Không những vậy, với tinh thần "Tùy thời tùy quốc độ" tùy theo thời đại, điều kiện và phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà có cách thức xiển dương Phật pháp, cứu độ chúng sinh khác nha
Trang 1TKƯÒNC t ụ i HỌC QUỐC (ỈIA HÀ NỘI
TRƯỜNC ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HÔI VÀ NHÂN VÃN
ĐỂ TÀI NC.H1ÊN CỨU KHOA HỌC ĐẶC HIỆT
T ư TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM
T ừ THỂ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX
<iy>cỉỵíft>D i l l
n I ir t c i ỉ ứ i
C hủ tri dê tài: (ÌS Ts Nguyễn Hĩm Vui
T h ư kỷ dê tà i: CN Luang í fill rrĩnh
Hà Nội - 2003
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẨN MỞ ĐẦU 01CHƯƠNG 1: QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN T ư
TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
1.1 Đặc điểm của quá trình du nhập các hệ thống triết học Phật
giáo, Nho gia, Đạo gia vào Việt N am 041.2 Sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học Việt Nam 23CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA THựC DÂN PHAP ở VIÊT NAM
CUỐI THẾ KỶ x ĩ - ĐẦƯ THÊ KỶ XX 312.1 Những chính sách của Thực dân Pháp và những chuyển biến
của cơ cấu xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX 312.2 Những chính sách cúa Thực dân Pháp và sự hình thành cơ câu
chính trị - kinh tế - xã hội thuộc địa ở Việt Nam đầu thế ky
X X 29CHƯƠNG 3: T ư TƯƠNG TRIẾT HOC VIỆT NAM THE KÝ XIX -
3 ỉ Quá trinh biến đổi, phat triển của tư tương triết học Việt Nam
3.2 Các hệ tư tương triết học trong thê ký XIX - đầu thê ky XX "2
3.3 Nhận định chung ve tư tướng triết học Việt Nam thế ký XIX
Trang 3- J i t t i ù ì m i J r i i i htìe < l) ìit O U itn t ừ t h ê ÍÙ ị (X jQ O b i ĩ ê n tTtỉt/ t h i UỈỊ j f j rJí>
MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
XIX- đầu th ế kỉ XX nói riêng, vẩn còn lại một "vỉa quặng ' ỈỚÌI và quí trong tổn ° th ể
hình thái ỷ thức xã hội của dân tộc Công trình khoa học T ư tưởng triết học Việt
N am thê k ỉ X IX - đầu thẻ k ỉ X X s ẽ góp phần nhận diện một chặng đườn ẹ phát
triển của ỉịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.
dẳng, Đại học, Học viện là một yêu cầu tính câp bách và lâu dài Vì nhiều lẽ, người
dạy và người học đều chưa có một giáo trình khoa hoc rương úng Công trình khoa
học theo đề tài trên có th ể ỉà một đóng góp thiết thực nhất định vào nhu cầu đó
2 Tinh hình nghiên cứu đề tài
- 'T ư tưởng triết học Việt Nam th ế kỉ XIX - dầu th ế kỉ XX” vẫn còn là một
khoảng trông, tuv một s ố khỉa cạnh của nó đã được dể cập rrong các chuyên luận
khoa học khonq thuộc lĩnh vực triết học Việt Nam.
- Nhìn chiiniỊ, cho đến nay vẫn chưa ró một cõng trinh khoa học nào nghiên
cứa "Tư ỉườniỊ triết học Việt Nam thê kỉ XIX - dàit tiié ki XX" lỉhư một dôi tương
khoa học chuyên biệt
3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
- M ục riêu nỵ/iìẽn cứỉt
Cao
- 1
Trang 4-~J Ị Ị ÌtititnỊ J r i ĩ t ft tu- 'ĩ ) ! i t ữ ù n n tù t l i i I uị ' ÌĨỀH tĩiỉti t h i UtỊ fẨ / Ầ ỉ
Nghiên cíat Tổng th ể T ư tưởng Triết Học Việt N am th ế k ỉ X JX - đầu thê k ỉ
X X với các thành phần cấu tạo của nó : Tiến trình hình thành, phát triển; - Nội dung p h ổ quát và đặc điểm chủ yếu; Qui luật vận hành; - Các khuynh hướng khác biệt nhau; Giá trị khoa học và giá trị lịch sử - xã hội.
Từ việc xác định, nhận diện một hiện tượng lịch sử triết học, công ninh nghiền cíãt có th ể gợi ra m ột định hướng cấn thiết đối với nhu cầu tiếp cận di sán triết học của dân tộc, cũng như đối với giá trị của nó trong môi liên hệ với thực ỉiễn Đổi Mới của đất nước ta hiện nay.
- Nội dung nghiên cứu:
Quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Triết học Việt Nam Thời CỔ - Trung Đại; Chính sách của Thực dân Pháp ơ Việt Nam cuối th ế kỉ XIX - dầu th ế kì
XX Tư tưởng triết học Việt Nam thê kỉ XIX- đẩu thê kỉ XX.
4 Phương pháp nghiên cứu (chủ yếu, chính)
- Phương pháp nghiên cíãt của khoa học triết học (nói chung).
- Phương pháp lịch sử trong khảo cứu "Văn bản triết học" và trong khảo rim
"lịch sử triết học".
- Phương pháp liên ngành tbao gồm cả những phương pháp nghiên cứu riêng biệt của một sỏ Iigùnh khoa học như khoa học lịch sử xã hội clúnh trị học vãn học đạo đức học tôn ỉỊÌáo học
5 Lực lương tham gia nghiên cửu
Trang 5r^ J ti t iiíìĩiịiỆ 'J r i e t !n>f 'V i ê i f f i a t i i t ù t h ê l u j rJ b i t i t i tT u n t h i Uif fẨ ) rẦ j
Nhóm nghiên cứu gồm một s ố cán bộ nghiên cứu va giảng dạy Triết học,
Sử học, Vãn học, Tôn giáo học thuộc trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và
N hân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
Trang 6Vào khoảng những thế kỷ in Trước Công Nguyên đến thể kỷ I và II sau Công
Nguyên, nền văn hóa Đông Son của người Việt c ổ đang trên con đường giái thể để
tiến nhập vào một xã hội có giai cấp và nhà nước ở trình độ cao hơn Những biến
động chính trị ở phía Bắc và tiếp theo là những cuộc xâm lược quàn sự của các triều
đại phong kiến Phương Băc xuống phía Nam, nhộn nhịp những đoàn thuyền buôn
và những tăng sĩ từ Ân Độ đã gây nên những đột biến trong mọi mặt trong đời sống
xã hội và tinh thần ở Giao Châu Bang các con đường và phương thức khác nhau
Phật Giáo, Nho Gia và Đạo Giáo (với tư cách là những hệ thống tôn giáo - triêt học
- vãn hóa - lối sống; đã du nhập vào Giao Châu Do điều kiện địa - tự nhiên, địa -
chính trị và địa - văn hoá qui định, các hộ thống tôn giáo - triết học này du nhập,
phát triển chủ yêu ở vùng châu thổ sông Hổng, sổng Mã - địa bàn cư trú cơ bán của
người Việt Cổ
Hệ thòng triết học Phật Giáo
Ra đời trên đĩit Ấn từ thế ký VI Trước Công Nguyên trong diéu kiện xã hói
\n có phân chia đáng câp khắc nghiệt, cùng với bối canh chung về lịch sứ xã hội
cua khu vực lúc bâv 2ÍỜ là đans trong quá trình chuvén biến từ ché cĩô nò lẽ kieu
4
Trang 7Jn t u o n (Ị riỉi htiiL ' D ì i t O Ù M I t ù t h ỉ i u ị ĨỈĨH itần t h i UtỊ Ẩ /JÍ}
Phương Đông sang chế độ phong kiến, tư tưởng và lối sống Phặt Giáo có điểu kiện phát triển nhanh chóng, rộng khắp vùng Bắc A, Đông Băc Á và Đông Nam Á
Vào thời điểm tuyến giao lưu Đông - Tây qua đường bộ (con đường Tơ Lụa sau này) chưa phát triển, đồng bằng Bắc Bộ (thủ phủ của Giao Châu lúc đó) nầm ở
vị trí địa lý thuận lợi, nơi giao điểm của các đường giao thông thủy bộ, từ Đông sang Tây, từ bắc xuống nam Những tài liệu thư tịch cò đã cho chúng ta biết, nước Việt đã có quan hệ với người Khang Cư, Đại Hạ, An Tức (I Ran), Ô Tôn (vùng Tây Bắc ấn Độ và một phần của Apganixtan ngày nay Cây mía( mà ngày nay người Việt vẫn coi như một vật linh, cây vũ trụ dùng làm "gậy cho ông bà ông vái" vào dịp giỗ tết) vốn có nguồn gốc từ châu úc Đại Dương; cây hoa nhài có nguồn gốc từ Băc ấn đã được đưa vào Giao Châu từ đầu công nguyên Như vậy, chác chán rằng, theo chân các tăng sĩ và thương nhân, Phật Giáo đã được truyền vào Giao Châu từ đầu kỷ nguyên Tây lịch
Phật Giáo được truyền bá vào Giao Châu trong bối cảnh người Việt c ò đang sống trong cảnh nước mất nhà tan, kẻ thù đang bằng mọi biện pháp đổng hóa và tiêu diệt nền văn hóa Đông Sơn Khác với Nho Gia, Phật Giáo vào Giao Chãu bàng con đường hòa bình, theo chân thương nhân và tâng sĩ Những tư tưởng bình đãng, bác ái từ bi hỉ xả trong bản thàn giáo lý Phật Giáo khá gán gũi với tinh thần, lói sốna vị tha bao dung, yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong đạo lý truyén thòng cíia nưười Việt Hơn nữa lúc này nhân dân ta dang sõng trong canh mát nước, dưới ách thóne trị cưỡn2 bức tinh thần cùa Nho giao, cho nên ngay từ đầu Phật giáo dã nhanh chons được nỉỊười Việt tiẽp nhận Tư tưởng Phật Giáo dã trơ thành, và dóng vai trò
Trang 8Q m h to tttf ' j r i r t htte * V iit ' ì l i i t n t ù th ẻ l u i rJC^ Á> đ ê u tT íĩn thè t u i fJ[/À j
là vũ khí tinh thần, vũ khí lý luân, chống lại sự nô dịch, thống trị tinh thần băng Nho giáo của kẻ thù Không những vậy, với tinh thần "Tùy thời tùy quốc độ" (tùy theo thời đại, điều kiện và phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà có cách thức xiển dương Phật pháp, cứu độ chúng sinh khác nhau), tư tưởng và tín ngưỡng Phật Giáo nhanh chóng hòa nhập cùng tư tưởng và tín ngưỡng bản địa , trở thành một bộ phận tinh thần của người nông dân Việt Sự tích Man Nương được kể trong "Lính Nam Chích Quái", "Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh”, là hình ảnh đẹp, sống động
về sự kết hợp một cách hòa bình, nhuần nhuyễn, từ cấu trúc bên trong, giũa Phật giáo (Ân Độ) và tín ngưỡng bản địa Những vị nữ thần nông nghiệp của người Việt
Cổ (Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Giàn) được Phật Giáo hóa một cách tự nhiên để trở thành những vị Phật Bà; những yếu tố cầu mong sự sinh sôi nảy nở và tôn thờ các lực lượng tự nhiên của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước còn mang nặng tàn
