Hướng giải quyết hiện nay là giúp xã quy hoạch lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, phân tích đề xuất cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng các biện pháp
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC BIỂU
1 4.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã Mường Phăng 17
2 4.2 Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày 29
3 4.3 Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp dài ngày 31
6 4.6 Giá cả và thị trường tiêu thụ các mặt hàng thóc, gạo 37
7 4.7 Giá cả và thị trường tiêu thụ các mặt hàng sắn, ngô, lạc, đậu
tương, khoai.
38
8 4.8 Giá cả và khả năng tiêu thụ các mặt hàng cây ăn quả 39
9 4.9 Giá cả và khả năng tiêu thụ mặt hàng các giống vật nuôi 40
11 4.11 Hiện trạng sử dụng đất của xã Mường Phăng đến năm 2020 44
12 4.12 Kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu của xã Mường Phăng (2013 - 2016) 57
13 4.13 Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của xã Mường Phăng (2017 - 2020) 59
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Giải thích
1 BQLCĐ Ban quản lý cộng đồng
Trang 32 QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
3 SXNLN Sản xuất nông lâm nghiệp
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu không thể thiếu của các ngành sản xuất, nhất là ngành sản xuất nông - lâm nghiệp Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, tính chất và độ màu mỡ của đất đóng vai trò quyết định vào quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm Với sản xuất nông lâm nghiệp, đất không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết mà còn là yếu tố của sản xuất Đất vừa là đối tượng vừa là tư liệu của sản xuất nông - lâm nghiệp
Việt Nam với tổng diện tích đất đai tự nhiên khoảng 33 triệu ha, trong đó đất đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích, dân số Việt Nam hơn 85 triệu người, hơn 80% dân số sống ở nông thôn và miền núi, hoạt động sản xuất của họ gắn liền với đất đai, trong khi đó diện tích bình quân trên người của nước ta rất thấp Nhìn một cách tổng quát thì diện tích đất dùng cho sản xuất của Việt Nam rất ít
và hạn chế, điều này đòi hỏi Việt Nam phải quy hoạch sử dụng đất đai hiệu quả
và bền vững thì mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người
Trong những năm gần đây, việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ)
có sự tham gia của người dân bước đầu được áp dụng trên địa bàn nông thôn miền núi nước ta Từ đó người dân có thể tự QHSDĐ của mình một cách hợp lý, hiệu quả và bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội và môi trường sinh thái
Tuy nhiên, có thể thấy QHSDĐ cụ thể cho cấp xã hiện nay đang còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để đi đến hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác này Bởi vì, việc lập quy hoạch phải được tiến hành từ trên xuống và sau đó bổ sung, hoàn chỉnh từ dưới lên Đây là quá trình có mối quan hệ ngược, trực tiếp và chặt chẽ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vi mô và vĩ
Trang 5được thực hiện ở hầu hết các địa phương ở nước ta song vẫn còn nhiều tồn tại nhất định Việc đánh giá hiện trạng chưa thu hút được sự tham gia của người dân và cộng đồng Mục tiêu và nội dung của phương án quy hoạch thường chưa quan tâm một cách thỏa đáng tới nhu cầu và nguyện vọng của người dân và các cộng đồng nên vai trò chủ đạo của các phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế.
Xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là một xã ở miền núi Tây Bắc, người dân ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, trình độ dân trí còn thấp, sơ
sở vật chất thiếu thốn, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Diện tích đất nông lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích của xã, hoạt động sản xuất chủ yếu của người dân là canh tác lúa nước, làm nương rẫy và chăn nuôi gia súc Do việc QHSDĐ chưa được thực hiện cụ thể rõ ràng nên việc phân bổ đất đai cho các ngành, các thành phần quản lý, thực hiện giao đất cho các hộ gia đình, chuyển đổi mục đích sử dụng đất vẫn còn lúng túng Hệ thống canh tác của người dân còn lạc hậu, kiến thức về việc sử dụng đất đúng mục đích, đúng kỹ thuật vẫn còn
mờ ảo nên đất dễ bị thoái hóa và xói mòn ngày càng tăng, người dân thiếu vốn sản xuất, khoa học kỹ thuật lạc hậu về mọi mặt, thiếu kiến thức,…đặc biệt là xã chưa xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất cho giai đoạn tiếp theo Hướng giải quyết hiện nay là giúp xã quy hoạch lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, phân tích đề xuất cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp, áp dụng các biện pháp canh tác hiệu quả
Do vậy, vấn đề đặt ra là phải quy hoạch sử dụng đất đai của xã một cách hợp lý, sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Xuất phát từ thực tiễn trên,
việc thực hiện chuyên đề “Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất cho xã
Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” sẽ góp phần nâng cao đời
sống của người dân nhờ sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả và bền vững lâu dài
Trang 6PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu ở thế giới
Từ thế kỉ XIX loài người đã bắt đầu nghiên cứu về đất Kết quả của những công trình nghiên cứu về phân loại xây dựng bản đồ và quản lý đất đai đã làm cơ sở quan trọng cho việc quản lý và sử dụng đất đai, tăng năng suất trong sản suất nông nghiệp và lâm nghiệp
Từ những năm 1967, nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch
sử dụng đất đã được hội đồng nông nghiệp Châu Âu phối hợp với FAO tổ chức Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến loại nhỏ,… phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai Năm 1975, Wink đã phân 6 nhóm chính về dữ liệu của tài nguyên cần thu thập cho quy hoạch sử dụng đất như: Khí hậu, độ dốc, địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn đất, tài nguyên nhân tạo như hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật
Năm 1988, Dent và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu về quy trình quy hoạch Ông khái quát QHSDĐ trên 3 cấp và mối quan hệ của các cấp khác nhau:
Kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện), cấp cộng đồng (xã, thôn) Ông còn đề xuất trình tự quy hoạch (gồm 4 giai đoạn và 10 bước)
FAO đã đề xuất phương pháp trong nghiên cứu đánh giá đất đai và sử dụng đất trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội và có tính đến hiệu quả của các loại hình sử dụng đất Quá trình đánh giá đất đai cua FAO
cơ bản gồm các bước: Xác định mục tiêu, thu thập số liệu, tài liệu liên quan, xác định loại hình sử dụng đất, xác định và xây dựng bản đồ đất, đánh giá mức độ thích hợp của loài hình sử dụng đất, xem xét tác động môi trường tự nhiên, kinh
tế xã hội, xác định loại hình sử dụng đất thích hợp
Trang 7Nhìn hướng dẫn trên khá đầy đủ, chặt chẽ, dễ vận dụng và được nhiều quốc gia thử nghiệm và thừa nhận là phương tiện tốt để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho QHSDĐ các cấp.
