ Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 26

4.1.1 Lịch sử hình thành 26

4.1.2 Tình hình sản xuất 27

Trang 3

4.1.3 Giới thiệu công nghệ sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá 30

4.1.4 Nguyên nhiên liệu sử dụng của CCN CKĐ Tống Xá 31

4.2 Phần tích các công đoạn sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá 33

4.2.1.Các công đoạn sản xuất chính 33

4.2.2 Thiết lập cân bằng vật chất cho quy trình sản xuất 36

4.3 Xác định và phân tích các nguồn thải 39

4.3.1 Các nguồn thải chính 39

4.3.1.1 Chất thải rắn 39

4.3.1.2 Nước thải 40

4.3.1.3 Bụi, khí thải, tiếng ồn, nhiệt độ 41

4.3.2 Tính toán chi phí nguồn thải cho cả CCN Tống Xá 42

4.3.3 Phân tích các nguyên nhân phát sinh dòng thải 45

4.4 Đề xuất và lựa chọn các giải pháp 46

4.4.1 Đề xuất các giải pháp sản xuất sạch hơn 46

4.4.2 Lựa chọn các giải pháp sản xuất sạch hơn 48

4.5 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp 50

4.5.1 Đánh giá tính khả thi khi đối với giải pháp xây hệ thống tuần hoàn nước .50 4.5.1.1 Tính khả thi về kinh tế 50

4.4.1.2 Tính khả thi về kĩ thuật khi xây hệ thống tuần hoàn nước 52

4.5.1.3 Tính khả thi về môi trường 53

4.5.2 Đánh giá tính khả thi cho giải pháp sử dụng lò ủ nhiệt luyện bằng điện thay cho lò ủ nhiệt luyện bằng than 53

4.5.2.1 Tính khả thi về kinh tế 53

4.5.2.2 Tính khả thi về kĩ thuật 55

4.5.2.3 Tính khả thi về môi trường 56

PHẦN 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 57

5.1 Kết luận: 57

5.2 Kiến nghị: 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt : Diễn giải

(Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc)

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề 10

Bảng 2.2 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế 11

Bảng 4.1 Thống kê số thành viên và doanh thu của Hiệp hội CKĐ 27

của huyện Ý Yên 27

Bảng 4.2 Danh sách tên, diện tích các cơ sở sản xuất tại CCN CKĐ Tống Xá 28

Bảng 4.3 Danh sách thiết bị, máy móc sử dụng của các cơ sở của 31

CCN CKĐ Tống Xá 31

Bảng 4.4 Nguyên liệu sản xuất trung bình năm của cơ sở trong CCN CKĐ Tống Xá 32

Bảng 4.5 Cân bằng vật chất cho cả quy trình sản xuất CCN CKĐ Tống Xá trong một năm 37

Bảng 4.6 Đặc trưng nước thải của CCN CKĐ Tống Xá, Yên Xá, Ý Yên, Nam Định .41 Bảng 4.7 Chi phí bên trong của cả CCN trong một năm 43

Bảng 4.8 Chi phí bên ngoài của cả CCN trong một năm 44

Bảng 4.9 Xác định nguyên nhân dòng thải 45

Bảng 4.10 Các cơ hội sản xuất sạch hơn của CCN CKĐ Tống Xá 46

Bảng 4.11 Bảng sàng lọc các cơ hội sản xuất sạch hơn 49

Bảng 4.12 Bảng tính NPV, IRR, PB khi xây dựng hệ thống tuần hoàn nước51 Bảng 4.13 Bảng tính NPV, IRR, PB khi sử dụng lò ủ nhiệt bằng điện 54

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 7

Hình 2.2 Hàm lượng bụi trong không khí làng nghề tái chế nhựa 11

Hình 4.1 Tình hình sử dụng đất của các cơ sở sản xuất 29

Hình 4.2: Quy trình sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá 33

Hình 4.3: Sơ đồ quá trình gia công (xưởng cơ khí) 36

Hình 4.4 Sơ đồ dòng quy trình sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá 38

Trang 7

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng gópcho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triểnvới quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu

trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn

Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làngnghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồngdân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng

nghề

Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhànước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sựphát triển bền vững các làng nghề Đã có nhiều làng nghề thay đổi phươngthức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể.Song đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môitrường ngày càng ô nhiễm trầm trọng

Để quản lý chất thải làng nghề đã có nhiều biện pháp khác nhau, tuynhiên sản xuất sạch hơn vẫn được xem là biện pháp có hiệu quả và đem lạinhiều lợi ích nhất Sản xuất sạch hơn giúp tiết kiệm năng lượng và tài nguyên,giảm chất thải và ô nhiễm, thậm chí loại bỏ các dòng chất thải và hiệu suấttiêu thụ nguyên liệu tiến tới 100%

Nam Định là một trong những tỉnh thành đang rất phát triển trên cảnước với sự xuất hiện của nhiều làng nghề, trong đó phải kể đến làng nghềCKĐ Tống Xá (xã Yên Xá, huyện Ý Yên) có truyền thống gần 900 năm vớicác sản phẩm đúc chủ yếu là các đồ gia dụng, các chi tiết phụ tùng máy, …Làng nghề phát triển kèm theo các vấn đề môi trường đang đe doạ cuộc sống

Trang 8

nơi đây, hơi độc từ các lò nấu kim loại và nhiệt luyện, khí, bụi trong quá trìnhgia công, làm sạch sản phẩm, đặc biệt, nước thải chứa kim loại, hoá chất từcác lò đúc chưa được xử lý đều xả thẳng ra không khí, đất, nước,… Từ thựctrạng hoạt động tại làng nghề cho thấy, nếu muốn làng nghề được duy trì pháttriển bền vững và hiệu quả thì nhất thiết phải có các biện pháp khắc phục tìnhtrạng ô nhiễm môi trường Để quản lý làng nghề tốt hơn, làng nghề Tống Xá đãquy hoạch thành CCN gồm CCN 1 và CCN 2 Cụm 1 thành lập năm 1993 vớitổng diện tích là 20.148,5 m2 gồm 14 công ty và DN, 10 hộ gia đình và có mộtmảnh đất đang tranh chấp Cụm 2 thành lập năm 2004 với tổng diện tích là21.577 m2 gồm 20 công ty và DN, 4 hộ gia đình (UBND xã Yên Xá, 2012).

CCN CKĐ Tống Xá là một trong những nơi đã áp dụng quy trình sảnxuất sạch hơn vào quá trình sản xuất nhằm tiết kiệm nguyên nhiên liệu vàgiảm tác động xấu tới môi trường Để đánh giá các lợi ích đạt được khi áp

dụng sản xuất sạch hơn vào quy trình sản xuất, tôi xin tiến hành đề tài:

“Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí- đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định”.

- Các nội dung nghiên cứu phải đáp ứng được các mục tiêu đề ra của đề tài

- Các số liệu, kết quả phải trung thực, chính xác, khoa học

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2.1 Tổng quan về làng nghề Việt Nam

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiều sảnphẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi,góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nôngnhàn Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song songvới quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước Ví

dụ, như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghềgốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm(Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Thành phố Đà Nẵng) cũng

đã hình thành cách đây hơn 400 năm, … (Báo cáo môi trường quốc gia 2008).

Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nềnkinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêudùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển Qúa trình côngnghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triểnngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mứcthu nhập bình quân của người dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngàycàng được áp dụng phổ biến Các làng nghề mới và các cụm làng nghề khôngngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công

ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tựnhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sựphân bố và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều,thông thường tập trung ở những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đấtsản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn

Trang 10

2.1.2 Đặc điểm chung của các làng nghề Việt Nam

Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, đến năm 2011, nước

ta có 2.790 làng nghề, riêng ở Hà Nội có 1.160 làng nghề Làng nghề nước taphân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%),miền Trung (khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) Sự phát triển củalàng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địaphương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ

60% - 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40% (Nguyễn Văn Hiến,

2012).