dư của thời kì mẫu hệ vẫn cong đậm nét: Pháp Vân - Thần Mây, Pháp Vũ - Thần Mưa, Pháp Lôi - Thần Sám, Pháp Điện - Thần Sét Ngôi chùa của làng người Việt không chỉ đơn thuần là một trung tâm tôn giáo, mà còn là nơi di dưỡng tinh hoa văn hóa cửa mỗi vùng quê người Việt
Do điều kiện địa - tự nhiên, địa - chính trị và địa - vãn hóa qui định, trong quá trình lịch sử, người Việt chưa xây dựng được cho mình những hệ thống tõn aiáo triết hoc hoàn chỉnh, chăt chẽ như một sô quôc gia khác, mà phai tiếp nhận từ
bẽn nưoài Tuy nhiên, để có dược chỗ đứng trên đất \ iệt, tẫt cá các hệ thong tôn
i’iáo triết hoc từ bên ngoài vào đểu phai tư điéu chinh, đáp ứng yêu cấu cung cố khối đoàn kết tăng cườns sức mạnh cua cộng đổng trong công cuộc giử nước va
Trang 9z J u t u r i n g ' J r i t t h t t e rỉ ) ì ê f t ù U t r U i ’t (jC3 CC i t ĩ h đ u n t h ê ' Ui) 'jfj'J b
dựng nước của người Việt Lịch sử phát triển của Phật Giáo ở Việĩ Nam đã chứng minh rãng, dù có sự du nhập trước hay sau, nhưng ngay từ đầu, ba tồng phái Thiển Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông có sự gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức khó có thể phân biệt rõ ràng Cùng với quá trình phát triển, trưởng thành của dân tộc, yếu
tõ Thiền Tông (chú trọng tri thức, có tính trừu tượng cao ) ngày càng gia tâng nhưng yếu tố Mật Tông (coi trọng phù chú, bùa phép gần với tín ngưỡng dân gian) và yếu tố Tịnh Độ Tông (coi trọng đức tin, dễ tin, dễ chứng, phù hợp với tầng lớp bình dân) cũng không hề suy giảm Trong tâm thức của quần chúng nhân dân, ống Bụt (Phật) không phải là một đấng siêu nhiên xa lạ mà lại rất gần gũi, thân thương trong đời sống hàng ngày Ông Bụt cùng dân đánh giặc giữ nước, khai phá đất đai, thưởng người hiền lành, trừng trị kẻ độc ác Trên bức hoành phi để tại đén thờ bà Thiều Hoa, một nữ tướng của Hai Bà Trung, còn uy nghi bốn chữ lớn "Diệt bạo tướng Phật" (vị Phật làm tướng diệt trừ quân tàn bạo) Nghi thức trổng cây nêu neày tết ở đổng bằng Bắc Bộ ngày xưa tuy phản ánh quan niệm về triết lý âm dương ( đúng hơn là quan niệm lưỡng phàn), nhưng cũng đượm mầu Phật lý (được lý luận hóa trên cơ sở triết học Phật giáo), liên quan tói Phật Thoại Phật giúp dân đuổi quỷ, giữ đất
Theo Thủy Kinh Chú (tác phẩm địa lý học lịch sứ, do Lịch Đạo Nguyên viết
vào thế ký thứ VI) thì từ thế kỷ thứ m Trước Công Nguyên vua A Dục (Asoka) đã
cho xây tháp Phật (Stupa) trên đát Nam Việt Trong sách Lĩnh Num Chích Quái có
nói từ thời Hùnt? Vương Chư Đổng Tử theo một khách buôn nước ngoài vượt biến
đi buôn, tới một hòn đáo 2ập một pháp sư Ân Độ vù đã ơ lại học đao với phap sư
7
Trang 10-'~ ĩtt tif'fitu/ - J r ii'i I W it rO i ỉ t f) lt n n t it til*, t ú i fẦ j3 (X j i l ĩ t t đ u n t h r l u i rẦ / X i
đó Đó là những huyền tích, chưa được khoa học Lịch sử kiểm chứng Sách Hậu Hán
Thư có chép, năm 100 nhàn dân Tượng Lảm (vùng Quảng Nam, Đà Nẵng nơàv
nay) nổi dậy chống ách đô hộ Đông Hán đã đốt phá chùa Công (Cônơ tự)
Tới nửa cuối thế kỷ thứ n , đầu thế kỷ thứ m , dưới thời Sĩ Nhiếp, Đạo Phật đã thịnh hành ở Giao Châu Vùng Luy Lâu (thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nay) đã trở thành một trung tâm Phật Giáo lớn của khu vực, còn có trước cả trung tãm Lạc Dương (kinh đô nhà Hán, Hà Nam nay) và Bành Thành ớ Giang Tô Trung
Quốc Tác phẩm Lý hoặc luận của Mâu Bác là tập luận thuyết đầu tiên của Phật
Giáo được viết băng chữ Hán ở Giao Châu Mâu Bác là người Thương Ngô, sang Luy Lâu cùng với mẹ vào cuối thời Hán Linh Đế (168-189) ỏ Luy Lâu, Mâu Bác
đã đọc các kinh sách của Nho, Lão và học đạo Phật Ông viết Lý hoặc Luân để đáp
lại những sự khích bác Phật giáo của những người khổng theo đạo Phật, nhất là những người theo Nho, Lão từ Trung Quốc qua Giao Châu tị nạn Sau Mâu Bác còn
có nhiều danh tãng khác như Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương Đặc biệt, chính Khương Tăng Hội là người đầu tiên truyền bá Phật Giáo từ Giao Châu ngược lên vùng đất Giang Đông dưới thời Ngỏ Tôn Quyền
Mùa xuàn, tháng hai năm 544, sau khi đánh đuổi viên Thái Thú Tiêu Tư và đánh tan quân xâm lược Lương, Lí Bí lên ngôi Vua xưng là Lý Nam Đẽ lập nhà nước Vạn Xuàn Ngay sau khi xưng đế, định đô, việc làm đầu tiên cúa Lý Nam Đê
là cho dựng chùa Khai Quốc (chùa Mở Nước), liền thân cua chùa Tran Quỏc ngày
m y NtTav cái tên Khai Quòc (Mở Nước) cũng đã hàm chứa thật nhiều ý nghĩa Hẳn I'l ưiới Phật tứ, tuns lớp trí thức Phật giáo bảy giờ là chỏ dựa cư bán cua nhà Tién
8
Trang 11J II h ititu i 'J r ii't / l i f e r( ) i i t f f l u i H t ù l / i ẽ Uiị Í Ễ 3 Í Ế itin tT tĩu t h t l ú t I Ễ Í Ễ
Lý Chính một người trong họ ồng, làm tướng cho ông, và cũng xung đê cũng mang một cái tên đượm mầu sùng bái đạo P h ậ t: Lý Phật Tử (người con Phật)
Từ cuối thế kỷ thứ VI trở đi, lần lượt hai dòng Thiền lớn là Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và Vô Ngôn Thông được truyền bá vào nước ta Chính Thiền Phái Ti- ni-đa-liru-chi và Vô Ngôn Thông, với những Thién viện lớn ỉúc bấy giờ như Khai Quốc, Kiến Sơ, Lục Tổ ( huyện Từ Sơn, tỉnh Bầc Ninh nay) là cái nôi đào tạo nên nhiều cao tăng, đổng thời cũng là những nhà văn hóa, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao kiệt xuất của đất nước, đóng vai trò chủ chốt trong sự nghiệp xây đựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập dân tộc non trẻ Ngỏ, Đinh, Tiền Lê, Lý (938-1225)
Thiền sư Pháp Thuận (914-990) là cố vấn chính trị, ngoại giao cho vua Lê Đại Hành, đặc trách trông nom việc soạn thảo công vãn, thư từ Khi nội bộ triều Tiền Lê nảy sinh mâu thuẫn, các con Lê Hoàn đánh giết lẫn nhau, nhân dân khốn khổ nền thống nhất quốc gia có nguy cơ bị phá vỡ, nhà vua mời ông đến hòi về vận nước và kế sách trị nước Pháp Thuận đã trả lời bằng một bài kệ, trình bày súc tích những đánh giá và quan điểm cụ thể, thể hiện nhãn quan chính trị sâu rộng và sáng suốt của ông :
"Quốc tộ như đăng lạc Nam Thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh"
(Vận nước đang lên như dây cuốn
0
Trang 12J ti t iiử n t i r- J r ii't fu te rĩ) iẽ t Qitttn t it t l i i k it lĩĩíi it á n th e l u i j f j if j
Trời Nam đang mở ra vận hội thái bình mớiTriều đình phải dùng hệ tư tưởng vổ vi (Phật giáo) để trị nướcNhư vậy thì mọi nơi mới chấm dứt được chiến tranh)
Thiền sư - Thái sư Khuông Việt (933-1011) dạy học ớ Thiền viện Khai Quốc,
là người "Thấu tột Thiền yếu và đọc khâp các kinh điển", ô n g từng được Đinh Tiên Hoàng mời vào cung phong chức Tãng Thống (đứng đầu hàng ngũ sư tăna), lại phong là Khuông Việt thái sư (vị thái sư phù giúp cho nước Việt) Dưới triều Tién
Lê, ông đảm nhận cương vị là nhà ngoại giao trong bang giao với nhà Tống Ổng đã mềm dẻo nhưng kiên quyết, kéo dài thời gian tạm hòa hoãn khi chúng ta chưa chuẩn bị xong lực lượng chống xâm lược, nhưng vẫn giữ được tư thê, giữ được thể diện quốc gia
Vị vua đầu tiên của triều Lý là Lý Công uẩn được sinh ra và lớn lên trong nhà chùa Chính Thiền sư Vạn Hạnh là người đã giáo dưỡng Lý Công Uân từ thuở nhỏ, đưa ông lên tới chức Điện tiền chỉ huy sứ (chi huy cấm quân) Vạn Hanh đã đứng đầu giới sư tăng và quan lại cao câp trong triều đình nhà Tiền Lê, vặn động đưa Lý Công u ẩ n lên ngôi vua Với trình độ học vấn uyên bác và tài năng quân sự của mình, thiển sư Vạn Hạnh là cố vân quàn sự đác lực của Lê Đại Hành Sách
Thiền Uyển Tập Anh chép "Vua Lê Đại Hành đặc biệt tôn kính sư, năm Thiên Phúc
thứ nhất (980) nhà Tống sai Hầu Nhãn Bao đem quân sang xàm lược nươc ta Vua mừi sư đến hỏi tình thế thăng bại thê nào Sư đáp chỉ trong ba bay ngìụ giặc tat plvii lui Sau quá nhiên như thê Vua muôn đi đánh Chiêm Thành, cùng bàn bac với triều thần, nhưna chưa quyết Sư tâu vua xin câp tốc tiên quân, nêu khong lữ dịp
10
Trang 13-'~7tt tu iiiti/ ^Triẽí htìtí rZ)iẽt O ltm t Ị ù t h ế lu i rJũcỉQC> (Tĩu iĩíiu t h i ' tui f/.ỈJ
Vua bèn đem quân đi đánh, quả nhiên thu được toàn thắng" Buổi đầu triều Lý, mọi công việc quan trọng về chính trị, quân sự, ngoại giao của triều đình đều do Vạn Hạnh quyêt định Có thể nói, ông là "người cha tinh thần, là kiến trúc sư" của Vương triều Lý Ngay sau khi lên ngôi vua, Lý Công u ẩ n quyết định dời đô ra thành cổ Đại La, đổi tên là Thăng Long, đã tạo ra một cục điện mới cho đất nước Văn khí hào hùng, luận cứ xác thiết, cấu tứ chặt chẽ, áng hùng văn Thiên Độ Chiếu (chiếu đời đô ra Thăng Long) hẳn là thể hiện tư tưởng cúa Thiền sư, nhà chính trị chiến lược Vạn Hạnh, v ề sau, vua Lý Nhân Tông (1072-1128) có làm bài kệ truy tán tài năng và công lao của ông đối với Thăng Long, đối với đất nước :
Vạn Hạnh dung tam tế Chân phù cổ sấm thi Hương quan danh c ổ Pháp Trụ tích trân vương kì (Vạn Hạnh thông ba cõi / Lời sư nghiệm sấm thi/ Quê hương làng c ổ Pháp/ Chống gậy (thiền) trãn kinh kì)
Lời thơ đã rõ, Thiền sư "chõng gậy thiền" (ngụ ý nói, dùng tư tưởng - văn hóa Phật giáo) để trấn giữ kinh kì, bảo vệ quốc gia !