Đặc thù của sản xuất lâm nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi, vì thế nông - lâm nghiệp còn được định nghĩa một cách khác là sinh học áp dụng cho việc trồng trọt và chăn nuôi Trong đó có trồng trọt với mục tiêu sản xuất sản phẩm
từ cây trồng là sản phẩm sơ cấp bao giờ cũng được xếp vị trí đầu tiên
Theo viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) hệ thống canh tác là “Một tập hợp các chức năng riêng biệt là: Hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị” (1980) Hoặc là “Hình thức tập hợp của một đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở một môi trường nhất định, bằng những phương pháp công nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp” (1989)
Năm 1988, ở Kenya văn phòng môi trường quốc gia hợp tác với đại học Clack thực hiện RRA ở Mbusayi, một cộng đồng ở huyện Machkos Một kế hoạch quản lý tài nguyên cấp thôn, bản được xây dựng vào tháng 9/1988 Sau đó người ta mô tả RRA này như là một PRA và đưa ra phương pháp trong 2 cuốn
sổ tay hướng dẫn Ở Ấn Độ, chương trình hoạt động phát triển nông thôn Aga Khan bắt đầu sử dụng PRA Như vậy, PRA được hình thành từ năm 1988 cùng với RRA
QHSDĐ có sự tham gia của người dân được đề cập khá đầy đủ và toàn diện trong tài liệu hội thảo VFC – TV Dresden, 1998 của Dr Habil Holm Uibring Associate selection concerus for Vietnam Tác giả đã đề cập tới: Quy hoạch rừng những nhận xét về PTNT, QHSDĐ, phân cấp hạng đất, phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ
Cũng trong chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998) – Tài liệu hội thảo về QHSDĐ (Land use planing at village level) của FAO đã đề cập một cách chi tiết khái niệm sự tham gia và đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất Về cơ bản chiến lược nêu lên:
- Sự tham gia của người dân trong những hoạt động thực thi QHSDĐ và giao đất đào tạo cán bộ, và chuẩn bị, hội nghị làng và chuẩn bị
Trang 8- Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và xây dựng bản đồ sử dụng đất.
- Thu thập số liệu và phân tích
- QHSDĐ và giao đất
- Xác định đất canh tác nông nghiệp
- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển đất nông lâm nghiệp
- Mở rộng quản lý và sử dụng đất
- Kiểm tra và đánh giá
Trên đây là những nghiên cứu và những tài liệu liên quan tới vấn đề sử dụng đất đai, hệ thống sử dụng đất đai, hệ thống canh tác và hệ thống cây trồng cùng phương pháp tiếp cận nông thôn mới trên thế giới đã được nghiên cứu và
áp dụng trên nhiều quốc gia, có thể coi là cơ sở lý luận và thực tiễn để các nước vận dụng trong quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô
1.2 Nghiên Cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những hiểu biết về kinh nghiệm sử dụng đất đã bắt đầu được
chú ý và tổng hợp thành tài liệu từ thế kỉ XV Theo Lê Quý Đôn trong “Vân Đài
Loại Ngữ” đã khuyên nông dân áp dụng luân canh với cây họ đậu để tăng năng
suất lúa
Thời Pháp thuộc, những nghiên cứu về đất đai chủ yếu được tiến hành qua các nhà khoa học Pháp
Giai đoạn 1955 - 1975 đều đã chú ý vào phân loại đất đai Từ sau năm
1975, về nghiên cứu đánh giá đất đai gắn với mục tiêu sử dụng đất đạt nhiều thành tựu, nhất là từ sau năm 1980, với những công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất do FAO đề xuất Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu phân hạng cấp đất dựa trên cơ sở vùng địa lý thổ nhưỡng, cây trồng, tính đặc thù của địa phương, trình độ thâm canh và năng suất cây nông – lâm nghiệp Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong các giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trong cả nước
Trang 9Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu từ đầu thập kỉ 90 khi các chương trình cải cách nông nghiệp theo hướng lấy hộ gia đình làm đơn vị cơ bản đang bước vào giai đoạn cải cách sâu rộng và toàn diện Các nghiên cứu của Palmkivist (1992), Reichenberg (1992) và các nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa
có quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô
Những năm 90, tổng cục quản lý ruộng đất cơ bản ban hành hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô theo hướng thông tư số 106/DKTĐ (1990), luật bảo vệ và phát triển rừng ra đời (1991), luật đất đai sửa đổi (1993), đặc biệt
là các nghị định 64 (1993), nghị định 02 (1994) và nghị định 01 (1995) là cơ sở tiền đề cho quy hoạch cấp xã
PRA lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam vào năm 1991 trong khuôn khổ chương trình hợp tác phát triển lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển để phục vụ cho chương trình lâm nghiệp trang trại tại các tỉnh miền núi phía bắc là: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ
Tuy nhiên, quy hoạch có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu
và ứng dụng trong những năm gần đây Về cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu song mức độ đề cập khác nhau và còn nằm tản mạn trong nhiều công trình nghiên cứu mà chưa được phân tích, đánh giá và tổng hợp thành cơ sở lý luận và thực tiễn Về vấn đề này đáng chú ý là công trình sử dụng đất tổng hợp bền vững của Nguyễn Xuân Quát (1996)
Bùi Quang Toản (1996) trong công trình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất nông thôn và ổn định ở vùng trung du miền núi nước ta đã phân tích mở rộng đất nông nghiệp vùng đồi, trung du
Tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges năm 1996 đã thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất có người dân tham gia tại Quảng Ninh, đã đề xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất Sáu nguyên tắc đó là: 1 Kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của chính phủ và nguyện vọng của nhân dân địa phương; 2 Tiến hành trong khuôn khổ luật hiện hành và các nguồn lực hiện
Trang 10có tại địa phương; 3 Đảm bảo tính công bằng, chú trọng đến cộng đồng dân tộc miền núi, người nghèo và vai trò của phụ nữ; 4 Đảm bảo phát triển bền vững; 5 Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia; 6 Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng.