Nhìn chung, làng nghề Việt Nam có một số đặc điểm chung sau:

* Nguyên liệu cho sản xuất.

Hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên Do sự

phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên liệutại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế Các làng nghề chếbiến gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượngnguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ giadụng và gỗ mỹ nghệ Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nướckhác Ví dụ, theo thống kê, làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh),hiện mỗi năm các hộ gia đình, cơ sở chế biến sử dụng khoảng 34.000m3 gỗ

(Minh Huệ, 2013).

Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và gây ảnhhưởng tới môi trường sinh thái Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các hộ, các cơ sởsản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu Do đó,chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây lãng phí tài nguyên

* Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất.

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiềulàng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ,làng gốm Bát Tràng đã dùng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy

Trang 11

nen (dùng gas và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyệnđất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thaycho bàn xoay bằng tay Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật ápdụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưađược chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm cònthấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh

Hơn nữa, các làng nghề hiện nay nhìn chung đều gặp khó khăn về mặtbằng cho sản xuất Tình trạng phổ biến nhất hiện nay là việc sử dụng luôn nhà ởlàm nơi sản xuất Các bãi tập kết nguyên liệu, kể cả các bãi, kho chứa hàng gầnkhu dân cư, tạm bợ, không đúng tiêu chuẩn môi trường (ví dụ như làng nghề táichế nhựa Minh Khai, Hưng Yên; làng nghề tái chế chì Chỉ Đạo, Hưng Yên…)

* Đặc điểm về lao động và tổ chức sản xuất.

Lao động làng nghề còn yếu và thiếu: Hiện nay số lượng lao động làmnghề truyền thống ở các làng nghề đang thiếu nhiều, nhất là thợ giỏi 90,4%làng nghề thiếu lao động, chỉ có 9% làng nghề có đủ lao động và 0,6% làngnghề thừa lao động Nguyên nhân là do số con em lao động trong các làngnghề học hết trung học phổ thông đều có xu hướng thi vào các trường đại học,cao đẳng, chuyên nghiệp chứ không lựa chọn các trường dạy nghề, kể cảtrường cao đẳng nghề Bên cạnh đó, quá trình truyền nghề cho lớp trẻ chưađược coi trọng đúng mức, việc dạy nghề tại các làng nghề phần lớn theo lốitruyền nghề trong các gia đình, cầm việc chỉ tay hoặc tổ chức những lớp họcngắn ngày cho con em trong địa phương, rất ít làng nghề tổ chức đào tạo bàibản dẫn đến hiệu quả chưa cao; số lượng lao động trong các làng nghề học ởtrường dạy nghề rất thấp, cơ sở vật chất, phương tiện dạy nghề ở các gia đình

và các cơ sở nhỏ lẻ còn đơn sơ, thiếu thốn Giáo viên truyền nghề cho họcviên bằng cách truyền nghề trực tiếp theo kinh nghiệm của từng người Quy

mô dạy nghề truyền thống còn quá ít về số lượng, chất lượng cũng chưa cao,chưa thu hút được đông đảo các nghệ nhân cao tuổi tham gia truyền nghề

Trang 12

truyền thống cho thanh niên Mặt khác, mạng lưới dạy nghề đã phát triểnrộng rãi trong cả nước với hơn 100 trường cao đẳng nghề, hơn 300 trườngtrung cấp nghề và trên 1.000 cơ sở khác có dạy nghề, hầu hết các huyện đều

có trung tâm dạy nghề, rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyênnghiệp có hệ dạy nghề nhưng có rất ít trường và trung tâm đào tạo nghề truyềnthống, quy mô đào tạo cũng rất nhỏ và chất lượng chưa cao Việc dạy nghề truyềnthống ở các trường này thường chưa gắn với nhu cầu của sản xuất, kinh doanh, do

đó nhiều người học xong vẫn không tìm được việc làm hoặc nơi tiếp nhận phải

tốn thêm thời gian, kinh phí để đào tạo lại,… (Phạm Liên, 2011).

Các hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề chủ yếu gồm: Tổchức sản xuất Hợp tác xã; DN tư nhân; hộ gia đình; CT.TNHH; công ty cổphần Các hình thức này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau trong điều kiện kinh

tế mới của nền kinh tế thị trường Song, hiện tại, hộ gia đình vẫn là hình thức

tổ chức sản xuất phổ biến nhất trong các làng nghề Việt Nam

* Thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùngnông thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng thấp Từ khi nền kinh tếchuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ hệ sản xuất ở nôngthôn cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình sản xuất

và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp ứng các nhu cầucủa một nền kinh tế mới Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thịtrường trong nước chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lạinguồn thu đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủcông mỹ nghệ (mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ

mỹ nghệ… Hiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống củaViệt Nam mở rộng sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó cócác nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapo, thậm chí cả các thị trườngkhó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, …

Trang 13

2.1.3 Phân loại làng nghề Việt Nam

Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một sốdạng như sau:

Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới

Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm

Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ

Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm

Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu

Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển

Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mụcđích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp Trên cơ sở tiếp cận vấn đềmôi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sảnphẩm là phù hợp hơn cả

Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thịtrường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghềnước ta ra thành 6 nhóm ngành chính (Hình 2.1), mỗi ngành chính có nhiềungành nhỏ Mỗi nhóm ngành làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạtđộng sản xuất sẽ gây ảnh hưởng khác nhau tới môi trường

Hình 2.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất

Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008

Trang 14

2.2 Tổng quan môi trường làng nghề Việt Nam

2.2.1 Nguồn thải phát sinh từ các làng nghề

Các làng nghề đang phát triển nhanh đã giải quyết nhu cầu công việc vàthu nhập cho một lực lượng lớn lao động tại nông thôn Tuy nhiên, vấn đềmôi trường làng nghề đang ngày càng phức tạp, tăng theo cấp số nhân Ônhiễm môi trường làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi một khuvực và mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loạihình sản phẩm Cụ thể, tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, khôngkhí bị ô nhiễm do đốt nhiên liệu, do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ cótrong nước thải, chất thải rắn (CO2, NH3, CH4…) Tại các làng nghề mây tređan, làm nón, tăm hương…, do khâu sấy chống mốc dùng diêm sinh đã gâyphát sinh một lượng lớn khí SO2

Không khí tại các làng nghề sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ thường bị ônhiễm tiếng ồn do các máy khoan, máy cưa, đục, búa, …, bụi từ các khâu cưa

gỗ, trà, mài có kích thước nhỏ mịn có khả năng phân tán rộng, kết hợp mùivới các loại dung môi độc hại từ các khâu hoàn thiện vécni, sơn gỗ, …

Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: chất lượngkhông khí bị suy giảm chủ yếu do khí thải từ đốt nhiên liệụ Ở các làng nghềkhai thác đá, bụi phát sinh từ quá trình khai thác và chế tác đá là nguyên nhânchủ yếu dẫn tới ô nhiễm không khí ở đây

Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ gây ônhiễm không khí không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chấthữu cơ trong nước thải, chất thải rắn Ở làng nghề này, quá trình đốt than đã tạo ralượng lớn xỉ

Trong nhóm làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da, thì dệt nhuộm làloại hình có nhu cầu hóa chất rất lớn gồm thuốc nhuộm các loại, xút, axit.Nước thải bao gồm các hóa chất tẩy, thuốc nhuộm, sút, muối trung tính thải ra

từ quá trình tẩy trắng, nhuộm in vải Cùng với đó là khí thải phát sinh từ các

Trang 15

cơ sở dệt nhuộm chủ yếu do đốt than của lò hơi và bụi bong, sợi vải từ quátrình sản xuất gây ra,…