Từ giữa thế kỷ XIII nhân dân ta đứng trước một thử thách cực kì khỏe liệt Quàn dàn Đại Việt, dưới sự lãnh đạo của tầng lớp quí tộc Trần phải dồn hết sức lực đương đầu cuộc xàm lược cùa đê quốc Nguyên - Mông - một đế quôc hùng manh, hun!? hãn nhát trong lịch sứ truns đại thế giới Trong bối cánh đó, lấn đầu tiên chún** ta có được một hệ thỏníĩ tòn giáo - triết học riêng cho minh - Thiền phai True
11
Trang 14-Lâm Khổng khí sục sôi kháng chiến bao vệ Tổ quốc, yêu cầu cáp bách vì lẽ sinh tổn của dân tộc, cùng tinh thần gương mẫu của tầng lớp quí tộc Trần, là những nhàn
tô tạo nên nét đặc sắc của Thiền phái Trúc Lâm Đó là tinh thần phá chấp nhập thế tích cực, thái độ lạc quan, an nhiên tự tại trước cuộc sống Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), con người thông minh hiếu học, vị anh hùng của hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông, đồng thời cũng là Tổ thứ nhất của Thiển phái Trúc Lâm, đánh giặc xong, thanh thản trút áo hoàng bào, khoác áo cà sa uns dung lên núi tu Thiền và làm thơ Hơi thở của thời đại kêt hợp với triết lý Thiền tống đã tạo nên phong cách đặc hữu đó : Đạo sĩ, thi sĩ và chiến sĩ kết hợp làm một trong con người Thién sư - Hoàng đế
Được những chiến công vang dội trong các cuộc kháng chiến chống quàn xâm lược Nguyên Mông cổ vũ, nền văn hóa Đại Việt thời Trần, mà đạo Phật đóng vai trò trụ cột, nhấn mạnh vào tinh thần độc lập dân tộc Cuối thẽ kỷ XIV, khi các Nho thần như Lê Quat Phạm Sư Mệnh muốn thay đổi chế độ theo mô hình thể chê văn hóa Trung Hoa vua Minh Tông đã trả lời dứt khoát : "Nưỡc ta đã có phép tãc nhất định, vá lại Nam Bảc phong tục khác nhau, nếu theo lời các ngươi, chí cốt
đê cho thành tựu mưu chước thì chỉ sinh loạn ra mà thôi" Trần Nghệ Tông ! 1370- 1372) là một người tó ra có ban lĩnh trong việc bao vệ nền vãn hoa độc lập dãn tộc Trước sư a dua thái quá cúa các Nho than, ông nói : "Triều đình dụng nước tự có pháp độ riên<j khônti theo chè độ nhà Tons, là vì Nam Bãc đều làm chu nươc minh, khôn1’ cán phái bát chước nhau Khoang năm Đại Trị í 1358-1369) ke học tro mật trân11 cĩươc dùnỵ khổnạ hiêu V sâu xa cùa sự lập pháp cho nén dem pliup chẽ cũ cua
12
Trang 15J it tn ó tH Ị J r i r i /toe ' V i 'ft f) ù n u t ù t h ẽ UÍỊ, jfjJ-'Jb đ i It íĩầ t t t h it a 'f .( / t
tô tông thay đổi theo tục phương Bác như về V phục, nhạc chương không thể kê hết
Từ nay, chính trị buổi đầu phải trở lại theo đúng lệ cũ đời Khai Thái (1324-1329)"
Vào the kỷ XV xã hội Việt Nam có nhữna thay đổi căn bản về kết câu Một tầng lớp địa chủ mới xuât hiện, quan hệ kinh tế địa chủ - phong kiến dần dấn hình thành và phát triển, đòi hỏi thay thẽ kiểu quan hệ kinh tẽ điền [rang thái ấp cũ thời Trần, hệ quả tất yêu dẫn tới là cơ chế phong kiến quan liêú quí tộc đồng tộc phải được thay thế bằng một cơ chẽ mới, tiến bộ hơn, là cơ chế phong kiến tập quan liêu chức nãng Nhà Lẽ ra đời, đánh dấu bước trường thành đên đinh cao của chế độ phong kiến Việt Nam Với cơ chế quan liẽu chức năng phục vụ chế độ phong kiến
đã thuần thục, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng quan phương, thay the hệ tư tưởng Phật Giáo Phật Giáo tuy mất vị trí chính thông ở chôn cung đình nhưng lại phát triển mạnh mẽ trong dân gian, kết hợp với văn hóa dán gian, hạn chế ảnh hưởng của những tư tưởng giáo điều, hà khăc của Nho Giáo, có tác dụng bào lưu phát triển tư duy, lối sông truyền thống dân tộc Mặt khác, ngay trong nhận thức và phong càch của những nhà nho tiẽu biểu, những người nhiệt thành theo tư tướng Nho giáo, cũng còn thấm đậm Thiền phong, Thiền vị Lê Thanh Tồng, ông vua điển hình của Nho giáo, được sinh ra trong nhà chùa, được thờ cùng mẹ rrong chùa ngat sát Văn Miéu
có thơ đề cặp ca ngợi Phật giáo Đại Nho Nguyễn Trãi cũng đũ khống ít lần đề cập tới những pliạm trù cơ ban cua Phật giáo như "vô thương", "họa phúc”, 'luân hỏi",
"niỉhiệp báo"
Từ thỏ ký XVI trơ đi ché độ phong kiên Việt Nam bước vào ihòi ki khung ho-in? trám trọne Mặc dù về hình thức Nho giáo vẫn được \em lù hệ tư tương
Trang 16& ư turfnti 'J r iit htift t y m Q líun tù t h ế lu \ rẨj7ỉfJb (Tĩu itầii t h i tai rJũfX>
chính thống của các vương triều, nhưng nó càng ngày càng tỏ rõ sự bât [ực trước yêu cầu của lịch sử Trong bối cảnh đó, Phật giáo có xu hướng phục hưng, phát triển mạnh mẽ không những trong bộ phận quần chúng nông dân, mà ngay ờ chốn cung đinh, trong tầng lớp trí thức nho học Trong tổng số văn bia Hán - Nôm thời Mạc có tới hai phần ba là nội dung về Phật giáo Từ thế kỷ x v r n trở đi, có hiện tượng nhiều người từng đỗ đạt cao Nho học lại dành nhiều thời gian và dung lượng sáng tác, đàm luận về Phật giáo, như Lê Quí Đôn, Nguyễn Siêu, Phạm Quí Thích, Ngô Thì
Sĩ Thậm chí như tiến sĩ Ngô Thì Nhậm cuối đời chuyên tâm theo Phật, sáng tác
Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, tự nhận là Trúc Lâm đệ tứ tổ Nhà Nguyễn từng
có nhiều chỉ dụ, sắc dụ nhấn mạnh nguyên tắc coi Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, kỷ cương luân lý Nho giáo là chuẩn mực bát di bất dịch đối với mọi tầng lớp trong xã hội; nhưng việc làm đầu tiên cũa Nguyễn Hoàng (người sáng nghiệp của nhà Nguyễn) khi vào Thuận Hóa cát cứ là xây chùa Thiên Mụ, coi là yêu tố bảo trợ tám linh của dòng họ Từ Thuận Hóa cho tới miền cực Tây cua Nam Bộ hiện còn rất nhiều ngôi chùa mang tên "Sắc Tứ" (chùa có công, nên được vua ban tặng) Thậm chí vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đai còn nhận chức Hội trương danh
dự của Hội An Nam nghiên cứu Phật học ở Trung kì trong thời kì Chán hưng Phật
Trang 17-_ 'J tt tn ó iiiỊ V rii't fun- U i i t fftu n i tù l i t ẽ lúị i t ỉ i i iTtĩu H ti UiỊ 'Jf/Jì _
Với tư cách là một hệ thống triết học - chính trị, xã hội và luàn lý là cơ bản Nho Gia có một quá trình phát triên lâu dài, đẽn trước - sau Công Nsuvèn đã trở thành một hệ thống học thuyết ổn định, đóng vai trò là cơ sơ lý luân đê xãy dựnơ củng cô và vận hành chê độ phong kiến trung ương tâp quyền theo kiểu Phương Đông
Đặc điểm của con đường, quá trình truyền bá và ảnh hưởng của Nho Giáo ớ Giao Châu hoàn toàn khác vỡi Phật Giáo Từ thế kỷ n Trước Công Nguyên, theo gót chân quân xâm lược và các đợt di dân thực dân người Hán, Nho giáo đã có mặt trên đát Giao Châu Nho Giáo đến với người Việt lúc này là Hán Nho, một thứ Nho Giáo
đã qua sự chế biến, nhào nặn để trở thành một thứ học thuyét chính trị - xã hội - luàn lý đượm màu sắc mê tín thần bí, đóng vai trò bảo vệ quyển lợi cùa tầng lớp đại địa chủ Hán tộc Nho Giáo thời Hán đã tước bỏ đi những hạt nhân hợp lý, những 2Íá