Phương pháp quy hoạch đất cấp vi mô PRA được đề cập trong chương trình quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân (Đoàn Diễm - 1997)
Nghiên cứu đầu tiên về quy hoạch đất và giao đất lâm nghiệp được thực hiện ở xã Tử Lê, huyện Tân Lạc; xã Hang Kia, Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình do dự án "Đổi mới phát triển lâm nghiệp từ năm 1993" Theo Vũ Văn Tuấn (1996), quy hoạch sử dụng đất được coi là một nội dung chính và được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy
xã làm đơn vị lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân và già làng, trưởng bản, chính quyền xã bản đánh giá về trường hợp xã Tử Lê cho thấy cần phải có một kế hoạch sử dụng đất chi tiết hơn hiện nay mới đáp ứng được yêu cầu tránh được mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch Đề nghị ở đây là điều chỉnh và thời sự hoá kế hoạch là hết cức cần thiết
Trong chương trình phát triển nông thôn miền núi 1996 - 2000 trên phạm
vi năm tỉnh đã tiến hành thử nghiệm quy hoạch sử dụng đất cấp xã trên cơ sở xây dựng kế hoạch sử dung đất cấp thôn bản và hộ gia đình Theo Bùi Thụ Toái và Nguyễn Hải Nam (1998), tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành quy hoạch sử dụng đất, tỉnh Hà Giang đã xây dựng kế hoạch và lập kế hoạch
sử dụng đất 3 cấp xã, thôn, hộ gia đình Đến năm 1998, trên toàn vùng dự án có
78 thôn, bản được quy hoạch sử dụng đất theo phương pháp cùng tham gia
Ở nước ta, vấn đề QHSD đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây Về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSD đất cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu, song mức độ đề cập có khác nhau, chưa được tổng hợp và phân tích, đánh giá, tập hợp thành cơ sở lý luận và thực tiễn Nghiên cứu đầy đủ nhất về QHSD đất cấp xã ở Việt Nam đã được các tác giả: Vũ Nhâm (1988) –
Trang 11nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSD đất cấp vĩ mô Nguyễn
Bá Ngãi đề cập trong luận án tiến sĩ năm 2011 Tác giả cho rằng: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) là công cụ rất tốt, có hiệu quả, đảm bảo tính khả thi cho bản quy hoạch vào trong các giai đoạn của quá trình quy hoạch như: Điều tra tự nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá hiện trạng, xác định nhu cầu về đất đai, đánh giá đất đai, phân tích hệ thống canh tác, phân chia 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ, phân bổ đất đai và tiến hành quy hoạch phát triển nông nghiệp cấp thôn bản và xã Mỗi giai đoạn cần lựa chọn các công cụ thích hợp như: Xây dựng xa bàn thôn bản, thảo luận bên xã bàn, điều tra tuyến, phân tích biểu đồ hướng thời gian mô tả diễn biến tình hình sử dụng đất…
Lê Sĩ Việt, Trần Hữu Viên (1999) đã nêu rõ: Xã được coi là đơn vị quản
lý hành chính bé nhỏ nhất, là đơn vị quản lý và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Công tác quy hoạch cần giải quyết những nội dung sản xuất, các giải pháp kinh tế, kỹ thuật và xã hội thật chi tiết cụ thể Ngoài ra, cần phải ước tính được đầu tư, nguồn vốn và hiệu quả đầu
tư về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Về định hướng QHSD đất cả nước đến năm 2000, được tổng cục địa chính (1994), xây dựng định hướng QHSD đất cả nước đến năm 2000 và kế hoạch giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác Báo cáo đã đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các ngành và địa phương triển khai thống nhất công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Đề cập vấn đề quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản, Lê Sỹ Việt – Trần Hữu Viên đã chỉ ra rằng: Quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp ở cấp làng bản (Cấp vi mô) khác với quy hoạch tầm vĩ
mô ở chỗ: Quy hoạch ở cấp vi mô phải do người dân trực tiếp tham gia mới có tính khả thi cao và mang lại hiệu quả thiết thực Đồng thời cũng chỉ ra những ưu nhược điểm của phương pháp này là tuy khuyến khích người dân tham gia, họ sẵn sàng chủ động trong việc tham gia thực hiện những kết quả lại khó phù hợp với những quy hoạch ở cấp cao hơn Vì vậy cần phải giải quyết tốt mối quan hệ
Trang 12hai chiều từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, cần có sự quan tâm hỗ trợ thỏa đáng từ cấp trên.
Trong những năm gần đây nhiều trương trình dự án đã vận dụng phương pháp QHSD đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân vào công tác QHSD đất nông lâm nghiệp cho các thôn bản ở trong nước, đáng chú ý là chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam – Thụy Điển về phát triển nông thôn miền núi của 5 tỉnh phía Bắc, chương trình PAM, dự án phát triển LNXH sông Đà; dự án trồng rừng Lạng Sơn, Hà Bắc do GTZ tài trợ và một số trương trình hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ khác
Đi đôi với việc triển khai các chủ trương, chính sách và các chương trình lớn, dự án, công tác quy hoạch sử dụng đất bền vững cũng như thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành thông qua các hoạt động
tư vấn cho các dự án Mỗi dự án có một đặc thù riêng, phương pháp và trình tự tiến hành quy hoạch cũng chưa phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương Song nhìn chung các phương pháp thực hiện đều thống nhất với nhau
về cách tiếp cận từ dưới lên Đây cũng là điểm chính mà đề tài cần hướng tới phân tích nhằm tìm ra những cơ sở khoa học và thực tiễn chắc chắn cho công tác QHSD đất bền vững
Như vậy, thông qua một loạt các công trình nghiên cứu, cho thấy vấn đề quy hoạch, sử dụng hợp lí tài nguyên đất đang là vấn đề chung của toàn nhân loại Đặc biệt là việc sử dụng nguồn tài nguyên đất ở vùng núi được hiệu quả, bền vững đang là mối quan tâm của toàn xã hội Hiện việc nghiên cứu, quy hoạch sử dụng đất hợp lí cho xã được coi là một hướng tiếp cận đúng đắn trong việc phát triển nông thôn miền núi
1.3 Xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
Quy hoạch sử dụng đất cả nước và quy hoạch sử dụng đất địa phương hợp thành một hệ thống quy hoạch sử dụng đất hoàn chỉnh Quy hoạch sử dụng đất
cả nước là cơ sở quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, và là cơ sở để quy hoạch sử dụng đất cấp xã
Trang 13Xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là một xã ở miền núi Tây Bắc, người dân ở đây chủ yếu là dân tộc Thái, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở vật chất thiếu thốn, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Diện tích đất tự nhiên chiếm phần lớn diện tích của xã, hoạt động sản xuất
chủ yếu của người dân là canh tác lúa nương, làm nương rẫy và chăn nuôi gia
súc Trong những năm qua, nhà nước đã có chính sách giao đất, giao rừng cho
xã và từng bản, từng hộ dân để quản lý đất đai và sử dụng vào hoạt động sản xuất Nhưng do trình độ và kinh nghiệm của người dân còn hạn chế cho nên việc
sử dụng đất đai chưa có kế hoạch cụ thể dẫn đến hiệu quả mà các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp mang lại còn thấp, diện tích rừng rất ít, đồi núi phần lớn là cây bụi và trảng cỏ, hiệu quả sản xuất và phòng hộ của rừng còn thấp
Như vậy cho thấy vấn đề quy hoạch sử dụng đất đang là vấn đề cấp bách không chỉ cho toàn quốc gia, mà cho cả từng địa phương, từng xã ở đây là xã Mường Phăng sẽ góp phần khắc phục những khó khăn trong vấn đề sử dụng đất đai, nâng cao đời sống của người dân nhờ việc sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và bền vững
Trang 14PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Bố trí sử dụng đất cho xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
được hiệu quả, hợp lý
- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất cho xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2013 - 2020
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là các vấn đề liên quan đến quản lý
sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất của xã Mường Phăng
- Địa điểm nghiên cứu là xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra điều kiện cơ bản của đối tượng quy hoạch
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng đất của xã
- Đánh giá các hoạt động sản xuất của xã
- Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức sử dụng đất của xã
- Phân tích các nhân tố có ảnh hưởng đến sử dụng đất của xã, ( Như điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất của cấp trên, thị trường tiêu thụ sản phẩm)
Nội dung 2: Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất cho xã giai đoạn (2013 –2020)
- Căn cứ để xây dựng phương án quy hoạch
- Xác định mục tiêu, phương hướng của phương án quy hoạch
- Quy hoạch sử dụng các loại đất
- Quy hoạch các hoạt động sản xuất
- Lập kế hoạch sử dụng đất của xã
+ Kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (4 năm đầu) của phương án quy hoạch.