Làng nghề tái chế gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường đặc biệt

là làng nghề tái chế kim loại Môi trường không khí của làng nghề này bị ônhiễm nặng do quá trình đốt nhiên liệu trong giai đoạn nung, nấu luyện, cánnhôm, … thải ra các loại khí độc hại Bên cạnh đó, môi trường nước cũng bịảnh hưởng do nước thải từ khâu nung, nấu luyện, rửa, … Chất thải rắn ở làngnghề này gồm bụi kim loại, rỉ sắt, … thải ra với một lượng lớn

2.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề

Hiện nay, do công nghệ sản xuất ở các làng nghề trên địa bàn cả nướccòn lạc hậu, quy mô theo hộ cá thể nên không đủ năng lực tài chính và kỹthuật để đầu tư các công trình bảo vệ môi trường và xử lý ô nhiễm Đồng thời,

hệ thống các văn bản về quản lý môi trường làng nghề chưa cụ thể và phù hợpvới đặc điểm sản xuất Vì vậy, tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề vẫndiễn ra nghiêm trọng kéo dài

Do các làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theongành nghề và loại hình sản phẩm, vì vậy không phải tất cả các làng nghề đềugây ô nhiễm và mức độ cũng như dạng ô nhiễm gây ra là không giống nhau

Trang 16

Bảng 2.1 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề

Xỉ than, CTR từ nguyên liệu

Ô nhiễm nhiệt, độ ẩm 2.Dệt nhuộm, ươm

tơ, thuộc da

Bụi, CO, SO 2 , NO x , hơi axit, hơi kiềm, dung môi

BOD 5 , COD, độ màu, tổng N, hóa chất, thuốc tẩy, Cr 6+

Xỉ than, tơ sợi, vải vụn, cặn và bao bì hóa chất

Ô nhiễm nhiệt, độ

ẩm, tiếng ồn 3.Thủ công mỹ

Xỉ than (gốm sứ), phế phẩm, cặn hóa chất

Ô nhiễm nhiệt ( gốm sứ)

HF, HCL, THC -Bụi, CO, Cl 2 , HCL, THC Hơi dung môi

-Ph, BOD 5 , COD,

SS, tổng N, tổng P,

độ màu -COD, SS, dầu mỡ,

Zn 2+ …) -Nhãn mác, tạp không tái sinh, chi tiết kim loại, cao su

Ô nhiễm nhiệt

ồn, độ rung

Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005

* Ô nhiễm không khí - Vấn đề nhức nhối ở các làng nghề tái chế, sản

xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá, chế biến lương thực, thực phẩm, chănnuôi và giết mổ

Đối với các làng nghề, ô nhiễm không khí bao gồm các dạng ô nhiễm

do bụi, do khí độc hại, ô nhiễm mùi và ô nhiễm tiếng ồn Các làng nghề táichế mọc lên ngày càng nhiều, làm cho vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nênnghiêm trọng

Trang 17

Bảng 2.2 Thải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế

Đơn vị: tấn/năm

Nguồn: Bộ Công thương, 2008

Tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, hàm lượng chất ô nhiễm

thường tăng cao cục bộ xung quanh lò nung, có nơi hàm lượng bụi vượt tiêu

chuẩn cho phép từ 3 - 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt đến 6,5 lần

Hình 2.2 Hàm lượng bụi trong không khí làng nghề tái chế nhựa

Nguồn: Bộ Công thương, 2008

K1: Cơ sở đùn nhựa Minh Khai, Hưng Yên

K2: Bãi rác làng nghề tái chế nhựa Minh Khai, Hưng Yên

K3: Cơ sở đùn hạt nhựa Trung Văn, Hà Nội

K4: Cơ sở nghiền nhựa Minh, Hưng Yên

K5: Cơ sở đùn hạt nhựa Triều Khúc, Hà Nội

Trang 18

- Trong số các làng nghề thủ công mỹ nghệ, môi trường không khíxung quanh khu vực sản xuất của làng nghề chế tác đá bị ô nhiễm nghiêmtrọng do bụi đá và tiếng ồn Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ hoạt động chế tác

đá còn chứa một lượng không nhỏ SiO2 (0,56 - 1,91% tại làng nghề đá NonNước - Đà Nẵng) rất có hại cho sức khỏe Trong khi đó, tại làng nghề sảnxuất mây tre đan, không khí thường bị ô nhiễm bởi SO2 (phát sinh từ quátrình xử lý chống mốc cho các sản phẩm mây tre đan) Ở tỉnh Thái Bình, nơi

có 40/210 làng nghề làm mây tre đan, có tới 800 lò sấy lưu huỳnh thải ralượng khổng lồ khí SO2 từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm mâytre đan Môi trường vi khí hậu ở các làng nghề dệt bị ô nhiễm bởi tiếng ồn docác máy dệt thủ công Mức ồn có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 4 - 14 dBA

(Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).

Khác với các nhóm làng nghề trên, sản xuất tại các làng nghề chế biếnlương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ phát sinh ô nhiễm không khíkhông chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chấ t hữu cơtrong nước thải, chất thải rắn tạo nên các khí như SO2, NO2, H2S, NH3, CH4 vàcác khí ô nhiễm gây mùi tanh thối rất khó chịu, nhất là ở các cơ sở chăn nuôi

và giết mổ gia súc, gia cầm

* Ô nhiễm nước - Trăm thứ nước thải không qua xử lý đang xả thải làm

hủy hoại môi trường các dòng sông, ao hồ, kênh rạch

Kết quả khảo sát chất lượng nước thải của các làng nghề những nămgần đây cho thấy, mức độ ô nhiễm hầu như không giảm, thậm chí còn tăngcao hơn trước Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghềkhông giống nhau, phụ thuộc trực tiếp vào loại công nghệ và nguyên liệudùng trong sản xuất

Chế biến lương thực, chăn nuôi, giết mổ gia súc, ươm tơ, dệt nhuộm

là những ngành sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải ra khốilượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao Trong đó phải

Trang 19

kể đến hoạt động sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng với 60 - 72% nướcthải (phát sinh từ khâu lọc tách bã và tách bột đen) có pH thấp, mức ô nhiễm

thải của các làng nghề này có nơi đạt 7.000 m3/ngày với thải lượng BOD5 lên

tới 44 tấn/ngày không qua xử lý đã xả trực tiếp vào môi trường (Báo cáo môi

trường quốc gia, 2008).

Dệt nhuộm là loại hình có nhu cầu hóa chất rất lớn Khoảng 85 - 90%lượng hóa chất này hòa tan nước thải Kết quả phân tích mẫu nước cho thấy

độ màu có nơi lên tới 13.000 Pt-Co, hàm lượng COD, BOD5 gấp 2 - 15 lầnTCVN, đặc biệt Coliform vượt hàng nghìn lần TCVN Ngược lại, một sốngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng có nhu cầu nước không lớnnhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại như các hóa chất, axit, muối

kim loại, xianua và các kim loại nặng (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).