trị nhân văn, nhân đạo của Nho Giáo nguyên thủv (Nho Khòng - Mạnh), trơ thanh
hệ tư tưởng quan phương của chế độ phong kiến trung ương tập quyền với những phạm trù giáo điều xơ cứng, hà khác, thậm chí phi nhàn tính Tư tưởng Hán Nho hoàn toàn xa lạ với đạo lý truyền thông, lối sống khoan dung giản dị, chuộng hòa ái vèu thươnơ của nơười Viẽt cổ Hơn nữa, Nho Giao lại được du nhập theo gót chăn cua quàn xâm lược, nên ngav từ đầu nó không dễ dàng được chap nhãn Trong những thê kỷ đầu cúa thời kì Bác thuộc Nho Giáo chí phát huy được anh hương trong tần° lớp trẽn cua xã hội Nsười nông dãn V iệt trong các chiềng, chạ, van bén
bi bao tổn và phdt huv những giá trị truyền thông cua nén văn hoa Đồng S(Tn von đã được bô suns hỗ trợ cúa vãn hòa Phật Giáo Trong suốt hơn 1000 nãm Bũc thuoc va
15
Trang 18-J u t tifitnf Jriri h o e fj);n fg ju n t t ù t h ê ' kít yggsgj if f It /Tầu t h ế k ỳ OCOfj
chống Băc thuộc, người Việt tìm đến Phật siáo như một thứ vôi khí tinh thần hữu hiệu đê chống lại sự nò dịch, thống trị và đồng hóa tinh thần băng Nho Giáo của ke thù phương Bắc
Tuy nhiên, trước khi vào Giao Châu, Nho giáo đã là một học thuyẽt quản lý
xã hội phát triển; trong khi người Việt chưa có chữ viết, chữ Nho là công cụ cần thiết, hữu hiệu trong quản lý và giao tiếp xã hội, truyền bá và bảo lưu tri thức Do
đó càng có nhiều người Việt học chữ Nho, chịu ảnh hưởng của Nho Giáo Cho đến thế kỷ II Sau Công Nsuyèn, đã thấy xuát hiện những sĩ tử Giao Châu thi đổ tiến sĩ ở Trung Nguyên, thậm chí tới thế kỷ VIII nhà Đường phải hạn chế sĩ từ Giao Châu tới Trường An thi, vì sợ đỗ quá nhiều Điều cần lưu V, người Việt tiẽp thu Nho Giáo khône nguyên cả hệ thốn2 mà chỉ chọn nhặt những yẽu tố thích hợp bổ sung vào
hệ giá trị truyền thốna sẵn có của mình, từng bước nâng cao vể mật lý luận Chính những trí thức Nho học người Việt đã trờ thành những ngọn cờ tập hợp lực lượng dân tộc hoặc tham mưu đắc lực trong các cuộc khởi nghĩa trong sự nghiệp đấu tranh siải phóng dân tộc, xày dựng nền văn hóa dân tộc Nhà giáo Lý Tê' là quân sư của Hai Bà Trưng; nhà Nho - quan lại Tinh Thiều Triệu Túc là tham mưu đăc lực cua
Lý Bí Triệu Quang Phục trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đãt nước, xây dựng nhà nước Vạn Xuân Chữ Nho và tri thức Nho học là những cồng cự cần thiết mơ itườnư cho cac dòns Thiển truvền bá vào Việt Nam, đào tạo nén những Thiền sư - tri ihức tinh thông Tam giáo ( Nho - Phật - Đạo) đổng thời là những nhà vãn hóa nlri chính trị - quân sự - nẹoại ỊỊtao xuàt sác trong sự nghiệp xây dưny nha nước
16
Trang 19JH Ịuõujj_ ’J r i i t /ií)ẹ f p i i t ff ta in tù t h i hÌỊ 'Jb'J-fJC iTin ĩTtiii t / i ỉ ỉ i i / ỉ / Ị
phong kiến độc lập dân tộc còn non trẻ sau này như Khuông Việt, Pháp Thuận Vạn Hạnh
Bước vào kỷ nguyên độc lập, các triều đại Lý - Trần đều coi Phật Giáo là Quốc giáo Tuy vậy, xu hướng chủ đạo vẫn là tư tưởng Thiền Tông kết hợp với Nho Gia Sự xuất hiện của Thiển phái Thào Đường dưới thời Lý Thánh Tông, chuvên
dụng Tuyết Đậu Ngữ Lục, đề cao trí thức và văn học đã đẩy nhanh quá trình hỗn
dung giữa hai Thiền phái Tì - ni - đa - lưu - chi và Vô Ngốn Thông, giữa Nho và Phật Kiến thức Nho Giáo được vận dụng theo tinh thần Phật Giáo qua đã đóng 2Óp
nhiều cho nội dung học thuật và chính trị thời Lý - Trần, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và bản săc nền vãn hóa Đại Việt Thiển sư Tri Bảo (? - 1190) đã dùng phạm trù cơ bản trong luân lý Nho Gia là "tri túc" ("Tri túc giả, phú dã - Người mà biết thế nào là đủ, the là người giàu vậy) đế giảng giai cho đệ từ về đạo lý làm người theo tinh thần Phật giáo : "phàm người xuât gia, tại gia đều phai dừng lại ơ chỗ "tri túc" Nếu biết "tri túc" thì ngoài không phạm đẽn ai mà trong không tổn hại đến
minh" Sách Thiển Uyển Tập Anh chép, năm Thiên Thuận thứ 3 U130) vua Lý
Nhân Tông thỉnh Qưốc sư Viên Thông (1080-1151) vào điện Sùng Khai đế hỏi về
kê hun? vone trị loạn Quốc sư đáp : "Thiên hạ cũng VI như đồ dùng, đặt vào chỗ yên thì nó được yên, đặt vào chỗ nguy thì tất bị nguy Xin bệ ha hành xư đức hiêu sinh cho hợp với lòng dân thì dân yêu như cha mẹ ngưỡng mộ như mật tráng, mặt trời Ây là đật thièn hạ vào chó yên vậy Nưưc tri hay loạn là ơ dan Quan lại được lòn1’ nyưửi thì tri mà mât long ngươi thì loan Than trai xem các bãc Jê vươniỊ đưi irươc chưa lừniỉ có ai khôní! dùntĩ quan tư ma hưng thinh, mu cũng không cỏ iriéu
I * I C H /
Trang 20-Ju ịỊUHỊỊi -Jrìêi A r t e 'ĩ)iẽ t Q tu n t tù t h i ' Ut't 'jfjjr jc tTĩn iTúu t h e l u t Ẩ> Jb
đại nào dùng tiếu nhân mà không bị suy vong Nguồn gỗc dẩn đến điều đó thì không chí một sớm một chiều, mà có manh nha từ trước Trời đât khôna thè nonơ hay lạnh ngay tức khấc, mà phải chuyển biến dần từ mua xuan qua mùa thu Bãc nhân quân chỉ trong một lúc được hay mất thiên hạ tât do đức thiên hay ác tích tụ tư lâu Các bậc thánh vương đời xưa biẽt vậy nèn bắt chước trời không ngừns sưa mình; bãt chước đất không ngừng tu đức để giữ yên dân được như thê thì không thể không hung thịnh, không được như the thì không thể khôn? suv vons Hoàng
đế Lý Thánh Tông (1054-1072), vị anh quân từng lập chiến công "phá Tónạ bình Chiêm”, là nhà chính trị có từ tâm, đổng thời là vị tổ thứ nhât dòna Thién Thao Đường Sách "Đại Việt sử kí toàn thư" ghi, mùa đông năm L055, trời rét vua bao các quan : "Trẫm ờ trong cung, sưởi lò than thú mặc ao cừu mà còn rét như thế này, nghĩ đên người tù giam trong ngục, khổ sớ gôn2 cùm chưa biẽt rõ ngay gian,
ãn không được no bụng, áo không kín minh, gặp cơn gió rét, há chấng là vô tội mà chết oan ư ? Trẫm răt thương xót Vậy hạ lệnh cho Hữu ty phát chăn chiêu va moi ngày cho ãn hai bữa cơm" Nãm 1065, trong một vu xứ kiện, vua đã chi vào cóng chúa Đ ộns Thiên đang đứng hầu bên cạnh, bao ngục lai ráng : T a yêu con ta cũng như bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu con cua họ Nhưng trãm họ không hiếu biết, tự phạm vào hình pháp, ta thương xót lăm vậy Cho nên tư nay bát kẽ tội nặng hay nhẹ, đều theo một cach là khoan thư cho họ" Hoàng hậu Y Lan (? - 111") vợ Lý Thánh Tôn.17 mẹ Ly Nhân Tông, là một nhà chính tri tài ba am tưưng lich >ư và
iĩi'ío lý tlạo Phật, ơ cương vị hoàng hặu roi hoàng thai hậu ba j ã từng lững lầu
triéu đình tròng coi việc nước khi Lý Thanh Tông dưa quân di đánh Chiên ĩhanh
1S
Trang 21-nhiêp chính khi vua con còn nhỏ đồng thời cũng có rãt nhiều chùa [hap đuợc xãv dựng trong thời đại của Bà Dân gian đã đồng hòa Y Lan với hình tương cõ Tăm trong truyện cổ tích để ca ngợi tài năng đảm đans và iòns nhân hậu cua Bà.