Trang 15+ Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (4 năm cuối) của phương án quy hoạch.
Nội dung 3: Đề xuất các giải pháp thực hiện phương án quy hoạch
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Kế thừa tài liệu sẵn có:
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã
+ Số liệu về diện tích đất đai, tình hình sản xuất của xã
+ Các tài liệu có liên quan đến quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp của xã
+ Các báo cáo tổng kết về hoạt động sản xuất của xã
+ Các báo cáo, quyết định, định hướng quy hoạch sử dụng đất của các cấp trên đối với xã
- Sử dụng công cụ RRA để tiến hành thu thập số liệu liên quan đến đề tài (để thu thập thông tin thị trường tiêu thụ, định hướng quy hoạch sử dụng đất của cấp trên…)
- Điều tra, khảo sát thực tế để đánh giá về hiện trạng, tìm năng đất đai của xã
- Vẽ sơ đồ quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xã
- Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng ( PRA )
+ Dùng phương pháp Matrix trên cơ sở phân loại, xếp hạng cho điểm cây trồng.+ Đề nghị người dân liệt kê các loài cây lâm nghiệp, cây ăn quả chủ yếu hiện có trong xã
+ Thảo luận nhanh với người dân về tiêu chuẩn đánh giá, dựa vào nhận thức của họ
+ Viết các tiêu chuẩn đánh giá
+ Giải thích cho người dân cách cho điểm
+ Đề nghị người dân cho xếp loại ưu tiên từng loại cây chính
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức sử dụng đất của xã bằng công cụ SWOT
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 16*) Từ các tài liệu, số liệu thu được tiến hành chỉnh lí, tồng hợp và phân tích các mặt
- Phân tích đánh giá điều kiện sản xuất nông, lâm nghiệp Từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn để làm cơ sở xây dựng phương án quy hoạch
- Xử lý các số liệu
- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất
- Vẽ sơ đồ quy hoạch
*) Phương pháp tính số dân và số hộ trong tương lai
Số dân được tính theo công thức:
N0: Dân số năm hiện tại
P: Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên
V: Tỉ lệ tăng dân số cơ học
nt: là dân số trong tương lai
n0: là dân số hiện tại
Ht: là số hộ trong tương lai
Số hộ phát sinh được tính theo công thức :
HP = HT – H0 (2 - 3)Trong đó: HP: Số hộ phát sinh
HT: Số hộ trong tương lai
H0: Số hộ hiện tại
- Phân tích số liệu trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thực hiện
Trang 17PHẦN III ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Nam Giáp xã Pú Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điên Biên
- Phía Bắc giáp xã Nà Tấu và xã Là Nhạn ( Cùng huyện )
3.1.2 Địa hình
- Nằm ở độ cao 480,1m đến 1397,2m
- Địa bàn rộng, địa hình chủ yếu là đồi núi
3.1.3 Đất đai thổ nhưỡng
Thổ nhưỡng của xã được hình thành từ đá mẹ gốm các nhóm chính sau:
- Đá trầm tích, đá biến chất, đá macma axit
Các loại đất chính:
- Đất Feralít phát triển trên nhóm đá Macma
- Đất Feralít phát triển trên nhóm đá trầm tích
- Đất Feralít phát triển trên nhóm đá biến chất
- Đất Feralít phát triển trên phù sa cổ ven suối, sông, thung lũng
3.1.4 Khí hậu
Mường Phăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 4 đến tháng
10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm là 21oC Lượng mưa trung bình năm là 1500 -
2200 mm/năm Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 83% Các yếu tố hạn chế như gió Lào, gió Đông Bắc, sương muối
3.1.5 Nguồn nước
- Nước mặt: Mường phăng có Hồ Pa Khoang
Trang 18- Nước ngầm: Nhân dân đào giếng, dùng nước suối lấy từ các khe suối để
sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày
3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
Số người trong độ tuổi lao động: 4735 người, trong đó:
+ Lao động nông nghiệp: 4333 người
+ Cán bộ, công nhân, viên chức: 102 người
+ Lao động phi nông nghiệp: 300 người
Về thành phần dân tộc có: 04 dân tộc, gồm:
+ Dân tộc thái: 6146 người, chiếm 70,09 %
+ Dân tộc Khơ Mú: 1481 người, chiếm 17,09 %
+ Dân tộc Mông: 959 người, chiếm 11,06 %
+ Dân tộc kinh: 82 người, chiếm 0,95%
3.2.2 Số thôn, bản
Có 47 bản, gồm: Bản Lọng Luống 1, bản Lọng Luống 2, bản Lọng Nghịu, bản Lọng Háy, bản Cang 1, bản Cang 2, bản Cang 3, bản Cang 4, bản Yên 1, bản Yên 2, bản Yên 3, bản Co Luống, bản Co Mặn 1, bản Co Mặn 2, bản Phăng
1, bản Phăng 2, bản Phăng 3, bản Khẩu Cắm, bản Tân Bình, bản Khá, bản Che Căn, bản Co Khô, bản Bua, Bản Trung Tâm, bản Bánh, bản Đông Mệt, bản Co Thón, bản Xôm 1, bản Xôm 2, bản Xôm 3, bản Kéo, bản Công, bản Ten, bản Nghịu 1, bản Nghịu 2, bản Co Muông, bản Hả 1, bản Hả 2, bản Sáng, bản Bó, bản Co Cượm, bản Pú Sung, bản Co Đíu, bản Pá Chả, bản Vang 1, bản Vang 2
3.2.3 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
- Về kinh tế:
+ Là xã thuần nông, ngân sách nhà nước chủ yếu phụ thuộc vào cấp trên Kinh tế chậm phát triển là xã đặc biệt khó khăn, đời sống sản xuất của nhân dân chủ yếu là tự cung, tự cấp, tỉ lệ hộ nghèo 776 hộ chiếm 43,3 %
Trang 19+ Những năm gần đây nhờ sự quan tâm đầu tư của nhà nước, kinh tế xã hội nói chung có bước phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện hơn so với trước.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế hang năm đạt 6%, thu trên địa bàn năm 2011 ước đạt 30 triệu đồng