Làng nghề cơ kim khí Thanh Thùy, huyện Thanh Oai (Hà Nội), là mộtminh chứng của sự ô nhiễm Thanh Thùy có sáu thôn thì bốn thôn sản xuất cơkim khí, một thôn làm trống, thôn còn lại sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ,điêu khắc gỗ Các làng nghề của xã thu hút 1.787 hộ tham gia, nhờ vậy cơ cấukinh tế địa phương chuyển dịch đáng kể, giá trị sản xuất nông nghiệp giảmxuống chỉ còn 16,5%, tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp chiếm 83,5% Tuy nhiên,theo kết quả khảo sát, nhiều chỉ tiêu môi trường tại Thanh Thùy vượt quá tiêuchuẩn cho phép như BOD5 vượt 1,86-7,06 lần, COD vượt 2,46-11,16 lần, NH4

vượt 1,1-7,64 lần, lượng dầu mỡ thải ra môi trường vượt 6,5-11 lần, Colifomvượt 12-30,6 lần Điều đáng lo ngại, làng nghề Thanh Thùy nằm xen kẽtrong khu dân cư, không có hệ thống cống phân tách giữa nước thải sản xuất

và nước thải sinh hoạt, tất cả đều xả trực tiếp xuống sông Rùa gây ô nhiễm

nghiêm trọng (Hà Nội mới, 2013).

Trang 20

* Chất thải rắn: Bài toán chưa có lời giải

Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt

để, nhiều làng nghề xả thải bừa bãi gây tác động xấu tới cảnh quan môitrường, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất Thống kê năm 2008của Trung tân Nghiên cứu và Quy hoạch Môi trường Đô thị – Nông thôn, BộXây dựng cho thấy, tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các làngnghề trên toàn quốc vào khoảng 2.800 tấn/ngày Trong đó, các làng nghề tạimiền Bắc phát sinh nhiều chất thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề táichế kim loại, đúc đồng với nguồn chất thải rắn phát sinh bao gồm bavia, bụi

kim loại, phôi, rỉ sắt, lượng phát sinh khoảng 1-7 tấn/ngày (Báo cáo môi

trường quốc gia, 2008).

Ví dụ, theo thống kê của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm môitrường Công an Hải Phòng: Trong 3 năm (2003-2006), đơn vị đã phát hiệngần 2.300 container chứa gần 37.000 tấn ắc quy chì phế thải nhập vào cảngHải Phòng Còn 2 năm (2008-2009) tiếp tục phát hiện thêm 340 container rácphế liệu và hàng chục container ắc quy chì phế thải, vi mạch điện tử đượcnhập vào cảng Từ năm 2010 đến nay, cảng Hải Phòng vẫn còn lưu giữ hơn

300 container chất thải vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường (Thể thao & Văn

hóa, 2013).

Đối với các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi vàgiết mổ, chất thải rắn giàu chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học gây mùi xú uế.Với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghề Dương Liễu phát sinh tới105.768 tấn bã thải, phần không nhỏ cuốn theo nước thải gây bồi lắng hệthống thu gom, các ao hồ trong khu vực và gây ô nhiễm nghiêm trọng nướcmặt, nước dưới đất Ngoài ra, việc đốt than làm nhiên liệu cũng tạo ra lượng

lớn xỉ (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).

Làng nghề may gia công, da giầy tạo ra chất thải rắn như vải vụn, davụn gồm da tự nhiên, giả da, cao su, chất dẻo với lượng thải lên tới 2 - 5

Trang 21

tấn/ngày (làng nghề Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, Hải Dương: 4 - 5 tấn/ngày).Đây là loại chất thải rất khó phân hủy nên không thể xử lý bằng chôn lấp Từnhiều năm nay loại chất thải rắn này chưa được thu gom xử lý mà đổ khắp nơitrong làng, gây mất mỹ quan và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Các làngnghề tái chế cũng tạo ra lượng chất thải không nhỏ Làng nghề tái chế giấyDương ổ - Bắc Ninh thải ra 4 - 4,5 tấn chất thải/ngày, làng tái chế nhựa TrungVăn và Triều Khúc thải 1.123 tấn/năm Cho đến nay các chất thải rắn nàyvẫn chưa được xử lý triệt để (Báo cáo môi trường quốc gia, 2008).

Ô nhiễm môi trường làng nghề có tác hại rất lớn đến sức khoẻ cộngđồng dân cư Trong thời gian gần đây, ở nhiều làng nghề, tỷ lệ người mắtbệnh, nhất là nhóm người trong độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng cao.Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của người dân tại cáclàng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toànquốc và so với làng không làm nghề tuổi thọ này cũng thấp hơn từ 5 đến 10năm Theo thống kê, tại tỉnh Hà Nam, so sánh giữa 7 làng nghề: dệt lụa Nha

Xá, trống Đọi Tam, rượu Hợp Lý, bánh đa nem Mão Câu, dũa Đại Phúc, đá

La Mát, làng đa nghề Nhật Tân và những làng không làm nghề như Yên Nam,Trắc Văn, Hợp Lý, thị trấn Quế, Ngọc Sơn, Liêm Phong có thể thấy, tỷ lệ mắccác bệnh ngoài da, tiêu chảy, hô hấp và đau mắt tại 7 làng nghề cao hơn rấtnhiều so với các làng không làm nghề Làng nghề tái chế kim loại Châu Khê(Bắc Ninh) có trên 60% dân cư trong vùng mắc các triệu chứng bệnh liênquan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc Làng nghề cơ khí Vân Chàng(Nam Định) ô nhiễm đất, nguồn nước và không khí đã làm cho phần lớn cưdân trong làng mắc các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và phụ khoa,4,7% số người trong làng bị mắc bệnh lao phổi, 8,3% mắc bệnh viêm phếquản, số người chết vì ung thư ngày càng tăng Làng nghề chế biến rượu Vân

Hà (Bắc Giang) có đến 68,5% bệnh ngoài da, 58,8% bệnh đường ruột, 44,4%bệnh hô hấp; làng nước mắm Thanh Hải (Thanh Hoá), tỷ lệ mắc bệnh là 15%,

Trang 22

bao gồm các loại bệnh như tiêu hoá, phụ khoa, đường hô hấp và cao huyết áp

(Chu Thái Thành, 2009).

Trước tình trạng ô nhiễm trên, ngày 2/9/2012 Phó Thủ tường Chínhphủ Hoàng Trung Hải vừa ký Quyết định số 1206/QĐ-TTg phê duyệt Chươngtrình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn

2012 – 2015: Chính phủ đã quyết định dành 5.863 tỷ đồng cho Chương trìnhmục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong giai đoạn

2012 – 2015 Trong đó, 2.420 tỷ đồng dành cho dự án khắc phục ô nhiễm ở

47 làng nghề (ngân sách trung ương chi 1.420 tỷ đồng, ngân sách địa phương

đóng góp 700 tỷ đồng, huy động từ các tổ chức, cá nhân 300 tỷ đồng) (Quyết

định số 1206/QĐ-TTg).

2.2.3 Hiện trạng quản lý môi trường tại các làng nghề

Có thể thấy trong những năm gần đây, môi trường làng nghề đang nổilên như một vấn đề nóng hổi, cấp bách Cùng với việc gia tăng phát triển cả

về số lượng làng nghề và loại ngành nghề, ô nhiễm môi trường cũng ngàycàng tăng, nhiều nơi vượt quá tầm kiểm soát của các cấp chính quyền Nhậnthức được vấn đề đó, bảo vệ môi trường làng nghề đã được đề cập tại nhiềuvăn bản của Đảng, Nhà nước, ví dụ như Thông tư số 46/2011/TT-BTNMTquy định về bảo vệ môi trường làng nghề, Chiến lược BVMT Quốc gia đếnnăm 2010, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam…

Ở góc độ văn bản quy phạm pháp luật, Luật BVMT năm 2005 và hàngloạt văn bản dưới luật cũng đã được ban hành, trong đó có nêu trách nhiệm,nghĩa vụ, quyền hạn của các bên liên quan trong công tác bảo vệ môi trườnglàng nghề từ trung ương đến địa phương

Một số địa phương có làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành cácvăn bản liên quan nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Chínhphủ ở địa phương mình Ở mức độ triền khai thực tế, hàng loạt các chính sáchbiện pháp cụ thể đã được đề ra và áp dụng ở các mức khác nhau tại các làng