Tiêp tục phong cách thời Lý, xu hướng dung thổng Nho - Phật càng được thể hiện rõ nét, là cốt tủy của nền vãn hóa Đại Việt dưới thời Trần Trần Thái Tông bo ngôi báu, trốn triều đình, "trèo núi hiểm, lội suối sâu", tìm vào núi Yên Tử xin với Quốc sư Viên Chứng được xuât gia, Quốc sư giáng giải : "Trong núi vôn không có Phật, Phật ở trong tâm ta, nếu láng lặng trí tuệ xuất hiện, đó chính là Phật" Khi Trần Thủ Độ dẫn đầu các quan trong triều đến mời Thai Tòng trở lại ngôi báu Thái Tông còn phàn vàn chưa quyết, trên tinh thần Nho - Phật, Quôc sư lại nói rõ về những nguyên tấc có tính hướn? dẫn hành xử đối với eương vị của một vị vua - Phật
tử : "Phàm là đáng nhân quân, thì phải lấy ý muón cua thiên hạ làm ý muốn cua mình, và tâm thiên hạ làm tâm của mình Nay thiên hạ muỏn đón bộ hạ vè, bệ hạ khổng vé sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điên xin bệ hạ đừng phút nào
quên" Sau này đọc kinh Kim Cương đẽn câu "ung vô sơ trụ nhi sinh kì tâm" Thai thượnơ hoàng Trần Thái Tông hoát nhiên tự ngộ, viết Khóa hư lục đặt nền móng lý
luận cho Thiền Phái Trúc Lâm Cũng chính vị Thái thượng hoàng - Thiển sư nàv đã nêu một tám eươns sáng cho các thê hệ Hoàng đê - Thièn sư thời Trần hoăng pháp tron? sư ntThiêp đẽ vươns lãnh đíỊO Quủn dủn Đíại Vict kim nsn chien COĨ12 ' •ÁTii lùng vào năm Nguyên Phong thứ 7 đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông hung hãn :
Bạch đầu quan sĩ tai Vãng vãng thuyêt Nguyên Phong
U iủlỉíL l ĩ ỉ l t lỉĩìẹ 'V iệt Q ùhu tù ih ế ta ỉ 'X & Jb /Tỉ',, iTth, t h i k ỷ W j C _
1 9
Trang 22- c / " ỉĩiủ iiiL 2 d ĩL !">*' rO ift w *n n iừ ilù 'U & 'jC3TẦj í tĩíi iTuu th i U m ', 'JỪX, _
(Người ĩĩnh già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong )
Tư thê ky XV, Nho Gia chính thức đóng vai trò là hệ tư tương chu đạo trên vũ đài chính trị Sau những sự biến cung đình buổi đầu thời Lẻ Sơ năm 1460 Lê Thánh Tông lẻn ngôi, mở đầu triều đại thịnh trị của Nho Gia Ngav sau khi lên ngôi, xu hướng Nho Giáo hóa cả triều đình và xã hội ớ ông đã bộc lộ rõ nét Một trong những việc quan trọng đầu tiên là ông đã tích cực đẩy mạnh và hoàn thiện chế độ thi cử theo nội đung và qui chế cúa Nho Giáo Từ nãm 1463 trở đi, triều đình định
lệ 3 năm mở một khoa thi: năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hương; các năm Thin Tuất,
Sửu, Mùi thi Hội; định các học vị trong các kì thi đình, lộ này được duy trì đến thời Mạc Thời Lê Trung Hưng, do sự phân cát hỗn chiến của các thê lực phong kiến Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn, qui trình thi cử bị gián đoạn Từ nãm 1823 nha Nguyễn mới khôi phục lại đầy đủ qui trình này, và tổn tại mãi đẽn kì thi cuối cùng vào năm
1918 Với tư cách là một tín đổ nhiột thành cua Nho Gia Lê Thanh Tỏng làm tất cả mọi biện pháp nhâm nhanh chóng độc tôn Nho thuạt Khồns' chi hạn chế tới mức tối đa ảnh hưởng của Phật, Đạo trong học thuật và sinh hoạt tín ngưỡng tốn giáo ở các địa phương, ông còn có những sắc chỉ có nội dung quyêt liệt nham trục xuất tín
đổ của các học thuyết này ra khỏi cung đình Năm 1463 có săc dụ : Người bói toán
Đạo Thích ở trong nước, từ nay về sau không được tro chuyện trao đổi với người
trong cung và hậu đình
Tuv nhiên, là một nước nám trong phương Ihưc san XLŨÚ Chau A kẽt cau kinh té - xã hội khá đặc thù, mỏt nển kinh tê đa nguyên hon hơp Ihương nghiép và
2 0
Trang 23-thành thị kém phát triển, quá trình phân tầng xã hội diễn ra chậm chạp và không rõ ràng, công xã nông thôn được bảo lưu lâu dài Cùns với điều kiện tự nhiên, chính trị riêng biệt, ảnh hưởng của Nho Gia không diễn ra cực đoan, đơn tuyến Nhu cầu cũa thực tiễn đấu tranh giữ nước và dựng nước đã làm cho người Đại Việt không chap nhận sự độc tôn tuyệt đối của bãt cứ hệ tư tường nào Phật Giáo đã từng là người bạn đổng hành đáng tin cậy của dân tộc ngay trons lúc cam go nhãt, là nhân
tố tinh chần không thể thiếu của người dân Việt Nó là vật cản chãt dung mỏi đáng
kể hạn chế quá trình Nho giáo hóa
Hệ thông triết học Đạo gia
Đạo Giáo được phát triển ở Trung Quốc trên cơ sở lý luận Đạo Gia, kết hợp với tín ngưỡng ma thuật dân gian, được truyền bá vào Giao Châu sần như đổng thời với Nho Gia và Phật Giáo Tư tưởng vô vi, tiêu dao hưởng nhàn cua Đạo Gia có sức hâp dẫn đối với tầng lớp trí rhức, quan lại khi đác thời cũng như khi thất thế: tín ngưỡng và hành vi có tính ma thuật của Đạo Giáo ít nhiều đáp ứng những nhu cáu tinh thđn thườns nhật cua người nóng dân Việt Đạo Gia, Đạo Giáo như chiếc cầu nối đưa Phật giáo trở về với đời sõng thực hơn giảm bcrt tính hà khảc cực đoan cua Nho Gia
Sau khi nhà Mạc cướp ngôi, những biên động [ớn lao trẽn các lĩnh vưc kinh
tế xã hội đáy nhanh quá trình khung hoàng cua che độ phong kiên, bộc lộ rõ những hạn chê bàt lực của Nho Giáo Trong thực tẽ người ta không chàp nhan hung phân chia đánh iiiá VỊ thế ca nhãn theo chuẩn "Tứ dàn (Sĩ-nỏng-cong-thương) cua quan ơiêm Nho Gia Đạo thõng Quăn - Sư-Phu (Vua - Tháy - Cha; lung lav nghiem
rftt fu'titir/ 'ĩriẽt hue rZ)ìit (ỉlant tù thê Uii iTĩíi tTttii th ỉ'lui / /
21
Trang 24-é7i/ húunỊ J r ifi Ị,tie q);êt /à th ếU iì <jG3<rX> itĩn iTíỉ/1 th e jtn rJũrJ[>
trọng, đặc biệt là đạo thông Trung quản Khi được chúa Trịnh hỏi có nèn cướp ngôi nhà Lê không thì trạng Trình Nguyễn Bính Khiêm trà lời ỡm ờ "nên thờ Bụt mà ăn oản và, cũng chính òng là người sui Nguvễn Hoàng vào Nam cát cứ xây dựng the lực riêng chông đối triều đình Dù đây là câu trả lời và sự tham mưu xác đáng nhưng thấm đậm tinh thần thực dung, hoàn toàn xa lạ với đao thống Nho gia ử một trạng nguyên Nho học Câu trả lời có phần vỏ luản nhưng thẳng thản cúa Nguyễn Trang với thầy học là Tiên sĩ Lý Trần Quán rằng "sợ thầy khòng bầng sợ giặc, yèu chúa không bàng yêu thân" thực sự là cú sốc mạnh đối với nhà Nho Nghe xong, Tiến sĩ Lý Trần Quán uãt ức mà tự chôn sống mình
Dưới triều Nguyễn, mặc dù băng mọi biện pháp nhăm nân2 cao vị the độc tôn, nhưng bộ mặt và ảnh hưởng của Nho Gia cũng khòng khá hơn được Không có triều đại nào lại phải hứng chịu nhiểu cuộc khởi nghĩa nông dân ở khãp đát nước nhằm
đả kích vào vương quyền, lật đổ vương vị như nhà Nguyễn Dù có một nhà Nho như
Lý văn Phức dịch Nhị thập tư hiếu sang chữ Nôm nhăm củng cố thứ luân lý Nho
^iáo cực đoan cuối mùa nhưng ảnh hưởng của nó là không ddáng kể Giai thoại vãn học kế rằnơ dưới thời Tự Đức, ở Huê có treo đói câu đối lơn: Tư nãng thừa phụ nghiệp; Thần khả báo quàn ân (Con nên kẽ thừa sự nghiẻp của cha; Bề tói cán báo đáp ơn vua), Cao Bá Quat xem xong cười lớn và nói răng, ôi đạo quan - thần, phụ -
tứ bị đáo lộn tuns phèo! Trươc cánh tam cương đao lộn luân hương bị xem nhẹ tàm thức cua người tri thức có lương tâm và dan gian trơ về vơi lõi song và luãn lýPhật giáo:
Chân Như đao Phàt rất mầu
Trang 25' J t i t iíó m i h u e 'D iet ffiu n t t ử / / l ê Ut’t (ten tTiht tỉiê ltr / f i f _
Tàm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhânHiếu là độ được đãng thân
Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài
1.2 SựHÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN TƯTUỚNG TRIẼT h o c v ệ t n a m
Con người là động vật biết chế tạo công cụ, biết tư đuy Dù là người nguyên
thuỷ cổ xưa nhất, mới bước ra khỏi thế giới của loài vật, trước những điều lạ lẫm
bên ngoài, và ngay trong chính bản thân mình, khác với con vật, con người luôn
luôn "thắc mắc", đòi được giải thích, chẳng hạn: Thế giới xung quanh là gì? do đau
mà có,nó tồn tại và phat triển ra sao? hoăc, ta là ai, do đàu sinh ra? chết sẽ về đâu?
thế nào là hạnh phúc, khổ đau ? Đó là những câu hồi muôn thuơ cua nhân loại, chỉ
có điều khác nhau ở cách tra lời và nội dung của nó, phụ thuộc vào trình độ nhận
thức trong quá trình lịch sử
Buổi ấu thơ của nhân loại, thông qua những hình tượng trong thần thoại,
truyền thuyết, con người đã trả lời những câu hỏi trên, mà ta thường gọi là thế giới
quan, nhân sinh quan thần thọai Một cái nhìn đồng đại và phò quát, ở phương
Đông cũng như phương Tây từ thế kỉ thứ v m t.c.n trở đi, khi các hệ thong triết học
ra đời thì những càu trá lời đó thuộc về thế giơ quan và nhân sinh quan triết học
Như vậy có thê noi thê niới quan, nhãn sinh quan thần thoại là điếm khơi đâu, là
bươc môi của thé iiiới cỊUiin nhũn sinh cjuun tnct học Tuy nhiíin con níỉươi Iti đọng
vặt biết chê tạo cỏniỉ cụ lao động, luôn tạo ra 'thẽ giới thứ hai cho nên mói trường
tư nhiên môi trườnII sòng là điéu kiện, vật liệu ban đầu đế tao nen phong cách tư
AM
Trang 26duy, cấu trúc tư tường của mỏi nền vãn hoá, của mổi quốc sia mỗi khu vực Đó cũng là điểm xuất phát, là cơ sỡ tạo nên sự khác biệt trong phong cách tư duy, cấu trúc tư tưởng của quá trinh hình thành, phát triển tư duy triết học của mỗi khu vực, mỏi quốc gia trong quá trình lịch sử.