+ Diện tích lúa ruộng hằng năm đều tăng, diện tích lúa chiêm đạt 234.000
ha, Lúa nương đạt 58 ha, lúa mùa đạt 381 ha, ngoài ra còn phát triển mộ số cây trồng khác như sắn, dong riềng, ngô đạt khỏng 200 ha và tổng lương thực năm
2011 đạt 400 tấn, bình quân lương thực đầu người năm 2011 là 500 Kg/năm Bình quân thu nhập đầu người năm 2011, là 3,5 triệu đồng
+ Một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng như: Gạch, ngói, cát, sỏi, mộc dân dụng, chế biến nông sản, cơ sở hạ tầng được xây dựng và hoàn thiện, đã phủ sóng điện thoại di động và có điện lưới quốc gia
- Về xã hội:
+ Y tế: Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh cho nhân dân được chú trọng, hoạt động y tế được tăng cường Trên địa bàn xã có 01 trạm y tế với 7 cán bộ y tế, công tác dân số, gia đình và trẻ em được chú trọng, thực hiện các biện pháp làm giảm tỉ lệ tăng dân số 1,8 %, 47/47 số thôn bản có y
tá bản
+ Giáo dục: Công tác giáo dục đã được quan tâm, chất lượng dạy và học
đã được nâng lên năm sau cao hơn năm trước Hiện tại địa bàn xã có: 01 trường THCS với 19 lớp, 587 học sinh, 04 trường Tiểu học với 48 lớp, 804 học sinh và
02 trường mầm non với 30 lớp, 627 học sinh
Trang 20PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều tra điều kiện cơ bản của đối tượng quy hoạch
4.1.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng đất của xã
4.1.1.1 Hiện trạng sử dụng đất của xã
Kết quả thống kê hiện trạng sử dụng dụng đất của xã Mường phăng được thể hiện qua biểu sau:
Biểu 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Mường Phăng
1.1 Đất trồng cây hàng năm 1700,08 18,561.1.1 Đất trồng lúa 871,97 9,521.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác 828,11 9,04
1 2 Đất trồng cây lâu năm 34,19 0,37
2.1 Đất rừng sản xuất 668,82 7,302.2 Đất rừng phòng hộ 3747,90 40,922.3 Đất đặc dụng 753,78 8,23
Trang 21III Đất chưa sử dụng 110,59 1,21
Từ bảng số liệu trên ta thấy xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 9158,56 ha bao gồm:
Đất nông nghiệp có 6928,61 ha, chiếm 75,65 % diện tích tự nhiên
Đất phi nông nghiệp có 2119,36 ha, chiếm 23,14 % diện tích tự nhiên.Đất chưa sử dụng 110,59 ha, chiếm 1,21 % diện tích tự nhiên
*) Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp có 6928,61 ha chiếm 75,65 % diện tích tự nhiên, trong đó:
- Đất sản suất nông nghiệp 1734,27 ha, bằng 18,94 % diện tích tự nhiên
- Đất lâm nghiệp 5170,50 ha, chiếm 56,46 % diện tích đất tự nhiên
- Đất nuôi trồng thủy sản 23,84 ha, bằng 0,26 % diện tích tự nhiên
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp có 1734,27 ha chiếm 18,94 % diện tích tự nhiên, trong đó:
- Đất trồng cây hàng năm 1700,08 ha chiếm 18,56 % diện tích tự nhiên gồm:+ Đất trồng lúa 871,97 h, chiếm 9,52 % diện tích tự nhiên
+ Đất trồng cây hàng năm khác 828,11 ha, chiếm 9,04 % diện tích tự nhiên
- Đất trồng cây lâu năm 34,19 ha, chiếm 0,37 % diện tích tự nhiên
Diện tích đất lâm nghiệp có 5170,50 ha, chiếm 56,46 % diện tích tự nhiên, trong đó:
- Đất rừng sản xuất 668,82 ha, chiếm 7,30 % diện tích tự nhiên.
- Đất rừng phòng hộ 3747,90 ha, chiếm 40,92 % diện tích tự nhiên
- Đất rừng đặc dụng 753,78 ha, chiếm 8,23 % diện tích tự nhiên
Đất nuôi trồng thủy sản có 23,84 ha, chiếm 0,26 % diện tích tự nhiên
*) Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
Diện tích đất phi nông nghiệp của xã có 2119,36 ha, chiếm 23,14 % diện tích tự nhiên, trong đó:
Trang 22• Đất ở nông thôn 47,86 ha, chiếm 0,52 % diện tích tự nhiên.
- Đất trụ sở cơ quan và các công trình sự nghiệp 0,24 ha
- Đất quốc phòng 1166,40 ha
- Đất an ninh 4,73 ha
- Đất có mục đích công cộng 160,89 ha chiếm 1,76 % diện tích tự nhiên gồm:
+ Đất giao thông 49,18 ha
+ Đất thủy lợi 26,90 ha
+ Đất công trình năng lượng 7,28 ha
+ Đất công trình bưu chính viễn thông 0,02 ha
+ Đất cơ sở văn hóa 0,23 ha
+ Đất cơ sở y tế 0,1 ha
+ Đất cơ sở giáo dục – đào tạo 4,08 ha
+ Đất chợ 0,11 ha
+ Đất có di tích, danh thắng 73,00 ha
nhiên.
*) Hiện trạng đất chưa sử dụng
Xã còn 110.59 ha đất chưa sử dụng, chiếm 1,21 % diện tích tự nhiên, phân bố rải rác trên địa bàn của xã
4.1.1.2 Tiềm năng đất đai của xã
Xã Mường Phăng bao gồm các loại đất chính như sau:
- Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha): Có diện tích 7,114 ha chiếm 77,7 % tổng diện tích tự nhiên, đây là loại đất chính phân bố trên địa bàn xã, đất
có thành phần cơ gới từ thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dầy, hàm lượng mùn trong đất tương đối nhiều thuận lợi để phát triển các loài cây nông nghiệp
- Đất vàng đỏ trên đá macma axit ( Fa): Diện tích 893,5 ha chiếm 9,8 % diện tích đất tự nhiên toàn xã Phân bố chủ yếu với phía tiếp giáp thành phố Điện Biên Phủ có độ cao từ 900 – 1000 m so với mặt nước biển; đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, hàm lượng mùn nhiều
Trang 23- Đất thung lũng (D): Diện tích 238,4 ha chiếm 2,6 % diện tích đất tự nhiên toàn xã, tập chung ở ven suối nậm phăng, đất được hình thành do sản phẩm dốc tụ, bồi tụ củ suối, thành phần cơ giới của đất từ thịt nhẹ, hàm lượng mùn lớn, rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp.