Trang 23

nghề trong cả nước Tại nhiều tỉnh đã có quy hoạch không gian làng nghề vớimục đích tập trung các hộ sản xuất trong một quần thể với hệ thống cơ sở hạtầng kĩ thuật tốt, có các hệ thống xử lý chất thải tập trung, nhằm hạn chế mức

độ ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất trong làng nghề Một số làngnghề đã từng bước ứng dụng sản xuất sạch hơn và các công nghệ xử lý chấtthải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường như làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội),làng nghề Đồng Côi (Nam Định), …

Đầu tư về tài chính cho BVMT làng nghề đã bắt đầu được chú ý Một

số hướng dẫn hỗ trợ kinh phí, giảm thuế, ưu đãi tín dụng đã được ban hành.Qũy BVMT Việt Nam đã bắt đầu cho vay với lãi suất ưu đãi đối với một số

dự án về xử lý chất thải làng nghề, nghiên cứu và triền khai các công nghệthân thiện với môitrường Nhà nước cũng đã có chủ trương triển khai mạnh

mẽ công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường làng nghề, huy động sự tham giatích cực của chính bản thân người sản xuất Nhiều hương ước đã ra đời tại cáclàng nghề, nhiều tổ chức tự nguyện hoạt động BVMT với sự đóng góp tàichính của từng hộ sản xuất đã hoạt động hiệu quả

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng quản lý môitrường làng nghề vẫn đang còn nhiều tồn tại, bất cập chưa được giải quyết ởcác mức độ và cấp độ quản lý khác nhau

Cho đến nay, những yêu cầu về BVMT tại các làng nghề như đầu tư hệthống thu gom và xử lý nước thải tập trung, các biện pháp giảm thiểu phátsinh khí thải cũng như quy định theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sảnxuất làng nghề chưa có văn bản luật nào đề cập tới

Một hạn chế khác là tình trạng chồng chéo trong quản lý Trách nhiệmtrong vấn đề BVMT làng nghề giữa các Bộ/ngành và giữa Bộ/ngành với địaphương chưa được cụ thể hoá dẫn đến việc thiếu các hướng dẫn, định hướng và

hỗ trợ trong sản xuất tại các làng nghề theo hướng thân thiện môi trường Thiếu

sự phối hợp chặt chẽ từ cấp Trung ương tới địa phương nên các giải pháp phòng

Trang 24

ngừa, xử lý ô nhiễm cũng như BVMT làng nghề khó thực thi và đạt hiệu quảmong muốn tới cấp cơ sở.

Không chỉ vậy, tình trạng chung ở phần lớn các làng nghề trong cảnước là tập trung sản xuất theo quy mô hộ gia đình ngay tại nơi sinh sống, vìvậy dẫn đến một số khó khăn, chẳng hạn như xử lý ô nhiễm môi trường.Nhiều cấp chính quyền còn tỏ ra lúng túng trong việc giải quyết bài toán giữaphát triển kinh tế và BVMT Bất cập này hiện đang được một số địa phươngkhắc phục bằng cách chỉ cho phép các cơ sở được tham gia sản xuất làngnghề tại các khu vực nhất định cách biệt với khu dân cư Điều này dẫn tới mộtbất cập khác, đó là vấn đề quy hoạch Để hạn chế ô nhiễm môi trường, nhiềutỉnh thành phố đã có chủ trương xây dựng cụm công nghiệp làng nghề hoặckhu sản xuất tập trung Nhưng khi di chuyển, các cơ sở sản xuất không chỉchuyển bộ phận sản xuất mà lại di chuyển cả gia đình theo Hậu quả làm chovấn đề ô nhiễm càng lan rộng, các khu quy hoạch mới thực chất không khác

gì khu giãn dân và là hình thức làm ô nhiễm gia tăng

Ngoài ra, còn phải kể đến một loạt nguyên nhân khác làm vấn đề môitrường ở làng nghề tiếp tục suy thoái Thứ nhất, công tác thanh tra, kiểm tra

về môi trường cũng như thanh tra việc thi hành luật tại các làng nghề chưađược thường xuyên và triệt để, xử phạt hành chính các hành vi gây ô nhiễmmôi trường tại làng nghề còn chưa nghiêm, mới chỉ dừng lại ở mức độ nhắcnhở, chưa áp dụng được các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính Các công

cụ giám sát, BVMT làng nghề như công cụ kinh tế, quan trắc chưa đượctriển khai mạnh mẽ, các quan trắc môi trường làng nghề của các đề tài, dự án

đã góp phần cung cấp số liệu về diễn biến ô nhiễm nhưng lại thường chỉ tiếnhành một lần trong giai đoạn nghiên cứu mà ít khi có điều kiện triển khai tiếpsau khi đề tài, dự án kết thúc Trình độ nhận thức về BVMT còn yếu kém vàtính cộng đồng của làng nghề cũng góp phần làm gia tăng mức ô nhiễm.Thiếu nhân lực và tài chính cũng là cản trở không nhỏ đối với công tácBVMT làng nghề

Trang 25

2.3 Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn tại các làng nghề Việt Nam

* Hiện trạng

Kể từ khi khái niệm “Sản xuất sạch hơn” (UNEP) lần đầu tiên đượcgiới thiệu vào nước ta năm 1995, đến nay khái niệm này đã được nhiều ngườibiết đến hơn Việc hiểu và nắm rõ phương pháp luận này là yếu tố then chốtđảm bảo cho công tác triển khai thực hiện SXSH tại địa phương hay tại doanhnghiệp Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò cấp thiết của SXSH trongcông nghiệp, ngày 07/9/2009 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1419/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đếnnăm 2020" Quyết định này đã nêu ra những chỉ tiêu, lộ trình cụ thể và những

dự án mà các Bộ, ngành địa phương cần phải làm để thúc đẩy các doanhnghiệp mở rộng SXSH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiênnhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; Giảm thiểu phát thải và hạn chế mức

độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe conngười và bảo đảm phát triển bền vững

Mục tiêu của chiến lược đặt ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2015 là50% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích của việc áp dụngSXSH trong công nghiệp; 25% cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ áp dụng SXSH

và những cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng SXSH sẽ tiết kiệm được từ 5đến 8% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vịsản phẩm Ngoài ra, 70% các sở công thương có cán bộ chuyên trách đủ nănglực hướng dẫn áp dụng SXSH trong công nghiệp Giai đoạn từ năm 2016 đếnnăm 2020, mục tiêu của chiến lược là đưa 90% cơ sở sản xuất công nghiệpnhận thức được lợi ích của việc áp dụng SXSH trong công nghiệp Đồng thời,50% cơ sở sản xuất công nghiệp sẽ áp dụng SXSH và những cơ sở áp dụngSXSH sẽ tiết kiệm được từ 8 đến 13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu,nhiên liệu, vật liệu/đơn vị sản phẩm Ngoài ra, 90% doanh nghiệp vừa và lớn

sẽ có bộ phận chuyên trách về sản xuất sạch hơn Cũng trong giai đoạn này,

Trang 26

mục tiêu của Chiến lược là 90% các sở công thương sẽ có cán bộ chuyêntrách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản

xuất công nghiệp (Quyết định số 1419/QĐ-TTg).