Sinh sống trên những sa mạc mênh mông xen kẽ những thảo nguyên rộng lớn, llấy chăn nuôi đại gia sú làm nghề chính, người Do Thai cổ đại đã sáng tạo nên hình ảnh Thiên Chúa toàn nãng, đấng sáng thế tạo dựns nên muôn loài Sống trong môi trường hải dưcmg khai phóng, khí hậu ưu đãi của ven bờ Địa Trung Hải, sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp đem lại phồn vinh cho thành thị ngươig Hy Lạp đã đúc kết những câu chuyện thần thoại của mình thành những áng
sử thi lung linh roọng lớn như I-li-át va ô-đi-xê, vơi vương quốc thán thánh trên đỉnh ô-lanh-pi-a, nơi ngự trị của thần Dớt và cac vị thần do ỏng cai quản như một triều đình nơi trần thê Dù còn rời rạc, thiếu hộ thống và thường bị lịch sử hoá nhưng thần thoại Trung Quôc cũng khổng kém phần hoành tráng và bay bống, phan ánh một thế ơiới quan rộng lớn và trình độ tư duy trừu tượng khá cao của cư dân du mục trên đường tiến xuống khai phá kinh doanh vùng cháu thổ rộng lớn cùa các consổng đế dựng nước
Neười Việt đã rời bỏ miền chân núi, tiến xuông khai phá vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã trong thời kì giai thể của ché độ công xã nguyên thúy, tiến nhập vào
xã hội có giai cap và nhà nước, dựa trên nền tang của mọi nền kinh tê lay sán xuát nôn« nụhiệp tròng lúa nươc làm chính, kết hợp với chăn nuỏi - tiêu ỉhu -’ỏng nghiệp yia đình và siin bíìt húi lượm
2 4
Trang 27-~Ju h iiitu i - i r i ỉ i h t)f ' Í A V / rí(m n tù t h i Utj iỉĩíi iT iìu t / i i UÌỊ _
Điểu kiện địa lý tự nhiên của vùng cháu thố sông Hồns, đặc điếm cùa nhữns biến động chính trị và quan hệ vãn hóa trong khu vực đã qui định những đặc trims cùa người Việt trong phương thức sản xuất, lối sống, phong cách tư duy và việc lý giải những hiện tượng của giơi tự nhiên xung quanh cũng như những thăc măc tâm linh của chính mình
Từ trong kho tàng thần thoại và cổ tích cứa người Việt, chúng ta thây hiện rõ bóng dáng của những anh hùng văn hóa dưới dạng thần sáng tạo nên trời đất núi sóng và muôn loài, thần tổ tiên cua thị tộc, thần có công bảo vệ lãnh thổ của cộng đổng với những bản lý lịch phi phàm Do điều kiện sinh sống trên lưu vực các con sòng, địa bàn cư trú và canh tác nhỏ vụn, các tiếu vùng sinh thái đan xen phức tạp, cho nên thần thoại phan ánh phong cách, câu trúc tư duy buổi đầu của người Việt cũng vụn vặt, còn thiếu hệ thông, ít nói tới những chuyện "viên vòng, hoang đường", nặng về chuyện đời thường và được lịch sử hóa
Bước vào thời kì Băc thuộc, với tư cách là nhữn? hệ thống triết học tôn giáo on định, đạt đến trình độ cao của tư duy, Nho - Phậĩ - Đạo được truyền bá vào nước ta Mãc dù nhà nươc Ảu Lạc bị thủ tiêu, trở thành một quận thuộc đế chẽ Hán, nhưng
ke thù không với tay tới được cơ câu bên trong làng xã cúa người Việt cố Đại bộ phạn vần thuộc cơ tâng văn hoa Đống Sơn truyền thỗng Với ca 3 hệ thòng, người Viét chỉ tiếp thu những yêu tô phù hợp thiết thực, phục vụ thực tiẻn cua cuộc đâu tranh sinh tổn Đối với Nho Gia người Việt chi tiếp thu những hạt nhân hợp lý có ựia tri nhân văn nhan đạo nhát định cua Nho Gia Khong - Mạnh Hán Nho, với Tứ thư Ngũ kinh chi là nhữnii phươnii tiện đê học thi tiên thân ma [hoi Vai những
-
Trang 28-zfu hiinut "Jriit hoe 'Dìit ffiuttt tù ttii túi '.t-'J'-fs itẽti tTftti thỉ'hit fX/JC
mệnh đề có tính chất một chiều hà khấc, người Việv luôn có thái độ phản ứng chối từ: Phụ vi tử cương X Con hơn cha là nhà có phúc; Phu xướng phụ tòng X Lệnh ổng không bằng cổng bà Đối với Phật Giáo, từ tầng lớp trí thức quan lại tới nsười bình dân đều không quan tâm nhiều tới những triết lý trừu tượng, cao siêu trona Phật lý; họ quan tâm nhiều tới lối sống, đạo đức và vãn hóa Phật Giáo Ông Phật trơ thành hình ảnh ông Bụt gần gũi, thân thương được nsười Việt biết đến nhiéu hơn là những phạm trù Niết - Bàn, Chân Như, Bát Nhã Thậm chí còn thực tiễn hoá Phạt
2ĨÚO đến mức nôm na:
Thứ nhất là tu tại giaThứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa
Trong suốt gần 1000 nãm Bâc thuộc, từ góc độ triết học - tôn giáo, có lẽ đáí!2
chú ý hơn cả là tập luận thuyết có tính chât bút chiến "Lý Hoặc Luận" cua Mâu Bác
(165-170), trong đó có kèm theo 6 bức thư trao đổi giữa Đạo Cao, Pháp Minh và Lý
Miều Trong Lý hoặc luận các tác giả tuy đã đưa ra tranh luận những vấn đé can
bán của triét học như mê và ngộ, con đường và chân lý của nhận thức, vãn đề hình
và thần nhưnơ chỉ mới xuãt phát từ góc nhìn của Nho hoặc Phật mà mỗi bên đưa
ra kiến ?iải chủ quan của mình, và đặc biệt chú trọng đên sự ảnh hương của chúng trong đời sống nhân dân Cuối cùng Lý Miều Kết luận: Chu Khống nghi nhi but biên: Thích thị biện nhi bát thực (Nho giáo đạt ra van đé nhưng không giai rhichđược: Phật tiiáo £Ìui thích nhưng khong thiét thực)
Cỏ lẽ đây là sự mơ đường cho xu thê hỗn dung Tam Giáo Từ sau "L Ị lo ,
Lttcin " không thày có sự tranh luận đung kẽ nao giữa cac hệ thong triết học - ten
26
Trang 29Jtt itióm t -Jnẻí lute <Viêt rìiu tn fù th i'Uiị ĨĨỈH iĩtĩu tiiếU ỉi rJƯJỊj
giáo Sự bổ túc lẫn nhau giữa Nho - Phật - Đạo được coi như một lẽ tự nhiên, một cơ chế hợp lý, với sự phân công chức năng rõ ràng : Dĩ Phật trị tâm, đĩ Đạo trị thân, dĩ Nho trị thế (dùng Phật Giáo điều chỉnh cái tâm, dùng Đạo Giáo điều trị thân thế, dùng Nho Gia quán lý xã h ộ i )
Cơ chế dung thông Tam Giáo, với mục đích vì đời sống thực tiễn dân sinh, vì
sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước, là yếu tố cơ ban qui định đặc điểm quá trình phát triển cúa tư duy triết học Việt Nam ở những the kỷ sau này
Bước ra khỏi thời kì Bắc thuộc, bắt tay vào xây dựng nhà nước phong kiến độc
lập dân tộc, giai câp phong kiến Lý - Trần đã khôn ngoan chọn mô hình nhà nước
dựa trên nền tảng lý luận Tam giáo đổng nguyên Người ta biết nhiều đến Pháp Thuận, Mãn Giác, Vạn Hạnh không phái chỉ thuần túy là những Thiền sư với trình
độ uyên thàm Phật lý hay những tác phẩm Thiển học sâu sảc, mà là những nhà chính trị - quân sự - ngoại giao - văn hóa đã có đóng góp cho sự nghiệp dựng nước
và giữ nước, bảo vệ và phát triển nền vãn hóa dân tộc
Ngay dưới thời Trần, lần đầu tiên dân tộc ta có được một hệ thống tôn giáo triết học độc lập của riêng mình - Thiển phái Trúc Lâm, có được những tác phầm triết học hoàn chỉnh nhất định Vị trí vai trò cua Thiền phai Trúc Lãm và các vị Hoàng đế - Thiền sư thời Trần chủ yếu là để tạo được sự thòng nhát chặt chẽ giữa tư iươnơ Nho Giáo và tư tưởng Phật giáo, sử dung chúng một cách có hiộu qua trong vièc cun° cỏ khòi thõng nhàt quôc gia tạo nên sức mạnh toan diện cua dan tọc tien hành [hăng lợi ba cuộc khung chiên chòng ngoại xam Vào cuối thời Trăn, xu hưởng ’’tính trội" cua Nho Giúo dã làm nay sinh sự xung ưỏt thâm chí là gay gãt
27
Trang 30-quyết liệt giữa Nho và Phật Nhưng thực ra, sự phẽ phán cua các Nho thần lúc này như Lê Quát, Phạm Sư Mệnh cũng chỉ là sự phê phán về đạo đức tác phong sinh hoạt của giới táng sĩ Phật giáo vòn được nhiều ưu đãi từ quí tộc Trần; chứ chưa thấy
có sự phê phán từ góc độ triết học, Phật lý Thậm chí Phạm Sư Mệnh, Lê Quát sau này còn có những bài bia nổi tiếng để cao Phật giáo
Nho Giáo thời Lê về’sau cũng là thứ Nho Giáo thực tiễn, như là một phương tiện để nâng cao lý luận hóa triết lý truyền thống của dân tộc Tư tưởng nhàt quán của Nho thần Nguyễn Trãi là nhớ những điéu cốt yếu để làm việc nhân nghĩa,
"Nhân nghĩa", mà "Việc nhân nghĩa cốt ớ yên dân" (Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân) chứ không phái là những phạm trù giáo điều, tư biện :
Chữ học ngày xưa quên hết dạng Chăng quên có một chữ cương chường
Thậm chí có lúc ông còn tự trách mình răng đã bị lừa gạt ngộ nhận bởi cái
"m ũ” (hình thức) nhà Nho và muốn trò về với lối sống Lão Trang:
Ta dư cưu bị Nho quan ngộ Bân thị canh nhàn điếu tịch ngư
Vốn ưa thực tiễn, ngân gọn dễ hiểu, dễ nhớ, vào giai đoạn phong kiên suy tàn phonơ cách tóm lược kinh điẻn Nho giíi, dùng đê học đe thi lại cang pho bitin CỊU3 các bán "thuyết ứoc", "toát yếu cua các nhà Nho thời Lê-Trịnh
ở Trung Quốc từ cuối thê ký XVI, các nhà Nho Minh Thanh đã có một cuộc cai cách lớn về Nho Giáo, các học phái đâu tranh với nhau dữ dội Những Nho Gia nổi danh như Cò Viêm Võ Vương Phu Chi đề xuất Tâm học đẽ cao Thưc hoc
7 « / Him í/ T r ì r i litn- rO ỉẽt f)tutn tù t h ỉ lu i rJỮ3-rẦ j iĩĩt i íTiìu f/tỉ'Uiị 'j f j 'J C _
28
Trang 31-'t titõm i -Jriii hati rỉ)iê t fftutn fit Ịiti kif OUjJOtj lĩĩti /TillI lltf'ki'i JC'Jf)