- Ngoài ra còn một số loại đất như: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét (Fs), Đất mùn vàng nhạt phát triển trên đá cát (Hq), Đất mùn đỏ vàng trên đá sét Tuy nhiên những loại đất này chiếm tỷ lệ không lớn và phân bố chủ yếu ở những đỉnh núi cao thuộc khu vực giáp ranh với huyện Điện Biên Đông và thành Phố Điện Biên Phủ
Xã Mường Phăng là xã mang đậm nét đặc trưng của một xã miền núi phía Bắc là có độ dốc cao và chia cắt mạnh Phần lớn diện tích đất có độ dốc dưới 25
độ đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp còn trên 25 độ đa phần được sử dụng vào mục đích phát triển lâm nghiệp Đất dốc với nhiều hạn chế như xói mòn, rửa trôi, hạn hán đất dễ bị thoái hóa bạc màu, giao thông đi lại khó khăn nên gây nhiều trở ngại cho phát triển kinh tế
Tuy nhiên ngoài những mặt hạn chế trên, đất dốc cũng có nhiều tiềm năng nhất định Nếu được khai thác hiệu quả sẽ đem lại những lợi ích to lớn về kinh
tế, sinh thái và môi trường
Những tiềm năng của đất dốc như:
- Đa phần diện tích đất ở nơi có độ dốc thấp đều được người dân trong xã
sử dụng để phát triển nông nghiệp nên diện tích đất dốc là nơi có tiềm năng để
mở rộng canh tác
- Đất dốc là nơi có tiềm năng để phát triển lâm nghiệp bởi vì rừng mọc chủ yếu ở những nơi đất có độ dốc lớn, thông qua đó việc phát triển rừng, chủ yếu là rừng đặc dụng sẽ giúp bảo vệ đất, chống xói mòn có hiệu quả, giúp tạo cảnh quan sinh thái và du lịch
- Ngoài ra đất dốc còn có tiềm năng phát triển các loại cây ăn quả và các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao
- Tiềm năng để phát triển các bãi chăn thả, chăn nuôi các loại gia súc lớn
có giá trị kinh tế cao như trâu, bò giúp tăng thu nhập cho người dân
Trang 24*) Tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp
- Xã Mường Phăng là một xã miền núi Hoạt động sản xuất chính của người dân là sản xuất nông nghiệp năm 2010 xã có 1734,27 ha diện tích đất dùng cho sản xuất nông nghiệp, chiếm 18,94 % diện tích đất tự nhiên Diện tích này tương đối đảm bảo để người dân thực hiện các hoạt động sản xuất Nếu đầu
tư hơn nữa về giống, phân bón, kỹ thuật, áp dụng các biện pháp luân canh tăng
vụ sẽ đem lại hiệu quả cao, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình
- Địa hình xã bao gồm cả đồi núi và đồng bằng, sự phân hóa về địa hình
đã tạo thuận lợi để xã phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi
- Diện tích đất lâm nghiệp của xã là 5170,50 ha chiếm 56,46 % diện tích đất tự nhiên, bao gồm:
+ Đất rừng sản xuất 668,82 ha, chiếm 7,30 % diện tích tự nhiên
+ Đất rừng phòng hộ 3747,90 ha, chiếm 40,92 % diện tích tự nhiên
+ Đất rừng đặc dụng 753,78 ha, chiếm 8,23 % diện tích tự nhiên
- Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế lâm nghiệp, nếu lựa chọn được loài cây trồng hơp lý vừa đem lại hiệu quả kinh tế vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã sẽ đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, đồng thời bảo vệ môi trường, đảm bảo tính bền vững Diện tích rừng đặc dụng của xã tương đối lớn sẽ góp phần bảo vệ nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt, tưới tiêu, phòng chống xói mòn Bảo vệ không khí trong lành nhằm tạo cảnh quan sinh thái phục vụ cho thăm quan, du lịch góp phần tăng thu nhập cho người dân
- Xã còn 110,59 ha đất chưa sử dụng đây là tiềm năng đất đai để khai thác,
bổ xung vào sử dụng để mở rộng quỹ đất sản xuất nông - lâm nghiệp Cũng như đáp ứng một phần cho việc mở rộng đât sản xuất phi nông nghiệp
*) Tiềm năng đất cho phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Tiềm năng cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong thời gian tới chủ yếu bao gồm các ngành nghề chính là sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 25như: Gạch sét, bột đá Chế biến nông lâm sản theo quy mô hộ gia đình Thủ công nghiệp thì chủ yếu là dệt thổ cẩm và đan lát.
*) Tiềm năng đất cho phát triển khu dân cư nông thôn
Quỹ đất cho việc phát triển các khu dân cư tương đối rộng 47,86 ha địa bàn dân cư rộng và phân bố rải rác Cho nên nếu được quy hoạch, sắp xếp lại, đầu tư cơ sở hạ tầng hợp lý thì sẽ hình thành được các khu dân cư tập chung, nhất là ở các khu trung tâm xã, các đầu mối giao thông, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, buôn bán nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân Đồng thời đất đai sẽ được sử dụng hợp lý, tích kiệm và hiệu quả hơn
4.1.2 Đánh giá các hoạt động sản xuất của xã
4.1.2.1 Hoạt động về trồng trọt
Các cây trồng chủ yếu gồm:
- Chiêm xuân: 248 ha, năng suất 69 tạ/ ha Lúa mùa 381,7 ha, năng suất 38.6 tạ/ha, sản lượng 1.473,36 tấn Tập chung chủ yếu ở các khu vực thuộc trung tâm xã thuộc các bản Phăng 1, 2, 3, bản Che Căn, bản Bua, bản Co Mận
và khu vực đường đi Nà Tấu gồm các bản Yên 1,2,3, bản Cang 1,2,3,4, bản Lọng Luông 1,2 vv
- Lúa nương: 65 ha, năng suất 14,5 tạ/ha, sản lượng 94,25 tấn Chủ yếu sử dụng giống địa phương Tập chung chủ yếu tại các bản Hả 1, bản Công, bản Kéo, bản Lọng Luông 1, 2 và bản Xôm
- Ngô cả năm 232 ha, năng suất ước đạt 39,9 tạ/ha sản lượng ước đạt 925,
68 tấn Được trồng chủ yếu ở những khu vực đồi núi thấp, độ dốc nhỏ gần khu dân cư có điều kiện thuận lợi cho canh tác
- Cây công nghiệp ngắn ngày 51,7 ha, trong đó: Đậu tương 40,7 ha, năng suất 14,8 tạ/ha, sản lượng 60,23 tấn Lạc 11 ha, năng suất 14 tạ/ha, sản lượng 15,4 tấn
- Khoai lang 7 ha, năng suất 125 tạ/ha, sản lượng 87,5 tấn
- Sắn 285 ha, năng suất 95 tạ/ha, sản lượng 2707,5 tấn
- Dong riềng 35 ha, năng suất đạt 57,5 tạ/ha, sản lượng 201,25 tấn
- Rau mầu các loại 57,5 ha
Trang 26- Thực hiện trồng cây ăn quả: Cây lê lai 5 ha, chuối 5 ha, đào pháp 6,5 ha
và hồng dòn 4 ha Phân bố quanh khu dân cư, tập chung chủ yếu tại các bản: bản Khá, bản Đông Mệt 1, 2, bản Yên 1, 2, bản Cang 1, 2, 3, bản Sôm, bản Phăng 1, 2
- Chăm sóc cây ăn quả 25 ha
Thuận lợi:
- Xã Mường Phăng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp tương đối lớn và đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững Điều kiện tự nhiên của xã cũng hết sức thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, toàn diện, bền vững, khí hậu hợp với nhiều loại cây, nguồn đất đai dồi dào, chất đất tốt, phương thức canh tác của người dân khá đa dạng nên nền sản xuất nông nghiệp của xã khá phát triển Và nền kinh tế chủ yếu của xã hiện nay dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính bởi vậy sản xuất nông nghiệp đã và đang được coi là vấn đề cấp bách được các cấp lãnh đạo xã quan tâm chú trọng Đó chính là tiền đề để nền sản xuất nông nghiệp của xã ngày càng phát triển
Khó khăn:
- Diện tích canh tác do thiếu nước còn lớn, thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng chậm kéo dài thời gian mùa vụ, sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, trình độ canh tác của người dân còn hạn chế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng chậm
- Trong năm vừa qua do thời tiết diễn biến thất thường, giá cả vật tư tăng cao như giống, phân bón khiến cho một số diện tích canh tác của xã không đạt chỉ tiêu đã đề ra Cây công nghiệp dài ngày của xã còn chưa được phát triển vì đây không phải cây thế mạnh của xã Do vậy muốn phát triển được cây công nghiệp thì quan trọng là giải quyết vấn đề về Giống đầu ra cho sản phẩm
4.1.2.2 Hoạt động chăn nuôi
Trên địa bàn xã chủ yếu phát triển chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình với phương thức chăn thả tự do chưa có quy hoạch, đầu tư nên năng xuất vật nuôi
Trang 27thấp sản phẩm của chăn nuôi chủ yếu để cung cấp thực phẩm để phục vụ sinh hoạt và lấy sức kéo phục vụ sản xuất.