Từ đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về khuyếncông thay thế cho Nghị định số 134/2012/NĐ-CP ngày 9/6/2004 về khuyếnkhích phát triển công nghiệp nông thôn Cùng với việc kế thừa những nội dungtích cực trong Nghị định cũ, một trong những điểm nổi bật nhất của Nghị địnhmới này là đẩy mạnh sản xuất sạch hơn (SXSH) trong hoạt động sản xuất côngnghiệp nông thôn

Khi Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (CPI) được triểnkhai tại Việt Nam từ năm 2005 – 2011 với sự hỗ trợ của Chính phủ ĐanMạch, khối làng nghề cũng là một trong những đối tượng ưu tiên thực hiệncác hỗ trợ SXSH Sau 5 năm triển khai, đã có 2 làng nghề được nhận những

hỗ trợ từ Hợp phần Theo thống kê, tiềm năng SXSH tại khu vực này có thểđạt mức 15 – 40% tùy từng ngành nghề cụ thể

Từ những minh chứng trên, có thể thấy, việc đưa hoạt động SXSH vàoNghị định 45/2012/NĐ-CP ngày 21/5/2012 về khuyến công là hoàn toàn đúngđắn Theo ông Phan Văn Bản – Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp địa phương– Bộ Công Thương: Điểm mới nhất của Nghị định mới này so với Nghị định

cũ là bổ sung thêm mục tiêu về chiến lược SXSH vào mục tiêu của hoạt độngkhuyến công, đó là khuyến khích, hỗ trợ áp dụng SXSH tại các cơ sở sản xuấtcông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyênliệu, nhiên liệu, vật liệu; Giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ônhiễm; Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người và bảođảm phát triển bền vững

Hiệu quả sản xuất sạch hơn ở một số làng nghề như:

Làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội): Trước đây, mỗi ngày, làng nghềtiêu thụ khoảng 800 tấn than và thải vào môi trường các loại khí độc hại: CO,

Trang 27

SO2, H2S, bụi silic, chất thải rắn Để giải quyết bài toán phát triển bền vững,các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất làng nghề Bát Tràng đã tích cực tham giachuyển đổi công nghệ sản xuất Đầu năm 2006, Bộ Khoa học và Công nghệphối hợp với Quỹ Môi trường toàn cầu của UNDP triển khai dự án “Nâng caohiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”tại làng nghề Dự án đã giúp các doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ nunggốm từ các lò than, lò gas truyền thống sang lò gas hiện đại Sau 4 năm chuyểnđổi công nghệ sản xuất, nghệ nhân Trần Văn Độ- chủ một DN ở Bát Tràng-cho biết: Nung sản phẩm bằng lò gas cải tiến giúp doanh nghiệp giảm tỷ lệ tiêuhao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tới 30%, giúp tăng tỷ lệ sản phẩm ra

lò đạt tiêu chuẩn chất lượng lên 95-98% (trước kia 60-70%); lợi nhuận tăng

gấp 2-3 lần so với công nghệ cũ (Lan Anh, 2012).

Làng nghề cơ kim khí Thanh Thùy, huyện Thanh Oai (Hà Nội): ĐượcChính phủ Canada tài trợ triển khai dự án quản lý nhà nước về môi trường cấptỉnh VPEG (The Vietnam Provincial Environmental Governance Project) Dự

án bao gồm các hợp phần nhằm nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lýmôi trường để quản lý ô nhiễm công nghiệp một cách hiệu quả Hơn 5 thángthí điểm áp dụng sản xuất sạch hơn và quản lý nội vi (5S- Sàng lọc (loại bỏnhững cái không cần thiết ra khỏi cái cần thiết); Sắp xếp (sắp xếp mọi thứngăn nắp, trật tự, đánh số để dễ tìm, dễ thấy, dễ tra cứu); Sạch sẽ (vệ sinh nơilàm việc và luôn giữ cho sạch sẽ); Săn sóc (xây dựng tiêu chuẩn cao về ngănnắp, sạch sẽ tại nơi làm việc); Sẵn sàng (đào tạo để mọi người thực hiện cáctiêu chuẩn, tạo thành thói quen) ) tại 5 hộ sản xuất, bao gồm 3 hộ chuyên mạkim loại và 2 hộ đột dập, đã tạo sự thay đổi rõ rệt tại Thanh Thùy Thực hiệntheo 5S, công nhân trong các xưởng sản xuất đỡ tốn công sức khi sản xuất; dichuyển nguyên vật liệu nhanh gọn hơn, hạn chế rơi vãi hóa chất và sản phẩmtrong quá trình sản xuất; việc xuất, nhập nguyên liệu, sản phẩm cũng trở nênthuận tiện và đơn giản hơn (Phạm Văn Khánh, 27/02/2013).

Trang 28

Làng nghề đúc kim loại Bằng Châu ở thị trấn Đập Đá (An Nhơn-BìnhĐịnh): Để khắc phục tình trạng ô nhiễm của làng nghề, một số giải pháp đãđược đưa ra nhằm đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm, SXSH, cụ thể là xây dựng môhình xử lý khí thải bằng phương pháp lò nấu đúc nhôm, công suất Hấn/mẻ.Dòng khí thải từ lò đúc được hút vào thiết bị xử lý nhờ quạt ly tâm đặt trênđỉnh tháp Khí thải theo ống cong xuống đáy, đập vào bề mặt chất lỏng Sau

đó, dòng khí đổi chiều thoát lên trên, các hạt bụi theo quán tính tiếp tụcchuyển động theo hướng cũ va đập vào chất lỏng và được giữ lại trong nước,hiệu quả xử lý bụi đạt đến 95% Dòng khói thải chứa các khí axít khi tiếp xúcvới các giọt lỏng chứa dung dịch kiềm sẽ xảy ra quá trình chuyển khối: Cácchất khí hòa tan vào dung dịch hấp thu và được trung hòa Hóa chất sử dụng

là dung dịch soda (Na2CO3) với nồng độ khoảng 1 -5 % Khói thải sau xử lýđược thải qua ống khói cao 15 m sẽ phát tán Phương pháp trên giúp xử lýhiệu quả khí thải phát sinh trong hoạt động sản xuất, xử lý bụi đạt 97,7 %, khíthải sau xử lý đạt tiêu chuẩn thải vào môi trường, nhưng chi phí đầu tư khôngnhiều (18 triệu đồng), chi phí vận hành thấp Kết quả sau khi sử dụng mô hình

xử lý khí thải mới, các chỉ tiêu như bụi lơ lửng, SO2, CO, NOx đều trong giới

hạn cho phép (Hương Linh, 2012).

Làng nghề cơ khí mạ truyền thống Đồng Côi (Nam Đinh): với sự hỗ trợcủa Cục Kiểm soát ô nhiễm (Tổng cục Môi trường), giải pháp SXSH tại một

số cơ sở sản xuất của làng nghề được thực hiện thông qua việc lắp đặt thửnghiệm hệ thống xử lý nước thải sau mạ Dòng nước thải chứa kiềm, axít vàcrôm được dẫn vào 2 bể khác nhau Bể chứa axít và crôm, sử dụng lớp phôi xỉsắt để khử crôm 6 thành crôm 3 Nước thải sau khi qua hai bể chứa được tậptrung vào bể điều hòa để ổn định và điều hòa lưu lượng nước thải Khi đưasang thiết bị hợp khối, nước thải được bổ sung dung dịch kiềm để điều chỉnh

độ pH và kết tủa kim loại có trong nước thải, sau đó chảy sang ngăn lắng đểtách bùn Nước thải sau khi thu về bể chứa được bơm tiếp sang thiết bị lọc nổi

Trang 29

để giữ lại các chất hữu cơ hòa tan, các chất màu còn lại trong dòng thải Nướcthải sau xử lý đạt quy chuẩn được thu vào bồn chứa nước sạch để sử dụng lại.Bùn thải lắng tại đáy thiết bị hợp khối được hút sang sân phơi bùn Sau mộtthời gian lắp đặt hệ thống xử lý nước thải mới, môi trường sản xuất tại các cơ

sở sản xuất của làng nghề được cải thiện rõ rệt Các thông số môi trườngtrong nước thải sản xuất như BOD5, COD, kim loại nặng đều ở tiêu chuẩncho phép, nước thải sau xử lý đã không còn mùi khó chịu Việc vận hành hệthống xử lý nước thải tại Đồng Côi đã giúp các cơ sở sản xuất tiết kiệm đượclượng nước sử dụng, trong khi chi phí vận hành thấp, dễ sử dụng, giúp giảm

thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng sản phẩm (Tạp chí môi trường, 2012).