phản đối Kinh học Vấn đề "tri" (biét) và "hành" (làm) được đạt ra tranh luận sôi nổi: tri dị hành nan hay, tri nan hành dị (biết dễ làm khó hay biẽt khó làm dễ); tri tiên hành hậu, hay, tri hậu hành tiên Từ quan điểm thực học họ đi đên kết luận : tri hành hợp nhât Phong trào Thực học ở Trung Quốc đã có anh hương lớn tới các nước chịu ánh hưởng văn hóa Trung Quốc (Nhật Bán, Triều Tiênl, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, do điều kiện xã hội Việt Nam lúc đó, đặc biệt là sự tiếp xúc với các tư trào Tây Phương, khuynh hướng Thực học ở Việt Nam chưa được thể hiện rõ nét Ngoại trừ Lê Quí Đôn là người năng động, đã từng đi sứ trong thời kì phong trào Thực học chống Kinh học ở Trung Quốc đang diễn ra sôi nối nên tư tường Thực học của ông kha rõ, còn từ đó về sau khuynh hương Kinh học và dung thông Tam siáo chiếm vị trí chi phối trong sinh hoạt tư tướng Việt Nam Ngò Thì Nhậm
đã từng cố găng tự thoát ra khói cái "mũ nhà Nho" vào những nãm cuối đởi tự xưng
là Hải Lượng Thiền Sư, vị tổ thứ tư đòng Thiền Trúc Làm nhưng thực chát tư tương của ông vẫn là dung thông Tam giáo, "dĩ Nho nhập Thích" Những nhà Nho sau nay như Nguyễn Đức Đạt, Đặng Huy Trứ, thậm chí như Nguyễn Trường Tộ, một trí thức Cồng giáo uyên thâm Nho học, chịu ảnh hường nhiều của Tây học, trong các tác phẩm của mình, vẫn loay hoay khổng thoai khoi câu trúc và tư duy truyén thống Khi Thièn Chúa íĩiáo du nhập, đã xuất hiên cách giai thích T ứ giáo đồng nguyên"
Tóm lại cho đên trước khi có sự tiẽp xúc và ánh hương rỗ rêt cua các tư trào Phương Tây trong đời sông tư tường nói chung và tư tương triẽt học Việt Nam nói riênơ vun lù nôi duns càu irúc và phong cách tư duy triẽt học truyen thơng, chưa co
29
Trang 32-^ J ư tttótH Ị ‘J r i i i ỉttte 'V ie t Q O m i tù t h i k tị rẨ jêĩfẨ j it ru tTttu th ê tui fẨ jrẨ j
Sự phê phán triệt để đối với quá khứ, chưa có sự sẩn sàng tiếp thu và xây dựng mô hình mới
30
Trang 33-tu Ú K Ị C T r íĩí /tạ * fĩ ) iê i Q U , „ , t ù th ê ỉ u i ' X t t t đ ĩ i i đ a n t h í t u i X / J ,
Chương 2
CHÍNH SÁCH CỦA THỰC DÂN PHÁP ở VIỆT NAM
CUỐI THE KỶ XIX - ĐẨU THẾ KỶ XX
2.1 NHŨNG CHÍNH SÁCH CỦA T H ự : DÂN PHÁP VÀ NHŨNG CHUYỂN rẺN
BẾN CỦA Cơ CẤU XẢ HỘI VỆT NAM c u ố i THẾ KỶ XIX
Thể chế chính trị mới ở Việt Nam
Trong những thập kỷ 80-90 của thế kỉ XIX Việt Nam là quốc gia phong kiến
đang bước sang giai đoạn chót suy vong, tan rã Hiệp ước Hácmăns (1883) và
Patơnốt (1884Ì ký giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp dưới áp lực quân sự của tư
ban Pháp đã đánh dấu sự sụp đố hoan toàn của nhà nước phong kiến độc lập Việt
Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước chủ nghĩa tư bản Pháp, công nhận sự
bảo hộ lâu dài của người Pháp ở Việt Nam Vương quyền nhà Nguyễn chỉ còn trên
danh nghĩa
Kể từ hiệp ước Patơnốt (hay còn gọi là hiệp ước Giáp Thân, ngày 6/6/1884),
đát Nam Kỳ do Bộ hải quàn Pháp năm, còn Bộ Ngoại Giao Phảp phụ trách Băc và
Trung Kỳ Song tình trạng thiếu thống nhât trong khâu quán lý đã gây cho bọn thực
dãn Phấp nhiều khó khăn, phức tap
Trước tình hình nói trên, ngày 17'10/1887 Tống thỏng Pháp ra sãc lênh thành
lập "Liên Bang Đông Dương" Lúc đáu khi mới thành lập Liên Baiìỉỉ Dõn- Dươnx
31
Trang 34-t j u -tu m u , 'J r ifi /,oe q ji i-t Q h,n, -tù f h £ k n C63CE <r,n tTau H i LS 'JVXj
mơi chi co Viẹt Nam va Cao miên Cho mãi tới năm 1899, Lào mới sáp nhâp vào
Liên Bang Đông Dương.
Theo qui định của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành ba khu vực gọi là 3
kỳ, trong đó Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là đất nửa bảo hộ và Trung Kỳ là đất bảo hộ V ớ i chính sách "chia để trị" này, tên nước Việt Nam cũng như Lào và Cao
Miên đã biến mãt trên bản đổ thế giới, mà thay thẽ vào đó là sự ra đời cúa Liên
Bang Đông Dương Từ năm 1894, ba nước Đông Dương do Bộ thuộc địa Pháp trực
tiếp quản lý
Cùng với việc thành lập Liên Bang Đông Dương, thực dân Pháp bất đầu thực hiện chế độ toàn quyền Đứng đầu Liên Bang là một viên chức cao câp người Pháp, gọi là Toàn quyền Đông Dương Giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương có Hội
dồng rối cao Đông Dương, và một số tổ chức phụ trách các côns việc thuộc các
ngành chức năng, như chính trị, kinh tế, giáo dục
Như đã nói ở trên, dưới Liên Bang là câp "kỳ" hay "xứ", Nước Việt Nam gổm
ba kỳ với ba chẽ độ cai trị khac nhau
Bắc Kỳ là xứ "nửa bảo hộ" do phú Thông sứ, đứng đẩu là viên Thống sứ quản
lý Còn hộ thống quan lại người Việt do Triều Huế điều hành Tông Thông sứ Băc
Kỳ sẽ thôns qua viên Kinh lược Băc Kỳ (chức kinh lược này đến 1897 thì bị bãi bo;
đế chỉ đạo các quan lại người Việt
Ớ Trunơ Kỳ từ sau khi thực dân Pháp thực hiện 'chế độ Toan quyền" ơ Đòng Dương, bộ máy cai tri mang tính chat song hành hay 'lưỡng the tưc là cô sự tón tai đổng thời của hai hệ thòng chính quyên của Phap va cua Nam Triéu Tuy nhiên
Trang 35j7 ff fiia nt/ C Ịrìếi í Ị tu- 'V ỉèt ffiu m tù t h ế taj fj£yx> it ĩ„ itủ u H tếịuí 'JC 'jfj
trẻn thực tê, toan bộ chính quyên triêu Nguyễn đã bị thực dân Pháp chi phôi và điều khiển
Đối với triêu Huế, sau hai bản hàng ước Hácmăng và Patơnốt, quyền hành đã
bị thu tiêu hoan toan ơ Nam Kỳ Những quyền lực còn lại chỉ giới hạn ờ đất Trunơ
Kỳ và Bắc Kỳ, thể hiện írong các câp kỳ, tỉnh, huyện và xã.
Tại triều đình (Cấp trung ương), trên cùng có vua, dưới là các tổ chức quan lại
phụ tá như Hội đồng phụ chính hay Tứ trụ triều dinh, Viện Cơ mật, các Bộ, Viện
Đô sát, Phủ Tôn nhân.
Bên cạnh chính phủ Nam triều, thực dân Pháp đặt hệ thống cai trị riêng của
mình Đứng đầu Trung Kỳ là viên Khâm sứ Giúp việc cho Khâm sứ và toà Khâm
sứ là các sở có chức năng phụ trách các ngành chuyên môn như thương mại, canh nông, giáo dục
ở Nam Kỳ, đứng đẩu bộ máy cai trị là Thống đốc Thống đốc chi đạo từ cấp
tỉnh trở xuống, và có quyền lập qui, quyền hành pháp và quyền tư pháp ở iNam Kỳ Phụ tá cho Thông đốc Nam Kỳ gồm nhiều tổ chức như sở thương mại, sớ canh nône v.v Cũng như bộ máy cai trị của Pháp ở Băc và Trung Kỳ, đứng đầu cáp tỉnh ở Nam Kỳ là các công sứ người Pháp Toàn bộ hệ thống chính quyén dưới tính
là phu huyện, xã trên lãnh thổ Việt Nam đểu do người Viẽt quan lý, vơi cac chức tri phủ tri huyên (ở Nam Kỳ co nơi còn gọi là Đòc phu sư) tri chau íơ cap phu.huyện); chánh tống (ớ cấp tống) và lý trưởng, xã trưởng (ơ cáp xã)
Cùnơ với vièc thưc hiên chính sach chia đẽ tn thưc dán Phap con tim cach thu hẹp quvền lợi vù phạm vi anh hương cua triều Nguyễn Vẽ mát tài chính, từ sau
33
Trang 36Jti tnớm/ C ĩr ì ịị fioe 'V i f t ffGttH t ừ t h ế kít rẨj^VẦj iĩêit iTầu t h ế iu i fJb rjỊ j
hiệp ước 1884, Pháp nắm toàn bộ ngành thương chính, đề ra và kiểm soát các qui định thu chi về thuế ở Trung Kỳ v ề mặt quân sự, Pháp có quyền chỉ huy ca quân đội triều đình, nấm quyền tổ chức và chỉ huy lực lượng cảnh sát ở các tỉnh
Chính sách về văn hóa, giáo dục
Về mặt giáo dục, trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX, thực dân Pháp tập trung vào hai mục đích: một là, đào tạo đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thực dân: hai là, bước đầu mở trường truyền bá chữ Pháp và chữ quổc ngữ, hạn chế ảnh hưởng của chữ Hán Các trường học được Pháp mở ở Nam Kỳ nhiều hơn so với Bằc Kỳ và Trung Kỳ Tính đến nãm 1886, tòng số các trường học trên đât Nam Kỳ từ cấp xã đên tỉnh là 343; só giáo viên có
600 người, trong đó 97 là người Pháp, số học sinh là 18.231 người
Bên cạnh các trường nói trên, tháng 11 năm 18% Pháp cho thành lập trường Quốc học Huế đặt dưới quyền kiểm soát của Khâm sứ Trung Kỳ đế thu nhạn con quan lại cao câp vào học, nhăm đào tạo một đội ngũ tay sai trung thành cho bọn thực dân
Về văn hóa thực dân Pháp dùng sách báo để biện minh cho hành động xâm lươc cua chúng, đồng thời bước đâu du nhâp văn minh Phương Tay, hạn che anh hưởnơ củâ Who Giáo trons nhủn dản Đê thực hiẹn um mưu đo ngii) 3/ 1886
Pháp cho thành lập Viện Hàn Lúm Băc Kỳ, bao gồm 40 nhà khoa bang Việt Nam
và 10 người Pháp Viện có nhiệm vụ truyen bá vãn minh nước Phũp dồng thơi giúp cho imười Pháp hiếu được vãn hoa Vitít Nam dê dẻ be cai trị Trước do num 1883 Hội Đôn? Dươns Học ra đời tại Sài Gòn Bâng sự xuất hiện cua các to chưc nay
34
Trang 37-thực dân Pháp đã cải tạo điều kiện khuyên khích người Pháp tăng cườna tiếp xúc và tìm hiểu phong tục tập quán văn hóa Việt Nam.