Theo số liệu kiểm kê đến ngày 31 tháng 12 năm 2011:
- Tổng đàn trâu: 2.011 con
- Tổng đàn bò: 634 con
- Tổng đàn lợn: 4.882 con
- Tổng đàn gia cầm các loại 36.787 con
Nhưng trong những năm gần đây chăn nuôi trên địa bàn xã có xu hướng phát triển, tổng đàn năm sau cao hơn năm trước, hiện đã xuất hiện những mô hình chăn nuôi trâu, bò quy mô trang trại nhỏ Còn có nhiều mô hình nuôi gà thả vườn, nuôi ngan pháp do trạm khuyến nông huyện triển khai thông qua Các loại con giống hiện nay vẫn là giống địa phương do người dân tự lai tạo như: Giống
bò vàng, lợn Mường, trâu Ngố vv
Thuận lợi:
- Do xã có nền nông nghiệp phát triển cho nên cũng kéo theo hoạt động chăn nuôi cũng phát triển đáng kể Do chăn nuôi tận dụng được phế phẩm từ nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, hơn nữa phế thải chăn nuôi còn cung cấp nguồn phân bón hữu cơ cho trồng trọt Và xã có diện tích đất dốc tương đối lớn thuận lợi cho việc chăn thả các loại gia súc lớn như trâu bò
- Ngoài ra dịch bệnh và thiên tai cũng là những yếu tố làm ảnh hưởng tới hoạt động chăn nuôi của người dân có nhiều đợt dịch bệnh đàn gia súc gia cầm
bị chết buộc phải thiêu hủy gây thiệt hại lớn cho người dân như bện long móng,
lở mồm ở gia súc, cúm gia cầm vv Bởi vậy vai trò của các cán bộ khuyến nông – khuyến lâm, trạm bảo vệ thực vật trong công tác tiêm phòng, kiểm dịch càng
Trang 28cần được nâng cao để hạn chế tối đa nhất những rủi ro do dịch bệnh gây ra để người dân yên tâm phát triển chăn nuôi.
4.1.2.3 Hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Tổ chức tuyên truyền và kiểm tra thực hiện quy ước bảo vệ rừng đến từng bản, đội trong xã đã được 47/47 bản đội với nội dung tuyên truyền là: Nghị định
số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của chính phủ về sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Triển khai các văn bản của tỉnh, huyện về công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCR, tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng – PCCR
Mở rộng hội nghị triển khai công tác QLBVR – PCCCR tại UBND xã, Tổ chức ký kết giữa UBND xã với trưởng bản và giũa các trưởng bản với các hộ dân; thành lập tổ bảo vệ rừng - PCCR; tổ chức thực hiện kiểm tra quy ước bảo
vệ rừng và tuyên truyền cho người dân hiểu được những tác hại về việc phá rừng; thành lập tổ chuyên trách kiểm tra sử lý lâm sản, xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng
Công tác sử lý vi phạm hành chính: Xã tăng cường xử lý các vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển sử dụng lâm sản trái phép
Hoạt động phát triển rừng:
- Xã vẫn tiếp tục chỉ đạo nhân dân chăm sóc rừng khoanh nuôi tái sinh, khoanh nuôi bảo vệ, rừng trồng mới Phát triển các mô hình trang trại kết hợp khoanh nuôi bảo vệ rừng đã thực sự mang lại hiệu quả cao, nhất là mô hình trang trại VACR Trên địa bàn xã hiện tại có tổng số 18 trang trại, các trang trại đều phát triển chăn nuôi gia súc lớn, gia cầm kết hợp đào ao nuôi thả cá, vườn cây ăn quả và khoanh nuôi bảo vệ rừng đã đem lại thu nhập cao
- Diện tích rừng và đất rừng hiện nay đã được giao cho nhiều đơn vị quản
lý Theo số liệu thống kê hiện nay có 6 tổ chức, cá nhân được UBND tỉnh giao đất rừng để quản lý bảo vệ và sử dụng với các mục đích khác nhau
Thuận lợi:
Trang 29- Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích người dân tham gia các hoạt động chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng.
- Diện tích rừng tương đối lớn thuận lợi cho việc phát triển các khu cảnh quan sinh thái, khu nghỉ dưỡng và cùng với đó xã có khu di tích lịch sử sở chỉ huy của chiến dịch Điện Biên Phủ, Hồ Ba Khoang với các rừng dẻ lâu năm thuận lợi cho thăm quan nghỉ dưỡng
- Diện tích đât lâm nghiệp tương đối rộng thuận lợi cho người dân phát triển các mô hình nông – lâm kết hợp, và xây dựng các trang trại kết hợp với các
mô hình chăn nuôi
- Hiệu quả của việc quản lý bảo vệ rừng còn thấp các vụ vi phạm luật bảo
vệ rừng vẫn còn thường xuyên xảy ra như: Khai thác rừng trái phép, phá rừng làm nương trên khu vực đã được giao cho tổ chức quản lý, các chủ thể được giao rừng chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm dẫn tới diện tích rừng bị thu hẹp do đó dẫn tới làm giảm khả năng phòng hộ của rừng, ảnh hưởng đến cảnh quan và mất cân bằng hệ sinh thái rừng trên địa bàn toàn xã
- Phân bố dân cư không tập chung, các bản nằm giải giác trong huặc giáp ranh với các khu rừng phòng hộ, đặc dụng (theo thống kê có 18 bản) là nguyên nhân gây khó khăn cho việc quản lý bảo vệ rừng
4.1.2.4 Hoạt động nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản 23,84 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt 24 tấn Diện tích
ao nuôi tập chung chủ yếu tại một số bản như: bản Sôm, bản Bua, bản Che Căn, bản Phăng, bản Bó, bản Co Thón và một số bản khác Người dân tận dụng nguồn nước tự nhiên để cải tạo những diện tích ruộng trũng thành ao nuôi trồng thủy sản
Trang 30Các giống cá thả chủ yếu là: Cá Trắm cỏ, cá Chép, cá Mè, diện tích được nuôi thả chủ yếu là khu vực hồ Ba Khoang Năng suất trung bình đạt 1 tấn/ha
cá rô phi đơn tính vv
Kinh tế của xã dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tuy nhiên các các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng đang từng bước được phát triển
Sản xuất công nghiệp đang được phát triển với sản phẩm chủ yếu là gạch sét, xi măng, bột đá
Tiểu thủ công nghiệp cũng dần được phát triển nhưng quy mô còn nhỏ lẻ như mây tre đan, dệt thủ công