Tóm lại, đối với các làng nghề, rào cản lớn nhất của việc áp dụng cácgiải pháp SXSH chính là vấn đề vốn Với kinh nghiệm của một địa phương đã

có một thời gian triển khai các hoạt động SXSH cho các DN làng nghề, ôngĐào Hồng Thái – Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng Hà Nội – đơn vịthực hiện các hoạt động SXSH trên địa bàn Hà Nội cho biết: Các làng nghề cóthể thực hiện các giải pháp SXSH đơn giản như thực hiện các giải pháp quản

lý nội vi đơn giản, sau đó mới thực hiện các giải pháp thay đổi công nghệ, đòihỏi mức vốn cao Đồng thời, để tích cực hỗ trợ cho các doanh nghiệp làngnghề, một điểm quan trọng trong Nghị định mới này là các cơ sở áp dụngSXSH vào sản xuất, xử lý ô nhiễm môi trường tại các CCN, cơ sở sản xuấtcông nghiệp nông thôn sẽ được hưởng những điều khoản ưu tiên của chínhsách khuyến công, đặc biệt là kinh phí cho hoạt động khuyến công Đây đượccho là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm đẩy mạnh hoạt động

SXSH tại khu vực này (Lan Phương, 2012).

Trang 30

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Quy trình sản xuất CKĐ

tỉnh Nam Định

 Phạm vi thời gian: từ tháng 01 – 04/2013

3.2 Nội dung nghiên cứu

 Phân tích các công đoạn sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá

 Xác định và phân tích các nguồn thải của CCN CKĐ Tống Xá

 Đề xuất và lựa chọn các giải pháp cho CCN CKĐ Tống Xá

 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Phương pháp thu thập các tài liệu, số liệu quan trắc liên quan tới CCNCKĐ Tống Xá

- Thống kê số công ty, DN, hộ gia đình sản xuất trong CCN; lịch sửhình thành và phát triển của CCN

- Các báo cáo nghiên cứu khả thi dự án xây dựng cơ sở sản xuất đúccủa các công ty, DN; bản Đề án BVMT của công ty, DN

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Phương pháp khảo sát thực địa: khảo sát thực tế hiện trạng môi trường CCN.Phương pháp điều tra, phỏng vấn 20 công ty, DN trong CCN: 10 phiếucụm 1 và 10 phiếu cụm 2 (mẫu phiếu điều tra được trình bày trong phần phụlục 1)

Trang 31

3.3.3 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất

Tính toán đầu vào, đầu ra để thiết lập cân bằng vật chất cho từng giai

đoạn và toàn bộ quá trình sản xuất

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Excel

Trang 32

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Giới thiệu về CCN CKĐ Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

4.1.1 Lịch sử hình thành

Trước năm 1945, cũng như những năm chiến đấu chống Pháp, quy môsản xuất chỉ là hộ gia đình, với phương thức quản lý tư nhân, không có bộmáy cấp trên nào quản lý Ông chủ gia đình phải tự điều hành toàn bộ, từkhâu đầu vào đến đầu ra và tiêu thụ sản phẩm

Đến năm 1959 một bước ngoặt đầu tiên của nghề đúc xuất hiện Các lòđúc tư nhân phải vào hợp tác xã Từ đây Hợp tác xã Quyết Thắng ra đời Quy

mô sản xuất từ hộ gia đình với phương thức quản lý tư nhân, chuyển sang quy

mô sản xuất tập thể, dưới sự quản lý trực tiếp của bộ máy hành chính ở xã

Sau năm 1986, một bước ngoặt thứ hai ra đời, đó là đường lối “Đổi mới”của Đại hội Đảng lần thứ 6 Thời kì bao cấp và quản lý theo phương thức tập thể

cũ đã được gỡ bỏ, các cơ sở sản xuất được “bung ra” Nghề đúc ở Tống Xá bắtđầu có những chuyển biến mới: hàng loạt các tổ hợp sản xuất tư nhân ra đời Hợptác xã CKĐ Quyết Thắng giải thể, từ đây mô hình sản xuất tập thể không cònnữa Các tổ hợp đúc chuyển sang các CT.TNHH và DN CKĐ

Hiện nay, làng Tống Xá hoạt động theo quy mô CCN gồm CCN 1 vàCCN 2 Cụm 1 thành lập năm 1993 với tổng diện tích là 20.148,5 m2 gồm 16công ty và DN, 8 hộ gia đình và có một mảnh đất đang tranh chấp Cụm 2thành lập năm 2004 với tổng diện tích là 21.577 m2 gồm 20 công ty và DN, 4

hộ gia đình (UBND xã Yên Xá, 2012).

Để tăng cường quản lý và nâng cao trình độ tay nghề đúc kim loại ởTống Xá, Yên Xá, bắt đầu từ năm 2005 Tỉnh Nam Định đã cho phép thành

Trang 33

lập Hiệp hội CKĐ của huyện Hiệp hội đầu tiên được thành lập theo Quyếtđịnh số 1880/QĐ-UBND Tỉnh Nam Định ngày 6/6/2005 Sở nội vụ Trong 5năm qua các thành viên của Hiệp hội đã vượt rất nhiều khó khăn thử thách,đổi mới vươn lên giành những kết quả cao trong sản xuất kinh doanh, đạt319,7% so với năm 2010.

Bảng 4.1 Thống kê số thành viên và doanh thu của Hiệp hội CKĐ

của huyện Ý Yên

Nguồn: UNND xã Yên Xá, 2012

4.1.2 Tình hình sản xuất

CCN CKĐ Tống Xá với tổng diện tích là 41.725,5 m2 gồm 36 công ty

và DN, 12 hộ gia đình và 1 mảnh đất đang tranh chấp, chia làm 2 CCN làCCN 1 thành lập năm 1993 và CCN 2 thành lập năm 2004

Trang 34

Bảng 4.2 Danh sách tên, diện tích các cơ sở sản xuất tại CCN CKĐ Tống Xá

STT Danh sách CCN 1

Diện tích (m 2 )

Danh sách CCN 2

Diện tích (m 2 )

Nguồn: UBND xã Yên Xá, 2012

Trang 35

Mỗi cơ sở sản xuất đều có nhà xưởng, văn phòng, kho và nhà ăn, nhàbếp,… trong đó nhà xưởng chiếm diện tích lớn nhất 58% tổng diện tích, khochiếm 10% tổng diện tích, văn phòng chiếm 8% tổng diện tích và các thứ

khác chiếm 24% tổng diện tích (Tổng hợp phiếu điều tra, 2013).

Hình 4.1 Tình hình sử dụng đất của các cơ sở sản xuất

Với ý thức không ngừng cải tiến kỹ thuật, cộng với lòng say mê nghệthuật và trí thông minh sẵn có, mà các nghệ nhân đúc ở Tống Xá, đã đạt tớitrình độ tinh xảo và điêu luyện, trong từng chi tiết kỹ thuật từ khâu tạo khíđốt, nấu chảy, pha chế kim loại, tạo khuôn và mẫu mã Kết quả là đã tạo ranhiều mặt hàng sản phẩm đúc đa dạng, hoàn chỉnh, phong phú và muôn màumuôn vẻ Cụ thể:

Ngoài các mặt hàng đơn giản như: lưỡi cày, diệp cày, cuốc xẻng, nồiniêu xoong chảo, lựu đạn, , … Ngày nay đã sản xuất nhiều mặt hàng côngnghiệp có cấu hình phức tạp và đa dạng

- Các loại tấm lót, bệ máy, giá đỡ máy

- Các máy đập, máy nghiền, hàm nghiền, côn nghiền, lu nghiền, răng gầu

- Các loại vành bánh răng nghiền xi măng

- Các loại máy bơm, bầu quạt bơm, ống bơm cho tuyển than và tuyển quặng

Trang 36

- Các loại ống gang, ống thép, các loại cột điện, cột đèn.

- Các cánh cửa đập chắn nước, các chân vịt và mỏ neo tàu thủy

- Các cửa van cung, đập tràn của các nhà máy thủy điện,…

Các mặt hàng trên rất đa dạng, hàng trăm chủng loại với khối lượng từ vàicân đến vài tấn Trung bình mỗi công ty, doanh nghiệp sản xuất ra 139,175 tấn sảnphẩm/năm phục vụ khắp mọi nơi của đất nước trên mọi lĩnh vực dân sinh, nông

nghiệp và đặc biệt là công nghiệp (Tổng hợp phiếu điều tra, 2013).

Theo điều tra thì 100% lao động không qua đào tạo, chủ yếu là ngườidân của xã, một số ít lao động đến từ các vùng lân cận Các cơ sở sản xuấttrong CCN đã tiến hành thực hiện các văn bản môi trường như Cam kếtBVMT, Đề án BVMT, Quan trắc môi trường và tháng 10/ 2012 vừa qua các

cơ sở đã đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại Doanh thu bình quânhàng năm của các cơ sở sản xuất trong cụm là 19,9 tỷ đồng/năm, trong đó chi

phí sản xuất trung bình của các cơ sở là 17,1 tỷ đồng/năm (Tổng hợp phiếu

điều tra, 2013).

4.1.3 Giới thiệu công nghệ sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá

Công nghệ đúc gang thép không đơn giản và đòi hỏi những người thợ phải

có tay nghề cao, tỉ mẩn, cẩn thận và có óc sáng tạo thì mới cho ra các sản phẩmchất lượng Do kỹ thuật phát triển nên nghề đúc cũng được vận dụng các kỹ thuậtmới Năng lượng được sử dụng trong ngành này cũng đa dạng gồm gas, điện,than…

Công nghệ đúc gang thép của CCN CKĐ Tống Xá gồm các quy trìnhcông nghệ hiện đại như: quy trình nấu thép, quy trình phân tích mẫu, quytrình công nghệ làm khuôn, quy trình công nghệ luyện thép, quy trình giacông làm sạch sản phẩm,… thu được thép đảm bảo theo tiêu chuẩn của mácthép đã quy định

Hiện nay, các cơ sở sản xuất tiến hành nấu với số lượng 3 – 4 mẻ/1 casản xuất, thời gian một mẻ nấu thép trong khoảng 2 giờ Qúa trình nấu đổ

Trang 37

khuôn thường diễn ra vào ca làm việc ban đêm do giá thành điện vào ban đêm

rẻ hơn và có dòng điện ổn định, các ca sản xuất vào ban ngày thường là chuẩn

bị nguyên liệu nấu, tạo khuôn đúc, làm sạch sản phẩm

Các cơ sở sản xuất sử dụng máy móc, thiết bị ở bảng 4.3

Bảng 4.3 Danh sách thiết bị, máy móc sử dụng của các cơ sở của

4.1.4 Nguyên nhiên liệu sử dụng của CCN CKĐ Tống Xá

Nguyên liệu chính là sắt, thép, gang được DN mua từ các cơ sở thumua phế liệu trên địa bàn cả nước và được tập kết tại xưởng sản xuất Cácnguyên liệu đầu vào đã được các cơ sở thu mua sơ chế và xử lý để loại bỏ tối

đa lượng tạp chất trên bề mặt nguyên liệu trước khi doanh nghiệp thu nhập về.Các nguyên liệu đã được làm sạch bề mặt khi sử dụng để nấu thép sẽ đảm bảochất lượng sản phẩm và hạn chế tối đa lượng chất thải là khí thải, váng xỉ phátsinh trong quá trình đúc sản phẩm Nguyên liệu phải được cắt nhỏ bằng khíoxy, khí gas, … trước khi cho vào lò nấu

Phụ liệu, hóa chất bổ sung vào trong quá trình nấu như Si, Mn, Cr, …được mua tại các đại lý cung cấp trên toàn quốc

Cát, đất làm khuôn DN mua tại các cơ sở cung cấp trên địa bàn xã Yên Xá

Ngày đăng: 18/03/2015, 13:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1.  Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Hình 2.1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất (Trang 13)
Bảng 2.1.  Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 2.1. Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề (Trang 16)
Bảng 4.2. Danh sách tên, diện tích các cơ sở sản xuất tại CCN CKĐ Tống Xá - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.2. Danh sách tên, diện tích các cơ sở sản xuất tại CCN CKĐ Tống Xá (Trang 34)
Hình  4.1. Tình hình sử dụng đất của các cơ sở sản xuất - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
nh 4.1. Tình hình sử dụng đất của các cơ sở sản xuất (Trang 35)
Bảng 4.3. Danh sách thiết bị, máy móc sử dụng của các cơ sở của CCN CKĐ Tống Xá - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.3. Danh sách thiết bị, máy móc sử dụng của các cơ sở của CCN CKĐ Tống Xá (Trang 37)
Bảng 4.4.  Nguyên liệu sản xuất trung bình năm của cơ sở trong CCN CKĐ Tống Xá - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.4. Nguyên liệu sản xuất trung bình năm của cơ sở trong CCN CKĐ Tống Xá (Trang 38)
Hình 4.2: Quy trình sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Hình 4.2 Quy trình sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá (Trang 39)
Hình 4.3: Sơ đồ quá trình gia công (xưởng cơ khí) - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Hình 4.3 Sơ đồ quá trình gia công (xưởng cơ khí) (Trang 42)
Bảng 4.5. Cân bằng vật chất cho cả quy trình sản xuất CCN CKĐ Tống Xá trong một năm - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.5. Cân bằng vật chất cho cả quy trình sản xuất CCN CKĐ Tống Xá trong một năm (Trang 43)
Hình 4.4. Sơ đồ dòng quy trình sản xuất của CCN CKĐ  Tống Xá - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Hình 4.4. Sơ đồ dòng quy trình sản xuất của CCN CKĐ Tống Xá (Trang 44)
Bảng  4.6. Đặc trưng nước thải của CCN CKĐ Tống Xá, Yên Xá, Ý Yên, Nam Định - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
ng 4.6. Đặc trưng nước thải của CCN CKĐ Tống Xá, Yên Xá, Ý Yên, Nam Định (Trang 47)
Bảng 4.8. Chi phí bên ngoài của cả CCN trong một năm STT Tên chi phí Đơn vị Lượng thải Đơn giá - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.8. Chi phí bên ngoài của cả CCN trong một năm STT Tên chi phí Đơn vị Lượng thải Đơn giá (Trang 50)
Bảng 4.9. Xác định nguyên nhân dòng thải - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.9. Xác định nguyên nhân dòng thải (Trang 51)
Bảng 4.11. Bảng sàng lọc các cơ hội sản xuất sạch hơn - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.11. Bảng sàng lọc các cơ hội sản xuất sạch hơn (Trang 55)
Bảng 4.12. Bảng tính NPV, IRR, PB khi xây dựng hệ thống tuần hoàn nước - Đánh giá tiềm năng sản xuất sạch hơn tại cụm công nghiệp Cơ khí đúc Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bảng 4.12. Bảng tính NPV, IRR, PB khi xây dựng hệ thống tuần hoàn nước (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w