Dù ít nhiêu phục vụ mục đích thưc dán, các hoạt động trong lĩnh vưc v ãn hóa
và giáo dục nói trên đã góp phần nâng cao hiểu biết của một bộ phận nhân dân, làm rạn nứt nền giáo dục Nho học và các giá trị văn hóa Nho Giáo truyền thống ờ nước ta
Nói chung, sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam, từ 1885 irơ đi, nghĩa là trong 15 năm cuối cùng của thế kỷ XIX, thực dân Pháp tập trung trước hết vào mục đích bình định về quân sự để mau chóng ổn định tình hình trong nươc Tuy nhiên, trong giai đoạn này, kể cả trước khi đánh chiếm cả nước Việt Nam Pháp đã
đề ra và bước đầu thực hiện nhiều chính sách khác nhau trên các linh vực chính trị, vãn hóa, giáo dục
Những bién đổi trong cơ câu kinh tè
Nói chung, so với đẩu thê kỉ XIX, tình hình ruộng đãt và nông nghiệp Việt Nam có những biẽn đổi nhât định Diện tích ruộng đất tăng lên khoang 500.000 ha, nhờ hoạt động khai hoang, phục hóa của nhân dân ở cả miền Băc và miền Nam Tuy nhiên, tình trạns phân hóa ruộng đât diễn ra chậm chạp, luẩn quân Diện lích công điển vẫn chiêm ty lê cao, thãm chí còn cao hơn thời ky đâu the ky XIX So dicn san lớn khô ne nhiều, và chủ vêu tập trung ớ các tinh miên Nam
Sản xuất nòng nghiệp mang nặng tính độc canh, tuyệt đại bộ phận diẹn Lích canh túc được đem trồng lúa Do kỹ thuật canh tác lạc hạu nen nang suat lua đạt mức tháp, khoáng 9 tạ/ ha Đên những năm cuối the ky XIX bèn canh cây lúa đã xuất hiện một só cày trồn2 mới như thuốc lá ihau dâu và dãc biẽt lù ca> -ao su
35
Trang 38-c7« h u f m i - J r ir i hot- 'U ỉẽ t Q lttn i tù ' t t t i U ti 'J fjJ 'X t đế tt itu n t h ỉ Ui'f OtjCtj
Tuy vậy, những cây trồng mới du nhập này chỉ bắt đầu được trồng thí điểm, chứ chưa mở rộns đại trà như các loại cây trổng truyền thống
Nhìn chung, vào nửa sau thế kỷ XIX, nền thủ cóng nghiệp nước ta bãt đẩu có những thay đổi do tác động của chiến tranh và các chính sách xâm lược cùa thực dân Pháp Mặc dù vậy, về cơ bản cơ cấu, kỹ thuật và phương thức sản xuất và tiẽu thụ vẫn giống như ở thời- kì nửa đầu thế kỉ X3X Những xưởng thủ công có quy mô lớn, và có tính chất tiền tư bản chủ nghĩa chưa xuất hiện Đa số các hoạt động thủ công còn gắn chặt với nông nghiệp, và tổn tại với tư cách là nghề phụ gia đình Tuy nhiên, đây là thời kỳ trung gian, có ý nghĩa quan trọng để nền thủ công nghiệp truyền thống chuẩn bị bước sang một giai đoạn phát triển mới trên cơ sờ những điều kiện mới về cá ba phương diện : nguồn nguyên liệu, kỹ thuật san xuãt và thị trường tiêu thụ
Sự xuất hiện bộ phận kinh té mới tư bản chủ nghĩa
Sự ra đời của các yếu tô kinh tẽ, cũng như các ngành kinh tế mới sau này, gắn liền với chính sách khai thác và bóc lột của thực dân Pháp ở Việt Nam
Thời ky trước khi ký hiệp ước Harmand (1883), hoạt động chủ yếu của thực dân Pháp là tiến hành xàm lược, do đó Pháp chưa có chính sách kinh te lâu dài và
hệ thống Tuy nhiên, thực dán Pháp cũng bắt đáu đầu tư vôn nhàm xây dựng một số
cơ sở cổng thươny nghiệp đế phục vụ cho công cuộc xàm chiêm toàn bô lãnh thổ Việt Nam Cơ sớ cỏnỉĩ nghiệp đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là binh công xướng Ba Son (Sài Gòn), được thành lập nãm 1864 Ngoài cơ sơ sưa chữa tàu ư Sài Gòn từ nhữnơ nãm 1870 Pháp bắt dầu xày dựng một so cơ sơ cống nghiệp chẻ biên Cư sò
36
Trang 39-r jti itttftttj ^ỉ-riỹt hoe 'D in tit th* Uif fJu3Cti itrn tTtta iftr'Utt fJ6‘Jb
khai mỏ được thành lập sớm nhất là Còng ty than Bắc Kỳ (SFCT) ra đời vào ngày 4/4/1888, đặt trụ sở tại Paris Do nắm được the mạnh của Việt Nam là một nước nòng nghiệp nên ngay sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp đã tiẽn hành đầu
tư xây dựng các cơ sở chế biẽn nông sản và cơ sở cỏng nghiệp
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, nước ta đã có nhiều loại đồn điền khác nhau nhung quy mô nhỏ Sau khi đánh chiếm cả nước Việt Nam bọn Pháp ra sức tìm cách chiếm đoạt ruộng đất
So với nửa đầu thế kỷ XIX quan hệ buôn bán của nước ta mở rộng hơn Do những khó khăn trong nông nghiệp, nhất là sau khi Nam Kỳ rơi vào tay Pháp, nhà Nguyễn phải bỏ dần chủ trương "ức thương"
Tóm lại, ngay trong quá trình xâm lược và đặt ách đô hộ lên đất nước ta, bên cạnh các cuộc đàn áp, bình định về quàn sự, thực dân Pháp băt đầu thực hiện một số chính sách về kinh tế, vãn hoa, và giáo dục Tuy nhiên, hoạt động trẽn các lĩnh vực này mới chỉ có tính chất thăm dò, thể nghiệm bước đầu Bộ phận kinh tế mới (bao gồm các ngành công nghiệp và kinh tế đồn điền) do tư bản Pháp du nhập vào, mới chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh tế Việt Nam
Do nhữna hạn chê' đó nên nền kinh tế Việt Nam vào nửa sau the kỷ XIX về cơ bàn vẫn là một nển kinh tê nông nghiệp mang tính chất tự cung, tự cap Trong cơ cấu kinh tế bộ phận kinh tê truyền thống vơi hai ngành cơ bán là nông nghiệp và thú cổnư nưhiêp vẫn đóns VÍU trò chú đao Môt sổ ngành kinh te mơi chu VỔU la công nghiệp và kinh tè đồn điển đang trên đường hình thành, song song vơi quá trình đấy mạnh đầu tư cúa tư ban nước ngoài trẽn đất nước ta
37
Trang 40-'J n ỉtiớ itit C ĩriií h u e tV iê l f'/iuiH fit th ê Ut'i fJOQfJC) itỈH iĩíĩu t h e j t n fẨ jrẨ j
Sự phán hóa các giai cảp trong xã hội
Trên nền tảng cơ cấu kinh tế tiền tư bản ấy, cấu trúc xã hội về căn bản vẫn giữ nguyên như trước với các giai cấp và tầng lớp xã hội như địa chủ và nông dân, thợ thử công và thương nhân, cùng các tầng lớp sĩ phu, văn thân và quan Lại
Bộ phận quan chức được hình thành qua con đường thi cử và tiến cử, thông qua các kỳ thi Hương và thi Hội, Đinh Số người đỗ Tiẽn sĩ trong các kỳ thi Hội và thi Đình chiếm tỷ lệ rất thấp Còn tầng lớp sĩ phu được đào luyện bằng các giáo lý Khổng - Mạnh, bao gổm hai nhóm là nhân sĩ và thân hào
Nói chung, vào nửa sau thế kỷ XIX, tầng lớp sĩ phu còn khá đông đảo và có vị trí cao trong xã hội Tầng lớp "sĩ" vẫn được xêp ở vị trí hàng đầu trong bôn đẳng cấp: Sĩ - Nông - Công - Thương Tuy nhiên, do tác động bởi tư tưởng Nho giáo nên tầng lớp "Sĩ" xem nhẹ lao động chân tay, coi thường các hoạt động sản xuất và buôn bán Đày là l ý do giải thích VI sao người trí thức Việt Nam lại non kém trong lĩnh vực quản lý sản xuất và kinh doanh Tầng lớp thợ thủ công, tiếu thương, nhât là bộ phận chuyên nghiệp, rất nhỏ bé Phần đông thợ thú công Việt Nam đều tham gia sản xuất nông nghiệp, coi nông nghiêp là nguồn thu nhập chính Do việc nhập kháu
ồ ạt hànơ hóa của Pháp vào thị trường Việt Nam mà hàng loại thợ thu công, nhát là nơhề ươm tơ dệt vải, nghề thủ công tinh xảo bị thua lô hay phá sán, buộc phái ngừng hoạt động đế trơ lại với nghề nông
Bên cạnh các tầng lớp, giai câp đại biểu cho xã hội Việt Nam truyền ihông nói trên vào cuối the kỷ XIX ơ nước ta bat đáu xuãt hiện một sô lưc lượng xã hôi mới Trong một số xướng máv và còníỉ trưưny khai mo cua người Pháp dã co hàng nghìn
38