Dịch vụ ngày càng phát triển: Xã có khu di tích lịch sử sở chỉ huy của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, có Hồ Pa Khoang là điểm thu hút du lịch đến thăm quan của tỉnh nên được sự quan tâm của các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương, của các tổ chức nhà nước và quốc tế quan tâm nên đây là cơ hội
để xã phát triển tiềm năng du lịch
Thuận lợi:
Trang 31- Xã nằm ngay giáp thành phố Điện Biên Phủ, Cáh trung tâm thành phố
13 Km, thuận lợi về giao thông nên rất có lợi thế về thị trường tiêu thụ sản phẩm Địa bàn thuận lợi cho sự phát triển hàng hóa, tiếp thu, ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản suât
- Xã có khu di tích lịch sử, sở chỉ huy của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, có hồ ba khoang là điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, đây là
cơ hội phát triển tiềm năng du lich
Khó khăn:
- Trình độ tay nghề của người lao động còn nhiều hạn chế, chưa qua đào tạo
- Việc xây dựng thị trường, thương hiệu nâng cao chất lượng các sản phẩm thủ công còn thực sự hiệu quả
4.1.3 Đánh giá lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi của xã
Lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp sẽ giúp tăng năng suất cây trồng, đáp ứng nhu cầu thị trường, cây sẽ sinh trưởng, phát triển tốt trên điều kiện tự nhiên của xã từ đó đem lại nguồn thu nhập cho người dân đồng thời phát huy tối đa sức sản xuất của đất Và việc đánh giá lựa chọn cây trồng để lựa chọn đúng loài cây, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh là một yếu tố hết sức quan trọng, cần thiết trong việc sử dụng đất một cách có hiệu quả Để đánh giá, lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi, đề tài sử dụng phương pháp Matrix để đánh giá
và phỏng vấn một số nhóm người dân Để đánh giá lựa chọn chính xác cây trồng vật nuôi phải đưa ra các tiêu chí như sau:
- Phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai: Đánh giá mức độ sinh trưởng và phát triển của cây trồng
- Dễ kiếm giống: Giống có thể dễ kiếm được ở khu vực nghiên cứu hoặc người dân có thể tự sản xuất ra tại địa phương mình
- Dễ gây trồng: Phản ánh tỷ lệ sống của cây trồng
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: Phản ánh mức độ chống lại sâu bệnh của các loài cây trong chu ky kinh doanh
- Dễ tiêu thụ: Phản ánh khả năng tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường
- Có hiệu quả kinh tế cao: Phản ánh mức độ thu nhập, lãi xuất của sản phẩm sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh
Trang 32- Sản lượng cao: : Sản phẩm thu được sau chu kỳ kinh doanh đạt sản lượng một cách tối ưu.
- Cải tạo đất
- Đầu tư ít
4.1.3.1 Cây nông nghiệp ngắn ngày
Biểu 4.2: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp ngắn ngày
Đậu tươn g
Trang 33Tiếp đến xếp thứ 2 là cây sắn với tổng điểm là 71 điểm, bởi vì diện tích đất chủ yếu của xã là đất dốc nên sắn là loài cây trồng phù hợp với loại đât trên
do vậy diện tích trồng sắn lớn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho bà con
Xếp thứ 3 là cây ngô, đây là loại cây dễ trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra căn cứ vào diện tích canh tác và nhu cầu của thị trường thứ tự ưu tiên của các loại cây còn lại như sau: Xếp thứ 4 là rau màu (69 điểm), xếp thứ 5
là đậu tương (68 điểm), thứ 6 là lạc (67 điểm) và cuối cùng là khoai (65 điểm) Rau mầu có thứ tự ưu tiên xếp thứ 4, do dễ gây trồng, nhanh thu hoạch, sản lượng hàng năm cao, phù hợp với quy mô gia đình và nhu cầu hàng ngày của người dân Xếp thứ 5,6,7 là đậu tương lạc khoai, ít được người dân trồng vì diện tích chủ yếu là đất dốc nên ko phù hợp
4.1.3.2 Đánh giá cây nông nghiệp dài ngày
Cây nông nghiệp lâu năm của xã chủ yếu là các loài cây ăn quả như: Mận Tam Hoa, Đào Ta, Sơn Tra, Chuối, Hồng chủ yếu được trồng với quy mô gia đình với diện tích nhỏ Các loài cây ăn quả như Mận Tam Hoa, Đào Ta được nhiều hộ gia đình trồng với quy mô trang trại do phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã, cho hiệu quả cao, năng xuất cao Kết quả đánh giá, lựa chọn cây nông nghệp lâu năm được thể hiện qua biểu sau:
Biểu 4.3: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp dài ngày
Chuối Sơn
Mận Tam Hoa
Đào Ta
Trang 344.1.3.3 Đánh giá cây lâm nghiệp
Biểu 4.4: Đánh giá lựa chọn cây lâm nghiệp
Trang 35của xã, và được trồng nhiều nhất trên khu vực hồ Ba Khoang Xếp vị trí thứ 2 là cây Trẩu là cây gỗ có giá trị kinh tế về nhiều mặt, quả trẩu được người dân thu hoạch để ép lấy dầu, và cành cây khô được dùng làm củi đun Đây là loài cây sinh trưởng nhanh nhưng hút nhiều nước làm cho đất khô và giảm dinh dưỡng
do vậy được trồng xen với cây keo lai Xếp vị trí thứ 3 là Thông (68 điểm), thứ 4
là lát (67 điểm) đây là những cây gỗ quý nhưng không có khả năng cải tạo đất, sinh trưởng chậm, thời gian kinh doanh dài 20-30 năm mới cho thu gỗ, nên trên địa bàn thì thông với lát được trồng chủ yếu với mục đích phòng hộ
Diện tích đất lâm nghiệp của xã là tương đối lớn tuy nhiên việc quy hoạch thành rừng trồng sản xuất, tìm ra những giống cây phù hợp với điều kiện lập địa
và cho hiệu quả lại chưa được quan tâm chú trọng Một phần là do nguồn vốn đầu tư và định hướng sản xuất lâm nghiệp chưa hiệu quả
4.1.3.4 Đánh giá lựa chọn vật nuôi
Biểu 4.5: Đánh giá lựa chọn vật nuôi
1 Dễ nuôi 7,00 6,50 8,67 8,40 7,90 8,002` Dễ kiếm giống 6,50 7,00 8,00 8,00 7,03 7,07
Việc phát triển đàn gia súc, gia cầm của xã ngày càng được khuyến khích
và đẩy mạnh, Bởi với lợi thế về diện tích đất chăn nuôi, bãi chăn thả và tận dụng nguồn thức ăn từ phế phẩm nông nghiệp, cung cấp thịt phục vụ đời sống và đem bán đồng thời phân gia súc gia cầm là nguồn phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất